ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHAN THỊ THÙY DẠY ĐỌC – HIỂU CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Ở NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Thừa Th
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ THÙY
DẠY ĐỌC – HIỂU CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Ở NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thừa Thiên Huế, năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ THÙY
DẠY ĐỌC – HIỂU CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Ở NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho phép sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Phan Thị Thùy
Trang 4Lời Cảm Ơn
Với tình cảm chân thành và lòng quý trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Lãnh đạo Đại học Huế, Ban Giám hiệu Phòng Đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Huế
- Quý thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Đặc biệt tôi xin chân thành bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Hữu Phong, người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn:
- Quý thầy cô giáo lãnh đạo quản lý
và giáo viên của các trường THPT Nguyễn Sinh Cung, THPT Phan Đăng Lưu, THPT Vinh Xuân – huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế
- Các bạn bè đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích, góp ý và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã cố gắng hết sức, nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong
Trang 5quý thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp chỉ dẫn, góp ý thêm giúp tôi để luận văn được hoàn thiện
Xin được cảm ơn tất cả!
Huế, tháng 9 năm
2016
Tác giả Phan Thị Thùy
Trang 6MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG 6
MỞ ĐẦU 7
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 8
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 11
3.1 Mục đích nghiên cứu 11
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12
4.1 Đối tượng nghiên cứu 12
4.2 Phạm vi nghiên cứu 12
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp 12
5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát 13
5.3 Phương pháp thống kê 13
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 13
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 13
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 13
7.1 Về lý luận 13
7.2 Về thực tiễn 13
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 14
NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 15
1.1.1 Khái niệm thể loại văn học và sự phân chia thể loại văn học 15
1.1.1.1 Khái niệm thể loại của tác phẩm văn học 15
1.1.1.2 Sự phân chia thể loại văn học 16
1.1.2 Đặc trưng thi pháp của văn học trung đại Việt Nam 17
Trang 71.1.2.1 Văn học trung đại Việt Nam với hệ hống ước lệ thẩm mĩ cổ điển – nét nổi bật của hình thức biểu hiện 17 1.1.2.2 Văn học trung đại chịu sự chi phối mạnh mẽ của văn học dân gian 21 1.1.2.3 Thiên nhiên trong văn học trung đại 23
1.1.3 Đặc trưng thi pháp của một số thể loại tiêu biểu của VHTĐ VN ở Ngữ văn
10 24 1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 29 1.2.1 Khảo sát chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 10 ở nhà trường THPT – phần văn học trung đại Việt Nam 29 1.2.2 Tình hình dạy học đọc – hiểu các văn bản văn học trung đại ở nhà trường THPT 32
1.2.2.1 Thuận lợi 32 1.2.2.2 Những khó khăn khi dạy đọc – hiểu văn vản VHTĐ ở nhà trường phổ thông 33
1.2.3 Thực trạng năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại Việt Nam của học sinh THPT 34
1.2.3.1 Mục đích và nội dung khảo sát 34 1.2.3.2 Kết quả khảo sát 35
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC ĐỌC - HIỂU CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Ở NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 38
2.1 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CHUNG TRONG VIỆC DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 38 2.1.1 Dạy học đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam ở Ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại cần hướng vào mục tiêu, nội dung và chương trình dạy học 38 2.1.2 Dạy đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại cần phù hợp với trình độ nhận thức và đặc điểm tâm lí học sinh 39 2.1.3 Dạy đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại cần gắn với quan điểm mĩ học trung đại 42 2.1.4 Dạy đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại phải gắn với các hoạt động dạy học của một bài dạy tác phẩm văn học 44
Trang 82.2 CÁCH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Ở NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 47
2.2.1 Cách hướng dẫn học sinh nhận thức về đặc trưng thể loại qua việc tìm hiểu văn bản trước ở nhà 47
2.2.1.1 Tìm hiểu phần Tiểu dẫn, Chú thích 48
2.2.1.2 Tìm hiểu phần Tri thức đọc - hiểu 51
2.2.1.3 Tìm hiểu phần Hướng dẫn học bài 52
2.2.2 Cách thức hướng dẫn học sinh khai thác đặc trưng thể loại vào quá trình đọc – hiểu 53
2.2.2.1 Định hướng hoạt động cảm thụ ban đầu chuẩn bị cho quá trình đọc –
hiểu 53
2.2.2.2 Sử dụng hình thức các câu hỏi gợi mở, dẫn dắt học sinh cảm nhận sự vận động của hình tượng nghệ thuật 57
2.2.2.3 Sử dụng phối hợp các phương pháp đi sâu vào quá trình đọc – hiểu để khái quát tư tưởng chủ đề văn bản văn học trung đại Việt Nam 59
2.2.2.4 Tổng kết bài học phải so sánh các thể loại để khắc sâu kiến thức nhằm nâng cao năng lực đọc – hiểu cho học sinh 61
2.2.2.5 Sử dụng kết hợp các hình thức kiểm tra, đánh giá để xác định đúng kết quả học tập của học sinh 63
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU THỰC NGHIỆM 67
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 67
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 67
3.2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA BÀN VÀ THỜI GIAN THỰC NGHIỆM 67
3.2.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 67
3.2.2 Thời gian thực nghiệm: 68
3.3 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 69
3.4 TIẾN TRÌNH THỰC NGHIỆM 69
3.4.1 Thiết kế giáo án dạy cho lớp thực nghiệm 69
3.4.2 Tổ chức dạy học ở các lớp thực nghiệm 77
3.4.3 Dự giờ, quan sát giờ dạy học ở các lớp đối chiếu 77
Trang 93.4.4 Kiểm tra kết quả thực nghiệm 78
3.5 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 78
3.5.1 Nhận xét hoạt động của giáo viên và học sinh 78
3.5.2 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 79
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
HS : Học sinh PPDH : Phương pháp dạy học SGK : Sách giáo khoa
TPVH : Tác phẩm văn học TNKQ : Trắc nghiệm khách quan THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm TNSP : Thực nghiệm sư phạm VHTĐ : Văn học trung đại
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Thống kê thực trạng và mức độ vận dụng tri thức thể loại trong dạy học
các văn bản VHTĐ VN lớp 10 của giáo viên 35
Bảng 1.2 Thống kê thực trạng học tập các văn bản văn học trung đại Việt Nam của HS THPT 36
Bảng 3.1 Danh sách các lớp, các GV tham gia dạy TN và ĐC 68
Bảng 3.2 Bảng thống kê các điểm số của bài kiểm tra 79
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất của hai nhóm 79
Bảng 3.4 Bảng phân loại theo học lực 80
Bảng 3.5 Tần số mẫu nhóm TN 81
Bảng 3.6 Bảng tần số mẫu nhóm ĐC 81
Bảng 3.7 Bảng tổng hợp các đặc trƣng mẫu 82
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân phối tần suất của hai nhóm 80
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ phân loại theo học lực của hai nhóm 80
Trang 12MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật với sự phát triển vượt bậc và những đổi thay kì diệu đã có những tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con người Để làm được điều này, trí tuệ con người được xem là nguồn lực của
sự phát triển khoa học công nghệ Do vậy, vấn đề trình độ nhân lực là một thách thức đối với mỗi quốc gia và điều này được bắt đầu từ giáo dục
