1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số biện pháp giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học môn hóa học ở trường trung học phổ thông

105 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------ LÊ THỊ HUYỀN MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - -

LÊ THỊ HUYỀN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ

VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học

Mã số: 60.14.01.11 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Trường

Huế, 2016

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngành Hóa học cùng các ngành khoa học khác đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội, góp phần làm cho cuộc sống vật chất, tinh thần của con người ngày càng phong phú, chất lượng cuộc sống được cải thiện và nâng cao Mặt khác, cũng chính sự phát triển ấy đã tạo ra những ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đối với môi trường và an toàn thực phẩm

Hiện nay ở Việt Nam, cùng với sự cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, chương trình giáo dục phổ thông cũng đã lồng ghép các nội dung nói trên nhằm giúp học sinh hình thành ý thức bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Mục đích là nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường, thực phẩm và lao động theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai

Tuy nhiên, việc giáo dục môi trường và an toàn thực phẩm trong trường phổ thông hiện nay còn gặp nhiều khó khăn như: học sinh chưa hứng thú với những nội dung mang tính lý thuyết về môi trường, nhà trường chưa có đủ điều kiện cơ sở vật chất để ứng dụng nội dung giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong các bài giảng trên lớp, nguồn tư liệu để giáo viên sử dụng trong việc lồng ghép nội dung giáo dục môi trường, an toàn thực phẩm rất nhiều nhưng thiếu tính hệ thống,

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, nhằm mục đích xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực

phẩm của các em học sinh, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu có hệ thống giúp giáo viên dễ dàng hơn trong việc lồng ghép nội dung giáo dục môi trường và an toàn thực phẩm vào giảng dạy

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 3

Xây dựng một số biện pháp giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường THPT

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những kiến thức về môi trường, an toàn thực phẩm có thể áp dụng trong chương trình Hóa học THPT

- Xây dựng hệ thống bài tập và thiết kế các giáo án thuộc chương trình Hoá học THPT có nội dung giáo dục môi trường, an toàn thực phẩm

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đã xây dựng

- Vận dụng kiến thức đo lường, đánh giá kết quả học tập để phân tích kết quả thực nghiệm

3 Phạm vi, giới hạn của đề tài nghiên cứu

3.1 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung và biện pháp giáo dục giáo dục môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình Hóa học THPT

3.2 Giới hạn của đề tài nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm trong học kì II năm học 2015 – 2016

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học Hóa học ở trường THPT

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình Hóa học THPT

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm thì có thể giúp giáo viên dễ dàng hơn khi lồng ghép các kiến thức về giáo dục môi trường, an toàn thực phẩm trong trường THPT, góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học theo hướng hình thành và phát triển những hiểu biết, thái độ, kỹ năng giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh

Trang 4

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Đọc và nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp phân loại, hệ thống hoá

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát, điều tra

- Phương pháp chuyên gia: học hỏi kinh nghiệm của giáo viên có nhiều năm đứng lớp

- Thực nghiệm sư phạm

6.3 Phương pháp xử lý thống kê toán học: Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm bằng toán học thống kê

7 Dự kiến đóng góp của đề tài

- Xây dựng nguồn tư liệu cung cấp thông tin phục vụ giáo dục môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình Hóa học phổ thông

- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm và tự luận có nội dung dục môi trường

và vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình Hóa học phổ thông

- Thiết kế một số giáo án có tích hợp nội dung giáo dục về bảo vệ môi trường và

vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1.1 Vấn đề môi trường [2], [14], [16], [19]

1.1.1.1 Khái niệm môi trường

Môi trường là một trong những vấn đề đang được cả xa hội quan tâm, trong lịch sử phát triển của nhân loại đã có nhiều định nghĩa về môi trường cụ thể như:

- Môi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật Theo định nghĩa này thì không thể nào xác định được môi trường một cách cụ thể, vì mỗi

cá thể, mỗi loài, mỗi chi vẫn có một môi trường và một quần thể, một quần xã lại có một môi trường rộng lớn hơn

- Môi trường là những gì cần thiết cho điều kiện sinh tồn của sinh vật Theo định nghĩa này thì rất hẹp, bởi vì trong thực tế có yếu tố này là cần thiết cho loài này nhưng không cần thiết cho loài kia dù cùng sống chung một nơi, hơn nữa cũng

có những yếu tố có hại hoặc không có lợi vẫn tồn tại và tác động lên cơ thể và ta không thể loại trừ nó ra khỏi môi trường tự nhiên

- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 1, Luật Bảo Vệ Môi Trường của Việt Nam, 1993)

- Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên mà ở đó, cá thể, quần thể, loài có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình (Vũ Trung Tạng, 2000) Từ định nghĩa này ta có thể phân biệt được đâu là môi trường của loài này mà không phải là môi trường của loài khác Chẳng hạn như mặt biển là môi trường của sinh vật màng nước (Pleiston và Neiston), song không phải là môi trường của những loài sống ở đáy sâu hàng ngàn mét và ngược lại

- Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn Theo định

Trang 6

nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa ) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật ), trong đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình

Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là "khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người"

1.1.1.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường

Môi trường là không gian chứa đựng các cơ thể sống bao hàm xã hội loài người, giới sinh vật (động vật và thực vật) Mỗi cơ thể sống không thể tồn tại ở ngoài môi trường được Vì vậy nói tới vai trò của môi trường đối với đời sống xã hội điều đầu tiên cần phải nhấn mạnh: Môi trường là không gian sống của mọi loài sinh vật (kể cả con người), các loài sinh vật sinh ra, lớn lên, trưởng thành và tiêu vong đều ở trong môi trường Nếu không gian môi trường trong sạch sẽ làm cho chất lượng cuộc sống được nâng cao, mọi loài sinh vật sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển tốt, ngược lại nếu không gian môi trường bị ô nhiễm, môi trường bị suy thoái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của cuộc sống và như vậy sẽ cản trở sự phát triển bình thường của mọi loài sinh vật, trong đó có xã hội loài người Do đó bảo vệ môi trường, giữ cho môi trường trong sạch có tác dụng trực tiếp đến việc bảo tồn và duy trì sự sống của mọi sinh vật ở trong môi trường

Môi trường là nơi cung cấp các yếu tố cần thiết, các điều kiện cần thiết cho

sự sống của tất cả các loài sinh vật Ăng-ghen nói "con người là sản phẩm của tự nhiên", con người tồn tại trong môi trường tự nhiên, cùng phát triển với môi trường

tự nhiên, vật chất trong cơ thể con người do môi trường tự nhiên cung cấp, không khí mà con người hít thở, nước mà con người uống cũng đều từ môi trường tự nhiên và thức ăn của con người xét cho cùng cũng từ môi trường tự nhiên: lúa gạo, hoa màu, rau xanh, trái cây đều mọc từ đất, tôm cá lớn lên từ ao nước sông, hồ, biển Con người và môi trường luôn thống nhất với nhau, sống trong môi trường

Trang 7

con người một mặt chịu sự ảnh hưởng của môi trường, mặt khác con người lại tác động vào môi trường làm cho môi trường biến đổi, sự biến đổi của môi trường lại ảnh hưởng trở lại đối với con người Những thứ mà môi trường tự nhiên cung cấp cho con người bao gồm những thứ có khả năng tái tạo được và những thứ không có khả năng tái tạo Vì vậy, để đảm bảo cho xã hội phát triển con người cần phải biết giữ gìn những nguồn lực của tự nhiên để sử dụng lâu dài trong tương lai

Môi trường là nơi diễn ra mọi quá trình lao động sản xuất, dù đó là sản xuất công nghiệp hay nông nghiệp cũng đều phải dựa trên nền tảng của môi trường Các hoạt động văn hóa, xã hội, nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật cũng phải dựa vào môi trường, sử dụng các "chất liệu" do môi trường cung cấp

Nói tóm lại mọi sự sống trên trái đất và mọi quá trình hoạt động của con người đều được tiến hành trong môi trường, đều dựa vào môi trường và sử dụng các yếu tố có sẵn của môi trường Xuất phát từ nhận thức đó chúng ta thấy môi trường

có vai trò to lớn, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi loài sinh vật sống trong môi trường

1.1.1.3 Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm trầm trọng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà chủ yếu là do hoạt động sản xuất của con người

Sau đây là một số nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường:

* Tự nhiên

Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng Tổng hợp các yếu tố gây ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều trên toàn thế giới, không tập trung trong một vùng

