Nhận thức của học sinh về việc học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa .... cậy của các em học sinh trong quá trình học tập môn N
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
DƯƠNG THỊ NIỀM
DẠY HỌC CỤM BÀI ÔN TẬP KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT LỚP 9
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY
HỆ THỐNG HÓA CHO HỌC SINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Dương Thị Niềm
Trang 4Lời cảm ơn
Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu của tôi được hoàn thành nhờ nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ, động viên của quý thầy cô, gia đình và bạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS Hoàng Thảo Nguyên, người cô đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo giảng dạy LL và PP dạy học Văn – tiếng Việt, khóa 23 đã trực tiếp gi ảng dạy tôi trong thời gian quá
Xin cảm ơn phòng Đào tạo Sau đại học, quý thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và thư viện trường ĐHSP Huế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Xin cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh các trường THCS Phú Hải, THCS Phú Thượng đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực nghiệm đề tài.
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi an tâm học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này
Huế, tháng 09 năm 2016
Tác giả luận văn Dương Thị Niềm
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng biểu 4
Danh mục các hình 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 14
1.1.1 Cơ sở Ngôn ngữ học 14
1.1.2 Cơ sở Tâm lý học 24
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 26
1.2.1 Cụm bài ôn tập tiếng Việt trong Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 THCS 26
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2 M T SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC CỤM BÀI ÔN TẬP TIẾNG VIỆT LỚP 9 34
2.1 Định hướng 34
2.1.1 Phát triển năng lực hệ thống hóa cho học sinh cần chú trọng nguyên tắc củng cố lý thuyết gắn với thực hành 34
Trang 62.1.2 Phát triển năng lực hệ thống hóa cho học sinh cần chú trọng quan
điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt 36
2.1.3 Phát triển năng lực hệ thống hóa cho học sinh cần quan tâm đồ dùng dạy học 37
2.2 Tổ chức dạy học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 nhằm phát triển năng lực hệ thống hóa cho học sinh 37
2.2.1 Sử dụng biểu bảng giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức tiếng Việt 37
2.2.2 Sử dụng graph giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức tiếng Việt 42
2.2.3 Sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức tiếng Việt 48
Tiểu kết chương 2 58
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 Mục đích thực nghiệm 59
3.2 Kế hoạch thực nghiệm 59
3.2.1 Nội dung, cách thức thực nghiệm 59
3.2.3 Đối tượng chọn thực nghiệm 77
3.3 Kết quả thực nghiệm 78
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7ĐC
TN
Viết đầy đủ
Bản đồ tư duy Giáo viên Học sinh Sách giáo khoa Trung học cơ sở Đối chứng Thực nghiệm
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Nhận thức của HS về vai trò của các bài ôn tập theo hướng phát
triển năng lực tư duy hệ thống hóa 29
Bảng 1.2 Nhận thức của học sinh về việc học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa 33
Bảng 3.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 78
Bảng 3.2 Bảng kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng 79
Bảng 3.3 Bảng kết quả thực nghiệm và đối chứng 79
Biểu đồ 3.1 Kết quả thực nghiệm và đối chứng 80
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ chưa đầy đủ 31
Hình 1.2 Sơ đồ đầy đủ 31
Hình 2.1 Có ẩn một số nhánh 55
Hình 2.2 Các nhánh đã đầy đủ 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Người xưa đã có câu “Văn ôn võ luyện”, đó là nhận định sâu sắc được
đúc rút từ thực tiễn cuộc sống vô cùng phong phú và lâu dài Câu nói đó cho đến ngày nay vẫn đúng đắn, nó khẳng định tầm quan trọng của việc ôn luyện kiến thức trong học tập nói chung Sự ghi nhớ kiến thức của con người chỉ có thể vững bền nếu nó được ôn luyện thường xuyên trong quá trình học tập Nếu kiến thức chỉ được nhắc đến một lần, nó sẽ mờ nhạt dần và có nhiều điều
sẽ biến mất, quá trình quên sẽ xảy ra Nhận thấy tầm quan trọng của việc ôn luyện kiến thức trong học tập, từ lâu, các chương trình giáo dục và giảng dạy cũng như sách giáo khoa biên soạn cho học sinh các cấp đều đã có loại bài ôn tập kiến thức Có thể ôn tập theo chương, phần, ôn theo học kỳ, theo năm học
và cả ôn tập cho cả bậc học Cụm bài ôn tập tiếng Việt ở lớp 9 THCS hiện nay là loại bài ôn tập cho cả bậc học về một phân môn – phân môn Tiếng Việt Như vậy, không riêng môn Tiếng Việt mà bất cứ môn học nào cũng cần
có loại bài ôn tập kiến thức Đó là một yêu cầu có tính bắt buộc của khoa học
Sư phạm
Hệ thống hóa tuy không phải là một thao tác tư duy cơ bản của con người nhưng nó cũng là một thao tác trí tuệ vô cùng quan trọng, nhất là trong học tập hoặc quản lý công việc, quản lý xã hội, trong nghiên cứu khoa học Khoa học phát triển ngày càng phong phú, đa dạng, phức tạp đòi hỏi phương pháp nhận thức của con người phải chuyển biến theo Hệ thống hóa kiến thức
là một trong các phương pháp giúp con người nhận thức, lưu trữ kiến thức một cách khoa học, logic, hợp lý, thuận lợi Nếu không có phương pháp hệ thống hóa, nhận thức của con người về khoa học sẽ rối loạn, chồng lấn, kém
Trang 11hóa, khi lưu giữ kiến thức, con người sắp xếp, cất giữ nó có lớp lang thứ tự, trật tự, để khi cần huy động kiến thức, con người sẽ truy tìm một cách dễ dàng, thuận tiện
Để đáp ứng mục tiêu giáo dục học sinh có kiến thức về khoa học tiếng Việt và có kỹ năng sử dụng tiếng Việt để học tập, giao tiếp trong môi trường lứa tuổi, nội dung phần tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn ở THCS gồm 2
bộ phận lớn, bộ phận thứ nhất là nội dung kiến thức tiếng Việt và những quy tắc sử dụng tiếng Việt, bộ phận thứ hai là thực hành luyện tập nhằm củng cố kiến thức và hình thành kỹ năng cho các em Kiến thức lý thuyết về tiếng Việt trong nhà trường phổ thông là những khái niệm về tiếng Việt, những quy tắc
