1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Hiện trạng quần thể và một số đặc điểm sinh thái học của loài rồng đất (physignathus cocincinus cuvier, 1829) ở khu bảo tồn thiên nhiên phong điền, tỉnh thừa thiên huế

89 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, Rồng đất là loài có lợi cho hệ sinh thái ở cạn , là một mắt xích trong lưới thức ăn, vì chúng thường sử dụng các loài côn trùng có hại làm thức ăn như mối, kiến, châu chấu,…

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN CÔNG LỤC

HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM

SINH THÁI HỌC CỦA LOÀI RỒNG ĐẤT

THIÊN NHIÊN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN

HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

TP HUẾ, NĂM 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN CÔNG LỤC

HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM

SINH THÁI HỌC CỦA LOÀI RỒNG ĐẤT

THIÊN NHIÊN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 1

CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG 4

DANH MỤC HÌNH 5

MỞ ĐẦU 6

1.Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Nội dung nghiên cứu 7

4 Ý nghĩa của đề tài 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9

1.1 Tổng quan các vấn đề nhiên cứu 9

1.1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Rồng đất trên thế giới 9

1.1.2 Tình hình nghiên cứu Rồng đất ở Việt Nam 10

1.2.2 Tình hình nghiên cứu sinh học, sinh thái học Rồng đất ở Việt Nam 11

1.2.3 Nghiên cứu về Rồng đất ở Thừa Thiên Huế 12

1.2 Điều kiện tự nhiên, khí hậu khu vực nghiên cứu 13

1.2.1.Giới hạn ku vực nghiên cứu 13

1.2.2 Diện tích 13

1.2.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 14

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Vật liệu nghiên cứu 18

2.2 Phương pháp nghiên cứu 18

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa 20

2.2.4 Phương pháp xác định đặc điểm nhận dạng và giới tính của loài 21

2.2.5 Phương pháp ước tính mật độ và kích cỡ quần thể 22

2.2.6 Phương pháp nghiên cứu điều kiện tự nhiên và hoạt động sống 23

Trang 4

2.2.7 Phương pháp nghiên cứu sinh thái dinh dưỡng 24

2.2.8 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 26

2.2.9 Xử lý số liệu và phân tích thống kê 26

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Một số yếu tố khí hậu ở khu vực nghiên cứu 27

3.2 Đặc điểm hình thái loài Rồng đất Physignathus cocincinus 28

3.2.1 Đặc điểm nhận dạng Rông đất 28

3.2.2 Đặc điểm hình thái 28

3.2.3 Cấu trúc giới tính quần thể Rồng đất 35

3.3 Ước tính mật độ, kích cỡ quần thể loài Rông đất và đánh giá giá đặc điểm phân bố của loài theo dạnh sinh cảnh 38

3.3.1 Ước tính mật độ quần thể 38

3.3.2.Ước tính kích cỡ quần thể 39

3.3.3 Đánh giá giá đặc điểm phân bố của loài theo dạnh sinh cảnh 40

3.4 Xác định một số đặc điểm sinh thái của loài Rồng đất 41

3.4.1 Môi trường sống và phương thức hoạt động của loài Rồng đất 41

3.4.2 Xác định thành phần thức ăn và dạng thức ăn ưa thích của loài 45

3.5 Đánh giá hiện trạng, đề xuất các biện pháp bảo tồn 49

3.5.1 Đánh giá hiện trạng quần thể 49

3.5.2 Đánh giá mức độ đe dọa, tác động đến loài Rồng đất 49

5.5.3 Các biện pháp bảo tồn 51

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

1 Kết luận 55

2 Kiến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC

Trang 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 SVL Chiều dài thân

2 TaL Chiều dài đuôi

8 BM Khối lượng cơ thể

9 BTTN Bảo tồn Thiên nhiên

10 IUCN Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

11 IRI Chỉ số quan trọng của thức ăn

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Các số đo hình thái đo rồng đất 21

Bảng 3.1: Đặc điểm hình thái loài rồng đất 29

Bảng 3.2: Mật độ quần thể rồng đất trong tháng 4/2017 ở các suối nghiên cứu 38

Bảng 3.3: Mật độ quần thể rồng đất trong tháng 6/ 2017 ở các suối nghiên cứu 39

Bảng 3.4: Kích cỡ quần thể ở khu vực nghiên cứu 40

Bảng 3.5: Số lượng cá thể ở các dạng sinh cảnh trên các tuyến nghiên cứu 41

Bảng 3.6: Số lượng cá thể rồng đất ghi nhận ở các loại vi môi trường sống 42

Bảng 3.7: Số lượng, tần số, thể tích và chỉ số quan trọng của các loại thức ăn 46

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.2: Mẫu loài Rồng đất (Physignathus cocincinus) ở Khu BTTN Phong Điền 20

Hình 3.1: Diễn biến nhiệt độ, lượng mưa từ tháng 7/2016 đến thán 6/2017 28

Hình 3.2: Chiều dài thân (SVL) của cá thể đực, cá thể cái và 30

Hình 3.3: Mối quan hệ giữa chiều dài thân với khối lượng cơ thể ở các nhóm Rồng đất 32

Hình 3.4: Mối quan hệ giữa chiều dài đuôi với khối lượng cơ thể Rồng đất 33

Hình 3.5: Mối quan hệ giữa chiều dài thân với dài đầu của Rồng đất 33

Hình 3.6: Mối quan hệ giữa chiều dài thân với rộng đầu của Rồng đất 34

Hình 3.7: Mối quan hệ giữa chiều dài thân với khoảng cách nách - háng 35

Hình 3.8: Số lượng cá thể Rồng đất theo nhóm đực, cái và không xác định ở các suối nghiên cứu 36

Hình 3.9: Số lượng cá thể Rồng đất ở các nhóm đực, cái và chưa xác định theo mùa 37 Hình 3.10: Sự phân bố số cá thể theo độ cao bề mặt bám của Rồng đất (Physignathus cocincinus) ở Khu BTTN Phong Điền (N= 166) 43

Hình 3.11: Tần số các cá thể hoạt động và nhiệt độ không khí tương ứng với mỗi giờ trong ngày được loài Rồng đất sử dụng ở Khu BTTN Phong Điền 43

Hình 3.12: Mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí với số lượng cá thể hoạt động (A) và giữa độ ẩm tương đối với số lượng cá thể hoạt động (B) của Rồng đất

(P cocincinus) ghi nhận ở vùng núi Khu BTTN Phong ĐiềnError! Bookmark not defined Hình 3.13: Chỉ số quan trọng của các loại thức ăn Rồng đất 48

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền cách thành phố Huế khoảng 45 km về hướng Tây Bắc, đây là khu vực thuộc dãy Trường Sơn, có độ đa dạng sinh học cao Với điều kiện khí hậu của vùng nhiệt đới, là khu vực nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam thuộc vùng sinh thái Trung Trường Sơn Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền là một trong những vùng có tính đa dạng sinh học cao về thực vật và động vật Đây còn là khu vực phân bố các loài động vật quý hiếm (ví

dụ như: Rùa hộp 3 vạch, Kỳ đà hoa, Rắn hổ chúa,…), đồng thời là khu đặc hữu chim của nước ta [2], với sự đa dạng về khu hệ Thú, Chim, Bò sát và Ếch nhái

Trong đó loài Rồng đất (Physignathus cocincinus) là một đối tượng được phát

hiện trong khu vực này

Rồng đất (P cocincinus) thuộc Họ Agamidae, Bộ Có vảy Squamata, Lớp Bò

sát Reptilia được Cuvier mô tả năm 1829 với mẫu chuẩn thu được ở miền Nam Việt Nam [31], là loài bò sát nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) ở bậc VU (Sẽ nguy cấp) Vùng phân bố của loài này được ghi nhận ở Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Campucha, Thái Lan và Myanmar Với hình dáng đẹp, thịt ngon nên người dân thường săn bắt chúng về làm thực phẩm hoặc nuôi làm cảnh Ngoài ra, thịt Rồng đất còn được dùng để làm thuốc (đặc biệt là phần cuối của đuôi) Bên cạnh đó, Rồng đất là loài có lợi cho hệ sinh thái ở cạn , là một mắt xích trong lưới thức ăn, vì chúng thường sử dụng các loài côn trùng có hại làm thức ăn như mối, kiến, châu chấu,… Tuy nhiên, tình trạng của quần thể Rồng đất hiện tại đang suy giảm do khai thác quá mức, do mất hoặc suy thoái môi trường sống, biến đổi khí hậu,…Vì vậy, nghiên cứu về hiện trạng quần thể và các đặc điểm sinh thái học của loài này trong

tự nhiên là cần thiết, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái cũng như khai thác bền vững nguồn tài nguyên động vật

Trong những năm qua, các nghiên cứu về lưỡng cư và bò sát được thực hiện rất nhiều với các hướng nghiên cứu như khu hệ và tu chỉnh giống loài, nghiên cứu

về phân loại học, sự phân bố và ghi nhận loài mới, Trong khi những nghiên cứu

Trang 10

đánh giá về hiện trạng quần thể của bò sát trong tự nhiên còn rất ít, đặc biệt là loài Rồng đất Ở Phong Điền các nghiên cứu về bò sát còn nhiều hạn chế, những nghiên cứu về Rồng đất trong điều kiện tự nhiên ở khu vực này hiện tại vẫn đang còn thiếu