Nền giáo dục của nước ta gánh trên vai một trọng trách không nhỏ là đào tạo được những con người phát triển toàn diện, có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ để đưa đất nước lên một tầm cao mới Trong xu thế hội nhập ngày nay, việc đào tạo một thế hệ trẻ tương lai đáp ứng được yêu cầu thời đại được chú trọng và quan tâm, thể hiện rõ trong chiến lược và nghị quyết của Đảng Đó cũng là yêu cầu cấp bách trong thời đại toàn cầu hóa Chính những yêu cầu đó, cuộc cách mạng về phương pháp dạy học đã đi vào thực tế nhà trường từ lâu và ngày càng được quan tâm Môn Ngữ văn trong nhà trường trung học phổ thông (THPT) có một vị trí quan trọng góp phần thực hiện được mục tiêu giáo dục của đất nước, chuẩn bị hành trang trí tuệ, tâm hồn và phát triển năng lực để bước vào cuộc sống tương lai
Với yêu cầu đổi mới trong nhận thức và hành động, phương pháp giáo dục
đã đánh giá lại vai trò của học sinh (HS), coi học sinh là chủ thể tiếp nhận, trung tâm của quá trình tiếp nhận và là bạn đọc sáng tạo trong quá trình dạy học văn Phải giúp người học có được sự chuyển hóa bên trong bản thân, biến hoạt động học tập của học sinh thực sự là những hoạt động cảm thụ, chuyển mã và tiến hành giải mã tác phẩm, sáng tạo thông qua hệ thống hoạt động dưới sự tổ chức, định hướng của giáo viên (GV) Chính sự thay đổi này đặt ra cho giáo viên sự nỗ lực hơn nữa, không chỉ đòi hỏi kiến thức mà còn cả tài năng nghệ thuật sư phạm của người dạy, vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh , từng môn học và bài học cụ thể Đứng trước một tác phẩm văn chương, giáo viên thật khó định ra một cách dạy chung bởi mỗi bài, mỗi tác phẩm có những nét đặc thù riêng của loại thể Chính vì vậy, nó càng đòi hỏi người thầy phải xác định được loại thể của từng tác phẩm, từ đó xác định cho mình một phương pháp, biện pháp dạy học phù hợp
Trang 13Nhìn vào thực tế dạy phần văn bản văn học trung đại (VHTĐ) Việt Nam, chúng tôi nhận thấy còn một số hạn chế Tình trạng nhiều giáo viên còn mơ hồ, dạy theo cảm tính và diễn nôm văn bản là khá phổ biến Là một giai đoạn văn học lớn với những đặc thù riêng, đặc biệt là sự phong phú về thể loại khác nhau, nên khi dạy học đọc – hiểu các văn bản VHTĐ giáo viên phải hiểu rõ tầng sâu tác phẩm và trước tiên phải hiểu được đặc trưng từng thể loại để tiến hành giờ dạy đúng hướng Như vậy, vẻ đẹp riêng của mỗi văn bản được HS đọc hiểu, kích thích hứng thú, sáng tạo và phát triển năng lực cho người học nhưng vẫn không xa rời tầng sâu tác phẩm
Trong cấu trúc chương trình và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn hiện nay, VHTĐ có vị trí khá cao, được biên soạn theo trục thể loại Vì vậy vấn đề dạy đọc hiểu văn bản văn học trung đại theo đặc trưng thể loại là hướng nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy đọc văn Thế nhưng, sự phong phú về thể loại, khoảng cách thời đại, đặc trưng ngôn ngữ, mã văn hóa khác nhau nên quá trình tiếp nhận bộ phận văn học này đã gây một số trở ngại Do đó, đề tài “Dạy đọc hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam ở Ngữ văn 10 THPT theo đặc trưng thể loại” là hướng tiếp cận góp phần khắc phục phần nào hạn chế những cách tiếp cận tùy tiện, thiếu cơ sở khoa học ở nhà trường phổ thông hiện nay
Vấn đề dạy đọc hiểu tác phẩm văn học (TPVH) theo đặc trưng thể loại đã được đề cập trong một số chuyên luận nghiên cứu phương pháp dạy học của các nhà giáo dục có uy tín như Đặng Thai Mai, Phan Trọng Luận, Trần Thanh Đạm,
Trang 14Nguyễn Thanh Hùng, Trương Dĩnh, Trần Đình Sử, Lã Nhâm Thìn, Nguyễn Quang Ninh, Trần Thế Phiệt, …
Chuyên luận “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể” của nhóm
tác giả Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lí, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn và Đàm Gia Cẩn
đã đề cập trực tiếp và xác định vấn đề loại thể trong phương pháp dạy học văn ở nhà trường phổ thông, cụ thể là làm rõ nhiều vấn đề trong mối quan hệ giữa loại thể và phương pháp dạy học văn Ở công trình này, các tác giả đi sâu vào ba loại thể lớn:
tự sự, trữ tình và kịch, đồng thời chỉ ra những đặc điểm riêng của từng thể loại gắn với một phương pháp dạy học (PPDH) phù hợp Theo các tác giả, giáo viên dạy tác phẩm văn chương phải nắm rõ đặc trưng của thể loại: “Nhà văn sáng tác theo loại thể thì người đọc cũng cảm thụ theo loại thể và người dạy cũng giảng dạy theo loại thể” [13, tr.30], “Loại thể văn học là một thành phần quan trọng của hình thức nghệ thuật tác phẩm Giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể chính là một phương diện lớn của việc giảng dạy tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, một sự giảng dạy đi đúng với quy luật và bản chất của văn học, đồng thời đảm bảo hiệu quả giáo dục cao nhất” [13, tr.40] Đây là công trình đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi khi tiếp cận các loại thể một cách hiệu quả
Trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học văn” GS Phan Trọng Luận (chủ biên) đã trình bày những vấn đề cơ bản và cụ thể trong quá trình tiếp cận tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, trong đó có vấn đề dạy học văn bản văn học phải chú ý đến đặc trưng thể loại Trong đó quan điểm chính của tác giả là chú trọng việc đặt TPVH trong mối quan hệ với bạn đọc Đồng thời tác giả đã tập hợp một số bài viết của những nhà nghiên cứu khác về dạy học TPVH dân gian theo thể loại
Trong tài liệu “phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể)” (2001) tác giả Nguyễn Viết Chữ đã khẳng định vấn đề xác định thể loại là vấn đề quan trọng trong hoạt động dạy học, làm rõ mối quan hệ giữa loại thể và phương pháp dạy học văn” Ở công trình này, tác giả đã giúp người đọc thấy được tình hình dạy học tác phẩm văn học theo loại thể trong nhà trường phổ thông, từ đó đã đề xuất một số phương pháp dạy học đọc hiểu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Tuy nhiên tài liệu này chưa đưa ra những biện pháp trực tiếp về các thể loại
Trang 15trong văn học trung đại Việt Nam, mặc dù đã có đề cập đến nhiều tác phẩm của văn học Việt Nam và thế giới
Năm 2002, Nguyễn Thanh Hùng trong “Hiểu văn, dạy văn” đã bàn đến việc tiếp nhận văn học trong bối cảnh lí luận dạy học hiện đại, đưa ra những kết luận về phương pháp dạy thể loại trữ tình Thế nhưng, công trình này chưa khái quát vấn đề
cơ bản của phương pháp tiếp cận đối với từng thể loại của thành tựu văn học trung đại Việt Nam
Năm 2007, trong cuốn “Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT những vấn đề cập nhật”, Nguyễn Thanh Hùng và Lê Diệu Hoa đã nhấn mạnh tính cấp thiết của dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại trong xu thế đổi mới: “Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay vẫn đảm bảo nguyên vẹn đặc trưng bộ môn của môn học mang tính khoa học nhân văn” [15, tr.19]
Bên cạnh các giáo trình, chuyên luận kể trên, liên quan đến đề tài mà luận văn nghiên cứu còn có những công trình nghiên cứu về tiếp cận thể loại với phần văn học trung đại Việt Nam theo từng mức độ khác nhau Có thể kể đến là “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam” (1999) của Trần Đình Sử, “Văn học Việt Nam từ thế kỉ X – XIX, những vấn đề lí luận và lịch sử” (2008) do Trần Ngọc Vượng chủ biên, “Tài liệu bồi dưỡng thay sách lớp 10, 11, 12” của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm 2006 đến nay đã nhấn mạnh kết cấu biên soạn theo thể loại các tác phẩm văn học, … Đây là những tiền đề cơ sở lí luận giúp chúng tôi tiếp cận, đánh giá các văn bản văn học trung đại một cách khoa học và thuyết phục Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sĩ của các tác giả cũng đã chú ý đến vấn đề thể loại Cụ thể tác giả Võ Quốc Hồng đề cập đến vấn đề dạy học thơ trung đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại cho học sinh lớp 10 THPT với định hướng các quan điểm tiếp cận khác nhau Tác giả Trần Thị Thanh Thuyên chú trọng đến vấn đề dạy đọc – hiểu văn bản thơ trữ tình hiện đại ở Ngữ văn 12 trong chương trình THPT theo đặc trưng thể loại Nhìn chung, vấn đề dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại được chú ý trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy nhưng chỉ giới hạn ở các mảng thơ trung đại, văn xuôi trung đại, thơ trữ tình hiện đại với những vấn đề như còn bao quát về các văn bản trung đại trong chương trình Ngữ văn 10 ở THPT thì vẫn chưa được đề cập