sử dụng, sự phân loại cũng như đặc điểm tính chất, khả năng hoạt động của các đơn vị ngôn ngữ trong giao tiếp Kiến thức tiếng Việt có vai trò hết sức quan trọng Nó làm cơ sở khoa học, chỉ dẫn hoạt động thực hành đi đúng hướng, tránh con đường mò mẫm, kinh nghiệm chủ nghĩa Học sinh học kiến thức lý thuyết về tiếng Việt là nhằm “học một biết mười” bởi kiến thức Ngôn ngữ học là những kiến thức được khái quát hóa từ vô vàn thực tế sử dụng ngôn ngữ Song mục đích của dạy học tiếng Việt ở phổ thông không phải là đào tạo những nhà khoa học Ngôn ngữ học, các em không cần phải học quá sâu, quá nhiều về kiến thức hệ thống tiếng Việt mà kiến thức cần vừa đủ để giúp hoạt động thực hành đảm bảo tính khoa học, tránh sai sót Từ vai trò và vị trí của nó, kiến thức tiếng Việt được bố trí thời lượng một cách hợp lý ở từng bậc học phổ thông Ở THCS, phần tiếng Việt được bố trí khoảng năm mươi phần trăm thời lượng học tập tiếng Việt Cuối bậc THCS - lớp 9, có hệ thống bài ôn tập tiếng Việt Đây là loại bài có nhiệm vụ và tính chất khá đặc biệt Nó giúp hệ thống hóa những kiến thức tiếng Việt đã học từ lớp dưới cho đến đó, chủ yếu là kiến thức tiếng Việt của bậc THCS Loại bài này vừa có tác dụng ôn tập kiến thức vừa góp phần rèn luyện tư duy hệ thống hóa cho học sinh Bất cứ
Trang 12giáo dục Môn tiếng Việt cũng vậy Hơn nữa, ngôn ngữ bản thân nó là một hệ thống vô cùng chặt chẽ, phong phú, phức tạp, đa dạng Vì vậy, dạy học cụm bài
ôn tập tiếng Việt cũng là góp phần đắc lực trong việc rèn luyện tư duy hệ thống hóa cho học sinh
Tuy nhiên, loại bài học ôn tập tiếng Việt cũng là thách thức đối với cả giáo viên và học sinh, bởi nó đòi hỏi sự huy động tổng lực kiến thức các em
đã học cả quá trình trước đó Để dạy tốt loại bài này cần lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp Thực tế dạy học loại bài ôn tập kiến thức tiếng Việt ở THCS hiện nay đang gặp nhiều khó khăn Học sinh tỏ ra quá tải, chưa nhận thức được tầm quan trọng của loại bài này Giáo viên tỏ ra thiếu thời gian để thực hiện và phương pháp giảng dạy còn ít được đầu tư, còn đơn điệu, kém hấp dẫn Nhìn chung chất lượng dạy học loại bài này còn hạn chế Xuất phát
từ vai trò và vị trí của loại bài này, xuất phát từ đòi hỏi của thực tế dạy học,
chúng tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: Dạy học c m bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh
2 Lịch sử vấn đề
Nhận thấy tầm quan trọng của kiến thức tiếng Việt trong nhà trường đặc
biệt là ở phổ thông, nhiều tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy học tiếng Việt trong đó có các bài ôn tập tiếng Việt và vận dụng nó vào các bài tập cụ thể Có thể khái quát các công trình đó theo các nhóm vấn đề sau: Nhóm các tài liệu về phương pháp dạy học tiếng Việt, Giáo trình đào tạo giáo viên; nhóm các công trình về sách giáo khoa dành cho học sinh
Nhóm các tài liệu về phương pháp dạy học tiếng Việt
Đã có nhiều công trình đề cập đến những vấn đề chung về lí luận và PPDH tiếng Việt Trước hết đó là các Giáo trình đào tạo giáo viên các cấp
phổ thông Các giáo trình này đều có tên Phương pháp dạy học tiếng Việt
Trang 13nhưng khác nhau là dành cho nhiều đối tượng giáo viên khác nhau từ Tiểu học, THCS đến THPT Dành cho giáo viên Tiểu học có các giáo trình của các tác giả Lê A, Lê Phương Nga, Nguyễn Kim Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến Dành cho cấp THCS có giáo trình của Lê A, Lê Xuân Soan, Cuốn giáo
trình được sử dụng phổ biến nhất hiện nay dành cho cấp THPT là Phương pháp dạy học tiếng Việt của các tác giả Lê A- Nguyễn Quang Ninh- Bùi Minh
Toán Trong các công trình trên, đều có phần hướng dẫn giáo viên dạy học phần ôn tập kiến thức tiếng Việt cho học sinh Trong đó, các tác giả đã chỉ rõ đặc điểm của bài ôn tập tiếng Việt, đó là tính chất tổng hợp, hệ thống hóa và tính thực hành
Ngoài ra, còn có thể kể đến nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn
đề nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tiếng Việt và cụ thể hóa một số dạng
bài tiếng Việt cho học sinh như Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn
(Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm, Nxb GD,
HN1985), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1999), Ngữ pháp tiếng Việt (Diệp Quang Ban, Hoàng
Văn Thung, Nxb GD, 1998) v.v…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã xây dựng được hệ thống tri thức cơ bản về lí luận và phương pháp dạy học tiếng Việt, về quy trình hệ thống một bài ôn tập tiếng Việt cũng như kĩ năng tư duy hệ thống hóa cho học sinh Tuy nhiên chưa có công trình nào bàn riêng về phương pháp dạy loại bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 ở THCS
Các công trình sách giáo khoa dành cho học sinh
Trước năm 2002, trong nhà trường THCS, môn Ngữ văn được chia làm
3 phân môn: Văn, tiếng Việt, Tập làm văn Điều đáng nói ở đây là ba phân môn trong một bộ môn nhưng lại tách biệt, ít liên quan đến nhau Điều này khiến cho việc rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức từ các bài học vào cuộc
Trang 14không có tính thực tiễn, hệ thống nên học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc học và hành môn Tiếng Việt
Từ sau năm 2002 đến nay, SGK Ngữ văn mới được áp dụng trên toàn
quốc được xây dựng theo hướng tích hợp Đây là điều kiện thuận lợi để học sinh được phát triển năng lực tư duy một cách hệ thống, đặc biệt là cụm bài
ôn tập phân môn tiếng Việt
Bộ sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học hiện hành đã được biên soạn
theo hướng rất chú trọng vào vấn đề ôn tập kiến thức cho học sinh Từ sách
Tiếng Việt lớp 2 đến lớp 5, đều có hệ thống bài ôn tập, ôn tập giữa kỳ và cuối
kỳ Trong mỗi phần ôn tập đó, các phân môn như: Tập đọc, Luyện từ và câu đều có nội dung ôn tập rất đầy đủ và chu đáo Các bài ôn tập cũng được biên soạn theo hướng dạy học tích cực, phát huy tính tích cực chủ động của HS
Bộ sách Ngữ văn THCS hiện hành cũng được biên soạn chú trọng nội dung
ôn tập Phân môn nào cũng có các bài ôn tập
Quyển sách Hỏi - Đáp kiến thức Ngữ văn 9 do PGS Lê Huy Bắc (chủ
biên) Lê Quang Đức - Đỗ Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Thị Minh Tuyết, Nxb