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Hiện trạng quần thể và một số đặc điểm sinh thái học của loài Rồng đất (Physignathus cocincinus) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu và đánh giá hiện trạng quần thể Rồng đất (Physignathus

cocincinus) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế để duy trì

và phát triển bền vững quần thể của loài trong tự nhiên

3 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Mô tả đặc điểm nhận dạng, xác định cấu trúc giới tính của quần thể

- Mô tả đặc điểm nhận dạng của con đực, con cái và những cá thể chưa xác định giới tính

- Xác định chỉ số dị hình kích thước giới tính và cấu trúc của quần thể loài Rồng đất theo nhóm (đực, cái và những cá thể chưa xác định giới tính)

Nội dung 2: Ước tính mật độ và kích cỡ quần thể của loài Rồng đất, đánh giá

đặc điểm phân bố của loài theo dạng sinh cảnh

- Ước tính mật độ quần thể của loài

- Ước tính kích cỡ quần thể của loài

- Đánh giá đặc điểm phân bố của loài theo các dạng sinh cảnh

Nội dung 3: Xác định một số đặc điểm sinh thái học của loài Rồng đất

- Mô tả sinh cảnh sống của loài và đánh giá khả năng sử dụng vi môi trường sống

- Đánh giá phương thức hoạt động và yếu tố ảnh hưởng

- Xác định thành phần thức ăn và loại thức ăn ưa thích của loài

Nội dung 4: Xác định nhân tố đe dọa đến loài và đề xuất các giải pháp bảo

tồn bền vững

- Đánh giá các nhân tố tác động đến quần thể của loài

- Đánh giá mức độ đe dọa đến loài

- Đề xuất các biện pháp bảo tồn quần thể

Trang 11

4 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài này góp phần bổ sung các dẫn liệu về hình thái, hiện trạng quần thể và sinh thái dinh dưỡng của loài Rồng đất ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền Đồng thời kết quả nghiên cứu là một tài liệu có giá trị tham khảo tốt, giúp các cơ quan bảo tồn có cơ sở khoa học để quy hoạch, quản lý, xây dựng chiến lược bảo tồn và phát triển loài Rồng đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan các vấn đề nhiên cứu

1.1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Rồng đất trên thế giới

1.1.1.1 Nghiên cứu về phân loại học

Cuvier (1829) là người đầu tiên mô tả loài Rồng đất (Physignathus

cocincinus) dựa trên mẫu vật thu được ở Nam Kỳ (Cochichine) thuộc Đông Dương

cũ [31] Hình của Rồng đất đã được Cuvier vẽ và in trong cuốn Animal Kingdom xuất bản vào năm 1937 [32]

Dumeril và Bibron (1837) đã mô tả loài Rồng đất (P cocincinus) nhưng tác giả đặt tên giống là Lophura thay vì tên Physignathus Nhưng vì lý do tên Lophura gần tương tự với tên Lophyrus và Istiurus [33] Vì vậy, các tác giả chấp nhận tên giống Physignathus theo Cuvier và đặt tên loài là P cocincinus

Guenther (1863) đã mô tả hai loài trong giống Physignathus là loài P

cocincinus thu mẫu ở Việt Nam (Cochinchine) và loài P mentager Thái Lan [36]

Loài P cochinchinensis cũng được Boulenger mô tả từ mẫu vật nói trên [29]

Năm 1912, Barbour cho rằng ba phân loài P cocincinus mentager, P

cocincinus caudicinctus và P cocincinus cocincinus được hình thành từ loài P

Năm 1935, Smith et al đã nghiên cứu khu hệ Lưỡng cư và Bò sát ở Ấn Độ,

các tác giả đã mô tả rất kỹ về hình thái bên ngoài của loài Rồng đất và chỉ ra vùng phân bố của chúng như: Trung Ấn, Thái Lan, phía Bắc khu vực Đông Nam Á [49]

Năm 1937, Bourret đã mô tả đặc điểm hình thái 32 loài thằn lằn phân bố ở

Đông Dương, trong đó tác giả gọi Rồng đất (P cocincinus) là phân loài của loài P

tả bởi Taylor (1963) [34] ở Thái Lan và Zhao, Adler ghi nhận ở Trung Quốc [59]

Trong những năm gần đây, Nabhitabhata et al mô tả loài Rồng đất ở Thái Lan [44]

Teynié et al mô tả loài này ở phía Nam của Lào [52]

To phát hiện quần thể Rồng đất (P cocincinus) hoang dã dọc theo con suối

trên đảo Tsing Yi ở Hồng Kông Ông nhận thấy loài Rồng đất ít hoạt động vào tháng

Trang 13

12 trong năm, vào tháng 4 loài này thường tập trung trên các tảng đá để sưới nắng, chúng thường trú ngụ ở những con suối và những cành cây cao vào ban đêm [54]

Stuart, Sok, Neang (2006) [51], Grismer et al (2007, 2008) [35], Hartmann

1.1.1.2 Nghiên cứu về phát sinh chủng loại và sinh học phân tử

Nghiên cứu về hệ thống phát sinh chủng loại của Macey et al (2000) cho rằng hầu hết các loài thằn lằn trong họ Agamidae trong đó có Rồng đất (P

(2011) khi nghiên cứu về hệ thống phát sinh chủng loại của thằn lằn bằng việc phân tích ADN, các tác giả cho rằng họ Nhông (Agamidae) có liên quan đến họ Tắc kè hoa (Chamaeleonidae) trong cây phát sinh chủng loại [53] Patawang et al (2015)

đã thu mẫu Rồng đất và phân tích bộ nhiễm sắc thể Kết quả cho thấy bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội ở cá thể đực và cái của Rồng đất là 2n = 36 [47]

Các công trình nghiên cứu nói trên, chủ yếu tập trung vào phân loại học, sự phân bố và mô tả đặc điểm hình thái của Rồng đất Ngoài ra, còn có các nghiên cứu

về phát sinh chủng loại và sinh học phân tử của loài Rồng đất Tóm lại, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về hiện trạng và sinh thái học quần thể của loài Rồng đất ngoài tự nhiên

1.1.2 Tình hình nghiên cứu Rồng đất ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về phân loại và phân bố

Bourret (1939) là người đầu tiên ghi nhận loài Rồng đất phân bố rất rộng ở vùng miền núi các tỉnh phía Bắc Việt Nam [28]

Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam năm 1981 cho thấy loài

Rồng đất (P cocincinus) phân bố ở Quảng Ninh, Hà Bắc, Lạng Sơn, Bắc Thái,

Vính Phú, Nghĩa Lộ, Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Hà Tĩnh [3]

Các nghiên cứu về điều tra thành phần loài lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam

đã ghi nhận Rồng đất có ở Kon Tum của Lê Nguyên Ngật (1997) [16], ở Quảng Nam của Lê Nguyên Ngật và Nguyễn Văn Sáng (1999) [17], ở Đà Nẵng của Đinh Thị Phương Anh và Nguyễn Minh Tùng (2000) [4] và Lê Vũ Khôi (2000) [15], ở

Hà Tĩnh của Nguyễn Quảng Trường [22], ở Phú Thọ [12], ở Bắc Giang [25], ở

Trang 14

Phú Yên [8], Trong cuốn “Danh mục ếch nhái và bò sát Việt Nam” của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005) xác định riêng họ Nhông (Agamidae) có 19 loài, loài Rồng đất phân bố ở hầu hết các vùng rừng núi của Việt Nam [20]

Sách Đỏ Việt Nam (2007) đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái và

sự phân bố của loài này ở Việt Nam Sách Đỏ Việt Nam đã xem đây là loài đang trong trong tình trạng, có nguy cơ suy giảm quần thể ít nhất 20% và được xếp vào bậc VU [1]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu sinh học, sinh thái học Rồng đất ở Việt Nam

Nguyễn Văn Sáng và Hoàng Xuân Quang (2000) đã thống kê được 54 loài

bò sát, 31 loài ếch nhái phân bố ở 7 sinh cảnh khác nhau (rừng thứ sinh, trảng cây bụi, rừng tre nứa và cây gỗ, khu dân cư, khu vực lúa nước, sông suối và ven bờ ao, hồ), riêng loài Rồng đất phân bố ở sông suối và ven bờ [19]

Ngô Đắc Chứng, Võ Đình Ba (2009) đã nghiên cứu sự phân bố loài ếch nhái,

bò sát theo độ cao và sinh cảnh ở khu BTTN Đakrông, các tác giả cho rằng: ở độ cao dưới 200 m họ Nhông (Agamidae) có 4 loài, ở độ cao 200-500 m có 6 loài trong

đó có Rồng đất [9] Các nghiên cứu khác của Trương Thị Vinh Hương, Lê Nguyên Ngật (2009) [14], Lê Nguyên Ngật, Phạm Văn Anh (2009) [18], Nguyễn Quảng Trường (2011) [23] đều cho rằng Rồng đất phân bố trong các sinh cảnh thuộc các khu rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh

Năm 2013, Jestrzemski et al và Hecht et al khi nghiên cứu lưỡng cư và bò

sát ở vườn Quốc Gia Chu Mom Ray và ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử đã

thu được mẫu Rồng đất khi chúng bám trên các cành cây ở ven bờ suối ở độ cao từ

1 mét đến 2 mét [39], [38]

