1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Dấu ấn văn hóa tây nguyên trong văn xuôi trung trung đỉnh

99 107 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, khi bàn đến Tây Nguyên trong sáng tác của mình, Trung Trung Đỉnh không viết về một Tây Nguyên hoang sơ đơn thuần mà phải viết về “một Tây Nguyên thật” với “tất cả chiều sâu văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ MINH TÂM

DẤU ẤN VĂN HÓA TÂY NGUYÊN TRONG VĂN XUÔI TRUNG TRUNG ĐỈNH

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TÔN THẤT DỤNG

Huế, năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép

sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Huế, tháng 9 năm 2016

Hoàng Thị Minh Tâm

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học cùng với các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP Huế đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo, TS Tôn Thất Dụng – người đã dành nhiều tâm huyết hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn những tình cảm của những ngươi thân yêu trong gia đình cũng như bạn bè, đồng ngiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 9 năm 2016

Hoàng Thị Minh Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC i

A MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 9

Chương 1: VĂN HÓA TÂY NGUYÊN VÀ SÁNG TÁC TRUNG TRUNG ĐỈNH VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN 10

1.1 Văn hóa và văn học Tây Nguyên 10

1.1.1 Khái niệm văn hóa 10

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa – văn học 12

1.1.3 Văn hóa và văn học viết về Tây Nguyên 18

1.2 Sáng tác của Trung Trung Đỉnh về Tây Nguyên 24

1.2.1 Vài nét về tác giả Trung Trung Đỉnh 24

1.2.2 Trung Trung Đỉnh – nhà văn “duyên nợ” với Tây Nguyên 26

Chương 2: DẤU ẤN VĂN HÓA TÂY NGUYÊN TRONG VĂN XUÔI TRUNG TRUNG ĐỈNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 31

2.1 Thiên nhiên Tây Nguyên trong văn xuôi Trung Trung Đỉnh 31

2.1.1 Thiên nhiên Tây Nguyên hoang sơ, huyền bí 31

2.1.2 Thiên nhiên Tây Nguyên khắc nghiệt, dữ dội 34

2.1.3 Thiên nhiên Tây Nguyên thơ mộng, trữ tình 38

2.1.4 Thiên nhiên Tây Nguyên gắn bó máu thịt với con người 42

2.2 Con người Tây Nguyên trong văn xuôi Trung Trung Đỉnh 46

2.2.1 Con người cộng đồng, tập thể 47

2.2.2 Con người nặng nghĩa tình 51

2.2.3 Con người nặng lòng vì nước 54

Trang 5

2.2.4 Con người mang tâm hồn nghệ sĩ 59

Chương 3: DẤU ẤN VĂN HÓA TÂY NGUYÊN TRONG VĂN XUÔI TRUNG TRUNG ĐỈNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 66

3.1 Ngôn ngữ 66

3.1.1 Hệ thống từ ngữ và cách diễn đạt đậm chất Tây Nguyên 66

3.2.2 Nghệ thuật so sánh và nhân hóa đậm chất Tây Nguyên 73

3.2 Giọng điệu 76

3.2.1 Giọng điệu đời thường, mộc mạc, chân thực 76

3.2.2 Giọng điệu trữ tình, sâu lắng 81

C KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC P1

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Quan hệ giữa văn học – văn hóa là một vấn đề vừa có ý nghĩa lí luận vừa

có ý nghĩa thực tiễn Văn hóa có vai trò quan trọng trong đời sống, là nền tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Văn học là một trong những thành tố của văn hóa và chịu sự chi phối của văn hóa Giữa chúng có mối quan hệ khắng khít với nhau

Văn hóa luôn chi phối đến sự sáng tạo của nhà văn và những tác phẩm của nhà văn lưu lại những dấu ấn về văn hóa Văn học được xem là nhân tố quan trọng

kết tinh văn hóa: “Sáng tạo của bất kì lĩnh vực nghệ thuật nào cũng là một khâu

trong toàn bộ đời sống văn hóa, nhưng nghệ thuật văn chương bao giờ cũng được

xem như một lĩnh vực đặc biệt trong cái đặc biệt của nghệ thuật nói chung” [37]

Do đó, để khám phá sâu nhất giá trị ẩn chứa bên trong của một tác phẩm văn học chúng ta cần tiếp cận tác phẩm từ góc độ văn hóa

Nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa hoặc tìm ra dấu ấn văn hóa vùng miền trong sáng tác của nhà văn là một xu thế nghiên cứu phổ biến hiện nay Qua những yếu tố của văn hóa: thiên nhiên, phong tục, tập quán, con người, ngôn ngữ… có thể cắt nghĩa những phương diện nội dung, nghệ thuật của tác phẩm

Từ đó, người nghiên cứu có thể tìm ra những nét mới mẻ cũng như giá trị đích thực của tác phẩm Trên cơ sở tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, các nhà nghiên cứu đã cung cấp cho bạn đọc một hướng tiếp cận văn học mới, nhằm thúc đẩy văn học đổi mới và phát triển cũng như bảo tồn được những giá trị văn hóa vùng miền thông qua văn học

1.2 Nói đến Tây Nguyên là nói đến một nền văn hóa đa dạng, phong phú và

độc đáo bởi ở đây hội tụ nhiều tộc người cùng sinh sống, mỗi tộc người có một n t văn hóa riêng Tuy nhiên, d mang trong mình những n t văn hóa đa dạng nhưng Tây Nguyên vẫn thể hiện rõ đặc điểm văn hóa chung của mảnh đất chứa đầy vẻ đẹp của thiên nhiên hoang sơ, lạ lẫm và đậm n t đặc trưng của con người Tây Nguyên thô mộc, bình dị, sống nhân ái, nghĩa tình, rất anh h ng và cũng rất nghệ sĩ

Từ xưa đến nay, Tây Nguyên trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho người

viết văn, được xem là “mỏ vàng tiềm ẩn” Nhiều thế hệ nhà văn đã trưởng thành, thành danh nhờ khai thác “mỏ vàng tiềm ẩn” này, họ đã để lại nhiều tác phẩm có

giá trị và đưa hình ảnh Tây Nguyên huyền bí đến gần hơn với bạn đọc trong nước cũng như thế giới Trong những thế hệ nhà văn ấy phải kể đến Nguyên Ngọc, Trung Trung Đỉnh, Thu Bồn, Khuất Quang Thụy…

Trang 7

1.3 Trung Trung Đỉnh là gương mặt khá quen thuộc trên văn đàn Việt Nam

đương đại, là thành viên trong Hội Nhà văn Việt Nam, là thế hệ nhà văn xuất hiện vào cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ và cũng là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới Ông là nhà văn mặc áo lính, là người đã từng sống, chiến đấu, trưởng thành và trải nghiệm từ những năm tháng đau thương nhưng vô c ng oanh liệt của toàn dân tộc nói chung và với đồng bào Tây Nguyên nói riêng Hơn nữa, mảnh đất màu mỡ, h ng vĩ, thấm đẫm tình người ấy không chỉ

“níu chân” Trung Trung Đỉnh trong thời chiến mà cả trong thời bình Tây Nguyên

đã khơi nguồn cảm hứng khiến Trung Trung Đỉnh không ngần ngại gieo những hạt mần văn chương của mình Ông đã để lại gần như toàn bộ gia tài văn chương - từ