GD, 2005) dù không dành riêng về ôn tập tiếng Việt nhưng với những kiến thức và kinh nghiệm được trình bày một cách tỉ mỉ, hệ thống, cuốn sách là tài liệu rất quý báu đối với học sinh trong việc học các bài ôn tập tiếng Việt Cũng xét trong mối qua tâm đến môn Ngữ văn 9, có thể kể đến các tài
liệu như: Các chủ đề ôn tập cuối cấp THCS và thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn, Cao Đăng Ngọc Phượng (chủ biên) - Lê Thị Kiều Oanh, Nxb GD Việt Nam, 2011 Cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn 9 của Nguyễn Văn Đường
(chủ biên), Thạc sĩ Hoàng Dân, Nxb Hà Nội, 2005 đã coi trọng tính thực hành, sách tập trung nhiều vào phân môn tiếng Việt đặc biệt là các bài ôn tập với rất nhiều bài tập củng cố, mở rộng, nâng cao Đây là điều rất bổ ích cho
HS, có thể nói những quyển sách này xứng đáng là người bạn đường đáng tin
Trang 15cậy của các em học sinh trong quá trình học tập môn Ngữ văn 9 nói chung, cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh
Nhìn chung, cấu trúc và thứ tự của các bài trong quyển sách này đều theo sát với nội dung SGK Tuy khác nhau ở mức độ tiếp cận nhiều - ít, cụ thể - sơ lược nhưng đều giải quyết đến các vấn đề về cụm bài ôn tập tiếng Việt Đây là các bộ sách cung cấp những gợi ý khá bài bản được nhiều giáo viên tin cậy, xem là cơ sở để dựa vào đó mà thiết kế bài giảng
Các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đều là những phát hiện đáng trân trọng Có bài viết là những chia sẻ đầy tâm huyết và kinh nghiệm của các nhà giáo… Đó là những bài học quý giá cần học tập Song chưa có tác giả nào hướng dẫn cụ thể dạy học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh
Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học cụm bài ôn tập tiếng
Việt, chúng tôi nghiên cứu đề tài: Dạy học c m bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh Luận
văn hy vọng sẽ góp phần hình thành cho học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt một cách thuần thục, tư duy một cách hệ thống theo hướng phát triển năng lực của mỗi HS đem đến hứng thú học tập môn Ngữ văn cho các em
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các biện pháp dạy học cụm bài ôn tập kiến thức Tiếng
Việt lớp 9 nhằm phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ dạy ôn tập ở lớp 9 cũng như cấp THCS
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ chính sau đây:
Trang 16Nghiên cứu lí luận về dạy học các bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh
Xác định cơ sở thực tiễn của đề tài
Đề xuất các biện pháp dạy học cụm bài ôn tập tiếng Việt 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh
Tiến hành dạy học thực nghiệm để kiểm chứng tính đúng đắn và khả thi của các đề xuất của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy học tiếng Việt ở THCS, trong đó trọng tâm là cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt ở cuối cấp
Do điều kiện khách quan, chúng tôi chọn học sinh lớp 9 một số trường THCS thuộc huyện Phú Vang - tỉnh Thừa Thiên Huế làm đại diện cho học sinh THCS
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cách thức giúp học sinh thông qua cụm bài
ôn tập tiếng Việt lớp 9 phát triển năng lực hệ thống hóa kiến thức nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Chúng tôi dùng phương pháp này để nghiên cứu các tài liệu liên quan nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
Phương pháp điều tra - thống kê
Phương pháp điều tra - thống kê được sử dụng nhằm khảo sát thực trạng
dạy học trong chương trình Ngữ văn THCS và thực hiện đo lường kết quả của hoạt động thực nghiệm, nhờ đó có được những kết quả đúng đắn, đáng tin
Trang 17cậy
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm giúp kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn và khả thi của những đề xuất của đề tài
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Ph l c, nội dung
chính của đề tài gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực hệ thống hóa kiến thức tiếng Việt cho HS qua dạy học cụm bài ôn tập TV lớp 9
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
Ferdinand de Saussure cho rằng Ngôn ngữ trước hết phải là một hệ thống
kí hiệu Không có kí hiệu thì không thể có một sự giao tiếp nào cả Kí hiệu không phải là những yếu tố rời rạc, mà là một tập hợp có tổ chức, có hệ thống, một chỉnh thể bao gồm những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau, tùy thuộc lẫn nhau, giá trị của yếu tố này đồng thời có mặt của yếu tố kia, trong hệ thống, quyết định Tính hệ thống của kí hiệu ngôn ngữ cho phép sự kết hợp muôn màu muôn vẻ giữa chúng với nhau để phát huy tính sáng tạo của tiếng nói, nhằm đáp ứng những nhu cầu diễn đạt ngày càng cao và đổi mới khôn lường Bằng những thực tế sinh động, Saussure chỉ ra rằng ngôn ngữ lúc nào cũng hiện ra như một tổ chức (hệ thống hay cấu trúc) Vì vậy, mọi sự nghiên cứu phải xuất phát từ cái tổng thể làm thành một khối – để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng chứ không nên bắt đầu bằng những yếu tố và xây dựng nên hệ thống bằng cách cộng lại tất cả các yếu tố
Trang 19đó lại
Trong hệ thống, yếu tố là phần tử tạo nên hệ thống Có những hệ thống
có rất nhiều yếu tố Trong hệ thống lớn lại có nhiều hệ thống nhỏ Mỗi hệ thống nhỏ là một yếu tố trực tiếp tạo nên hệ thống lớn Nói cách khác: trong một hệ thống lớn có thể có nhiều cấp độ tổ chức Một phần nào đó, vừa có thể
là yếu tố tạo nên hệ thống lớn hơn, vừa có thể là một hệ thống nhỏ bao gồm các yếu tố nhỏ hơn
Quan hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống tạo thành cấu trúc của hệ thống Cấu trúc này luôn luôn tồn tại trong hệ thống và là cấu trúc của một hệ thống nhất định Con người có thể trừu tượng hoá, khái quát hoá mà tách cấu trúc thành hệ thống để khảo sát và nghiên cứu Cấu trúc của hệ thống thường được biểu hiện bằng các sơ đồ, bảng biểu, mô hình… nó phản ánh mối tương quan của các yếu tố, các bộ phận tạo nên hệ thống Các quan hệ trong hệ thống cũng có nhiều loại khác nhau Số lượng các quan hệ và độ phức tạp của các quan hệ phụ thuộc vào số lượng các yếu tố của hệ thống, vào sự đa dạng của các yêu tố, vào các cấp độ khác nhau trong hệ thống, vào các mối quan hệ với các hệ thống khác
Nằm trong một hệ thống, các yếu tố luôn luôn có giá trị nhất định Giá