Trang 16Tóm lại, qua một số công trình nghiên cứu về vấn đề nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm VHTĐ trong nhà trường từ góc nhìn thể loại, chúng tôi nhận thấy rằng
số lượng công trình nghiên cứu, tìm hiểu về phương pháp dạy học đọc hiểu ngày càng nhiều nhưng vấn đề dạy học đọc hiểu theo đặc trưng thể loại còn sơ lược Chính vì vậy, chúng tôi nhận thấy vấn đề “dạy học đọc hiểu các văn bản văn học trung đại Việt Nam ở Ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại” là rất cần thiết cho giáo viên và học sinh THPT
Đề tài chúng tôi dựa trên cơ sở kế thừa thành tựu, sự gợi mở của những người đi trước, học hỏi thầy cô, bạn bè, chúng tôi tiếp tục đề xuất những biện pháp tiếp cận phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các văn bản văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn 10 THPT
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Dạy đọc hiểu các văn bản văn học trung đại Việt Nam ở Ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại”, chúng tôi nhằm mục đích nghiên cứu đề xuất hướng tiếp nhận, các biện pháp, cách thức dạy học đọc hiểu các văn bản văn học trung đại theo đặc trưng thể loại Thông qua họat động tổ chức đọc hiểu theo hướng tiếp cận này, học sinh hình thành và phát triển khả năng cảm thụ, chuyển mã và giải
mã tác phẩm văn học trung đại, qua đó góp phần phát triển năng lực, nhân cách người học
Những biện pháp, cách thức này nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học đọc hiểu các văn bản văn học trung đại trong chương trình, SGK Ngữ văn 10 bậc THPT lên một bước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài tiến hành nghiên cứu lí thuyết, vận dụng lí luận để xây dựng tiền đề, luận giải cơ sở lí luận của vấn đề dạy học các văn bản văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại
Luận văn tiến hành điều tra, khảo sát thực tế, chương trình, SGK Ngữ văn 10
ở THPT và thực trạng dạy học văn bản văn học trung đại ở THPT để xây dựng tiền
đề cơ sở thực tiễn của đề tài; phân tích, hệ thống để xác lập phương hướng tiếp cận,
Trang 17hướng dẫn, tổ chức hoạt động đọc hiểu văn bản văn học trung đại 10 theo đặc trưng thể loại
Đề tài nghiên cứu, đề xuất các hướng tiếp cận, các biện pháp tổ chức dạy học văn bản văn học trung đại theo đặc trưng thể loại; thiết kế giáo án và tổ chức thực nghiệm sư phạm (TNSP) phù hợp, đối chứng với một số tác phẩm làm nền tảng cho hoạt động đọc hiểu Cuối cùng, luận văn tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm để nhận định mức độ khả thi của đề tài
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chúng tôi hướng vào hoạt động tổ chức dạy học đọc hiểu các văn bản văn học trung đại Việt Nam ở lớp 10 THPT theo đặc trưng thể loại làm đối tượng nghiên cứu, trong đó tập trung đề xuất các cách thức, biện pháp tổ chức dạy học đọc hiểu các văn bản văn học trung đại theo đặc trưng thể loại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các văn bản, đoạn trích thuộc văn học trung đại Việt Nam được giảng dạy trong chương trình, SGK Ngữ văn 10 (chương trình cơ bản và chương trình nâng cao) ở nhà trường THPT theo hướng tiếp cận đặc trưng thể loại
Luận văn sẽ tiến hành khảo sát chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 10 trong tiếp cận văn bản và hướng dẫn đọc hiểu các tác phẩm văn học trung đại
Đề tài hướng đến việc điều tra thực nghiệm, dạy học thực nghiệm, kiểm tra đối chứng trong một số lớp 10 ở trường THPT Nguyễn Sinh Cung, trường THPT Phan Đăng Lưu và trường THPT Vinh Xuân, thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện luận văn với đối tượng nghiên cứu đã được xác định, chúng tôi
sử dụng một số phương pháp chủ yếu để nghiên cứu:
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Chúng tôi vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để phân tích, khái quát hóa để xác lập lịch sử vấn đề, các cơ sở lí luận và những vẫn đề liên quan Từ đó chúng tôi vận dụng hình thành một số biện pháp tổ chức dạy đọc hiểu các văn bản văn học trung đại theo đặc trưng thể loại
Trang 185.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Luận văn tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn dạy học văn bản văn học trung đại ở lớp 10 để thu thập thông tin và đánh giá thực trạng dạy học đọc hiểu vấn
đề này, từ đó xác lập cơ sở thực tiễn khách quan, khoa học mang lại hiệu quả hữu ích cho hoạt động đổi mới tổ chức dạy học văn bản trung đại
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu nghiên cứu, đề xuất phương hướng chúng tôi nêu ra hợp lí, đúng đắn, phù hợp với đặc trưng thể loại của các văn bản văn học trung đại Việt Nam thì sẽ góp phần khắc phục phần nào bất cập, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản văn học trung đại cho học sinh lớp 10 ở nhà trường THPT
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
7.1 Về lý luận
Với kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần luận giải cơ sở lý luận của việc dạy học đọc hiểu văn bản văn học trung đại theo đặc trưng thể loại nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học
Luận văn xác định một số hướng tiếp cận và quan điểm định hướng lý luận cho quá trình tiếp nhận các tác phẩm trung đại theo đặc trưng thể loại, góp phần khẳng định tính khoa học, đúng đắn của vấn đề dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng của văn học trung đại
7.2 Về thực tiễn
Luận văn góp phần gợi mở thêm cho giáo viên THPT một phương hướng tiếp cận và dạy học các tác phẩm trung đại với từng thể loại khác nhau Đề tài này tìm kiếm và đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học các văn bản văn học trung
Trang 19đại Việt Nam hiệu quả hơn, góp phần khắc phục phần nào những hạn chế trong dạy học các văn bản văn học trung đại ở nhà trường THPT Chúng tôi mong muốn đề tài này cũng đóng góp cho quá trình tiếp nhận văn bản văn học trung đại của học sinh, đọc hiểu theo đặc trưng thể loại để vận dụng vào quá trình tự học và giải mã các tác phẩm cùng loại thể hiệu quả hơn
Qua kết quả thực nghiệm sư phạm, luận văn đóng góp mô hình thiết kế giáo
án đọc hiểu một số văn bản văn học trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn
10 THPT theo đặc trưng thể loại
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học đọc hiểu các văn bản văn học trung đại Việt Nam theo hướng đặc trưng thể loại
Chương 2: Tổ chức đọc hiểu văn bản văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn 10 THPT theo đặc trưng thể loại
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 20NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khái niệm thể loại văn học và sự phân chia thể loại văn học
1.1.1.1 Khái niệm thể loại của tác phẩm văn học
Tác phẩm văn học là chỉnh thể của sự thống nhất trọn vẹn nhiều yếu tố như
đề tài, chủ đề, cốt truyện, kết cấu, lời văn, … Sự thống nhất này được thực hiện theo những quy luật nhất định Nhà triết học Đức Hegel (1770 – 1831) đã coi tác phẩm
văn học trong mối quan hệ chỉnh thể - bộ phận, đó là “sản phẩm của trí tưởng tượng phóng túng tự do, được biểu hiện dưới hình thức một tổng thể hữu cơ khép kín, hữu hạn mà mỗi bộ phận của nó đều trọn vẹn” [1, tr.29] Nhìn chung chúng ta
có thể nhận thấy được sự “giãn nở” của tác phẩm văn học so với văn bản, nó được hình thành trên cơ sở quá trình tương tác giữa nhà văn - bạn đọc và truyền thống văn hóa – văn học trong chính quá trình vận động liên tục không ngừng của tác phẩm Thể loại chính là hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, nhóm tác giả do Lê Ba Hán chủ biên có đưa ra khái niệm: thể loại văn học là “dạng thức của TPVH, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” [25, tr.252]
Nhóm tác giả cuốn Lí luận văn học cho rằng: “Thể loại tác phẩm văn học là một hiện tượng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học, hình thành trên cơ sở
sự lặp lại có quy luật của các yếu tố tác phẩm”
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu thể loại TPVH chính là một hiện tượng loại hình của sáng tác văn học, nó chi phối đến quá trình giao tiếp văn học Nói cách khác, khi sáng tác văn chương theo một thể loại nào đó thì tác giả đã xác lập một kênh giao tiếp nhằm hướng đến người đọc và nó mang tính tương đối