Trang 8

* Giao thông vận tải

Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị và khu đông dân cư Các quá trình tạo ra các khí gây ô nhiễm là quá trình đốt nhiên liệu động cơ: CO, CO2, SO2, NOx, Pb, cát bụi đất đá cuốn theo trong quá trình di chuyển Nếu xét trên từng phương tiện thì nồng độ ô nhiễm tương đối nhỏ nhưng nếu mật độ giao thông lớn và quy hoạch địa hình, đường xá không tốt thì sẽ gây ô nhiễm nặng cho hai bên đường

* Sinh hoạt

Là nguồn gây ô nhiễm tương đối nhỏ, chủ yếu là các hoạt động đun nấu sử dụng nhiên liệu nhưng đặc biệt gây ô nhiễm cục bộ trong một hộ gia đình hoặc vài

hộ xung quanh Tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu: CO, CO2, bụi

Đây là các nguyên nhân chính dẫn tới các ô nhiễm trầm trọng về môi trường

vì thế để khắc phục, chúng ta cần nhiều biện pháp mạnh trong xử phạt những tập thể, cá nhân có những hoạt động gây tác hại cho môi trường

1.1.1.4 Các loại ô nhiễm môi trường

* Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường

đô thị, công nghiệp và các làng nghề Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng

* Ô nhiễm đất

Ô nhiễm đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bằng các tác nhân gây ô nhiễm Có rất nhiều nguồn mà qua đó đất nhận được những đơn chất hoặc hợp chất lạ có tác dụng làm giảm độ phì nhiêu của nó

Trang 9

Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất là do các vi sinh vật gây bệnh, các chất hóa học, các chất phóng xạ, các chất hóa học sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghiệp như phân hóa học và các loại thuốc trừ sâu

* Ô nhiễm nguồn nước

Ô nhiễm môi trường nước là hiện tượng trạng thái cân bằng, chất lượng nước

bị biển đổi đột ngột Các sản phẩm phế thải từ các lĩnh vực khác nhau đã đưa vào nước, làm ảnh hưởng xấu đến giá trị sử dụng của nước, cân bằng sinh thái tự nhiên phá vỡ và nước bị ô nhiễm

1.1.1.5 Các biện pháp khắc phục vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

* Biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường không khí

- Hạn chế sự gia tăng phương tiện vận chuyển một cách tự phát, tiến tới xây dựng các phương tiện vận tải công cộng hiện đại như xe bus, tàu điện ngầm, tàu điện trên cao

- Sử dụng nhiên liệu sạch như điện, ga, Hydro, năng lượng mặt trời

- Cải thiện kỹ thuật xe máy nhằm giảm bớt sự phát thải khí ô nhiễm từ xe cộ

và sử dụng các biện pháp đơn giản để giảm sự bay hơi nhiên liệu

- Tăng cường kiểm soát sự phát thải kiểm định kỹ thuật máy móc

Trang 10

- Xây dựng nhà máy xử lí nước thải

- Nâng cao nhận thức con người

- Tuyên truyền vận động quần chúng hưởng ứng các chương trình chống ô nhiễm môi trường nước

- Thiết kế hệ thống cấp nước, tiêu nước cho các khu nuôi thuỷ sản

- Tổ chức quản lý và kiểm soát chất lượng nguồn nước

1.1.2 Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm [20], [24], [29], [30], [32], [38]

1.1.2.1 Một số khái niệm chung

Hiện tượng ngộ độc thực phẩm xảy ra ngày càng nhiều ở nhiều địa phương trong cả nước Ngộ độc thực phẩm xảy ra không chỉ ở các nhà ăn tập thể (nhà máy,

xí nghiệp, trường học ) mà còn xảy ra ở rất nhiều gia đình, kể cả ở thành thị và nông thôn Hiện tượng này phổ biến đến mức Nhà nước phải tổ chức nhiều cơ quan chức năng thường xuyên đi kiểm tra, tuyên truyền về nguy cơ ngộ độc và các biện pháp phòng chống

Thực phẩm không những là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng cho con người phát triển, duy trì sự sống và lao động, thực phẩm còn là nguồn tạo

ra ngộ độc cho con người nếu như ta không tuân thủ những biện pháp vệ sinh thực phẩm hữu hiệu

a Vệ sinh thực phẩm

Vệ sinh thực phẩm là một khái niệm khoa học để nói thực phẩm không chứa

vi sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố

Ngoài ra khái niệm vệ sinh thực phẩm còn bao gồm cả những nội dung khác như tổ chức vệ sinh trong vận chuyển, chế biến và bảo quản thực phẩm

Trang 11

Nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm không chỉ ở vi sinh vật mà còn được

mở rộng ra do các chất hóa học, các yếu tố vật lý Khả năng gây ngộ độc không chỉ

ở thực phẩm mà còn xem xét cả một quá trình sản xuất trước thu hoạch

Theo nghĩa rộng, an toàn thực phẩm còn được hiểu là khả năng cung cấp đầy

đủ và kịp thời về số lượng và chất lượng thực phẩm một khi quốc gia gặp thiên tai hoặc một lý do nào đó Vì thế, mục đích chính của sản xuất, vận chuyển, chế biến

và bảo quản thực phẩm là phải làm sao để thực phẩm không bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh, không chứa độc tố sinh học, độc tố hóa học và các yếu tố khác có hại cho sức khỏe người tiêu dùng

c Ngộ độc thực phẩm

Ngộ độc thực phẩm dùng để chỉ tất cả các bệnh gây ra bởi các mầm bệnh có trong thực phẩm Bệnh do thực phẩm gây ra có thể chia làm hai nhóm là bệnh gây

ra do chất độc (poisonings) và bệnh do nhiễm trùng (infections)

- Bệnh gây ra do chất độc, chất độc này có thể do vi sinh vật tạo ra, do nguyên liệu (chất độc có nguồn gốc sinh học), do hóa chất từ quá trình chăn nuôi, trồng trọt, bảo quản, chế biến.Các chất độc này có trong thực phẩm trước khi người tiêu dùng ăn phải

- Bệnh nhiễm trùng do thực phẩm là trong thực phẩm có vi khuẩn gây bệnh,

vi khuẩn này vào cơ thể bằng đường tiêu hóa và tác động tới cơ thể do sự hiện diện của nó cùng các chất độc của chúng tạo ra

d Chất độc (toxin, poisonings)

Chất độc trong thực phẩm là các chất hóa học hay hợp chất hóa học có trong nguyên liệu, sản phẩm thực phẩm ở một nồng độ nhất định gây ngộ độc cho người hay động vật khi sử dung chúng

Chất độc có thể tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau Các chất độc được đưa vào cơ thể bằng một trong những con đường sau:

Chất độc được tạo thành trong thực phẩm do vi sinh vật nhiễm vào thực phẩm Trong quá trình nhiễm và phát triển trong thực phẩm, các loài vi sinh vật có

Trang 12

khả năng sinh ra chất độc sẽ chuyển hóa chất dinh dưỡng có trong thực phẩm và tạo

ra chất độc Như vậy, khi thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật, các chất dinh dưỡng bị mất và bị biến chất, đồng thời thực phẩm sẽ có chứa trong đó các chất độc

Chất độc được hình thành do sự chuyển hóa các chất nhờ các enzym ngoại bào của vi sinh vật, khi vi sinh vật pháp triển trong thực phẩm Chất độc này được tạo ra ở ngoài tế bào vi sinh vật Khác với chất độc cũng tồn tại ở thực phẩm nhưng chúng lại được tổng hợp ở trong tế bào vi sinh vật mà sau đó thoát khỏi tế bào ra thực phẩm

Chất độc do nguyên liệu thực phẩm Chúng không bị biến đổi hoặc biến đổi rất ít trong quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm

Chất độc hình thành trong thực phẩm do việc sử dụng bừa bãi, không tuân thủ những quy định về sử dụng các chất phụ gia thực phẩm Các chất phụ gia được

sử dụng rất nhiều trong chế biến thực phẩm Rất nhiều chất hóa học được sử dụng như chất phụ gia trong thực phẩm không được kiểm soát về chất lượng và số lượng khi sử dụng

Chất độc hình thành trong thực phẩm do việc sử dụng bao bì có chất lượng kém, hoặc không đúng nguyên liệu cần thiết, phù hợp với loại thực phẩm

Chất độc hình thành trong thực phẩm do nhiễm kim loại và các chất độc khác trong quá trình chế biến và bảo quản

Chất độc được hình thành trong thực phẩm do dư lượng thuốc trừ sâu, phân bón, chất diệt cỏ, diệt côn trùng, các chất thức ăn gia súc

e Độc tính (toxicity) là khả năng gây ngộ độc của chất độc

Độc tính của chất độc phụ thuộc vào mức độ gây độc và liều lượng của chất độc Một chất có độc tính cao là chất độc ở liều lượng rất nhỏ, có khả năng gây ngộ độc hoặc gây chết người và động vật khi sử dụng chất độc này trong thời gian ngắn