trị của mỗi yếu tố được xác định trong một hệ thống nhất định và là giá trị trong hệ thống ấy Nếu cũng yếu tố đó nhưng nằm trong hệ thống khác thì sẽ
có giá trị khác Giá trị của mỗi yếu tố trong hệ thống vừa được xác định bởi những thuộc tính của bản thân yếu tố đó, vừa được quy định bởi mối tương quan với các yếu tố khác trong cùng hệ thống Cho nên giá trị của mỗi yếu tố
có thể thay đổi ngay cả khi bản thân yếu tố đó không thay đổi mà có sự thay đổi ở yếu tố khác trong cùng hệ thống
Sở dĩ có thể nói ngôn ngữ là một hệ thống vì nó thoả mãn những yêu cầu
Trang 20của một hệ thống Nó là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố quan hệ qua lại với nhau Các yếu tố ngôn ngữ thuộc nhiều loại khác nhau, thuộc nhiều cấp
độ khác nhau Mỗi loại yếu tố đảm nhiệm những chức năng khác nhau và mỗi loại yếu tố thường được coi là một loại đơn vị ngôn ngữ
Yếu tố nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ là âm vị Âm vị là đơn vị âm thanh nhỏ nhất có giá trị phân biệt nghĩa, và cấu tạo nên mặt biểu đạt cho các loại đơn vị ngôn ngữ khác Toàn bộ các âm vị của một ngôn ngữ tạo nên hệ thống âm vị Hệ thống này là một cấp độ trong hệ thống ngôn ngữ - cấp độ âm
vị
Yếu tố ở cấp độ cao hơn sau âm vị là các hình vị Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mà có ý nghĩa dùng để cấu tạo từ và biến đổi từ Toàn bộ các hình vị tạo nên một hệ thống và một cấp độ - cấp độ hình vị
Từ là một loại yếu tố có số lượng rất lớn Mỗi ngôn ngữ có hàng chục vạn từ và số lượng đó còn tiếp tục được bổ sung Từ là loại đơn vị có chức năng định danh và có thể dùng độc lập (riêng rẽ từng từ một ) để cấu tạo cụm
từ và câu Toàn bộ các từ của một ngôn ngữ tạo thành một thệ thống từ vựng của ngôn ngữ đó và tạo nên cấp độ từ
Cấp độ từ cao hơn cấp độ hình vị, vì từ được tạo nên từ các hình vị, bao gồm các hình vị, nhưng cấp độ từ lại thấp hơn cấp độ câu
Hệ thống từ vựng lại bao gồm nhiều yếu tố nhỏ hơn, vì mỗi từ có nhiều bình diện Xét về mặt cấu tạo: mỗi từ nằm trong một hệ thống cấu tạo từ Xét
về đặt điểm ngữ pháp mỗi từ thuộc một hệ thống từ loại Xét về ngữ nghĩa, mỗi từ thuộc về một trường ngữ nghĩa
Trên đơn vị từ, có cụm từ và câu Nhưng cụm từ không có chức năng riêng, nó có chức năng tương đương với từ: chức năng định danh và chức năng tạo câu
Câu là đơn vị có chức năng thông báo, và là đơn vị nhỏ nhất của ngôn
Trang 21ngữ thực hiện được chức năng này Khác với âm vị, hình vị, từ, câu không phải là yếu tố có sẵn của hệ thống ngôn ngữ, mà được tạo ra trong từng hoạt động giá trị cụ thể Vì thế nó có số lượng vô hạn
Tuy số lượng các câu cụ thể (còn gọi là các phát ngôn) là vô hạn nhưng chúng vẫn nằm trong những hệ thống nhất định Những câu có cùng kiểu cấu tạo (cấu trúc ngữ pháp) tạo thành một hệ thống: câu đơn, câu ghép…
Trên cấp độ câu là lĩnh vực văn bản: đoạn văn và văn bản Chúng chỉ được tạo ra trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ , vì thế số lượng là vô hạn Văn bản là đơn vị (yếu tố) ngôn ngữ thực hiện chức năng thông báo trọn vẹn, còn đoạn văn là đơn vị thể hiện trọn vẹn một tiểu chủ đề của văn bản
Như thế, trong hệ thống ngôn ngữ, số lượng các yếu tố là rất lớn Chúng lại thuộc nhiều loại khác nhau, các chức năng khác nhau Chúng tạo nên hệ thống nhỏ trong lòng hệ thống ngôn ngữ với nhiều tầng bậc khác nhau Hơn nữa, cùng một yếu tố ngôn ngữ có thể tham gia vào nhiều hệ thống bộ phận khác nhau trong lòng hệ thống ngôn ngữ Chính vì thế có thể nói rằng: Ngôn ngữ là hệ thống của các hệ thống
1.1.1.2 Cơ sở Từ vựng học của c m bài ôn tập tiếng Việt 9
Từ và các ngữ cố định là đơn vị ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống tín hiệu Dạy học tiếng Việt không thể xem xét từ ngữ một cách cô lập mà phải thấy được hoạt động của nó, mối quan hệ của nó với các đơn vị bé hơn (tiếng)
và những đơn vị lớn hơn (câu, đoạn văn và ngôn bản)
Về vấn đề cấu tạo từ: Tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ
đơn lập phân tích tính Vì vậy cấu tạo từ có khác so với các ngôn ngữ khác trên thế giới Từ TV được cấu tạo bằng một hoặc nhiều âm tiết Âm tiết là đơn
vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất, có chức năng cấu tạo từ Trong TV, âm tiết thường trùng với hình vị Hình vị là đơn vị nhỏ nhất mang nghĩa có chức năng cấu tạo từ Nhưng hình vị không hoạt động độc lập Trong TV, từ có một âm
Trang 22tiết – còn được gọi là tiếng – còn được gọi là từ đơn, từ có từ hai âm tiết trở lên thì được gọi là từ phức
Về vấn đề nghĩa của từ: "Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất,
hoạt động, quan hệ ) mà từ biểu thị.” [10] Có thể giải thích nghĩa của từ bằng hai cách chính sau:Trình bày khái niệm mà từ biểu thị Đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích
Thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh
Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các từ tạo nên nó nhưng thường thông qua một số phép chuyển nghĩa như ẩn dụ,
so sánh, [10 ]
Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa Chuyển nghĩa là hiện tượng thay đổi nghĩa của từ, tạo ra những từ nhiều nghĩa Trong từ nhiều nghĩa có nghĩa gốc là nghĩa xuất hiện từ đầu, làm cơ sở để hình thành các nghĩa khác Nghĩa chuyển là nghĩa được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc Thông thường, trong câu, từ chỉ có một nghĩa nhất định Tuy nhiên trong một số trường hợp, từ có thể hiểu đồng thời theo cả nghĩa gốc lẫn nghĩa chuyển
“Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm thanh nhưng nghĩa khác xa nhau, không liên quan gì với nhau” [10]
“Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc vào nhiều nhóm từ đồng nghĩa khác nhau.” [10]
Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc nhiều cặp từ trái nghĩa khác nhau [10]
Nghĩa của một từ ngữ có thể rộng hơn (khái quát hơn) hoặc hẹp hơn (ít khái quát hơn) nghĩa của từ ngữ khác
Trang 23Một từ ngữ được coi là có nghĩa hẹp khi phạm vi nghĩa của từ ngữ đó bao hàm phạm vi nghĩa của một từ ngữ khác
Một từ ngữ được coi là có nghĩa hẹp khi phạm vi nghĩa của từ ngữ đó được bao hàm trong phạm vi nghĩa của một từ ngữ khác
Một từ ngữ có nghĩa rộng đối với những từ ngữ này, đồng thời có thể có nghĩa hẹp đối với một từ ngữ khác [10]