Trang 21ổn định Do đó người đọc muốn giải mã tác phẩm văn chương không thể bỏ qua yếu
tố quan trọng tạo nên tính chỉnh thể trọn vẹn đó là thể loại tác phẩm văn học
1.1.1.2 Sự phân chia thể loại văn học
* Các tiêu chí và cách phân chia thể loại văn học
Sự phân loại tác phẩm văn học là bước đầu tiên trong quá trình nhận thức các quy luật thể loại Sự phân chia thể loại TPVH thực chất là phân loại nội dung và hình thức thể loại
Thực tế văn học cho thấy, dù cùng một “loại” văn học nhưng có những thể loại văn học rất khác nhau Do vậy còn có rất nhiều tiêu chí khác để phân chia
Xét về dung lượng tác phẩm có thể phân biệt thơ và trường ca, khúc ngâm; phân biệt truyện dài, truyện vừa và truyện ngắn; phân biệt tiểu thuyết và kí,…
Xét về cảm hứng chủ đạo có thể phân biệt bi kịch và hài kịch, phân biệt thơ
ca ngợi và thơ trào phúng, châm biếm,… Ngoài các tiêu chí phân loại trên, người ta còn đề xuất tiêu chí phân loại theo nội dung thể loại Có nhiều tiêu chí để phân chia các thể loại văn học, nhưng phương diện quan trọng nhất để phân loại tác phẩm phổ biến, rộng rãi nhất đó chính là phương thức tái hiện đời sống và cấu tạo tác phẩm
Từ thời cổ đại, Aristote dựa vào cách phân này đã chia văn học thành ba loại
là tự sự, trữ tình và kịch
Ở Việt Nam, một số học giả lại có những cách chia khác nhau Theo Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu” đã có cách chia ba nhưng hoàn toàn khác cách chia ba như trên, đó là: vận văn (là loại có văn vần, gồm thơ, phú, lục bát, song thất lục bát, hát nói,…), biền văn (là loại văn không có vần mà có đối, gồm câu đối, kinh nghĩa, văn sách), tản văn hoặc văn xuôi (loại văn không vần, không
đối, gồm mọi dạng còn lại) Tác giả Nguyễn Lương Ngọc trong “Mấy vấn đề về nguyên lí văn học” thì có cách chia bốn như sau: thơ, tiểu thuyết, kịch và một số
loại thể văn xuôi khác như tùy bút, tạp văn,… Trần Đình Sử lại chia ba theo cách
cổ điển: tự sự, trữ tình và kịch Lê Ngọc Trà thì cho rằng thể loại văn học được chia theo truyện, thơ và kịch
Qua đây, chúng ta thấy viêc phân chia tác TPVH vẫn còn một số điểm chưa thống nhất nhưng tựu trung đã có ý chia thể loại đi từ cái chung (loại thể) đến cái riêng, cái cụ thể hơn (thể loại) và từ cái riêng đó để hình thành khái quát nên cái chung
Trang 22* Các thể loại chủ yếu của văn học trung đại Việt Nam
Dựa vào cấu trúc hình thức câu văn và cấu trúc giữa các câu với nhau, có thể chia văn học trung đại thành hai loại lớn là văn xuôi và thơ
- Các thể loại thơ (văn vần) trung đại: Thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm, diễn ca lịch sử, ngâm khúc, truyện thơ Nôm, hát nói…
- Các thể loại văn xuôi trung đại: hịch, cáo, chiếu, biểu, thư, tựa, ký, tùy bút, truyện truyền kì, tiểu thuyết chương hồi, phú cổ thể, tế,…
Dựa vào các tiêu chí ngôn ngữ, nghệ thuật lập luận, cảm hứng nghệ thuật, hình tượng trung tâm trong tác phẩm, kết cấu, lời văn, … mà các thể loại văn xuôi trung đại được chia ra thành các nhóm thể loại:
Nhóm thể loại văn xuôi chính luận: hịch, cáo, chiếu, biểu, tựa, thư
Nhóm thể loại văn xuôi giàu chất tự sự: truyện truyền kì, ký, tiểu thuyết chương hồi
Nhóm thể loại văn xuôi giàu chất trữ tình: phú, tế, tùy bút
Tuy vậy, sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối bởi vì không có một tác phẩm nào thuần túy một thể loại nhất định Bởi trong các tác phẩm thuộc văn
xuôi chính luận như Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc
Tuấn) có yếu tố trữ tình, hoặc các bài văn tế tuy giàu chất trữ tình nhưng có trường hợp cũng mang tính tự sự
1.1.2 Đặc trưng thi pháp của văn học trung đại Việt Nam
Văn học viết Việt Nam luôn gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Cùng với sự phát triển toàn diện về chính trị, tôn giáo và các loại hình nghệ thuật khác nhau như kiến trúc, điêu khắc,…, bộ phận văn học viết cũng ra đời và phát triển lớn mạnh Trong đó, văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX tồn tại và phát triển trong
xã hội phong kiến được gọi là văn học trung đại Do nằm trong một hệ thống thẩm mĩ riêng do quan niệm mĩ học phong kiến quy định, điều đó tạo nên những đặc điểm riêng của giai đoạn văn học trung đại trong tổng quan văn học Việt Nam
1.1.2.1 Văn học trung đại Việt Nam với hệ hống ước lệ thẩm mĩ cổ điển – nét nổi bật của hình thức biểu hiện
Trong đời sống xã hội, ước lệ là một qui ước có tính cộng đồng Ước lệ là một tín hiệu riêng của một cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sự vật và hiện
Trang 23tượng hiện lên đúng với chiều kích qui ước và đúng với cách hiểu của cả cộng đồng Trong văn học trung đại Việt Nam, ước lệ được nhà văn sử dụng triệt để, nghiêm túc và phổ biến Đây là đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Khi sáng tác, các tác giả thường vay mượn văn liệu, thi liệu, điển cố, điển tích lấy từ sách vở thánh hiền và kinh sách của các tôn giáo Sự vay mượn này được lặp lại nhiều đến
nỗi thành những môtip quen thuộc tạo nên tính ước lệ, tượng trưng trong văn học
Lúc bấy giờ, những sáng tác văn chương có như thế thì mới được coi là bác học, cao quý Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp của văn học Đặc trưng thi pháp này hình thành từ chính bối cảnh lịch sử xã hội phong kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp văn nghệ sĩ Hán học
Chẳng hạn, nói đến cây và hoa thì tùng, cúc, trúc mai, sen…bởi chúng là
những biểu tượng để chỉ những phẩm chất, cốt cách, khí tiết của người quân tử, của
bậc trượng phu; nói đến con vật thì phải là long, ly, quy, phụng; nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục; nói đến hoa bốn mùa phải là xuân lan, thu cúc, hạ sen, đông mai; tả cảnh mùa thu thì mây đùn cửa ải, lá ngô đồng vàng rơi, rừng phong lá rụng, sen tàn giếng ngọc; nói đến thời gian phải là đêm năm canh, ngày sáu khắc; tả
mỹ nhân thì làn thu thuỷ, nét xuân sơn, sóng thu ba, tóc như mây, da như tuyết…
Ba tính chất đặc trưng của hệ thống ước lệ đó là: tính uyên bác và cách điệu hóa cao độ, tính sùng cổ, tính phi ngã
* Tính uyên bác và cách điệu hóa:
Văn học chính thống thời phong kiến được mệnh danh là văn chương bác
học (Văn học dân gian gọi là văn học bình dân) bởi người sáng tác phải bác học và người tiếp nhận cũng phải có tầm hiểu biết sâu rộng
Văn học trung đại Việt Nam với khởi đầu của nó được viết bằng chữ Hán, đó
là ngôn ngữ của trí thức cao cấp, của tầng lớp có học vấn cao.Về lực lượng sáng tác, tác giả chủ yếu là những thiền sư, nho sĩ, quan lại, quý tộc Ngay cả về sau, khi văn học được viết bằng chữ Nôm cũng vậy Tác giả của bộ phận văn học này cũng là những trí thức, những người học rộng hoặc nho sĩ bình dân Họ sáng tác văn học là
để chở đạo (văn dĩ tải đạo), để truyền đạt dạy đời Về nội dung văn học, tác phẩm văn học thể hiện những tri thức sách vở, sử dụng thi văn liệu, điển cố điển tích lấy
từ Thánh kinh hiền truyện của Nho gia, của Bách gia chư tử, từ các bộ kinh Phật, từ
Trang 24sách vở của Lão Trang Tất cả đều thể hiện tính uyên bác về tri thức Văn chương như thế mới được coi là bác học, cao quý
Về bản chất xã hội và đề tài, tính bác học, cao quý này còn xuất phát từ quan niệm coi văn học là lời nói của thánh hiền Lời nói ấy gắn với Đạo Đạo có nguồn gốc từ Trời Do thế, đề tài văn học ít nói đến cái tầm thường, cái mộc mạc hay sự vật sự việc tầm thường của cuộc sống đời thường; ít phản ánh, miêu tả chi tiết thực của cuộc sống thực Nếu có viết về cuộc sống đời thường, con người đời thường như thằng mõ, con cóc, tát nước, dệt vải… chẳng qua là nhằm mục đích nói về những sự việc, con người cao quý thông qua phương thức ngụ ý, ám chỉ, tượng trưng
Văn chương chính thống thời phong kiến mang tính qui phạm từ góc độ sáng tác đến thưởng thức Giới văn học hẹp, chỉ quanh quẩn trong tầng lớp trí thức Hán học tài hoa, tao nhân mặc khách
Chẳng hạn, trường hợp Nguyễn Khuyến và Dương Khuê là một thí dụ tiêu biểu Độc giả của Nguyễn Khuyến là Dương Khuê, nên khi bạn văn mất, nhà thơ như muốn gác bút:
“Thơ muốn viết đắn đo chẳng viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa ?”