Khi nghiên cứu quy trình nuôi Rồng đất, Ngô Đắc Chứng và Bùi Thị Thúy Bắc (2009) đã đưa ra kết luận nhiệt độ nuôi thích hợp vào ban ngày từ 28,9-31,10C, nhiệt độ vào ban đêm 23,9-26,70C, độ ẩm không khí từ 60-80% Thức ăn của Rồng đất chủ yếu là côn trùng đặc biệt là giun đất Trứng của chúng khi ấp phải được lấp cát, nhiệt độ ấp vào ban ngày 30-330C, độ ẩm 55-65%, ban đêm nhiệt độ 23-240C,

độ ẩm từ 85-90% Thời gian ấp trứng từ 58-101 ngày, trung bình 74 ngày [10]

Trang 15

1.2.3 Nghiên cứu về Rồng đất ở Thừa Thiên Huế

Năm 1998, Ngô Đắc Chứng nghiên cứu về thành phần loài lưỡng thê và bò sát của khu vực phía Nam Bình Trị Thiên, tác giả đã mô tả được 102 loài lưỡng cư

và bò sát Trong đó bò sát có 74 loài, họ Nhông Agamidae chỉ có 10 loài, loài Rồng

đất (P cocincinus) thu được ở Phú Lộc, là loài mới được bổ sung vào khu hệ, được

xếp vào bậc VU trong Sách Đỏ Việt Nam [6]

Hồ Thu Cúc (2002) đã điều tra được 49 loài bò sát của khu vực A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế trong đó, họ Nhông (Agamidae) có 6 loài, tác giả kết luận loài

Rồng đất (P cocincinus) có mật độ trung bình và bắt gặp ở các vùng rừng thứ sinh

trên núi có thảm thực vật đã phục hồi [13]

Nguyen et al (2009) ghi nhận loài Rồng đất phân bố ở các khu vực rừng

thường xanh thuộc các huyện A Lưới, Phú Lộc, Nam Đông, Hương Thủy và Hương Trà Nhóm tác giả cũng xác nhận, bắt gặp loài Rồng đất ở các suối, bám trên cây ở các khu rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh [45]

Trong tài liệu đa dạng sinh học và các hoạt động bảo tồn tại Khu BTTN Phong Điền (2012) đã ghi nhận 34 loài bò sát, trong đó có 19 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Rồng đất đã được ghi nhận trong khu vực này [2]

Ngô Đắc Chứng, Trần Thị Mai Hường và Trần Đình Việt Hùng (2007) đã

nghiên một số đặc điểm sinh học của Rồng đất (P cocincinus) ở Nam Đông, Thừa

Thiên Huế trong điều kiện nuôi nhốt [7] và Ngô Văn Bình và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu khã năng sử dụng vi môi trường sống và xác định phương thức hoạt động của Rồng đất tại tỉnh Thừa Thiên Huế [5] Như vậy, qua phần tổng quan nghiên cứu Rồng đất ở Việt Nam từ thời Bourett (1939) cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả Trong đó, loài Rồng đất được các tác giả tập trung mô

tả hình thái, ghi nhận đặc điểm phân bố và các vùng phân bố của loài Gần đây, có các công trình nghiên cứu về sinh thái học Rồng đất trong điều kiện nuôi, đã xác định được thành phần thức ăn, các điều kiện môi trường sống, sức sinh sản Bên cạnh đó,

có một số công trình nghiên cứu về môi trường sống và phương thức hoạt động của loài Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào ở Phong Điền, Thừa Thiên Huế nói riêng và Việt Nam nói chung về đánh giá hiện trạng quần thể và một số đặc điểm

sinh thái học của loài Rồng đất (P cocincinus) ngoài tự nhiên

Trang 16

1.2 Điều kiện tự nhiên, khí hậu khu vực nghiên cứu

1.2.1.Giới hạn ku vực nghiên cứu

Khu BTTN Phong Điền có toạ độ địa lý vùng nghiên cứu: Từ 16o 17' đến 16o 35' vĩ độ Bắc và từ 107o 03' đến 107o 20' kinh độ Đông

Phía Bắc giáp ranh với huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị dọc theo ranh giới thuộc lưu vực thượng nguồn sông Mỹ Chánh Phía Đông giáp ranh với xã Phong

Mỹ, Phong Xuân, Phong Sơn của huyện Phong Điền, thuộc lưu vực thượng nguồn sông Ô Lâu Phía Nam giáp ranh với Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Bồ, thuộc lưu vực thượng nguồn Sông Bồ Phía Tây giáp ranh với huyện A Lưới [2]

1.2.2 Diện tích

Khu BTTN Phong Điền nằm trên địa bàn hành chính của hai huyện Phong Điền và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 45 km về phía Tây - Bắc [2] Với tổng diện tích vùng lõi là 41.508,7 ha và vùng đệm là 43.600 ha Vùng lõi thuộc địa bàn của bốn xã Phong Mỹ, Phong Xuân (Phong Điền) và Hồng Kim, Hồng Hạ (A Lưới), bao gồm 43 tiểu khu, trong đó:

* Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: Diện tích: 25.836 ha, trong đó diện tích có

rừng che phủ là 25.208 ha, chia thành hai phân khu (I và II) Diện tích phân khu bảo

vệ nghiêm ngặt I: 12.942 ha, bao gồm diện tích của 12 tiểu khu, với hệ sinh thái rừng thường xanh núi thấp thuộc lưu vực sông Ô Lâu và sông Mỹ Chánh Diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt II: 12.894 ha, gồm 3 tiểu khu thuộc lưu vực thượng nguồn sông Rào Trăng (sông Bồ) ở phía Bắc và Rào La ở phía Nam Địa hình khu vực khá cao và phức tạp, đỉnh cao nhất là Động Ngài (1.771-1.774 m) nằm ở phía

Nam Khu bảo tồn

* Phân khu phục hồi sinh thái:Diện tích phân khu phục hồi sinh thái: 15.712

ha và chia thành hai phân khu I và II Diện tích phân khu phục hồi sinh thái I: là 8.535 ha Phía Bắc khu bảo tồn, giáp với với huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị, chiếm phần lớn lưu vực thượng nguồn của sông Mỹ Chánh Diện tích phân khu phục hồi sinh thái II: 7.177 ha Chiếm phần lớn diện tích của lưu vực khe Mối, là một chi lưu của sông Ô Lâu Diện tích rừng tự nhiên trong khu vực này là 3.121 ha Diện tích

4.056 ha còn lại của phân khu chủ yếu là thảm cây bụi cỏ và đất trống cây gỗ rải rác

Trang 17

1.2.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

1.2.3.1 Thảm thực vật và các kiểu rừng chính

Khu BTTN Phong Điền được bao phủ bởi các kiểu rừng kín thường xanh Các kiểu rừng chủ yếu tìm thấy ở đây là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố ở độ cao trên dưới 700 m và kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới phân bố

ở trên độ cao 700 m trở lên là so với mực nước biển Tuy nhiên, do trước đây thuộc

sự quản lý của các Công ty Lâm nghiệp và Ban quản lý rừng phòng hộ, do công tác bảo vệ, bảo tồn không tốt, do hậu quả tác động của con người và ảnh hưởng của chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hoá học đã làm thay đổi nhiều diện mạo của rừng, cho nên rừng còn lại hiện nay tại ở đây đều mang tính rừng thứ sinh Tuy nhiên, trên các sườn dốc và dọc theo các thung lũng và núi cao hiểm trở giáp với huyện A Lưới có thể vẫn còn thấy thành phần các loài thực vật nguyên sinh Qua kết quả thống kê, nhưng chưa đầy đủ đã xác định thực vật 597 loài thực vật bậc cao

có mạch thuộc 366 chi và 118 họ [2] Các kiểu rừng chính ở Khu BTTN Phong Điền có thể chia ra như sau:

Rừng trung bình và rừng giàu: Loại rừng này phân bố dọc theo ranh giới hai

huyện Phong Điền và A Lưới - tỉnh Thừa Thiên Huế Do địa hình bị chia cắt mạnh,

xa khu dân cư, nên rừng ít bị tác động Thực vật khá phong phú và tập trung chủ yếu là các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) như Dầu ke và một số loài lá kim

như Thông nàng, Hoàng đàn giả và Thông tre ở đai rừng á nhiệt đới và Kim giao ở

trên độ cao 700 m Thành phần thực vật phân bố ở độ cao dưới 700 m khá phức tạp,

phổ biến là các loài thường gặp thuộc họ Dẻ (Lithocarpus sp., Castanopsis sp,

Quercus sp.) như Chuồn, Giổi, Hồng quang, Cóc đá, Huỷnh,

Rừng nghèo: Kiểu rừng này phân bố tập trung ở độ cao thấp dưới 500 m với

các loài ưu thế như Chuồn, Lèo heo, Trâm, Mít nài,

Rừng phục hồi: Thực vật rừng chiếm ưu thế là các loài cây tiên phong ưa

sáng và một số cây chịu hạn Cây bụi phân bố chủ yếu trên các bãi bằng ven sông suối và các vùng đồi có độ dốc thấp Trảng cỏ chiếm ưu thế các loài như Lau, Lách,

cỏ Tranh, Đót, chiều cao gần 2 m và rất rậm rạp Sinh cảnh này là nơi cung cấp thức ăn cho thú móng guốc [2]