Trong một số trường hợp, chất độc không có độc tính cao nhưng việc sử dụng chúng nhiều lần trong một khoảng thời gian dài cũng có thể có những tác hại nghiêm trọng

Trang 13

1.1.2.2 Đánh giá mức độ vệ sinh và an toàn thực phẩm

a Phương pháp xác định độc cấp tính

Để đánh giá độc cấp tính của thực phẩm hay một chất nào đó người ta thực hiện bằng cách cho động vật ăn thực phẩm hoặc đưa chất nghi có độc tính vào động

vật Thí nghiệm được tiến hành với nhiều mức độ và liều lượng khác nhau

Liều lượng được xác định là liều lượng giới hạn được đưa vào thí nghiệm làm chết 50% số động vật đem vào thí nghiệm trong khoảng thời gian dài nhất là 15

ngày Liều lượng này được gọi là liều lượng gây chết (Dose Lethale - D.L50)

Trong thí nghiệm, với mục đích xác định độc tính cấp tính, người ta bắt buộc phải sử dụng ít nhất hai loài động vật (tốt nhất là 3 loài động vật) Một loài trong số này không phải là loại gặm nhấm

Ngoài liều lượng gây chết ra, người ta còn phải xác định liều lượng cao nhất không gây độc hại, sự chịu đựng độc tính ở những loài động khác nhau

b Phương pháp xác định độc tính trong thời gian ngắn

Để xác định khả năng gây độc tính trong thời gian ngắn của thực phẩm, người ta cho động vật ăn lặp lại các liều lượng chất nghi có độc tính trong thời gian bằng 10% tuổi thọ trung bình của động vật đem thí nghiệm Các loài động vật đem thí nghiệm cố gắng sao cho đạt được tính đồng nhất về nguồn gốc, tuổi, trọng lượng Số lượng động vật đem thí nghiệm phải đủ để có thể sử dụng phương pháp thống kê toán học, cho phép đánh giá được mức độ chính xác của thí nghiệm

Các thí nghiệm cần đo đạc các thông số sau: Sự tăng trọng, trạng thái sinh lý,

sự thay đổi các thành phần trong máu, sự thay đổi cấu trúc dưới tế bào, khả năng sinh quái thai, các dị biệt khác

c Phương pháp xác định độc trong thời gian dài

Để đánh giá độc tính của thực phẩm hay một chất nào đó nghi có độc tính người ta đưa cho động vật ăn thực phẩm hay đưa các chất nghi là có độc vào thực phẩm trong khoảng thời gian dài, ít nhất là một chu kỳ sống của động vật Trong một số trường hợp phải kéo dài nghiên cứu trong nhiều thế hệ liên tiếp

Trang 14

Người ta thường sử dụng chuột bạch (chu kỳ sống của chúng là 2 năm), chuột nhắt (chu kỳ sống là nửa năm) để cho những thí nghiệm này

Trong một số trường hợp, do yêu cầu của thí nghiệm các loài động vật trên

tỏ ra không thích hợp, người ta lấy động vật có vú như lợn (heo) để thí nghiệm Các chỉ số đánh giá trong thí nghiệm này là: Sự tăng trọng, trạng thái sinh lý, sự thay đổi các thành phần trong máu, sự thay đổi cấu trúc dưới tế bào, khả năng sinh quái thai, khả năng gây ung thư

d Phương pháp dịch tễ

Các nghiên cứu về dịch tễ học cho ta những kết quả rất tốt trong đánh giá mức độ an toàn thực phẩm Trong thực tế, phần lớn các độc tố tự nhiên đều được phát hiện từ các quần thể người, động vật trên những kết quả nghiên cứu về dịch tễ học Trong đó có phát hiện khả năng gây ung thư của ahlatoxin, các thực phẩm hun khói, selen, thiaminase

e Phương pháp phân tích hóa học, hóa lý

Các phương pháp hóa học và hóa lý giúp chúng ta xác định thành phần, cấu trúc và số lượng các chất độc Các số liệu từ các phân tích trên giúp chúng ta hiểu được nguyên nhân gây độc và cơ chế tác dụng của các chất độc, mức độ gây độc của các chất độc hiện diện trong thực phẩm

Ngoài ra nhờ những phương pháp phân tích hiện đại, người ta ngày càng phát hiện ra nhiều chất độc trong nguyên liệu thực phẩm và trong sản phẩm thực phẩm

Từ sự hiểu biết về cấu trúc, tính chất, liều lượng các chất độc trong thực phẩm ta

sẽ hiểu về cơ chế tác động của từng loại chất độc Từ đó ta được những dự đoán về khả năng tác động dây chuyền trong cơ thể Đồng thời các hiểu biết đó giúp chúng

ta thiết lập những giải pháp phòng, chống hữu hiệu Từ đó giúp các nhà quản lý thực phẩm thiết lập những quy định, những tiêu chuẩn cần thiết để đảm bảo sức khỏe, quyền lợi người tiêu dùng Những quy định của mọi quốc gia trên thế giới đều

có ghi rõ những mức độ khác nhau về việc sử dụng các chất hóa học có độc tính như sau:

Trang 15

- Cấm lưu hành các chất phụ gia thực phẩm hoặc cấm sử dụng thực phẩm đã xác định được chất độc và độc tính nguy hiểm của chúng

- Cho lưu hành và sử dụng các chất có độc tính đã được xác định có khả năng kiểm soát về phương pháp, về liều lượng cho phép sử dụng (liều lượng an toàn) Việc xác định liều lượng này phải phù hợp với giới tính, tuổi sinh lý, trọng lượng cơ

thể, khả năng chịu đựng của cơ thể

1.1.2.3 Các nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm

a Các tác nhân sinh học chính gây ô nhiễm bao gồm: vi khuẩn, nấm mốc, vi rút và ký sinh vật

* Vi khuẩn có ở mọi nơi xung quanh chúng ta Phân, nước thải, rác bụi, thực phẩm tươi sống là ổ chứa của nhiều loại vi khuẩn gây bệnh Trong không khí và ngay ở trên cơ thể người cũng có hàng trăm loại vi khuẩn, cư trú ở da (đặc biệt là ở bàn tay), ở đường hô hấp, đường tiêu hóa, bộ phận sinh dục, tiết niệu Thức ăn chín

để ở nhiệt độ bình thường là môi trường tốt cho vi khuẩn trong không khí xâm nhập

và phát triển nhanh, đặc biệt các thức ăn còn thừa sau các bữa ăn chỉ cần một vài giờ là số lượng vi khuẩn có thể sinh sản đạt đến mức gây ngộ độc thực phẩm

* Nấm mốc thường gặp trong môi trường sống, nhất là ở trong các loại ngũ cốc, quả hạt có dầu dự trữ trong điều kiện khí hậu nóng ẩm như ở nước ta Nấm mốc gây

hư hỏng thực phẩm, một số loại còn sản sinh ra các độc tố nguy hiểm Aflatoxin là độc tố do nấm Aspergillus Flavus và Aspergillus Parasiticus sinh ra trong ngô, đậu

và lạc ẩm mốc có thể gây ung thư gan

* Vi rút gây ngộ độc thực phẩm thường có trong ruột người Các nhuyễn thể sống ở vùng nước ô nhiễm, rau quả được bón phân tươi hoặc các món rau sống chuẩn bị vệ sinh thường dễ bị nhiễm vi rút bại liệt, vi rút viêm gan

* Virút có thể lây truyền từ phân qua tay người tiếp xúc hoặc từ nước bị ô nhiễm phân vào thực phẩm, với một lượng rất ít virút đã gây nhiễm bệnh cho người Virút nhiễm ở người có thể lây sang người khác trước khi phát bệnh

Trang 16

* Ký sinh vật thường gặp trong thực phẩm là giun sán Người ăn phải thịt có ấu trùng sán dây trong thịt bò (sán dây bò), trong thịt lợn (thịt lợn gạo) chưa nấu chín, khi vào cơ thể thì ấu trùng sẽ phát triển thành sán trưởng thành ký sinh ở đường tiêu hóa và gây rối loạn tiêu hóa

Khi ăn cá nước ngọt như cá diếc, cá rô, cá chép, cá trôi có nang trùng sán lá gan nhỏ chưa nấu chín thì nang trùng chuyển tới ống mật, lên gan và phát triển ở gan thành sán trưởng thành gây tổn thương gan mật