Cùng với sự phát triển của xã hội, từ vựng của ngôn ngữ cũng không ngừng phát triển Một trong những cách phát triển từ vựng tiếng Việt là phát triển nghĩa của từ ngữ trên cơ sở nghĩa gốc của chúng Có hai phương thức chủ yếu phát triển nghĩa của từ ngữ: phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ [12]
Ngoài từ thuần Việt là những từ do nhân dân ta tự sáng tạo ra, chúng ta còn vay mượn nhiều từ của tiếng nước ngoài để biểu thị những sự vật, hiện tượng đặc điểm, mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để biểu thị Đó là các
từ mượn Bộ phận từ mượn quan trọng nhất trong tiếng Việt là từ mượn tiếng Hán (gồm từ gốc Hán và từ Hán Việt) Bên cạnh đó tiếng Việt còn mượn từ của một số ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga Các từ mượn đã được Việt hóa thì viết như từ thuần Việt Đối với những từ mượn chưa được Việt hóa hoàn toàn, nhất là những từ gồm trên 2 tiếng, ta nên dùng dấu gạch nối để nối các tiếng với nhau [11]
Từ Hán Việt:
Trong tiếng Việt có một khối lượng khá lớn từ Hán Việt, tiếng để cấu tạo
từ Hán Việt gọi là yếu tố Hán Việt Phần lớn các yếu tố Hán Việt không được dùng độc lập như từ mà chỉ dùng để tạo từ ghép Một số yếu tố Hán Việt như hoa, quả, bút có lúc dùng để tạo từ ghép, có lúc được dùng độc lập như một
từ Có nhiều yếu tố Hán Việt đồng âm nhưng nghĩa khác xa nhau
Thuật ngữ là những từ ngữ biểu thị khái niệm khoa học, công nghệ,
Trang 24thường được dùng trong các văn bản khoa học công nghệ Về nguyên tắc, trong một lĩnh vực khoa học, công nghệ nhất định, mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị một khái niệm và ngược lại, mỗi khái niệm chỉ được biểu thị bằng một thuật ngữ Thuật ngữ không có tính biểu cảm [12]
Biệt ngữ xã hội: Khác với từ ngữ toàn dân, biệt ngữ xã hội chỉ được dùng trong một tầng lớp xã hội nhất định [11]
- Muốn sử dụng tốt tiếng Việt, trước hết cần trau dồi vốn từ Rèn luyện
để nắm được đầy đủ và chính xác nghĩa của từ và cách dùng từ là việc rất quan trọng để trau dồi vốn từ [12]
Từ tượng thanh và từ tượng hình:
Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người
Từ tượng hình, từ tượng thanh gợi được hình ảnh, âm thanh cụ thể, sinh động có giá trị biểu cảm cao, thường được dùng trong văn miêu tả, tự sự [10] Những tri thức về cấu tạo từ tiếng Việt và mối quan hệ của chúng với quan hệ của từ những hiểu biết về ngữ nghĩa, từ tiếng Việt là cơ sở khoa học chính yếu tạo nên nội dung dạy học tiếng Việt trong chương trình
1.1.1.3 Cơ sở Ngữ pháp học của c m bài ôn tập tiếng Việt 9
Trong cụm bài ôn tập tiếng Việt, phần Ngữ pháp học giúp học sinh củng
cố kiến thức về từ loại, cụm từ, các kiểu câu, thành phần chính của câu nhằm hình thành tư duy và phát triển ngôn ngữ cho người học
Từ loại là những tập hợp từ được phân loại dựa trên đặc điểm ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp trong cụm từ và câu Có 3 nhóm từ loại chính: Những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm thành phần câu gọi
là thực từ Những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, không thể làm thành phần câu mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp gọi là hư từ
Trang 25Những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, không làm thành phần của câu nhưng là những dấu hiệu về tình cảm, thái độ và đứng lẻ ở trong câu gọi là tình thái từ [Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt – Nguyễn Kim Thản] Cụm từ là một nhóm từ kết hợp với nhau tạo thành nghĩa nhưng không đầy đủ
Câu và thành phần câu (Thành phần chính và thành phần phụ):
Sách Ngữ văn 6 tập 2, NXBGD 2006 định nghĩa: “Câu trần thuật đơn là
loại loại câu do một cụm C - V tạo thành, dùng để giới thiệu, tả hoặc kể về một sự việc, sự vật hay để nêu một ý kiến [10]
- “Câu không phải là đơn vị có sẵn Nó được tạo ra trong quá trình tư duy và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dựa vào các đơn vị có sẵn và các quy tắc thực hiện được một ý kết hợp những đơn vị ấy Câu thể hiện được một ý tương đối trọn vẹn thái độ, tình cảm của người nói hay người viết Câu
là đơn vị chức năng khác với các đơn vị thấp hơn nó: câu giúp cho việc hình thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng tình cảm từ người này sang người khác Chức năng này là chức năng thông báo So với các đơn vị cao hơn cũng thực hiện chức năng này thì câu là đơn vị nhỏ nhất Câu có một cấu tạo ngữ pháp nhất định và một ngữ điệu kết thúc Ngữ điệu kết thúc báo cho người nghe biết câu trọn vẹn, trên chữ viết nó được thể hiện bằng một dấu chấm câu” [10]
Câu có hai bộ phận: bộ phận chính và bộ phận phụ, bộ phận chính còn gọi là nòng cốt câu, đó là chủ ngữ và vị ngữ Nội dung cơ bản mà câu thể hiện (thông báo) nằm trong nòng cốt câu Trong câu, ngoài nòng cốt câu, còn có các thành phần làm rõ nghĩa cho nòng cốt câu, đó là: trạng ngữ, thành phần phụ chú, hô ngữ thành phần cảm thán và thành phần tình thái
Trong TV, có hai cách phân loại câu, phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp và phân loại câu theo mục đích giao tiếp (mục đích nói)
Trang 26Câu phân loại theo cấu tạo gồm hai loại: câu đơn và câu phức Câu đơn
là câu có cấu tạo ngữ pháp gồm một nòng cốt, hay còn gọi là một cụm chủ vị Câu phức là câu có từ hai cụm chủ vị trở lên
Câu chia theo mục đích giao tiếp gồm bốn loại: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán Câu tường thuật được thể hiện dưới hai hình thức: câu khẳng định và câu phủ định Câu khẳng định là câu xác nhận thực trạng hoạt động, trạng thái, tính chất của đối tượng, trong câu không có những từ phủ định, trừ trường hợp phủ định hai lần để nhấn mạnh ý
khẳng định Câu phủ định là câu chứa những từ phủ định như: không, chẳng, chƣa nhằm xác nhận thực trạng không tồn tại, không xảy ra, của sự vật, hiện
tượng Dựa vào cách biểu hiện ý phủ định câu phủ định được chia thành hai kiểu: câu phủ định toàn bộ và câu phủ định bộ phận Câu phủ định toàn bộ là câu mà sự phủ định bao trùm lên toàn bộ nội dung của câu
Câu nghi vấn là câu có những từ nghi vấn (ai, gì, nào, sao, đâu, bao giờ, bao nhiêu, à, ƣ, hả, hử,chứ, (có), không, (đã) chƣa, ) hoặc có từ hay (nối
các vế có quan hệ lựa chọn) Câu nghi vấn có chức năng chính là dùng để hỏi Khi viết, câu nghi vấn kết thúc bằng dấu chấm hỏi [11]