Đêm nguyệt thực đến Lạc rừng, từ Tây Nguyên – nỗi nhớ làng rừng đến Lính trận, Cuộc chia ly của các vì sao…và nhiều bài bút kí và hàng chục bài báo khác - viết về

mảnh đất này

Dẫu là một chàng thanh niên vừa rời ghế nhà trường, mang trong mình lí tưởng cao đẹp, vượt bao khó khăn để đến với Tây Nguyên làm nhiệm vụ hay giờ đây là một nhà văn đã bước qua tuổi lục tuần nhưng Trung Trung Đỉnh vẫn luôn gắn bó với Tây Nguyên như máu thịt Ông nói chuyện với dân làng bằng tiếng Ba

Na, thú vui của ông trong mỗi chuyến trở về Tây Nguyên là được sống, sinh hoạt chung với dân làng, được ăn cơm lam, uống rượu cần Ông nhận Tây Nguyên là

“quê hương thứ hai của mình” bởi ở đây nhà văn có “bạn bè, bà con anh em, và có toàn bộ tuổi trẻ của mình” để gửi gắm nỗi niềm thương nhớ Do vậy, khi bàn đến

Tây Nguyên trong sáng tác của mình, Trung Trung Đỉnh không viết về một Tây

Nguyên hoang sơ đơn thuần mà phải viết về “một Tây Nguyên thật” với “tất cả

chiều sâu văn hóa, chiều sâu minh triết” [77] với đời sống tâm linh bí ẩn, với quá

khứ chiến tranh bi hùng, với một miền đất huyền ảo chứa đựng vẻ đẹp thiên nhiên

và con người làm mê hoặc lòng người, với một nền văn hóa đa dạng và độc đáo Điều ấy đã được minh chứng trong các sáng tác của ông

Chính sự gắn bó máu thịt của Trung Trung Đỉnh với mảnh đất Tây Nguyên

đã khiến cho tác phẩm của ông mang đậm dấu ấn văn hóa về mảnh đất này Tìm hiểu văn hóa Tây Nguyên trong văn xuôi của ông một mặt giúp ta thấy được bức tranh Tây Nguyên mà nhà văn gửi gắm trong những trang viết – một Tây Nguyên

“vừa giản dị, vừa thô mộc, vừa thăm thẳm, vừa thường ngày, gần gũi, cụ thể, vừa

huyền hoặc, hư ảo, bất tận của nó” [77] Mặt khác, tìm hiểu văn hóa Tây Nguyên

còn giúp người đọc hiểu hơn những sắc thái độc đáo về văn hóa chỉ có ở v ng đất của núi rừng tr ng điệp và sông suối này n t khác về văn hóa của Tây Nguyên so với các v ng đất khác) từ đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa vốn có của Tây

Trang 8

Nguyên Đồng thời, khẳng định vị trí, đóng góp to lớn của Trung Trung Đỉnh đối với văn hóa Tây Nguyên nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung Từ những ý nghĩa

nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: Dấu ấn văn hóa Tây Nguyên trong văn xuôi Trung

Trung Đỉnh để khảo sát và nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Những ai đã từng đặt chân đến Tây Nguyên đều không khỏi ngạc nhiên với nền văn hóa độc đáo và con người thân thiện trên mảnh đất thấm đẫm chất huyền thoại Sự kì lạ của văn hóa và con người, vẻ đẹp nên thơ và h ng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên luôn có sức hút mãnh liệt với những ai thích khám phá Tuy nhiên, so với các vùng miền khác của đất nước như Tây Bắc, Nam Bộ… thì sáng tác văn học viết về Tây Nguyên vẫn còn khiêm tốn cả về số lượng tác giả và tác phẩm Do vậy, việc nghiên cứu về văn học cũng như văn hóa Tây Nguyên chưa thật sự được quan tâm đúng mực

Cùng với Nguyên Ngọc - cây bút gạo cội viết về Tây Nguyên và gặt hái nhiều thành công đáng kể thì Trung Trung Đỉnh cũng được độc giả nhắc đến với thế

hệ kế cận viết nhiều tác phẩm hay về mảnh đất này Sự nghiệp văn học của Trung Trung Đỉnh được đánh dấu bằng những sáng tác viết về Tây Nguyên và mang một dấu ấn riêng Theo khảo sát chưa đầy đủ của chúng tôi, đã có khoảng hai mươi bài nghiên cứu in rải rác trên các báo, tạp chí văn học, lời nói đầu của một số truyện ngắn, tiểu thuyết của ông… cũng như nhiều bài viết có tính chất khái quát chất Tây Nguyên trong văn của Trung Trung Đỉnh và chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu sâu về văn hóa Tây Nguyên

Sau đây, chúng tôi điểm qua những công trình, bài viết cơ bản nghiên cứu

về sáng tác của Trung Trung Đỉnh

Với giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ nhất 1998 – 2000, Hội Nhà văn Việt Nam đã khẳng định thành công của tiểu thuyết Lạc rừng Trên tờ Văn nghệ

quân đội – số 40 – nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ đã viết “Lạc rừng – cuốn tiểu thuyết thành công của Trung Trung Đỉnh” Nhà phê bình văn học Nguyễn Hương

Giang đã cảm nhận khá sâu sắc về n t đẹp văn hóa Tây Nguyên khi Trung Trung

Đỉnh khắc họa trong tiểu thuyết này: “Cuộc chiến tranh du kích của đồng bào Tây

Nguyên được Trung Trung Đỉnh tái hiện chân thực sinh động và giàu cảm xúc qua tiểu thuyết “Lạc rừng”… Người đọc có thể cảm nhận qua tác phẩm này cái phần hồn, đời sống tinh thần cũng như vật chất của người Ba Na, của một nền văn hóa rất riêng và độc đáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Với vốn sống sâu rộng về Tây Nguyên và đặc biệt là sự gắn bó máu thịt với vùng đất này đã tạo nên thành công cho tiểu thuyết “Lạc rừng” của Trung Trung Đỉnh” [28, tr.13] Nhà nghiên

Trang 9

cứu Phạm Xuân Nguyên nhận xét vừa khái quát vừa cụ thể trong bài Người lính

chưa ra khỏi rừng khi bàn về tiểu thuyết Lạc rừng: “Trung Trung Đỉnh am hiểu đời sống, tập tục, lề lối sinh hoạt của người dân rừng núi Tây Nguyên Cuốn tiểu thuyết của anh, về mặt nào đó, có khía cạnh dân tộc học Vốn sống, vốn hiểu biết của anh

về mặt này thật phong phú, độc đáo, có thể nói, đó là cái kho của riêng anh” [80]

Riêng nhà văn Phạm Quang Đẩu đã không ngần ngại khi khẳng định “Lạc rừng –

một tác phẩm đậm chất Tây Nguyên” Tác giả Bùi Việt Thắng trong bài Trở lại một

số vấn đề của tiểu viết về chiến tranh sau chiến tranh nhân đọc “Lạc rừng” đã

mượn lời của nhà văn Dạ Ngân để nhấn mạnh đến tình huống – tư tưởng, qua đó

nhà văn đã “động chạm đến vấn đề văn hóa của cuộc chiến tranh”