Nếu ăn phải tôm, cua có nang trùng sán lá phổi chưa nấu chín hoặc uống nước

có nang trùng thì chúng sẽ xuyên qua thành ruột và qua cơ hoành lên phổi, phát triển thành sán trưởng thành gây viêm phế quản, đau ngực, ho khạc ra máu Bệnh

do giun xoắn cũng bởi tập quán ăn thịt tái, nem bằng thịt sống, ăn tiết canh có ấu trùng gây nhiễm độc, dị ứng, sốt cao, liệt cơ hô hấp có thể dẫn đến tử vong

b Những độc hại hóa học thường gây ô nhiễm trong thực phẩm

Các chất ô nhiễm trong công nghiệp và môi trường như: các dioxin, các chất phóng xạ, các kim loại nặng (chì, thuỷ ngân, asen, cadimi )

Các chất hoá học sử dụng trong nông nghiệp: thuốc bảo vệ thực vật, động vật, thuốc thú y, chất tăng trưởng, phân bón, thuốc trừ giun sán và chất hun khói

Các chất phụ gia sử dụng không đúng qui định: các chất tạo màu, tạo mùi, tạo ngọt, tăng độ kết dính, ổn định, chất bảo quản, chất chống ôxy hóa, chất tẩy rửa

và các hợp chất không mong muốn trong vật liệu chứa đựng thực phẩm

Các chất độc hại tạo ra trong quá trình chế biến thịt hun khói, dầu mỡ bị cháy khét, các hợp chất tạo ra do phản ứng hóa học trong thực phẩm, sự sản sinh độc tố trong quá trình bảo quản, dự trữ bị nhiễm nấm mốc (độc tố vi nấm) hay biến chất Các độc tố tự nhiên có sẵn trong thực phẩm như mầm khoai tây, sắn, đậu mèo, măng, nấm độc, cá nóc, cá cóc

Các chất gây dị ứng trong một số hải sản, nhộng tôm các độc hại nguồn gốc vật lý như các mảnh thuỷ tinh, gỗ, kim loại, đá sạn, xương, móng, lông, tóc và các

Trang 17

vật lạ khác lẫn vào thực phẩm cũng gây nguy hại đáng kể như gãy răng, hóc xương, tổn thương niêm mạc dạ dày, miệng

1.1.2.4 Một số biện pháp xử lí thông thường khi bị ngộ độc thực phẩm

Khi có trường hợp nhiễm độc, ngộ độc do thức ăn hoặc nghi ngờ bi ngộ độc thì nhất thiết phải đình chỉ việc sử dụng thức ăn đó và giữ toàn bộ thức ăn thừa, chất nôn, phân, nước tiểu để gửi đi xét nghiệm, báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất và kịp thời tổ chức cấp cứu người bị ngộ độc Xử trí cấp cứu trước tiên là phải làm cho người bị ngộ độc nôn ra cho hết chất đã ăn vào, ngăn cản sự hấp thu của ruột đối với chất độc, phá huỷ độc tính đồng thời bảo vệ niêm mạc dạ dày

a Loại trừ các chất độc ra khỏi cơ thể

* Gây nôn: thực hiện ngay bằng cách cho ngón tay vào họng để kích thích nôn

* Rửa dạ dày: rửa dạ đày càng sớm càng tốt, chậm nhất là trước 6 giờ Có thể dùng nước ấm, nước muối sinh lý để rửa

* Tẩy ruột: nếu thời gian ngộ độc lâu trên 6 giờ thì có thể dùng thuốc tẩy magie sunphat, natri sunphat

* Gây bài niệu bằng cách truyền dịch

b Giải độc

* Dùng phương pháp hấp thụ chất độc bằng than hoạt tính

* Trung hòa chất độc

* Giải độc đặc hiệu theo nguyên nhân gây ngộ độc

Nói chung khi có triệu chứng ngộ độc thực phẩm cần đến cơ sở y tế gần nhất để

xử lý kịp thời những biện pháp thông thường

1.2 BÀI TẬP HÓA HỌC [26], [27], [28], [35], [36], [39], [41], [42], [43], [45] 1.2.1 Khái niệm về bài tập Hoá học (BTHH)

Trong thực tiễn dạy học cũng như trong tài liệu giảng dạy, các thuật ngữ “bài tập”, “bài tập Hoá học” được sử dụng cùng các thuật ngữ “bài toán”, “bài toán Hoá

Trang 18

học” Ở từ điển tiếng Việt “bài tập” và “bài toán” được giải nghĩa khác nhau: Bài tập là bài ra cho HS để vận dụng những điều đã học; Bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học Trong một số tài liệu lý luận dạy học thường người ta dùng thuật ngữ “bài toán Hoá học” để chỉ những bài tập định lượng (có tính toán) trong đó HS phải thực hiện những phép toán nhất định

Trong tài liệu lý luận dạy học tác giả Dương Xuân Trinh phân loại BTHH thành: bài tập định lượng (bài toán hoá học), bài tập lý thuyết, bài tập thực nghiệm và bài tập tổng hợp Còn theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã dùng bài toán Hoá học để chỉ bài toán định lượng và cả những bài toán nhận thức (chứa cả yếu tố lý thuyết và thực nghiệm) Các nhà lý luận dạy học của Liên Xô cũ lại cho rằng: Bài tập đó là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và

cả câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng, HS nắm được một tri thức hay kỹ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng Câu hỏi đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, HS phải tiến hành một hoạt động tái hiện bất luận trả lời miệng, trả lời viết hay kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm Bài toán đó là bài làm

mà khi hoàn thành chúng HS phải tiến hành hoạt động sáng tạo, bất luận hình thức hoàn thành bài toán là trả lời miệng hay viết, thực hành, thí nghiệm, bất cứ bài toán nào cũng xếp vào hai nhóm bài toán định lượng (có tính toán) và bài toán định tính

Ở nước ta theo cách dùng tên sách hiện nay: “Bài tập Hoá học 10”, “Bài tập Hoá học 11”, vv thì thuật ngữ bài tập có sự tương đồng với quan niệm trên

Tóm lại: BTHH là khái niệm bao hàm tất cả, khi giải bài tập Hoá học HS không chỉ đơn thuần là vận dụng kiến thức cũ mà cả tìm kiếm kiến thức mới và vận dụng kiến thức cũ trong những tình huống mới

1.2.2 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập Hóa học

1.2.2.1 Ý nghĩa trí dục

- Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào giải bài tập thì HS mới thực sự nắm được kiến thức một cách sâu sắc

Trang 19

- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập HS dễ rơi vào tình trạng buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức Thực tế cho thấy

HS rất thích giải bài tập trong các tiết ôn tập

- Rèn luyện kỹ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học Nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS

- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động sản xuất cũng như bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng

- Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy BTHH là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển tư duy hoá học của

HS, bồi dưỡng cho HS phương pháp nghiên cứu khoa học Bởi vì giải BTHH là một hình thức làm việc tự lực căn bản của HS Trước khi giải bài tập HS phải phân tích

đề bài, xây dựng các lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm, thực hiện phép đo Trong những điều kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạo của HS được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề được nâng cao

1.2.2.2 Ý nghĩa phát triển

Phát triển ở HS năng lực tư duy logic, biện chứng khái quát, độc lập thông minh và sáng tạo Cao hơn mức rèn luyện thông thường, HS phải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình huống mới, hoàn cảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng bản thân, biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống thông qua đó, bài tập hoá học giúp phát hiện năng lực sáng tạo của HS để đánh giá, đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo cho bản thân

1.2.2.3 Ý nghĩa giáo dục

BTHH còn có tác dụng giáo dục cho HS phẩm chất tư tưởng đạo đức Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho HS thấy quá trình phát sinh những tư tưởng về quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh to lớn, có giá trị của các nhà khoa học tiến bộ trên thế giới Thông qua việc giải các bài tập, còn rèn luyện cho HS

Trang 20

phẩm chất độc lập suy nghĩ, tính kiên trì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, kích thích hứng thú bộ môn Hoá học nói riêng và học tập nói chung

1.2.3 Phân loại bài tập Hoá học

Dựa vào các công đoạn của quá trình dạy học, có thể phân loại BTHH như sau:

- Công đoạn dạy bài mới: nên phân loại bài tập theo nội dung để phục vụ việc dạy học và củng cố bài mới

- Công đoạn ôn tập, hệ thống hoá kiến thức và kiểm tra đánh giá: do mang tính chất tổng hợp, có sự phối hợp giữa các chương nên phải phân loại trên các cơ sở sau:

+ Dựa vào tính chất hoạt động của HS khi giải bài tập có thể chia thành: Bài tập

lý thuyết và bài tập thực nghiệm

+ Dựa vào chức năng của bài tập có thể chia thành: Bài tập tái hiện kiến thức, bài tập rèn tư duy

+ Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành: Bài tập định tính và bài tập định lượng

Trong thực tế dạy học, có 2 cách phân loại bài tập có ý nghĩa hơn cả là phân loại theo nội dung và theo dạng bài

1.2.4 Xây dựng bài tập Hóa học

* Nguyên tắc

Lựa chọn bài tập điển hình; phải kế thừa, bổ sung nhau; có tính phân hóa, vừa sức HS; cân đối giữa thời gian học lý thuyết và bài tập

* Chú ý khi cho bài tập

Nội dung kiến thức trong chương trình; dữ kiện và kết quả tính toán phù hợp với thực tế; phải vừa sức với trình độ HS; chú ý đến yêu cầu cần đạt được (thi lên lớp, thi tốt nghiệp hay thi vào đại học); phải đủ các dạng; phải rõ ràng, chính xác, không đánh đố HS

* Xu hướng hiện nay

Trang 21

Loại bỏ bài tập cần đến những thuật toán phức tạp để giải; có nội dung lắt léo, giả định rắc rối, phức tập, xa rời hoặc phi thực tiễn

Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm; trắc nghiệm khách quan

Xây dựng bài tập rèn luyện cho HS năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề; có nội dung phong phú, sâu sắc, phần tính toán đơn giản

1.2.5 Cách sử dụng bài tập Hóa học ở trường Trung học phổ thông

Ở bất cứ công đoạn nào của quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài tập Khi dạy học bài mới có thể dùng bài tập để vào bài, để tạo tình huống có vấn đề, để chuyển tiếp từ phần này sang phần kia, để củng cố bài, để hướng dẫn HS tự học ở nhà Khi ôn tập, củng cố, luyện tập, kiểm tra đánh giá thì nhất thiết phải dùng bài tập Ở Việt Nam, bài tập được hiểu theo nghĩa rộng, có thể là câu hỏi lý thuyết hay bài toán Sử dụng BTHH để đạt được các mục đích sau:

- Củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức và hình thành quy luật của các quá trình hoá học

- Rèn kỹ năng

- Rèn năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề

1.3 TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ [35], [36], [39], [40], [41]

1.3.1 Phương pháp trắc nghiệm khách quan

Trang 22

1.3.1.2 Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan

- Phạm vi quét kiến thức và kĩ năng rộng hơn nhiều so với tự luận

- TNKQ thích hợp cho kiểm tra diện rộng

- Việc chấm điểm mất ít thời gian, đảm bảo chấm điểm khách quan

- TNKQ thường gồm các loại (câu hỏi, bài tập) thông dụng sau: Đúng/ sai, đa lựa chọn, tương ứng cặp, điền vào chỗ trống (bán khách quan), yêu cầu câu trả lời ngắn (bán khách quan) Trong 5 loại này, được sử dụng nhiều nhất là đa lựa chọn

1.3.1.3 Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan

- Loại đa lựa chọn đòi hỏi HS khả năng nhận ra câu trả lời đúng mà không bắt

HS phải nhớ và phải có kĩ năng tự soạn ra câu trả lời

- TNKQ quá tập trung vào kĩ năng đọc, làm hạn chế kĩ năng viết của HS

- Để tạo nên tình huống, TNKQ đa lựa chọn đưa ra số câu trả lời sai gấp 3, 4 lần câu trả lời đúng Những câu trả lời sai lại phải có vẻ ngoài hợp lí TNKQ vô tình đã tạo môi trường học thông tin sai cho HS

- Đề TNKQ đảm bảo đủ độ rõ ràng, không mơ hồ, có độ tin cậy cao, cần tính chuyên nghiệp cao, đòi hỏi nhiều thời gian cho cân nhắc trước khi soạn và cho thử nghiệm trước khi đưa ra áp dụng đại trà

- Tốn nhiều thời gian để chuẩn bị và soạn đề

- Người soạn TNKQ thường chủ quan, vì cho rằng TNKQ soạn dễ Kết quả là:

bộ câu hỏi thường rời rạc, chuyên biệt, không bao quát, thường không quan tâm đúng mức đến các kĩ năng phân tích và tổng hợp

- Khuyến khích HS đoán mò, nhất là loại TNKQ đúng/ sai

1.3.2 So sánh trắc nghiệm khách quan với trắc nghiệm tự luận

Một bài luận đề có rất ít câu hỏi nhưng thí sinh phải diễn đạt bằng lời lẽ dài dòng, còn một bài trắc nghiệm có rất nhiều câu hỏi nhưng chỉ đòi hỏi trả lời ngắn gọn nhất

Trang 23

Làm bài luận đề cần nhiều thời gian để suy nghĩ và diễn đạt, còn khi làm trắc nghiệm thời gian đó cần để đọc và suy nghĩ

Tính khách quan của bài tự luận phụ thuộc vào kỹ năng người chấm bài, còn của bài trắc nghiệm phụ thuộc vào kỹ năng người ra đề

Một đề bài luận đề tương đối dễ soạn nhưng khó chấm điểm, còn trắc nghiệm thì khó soạn nhưng dễ chấm điểm

Với bài luận đề, thí sinh tự do bộc lộ suy nghĩ cá nhân, người chấm tự do cho điểm theo xu hướng riêng; bài trắc nghiệm chỉ chứng tỏ kiến thức thông qua tỉ lệ câu trả lời đúng, người ra đề tự bộc lộ kiến thức thông qua việc đặt câu hỏi

Một bài trắc nghiệm cho phép và đôi khi khuyến khích sự "phỏng đoán" đáp án, nhưng một bài luận đề cho phép sử dụng ngôn từ hoa mỹ, khó có bằng chứng để

"lừa phỉnh" đáp án

1.4 DẠY HỌC TÍCH HỢP VÀ VIỆC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG, VỆ SINH

AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG [2], [4], [5], [6], [13], [15], [18], [19], [31], [39]

1.4.1 Khái niệm tích hợp

Tích hợp (intergrate) là một khái niệm rất rộng không chỉ dùng trong lĩnh vực môn học Theo từ điển Anh - Việt, từ intergrate có nghĩa là kết hợp từng phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau Tích hợp nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà hợp, sự kết hợp Tích hợp nội dung giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình hóa học phổ thông là kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức hóa học với kiến thức giáo dục an toàn vệ sinh thực phẩm làm cho chúng nhào quyện vào nhau tạo thành một thể thống nhất

Lồng ghép là thể hiện sự lắp ghép nội dung bài học về mặt cấu trúc để có thể đưa vào bài học một mục, một đoạn, một số câu có nội dung giáo dục an toàn vệ sinh lao động

Trang 24

1.4.2 Quan niệm về dạy học tích hợp

Đó là việc GV sử dụng phương pháp dạy học để thực hiện nội dung dạy học được tích hợp trong chương trình theo mức độ liên hệ, lồng ghép (tích hợp bộ phận), hoặc tích hợp toàn phần Trong quá trình xây dựng sách giáo khoa các môn học, các tác giả có thể đã thực hiện tích hợp kiến thức để thực hiện mục tiêu giáo dục, nhưng không thể đầy đủ và luôn phù hợp với mọi đối tượng HS Vì vậy trong quá trình dạy học đòi hỏi GV phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung này cho phù hợp và phong phú hơn

Để đạt mục đích môn học mới phải thiết kế mục tiêu môn học theo quan điểm hướng vào việc tạo năng lực cho người học, và được cấu trúc lại theo yêu cầu gắn với cuộc sống, hình thành cho người học năng lực giải quyết vấn đề, các kiến thức phải đảm bảo có ý nghĩa với cuộc sống, đảm bảo tính khoa học, cập nhật và phù hợp với khả năng nhận thức của HS

1.4.3 Các đặc trưng của dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp có các đặc trưng chủ yếu sau đây:

- Làm cho quá trình dạy học có ý nghĩa bằng cách gắn quá trình học tập với cuộc sống hàng ngày, không làm tách biệt “thế giới nhà trường” với cuộc sống Dạy học tích hợp là dạy HS sử dụng kiến thức trong tình huống một cách tự lực và sáng tạo Dạy học tích hợp không chỉ quan tâm đánh giá những kiến thức đã học, mà đánh giá khả năng vận dụng kiến thức trong tình huống có ý nghĩa hay không

- Làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng vì dạy học tích hợp phải lựa chọn kiến thức, kỹ năng quan trọng và dành thời gian cùng các phương pháp hợp lí đối với quá trình học tập của HS