Trang 18

1.2.3.2 Địa hình, thủy văn

Địa hình khu vực nghiên cứu là vùng núi thấp ở phía Đông - Nam của dãy Trường Sơn với dãy núi cao trên 1000 m chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam dọc ranh giới hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị [2] Trong khu vực có các đỉnh cao điển hình như: Coc Ton Bhai 1.408 m, Ca Cút 1.405 m, Ko Va La Dut 1.409 m, Coc Muen 1.298 m, Co Pung 1.615 m Phía Đông và Bắc của khu vực thuộc hạ lưu các con sông lớn với độ cao dao động từ 100 m - 400 m, ngược lại phía Tây và Nam của khu vực là thượng nguồn của ba con sông Mỹ Chánh, Ô Lâu và sông Bồ với địa hình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và ngắn

Hệ thống sông ngòi ở Khu BTTN Phong Điền thường ngắn và độ dốc lớn đổ

ra biển theo hướng Đông, Đông Bắc, bao gồm các con sông chính sau: Hệ thống sông Ô Lâu và Mỹ Chánh nằm ở phía Bắc và Đông Nam của Khu BTTN Phong Điền Đây là 2 con sông ngắn có lưu vực phần thượng lưu nằm toàn bộ trong Khu bảo tồn, có vai trò hết sức quan trọng trong việc đi lại cũng như cung cấp nước tưới tiêu, sinh hoạt trong khu vực Khu bảo tồn và vùng hạ lưu Phía Nam là thượng nguồn của suối Rào Trăng và khe Quan đổ vào lưu vực sông Bồ Ngoài ra trong vùng còn có các hệ thống khe rạch, sông cụt chỉ hoạt động vào mùa mưa, cạn kiệt vào mùa khô

1.2.3.3 Khí hậu

Khu BTTN Phong Điền nằm trong vùng khí hậu Đông Trường Sơn, mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa Do địa hình của dãy Trường Sơn có ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu tạo nên sự khác biệt lớn trong phân hoá mùa mưa ẩm so với khí hậu gió mùa vùng Bắc Trung Bộ [2] Qua số liệu của các trạm khí tượng thuỷ văn trong khu vực thì nhiệt độ trung bình hàng năm của vùng khoảng từ 24oC-25oC Lượng mưa trung bình hàng năm được ghi nhận là 2.500 mm - 3.000 mm, phân bố không đều ở các vùng Mùa mưa ở đây bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc muộn hơn vào tháng 1 năm sau Độ ẩm bình quân năm có thể đạt tới 85 - 88%, trong mùa mưa độ ẩm lên tới 90% Có sự khác nhau đáng kể về khí hậu thời tiết giữa các khu vực ở huyện Phong Điền và A Lưới

Gió bão: Trong vùng, có hai loại gió chính về mùa khô là gió mùa Tây - Nam (gió phơn Tây Nam) thổi mang hơi nóng, về mùa mưa là gió mùa Đông Bắc lạnh

Trang 19

Ngoài ra, bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11, bình quân có 2,5 trận

bão/năm

1.2.3.4 Dân số

Khu BTTN Phong Điền có 9 xã trong vùng đệm, bao gồm 03 xã ở huyện Phong Điền: Phong Mỹ, Phong Xuân và Phong Sơn và 06 xã ở huyện A Lưới: Hồng Thuỷ, Hồng Vân, Hồng Trung, Bắc Sơn, Hồng Kim và Hồng Hạ Hầu hết dân

cư trong vùng đệm thuộc huyện Phong Điền sống ở phía Đông ranh giới của Khu bảo tồn Đối với các xã vùng đệm thuộc huyện A Lưới hầu hết dân cư tập trung dọc đường Hồ Chí Minh và tỉnh lộ 49 Có tổng cộng 68 thôn ở vùng đệm của Khu bảo tồn Mật độ dân số thường cao ở những nơi gần sông, suối, dọc theo trục đường và thung lũng bằng phẳng phù hợp với canh tác lúa nước Dọc theo thung lũng A Lưới dân cư phân bố dọc đường 14, mật độ dân cư thấp (khoảng 27 người/km2) Dân số các xã thuộc huyện Phong Điền như sau, xã Phong Sơn có 1.905 hộ gia đình, với số dân 9.208 người Xã Phong Xuân có 992 hộ gia đình, với 4.869 người Xã Phong

Mỹ có 1.080 hộ gia đình, với 4.669 người Dân số ở đây chủ yếu làm nghề nông và chăn nuôi nhỏ Một bộ phận dân cư chuyên khai thác rừng, săn bắt động vật hoang

dã, Rồng đất Mùa nông nhàn nhiều người dân còn vào rừng khai thác lâm sản ngoài gỗ, khai thác gỗ trái phép hoặc săn bắt thú rừng

Nhìn chung, dân cư sống trong vùng đệm Khu BTTN Phong Điền đã định canh định cư ổn định, có 06 nhóm dân tộc thiểu số sinh sống gồm: Kinh, Pa Hy, Vân Kiều, Pa Kô, Tà Ôi và Cà Tu Phần lớn các nhóm dân tộc thiểu số sống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng, họ thường vào rừng săn bắt động vật hoang dã, săn bắt Rồng đất, đánh cá,… Nhiều người dân vùng đệm trong thời gian nông nhàn

và thiếu ăn họ phải sống phụ thuộc vào việc thu hái lâm sản ngoài gỗ (LSNG), khai thác gỗ và săn bắt động vật rừng trái phép từ rừng của Khu BTTN Phong Điền Đặc biệt có nhiều nhóm thợ săn, thợ rừng họ thường xuyên vào rừng săn bắt Rồng đất, thú rừng, đánh cá, lấy ông và là nguồn thu nhập chính của họ

1.2.3.5 Khu hệ động vật

Khu hệ động vật hoang dã khu vực Phong Điền là một phần của khu hệ động vật Bắc Trung Bộ Theo kết quả khảo sát của nhóm tư vấn Khu BTTN Phong Điền đã

Trang 20

ghi nhận 54 loài thú thuộc 8 bộ và 22 họ [2] Trong tổng số loài thú có 45 loài có tên trong Danh lục Đỏ Thế giới (IUCN, 2011) và 29 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) Đặc biệt ở đây có một số loài thú quý hiếm như Hổ Đông Dương, Báo Gấm, Saola, Tê Tê vàng, Voọc chà vá chân nâu,…

Dựa trên kết quả điều tra, thống kê của nhóm nghiên cứu chim cho thấy ở đây có tổng số loài chim là 176 loài thuộc 14 bộ và 46 họ [2] Trong đó, có 22 loài chim quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ thế giới (IUCN, 2011), Nghị định 32/2006/CP-NĐ của Chính phủ và phụ lục Công ước CITES, chiếm 51,16% (22/43 loài) tống số loài chim quý hiếm của toàn quốc và chiếm 12,5% (22/176 loài) tổng số các loài chim hiện có ở Khu BTTN Phong Điền Trong đó có các loài rất quý hiếm như Gà Lôi lam mào trắng, Gà Lôi hồng tía, Gà Lôi trắng,…

Kết quả khảo sát đã ghi nhận 53 loài bò sát và ếch nhái ở Khu BTTN Phong Điền, trong đó có 34 loài bò sát và 19 loài ếch nhái [2] Trong đó, có 08 loài trong Danh lục Đỏ thế giới IUCN và 19 loài trong Sách Đỏ Việt Nam Thành phần loài bò sát ếch nhái khu vực Phong Điền cũng phong phú như các khu liên quan đã được nghiên cứu như: Vũ Quang (Hà Tĩnh), Phong Nha- Kẻ Bàng (Quảng Bình), Bạch

Mã (Thừa thiên Huế) và Ngọc Linh (Kon Tum) So với toàn khu Bắc Trường Sơn thì ở Khu BTTN Phong Điền có số Bộ chiếm 67%, số Họ chiếm 75% và số loài chiếm 44% tổng số loài Trong đó có những loài quý hiếm như Rùa hộp trán vàng, Rùa núi vàng, Rắn hổ chúa, Rồng đất, Kỳ đà hoa,…Tuy nhiên, nếu được nghiên cứu ở nhiều địa điểm, trong thời gian thích hợp chắc chắn số loài ghi nhận cho khu vực sẽ tăng lên nhiều

Trang 21

Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Rồng đất thu trên thực địa tại khu vực nghiên cứu gồm 504 cá thể được ghi nhận để tính toán kích cỡ và cấu trúc giới tính quần thể Trong bộ mẫu này chúng tôi chọn ngẫu nhiên 118 cá thể để đo đếm các đặc điểm hình thái và phân tích dinh dưỡng Trong đó, có 84 cá thể (21 cá thể đực, 32 cá thể cái cái và 31 cá thể chưa xác định giới tính) được đo các chỉ số hình thái, 55 cá thể được chọn để phân tích dinh dưỡng

- Nhật ký nghiên cứu thực địa

- Phiếu khảo sát người dân địa phương

- Các tài liệu liên quan đến đề tài

- Máy ảnh, máy định vị GPS, máy đo nhiệt độ, ống nhòm, máy đo độ ẩm, cân khối lượng cơ thể, thước kẹp, thước dây, đèn đội đầu, bút xóa,…

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu:

+ Từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017: Tiến hành thu mẫu, theo dõi quan sát thực địa, phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm Khảo sát thực địa theo các tuyến nghiên cứu, mỗi tháng khảo sát 2-3 lần/tuyến Để thu thập mẫu và các số liệu sinh thái có liên quan nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát cả ban ngày và ban đêm