Cùng với thành công của Lạc rừng thì Lính trận cũng được nhắc đến trong

nhiều bài viết của nhiều nhà báo, nhà văn khác Phải kể đến Một chân dung người

lính, Đỗ Bích Thủy đã nhận xét: “Tây Nguyên trong “Lính trận” đã kịp hiện ra với tất cả dáng vẻ của nó, tinh thần của nó Trung Trung Đỉnh có cách khắc họa nhân vật là người Tây Nguyên rất thú vị… Khi nào ông viết về Tây Nguyên khi ấy mới thấy thực sự một Trung Trung Đỉnh” [84]

Đánh giá sáng tác của Trung Trung Đỉnh, Nguyên Ngọc đã dành nhiều tình cảm ưu ái khi đưa ra những nhận định về bút pháp, phong cách, giá trị về nội dung

và nghệ thuật những tác phẩm của Trung Trung Đỉnh viết về Tây Nguyên

Trong bài viết Nơi học nghề làm người thay cho lời nói đầu tập truyện ngắn

Đêm nguyệt thực, nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng:“Trung Trung Đỉnh phát hiện cho ta một Tây Nguyên khác… một Tây Nguyên theo tôi là một Tây Nguyên thật… Tây nguyên và chiến tranh Tây Nguyên trong chiến tranh Tây Nguyên được phát hiện ra, hiển lộ ra trong chiến tranh…” Cuối bài viết ông khẳng định: “…Có lẽ anh là một trường hợp hòa hợp tuyệt vời giữa hai nền văn hóa Việt và Tây Nguyên,

tạo nên một bản sắc nghệ thuật thâm trầm và đặc sắc” [18, tr.7-9]

Nhà thơ Văn Công H ng đã có nhận xét về tác phẩm của Trung Trung Đỉnh

viết về Tây Nguyên: “So với Nguyên Ngọc viết “Đất nước đứng lên”, Trung Trung

Đỉnh có một kênh mới để tiếp cận Tây Nguyên Từ những ngày đói khổ và máu lửa của chiến tranh, anh đã tiếp nhận được ở Tây Nguyên một tầng văn hóa khả dĩ để

anh hòa nhập một cách tỉnh táo khi bước vào địa hạt văn chương” [76] Từ đó, ông

khẳng định: “Từ sau năm 1975 đến nay, anh là người viết về Tây Nguyên thành

Trang 10

không cố tình ” [52, tr.4] Nguyễn Xuân Hải khi phỏng vấn nhà văn Trung Trung

Đỉnh đã nhận xét: “Nói đến Trung Trung Đỉnh, bạn đọc thường nghĩ ngay đến

những trang viết đầy ắp hơi thở Tây Nguyên từ thời chống Mỹ đến tận bây giờ” [75]

Thay lời tựa cho tập truyện ngắn Cuộc chia ly của những vì sao, nhà báo Đoàn

Minh Phụng đã kể lại mối quan hệ mật thiết, gắn bó của nhà văn Trung Trung Đỉnh

với mảnh đất và con người Tây Nguyên, trong đó có viết: “Trong báo, trong văn

Trung Trung Đỉnh còn ám ảnh nhiều lắm về những ngày bom đạn ở Trường Sơn, Tây Nguyên ấy Những đồng đội, những người dân Ba Na, Gia Rai cứ đối thoại với

anh trong từng trang viết” [20, tr 8]

Ngoài những bài viết nêu trên, sáng tác của Trung Trung Đỉnh cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của khá nhiều học viên cao học trong các đề tài luận văn của mình

Trước hết phải kể đến luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Thu Thủy ở Đại học

Vinh với đề tài Nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam từ 1995 đến nay 2005) đã đi

sâu tìm hiểu và chỉ ra nghệ thuật tạo tình huống đặc sắc của tiểu thuyết Lạc rừng Năm 2009, tại Đại học Sư phạm Hà Nội, Nguyễn Thị Anh chọn đề tài Tiểu thuyết

Trung Trung Đỉnh làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình Và cũng năm đó, Phạm

Thị Hồng Duyên của Đại học Vinh đã chọn đề tài Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh

trong thời kì đổi mới đã khảo sát thế giới nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu

trong năm cuốn tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh là: Ngõ lỗ thủng, Ngược chiều

cái chết, Tiễn biệt những ngày buồn, Lạc rừng, Sống khó hơn là chết Từ đó, tác

giả đã đi đến kết luận: “Trung Trung Đỉnh để lại những tình cảm thâm trầm, kín

đáo trong trang viết của mình” [9]

Đến năm 2010, Nguyễn Văn Thiện của Đại học Vinh đã đi sâu tìm hiểu Đặc

điểm tiểu thuyết Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh Theo tác giả này, với Lạc rừng,

Trung Trung Đỉnh muốn đi sâu khám phá tâm hồn người lính kể cả hai phía, qua đó thể hiện một thái độ truy vấn nghiêm khắc đối với các bên tham chiến, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn Đất và Người Tây Nguyên Ở Đại học Quy Nhơn, Văn Quang

Thiệu chọn đề tài Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu thuyết Trung

Trung Đỉnh để nghiên cứu Một năm sau, từ một góc nhìn khác, Đặng Thị Đức Vui của

Đại học Đà Nẵng cũng nghiên cứu tác phẩm Lạc rừng dưới góc nhìn văn hóa Văn hóa

và con người Tây Nguyên trong Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh Hai tác giả này đã

nghiên cứu tác phẩm Lạc rừng theo chiều sâu Đến 2012, đề tài Thi pháp truyện ngắn

Trung Trung Đỉnh được Nguyễn Thị Bích Hồng của Đại học Sư Phạm Huế lựa chọn

làm đề tài khóa luận

Nhìn chung, các bài nghiên cứu trên đã có chung khẳng định: Đa số các bài

Trang 11

viết và nghiên cứu ấy chỉ đánh giá tổng quát các sáng tác của Trung Trung Đỉnh hoặc tìm hiểu giá trị tư tưởng, nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể cũng như chỉ ra những n t đẹp của con người và thiên nhiên Tây Nguyên Dường như chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến dấu ấn văn hóa Tây Nguyên trong sáng tác của ông một cách có hệ thống Trên cơ sở đó, chúng tôi xác lập hướng nghiên cứu của mình

là khảo sát mảng đề tài viết về Tây Nguyên của Trung Trung Đỉnh để làm nổi bật những n t văn hóa Tây Nguyên trong sáng tác của ông, đồng thời qua đó thấy được những đóng góp to lớn cũng như vị trí của nhà văn trong nền văn học nước nhà

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu chính là một số tác phẩm viết về đề tài

Tây Nguyên của Trung Trung Đỉnh trên cả ba thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ các tác phẩm được chọn khảo sát chúng tôi tập trung nghiên cứu mối quan hệ văn hóa – văn học để chỉ ra dấu ấn văn hóa trong các tác phẩm văn xuôi của Trung Trung Đỉnh

Các tác phẩm chính được khảo sát gồm: tiểu thuyết Lạc rừng, Lính trận,

Những người không chịu thiệt thòi, Ngược chiều cái chết, Sống khó hơn là chết các tập truyện ngắn: Thung lũng Đắc hoa, Người trong cuộc, Đêm nguyệt thực…, các tập bút kí: Tây nguyên - nỗi nhớ làng rừng , Tây Nguyên của tôi …

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề của đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp

và thao tác chủ yếu sau đây:

4.1 Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Nhằm phát hiện những n t văn hóa