Câu cầu khiến là câu có những từ cầu khiến như: hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào, hay ngữ điệu cầu khiến, dùng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên
bảo Khi viết, câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu chấm than, nhưng khi
ý cầu khiến không được nhấn mạnh thì có thể kết thúc bằng dấu chấm [11]
Câu cảm thán là câu có những từ ngữ cảm thán như: ôi, than ôi, hỡi ơi, chao ơi, trời ơi, thay, biết bao, xiết bao, biết chừng nào, dùng để bộc lộ trực
tiếp cảm xúc của người nói hằng ngày hay ngôn ngữ văn chương Khi viết, câu cảm thán thường kết thúc bằng dấu chấm than [11]
1.1.1.4 Cơ sở Phong cách học của c m bài ôn tập tiếng Việt 9
- “Ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ
Trang 27dùng để tạo nên các hình thức phát biểu Khi giao tiếp, mọi người vận dụng vốn ngôn ngữ đã có trong kí ức của mình để tạo ra những phát ngôn Vì vậy người nói phải lựa chọn và kết hợp như thế nào để lời nói có ý nghĩa rõ ràng,
dễ hiểu đặc biệt phải phù hợp với thói quen ngôn ngữ xã hội có tính chất truyền thống, những tập quán lựa chọn và kết hợp đã hình thành trong cộng đồng ngôn ngữ tạo nên những chuẩn mực cho toàn xă hội Việc lựa chọn sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau gắn với nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp khác nhau như vừa nêu trên hình thành nên những “khuôn mẫu” sử dụng ngôn từ nhất định Đó chính là phong cách học Phong cách học là những khuôn mẫu trong hoạt động lời nói, hình thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống, tính chất chuẩn mực, trong việc xây dựng các lớp căn bản (phát ngôn) tiêu biểu.” [20] Tuân theo những phong cách học để lời nói của mình trong mỗi hành vi giao tiếp được người khác công nhận là đúng, là thích hợp Một phát ngôn không phù hợp với phong cách học sẽ gây ra một sự phản ứng tức thì ở người nhận (người nhận thấy lạ, ngạc nhiên, buồn cười, có khi khó chịu) cái sản phẩm của hoạt động lời nói trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
đó đã đến không đúng như người đó chờ đợi Có thể khẳng định sự diễn đạt
theo phong cách là một đòi hỏi tất yếu khách quan (Phong cách học tiếng
Việt, NXB Giáo dục, 2004)
Phong cách học tiếng Việt gồm các bộ phận lớn Tu từ học và Phong cách văn bản Bài học ôn tập TV lớp 9 chỉ bao gồm kiến thức về Tu từ học Trong đó bao gồm các phép ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh
Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng
khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt [11]
Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, bằng những từ ngữ
Trang 28vốn được dùng để gọi hoặc tả con người, làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật, trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người [11]
So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt [11]
Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật,
hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình,
gợi cảm cho sự diễn đạt [11]
1.1.2 Cơ sở Tâm lý học
Về tư duy hệ thống hóa
Trong các tài liệu Tâm lý học về tư duy, hệ thống hóa không được nói
đến như một thao tác tư duy cơ bản Tuy nhiên, nó cũng là một thao tác trí tuệ được tiếp tục trên cơ sở các thao tác tư duy cơ bản Để hệ thống hóa, con người phải trên cơ sở phân tích, so sánh, khái quát hóa và trừu tượng hóa Để
hệ thống hóa, người ta cũng cần có tư duy lôgic, có cụ thể hóa Tư duy hệ thống hóa giúp con người nhận thức thế giới khách quan có hệ thống, tránh được tình trạng lộn xộn, mù mờ Tư duy hệ thống hóa giúp con người ép nén được thông tin, sự ghi nhớ sẽ bớt nặng nề, phức tạp, khi cần huy động kiến thức sẽ nhanh chóng hơn nhờ "lần theo” hệ thống của nó
Đặc điểm lứa tuổi thiếu niên với tư duy hệ thống hóa
Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11- 15 tuổi được học ở bậc THCS Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kì phát triển của trẻ em, vì đó là thời kì chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành Đây là lứa tuổi nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần các em dần tách khỏi thời kì thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí
Trang 29tuệ, tình cảm
Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song vừa mang tính trẻ con lại vừa mang tính người lớn, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động của các em Đặc biệt sự phát triển trí tuệ của các em có sự thay đổi lớn: về khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn
Trí nhớ cũng được thay đổi nhiều về chất Đặc điểm cơ bản của trí nhớ
ở tuổi này là sự tăng cường tính chất chủ định, năng lực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt Cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ cũng tăng cao
HS THCS có nhiều tiến bộ trong ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ Các
em có những kĩ năng hoạt động tư duy, biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hóa, phân loại nhằm ghi nhớ tài liệu Kĩ năng nắm vững phương tiện ghi nhớ của thiếu niên được phát triển ở mức độ cao, các em bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu ghi nhớ tăng lên Ghi nhớ máy móc vàng ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn Các em phản đối các yêu cầu của giáo viên về việc bắt học thuộc từng câu từng chữ và có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình
Tư duy có những biến đổi cơ bản, các em hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi trường hợp Ở tuổi thiến niên, các em biết lập luận giải quyết một vấn đề có căn cứ, các em không dễ tin như lúc nhỏ, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng để minh họa cho kiến thức mình được học
Đó là cơ sở, là điều kiện thuận lợi để khẳng định việc vận dụng những PPDH vào trong dạy học đối với lứa tuổi THCS là rất phù hợp Điều này không
Trang 30chỉ phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, sự phát triển nhân cách, trí tuệ của HS phù hợp với quan niệm dạy học đáp ứng với yêu cầu đổi mới mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy một cách hệ thống của người học
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Cụm bài ôn tập tiếng Việt trong Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 THCS