- Sử dụng kiến thức của nhiều môn học

1.4.4 Các kiểu tích hợp

a Tích hợp kiến thức: Các tác giả xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa

xác định những nội dung có liên quan, hoặc đan xen, hoặc thông nhất trong các lĩnh

Trang 25

vực nội dung học tập và tổ hợp chúng lại với nhau Kết quả của kiểu tích hợp kiến thức tạo ra các sản phẩm như: Môn học tích hợp, chương trình tích hợp

b Tích hợp dạy học: Là việc GV sử dụng các phương pháp dạy học để thực

hiện các nội dung dạy học được tích hợp trong chương trình theo mức độ liên hệ, lồng ghép (tích hợp bộ phận), hoặc tích hợp toàn phần

1.4.5 Thực tiễn dạy học tích hợp

a Kiểu tích hợp kiến thức

* Kiểu tích hợp kiến thức trên thế giới: Theo thống kê của UNSECO từ năm

1960 đến 1994 có 208 chương trình môn học đã thể hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn

* Tích hợp kiến thức ở Việt Nam:

- Ở bậc tiểu học: Trước đây có môn khoa học thường thức Từ năm 1987 việc nghiên cứu tích hợp ở bậc tiểu học đã được tiến hành Năm 1996 môn Tự nhiên và

Xã hội (lớp 1-3), môn Khoa học, Lịch sử và Địa lý (lớp 4-5) đã đưa vào thử nghiệm

và sử dụng cho đến nay

- Ở bậc THCS: Mặc dù trong văn bản cụ thể hoá mục tiêu trung học cơ sở đã bắt đầu trình bày các năng lực cần hình thành cho HS Song các yêu cầu này chưa đủ mức độ khái quát, chưa hình thành các tiêu chí cụ thể để xây dựng môn học – chương trình tích hợp

- Ở bậc THPT: Qua thực tế giảng dạy môn hoá học chúng tôi nhận thấy:

+ Yêu cầu dạy học theo hướng tích hợp không bắt buộc nên nhiều GV không hoặc rất ít sử dụng

+ Do áp lực kiến thức và là môn thi đại học, do đó phần liên hệ với thực tế thường GV không dạy và cho HS về đọc trong sách giáo khoa nên không thấy được ứng dụng của hoá học với đời sống

+ Để tích hợp được các nội dung như trên và mối liên hệ giữa các môn đòi hỏi

GV phải có thời gian chuẩn bị chu đáo, tìm kiếm các tài liệu liên quan nên thường mất nhiều thời gian nên GV ít khi thực hiện

Trang 26

+ Do nặng về tâm lí thi cử nên HS không quan tâm đến những vấn đề mà GV tích hợp trong bài học

+ Các tài liệu về dạy học tích hợp không nhiều do đó GV khó vận dụng tích hợp trong dạy học

Tuy nhiên, thời gian gần đây cũng đã có công trình nghiên cứu về tích hợp giáo dục môi trường thông qua hệ thống bài tập thực tiễn trong chương Nitơ-Photpho, Cacbon-Silic (luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thuỳ Dương ĐHV 2009)

b Kiểu tích hợp dạy học

* Dạng thứ nhất: Dạng này đưa ra nhiều ứng dụng chung cho nhiều môn học

Theo dạng này vẫn duy trì các môn học riêng rẽ, trong khi các ứng dụng chung được tích hợp vào các thời điểm thích hợp Đây là cách tích hợp được vận dụng phổ biến hiện nay

* Dạng thứ hai: Phối hợp quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau Dạng tích hợp này nhằm hợp nhất hai hay nhiều môn học thành môn học duy nhất

1.4.6 Tác dụng của dạy học tích hợp

- Giúp HS phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động, vận dụng kiến thức

đã học vào thực tiễn hiệu quả nhất

- Việc dạy HS động, hấp dẫn, HS dễ nhớ bài, khắc sâu kiến thức hơn

- HS học tập có hứng thú, sáng tạo, phát triển khả năng hợp tác, làm việc nhóm

- Góp phần hình thành kỹ năng, giáo dục thái độ hành vi cụ thể để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống

- Tích hợp sẽ góp phần giải quyết vấn đề quá tải trong dạy học

- Giúp HS nhận thức thế giới một cách tổng thể và toàn diện

1.4.7 Các khả năng giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua môn Hoá học

Hoạt động giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm có thể tiến hành thông qua hai hoạt động chủ yếu:

Trang 27

- Giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua chương trình giảng dạy của môn học trong trường phổ thông

- Giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động xã hội

Thông qua chương trình giảng dạy môn Hoá học có ba khả năng tích hợp môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm:

- Nội dung chủ yếu của bài học hay một số nội dung môn học có sự tích hợp nội

dung các vấn đề môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm Ví dụ như Chương 9: Hóa học và vấn đề phát triển kinh tế, xã hội, môi trường (SGK Hóa học 12), …

- Một số nội dung của bài học hay một số phần nhất định của môn học liên quan trực tiếp với nội dung các vấn đề môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

- Ở một số nội dung của môn học, bài học khác, các ví dụ, bài tập, được xem như là một dạng vật liệu dùng để khai thác các nội dung các vấn đề môi trường và

vệ sinh an toàn thực phẩm Ví dụ: bài Clo (SGK Hoá học 10), bài Ôzon và Hiđro peoxit (SGK Hoá học 10),

Thông qua hoạt động ngoại khoá có nhiều hình thức để tổ chức như hoạt động tham quan môi trường, hoạt động câu lạc bộ về giáo dục các vấn đề môi trường và

vệ sinh an toàn thực phẩm Tổ chức các hoạt động xã hội tham gia các chiến dịch: làm sạch nguồn nước

1.4.8 Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua môn Hoá học ở trường phổ thông

Quá trình khai thác tích hợp giáo dục vấn đề môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua môn Hoá học cần phải đảm bảo ba nguyên tắc cơ bản:

- Không làm thay đổi tính đặc trưng môn học, không biến bài học của bộ môn thành giáo dục vấn đề môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

- Khai thác nội dung giáo dục vấn đề môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

có chọn lọc, có tính tập trung vào những chương mục nhất định

- Phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức của HS và các kinh nghiệm

Trang 28

thực tế các em đã có, vận dụng tối đa mọi khả năng để HS tiếp xúc trực tiếp với môi trường

1.5 THỰC TRẠNG DẠY HỌC HÓA HỌC CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.5.1 Mục đích điều tra

- Tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Hoá học ở trường THPT

- Tìm hiểu hứng thú của HS với bộ môn Hoá học

- Cách sử dụng BTHH có nội dung liên quan đến giáo dục môi trường và vệ sinh

an toàn thực phẩm

1.5.2 Nội dung điều tra

- Điều tra hứng thú của HS khi học môn Hoá học ở trường THPT

- Điều tra chất lượng dạy và học môn Hoá học ở trường THPT

- Điều tra về việc sử dụng các BTHH có nội dung liên quan đến giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường THPT

1.5.3 Đối tượng điều tra

- Các GV trực tiếp giảng dạy bộ môn Hoá học ở một số trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

- Học sinh THPT ở một số trường thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

1.5.4 Phương pháp điều tra

- Gặp gỡ trực tiếp GV và HS một số trường THPT

- Gửi và thu phiếu điều tra cho GV, HS

1.5.5 Kết quả điều tra

Trong thời gian từ tháng 03 đến tháng 05 năm 2015, chúng tôi đã:

- Dự giờ một số GV dạy Hoá ở các trường THPT thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 29

- Gửi phiếu điều tra tới GV dạy bộ môn Hoá và HS THPT trên địa bàn tỉnh Thừa

Thiên Huế, đó là: Trường THPT Thừa Lưu – Phú Lộc; THPT Nguyễn Đình Chiểu – Phong Điền

Chúng tôi điều tra HS THPT bằng hai loại phiếu, trước và sau khi tiến hành thực nghiệm Kết quả được tổng hợp như sau:

1.5.5.1.Trước khi thực nghiệm

- Thích học môn hoá: (25/40)

- Lí do thích học môn Hoá học: Vì hoá học gắn liền với thực tiễn (22/40)

- Thích học Hoá học có bài tập có nội dung liên quan đến giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm: (21/40)