đặc sắc trong tác phẩm của Trung Trung Đỉnh, đặc biệt là văn hóa Tây Nguyên

4.2 Phương pháp cấu trúc, hệ thống: Nhằm khảo sát các thành tố văn hóa

trong văn hóa Tây Nguyên thể hiện trong hệ thống các tác phẩm văn xuôi của Trung Trung Đỉnh

4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nhằm khảo sát từng tác phẩm, phân

tích những n t văn hóa Tây Nguyên góp phần làm nên giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Trung Trung Đỉnh Từ đó, tổng hợp, khái quát những đóng góp của

sáng tác của ông cho văn hóa Tây Nguyên

4.4 Phương pháp so sánh: Để làm rõ đề tài, bộc lộ n t đặc sắc, độc đáo về

văn hóa Tây Nguyên trong sáng tác của nhà văn, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu sáng tác của Trung Trung Đỉnh trong tương quan với sáng tác của các nhà văn khác viết về Tây Nguyên

Trang 12

4.5 Phương pháp điền giả: (phương pháp nghiên cứu thực địa):Chúng tôi

tiến hành quan sát cuộc sống, con người Tây Nguyên đồng thời có những trải nghiệm thực tế để hiểu sâu hơn về văn hóa Tây Nguyên mà nhà văn phản ánh trong tác phẩm

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái lược về văn hóa Tây Nguyên và sáng tác của Trung Trung Đỉnh viết về Tây Nguyên

- Tìm hiểu dấu ấn văn hóa Tây Nguyên trong văn xuôi của Trung Trung Đỉnh xét từ bình diện thiên nhiên và con người

- Tìm hiểu dấu ấn văn hóa Tây Nguyên qua các phương diện nghệ thuật: ngôn ngữ, giọng điệu

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đem lại một cái nhìn mang tính hệ thống, độc đáo về những n t đẹp văn hoá Tây Nguyên trong sáng tác của Trung Trung Đỉnh Từ đó, khẳng định vị trí

và đóng góp quan trọng của tác giả đối với văn xuôi sau 1975 cũng như đối với văn

hóa Tây Nguyên qua những sáng tác viết về Tây Nguyên

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai qua 3 chương:

Chương 1: Văn hóa Tây Nguyên và sáng tác của Trung Trung Đỉnh viết

về Tây Nguyên

Chương 2: Dấu ấn văn hóa Tây Nguyên trong văn xuôi Trung Trung Đỉnh

nhìn từ phương diện nội dung

Chương 3: Dấu ấn văn hóa Tây Nguyên trong văn xuôi Trung Trung Đỉnh

nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 13

Chương 1 VĂN HÓA TÂY NGUYÊN VÀ SÁNG TÁC TRUNG TRUNG ĐỈNH

VIẾT VỀ TÂY NGUYÊN

1.1 Văn hóa và văn học Tây Nguyên

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa T y theo mỗi ngành khoa học, mỗi trường phái nghiên cứu có nhãn quan và chiêm

nghiệm khác nhau thì có định nghĩa khác nhau về văn hóa Trong bài Khái luận về

văn hóa in trong Những vấn đề Khoa học Xã hội và Nhân văn – Chuyên đề Văn hóa học, PGS.TS Trần Ngọc Thêm viết: “Ngay từ thuở lọt lòng, chúng ta đã đắm mình trong chất men văn hóa: từ lời ru của mẹ, bài học của cha, trò chơi của chị…cho đến tiếng gọi đò bên sông, tiếng võng đưa kẽo kẹt lúc trưa hè, tiếng chuông buông khi chiều xuống…- tất cả, tất cả những sự kiện đó, những ấn tượng đó, những âm thanh đó, những hình ảnh đó…đều thuộc về văn hóa Cái tinh thần như tư tưởng, ngôn ngữ…là văn hóa; cái vật chất như ăn, ở, mặc…cũng là văn hóa Chính văn hóa đã nuôi chúng ta lớn, dạy chúng ta khôn Người ta nói: văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, văn hóa ứng xử, văn hóa tiêu dùng, văn hóa kinh doanh, văn hóa chính trị, văn hóa Đông Sơn, văn hóa Hòa Bình, văn hóa rìu vai…Từ “văn hóa” biết bao nhiêu là nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau” [62, tr.4] Như vậy, văn hóa là một khái niệm rộng và có nội hàm phong

phú nên trên thế giới cũng như trong nước hiện tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau

về văn hóa Tuy nhiên, trên thực tế những ai nghiên cứu văn hóa đều dựa vào một định nghĩa đã có hoặc đưa ra định nghĩa về khái niệm này làm công cụ nhận thức nhằm đảm bảo tính nhất quán và là cơ sở để nghiên cứu Chính vì vậy, đinh nghĩa

về văn hóa không ngừng gia tăng

Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn cũng như truyền đạt văn hóa từ thế

hệ này sang thế hệ khác Việc c ng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà các cá thể là thành viên

Việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá được thay đổi theo thời gian

Năm 1871, E.B.Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng

về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [58] Theo định nghĩa này, văn hóa và văn

minh là một, nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người,

Trang 14

từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa

này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người

Với F Boas thì định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể

chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau”[83] Theo định nghĩa này, mối

quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người

Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Hồ Chí Minh cho

rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và

phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[40] Với

cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra Cũng giống như định nghĩa của E B Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ

Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống

con người

Trên cơ sở phân tích nhiều định nghĩa văn hóa, PGS TS Trần Ngọc Thêm

còn đưa ra một định nghĩa văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật

chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [73] Với định nghĩa này, Trần Ngọc Thêm đã nêu bật bốn đặc trưng quan

trọng của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh

Trong công trình Việt Nam văn hóa sử, xuất bản đầu tiên năm 1938, Đào

Duy Anh quan niệm nghiên cứu chuyển biến sinh hoạt của một dân tộc trên các phương diện kinh tế, xã hội, trí thức chính là nghiên cứu lịch sử văn hóa của dân tộc

ấy, nên ông cho rằng: “Văn hóa là cách sinh hoạt của con người” [1, tr.10-11]

Cùng với quan niệm ấy, Nguyễn Hồng Phong cũng định nghĩa: “Văn hóa là cái do

con người sáng tạo ra, là nhân hóa” [53]

Riêng Phan Ngọc lại có quan niệm khác: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế

giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân

hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác” [49, tr.19-20]

Trang 15

Ta thấy, mỗi định nghĩa có một cách tiếp cận và đề cập đến các khía cạnh khác nhau của văn hóa, song không phải định nghĩa nào cũng khái quát được khái niệm văn hóa và được chấp nhận rộng rãi Để có sự thống nhất nhận thức trong các hoạt động văn hóa, tháng 8 năm1982, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa UNESCO, cựu Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor đưa ra một định nghĩa về

văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh

thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm riêng biệt của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và

những tín ngưỡng” [82]

Mặc dù tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng nhìn chung, đa

số các nhà nghiên cứu đều thống nhất, văn hóa chính là sản phẩm của một cộng đồng người cùng tồn tại và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử Mỗi một dân tộc đều có nền văn hóa riêng, biểu hiện ở lối sống, nếp sống phù hợp với điều kiện tự nhiên mà họ cư trú Đồng thời, cũng chính vì mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng nên muốn tìm hiểu bản sắc của một dân tộc nào đó thì không thể không khảo sát bộ mặt văn hóa của dân tộc đó