(Khóc Dương Khuê)
Do đặc trưng như vậy, cho nên người sáng tác cũng như người tiếp nhận đều phải thông thuộc điển cố, điển tích; phải có vốn thi liệu, văn liệu phong phú học tập được từ những áng văn bất hủ của người xưa Văn chương càng uyên bác càng có sức hấp dẫn lớn, có tính nghệ thuật cao
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
Trang 25“Rõ ràng trong ngọc trắng ngà Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên”
Và cũng hết lời tán dương “bà chúa thơ Nôm” khi miêu tả cái hớ hênh rất ngây thơ của cô gái ngủ ngày bằng một ngôn ngữ tổng hợp của văn chương, hội hoạ, điêu khắc (tả, vẽ, chạm khắc) để khắc hoạ một cơ thể đầy sức sống của độ xuân thì Tất cả được thể hiện bằng những ngôn từ rất đẹp và trang nhã
Từ những quan niệm này đã dẫn đến xu hướng trọng thi, xem thường văn xuôi ở nền văn học cổ
* Tính sùng cổ:
Do quan niệm thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương cổ của dân tộc
ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ Họ lấy quá khứ làm chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức, văn học vì vậy mà sử dụng nhiều điển tích, điển cố
Điều đó giúp người đọc hôm nay không lấy làm lạ là một kiệt tác như Dụ chư tỳ tướng hịch văn của Trần Quốc Tuấn khi vị chủ tướng muốn khích lệ lòng yêu nước,
lòng tận trung với chủ của các tướng sĩ dưới quyền để họ quyết tâm giết kẻ thù Nguyên Mông xâm lược, gìn giữ xã tắc thì tác giả lại nêu những tấm gương trung thần nghĩa sĩ được chép ở sử sách Trung Quốc như Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Vương Công Kiên… Đó là tinh thần sùng cổ, sùng ngoại, suy tôn Thánh hiền, do vậy đã tạo nên tính quy phạm trong văn học Việc sử dụng những điển tích trên còn
nhằm mục đích ôn cố tri tân, lấy xưa để nói nay, dùng việc cũ, người cũ để nói việc
mới, chuyện nay Khi sáng tác, các tác giả còn vay mượn đề tài, cốt truyện, môtip,
có khi cải biên cốt truyện để tạo nên một tác phẩm mới Đây là sự tuân theo những kiểu mẫu, khuôn mẫu sẵn có đã thành công thức Một loạt truyện Nôm Việt Nam
như Nhị độ mai, Hoa tiên truyện, Phù dung tân truyện, là những ví dụ tiêu biểu Ngay cả Lục Vân Tiên có thể xem là tự truyện cùng ước mơ một thời của cụ Đồ Chiểu, vậy mà mở đầu truyện, cụ lại viết: “Trước đèn xem truyện Tây Minh; Ngẫm cười hai chữ nhân tình éo le…” như là lời tuyên ngôn nghệ thuật của tác phẩm
nhằm ca ngợi nghĩa dũng trung hiếu tiết hạnh
*Tính phi ngã:
Thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa có điều kiện phát triển Con người được nhìn nhận, đánh giá trên cơ sở của tầng lớp, giai cấp, dòng tộc, địa vị xã hội
Trang 26Chính điều kiện xã hội ấy đã sinh ra hệ thống ước lệ trong văn chương, một ước
lệ nghệ thuật có tính phi ngã Con người nói năng, hành động thường xuất phát từ lợi ích chung của cộng đồng, chẳng hạn như Nguyễn Trãi, Trần Quốc Tuấn Tuy nhiên, nói văn học trung đại có tính phi ngã không có nghĩa trong tác phẩm văn chương không có dấu ấn bản ngã của người nghệ sĩ Bởi lao động nghệ thuật là một họat động sáng tạo; văn học chân chính không chấp nhận công thức, khuôn mẫu sẵn có
Trong văn học thời trung đại của dân tộc ta, các cây bút lớn đều khẳng định
tư tưởng, cá tính và tài nghệ độc đáo của họ Tiến trình văn học đã khẳng định điều
đó Chúng ta không thể phủ nhận cá tính sáng tạo của các cây bút ở giai đoạn sau thờ kì trung đại, đó là Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà,… tuy chưa thể hiện ý thức bản ngã đậm nét nhưng phần nào đó đã thể hiện được tiếng nói riêng tư, tình cảm, suy nghĩ
cá nhân Điều này đã góp phần tạo nên bức tranh có màu sắc mới mẻ cho nền văn học trung đại
1.1.2.2 Văn học trung đại chịu sự chi phối mạnh mẽ của văn học dân gian
Lịch sử văn học dân tộc ta bao gồm hai bộ phận chính dựa theo hai phương thức sáng tác khác nhau, truyền miệng và thành văn, mặt khác nó còn liên quan đến hai loại hình chủ thể sáng tác có vị trí xã hội, hoàn cảnh sinh sống, quan niêm nhân sinh, tư tưởng, tình cảm, hoàn cảnh sáng tác, tâm thế và động cơ sáng tác cũng có phần khác nhau Tuy vậy, hai bộ phận văn học này có quan hệ không tách rời nhau Chính văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển, kết tinh của nền văn học dân tộc
Văn học dân gian cũng là nền tảng của sự hình thành các thể loại tự sự, các tập văn xuôi chữ Hán, các truyện Nôm và thơ ca của nhiều tác giả
Các truyện Nôm bình dân thường được viết dựa theo những câu chuyện cổ dân gian Việt Nam Hiện nay vẫn còn có những truyện cổ tích song song tồn tại với những truyện Nôm bình dân, chẳng hạn cổ tích tấm Cám và truyện Nôm Tấm Cám,
cổ tích Thạch Sanh và truyện Nôm Thạch Sanh, truyện Tống Trân Cúc Hoa nhiều nghiên cứu cho rằng được lấy ý tưởng từ câu chuyện cổ tích
Chẳng hạn Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu Truyện Kiều đã được kết tinh trên cơ sở văn học dân gian trên cả hai phương diện nội dung và hình thức Về phương diện nội dung, một trong những điều giá trị nhất
Trang 27của tác phẩm này chính là tình thương bao la cho những kiếp người đau khổ, đặc biệt là những người phụ nữ có số phận đáng thương trong xã hội cũ Vậy chúng ta thử đặt câu hỏi: Liệu tình cảm lớn lao đó có căn nguyên từ đâu để đến với Nguyễn
Du trở thành tiếng lòng day dứt, xót thương cho con người nhỏ bé? Đó là từ cuộc sống và tâm lí trưởng giả hay từ cuộc sống và tâm lí dân gian? Từ nền văn học bác học đã có trước Nguyễn Du hay từ nền văn học dân gian truyền thống? Ắt hẳn điều
đó xuất phát từ cuộc sống dân gian, hiện hữu trong đời sống hằng ngày, đó cũng là chất liệu để Nguyễn Du bày tỏ nỗi lòng và giá trị nhân văn cao đẹp của con người
Về phương diện hình thức, một số yếu tố nghệ thuật quan trọng như thể tài lục bát, cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ vào tác phẩm cũng minh chứng rõ ràng cho sự ảnh hưởng, tiếp thu và kế thừa những thành tựu đặc sắc của văn học dân gian
để vận dụng linh hoạt vào việc sáng tạo nên hình tượng nghệ thuật của đại thi hào Nguyễn Du
Chẳng hạn trong Truyện Kiều có đến hàng chục câu thơ Nguyễn Du trực tiếp rút ra từ ca dao Có thể chỉ ra những câu thơ tiêu biểu như:
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”
(Truyện Kiều) được rút ra từ những câu ca dao:
“Tiễn đưa một chén rượu nồng Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi”
Hay:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi Đường trường ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng”
Hoặc câu thơ:
“Rắp mong treo ấn từ quan, Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng qua”
(Truyện Kiều) mang hơi thở của câu ca dao vốn quen thuộc với con người Việt Nam:
“Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua”
Trang 28Có thể nói rằng văn học dân gian chính là chất liệu và là nền tảng để văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng có sự kế thừa và phát triển như vậy