Chương trình Ngữ văn lớp 9 là chương tình cuối cấp THCS Vì vậy nó mang đặc trưng hệ thống và củng cố kiến thức của chương trình THCS, tạo nền móng cho các lớp sau Mặc dù nó không có nhiều thời gian hơn chương trình SGK Tiếng Việt cũ nhưng lại đòi hỏi có nội dung đầy đủ và thực hành nhiều hơn Vì đây là bộ SGK theo hướng tích hợp nên những vấn đề này sẽ giúp cho HS rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt tốt hơn Môn tiếng Việt góp phần nâng cao khả năng thẩm mỹ (vẻ đẹp của ngôn từ) Môn TV hướng nhiều vào nội dung ngôn ngữ nghệ thuật, học tiếng Việt qua các tác phẩm nghệ thuật Môn Tiếng Việt rèn cho học sinh khả năng sử dụng tiếng Việt trong cuộc sống, chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên, trang bị cho các em số vốn từ để
sử dụng giao tiếp, trong công việc cũng như trong cuộc sống hằng ngày
Để đạt được mục tiêu đó, chương trình có những nhiệm vụ sau:
- Tiếp tục nâng cao, hoàn chỉnh hóa cho HS tri thức về tiếng Việt ở bậc THCS
- Tiếp tục nâng cao, hoàn chỉnh cho HS năng lực hoạt động ngôn ngữ với các kĩ năng quan trọng của HS lớp 9
- Tiếp tục nâng cao cho HS phát triển năng lực tư duy một cách hệ thống hóa, biết huy động và tổ chức những kiến thức cần thiết của một đề tài, biết diễn đạt một cách rành mạch, lớp lang, logic có sức thuyết phục về mọi mặt
- Thông qua việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trên, cùng với các bộ
Trang 31riêng góp phần hình thành cho các em thế giới quan khoa học, yêu quê hương, đất nước, yêu gia đình, có trách nhiệm trước cuộc sống, ý thức, chủ động, sáng tạo, biết yêu thích giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa giàu đẹp của tiếng Việt, một thứ của cải vô cùng phong phú và lâu đời của dân tộc ta
- Về kiến thức Từ vựng học: Sách giáo khoa có các bài: Tổng kết từ
vựng: từ đơn và từ phức; Thành ngữ; Nghĩa của từ; Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ; Từ đồng âm; Từ đồng nghĩa; Từ trái nghĩa; Cấp
độ khái quát của nghĩa từ ngữ Mỗi nội dung học 1 tiết
- Về kiến thức Ngữ pháp học, gồm : Tổng kết ngữ pháp: Từ loại (Danh
từ; động từ; tính từ); Cụm từ Tổng kết ngữ pháp (tt): Thành phần câu (Thành phần chính và thành phần phụ ; Thành phần biệt lập; Các kiểu câu (Câu đơn; Câu ghép; Biến đổi câu; Các kiểu câu ứng với những mục đích giao tiếp khác nhau) Mỗi nội dung học 1 tiết
- Về kiến thức Phong cách học: gồm nhân hóa, hoán dụ, ẩn dụ, so sánh
Mỗi nội dung học 1 tiết
1.2.2 Th c trạng dạy học cụm bài hệ thống hóa kiến thức tiếng Việt ở lớp 9
a Cách thức khảo sát
Để đánh giá tình hình dạy học cụm bài hệ thống hóa kiến thức tiếng
Việt ở lớp 9 trong chương trình THCS hiện nay, làm căn cứ đề xuất những
biện pháp tổ chức vận dụng, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, xác định cơ
sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi tiến hành khảo sát giáo viên và học sinh ở một số trường THCS trên địa bàn huyện Phú Vang của tỉnh Thừa Thiên Huế với các biện pháp như dự giờ, phỏng vấn và chấm bài kiểm tra của học sinh
Để có số liệu tin cậy, chúng tôi chú trọng điều tra, khảo sát cả 3 loại trường: trường có điều kiện giáo dục thuận lợi, trường điều kiện giáo dục khó khăn và
trường có điều kiện giáo dục bình thường
a.1 Dự giờ đ ng nghiệp
Trang 32Chúng tôi đã dự 9 tiết dạy học Ôn tập tiếng Việt tại trường THCS Phú Hải trên địa bàn huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Mục đích dự giờ của chúng tôi là nhằm tìm hiểu về tình hình dạy học nói chung và hệ thống hóa
kiến thức nói riêng sử dụng cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo
hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh, năng lực tổ chức, điều hành, quy trình thực hiện và hiệu quả của giáo viên trong quá trình sử
dụng hình thức phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh
a.2 Phát phiếu tìm hiểu tình hình dạy học của GV và HS
Phiếu 1: Phiếu tìm hiểu tình hình giảng dạy ôn tập tiếng Việt của
Câu hỏi 2: Theo thầy (cô), c m bài ôn tập tiếng Việt 9 có dung lượng và
thời lượng dạy học phù hợp hay không?
a) Phù hợp
b) Chưa phù hợp
c) Bình thường
Câu hỏi 3: Thầy cô thường sử d ng biện pháp để hệ thống hóa kiến thức
cho học sinh hay không?
Trang 33a) HS không học bài cũ
b) HS chưa biết cách hệ thống bài học
c) Bình thường
Câu hỏi 5: Theo thầy cô, để giảng dạy tốt c m bài ôn tập tiếng Việt 9 cần
trang bị thêm các phương tiện đ dùng dạy học gì?
a) Máy chiếu
b) Giấy kroki, bảng phụ
c) Phiếu học tập
d) Bút màu
Câu hỏi 6: Học sinh thường gặp khó khăn gì khi học c m bài ôn tập
theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống?
a) HS không học bài cũ
b) HS chưa biết cách hệ thống bài học
c) Bình thường
Câu hỏi 7: Theo thầy (cô) học sinh sẽ được phát triển năng lực tư duy hệ
thống hóa qua việc học c m bài như thế nào?
Trang 34a.3 Chấm bài kiểm tra của HS
Sau khi kết thúc phần ôn tập TV 9, chúng tôi tiến hành kiểm tra kết quả
học tập của hs
Đề kiểm tra như sau:
Câu 1 Em hãy điền các nội dung còn thiếu vào graph cấu tạo từ tiếng Việt
Câu 2 Hãy vẽ thêm nhánh của bản đồ tư duy sau:
Từ (xét về đặc điểm cấu tạo)
Từ láy
Trang 35Hình 1.1 Sơ đồ chƣa đầy đủ
Hình 1.2 Sơ đồ đầy đủ
b Kết quả khảo sát
b.1 Kết quả dự giờ đ ng nghiệp
Về phía giáo viên: chúng tôi đã dự giờ, sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn để
thấy được tình hình rèn luyện việc dạy cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9
theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh
b2 Kết quả khảo sát qua phiếu tìm hiểu tình hình dạy học của GV và HS
Về phía giáo viên
- 100% GV chưa biên soạn và tập hợp một cách có hệ thống tài liệu
- 100% GV đều cho rằng nội dung bài dạy mất nhiều thời gian
- 20% GV vẫn dạy theo cách nặng về truyền đạt nội dung, có rất ít GV
hướng dẫn HS tự học
- 100% GV nhận thấy việc biên soạn tài liệu để hướng dẫn HS tự học là
Trang 36thỉnh thoảng có biên soạn tài liệu cho HS
- Chưa có GV nào từng dạy học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp
9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh
- GV đánh giá rất cao khả năng tự học của HS và việc rèn kỹ năng tự học cho HS là rất cần thiết (100%)
Nhìn chung, trong công tác giảng dạy, GV đánh giá rất cao năng lực tự học của HS và đều cho rằng việc rèn kỹ năng tự học cho HS là rất cần thiết Tuy nhiên việc dạy vẫn nặng về truyền đạt nội dung, chưa chú ý rèn kỹ năng đặc biệt là kỹ năng tự học, chưa chú ý đến dạy học phân hoá theo đối tượng