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa – văn học

Trong lịch sử vận động và phát triển của văn hóa, có thể nhận thấy mối quan

hệ mật thiết giữa văn hóa và nhiều chuyên ngành khác, trong đó đặc biệt là mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Nếu văn hoá thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh động nhất Do vậy, giữa văn hóa và văn học có một mối quan hệ khăng khít Có thể ví von như F Saussure, trong mối quan hệ song tr ng nhưng không đồng nhất đó, khi chúng ta cảm thụ một tác phẩm văn học cũng như khi nghiên cứu một nền văn hóa thì việc phân tích mối liên hệ giữa văn hóa và văn học như hai mặt của một tờ giấy, không thể cắt mặt này mà không thể đồng thời không cắt mặt kia

Mối quan hệ này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và bàn đến Trong

Bàn về văn hóa và nghệ thuật, Lênin đã yêu cầu văn nghệ mới phải kế thừa những

truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và thế giới “văn hóa vô sản phải là sự phát

triển logic của tổng số những kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách thống trị

của xã hội tư bản, của xã hội bọn địa chủ, của xã hội bọn quan liêu” [35] Với

Bakhtine, trong Một số vấn đề khi nghiên cứu văn học quá khứ, ông đã trình bày:

“Trước hết, khoa nghiên cứu văn học phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn hóa Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái

Trang 16

mạch (Kontekst) nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại Không thể tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa, cũng như không được như người ta vẫn làm, là trực tiếp gắn bó với các nhân tố xã hội kinh tế, vượt qua đầu văn hóa Những nhân tố xã hội kinh tế tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, và

chỉ thông qua văn hóa, cùng với văn hóa, mới tác động được tới văn học” [41]

Cùng với dòng quan niệm ấy, Phan Ngọc trong bài viết Mối quan hệ giữa văn học

và văn hóa, ông đã so sánh mối quan hệ văn học – văn hóa của một số nước trên thế

giới và đưa ra ý kiến: “Là người Việt Nam trong đó văn hóa thể hiện trước hết ở

văn học”[48] Trong bài viết Văn hóa, văn nghệ, Phan Trọng Thưởng đã trình bày

“Văn học là một thành tố chính của văn hóa (…) gắn bó hữu cơ với văn hóa (…) sáng tạo văn học cũng có nghĩa là sáng tạo văn hóa Văn học luôn được xem là công cụ chuyển tải văn hóa, là phương tiện lưu giữ các giá trị văn hóa” [69] Từ

những ý kiến trên, chúng ta có thể khẳng định văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết tác động hai chiều và cùng phát triển qua các thời kì khác nhau của mỗi dân tộc

Trước tiên là sự tác động từ văn hóa đến văn học Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục…là những yếu tố cấu thành nên giá trị văn hóa Như vậy, văn học nằm trong văn hóa, chịu sự chi phối của văn hóa Văn hóa là động lực giải thích sự xuất hiện của văn học: hoàn cảnh môi trường, điều kiện kinh tế, tôn giáo…tác động mạnh mẽ đến văn học Chính hoàn cảnh sống, điều kiện kinh tế…đã tác động đến hoạt động sáng tạo của nhà văn và cả hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Không gian văn hóa ấy chi phối cách lựa chọn đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thể loại cũng như các thủ pháp nghệ thuật…trong quá trình sáng tác, đồng thời cũng chi phối cách đánh giá, thưởng thức của bạn đọc trong quá trình tiếp nhận Mỗi thời đại khác nhau thì có phương thức sáng tác và tiếp nhận khác nhau Điều này bị quy định bởi thị hiếu, quan niệm thẩm

mĩ của mỗi thời đại

Từ sự tác động của văn hóa đến văn học, ta có thể khẳng định: văn hóa của một dân tộc đã quy định đến diện mạo của nền văn học của dân tộc đó Văn hóa vừa

là thuộc tính (tính chất khách quan) của văn học nhưng cũng là phẩm chất (tính chất chủ quan) của văn học Bởi nền văn học nghệ thuật của một dân tộc, không ai khác

do chính những người con của dân tộc đó sáng tạo ra Mặt khác, bản thân văn học nghệ thuật là sự tự do hư cấu và tưởng tượng trên đôi cánh khổng lồ của tư duy người nghệ sĩ; nhưng bản thân người nghệ sĩ không phải là một thực thể phi thời đại, phi đời sống xã hội… Sự sáng tạo văn học nghệ thuật của nhà nghệ sĩ đã tự giác tiếp nhận các mô thức mà cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ Là con đẻ của một

Trang 17

cộng đồng nhất định, dù muốn hay không người nghệ sĩ cũng phải tiếp nhận những thành tố văn hóa của cộng đồng mình: những lối tư duy, những mô thức ứng xử, những giá trị văn hóa truyền thống… Vì vậy, tác phẩm mà người nghệ sĩ sáng tạo ra bao giờ cũng thể hiện những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc mình Cho nên, V

G Belinskij đã cho rằng tính chất dân tộc văn hóa) trong tác phẩm nghệ thuật không phải là một thành tích, mà là một thuộc tính tất yếu mà người nghệ sĩ không cần một nỗ lực nào trong quá trình sáng tạo bởi những tác phẩm nghệ thuật ấy chính

là đứa con mang “huyết thống” của dân tộc đó

Nhưng x t đến cùng, nếu văn hóa chỉ dừng lại ở mức thuộc tính không thôi thì chắc chắn văn học nghệ thuật sẽ bị đào thải bởi thời gian Tác phẩm văn học muốn trường tồn thì bản thân nó phải mang trong mình thanh hương tươi đẹp Hương sắc của mỗi nền văn học nghệ thuật nói chung là ở phẩm chất văn hóa của chính nó

Goethe từng khẳng định tính dân tộc phẩm chất dân tộc cũng là phẩm chất văn hóa) của tác phẩm văn học phải dựa vào thế giới quan và tài năng của người nghệ sĩ Bởi người nghệ sĩ thiên tài là người nghệ sĩ chỉ có thể nuôi được cái thiên tài của mình trong bầu sữa của nền văn họá nghệ thuật dân tộc mình Nói cách khác,

nền văn hoá nghệ thuật của dân tộc là “chiếc niêu thần Thạch Sanh” cho mỗi nhà

nghệ sĩ trau dồi tài năng Nên trong quá trình sáng tác, nhà văn nói riêng và nghệ sĩ nói chung phải gắn mình với văn hóa dân tộc là một quy luật tất yếu Do đó, điều

kiện để tác phẩm của họ sống mãi với thời gian bởi ản thân chúng đã hấp thụ tinh

túy, tinh hoa văn hóa của dân tộc mình, lưu giữ những giá trị văn hóa của thời đại Tác phẩm văn học nghệ thuật của một dân tộc trước khi được nhân loại chấp nhận phải được khảo nghiệm và chấp nhận bởi chính dân tộc mà nó được sinh ra Sinh thời, nhà văn Thanh Tịnh đã phát biểu một quan điểm mà người viết hết sức tâm đắc:

“Ước gì để lại mai sau Một câu một chữ đượm màu dân gian”

“Màu dân gian” mà Thanh Tịnh nói đến chính là khát vọng tác phẩm của mọi

người nghệ sĩ đều mang sắc màu văn hóa của cả dân tộc d chỉ là một câu, một chữ ít ỏi