1.1.2.3 Thiên nhiên trong văn học trung đại
Trong sáng tác của các nhà thơ, nhà văn trung đại hình như không thể vắng bóng thiên nhiên Thiên nhiên làm nên diện mạo, linh hồn của tác phẩm Thiên nhiên biểu hiện cảm quan vũ trụ, mỹ cảm và tư tưởng triết học phương Đông của các nghệ sĩ Nho học này Riêng thi ca, thơ tức cảnh cũng như tranh sơn thủy chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn nghệ thời phong kiến Thiên nhiên
là nguồn nuôi dưỡng tinh thần và vật chất cho con người Hiện tượng nghệ thuật này cũng có thể nảy sinh từ hệ triết học phương Đông: con người hòa đồng với vạn vật, tạo vật và con người tương sinh trong thế giới này
Vì những căn cứ trên, thiên nhiên không tách khỏi con người như một khách thể trong văn chương Con người cảm thụ thiên nhiên như là một chủ thể
Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
(Nguyễn Bỉnh Khiêm) Thiên nhiên là nơi gởi gắm những tư tưởng, tình cảm hay triết lý của con người
“Xuân đến trăm hoa nở Xuân đi trăm hoa rụng … Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một nhành mai”
(Mãn Giác Thiền sư)
Do cảm thụ thiên nhiên như vậy, nên văn thơ có đặc tính: Thiên nhiên được cảm nhận và tái hiện một cách tinh vi như muốn khám phá linh hồn ẩn kín, bí mật của tạo vật
“Thụy khởi khải song phi Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp Phất phất sấn hoa phi”
(Xuân hiểu-Trần Nhân Tông)
Trang 29Thiên nhiên luôn được tái hiện bằng cảm xúc dạt dào, tình cảm lắng sâu của người làm thơ Những vần thơ đó, chúng ta như nghe thấy tiếng lòng của thi nhân
1.1.3 Đặc trưng thi pháp của một số thể loại tiêu biểu của VHTĐ VN ở Ngữ văn 10
*Thể thơ trữ tình trung đại:
Thơ trung đại được xem là thể loại cao quý nhất trong các thể loại VHTĐ, đặc trưng của nó là những nét tiêu biểu góp phần làm nên diện mạo của giai đoạn văn học này
Tổng quan về thơ trung đại Việt Nam, các nhà nghiên cứu phân chia thành hai mảng lớn là thơ chữ Hán Đường thuật và thơ chữ Nôm Đường luật Thơ Đường luật còn có những tên gọi khác là thơ cận thể hoặc thơ cách luật, được hiểu theo nghĩa là luật thơ được đặt ra từ thời Đường, các đời sau tiếp tục dùng luật thơ này
để sáng tác Đây là thể thơ được định chế từ đời Đường, do vậy phải tuân theo cấu trúc nhất định về âm luật, vần đối
Xét từ số lượng âm tiết, thơ Đường luật chia làm ba loại: ngũ ngôn (5 chữ), lục ngôn (6 chữ), thất ngôn (7 chữ) Xét theo số câu trong bài thơ thì có ba dạng: tứ tuyệt (4 câu), bát cú (8 câu), bài luật (từ 11 câu trở lên)
Xét về luật thơ: có quy định về thanh điệu, quy định về niêm, luật, vần, đối
Cụ thể như sau: bài thơ nào mở đầu bằng hai tiếng là thanh bằng (hoặc chỉ căn cứ vào thanh của tiếng thứ hai) là thơ luật bằng, ví dụ như bài Hứng trở về (Quy hứng) của Nguyễn Trung Ngạn; ngược lại mở đầu bằng hai thanh trắc là thơ luật trắc, ví
dụ như bài Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão Ý nghĩa của luật bằng – trắc là đảm bảo sự hài hòa về thanh điệu của câu thơ theo hệ thống ngang, tuy nhiên cần có
sự linh hoạt khi vận dụng để tránh sự đơn điệu cho câu thơ thì trong mỗi cặp câu, các chữ tương ứng phải có thanh ngược nhau Mỗi cặp câu thơ được gọi là liên
Về niêm (kết dính) được quy định là tiếng thứ hai của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanh với tiếng thứ hai của câu lẻ thuộc liên dưới Trong bài tứ tuyệt thì câu 1 và câu 4, câu 2 và câu 3 niêm với nhau, bài bát cú thì câu 1 và 8, 2 và 3, 4
và 5, 6 với 7 niêm với nhau Điều này đảm bảo sự hài hòa về thanh điệu bằng – trắc giữa các câu thơ trong bài thơ theo hệ thống dọc
Trang 30Về vần, thơ Đường luật gieo vần ở cuối câu gọi là vần chân Vần ở cuối câu là thanh trắc gọi là vần trắc, ngược lại là vần bằng Phần nhiều được làm theo vần bằng
Về đối: đối là sự cân xứng, sóng đôi của hai từ, hai vế câu đặt gần nhau và tương ứng về nội dung, hình thức nhằm tạo nên những giá trị tu từ nhất định Đối được vận dụng rộng rãi trên các mặt: thanh điệu, từ loại, cú pháp, đối ý Chẳng hạn:
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”
(Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm) Cấu tứ của thơ Đường luật mang những đặc điểm riêng, đó là cách tổ chức ý thơ theo khai – thừa chuyển – hợp đối với thơ tứ tuyệt hoặc đề - thực – luận – kết đối với bát cú Theo Kim Thánh Thán – nhà phê bình văn học cổ điển Trung Hoa đời Thanh thì trong bài bát cú, bốn câu trên được gọi là tiền giải – thường là nêu, gợi mở sự vật, câu chuyện, cảnh vật; bốn câu sau là hậu giải- bày tỏ cảm nghĩ của tác giả Thậm chí, trong nhiều trường hợp thì bài tứ tuyệt cũng được chia theo thành phần như vậy với mô hình 2 – 2
Về đặc điểm ngôn ngữ, thơ Đường luật thường kiệm lời, cô đọng, “ý tại ngôn ngoại”, “huyền ngoại chi âm” Do đó trong bài thường sử dụng thực từ, có “nhãn tự”, “thần cú”- đó là những từ ngữ, câu mang vị trí quan trọng như con mắt, tập trung ý tứ của bài thơ
Ngoài ra sự tuân thủ về nhịp điệu, hình ảnh ước lệ, tượng trưng, cũng mang tính quy phạm
Trong chương trình Ngữ văn 10, thơ trữ tình trung đại còn được thể hiện
dưới một số thể khác nhau, đó là thể ngâm khúc với hai tác phẩm là Chinh phục ngâm khúc (Đặng Trần Côn) và Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều); truyện thơ Nôm với đỉnh cao là tác phẩm Truyện Kiều (Nguyễn Du)
- Thể ngâm khúc:
Ngâm khúc được hiểu là “thể thơ trữ tình trường thiên thuần túy Việt Nam viết bằng thể thơ Trong thể thơ này, nhân vật trữ tình thường thể hiện niềm hồi
Trang 31tưởng, mong nhớ, sầu muộn, suy tư, ai oán, xót thương cho số phận mình” [5,
tr.124]
Thể ngâm khúc là sáng tạo độc đáo của thi ca Việt Nam Sự xuất hiện của thể loại đánh dấu nhu cầu biểu đạt một nội dung mới Ngâm nghĩa đen vốn là ngâm nga, rên rỉ hoặc than thở Chính vì vậy, thể ngâm có khả năng đặc biệt trong biểu hiện thế giới nội tâm, thể hiện nỗi cơ đơn, buồn đau triền miên, dai dẳng Hình tượng trung tâm của khúc ngâm là người cô phụ sống trong niềm thương tiếc khôn nguôi cho những giá trị nhân sinh đã mất (người chết, tuổi trẻ, phôi pha, tình yêu bị phai nhạt, rẻ rúng…), nhân vật trữ tình hồi tưởng, giở lại từng trang kỉ niệm với một tình cảm bi kịch không thể cứu vãn những gì đã mất, bằng thủ pháp kể, liệt kê trong khuôn khổ “tự tình”, và thể thơ song thất lục bát réo rắt, có nhiều vần lưng, vần chân Vần buộc người ta nhớ lại cái vần có trước và tô đậm cho nó Tính nhiều vần của khuôn mẫu thể thơ song thất lục bát làm cho tình cảm nhớ thương nuối tiếc lại càng được thể hiện nổi bật
Có thể minh chứng bằng những câu thơ:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu chẳng nói nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
(Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ) Trong văn học Việt Nam, ngâm khúc giữ một vị trí quan trọng và đặc biệt phát triển từ giữa thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, với những tác giả nổi tiếng như Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Thiều,…
- Truyện thơ Nôm:
Truyện thơ Nôm là thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối nửa thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX, do được viết bằng tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm nên gọi là truyện Nôm
Trang 32Truyện thơ là một thể loại văn học mới Nó không đơn giản là đem cổ tích hay tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc kể lại bằng thơ lục bát mà là sáng tạo ra một thể loại mới, chứa đựng một dung lượng mới để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Vay mượn cốt truyện mà vẫn tìm được tiếng nói đồng vọng của đời sống hiện thực Đặc biệt như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một sự sáng tạo hoàn mỹ, có phong cách cô đong, súc tích, trong sáng, sâu lắng, dư ba, không còn dài dòng vụn vặt, sa đà vào tự nhiên chủ nghĩa như trong nguyên mẫu “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân
Truyện thơ Nôm gồm hai loại: truyện thơ Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học
Về thể thơ, thể lục bát có nguồn gốc sâu xa từ những đặc điểm ngôn ngữ dân tộc, ra đời khoảng cuối thế kỷ XV Đây là thể thơ dân tộc có khả năng diễn tả mọi cung bậc tình cảm của con người Thể lục bát không hạn định về độ dài ngắn của số câu Các cặp lục bát luân phiên nhau linh hoạt, tùy theo cảm xúc, sắc thái tình cảm
mà nó biểu đạt
Lục bát phong phú về vần: vần lưng, vần chân, vần bằng, trắc Nhìn chung lục bát thường gieo vần bằng
Về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, nhân vật có lai lịch rõ ràng về
họ tên, gia đình, quê quán; có quan hệ xã hội rõ ràng và phức tạp, nhưng nhìn chung chưa có cá tính sắc nét (trừ trường hợp Truyện Kiều); kết hợp bút pháp tự sự với trữ tình, tăng cường biện pháp miêu tả cảnh vật, cảnh sinh hoạt và độc thoại nội tâm; xây dựng các tình huống giàu kịch tính, các màn đối thoại, đối thoại nửa độc thoại (như trường hợp Truyện Kiều), có lúc chêm xen các yếu tố phi cốt truyện như lời bình luận triết lí, trữ tình ngoại đề
Về lời văn, đó là sự hòa quyện giữa chất tự tình hàm súc, sâu lắng của thơ cổ phương Đông và chất lãng mạn, ngôn ngữ đậm tính ước lệ
Trang 33… Vừng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song
Tóc tơ căn vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”
(Truyện Kiều) Truyện thơ Nôm đánh dấu sự trưởng thành về bút pháp tự sự Con người biểu hiện cả ở phương diện con người tâm linh, con người cảm nghĩ và con người hành động Nhân vật không còn phiếm chỉ mà trở thành những con người cụ thể Sự xuất hiện của truyện thơ Nôm gắn liền với sự ra đời một ý thức mới trong lĩnh vực
tự sự Đó là sự quan tâm đến số phận cá nhân, quyền sống của cá nhân, tình yêu và hạnh phúc cá nhân
* Thể phú:
Theo chương trình Ngữ văn 10, bài “Phú sông Bạch Đằng” được lựa chọn đưa vào SGK, mang những đặc trưng cơ bản của thể phú Phú được hiểu là “một thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi, dùng để tả cảnh vật, phong tục, kể
sự việc, bàn chuyện đời,…” [3, tr.3]
Phú có bốn loại chính là cổ phú, bài phú, luật phú và văn phú Cấu trúc của một bài phú thường có 4 đoạn: đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết Bài “Phú sông Bạch Đằng” thuộc loại cổ phú (phú cổ thể), đó là loại phú có trước thời Đường, có vần, dùng hình thức “chủ - khách đối đáp”, không nhất thiết phải có đối, cuối bài thường được kết lại bằng thơ Có những câu thơ xen tiếng
“chừ” đậm chất trữ tình:
“Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương, Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”
Và sử dụng câu đối theo kiểu vế sau phô diễn tiếp mạch ý của vế trước:
“Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá, Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”
Đặc biệt trong bài phú có nhiều vần thay nhau làm cho hình thức vừa cổ kính vừa uyển chuyển, tạo nên mạch cảm xúc biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả
* Thể cáo:
Cáo là một thể văn nhà vua dùng để ban bố cho thần dân nhằm trình bày chủ
Trang 34trương, công bố kết quả một sự nghiệp
Thể loại cáo phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu Cáo có tính chất hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận sắc bén, có kết cấu chặt chẽ và mạch lạc
Kết cấu của bài cáo thường gồm bốn phần: phần đầu nêu luận đề chính nghĩa, phần hai lập bản cáo trạng tội ác quân giặc, phần ba phản ánh diễn biến cuộc chiến đấu, phần bốn là lời tuyên bố kết thúc, nêu lên bài học lịch sử Giọng điệu của thể cáo hùng hồn, trang trọng, tự hào, vừa có tính cân xứng, nhịp nhàng của các câu văn biền ngẫu
* Tựa, văn bia:
Tựa có mục đích giới thiệu cuốn sách cho độc giả, nó nói lên cái độc đáo nhất của tác phẩm, nguồn gốc vấn đề, nội dung tác phẩm đặt ra, về tác giả, tư tưởng- nghệ thuật của tác phẩm Tựa được viết bằng thể văn nghị luận hoặc thuyết minh, hoặc biểu cảm, hoặc nghị luận có kết hợp thuyết minh, tự sự, biểu cảm Lời tựa thường ngắn gọn nhưng cô đọng, súc tích, nghệ thuật lập luận rất sắc sảo
Văn bia là bài văn khắc trên bia đá, thường đặt ở phần mộ, lăng, chùa, đình, đền, miếu, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,… Nội dung khi nói về người thì thường giới thiệu gia thế, cuộc đời, những công việc quan trọng đã làm,…; kể việc thì kể đầu đuôi sự việc, lí do buổi đầu, diễn biến, kết thúc và ý nghĩa
Về hình thức: phải tuân theo một số thể thức nhất định, lời văn trang trọng tỏ
ý tôn kính; ngôn ngữ phải chính xác; giọng văn khẳng khái, dõng dạc, tự tin, hùng hồn; bố cục rõ ràng, mạch lạc
Trang 35của cha ông, là điểm lưu giữ tâm hồn tổ tiên của người Việt, là nơi hội tụ linh hồn bản sắc nguồn cội
Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, VHTĐ có một vị trí quan trọng Do vậy, cấu trúc chương trình THPT có một sự thống nhất cao trong việc lựa chọn thể loại, lựa chọn tác phẩm từ bậc THCS đến bậc THPT
Xét về thể loại, học sinh được tiếp nhận phần VHVN trung đại ở lớp 10 với các thể loại tiêu biểu là thơ, phú, cáo, truyện thơ Nôm, truyện truyền kì, tựa, văn bia, văn bình sử, thư,… Chúng tôi đã khái quát thành hệ thống như sau:
Nâng cao Cơ bản
Trang 36Lớp Bài Tác giả Thể loại Chương trình
Nâng cao Cơ bản
Phẩm bình nhân vật
lịch sử - Đọc thêm Lê Văn Hưu Văn bình
sử X Tựa
“Trích diễm thi tập” Hoàng Đức Lương Tựa X X Thái phó Tô Hiến
X X
Nỗi sầu oán của
người cung nữ (trích
Cung oán ngâm)
Nguyễn Gia Thiều Thơ
(ngâm khúc)
Trang 37Như vậy có thể thấy chương trình Ngữ văn 10 có khá nhiều thể loại cho học sinh làn quen và cảm thụ, dẫu rằng có một số thể loại các em chỉ được học một tác phẩm, thậm chí chỉ học trích đoạn song tri thức về thể loại được rút ra từ việc đọc hiểu có ý nghĩa mở rộng phạm vi giá trị theo các chiều hướng tiếp cận Do vậy, hoạt động đọc hiểu những tác phẩm này sẽ là chìa khóa để giải mã các văn bản văn học trung đại khác cùng thể loại