1.5.5.2 Sau khi thực nghiệm

Bảng 1.1: Kết quả điều tra tần suất sử dụng bài tập Hóa học có nội dung liên

quan với thực tiễn đối với giáo viên THPT

Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Không bao giờ

Trang 30

Bảng 1.4: Kết quả về sử dụng dạng bài tập giáo dục môi trường và vệ sinh an

toàn thực phẩm

Câu hỏi lí thuyết Bài tập tính toán Cả hai

Bảng 1.5: Kết quả về ý kiến sử dụng bài tập Hóa học có nội dung liên quan đến

thực tiễn đối với giáo viên THPT

Cần thiết Không cần thiết Ý kiến khác

Bảng 1.6: Kết quả điều tra về nội dung liên quan với thực tiễn, HS thích

Sản xuất công nghiệp và nông nghiệp

Môi trường

Sức khoẻ con người

Du lịch, quốc phòng

Trong đời sống hằng ngày

Bảng 1.7: Kết quả điều tra về hứng thú khi học về những nội dung liên quan

đến môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

Thích thú Bình thường Ý kiến khác

Bảng 1.8: Kết quả về điều tra thái độ của học sinh với bài tập có nội dung liên

quan đến giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 31

Bảng 1.9: Kết quả điều tra ý kiến học sinh về việc sử dụng bài tập Hóa học có nội dung liên quan đến giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

Nghiên cứu bài mới Ôn tập, luyện tập Thực hành

Kiểm tra, đánh giá

Bảng 1.10: Kết quả điều tra ý kiến học sinh về sự cần thiết của bài tập Hoá học

có nội dung liên quan đến thực tiễn

Cần thiết Không cần thiết Ý kiến khác

1.5.3 Đánh giá kết quả điều tra

Qua số liệu ở các bảng thu được, chúng tôi nhận thấy:

- Đối với GV, việc sử dụng bài tập Hoá học có nội dung liên quan đến giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế Nếu có sử dụng cũng chỉ ở mức độ khiêm tốn

- Hầu hết các ý kiến của GV và HS cho rằng cần thiết phải có BTHH có nội dung liên quan đến giáo dục vấn đề môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong khi giảng dạy môn Hoá học ở trường THPT

- Hầu hết, các HS đều hứng thú với những bài tập có nội dung liên quan đến

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương này chúng tôi đã trình bày các nội dung sau:

- Các khái niệm về môi trường, an toàn thực phẩm và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

- Bài tập Hóa học, trắc nghiệm khách quan

- Các khái niệm về dạy học tích hợp; Dạy học tích hợp và việc giáo dục môi

Trang 32

trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình Hóa học THPT

- Điều tra thực trạng dạy học môn Hoá học có nội dung liên quan đến giáo dục môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình Hóa học phổ thông Trên đây là các vấn đề thuộc về lý luận và thực tiễn của đề tài, là cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp ở chương 2

Trang 33

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC THPT 2.1 CÁC NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH

AN TOÀN THỰC PHẨM [8], [15],[24],[28], [37], [42],[43],44]

Chương trình hóa học THPT có nhiều nội dung có thể vận dụng để tích hợp

giáo dục môi trường và an toàn thực phẩm Sau đây là một số bài học cụ thể

Xử lý nước thải chứa clo trong công nghiệp dệt, công nghiệp giấy

Bài 31 Hidro clorua – axit clohidric

Lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào phần tính chất hóa học (về việc phá hủy các thiết bị, công trình công cộng do dư lượng HCl trong nước thải các nhà máy tái chế nhựa , giấy…….Và lồng ghép hướng giải quyết hiện nay

Bài 32 Hợp chất có oxi của clo

Tác hại của hợp chất có oxi của clo đối với sức khỏe (lồng vào phần tính chất hóa học)

Ảnh hưởng đến nguồn nước khi sử dụng liều lượng không phù hợp, cách sử dụng sản phẩm tẩy rửa hợp lý và hiệu quả (phần ứng dụng)

Bài 41 Oxi

Trang 34

Vai trò của oxi trong không khí và đối với sức khỏe con người (lồng vào phần mở đầu bài giảng) Lợi ích của việc trồng rừng (phần ứng dụng)

Vai trò của oxi trong môi trường nước

Bài 42 Ozon và hidro peroxit

Những tính chất quan trọng của ozon có lợi cho môi trường (lồng vào phần hóa tính) Sự suy giảm tầng ozon, sự lên tiếng của toàn thế giới về lỗ thủng tầng ozon và giải pháp (lồng vào phần trạng thái tự nhiên và ứng dụng)

Bài 43, 44 Lưu huỳnh Hidro sunfua

Ô nhiễm không khí, gây độc cho cơ thể người (lồng vào tính chất vật lý, tính chất hóa học) Ô nhiễm sông, ao hồ Rèn luyện ý thức bảo vệ môi trường (lồng vào phần ứng dụng)

Bài 45 Hợp chất có oxi của lưu huỳnh

Hiệu ứng nhà kính Mưa axit (Lồng vào phần tính chất hóa học)

2.1.2 Chương trình Hóa học lớp 11

Bài 11 Amoniac và muối amoni

Ảnh hưởng đến sức khỏe con người (lồng vào tính chất vật lý) Sự ô nhiễm không khí trong quá trình sử dụng amoniac và muối amoni trong sản xuất phân bón (lồng vào ứng dụng)

Bài 14 Photpho

Độc tính (lồng vào phần tính chất vật lý) Kẽm photphua làm thuốc chuột, cơ chế và tác hại với người (phần tính chất hóa học)

Bài 16 Phân bón hóa học

Độ pH của môi trường do phân tạo thành để chọn lựa phân phù hợp với đất (phần tính chất mỗi loại phân) Ảnh hưởng đến môi trường và con người khi lượng phân bón dư so với nhu cầu (phần ứng dụng)

Bài 21 Hợp chất của cacbon

Trang 35

Khí thải động cơ Hiệu ứng nhà kính (Tính chất hóa học)

Bài 35 Ankan: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng

Phương pháp khí sinh học, tận dụng khí từ rác thải để tạo năng lượng (Phản ứng cháy trong tính chất hóa học)

CFC làm thủng tầng ozon (Phản ứng thế)

Bài 40 Anken: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng

Phân tích lợi và hại của việc sử dụng túi nilon, dép xốp, hộp xốp

Bài 48 Nguồn hidrocacbon thiên nhiên

Là nhiên liệu trong công nghiệp và để đun nấu trong gia đình Ý thức sử dụng tiết kiệm nhiên liệu

Bài 54 Ancol: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng

Ảnh hưởng đến sức khỏe con người Giới thiệu về xăng sinh học

Bài 58 Andehit và xeton

Ô nhiễm môi trường trong nhà, văn phòng, ảnh hưởng đến hô hấp, da… Tác

hại của andehit trong vải áo quần Tác hại của axeton trong mỹ phẩm

2.1.3 Chương trình Hóa học lớp 12

Bài 3 Chất giặt rửa

Lựa chọn chất giặt rửa thích hợp cho từng vùng kinh tế Xử lí nước thải có chất giặt rửa ra môi trường

Trang 36

Lợi ích của xenlulozơ và việc trồng rừng Tái chế giấy

Bài 11 Amin

Cơ chế tạo ra chất gây ung thư của amin bậc 2

Cách xử lý mùi tanh của cá

Bài 13 Peptit và protein

Các loại protein quan trọng trong thực phẩm và các thực phẩm dinh dưỡng chức năng

Bài 17 Vật liệu polime

Các vật liệu polime thường sử dụng trong đời sống và các tác hại lâu dài cho môi trường

Bài 24 Điều chế kim loại

Sản xuất các kim loại quý hiếm và tác động của việc sản xuất đến môi trường

Bài 31 Một số hợp chất của kim loại kiềm thổ

Nước cứng và cách xử lý nước cứng, nước phèn

Bài 44 Sơ lược một số kim loại khác

Các ứng dụng và các hiện tượng trong đời sống liên quan đến Ag, Au, Sn, Pb Ô nhiễm nguồn nước do các kim loại nặng

Bài 57 Hóa học và vấn đề xã hội

Lương thực, thực phẩm, sản xuất và sử dụng hợp lý để bảo vệ sức khỏe Tác hại của anđêhit trong vải, áo quần Tác hại của xeton trong mỹ phẩm

Bài 58 Hóa học và vấn đề môi trường

Nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm nước, không khí, đất Giải pháp khắc phục

Trang 37

2.2 BIỆN PHÁP 1: SƯU TẦM, XÂY DỰNG NGUỒN TƯ LIỆU CUNG CẤP THÔNG TIN PHỤC VỤ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG, VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC PHỔ THÔNG [2], [9], [11], [14], [20], [21], [24], [29], [32], [51], [52], [53]