Giá trị văn hóa trong văn học nghệ thuật không phải là cái vỏ âm thanh trừu tượng mà có những biểu hiện cụ thể, sinh động, độc đáo trong mỗi tác phẩm ở cả hai phương diện nội dung và hình thức Văn hóa quy định sự lựa chọn đề tài, chủ

đề, tư tưởng của tác phẩm văn học Mỗi dân tộc có một tâm lý và một cảm quan, nhãn quan khác nhau Chính điều này tạo nên tính cách văn hóa khu biệt ở các dân tộc Cho nên, đề tài, chủ đề, tư tưởng trong văn học cũng nằm trong sự quy định của văn hóa Tiêu biểu nhất là đề tài chiến tranh trong văn học của chúng ta

Trang 18

Văn học Việt Nam có một n t độc đáo là không khai thác nhiều về mảng hiện thực chiến tranh, dẫu chiều dài lịch sử của dân tộc luôn đối diện với cuộc đấu tranh chống xâm lược Điều này được lí giải bởi do tính cách văn hóa của người Việt là trọng tình, yêu sự ổn định và có truyền thống liên kết để chống thiên tai và chống ngoại xâm nên văn học của ta d gắn chặt với lịch sử nhưng không khai thác trực tiếp đề tài, chủ đề lịch sử Chúng ta không có những bộ sử ký, tiểu thuyết đồ sộ miêu tả chiến tranh đến cả trăm chương như văn học Trung Quốc và phương Tây Văn học Việt Nam chỉ dựng lên không khí chiến tranh chứ ít khi miêu tả chiến

tranh Ngay đến các bộ sử ký như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký, Lam Sơn

thực lục,… không hề có lấy một chương để nói đến chiến tranh Ngay cả Hoàng Lê nhất thống chí bộ tiểu thuyết đồ sộ nhất của văn chương trung đại cũng chỉ kể lướt

các cuộc chiến và chú ý xây dựng nhân vật nhiều hơn Văn học Việt Nam chỉ đi sâu vào cảm giác của con người về chiến tranh và những hy sinh của con người trong chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc

Bên cạnh đó, văn hóa còn quy định về hình thức của tác phẩm văn học, cụ thể là thể loại Do điều kiện văn hóa mà mỗi dân tộc sẽ có sở trường riêng về các

thể loại cũng như phương thức biểu đạt trong tác phẩm

J W Goethe cho rằng mỗi dân tộc sẽ có những đặc trưng văn hóa khác nhau,

và những đặc trưng văn hóa này sẽ quy định đặc trưng nghệ thuật của dân tộc đó Chẳng hạn, dân tộc Anh có sở trường về kịch và đã giúp cho Shakespeare thành công rực rỡ Nhưng kịch lại không có ở văn học Iran mà văn học Iran chỉ phổ biến những thể loại cần có sự hư cấu nhiều như các bài thơ dài và truyện cổ tích, vì chế

độ quân chủ của Iran thời đó không khuyến khích trao đổi ngôn luận, mọi người đều

trọng sự yên ổn G W F Hegel cho rằng: “Người Trung Hoa không có sử thi dân

tộc Đó chính là vì tính chất các quan niệm khái quát về vũ trụ và về nhân sinh, cũng như các ý niệm tôn giáo của họ là nôm na” Tức là tư duy của người Trung

Quốc mang tính chất tư biện quá lớn, đầy mưu tính cộng với sự ràng buộc các lễ giáo quá sức chặt chẽ Điều này chỉ thuận lợi cho sự xuất hiện của tiểu thuyết,

truyện ngắn… Ông cho rằng người La Mã cũng không có sử thi Trong Thi học,

Quintus Horatius Flaccus đã nhận định, người La Mã bản chất du mục hiếu chiến còn đeo bám nên óc tư biện, tính toán quá lớn không thể có sử thi Sử thi chỉ có thể

ở Hy Lạp, Ấn Độ…Hay thơ phát triển ở phương Đông vì phương Đông hướng về tâm linh hơn cả và con người phương Đông trọng tính cộng đồng hơn phương Tây

Khi so sánh văn học trung đại nước ta với văn học Trung Quốc, ta thấy tiểu

thuyết không mấy phát triển Ta chỉ có một bộ tiểu thuyết trường thiên là Hoàng Lê

nhất thống chí của Ngô gia văn phái, còn lại là đoản thiên tiểu thuyết: Truyền kỳ

Trang 19

mạn lục của Nguyễn Dữ, Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm… Trong khi đó,

dòng thơ tự sự trữ tình lại phát triển đặc biệt là truyện thơ Nôm Dựa vào đặc trưng của tâm thức dân tộc để lí giải điều này: một là người Việt không thích những gì quá tầm cỡ, chỉ thích những gì nhỏ nhắn, tinh gọn; hai là người Việt không có óc tư biện quá lớn để khẳng định Đây chính là nguyên nhân của hiện tượng văn học trung đại Việt Nam ít xuất hiện tiểu thuyết

Nhìn nhận mối quan hệ từ văn học đến văn hóa không khó để chúng ta nhận

ra rằng văn học là tấm gương phản chiếu văn hoá, lưu giữ văn hóa bởi văn học biểu hiện văn hoá Trong tác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Cho nên có thể ví von rằng: nếu văn hóa là khuôn mặt của một dân tộc thì văn học chính đôi mắt trên khuôn mặt của dân tộc ấy

Thông qua tác phẩm văn học, nhà văn bằng vô thức hoặc ý thức đã tái hiện lại những hình ảnh văn hoá dân tộc mình Chẳng hạn, qua hệ hình tượng truyền thống mô phỏng thiên nhiên của mỗi nền văn học, ta sẽ thấy hiện lên phông nền văn hóa của một dân tộc nào đó Khi nghe đến hệ tín hiệu thẩm mỹ như: thanh lương trà, thảo nguyên m a xuân, đường bạch dương tuyết trắng, căn nhà gỗ… ta chỉ có thể nhớ đến văn học Nga đồ sộ Thiên nhiên trong thơ ca Nga, phải nhắc đến Esenin và Nicolais Rubxov Hai nhà thơ đã nói về tình yêu thiên nhiên Nga bằng tất cả tim của mình Với văn học Việt Nam, qua những vần thơ của Anh Thơ thì mưa xuân

vùng nông thôn Bắc bộ với hoa xoan xao xuyến: “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng/

Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi/ Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời” (Chiều xuân), hay khung cảnh Bắc bộ hiện ra

rõ n t trong thơ Nguyễn Khuyến: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc

thuyền câu bé tẻo teo”(Thu điếu)