HS do GV chưa biên soạn và tập hợp tài liệu một cách có hệ thống
Qua thăm dò ý kiến của GV về những khó khăn gặp phải, chúng tôi nhận thấy đa số GV cho rằng nội dung ôn tập nhiều và khó nên trong một thời gian ngắn khó có thể vừa truyền đạt hết kiến thức vừa rèn kỹ năng cho HS Trong khi đó GV không nhận được bất cứ một tài liệu bồi dưỡng nào và việc biên soạn tài liệu để hướng dẫn cho HS tự học vẫn còn rất hạn chế
Về phía học sinh
- Tỷ lệ HS đam mê môn tiếng Việt khá cao 88%
- Tỷ lệ HS tự tin với năng lực tự học của mình chiếm 84%, trong đó 56%
HS rất tự tin
- Tỷ lệ HS thích được học theo phương pháp tự học chiếm 92%
- Tỷ lệ HS có nhu cầu về tài liệu học tập 96%, trong đó 84% cho rằng tài liệu để tự học là rất cần thiết, chỉ có 12% cho rằng chưa cần thiết lắm
- Tỷ lệ HS thiếu tài liệu để tự học 96%
Nhìn chung, tỷ lệ HS thích học theo phương pháp tự học khá cao Phần lớn
HS rất tự tin với năng lực tự học của mình và rất cần các tài liệu để có thể tự học Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy đa số HS còn gặp khó khăn về thời gian, về lượng kiến thức phải học quá nhiều trong một thời gian ngắn và điều
Trang 37quan trọng là các em còn thiếu tài liệu để có thể tự học
b3 Kết quả chấm bài kiểm tra của học sinh:
Về phía học sinh: chúng tôi cho học sinh làm bài kiểm tra, phân tích bài kiểm tra, phát phiếu học tập, phỏng vấn nhằm đánh giá năng lực ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho
Đa số học sinh đều cho rằng: học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp
9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa là điều cần thiết đối với các môn học đặc biệt là môn Ngữ văn, các học sinh này nêu lên lí do là nếu không tiếp thu và nắm kiến thức một cách hệ thống thì sẽ không thể ghi nhớ được bài học, thậm chí học xong bài mà không biết đâu là kiến thức trọng tâm, cơ bản Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn (3,6%) số học sinh cho rằng: đối với phân môn tiếng Việt thì cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa kiến thức “có hay không cũng được”
Tiểu kết chương 1
Dạy học cụm bài ôn tập TV 9 có cơ sở lý luận vững chắc ở các vấn đề: Dạy học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh là một trong những nhiệm vụ của thầy
cô giáo trong nhà trường và cũng là biện pháp năng cao chất lượng dạy học
Trang 38Thực tế dạy học cụm bài ôn tập TV 9 ở còn một số trường THCS còn gặp nhiều khó khăn Do đó, muốn dạy học cụm bài này hiệu quả, giáo viên cần tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc học tập và phát triển của học sinh Bên cạnh đó, GV cũng cần khởi động tư duy tạo hứng thú học tập cho HS, đưa HS vào trạng thái sẵn sàng học tập Trong giờ học, người thầy cũng cần biết khai thác và phối hợp các PPDH
Việc dạy học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh trong giờ học phụ thuộc rất nhiều vào sự tổ chức và điều khiển quá trình dạy học của người thầy
Do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài Dạy học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống báo cho HS phải nắm rõ vai trò và cách tạo lập PPDH phát triển năng lực tư duy hệ thống cho các em, chủ động một cách sáng tạo Bởi tri thức trong cuộc sống mỗi ngày các em tiếp xúc ngày càng nhiều, nên sẽ hạn chế việc ghi nhớ Giáo viên
là người hướng dẫn HS biết chọn lọc những kiến thức cơ bản, kiến thức nền
bổ trợ cho tư duy phát triển Việc kết hợp nhịp nhàng của người dạy và người học sẽ tạo ra những con người có ích cho xã hội và tương lai của đất nước sẽ tồn tại những con người có năng lực thực sự
Trang 39biết); kiến thức nhiều, vốn có hệ thống nhưng được học rải ra suốt học kỳ 2 và đan xen với các kiến thức khác nên HS có thể không nhận ra tính hệ thống đó; kiến thức về hệ thống ngôn ngữ là kiến thức trừu tượng hóa, khái quát hóa; nhưng mục tiêu của việc dạy học tiếng Việt phải hướng đến phát triển lời nói trên cơ sở khắc sâu kiến thức lý thuyết vững chắc cho HS
- Do đó, dạy học cụm bài ôn tập tiếng Việt 9 cần chú trọng nguyên tắc củng cố lý thuyết gắn với thực hành "Học đi đôi với hành”, "Lý thuyết gắn với thực hành” đã trở thành nguyên lý trong dạy học nói chung Đặc điểm của bài ôn tập tiếng Việt 9 và yêu cầu của loại bài này tất yếu phải thực hiện nguyên lý giáo dục đó
- Để thực hiện định hướng này, trong dạy học cụm bài này, giáo viên cần giảm đến mức tối thiểu hình thức diễn giảng, để tăng thời gian cho phần luyện tập cho HS Mặt khác cần thiết kế các hoạt động học sao cho sinh động, hấp dẫn nhằm kích thích hứng thú luyện tập cho HS
- Trong quá trình dạy học cụm bài ôn tập tiếng Việt 9, cần sắp xếp yêu cầu nâng dần từ thấp lên cao theo nguyên tắc phát triển
Chẳng hạn, khi dạy graph cho bài Tổng kết về từ vựng, có thể cho HS
ôn tập từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp bằng cách giúp các em nhớ lại: từ - xét về đặc điểm cấu tạo, sẽ có 2 loại lớn đó là từ đơn và từ phức Ở nhánh từ phức có thể che hoặc để trống ô từ ghép, từ láy để các em tìm và điền thêm ô còn lại; rồi tiếp tục che những ô khác để HS tìm và điền vào Với dạng bài này, HS vừa dễ nhớ lại kiến thức cũ một cách dễ dàng vừa rèn luyện
tư duy lo gic, hệ thống cho các em
Ví dụ : Graph cho bài Tổng kết về từ vựng
Từ (xét về đặc điểm cấu tạo)
Trang 40Khi các em đã thành thạo hơn, chúng ta có thể che hết bảng graph, HS tái hiện kiến thức cũ bằng cách điền đủ thông tin vào bảng
Ví dụ 1: Graph cho bài Tổng kết về từ vựng
2.1.2 Phát triển năng l c hệ thống hóa cho học sinh cần chú trọng quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt
- Quan điểm giao tiếp yêu cầu: cần xây dựng hệ thống bài tập phong phú, đa dạng, phù hợp với đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý học sinh, kích thích nhu cầu giao tiếp và hứng thú luyện tập của học sinh
- Thực hiện định hướng này, GV cần thiết kế nhiều hình thức bài tập phong phú, đa dạng phù hợp với tính chất loại bài ôn tập tiếng Việt lớp 9 Trong các hình thức có tác dụng hệ thống hóa kiến thức hiện nay, phù hợp với cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 nhất đó là các dạng biểu bảng, graph
Từ (xét về đặc điểm cấu tạo)