Ban ngày: Từ 9 giờ đến 16 giờ 30 phút, khảo sát các tuyến và chụp ảnh sinh cảnh, thả cá thể bắt từ tối hôm trước (sau khi đo đếm số liệu hình thái)

Ban đêm: Từ 19 giờ đến 24 giờ, khảo sát và đo đếm chỉ số sinh thái tại sinh cảnh thu được cá thể Rồng đất

+ Từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2017 xử lý số liệu, viết luận văn

Trang 22

Hình 2.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu, thu mẫu

Tiến hành nghiên cứu ở Khu BTTN Phong Điền và các vùng đệm của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Nghiên cứu tiến hành trên các tuyến sau:

+ Tuyến 1 (T-1): Suối Cau dài 860 mét

+ Tuyến 2 (T-2): Suối Diếp dài 1.300 mét

+ Tuyến 3 (T-3): Suối Chạng dài 1.050 mét

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Loài Rồng đất Physignathus cocincinus Cuvier, 1829

- Vị trí phân loại của loài như sau:

Trang 23

Hình 2.2: Mẫu loài Rồng đất (Physignathus cocincinus) ở Khu BTTN Phong Điền 2.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa

Tiến hành điều tra, khảo sát các đặc điểm sinh thái như: Sinh cảnh, điều kiện

vô sinh (nhiệt độ, độ ẩm), các điều kiện hữu sinh như động vật, thực vật, thức ăn, tác động của con người

Dùng máy ảnh để ghi lại các đặc điểm, điều kiện sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu Dùng nhiệt kế để xác định nhiệt độ, độ ẩm tại thời điểm thu mẫu Dùng máy định vị GPS để xác định tọa độ, độ cao tại điểm nghiên cứu so với mực nước biển

- Dụng cụ khảo sát thực địa: các dụng cụ phục vụ cho công tác điều tra thực

địa gồm có máy định vị GPS Garmin 62s, thước đo điện tử độ chính xác 0,01 mm, phiếu nghiên cứu, máy đo nhiệt độ, độ ẩm, máy ảnh, đèn đội đầu, ống tiêm, xilanh,

ống thụt dạ dày, thước dây, bút đánh dấu, cồn,…

- Khảo sát theo tuyến: tuyến điều tra được lập dựa vào bản đồ địa hình, thảm

thực vật và môi trường sống của Rồng đất Các tuyến điều tra đi qua các dạng sinh cảnh khác nhau của khu vực nghiên cứu, tuyến điều tra dọc theo các khe suối Mỗi

tuyến điều tra, được đánh dấu điểm đầu và điểm cuối trên GPS

- Phương pháp thu mẫu: để đo đếm các chỉ tiêu hình thái, đánh dấu cá thể bắt

gặp, thụt rửa dạ dày, tiến hành thu mẫu Rồng đất dọc theo các tuyến khảo sát Mẫu vật được thu thập bằng tay và các dụng cụ khác như thong lọng nhằm tránh gây tổn thương đến con vật Mẫu vật sau khi đo đếm, thụt rửa dạ dày được đánh dấu và thả

lại tại điểm đã thu thập Mỗi cá thể Rồng đất chỉ rửa dạ dày một lần

Trang 24

2.2.4 Phương pháp xác định đặc điểm nhận dạng và giới tính của loài

- Mô tả đặc điểm nhận dạng của loài: Xây dựng bảng dữ liệu hình thái cho

loài Rồng đất (P cocincinus) Các số đo được đo bằng thước kẹp điện tử với độ

chính xác là 0,01mm Số đo về chiều dài thân, chiều dài đuôi ở cá thể có kích thước lớn sử dụng thước dây để đo Đo khối lượng của từng cá thể bằng cân điện tử với độ chính xác là 0,1g Các đặc điểm hình thái được nhóm nghiên cứu, đo đếm được thể hiện như bảng (2.1) như sau:

Bảng 2.1: Các số đo hình thái đo Rồng đất

1 SVL (mm) Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt: đo từ mút mõm đến rìa

trước hậu môn

2 TaL (mm) Chiều dài đuôi: đo từ rìa sau lỗ huyệt đến mút đuôi

3 HW (mm) Rộng đầu: đo phần rộng nhất của đầu

4 HH (mm) Chiều cao đầu: đo từ đỉnh đầu đến cằm

5 HL (mm) Dài đầu: Đo từ mút mõm đến cạnh sau của quai hàm dưới

6 MW (mm) Rộng mõm: Đo phấn rộng nhất của mõm

7 JL (mm) Dài mõm: Từ mút mõm đến khóe môi

8 BM (g) Khối lượng cơ thể

9 AG (mm) Khoảng cách từ nách đến háng: đo từ bờ sau của chi trước

đến bờ trước của chi sau Các chỉ tiêu hình thái của mẫu vật sẽ được sử dụng để xác định giới tính và kiểm chứng việc ghi nhận lại các cá thể đánh dấu qua các đợt khảo sát So sánh chỉ

số dựa trên việc so sánh tương quan về khối lượng và chiều dài cơ thể SVL (chiều dài mút mõm đến lỗ huyệt)

- Nhận dạng các nhóm Rồng đất dựa vào các đặc điểm sinh dục thứ cấp: + Con đực: Có một hàng gai từ cổ tới đuôi phát triển, lỗ đùi và hàng vảy dưới cằm phát triển

+ Con cái: Có một hàng gai từ cổ tới đuôi nhưng ít phát triển, lỗ đùi và vảy dưới cằm ít phát triển

+ Con chưa xác định giới tính (con non): Gai lưng chưa phát triển, có những sọc sáng thưa, chạy xiên từ lưng xuống hai bên bụng

Trang 25

- Nghiên cứu xác định cấu trúc giới tính quần thể theo nhóm đực, cái và chưa xác định giới tính dựa trên đặc điểm hình thái và chiều dài thân

- Xác định chỉ số dị hình kích thước giới tính (SSD = Sexual Size Dimorphism) theo công thức sau:

Trong đó: SSD là chỉ số dị hình kích thước giới tính

Kích thước của giới tính lớn hơn là trung bình SVL con đực trưởng thành Kích thước của giới tính nhỏ hơn là trung bình SVL con cái trưởng thành

2.2.5 Phương pháp ước tính mật độ và kích cỡ quần thể

- Phương pháp “đánh dấu - bắt lại”: Để tính được kích cỡ quần thể của một loài bò sát trong tự nhiên bằng phương pháp thống kê, ghi nhận trực tiếp là rất khó nếu không muốn nói là gần như không thể thực hiện được Do tập tính sống ẩn nấp, hoạt động và kiếm ăn phức tạp,… Một số loài có kích thước nhỏ rất khó để phát

hiện và ghi nhận (Van Schingen et al 2014) [58] Do đó, phương pháp “đánh dấu -

bắt lại” được áp dụng để ước tính kích cỡ quần thể một cách gián tiếp nhưng lại thu

được kết quả tương đối gần với thực tế (Van Schingen et al 2014) Phương pháp

này bao gồm việc ghi nhận những cá thể bắt gặp, đánh dấu chúng và ghi nhận lại những cá thể đã đánh dấu Để đánh dấu, nhóm tác giả sử dụng bút xóa, thời gian bắt lại sau khi đánh dấu là trong vòng hai ngày đến mười ngày

- Ước tính mật độ quần thể: Mật độ quần thể được ước tính là số lượng cá thể động vật phân bố trên một đơn vị diện tích nghiên cứu, được thực hiện theo công thức sau:

D = ns/L(A + B)

Trong đó:

D: Mật độ quần thể nghiên cứu (số cá thể quan sát/km2)

n: Số lượng cá thể

s: Trung bình số cá thể trong một lần quan sát

L: Chiều dài tuyến nghiên cứu

A: Khoảng cách vuông góc từ vị trí quan sát tới vị trí nhìn thấy mẫu bên trái suối B: Khoảng cách vuông góc từ vị trí quan sát tới vị trí nhìn thấy mẫu bên phải suối

Trang 26

Diện tích nghiên cứu chúng tôi xác định như sau: Xác định chiều dài tuyến được tính bằng cách đo trên máy GPS (GPSmap Garmin 62s) Chiều rộng tuyến được xác định bằng cách tính trung bình khoảng cách vuông góc từ vị trí quan sát tới vị trí nhìn thấy con vật ở hai bên suối

- Ước tính kích cỡ quần thể: Để ước tính kích cỡ quần thể, sử dụng chỉ số Schnabel Theo Ngô Đắc Chứng và Nguyễn Quảng Trường (2015) [11], chỉ số Schnabel thường được áp dụng với những nghiên cứu được lặp lại, khảo sát nhiều lần (có thực hiện thêm lần đánh dấu mới) theo công thức:

Trong đó:

N: Kích cỡ quần thể

Mi: Tổng số cá thể đã đánh dấu ở lần khảo sát thứ i

Ci: Số cá thể bắt gặp ở lần khảo sát thứ i

Ri: Số cá thể bắt gặp lại ở lần khảo sát thứ i

- Ước tính kích cỡ quần thể theo chỉ số Lincoln & Petersen: Phương pháp chỉ

số Lincoln & Petersen thường áp dụng với những nghiên cứu khảo sát lặp lại chỉ một lần theo công thức:

Trong đó: P = Kích cỡ quần thể ước tính

n1 = Số cá thể được đánh dấu và thả lại trong lần khảo sát thứ 1 n2 = Số cá thể bắt gặp trong lần khảo sát thứ 2

m2 = Số cá thể bắt gặp lại

2.2.6 Phương pháp nghiên cứu điều kiện tự nhiên và hoạt động sống

* Ghi nhận về điều kiện vi khí hậu: Nhiệt độ và độ ẩm không khí được đo bằng nhiệt kế và ẩm kế điện tử Testo Severis 2-H2 (Testo – Đức) tại vị trí phát hiện Rồng đất

Trang 27

Đo nhiệt độ, độ ẩm nơi xuất hiện Rồng đất, từ đó tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố vô sinh đến hoạt động sống của loài này

* Ghi nhận về sinh cảnh sống: Nghiên cứu tiến hành đo đạc và ghi nhận chỉ

số về môi trường sống nơi bắt gặp từng cá thể như nhiệt độ, độ ẩm không khí, độ cao so với mực nước biển, khoảng cách từ con vật đến mặt đất, độ che phủ rừng, Xác định vi môi trường sống của loài Rồng đất như trên thân cây, tán lá, cây bụi, bãi cỏ, vách đá, trên mặt đất,…

* Xác định phương thức hoạt động: Sau khi phát hiện Rồng đất khoảng 5 đến 10 phút, chúng tôi bắt đầu ghi lại các dữ liệu quan sát về các chuyển động và tập tính của nó, bao gồm hoạt động săn bắt con mồi, tập tính quan sát và chờ đợi, tập tính phơi nắng, đánh nhau hoặc giao phối,…Mỗi cá thể bắt gặp được quan sát và ghi nhận số liệu trong khoảng 10 phút hoặc lâu hơn, các chuyển động đã được thực hiện và các tập tính tương ứng với mỗi phút được ghi nhận đối với mỗi cá thể quan sát Dữ liệu này được sử dụng để phân tích và so sánh giữa hai mô hình hoạt động

chủ yếu của các loài thằn lằn (Reilly et al 2007, Ngo et al 2014 [46]): mô hình

“hoạt động tìm kiếm rộng – widely foraging” và mô hình “nằm và đợi –

sit-and-wait” Mỗi tuyến khảo sát chỉ quan sát một lần để hạn chế tới mức thấp nhất các

quan sát lại

2.2.7 Phương pháp nghiên cứu sinh thái dinh dưỡng

Để nghiên cứu thành phần thức ăn của loài Rồng đất nhưng không gây chết đối với mẫu vật, chúng tôi áp dụng phương pháp thụt dạ dày Phương pháp này được áp dụng khá phổ biến trong nghiên cứu thành phần thức ăn các loài bò sát và

lưỡng cư (Solé et al 2005) [43]

Mẫu vật sau khi thu thập được đo đếm đặc điểm hình thái, đánh dấu và thụt rửa dạ dày ngay tại hiện trường Nước được sử dụng cho việc thụt dạ dày đảm bảo tinh sạch Phương pháp thực hiện theo hướng dẫn của Ngô Đắc Chứng và Nguyễn Quảng Trường (2015) [11] như sau: giữ cá thể cố định, dùng panh nhỏ có quấn cao

su để mở miệng mẫu vật, nhẹ nhàng luồn ống dẫn nước có đường kính 2 mm qua thực quản xuống dạ dày, dùng bơm tiêm đưa nước vào dạ dày để thức ăn trào ra ngoài Toàn bộ mẫu thức ăn thu được sau khi thụt dạ dày sẽ được bảo quản trong lọ cồn 70% có dán nhãn kí hiệu

Trang 28

Xác định thành phần thức ăn: Mẫu thức ăn được định loại chủ yếu ở taxon bậc Bộ tại phòng thí nghiệm Động vật học trường ĐHSP Huế Tài liệu định loại

mẫu côn trùng dựa theo Millar et al (2000) [42], Triplehorn và Johnson (2005) [57] Tài liệu định loại mẫu động vật không xương sống dựa theo Ruppert et al

(2004) [48] Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tham khảo định loại của các chuyên gia

về côn trùng học tại trường ĐHSP Huế

Các chỉ số quan trọng trong quá trình phân tích thành phần thức ăn gồm: Tần

số (F) thể hiện sự phong phú của một loại con mồi thu được trong dạ dày, số lượng (N) mẫu thức ăn, thể tích của mẫu thức ăn (V) và chỉ số quan trọng tương đối của

mỗi loại thức ăn (IRI = Index of Relative Importance)

+ Tính thể tích của mẫu thức ăn bằng công thức:

V = 4/3 x π x (chiều dài/2) x (chiều rộng/2)²

+ Chỉ số quan trọng tương đối (IRI) của mỗi loại con mồi được tính theo

công thức mô tả trong tài liệu của Caldart et al 2012 [30], Ngo et al 2014 [46]

IRI = (F%+N%+V%)/3

Từ đó xác định được dạng thức ăn ưa thích của Rồng đất

+ Dùng chỉ số đa dạng của Simpson (1949) để đánh giá tính đa dạng về thành phần thức ăn của Rồng đất Công thức tính như sau:

ăn thứ i, N là tổng số mẫu thức ăn của các loại thức ăn Chỉ số đa dạng được trình bày dưới dạng 1/D, S là tổng số loại thức ăn trong bộ mẫu, khi 1/D càng lớn thì đa dạng càng cao

+ Để ước tính mức độ đồng đều giữa các loại thức ăn của Rồng đất chúng tôi

sử dụng chỉ số Shannon’s evenness Trong đó: E là chỉ số đồng đều (0 < E ≤ 1), khi

E = 1 thì độ đồng đều cao nhất, H’là chỉ số đa dạng của Shannon-Weiner, Hmax = ln

S (S là tổng số loại thức ăn của bộ mẫu) Công thức tính như sau:

Trang 29

Chỉ số đa dạng H’ được tính như sau:

Trong đó: pi là tỷ lệ của mẫu thức ăn thứ i trong bộ mẫu

2.2.8 Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Điều tra, phỏng vấn người dân, cán bộ kiểm lâm, thợ săn, người làm nghề rừng, chủ nhà hàng, chợ đầu mối,…về tình hình săn bắt, khai thác, tiêu thụ, buôn bán loài Rồng đất ở khu vực nghiên cứu

- Tìm hiểu các báo cáo của địa phương và ngành chức năng về việc khai thác, sử dụng tài nguyên rừng và động vật hoang dã ở khu vực nghiên cứu

2.2.9 Xử lý số liệu và phân tích thống kê

Tất cả số liệu được báo cáo dưới dạng trung bình cộng trừ độ lệch chuẩn (TB

± SD) với mức ý nghĩa P < 0,05 được xem là sai khác có ý nghĩa thống kê

Để thực hiện phân tích thống kê, xây dựng biểu đồ và thuật toán kiểm định, chúng tôi sử dụng các phần mềm thống kê như: Phần mềm SigmaPlot, phần mềm SPSS, Minitab và Excel Nếu dữ liệu đáp ứng được các giả định bình thường của thống kê, chúng tôi sử dụng một yếu tố ANOVA (One-way analysis of variance) đối với một số chỉ tiêu hình thái, dinh dưỡng và điều kiện sinh thái, môi trường

Trang 30

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Một số yếu tố khí hậu ở khu vực nghiên cứu

Theo số liệu của Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Thừa Thiên Huế từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2017 và số liệu về môi trường chúng tôi ghi nhận tại khu vực nghiên cứu được kết quả như sau:

- Nhiệt độ trung bình từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2017 ở khu vực Phong Điền là 25,6oC Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 8/2016, nhiệt độ trung bình từ 27,3oC (cao nhất 38,4oC) Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 02/2017, nhiệt độ trung bình từ 20,5oC (thấp nhất 15,2oC) Mùa mưa trong năm, bắt đầu từ tháng 9/2016 và kết thúc muộn hơn vào tháng 2/2017 (nhiệt độ trung bình các tháng trong mùa mưa là 23,7oC) Mùa khô trong năm từ tháng 03 đến tháng 8 (nhiệt độ trung bình các tháng trong mùa khô là 32,3oC), giữa hai mùa chênh lệch từ 8,6oC Tổng

số giờ nắng trong năm 1.792 giờ, tháng cao nhất có 267 giờ nắng (tháng 7/2016), tháng thấp nhất 21 giờ nắng (tháng 12/2016)

- Tổng lượng mưa từ 7/2016 đến 6/2017 là 4.177,1 mm Một năm có hai mùa

rõ rệt: Mùa mưa, từ tháng 9 năm 2016 đến tháng tháng 02 năm 2017, với lượng mưa trong mùa này là 3.516,1 mm (84,2%); Mùa khô, từ tháng 03 đến tháng 8 trong năm, lượng mưa trong mùa khô là 662 mm (15,8%) Tháng có lượng mưa cao nhất 1.218,0 mm (tháng 12/2016), tháng có lượng mưa thấp nhất 24,8 mm (tháng 3/2016)

- Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong năm là 88,2% Độ ẩm thấp nhất vào tháng 6/2017 (43%), cao nhất tháng 12/2016 (98%)

Diễn biến nhiệt độ trung bình các tháng nghiên cứu và lượng mưa từ tháng

7/2016 đến tháng 6/2017 được thể hiện như hình (3.1) như sau:

Trang 31

Hình 3.1: Diễn biến nhiệt độ, lượng mưa từ tháng 7/2016 đến thán 6/2017

3.2 Đặc điểm hình thái loài Rồng đất Physignathus cocincinus

Khi nghiên cứu các chỉ số hình thái loài Rồng đất, ghi nhận được chiều dài thân (SVL) từ 42,4 mm đến 260 mm Trong đó, cá thể đực có SVL từ 102 mm đến

260 mm, cá thể cái có SVL từ 101 mm đến 170,3 mm và nhóm cá thể chưa xác định giới tính SVL từ 42,4 mm đến ˂ 100 mm Chiều dài nách háng (AG) của cá thể đực

47 mm đến 99 mm, cá thể cái 45 mm đến 79,6 mm và cá thể chưa xác định giới tính

34 mm đến 52 mm Khối lượng cơ thể trung bình của cá thể đực là 203,1 g, cá thể cái là 120,0 g và cá thể chưa xác định giới tính là 19,5 g

3.2.2 Đặc điểm hình thái

- Tổng cộng có 84 mẫu Rồng đất được chọn gẫu nhiên để đo đếm các đặc

điểm hình thái gồm có 21 cá thể đực, 32 cá thể cái và 31 cá thể chưa xác định giới

Trang 32

tính Các đặc điểm hình thái được nhóm nghiên cứu đo đếm gồm chiều dài thân, chiều dài đuôi, khối lượng cơ thể,…Kết quả đo đếm, phân tích các số đo hình thái được thể hiện như ở bảng (3.1) sau:

Bảng 3.1: Đặc điểm hình thái loài Rồng đất

80,6 ± 11,2 42,4-99 71,38 <0,0001

TaL 428,9 ± 96,6

276-542

342,3 ± 64,5 195-484

217,1 ± 38,0 152-276 64,26 <0,0001

HW 26,9 ± 5,5

16,6-33,0

21,1 ± 3,3 17,0-26,8

14,9 ± 1,7 13,0-22,7 66,12 <0,0001

HH 28,1 ± 7,8

15,4-37,2

20,0 ± 3,8 13,1-29,9

14,1 ± 1,9 11,5-20,7 53,64 <0,0001

HL 49,3 ± 11,7

30,3-70,1

36,4 ± 7,1 19,7-48,9

24,5 ± 3,3 19,8-33,6 64,53 <0,0001

BM 203.1 ± 94.3

43,2-346,5

120,0 ± 72.5 37,8-302,0

19,5 ± 7,0 10,4-34,4 50,1 <0,0001

AG 76,8 ± 18,6

47,0-99,0

62,2 ± 12,4 45,0-79,6

40,1 ± 5,9 34,0-52,0 55,13 <0,0001

MW 29,0 ± 6,1

18,4-37,3

22,7 ± 3,9 15,3-31,9

15,4 ± 3,3 13,5-23,8 58,55 <0,0001

JL 33,9 ± 7,5

21,8-42,1

25,9 ± 4,3 18,6-34,0

16,7 ± 2,4 13,7-23,3 77,11 <0,0001

SVL/AG 2,25 ± 0,3

1,7-3,1

2,1 ± 0,2 2,5-1,6

2,0 ± 0,2 2,4-1,6

SVL/TaL 0,4 ± 0,1

0,3-0,5

0,39 ± 0,1 0,5-0,3

0,38 ± 0,1 0,5-0,3

SVL/HL 3,5 ± 0,4

4,3-2,8

3,6 ± 0,6 6,6-2,9

3,3 ± 0,3 4,5-2,5

HL/HW 1,8 ± 0,3

2,4-1,3

1,7 ± 0,2 2,0-1,1

1,7 ± 0,2 2,1-1,2

HL/HH 1,8 ± 0,2

2,1-1,4

1,8 ± 0,3 2,8-1,2

1,7 ± 0,1 2,0-1,4

Trang 33

Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận chiều dài thân (SVL) của Rồng đất phân bố như sau (Hình 3.2):

Hình 3.2: Chiều dài thân (SVL) của cá thể đực, cá thể cái và

cá thể chưa xác định giới tính

Kết quả ở Hình 3.2, cho thấy có sự khác nhau về chiều dài thân giữa cá thể đực và cá thể cái (SVL cá thể đực lớn hơn SVL cá thể cái) Chiều dài thân của cá thể đực tập trung từ 170 mm đến 179 mm với 4/21 cá thể (chiếm 19% tổng số cá thể đực) Trong khi đó, chiều dài thân của cá thể cái tập trung từ 130 mm đến 149 mm, không có cá thể cái có SLV trên 180 mm Ở nhóm cá thể chưa xác định giới tính SVL tập trung từ 70 mm đến 79 mm Như vậy, qua kết quả đo đếm các đặc điểm hình thái thấy rằng, chiều dài thân (SVL) trung bình của cá thể đực là 172,3 mm, cá thể cái là 131,0 mm và nhóm chưa xác định giới tính là 80,6 mm Điều này chứng

tỏ SVL của cá thể đực lớn hơn cá thể cái và nhóm chưa xác định giới tính,

(ANOVA, F 2,83 = 71,38; P < 0,0001) cho thấy sai khác SVL của cá thể đực, cá thể

cái và nhóm chưa xác định giới tính có ý nghĩa thống kê

Kết quả phân tích cho thấy, chiều dài đuôi (TaL) cá thể đực lớn hơn cá thể cái và nhóm cá thể chưa xác định Trong đó, cá thể đực TaL từ 276 mm đến 542

mm (trung bình 428 mm, n = 21), cá thể cái TaL từ 195 mm đến 484 mm (trung bình 342,3 mm, n = 32) và cá thể chưa xác định giới tính TaL từ 152 mm đến 276

Trang 34

mm (trung bình 217,1 mm đến, n = 31), sai khác này là có ý nghĩa thống kê (F 2,83 =

64,26; P < 0,0001) Tỷ lệ SVL/TaL cá thể đực là 0,4, cá thể cái 0,39 và cá thể chưa

xác định giới tính là 0,38 Như vậy, so sánh tỷ lệ SVL/TaL giữa các nhóm Rồng đất

là có sự khác nhau không nhiều

Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy, khối lượng cơ thể (BM) cá thể đực lớn hơn cá thể cái và nhóm cá thể chưa xác định giới tính Trong đó, khối lượng cơ thể của cá thể đực từ 43,2 g đến 346,5 g (trung bình 203,1 g, n = 21), cá thể cái từ 37,8 g đến 302,0 g (trung bình 120,0 g, n = 32) và cá thể chưa xác định giới tính từ 10,4 g đến 34,4 g (trung bình 19,5 g, n = 31), sai khác về khối lượng cơ thể là có ý nghĩa thống

kê (F 2,83 = 50,1; P < 0,0001) giữa các nhóm

Chiều dài từ nách đến háng (AG) của cá thể đực từ 47,0 mm đến 99,0 mm (trung bình 76,8 mm, n = 21), cá thể cái từ 45,0 đến 79,6 mm (trung bình 62,2 mm,

n = 32) và cá thể chưa xác định giới tính từ 34,0 mm đến 52,0 mm (trung bình 40,1

mm, n = 31) Như vậy AG giữa các nhóm Rồng đất là có sự khác nhau (cá thể đực lớn hơn cá thể cái và nhóm chưa xác định giới tính), sai khác AG giữa các nhóm

Rồng đất là có ý nhĩa thống kê (F 2,83 = 55,13; P < 0,0001) Tuy SVL giữa cá thể

đực, cá thể cái cái và nhóm cá thể chưa xác định giới tính là khác nhau, khi SVL của cá thể chưa xác định giới tính là < 100 mm nhưng giá trị AG lại không có giới hạn rõ rệt, AG cá thể chưa xác định giới tính đạt đến giá trị lớn nhất là 52,0 mm

Khi phân tích các số đo hình thái như chiều dài đầu, rộng đầu, cao đầu và chiều dài mõm và rộng mõm của các nhóm Rồng đất, nghiên cứu cũng thấy rằng các số đo hình thái giữa các nhóm Rồng đất có sự khác nhau (cá thể đực lớn hơn cá

thể cái và nhóm chưa xác định giới tính) và có ý nghĩa thống kê (P < 0,0001)

Để đánh giá sự sai khác về di hình kích thước giới tính, trong bộ mẫu 84 cá thể phân tích các chỉ số hình thái, nghiên cứu đã xác định cá thể trưởng thành ở giới tính đực có SVL ≥ 196 mm (7 cá thể), cá thể cái trưởng thành SVL ≥ 143 mm (12

cá thể) Trung bình SVL của cá thể đực trưởng thành là 219,7 mm, cá thể cái trưởng thành là 155,2 mm (cá thể đực trưởng thành lớn hơn cá thể cái trưởng thành) Kết quả phân tích chỉ số di hình kích thước giới tính (SSD) giữa giới tính đực và cái là

Trang 35

0,42 Như vây, có sự sai khác tương đối lớn về kích thước giới tính giữa cá thể đực

và cá thể cái

Mối quan hệ giữa các số đo hình thái của Rồng đất:

- Chiều dài thân và khối lượng cơ thể: Qua phân tích, tác giả thấy rằng chiều dài thân và khối lượng cơ thể có quan hệ tỉ lệ thuận với nhau, khi SVL càn lớn thì