1.2.2 Tình hình dạy học đọc – hiểu các văn bản văn học trung đại ở nhà trường THPT
đề về tác giả, tác phẩm, thể loại, văn học sử, lý luận văn học Điều này đã hun đúc tinh thần, giá trị nhân văn và lí tưởng sống cao đẹp, lành mạnh, qua đó hướng đến rèn luyện các kĩ năng cơ bản, thao tác tư duy tích cực và định hướng các năng lực cần thiết cho các em để có thể giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống xã hội
Về phía GV, qua khảo sát thực tiễn, chúng tôi nhận thấy có 43 GV (33.1%) (Bảng 1.1) đứng lớp cảm thấy hứng thú khi dạy tác phẩm trung đại vì đây là một giai đoạn văn học mang đậm cốt cách, tinh hoa của dân tộc ta, với những vẻ đẹp đặc trưng riêng biệt, văn học trung đại in đậm dấu ấn trong lòng người dạy để truyền lửa cho học sinh của mình Hơn nữa nhiều GV cũng nhận thấy được sự cần thiết trong việc thay đổi phương pháp dạy học để phù hợp với từng thể loại và đặc biệt là tâm thế tiếp nhận của học sinh, làm cho các em có hứng thú đối với những tác phẩm văn chương cổ điển
Về phía học sinh, qua quá trình điều tra và khảo sát, chúng tôi nhận thấy các
em có tinh thần hứng thú khi được khám phá các văn bản VHTĐ Việt Nam bởi đó chính là giai đoạn phát triển khá rực rỡ của nền văn học dân tộc Đa số HS đánh giá
Trang 38cao sự phong phú về thể loại của nền văn học này và có sự cố gắng để giải mã các tác phẩm VHTĐ một cách hứng thú
1.2.2.2 Những khó khăn khi dạy đọc – hiểu văn vản VHTĐ ở nhà trường phổ thông
Trải qua hơn mười thế kỉ bão táp trong lịch sử dân tộc, nền VHTĐ đã sản sinh ra nhiều tác phẩm kết tinh những tinh hoa của dân tộc ta Tuy nhiên lâu nay, dạy học văn học trung đại trong nhà trường THPT chủ yếu là tập trung dạy cái hay, cái đẹp của tác phẩm Điều này đúng nhưng vẫn chưa đủ, bởi vì học sinh chỉ nhận thấy cái hay, cái đẹp cụ thể của tác phẩm đó mà chưa biết cách tự mình khám phá, giải mã vẻ đẹp của tác phẩm tương tự dựa trên năng lực cảm thụ của chính bản thân mình Tình trạng học sinh không tự đọc, tự cắt nghĩa và cảm thụ những giá trị sâu
xa của các văn bản văn học trung đại, nhất là đối với những văn bản đã trở thành quy củ, thành nếp, khó thay đổi trong thời gian ngắn VHTĐ được đánh giá là một trong những bộ phận quan trọng nhưng khó nắm bắt, người học gặp nhiều trở ngại khi tiếp nhận giai đoạn văn học này
Về phía học sinh, qua điều tra và khảo sát, có nhiều HS vẫn nhận thức được tầm quan trọng và giá trị của các tác phẩm VHTĐ Việt Nam, tuy nhiên trong quá trình học vẫn còn nhiều em không hứng thú học tập bộ phận văn học này
Khi được hỏi nguyên nhân vì sao thờ ơ, lãnh đạm với bộ phận văn học trung đại thì có đến 95 HS (tỉ lệ 43.2%) trả lời chưa nắm đặc trưng thi pháp trung đại, đây
là một vấn đề khó khăn, 27.3% chưa nắm vững tri thức từng thể loại, bên cạnh đó nguyên nhân từ cách truyền đạt của thầy cô cũng khiến các em cảm thấy chưa được hứng thú (15.9%)
Không chỉ ở phía HS, nhiều GV cũng cảm thấy áp lực, khó khăn và nặng nề khi giảng dạy các tác phẩm VHTĐ Việt Nam Trong thực tế dạy học, một số GV gần như chỉ diễn nôm văn bản theo cảm nhận chủ quan của mình, giải thích những
từ ngữ cổ điển với bút pháp ước lệ, tượng trưng một cách mơ hồ, khó hiểu và khô khan dẫn đến quá trình đọc – hiểu của HS cũng thụ động, mờ nhạt, tối nghĩa, thậm chí có nhiều em quên hẳn bài học ngay sau khi tiết học kết thúc
Yếu tố ngôn ngữ cũng là một rào cản không nhỏ trong hoạt động tiếp nhận SGK hiện nay đã cung cấp các bản dịch nghĩa, dịch thơ nhưng có một số bản dịch
Trang 39vẫn chưa sát và chưa thể hiện đúng tinh thần, vẻ đẹp từng câu chữ so với nguyên tác Ví dụ câu đầu tiên của bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão:
“Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu”
Dịch giả Bùi Văn Nguyên dịch ra là “Múa giáo non sông trải mấy thu” thì từ
“Hoành sóc” đó dịch thành “Múa giáo” là thật sự không đúng so với ý thơ Thêm nữa, đặc trưng thi pháp nổi bật của VHVN trung đại là tính ước lệ, tượng trưng, sử dụng điển tích điển cố trong khi đó nó xa lạ với thế hệ HS, các em chưa đủ từng trải
và hiểu biết để “biết tuốt” những điển tích, điển cố đó, nó thật sự là một thách thức đối với người học Nếu như GV không “gỡ rối” kịp thời sẽ gây tâm lý xa lạ, chán nản, né tránh khi tiếp xúc với các tác phẩm VHTĐ dân tộc, hệ quả xấu hơn sẽ gây nên tâm lí chán học văn ở HS
Văn chương trung đại, rõ ràng hơn là thơ Đường luật cổ cô đọng ngôn từ, hàm súc, “ý tại ngôn ngoại”, ý nghĩa văn bản không thể hiện trực tiếp trên bề mặt câu chữ nên tạo sự kiểu cách, xa lạ với HS Mặt khác, việc đọc hiểu một tác phẩm/ đoạn trích bị giới hạn và gói gọn trong 45 phút của một tiết học, áp lực thời gian đã khiến quá trình tự cảm thụ của HS bị GV làm biến dạng sang hoạt động cảm thụ thay, truyền thụ một chiều Hơn nữa, trong quá trình hoạt động tổ chức đọc – hiểu các văn bản VHTĐ ở nhà trường, GV chưa chú ý sâu sắc đến việc dạy theo đặc trưng thể loại nên khi tiếp xúc với văn bản thuộc bất cứ thể loại nào, các em cũng đều thấy hoàn toàn lạ lẫm, khó tiếp nhận
Do vậy, những điểm hạn chế còn tồn tại trong hoạt động đọc – hiểu văn bản VHTĐ Việt Nam thật sự là một thách thức và là chướng gại khó vượt qua nếu GV không giúp các em tự gỡ những vướng mắc đó
1.2.3 Thực trạng năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại Việt Nam của học sinh THPT
1.2.3.1 Mục đích và nội dung khảo sát
Để đưa ra những biện pháp có tính chất định hướng nhằm giúp GV hướng dẫn, tổ chức hiệu quả một giờ dạy đọc – hiểu văn bản VHTĐ ở chương trình Ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại, khắc phục tình trạng xa rời đặc trưng vốn có của thể loại hoặc tình trạng GV chỉ thiên về cảm nhận chủ quan mà chưa thật sự quan tâm
Trang 40đến đặc trưng thể loại, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng năng lực tiếp nhận tác phẩm VHTĐ Việt Nam của học sinh THPT hiện nay
Trong điều kiện nghiên cứu cá nhân, chúng tôi chỉ có điều kiện khảo sát thực
tế dạy học của GV và HS chủ yếu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Hoạt động khảo sát thực trạng này có thể xem là bước đầu đi vào giải quyết bài toán về phương pháp đạt hiệu quả, xác thực, mang tính khả thi của đề tài
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, nắm bắt tình hình dạy đọc – hiểu văn bản VHTĐ Việt Nam ở chương trình 10 dưới góc nhìn thể loại ở 130 giáo viên thuộc các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế và đi thực tế ở
ba trường THPT: trường THPT Nguyễn Sinh Cung, trường THPT Phan Đăng Lưu, trường THPT Vinh Xuân với tổng số 220 em HS lớp 10 thông qua hình thức phát phiếu điều tra trắc nghiệm