Mặt khác, văn học còn phản ánh những phong tục – tập quán và lịch sử Mặt trời thi ca Nga – Puskin đã nhận định: mỗi dân tộc có phong tục – tập quán riêng,

lịch sử dân tộc riêng và “chế độ xã hội, tín ngưỡng tạo cho mỗi dân tộc một diện

mạo đặc biệt, diện mạo ấy ít hay nhiều đều được phản ánh trong tấm gương của thơ ca” Đến với văn học Nga, ta sẽ hiểu hơn về lễ hội mãn gặt, lễ hội ngày m a… Còn

văn học Nhật lại hay nhắc đến lễ hội hoa anh đào, lễ hội đón m a và tiễn m a… Trong tác phẩm G Amado, G G Marquez lại thường xuất hiện lễ hội Carnival đậm

chất Châu Mỹ

Việc thể hiện tính cách, tâm hồn nhân vật văn học cũng cho thấy văn học phản ánh đến văn hóa mỗi dân tộc sâu sắc đến thế nào.Trước hết, mỗi dân tộc sẽ xây dựng một hệ hình tượng nhân vật khác nhau Do mô thức văn hóa quy định mà

có hệ hình tượng nhân vật xuất hiện trong văn học dân tộc này nhưng không xuất

Trang 20

hiện trong văn học dân tộc khác Tuy văn học Việt Nam có đề cập đến đề tài thoát tục - thoát ly thực tại - nhưng chỉ dừng lại ở mức độ dấu ấn Và cũng chính vì vậy

mà học giả Trần Đình Hượu cho rằng văn học ta rất xa lạ với kiểu hình tượng nhân

vật mang “phạm tr hư ảo” như tiên, thần, phật Chỉ một số truyện ở Truyền kỳ mạn

lục của Nguyễn Dữ, bài thơ Hầu trời của Tàn Đà, Tiếng sáo Thiên Thai của Thế Lữ

là có nhắc đến tiên Nhưng những trường hợp này đều nằm trong hiện tượng sử dụng điển tích hoặc vay mượn ngữ liệu Trong khi đó, văn học Trung Quốc có truyền thống tạo nên hệ thống đề tài, chủ đề, tư tưởng thoát tục nên xuất hiện khá nhiều hình tượng nhân vật kỳ ảo như tiên tử, tiên ông, tiên đồng, tiên nữ… như

Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, Tây du ký của Ngô Thừa Ân, Liêu trai chí dị

của Bồ T ng Linh… Văn học Trung Quốc có Lưu Linh, có Lý Bạch… là tiên thoát tục giữa cuộc đời ô trọc, còn văn học Việt Nam chỉ có một vị tiên bị đày xuống vì

“thiên lương” của thiên hạ là Tản Đà

Chỉ một minh chứng ấy thôi, cũng có thể nói: nhân vật văn học bao giờ cũng phản ánh sinh động, đầy đủ tâm hồn, tính cách của dân tộc Hay nói cách khác, mô thức văn hóa của một dân tộc sẽ chi phối việc xây dựng tâm hồn, tính cách nhân vật văn học trong nền văn học của dân tộc đó

Như vậy, đỉnh cao giá trị văn hóa mà tác phẩm văn học mang lại phải là sự phản ánh đầy đủ và chính xác những đặc điểm tính cách – tâm lý văn hóa một dân tộc

Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng, biểu hiện ở lối sống, nếp sống, phong tục, tập quán ph hợp với điều kiện tự nhiên mà họ cư trú và cả vấn đề tâm

lý, tính cách dân tộc Văn hóa làm nên sự khu biệt về diện mạo của dân tộc này với dân tộc khác Văn hóa biểu hiện trong đời sống qua các mối quan hệ: con người với

tự nhiên, con người với con người, con người với xã hội Và tất cả đều được văn học phản ánh một cách rõ n t

Giữa văn học và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ mật thiết như vậy, nên việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết và có triển vọng Cùng với những cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học…, cách tiếp cận văn học bằng văn hoá học giúp chúng ta lý giải đa dạng hơn giá trị của tác phẩm nghệ thuật Những yếu tố văn hoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm Nó cũng có thể góp phần lý giải tâm lý sáng tác, thị hiếu độc giả và con đường phát triển nói chung của văn học

Văn hóa và văn học có mối quan hệ tương hổ, không thể tách rời Văn hóa là

cơ sở, nền tảng để văn học phát triển, ngược lại văn học mang trong mình chức năng định hướng và phát triển văn hóa Ngoài ra, văn học còn chứa đựng những giá

Trang 21

trị văn hóa, phản ánh văn hóa giúp con người nhận thức thế giới, khám phá cái đẹp, bồi dưỡng cái đẹp giúp con người thanh lọc tâm hồn Tiếp cận văn học của một đất nước cũng là cơ hội mở rộng vốn văn hóa về đất nước ấy Vì vậy, một nền văn học của một dân tộc nào đó muốn phát triển và trường tồn thì tất yếu nền văn học đó phải phục vụ cho việc lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc ấy

1.1.3 Văn hóa và văn học viết về Tây Nguyên

* Địa hình và đặc trưng văn hóa

Vùng Tây Nguyên – còn gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam – nằm bên sườn Đông của dãy Trường Sơn, bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ Bắc xuống Nam gồm: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Tây Nguyên cùng với Bắc Trung Bộ Việt Nam và Nam Trung Bộ Việt Nam hợp thành miền trung của Việt Nam Với hơn 20 tộc người cư trú, nói các ngôn ngữ thuộc hai dòng ngôn ngữ chính là Môn Khơ Me Ba Na, Xơ Đăng, M’Nông, Mạ, X’Tiêng…) và Nam Đảo Ê Đê, Gia Rai, Chu Ru…) Đây là các tộc người bản địa sinh sống từ rất lâu đời ở Tây Nguyên và có những n t tương đồng văn hóa Sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng là những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên tính thống nhất về đặc trưng văn hóa v ng

Tây Nguyên là v ng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakirivà Mondulkiri (Campuchia) Trong khi Kon Tum

có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế

Về mặt văn hóa, Tây Nguyên là một v ng đất hội tụ của nhiều sắc màu văn hoá, tâm linh bí ẩn Đó là những tài nguyên tinh thần hết sức phong phú và đa dạng

Do vấn đề văn hóa là một vấn đề rộng và cần có sức bao quát lớn, mà dung lượng của đề tài lại không cho phép nên chúng tôi chỉ điểm xuyết một vài điểm đặc sắc của văn hóa Tây Nguyên

Một đặc trưng lớn, cơ bản nhất quy định những sắc thái văn hóa lớn của cả vùng chính là nếp sống nương rẫy Chính nếp sống nương rẫy cùng với thời tiết không ổn định, trình độ lao động canh tác thấp đã tạo nên chất lượng cuộc sống không cao, có tính chất tạm bợ Mặt khác, với lối sống di dân nay đây mai đó của đồng bào Tây Nguyên kết hợp với cuộc sống phụ thuộc vào núi rừng đã góp phần rất lớn đến sự hình thành văn hóa của v ng đất này Đối với người dân nơi đây, môi trường sống của họ là rừng – hay rừng chính là điểm tựa cho cư dân cả về vật chất

Trang 22

lẫn tinh thần Rừng là nguyên bản của sự sống nên rừng cũng là cội nguồn của văn

hóa Ta có thể gọi văn hóa của họ là “văn hóa rừng” Chính “văn hóa rừng” ấy đã tạo nên “văn hóa tâm linh” Chất lượng cuộc sống không cao, phụ thuộc vào tự

nhiên nên đồng bào Tây Nguyên tìm đến với thần linh, tín ngưỡng như một điểm tựa tinh thần