BM càng tăng ở các nhóm Rồng đất và được thể hiện qua hình (3.3) như sau:

Hình 3.3: Mối quan hệ giữa chiều dài thân với khối lượng cơ thể

ở các nhóm Rồng đất

Qua Hình 3.3 thấy rằng, chiều dài thân và khối lượng cơ thể giữa các nhóm Rồng đất có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau Trong khi cá thể đực có hệ số hồi quy là

R² = 0,84, cá thể cái R² = 0,7 và nhóm cá thể chưa xác định R² = 0,7 Như vấy, mối

quan hệ này ở cá thể đực là chặt chẽ hơn cá thể cái và nhóm chưa xác định Mối quan hệ này ở cá thể đực, cái và nhóm chưa xác định giới tính là dương tính và có

ý nghĩa thống kê: cá thể đực (ANOVA, F 1,20 = 99,66; P < 0,0001), cá thể cái (F 1,31 = 69,92; P < 0,0001) và nhóm cá thể chưa xác định giới tính (F 1,30 = 70,18;

P < 0,0001)

- Mối quan hệ giữa chiều dài đuôi và khối lượng cơ thể được thể hiện qua hình (3.4) như sau:

Trang 36

Hình 3.4: Mối quan hệ giữa chiều dài đuôi với khối lượng cơ thể Rồng đất

Như vậy, giữa chiều dài đuôi và khối lượng cơ thể cũng có mối quan hệ theo

tỷ lệ thuận và chặt chẽ với nhau khi R² = 0,79 Mối quan hệ này là dương tính và có

ý nghĩa thống kê (F 1,83 = 321,97; P < 0,0001) Khi khối lượng cơ thể càng lớn thì

đuôi càng dài và ngược lại (không tính đến những trường hợp đích đuôi) Mối quan

hệ này thể hiện ở cá thể đực, cá thể cái và nhóm chưa xác định giới tính là có sự

khác nhau

- Mối quan hệ giữa chiều dài thân với dài đầu, rộng đầu:

+ Giữa chiều dài thân và dài đầu của Rồng đất được thể hiện thông qua hình (3.5) như sau:

Hình 3.5: Mối quan hệ giữa chiều dài thân với dài đầu của Rồng đất

Trang 37

Qua Hình 3.5 chúng tôi thấy rằng, giữa chiều dài thân và dài đầu có quan hệ

thuận với nhau, mối quan hệ này rất chặt chẽ khi R² = 0,86 Mối quan hệ này là dương tính và có ý nghĩa thống kê (F 1,83 = 533,78; P < 0,0001) Điều đó nói lên rằng

khi chiều dài thân càng lớn thì đầu càng dài

+ Giữa chiều dài thân với rộng đầu: Qua phân tích mối quan hệ này, tác giả

thấy rằng, giữa chiều dài thân và rộng đầu cũng có quan hệ rất chặt chẽ với nhau R²

= 0,87 và có ý nghĩa thống kê (F 1,83 = 558,39; P < 0,0001) Mối quan hệ này là

dương tính và được thể hiện qua hình (3.6) như sau:

Hình 3.6: Mối quan hệ giữa chiều dài thân với rộng đầu của Rồng đất

Như vậy, giữa chiều dài thân với rộng đầu, chiều dài thân với dài đầu đều

có quan hệ theo tỷ lệ thuận và dương tính với nhau và các mối quan hệ này rất chặt chẽ

- Mối quan hệ giữa chiều dài thân (SVL) với khoảng cách giữa nách - háng (AG) thể hiện qua hình (3.7) như sau:

Trang 38

Hình 3.7: Mối quan hệ giữa chiều dài thân với khoảng cách nách - háng

Qua phân tích hồi quy chúng tôi thấy rằng, giữa SVL với AG có quan hệ

thuận với nhau với hệ số R² = 0,87, chứng tỏ mối quan hệ này rất chặt chẽ với nhau Đây là mối quan hệ dương tính và có ý nghĩa thống kê (F 1,83 = 554,34; P < 0,0001)

Như vậy, mối quan hệ giữa các số đo hình thái của cá thể đực, cá thể cái và

cá thể chưa xác định giới tính đều có quan hệ tỷ lệ thuận và mối quan hệ này chặt

chẽ khi hệ số hồi quy R² ≥ 0,7 Tất cả các quan hệ giữa các số đo hình thái với nhau

đều dương tính và có ý nghĩa thống kê

3.2.3 Cấu trúc giới tính quần thể Rồng đất

Để đánh giá cấu trúc giới tính quần thể Rồng đất, nghiên cứu đã xác định Rồng đất trên ba nhóm là cá thể đực, cá thể cái và nhóm cá thể chưa xác định giới tính Các nhóm Rồng đất được phân chia như sau cá thể chưa xác định giới tính (con non) có SVL ˂ 100 mm, cá thể đực và cá thể cái có SVL ≥ 100 mm Kết quả nghiên cứu chúng tôi thu được 504 cá thể, ở ba địa điểm được thể hiện như hình (3.8) như sau:

Trang 39

Hình 3.8: Số lượng cá thể Rồng đất theo nhóm đực, cái và không xác định ở

các suối nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, quần thể Rồng đất ở suối Cau (T-1) có 183 cá thể, trong đó có 29 cá thể đực, 46 cá thể cái và 108 cá thể chưa xác định giới tính Như vậy, ở đây số cá thể chưa xác định giới tính chiếm số lượng lớn với 108 cá thể (59%), số cá thể đực và cái có sự chênh lệch nhau đáng kể

Ở suối Diếp (T-2) chúng tôi thu được 255 cá thể trong đó có 46 cá thể đực,

65 cá thể cái và 144 cá thể chưa xác định giới tính Như vậy, ở tuyến 2 số cá thể chưa xác định giới tính chiếm tỉ lệ lớn 56,4% (144 cá thể), số cá thể đực và cái chiếm tỉ lệ dưới 50%

Ở suối Chạng (T-3) kết quả thu được 66 cá thể trong đó có 13 cá thể đực, 21

cá thể cái và 32 cá thể chưa xác định giới tính Như vậy, ở đây số cá thể chưa xác định giới tính chiếm tỉ lệ khá lớn 48,5%

Tóm lại, kết quả nghiên cứu ở ba suối, nghiên cứu thấy rằng ở suối Diếp 2) có số lượng cá thể nhiều nhất, trong khi ở suối Chạng (T-3) có số lượng cá thể ít hơn nhiều Nguyên nhân của kết quả này là do ở tuyến 2 điều kiện sinh thái thuận lợi, ít bị tác động nên quần thể Rồng đất duy trì và phát triển Ở suối Chạng (T- 3)

(T-số lượng cá thể ghi nhận ít hơn, theo chúng tôi do ở đây gần với nhiều con suối khác, điều kiện sinh thái bị tác động nhiều và nạn khai thác diễn ra nhiều hơn Kết quả khảo sát cũng ghi nhận rằng, ở các suối số cá thể chưa xác định giới tính chiếm

tỉ lệ lớn hơn nhiều so với cá thể đực và cá thể cái

Trang 40

Nghiên cứu Rồng đất được thực hiện trong mùa mưa và mùa khô Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua hình (3.9) như sau:

Hình 3.9: Số lượng cá thể Rồng đất ở các nhóm đực, cái và chưa xác định theo mùa

Như vậy, kết quả nghiên cứu thấy rằng, ở mùa mưa số lượng cá thể thu được

là 111 cá thể, trong đó có 26 cá thể đực, 35 cá thể cái và 50 cá thể chưa xác định giới tính Trong mùa khô nghiên cứu ghi nhận có 393 cá thể chiếm tỷ lệ 77,9% (393/504), trong đó có 63 cá thể đực, 98 cá thể cái và 232 cá thể chưa xác định giới tính Kết quả nghiên cứu này cho ta thấy được, số lượng cá thể trong mùa khô ghi nhận vượt trội hơn nhiều trong mùa mưa, nguyên nhân của điều này theo chúng tôi

do mùa mưa các điều kiện khí hậu không thuận lợi nên các cá thể Rồng đất lẫn trốn trong các hang đá, bui rậm để trú đông, trú mưa nên ít bắt gặp Hiện tượng trú đông diễn ra ở rất nhiều nhóm động vật, trong đó bò sát có tập tính này và Rồng đất cũng

có tập tính trú đông, ngũ động như các loài bò sát khác Trong mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến cuối tháng 8 là mùa sinh sản của Rồng đất nên số lượng cá thể chúng tôi ghi nhận nhiều hơn Mùa khô các điều kiện khí hậu, sinh thái, dinh dưỡng thuận lợi nên Rồng đất hoạt động mạnh hơn, vì vậy chúng ta bắt gặp nhiều cá thể hơn

Tóm lại, kết quả khảo sát thấy rằng trong số 504 cá thể ghi nhận có 89 cá thể đực, 133 cá thể cái và 282 cá thể chưa xác định giới tính Như vậy, số cá thể chưa xác định giới tính trong các suối nghiên cứu chiếm tỉ lệ 55.9% lớn hơn nhiều số cá thể đực và cá thể cái Trong quần thể này số cá thể cái cũng nhiều hơn số cá thể đực

và tỉ lệ đực cái trong quần thể không cân bằng theo tỉ lệ 1:1 (tỷ lệ đực/cái là 0,67)

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w