Nội dung của biện pháp này là yêu cầu HS tham gia sưu tầm, xây dựng nguồn tư liệu cung cấp thông tin phục vụ giáo dục môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình Hóa học phổ thông

Từ nguồn tư liệu này, GV có thể sử dụng phục vụ trong các bài giảng hoặc

tổ chức các hoạt động ngoại khoá theo các chủ đề sau:

2.2.1 Hoá học và những vấn đề trong đời sống

a Hoá học và vấn đề lương thực, thực phẩm

- Lương thực, thực phẩm cung cấp năng lượng cho sự sống của con người

+ Gạo, bột mì, ngô, khoai, sắn….có hàm lượng tinh bột cao là nguồn lương thực chính cho nhân loại Tinh bột là gluxit quan trọng nhất trong việc cung cấp năng lượng cho con người sống và làm việc Một gam tinh bột khi bị oxi hoá trong cơ thể sinh ra 17,65J

+ Chất béo(lipit) có trong mỡ động vật và dầu thực vật là nguồn thực phẩm cung cấp nhiều năng lượng cho cơ thể Một gam chất béo cung cấp khoảng 38,85J

+ Chất đạm (protit) có trong thịt, cá, trứng… là nguồn thực phẩm quan trọng cung cấp năng lượng cho cơ thể sống Một gam chất đạm cung cấp 23,4J

+ Chất xơ, chất khoáng, vitamin có trong rau, quả cung cấp các vi chất cần thiết cho con người

Chuèi, bÝ ng« cã nhiÒu Kali bổ trí não B-ëi, æi cã nhiÒu vitamin C

Trang 38

- Yêu cầu của xã hội bây giờ không chỉ là đủ lương thực, thực phẩm mà còn đòi hỏi chúng phải có chất lượng cao Chính vì vậy, Hoá học cùng với một số ngành khoa học khác đã và đang thực hiện :

+ Nghiên cứu và đề xuất phương pháp sản xuất, chế biến nguồn lương thực, thực phẩm sạch

+ Sản xuất các loại phân bón hoá học nhằm tăng năng suất cây trồng, phù hợp với từng loại đất, vùng miền

+ Tổng hợp các thuốc bảo vệ thực vật

+ Nghiên cứu, sản xuất các hoá chất bảo quản lương thực, thực phẩm

Ví dụ: Để bảo quản, vận chuyển thuỷ hải sản đánh bắt được đến nơi tiêu thụ nhiều người dùng cách ướp đá, đôi khi cho cả phân đạm vào hãm cá, gây độc thực phẩm mà thực phẩm vẫn không được tươi Nếu dùng nước ozon thì thực phẩm giữ được dài ngày (có thể tới 60 ngày) mà chất lượng lại đảm bảo.Nếu đã có máy tạo ozon (có bán trên thị trường) thì người dùng chỉ cần sục khí ozon vào dung dịch nước muối nhạt (pha nước muối theo tỉ lệ 5g/l nhạt bằng 1/ 2 nước canh) Dung dịch này có tính sát khuẩn mạnh, tiêu diệt được nhiều loại vi khuẩn có sức đề kháng cao như nha bào, vi trùng gây bệnh lao, E.Coli, các liên khuẩn cầu, nấm mốc, xạ khuẩn… Do đó nước ozon đã được các nước tiên tiến sử dụng trong việc bảo quản hoa quả, chế biến thuỷ sản, vô khuẩn bệnh viện, khử trùng giống… Dùng nước ozon để rửa rau, quả, tôm, cá để ăn gỏi sống cũng rất an toàn

+ Sản xuất các loại thức ăn tổng hợp cho chăn nuôi nhằm đạt hiệu quả cao và không gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người

+ Tăng cường chế biến thực phẩm nhân tạo theo công nghệ hoá học, thay thế nguồn nguyên liệu từ lương thực, thực phẩm bằng các nguyên liệu khác Ví dụ:

* Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới đã thành công trong việc sản xuất thịt nhân tạo Loại thịt này có chất lượng như thịt gia súc mà lại loại bỏ được các gen gây bệnh

* Dùng hiđrocacbon thay thế tinh bột trong sản xuất rượu etylic

Trang 39

b Hoá học và sức khỏe con người

- Dược phẩm: ngành Hóa dược đã chế tạo được rất nhiều các loại dược phẩm khác nhau Về nguồn gốc, các loại dược phẩm được chia làm hai loại: dược phẩm

có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật (thuốc nam, thuốc bắc…), động vật (mật gấu, cao ong…) và các loại dược phẩm tổng hợp Hoá dược đã:

+ Phòng chống được các loại bệnh thường gặp như: uốn ván, viêm gan, viêm màng não, quai bị, sởi…

+ Tăng cường khả năng chữa được nhiều và nhanh các loại bệnh, có các loại thuốc đặc trị cho bệnh hiểm nghèo

+ Nghiên cứu và tổng hợp thuốc chữa bệnh nghiện rượu, ma tuý, bệnh AIDS… + Nghiên cứu, tổng hợp các loại thuốc an thần, giảm đau, gây tê, gây mê làm bớt

đi sự đau đớn, lo âu cho người bệnh và giúp cho việc điều trị trở nên dễ dàng hơn + Giúp con người tránh được việc mang thai ngoài ý muốn Đây là một bước tiến có ý nghĩa xã hội vô cùng to lớn

+ Cung cấp những loại thuốc bồi dưỡng cơ thể như các loại vitamin, thuốc chống thiếu máu, canxi, kẽm…

- Mọi sự vật, hiện tượng đều có tính hai mặt của nó Bên cạnh việc tìm ra tác dụng an thần, giảm đau của moocphin trong cây thuốc phiện thì loại thuốc này cũng

có thể gây nghiện cho người sử dụng nó lâu ngày Lợi dụng sự tiến bộ của khoa học hoá học dược phẩm, một số người đã tổng hợp, điều chế ra những chất gây nghiện mạnh để đầu độc sức khoẻ thể chất và tinh thần cho những người sử dụng

+ Từ moocphin lại có thể điều chế được heroin có tác dụng gây nghiện hơn moocphin rất nhiều

+ Hassish là hoạt chất có trong cây cần sa còn gọi là bồ đà có tác dụng chống co giật, chống nôn mửa nhưng có tác dụng kích thích mạnh và gây ảo giác

+ Các loại thuốc tổng hợp gây nghiện, ảo giác như bạch phiến, hồng phiến, thuốc lắc…

Trang 40

2.2.2 Hoá học và vấn đề môi trường

Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh

có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật Các thành phần của môi trường như khí quyển, thuỷ quyển, địa quyển…không tồn tại ở trạng thái tĩnh mà luôn có sự chuyển hoá theo hướng đem lại sự cân bằng cho môi trường

Ô nhiễm môi trường là những tác động làm thay đổi đến các thành phần của môi trường Những thay đổi này làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống con người thông qua con đường thức ăn, nước uống, không khí hoặc ảnh hưởng gián tiếp tới con người do thay đổi điều kiện vật lí, hoá học và suy thoái tự nhiên

2.2.2.1 Khí quyển

Khí quyển có vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng nhiệt lượng Trái Đất thông qua việc hấp thụ tia tử ngoại phát xạ từ mặt trời đến và phản xạ tia nhiệt từ Trái Đất lên Tầng đối lưu của khí quyển gần mặt đất nhất, quyết định khí hậu của Trái Đất với thành phần chủ yếu là nitơ, oxi, cacbon đioxit và hơi nước Các chất ô nhiễm sinh ra do hoạt động của tự nhiên và con người dễ dàng bị xáo trộn để pha loãng hoặc biến đổi trong tầng đối lưu này Tầng bình lưu xa mặt đất hơn có thành phần chủ yếu gồm ozon, nitơ, oxi Ozon hoạt động như một lớp màng bao bọc, bảo

vệ Trái Đất khỏi những độc hại của tia tử ngoại mặt trời chiếu xuống Nếu có chất ô nhiễm tới được tầng bình lưu thì sẽ gây nhiễm độc lâu dài

Sự ô nhiễm không khí, cả thành phố bị một lớp khói bao phủ

Trong khí quyển thì nitơ chiếm 78,09%; oxi chiếm 20,95%; argon chiếm 0,93% về thể tích còn lại là hơi nước, khí cacbonic (lượng biến đổi theo mùa và theo vùng) và các khí hiếm khác như Ne, He, Xe, Rn (có tỉ lệ rất nhỏ) Nồng độ oxi tiêu chuẩn quy định là 20% trong không khí về thể tích Nếu hàm lượng oxi nhỏ hơn 12% đã nguy hiểm cho tính mạng của con người Oxi rất cần thiết cho hô hấp

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w