Văn hóa Tây Nguyên đặc sắc với kho tàng văn học truyền miệng với nhiều thể loại phong phú, tiêu biểu là các trường ca - sử thi với hàng trăm tác phẩm được trình diễn trong sinh hoạt cộng đồng Tây Nguyên được xem là một trong những cái

nôi sử thi của Việt Nam, và cũng là v ng sử thi quý hiếm trên thế giới Những khan của người Ê Đê, hmon của người Ba Na, khan hay hri của người Gia Rai, ya liau của người Mạ, hmoan của người Xơ Đăng,… đã nổi tiếng ở trong và ngoài nước

Tuy chưa được sưu tầm hết, nhiều tác phẩm được giới nghiên cứu đánh giá cao như:

Đía Đon, Đăm Noi (Ba Na), H’Bia Drang (Gia Rai), Đăm san, Đăm Đi Ê Đê), Đăm Di đi săn, Xinh Nhã Gia Rai, Ê Đê) Những sử thi ấy đã kể (theo kể Khan) về

những cuộc giao tranh thời xưa giữa các t trưởng, hoặc thể hiện cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, chống thần linh, chống các thế lực hung bạo đồng thời phản ánh nhiều khía cạnh trong cuộc sống của đồng bào miền cao: cách tổ chức và những thiết chế xã hội, về lễ hội, về nghi thức tôn giáo, về sản xuất, về phong tục tập

quán,…

Một nét khác có ý nghĩa quan trọng nhất trong phổ hệ văn hóa truyền thống của đồng bào Tây Nguyên chính là cồng chiêng Cồng chiêng là một loại phương tiện diễn tấu nghệ thuật đắc lực, có tính phổ biến như một n t văn hóa chung nổi bật các sắc tộc Tây Nguyên Nếu người Mường ở Hòa Bình chỉ gõ cồng thì các sắc tộc

ở Tây Nguyên đều dùng cả cồng lẫn chiêng Cồng chiêng Tây Nguyên gắn liền chủ yếu với các nghi thức trong lễ hội, với vũ đạo, nhưng cũng có khi được sử dụng lúc rảnh rỗi vui chơi hoặc đón tiếp khách Hầu như mỗi gia đình đều có một vài bộ cồng chiêng, những nhà khá giả và giàu có sắm được nhiều hơn để tích lũy vì nó có giá trị quý giá trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền

Với tư cách là một nhạc cụ nghi lễ phong tục là chính, cồng chiêng được xem là ngôn ngữ giao tiếp hàng đầu của con người với thần thánh Trong hầu hết các dịp lễ hội theo tập tục của sắc tộc những chiếc cồng chiêng lại đóng vai trò là một chiếc cầu nối thiêng liêng giữa con người và đấng siêu nhiên Ứng với mỗi hoàn cảnh ấy, lại có những bài bản khác nhau Nói cách khác, tính chất âm nhạc cồng chiêng tùy thuộc vào nội dung của lễ hội mà thể hiện

Tây Nguyên được xem là cái nôi văn hóa - v ng đất lễ hội đặc sắc của Việt Nam Ở Tây Nguyên, các học giả đã liệt kê ra được hàng trăm lễ hội lớn nhỏ khác

Trang 23

nhau gắn với nghi lễ nông nghiệp: lễ hội đâm trâu, lễ bỏ mả, mừng lúa mới, lễ cầu mưa, mừng sức khỏe… Tây Nguyên mang bản sắc văn hóa độc đáo hình thành và

phát triển chủ yếu trên cơ sở của nền “văn minh nương rẫy” Các lễ hội thường gắn

liền với những hoạt động văn hóa truyền thống, mang ý nghĩa tâm linh và nhân sinh sâu sắc

Xét về tâm linh, người Tây Nguyên luôn tôn thờ các vị thần (Yang): thần nước, thần núi, thần cây, thần lúa… Họ đặc biệt coi trọng thần lúa, thần nước bởi theo họ hạt lúa được sinh ra từ nương rẫy, là sản phẩm được các thần ban phát để nuôi sống con người Do vậy, hằng năm sau khi thu hoạch, người ta tổ chức lễ ăn cơm mới, vừa để tạ ơn thần vừa để vui mừng chung hưởng kết quả của một quá trình lao động nhọc nhằn, vất vả Tuy cách tổ chức cùng vài nghi thức tiến hành của từng tộc người có những n t khác nhau, nhưng đều mang chung một ý nghĩa: tạ ơn thần sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất chính của năm

Với bề dày lịch sử của truyền thống, với những sắc màu văn hóa bí ẩn ấy, Tây Nguyên đã thu hút biết bao nhiêu sự chú ý của bạn bè gần xa Bên cạnh các lễ hội, vẻ đẹp của con người Tây Nguyên cũng góp phần vào sự quyến rũ ấy

Con người Tây Nguyên thường toát lên một vẻ đẹp cường tráng, trẻ trung, khỏe khoắn Bởi lẽ, họ tự chủ trong tự nhiên, hài hòa với tự nhiên Họ sống với nền kinh tế tự cung, tự cấp, tự trồng bông dệt vải, làm rẫy, tắm sông Cơ thể họ toát lên

vẻ đẹp rắn rỏi, mạnh mẽ với tâm hồn yêu đời của những con người sống giữa núi rừng đại ngàn Đó không chỉ là vẻ đẹp của thân thể, mà còn là vẻ đẹp của tinh thần

Vẻ đẹp tinh thần ấy toát ra từ lời ăn tiếng nói, từ ánh mắt, nụ cười cho đến suy nghĩ, lối sống Họ là những người dân cao nguyên hoang sơ, chất phác giữa tự nhiên Con

người Tây nguyên là một vấn đề lý thú cần tiếp tục khám phá, nghiên cứu

* Văn học viết về Tây Nguyên

Tây Nguyên với vẻ đẹp hoang sơ, huyền bí đã khơi gợi cảm hứng sáng tác của nhiều nhà văn không chỉ trong thời chiến chống Pháp, Mỹ mà cả trong thời bình, không chỉ những người con của núi rừng mà cả những người con ở miền xuôi: Nguyên Ngọc, Vũ Hạnh, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy, Y Điêng, H’Linh Niê… Tây Nguyên đã hấp dẫn họ trong những năm kháng chiến Chính sáng tác của những nhà văn là chiếc cầu nối để người đọc tìm đến với mảnh đất huyền thoại này, đồng thời khẳng định giá trị văn hóa của Tây Nguyên

Chính sự kì lạ của văn hóa và con người, vẻ đẹp h ng vĩ, nên thơ của thiên nhiên Tây Nguyên đã có sức hút kì lạ đối với các nhà văn Họ bị cuốn hút khi khám phá vẻ đẹp hoang sơ ấy để đưa lên trang giấy những những n t độc đáo nhất của

v ng đất huyền thoại này Chúng ta có thể kể ra đây một vài nhà văn đã canh cánh

Trang 24

bên lòng về miền đất Tây Nguyên như duyên nợ

Đầu tiên, phải kể đến những người con của mảnh đất Tây Nguyên viết về

v ng đất mẹ như: Y Điêng, H’Linh Niê…Những cây bút trẻ dân tộc thiểu số đã đem lại cho văn xuôi Tây Nguyên một cách cảm nhận chân thực về cuộc sống, con người vùng cao

Với nhà văn Y Điêng – người con của linh hồn đại ngàn Tây Nguyên - được đánh giá là một cây cổ thụ, là một già làng đáng kính giữa làng văn hóa – văn học Tây Nguyên Ông được giới nghiên cứu đánh giá cao bởi lẽ ông là nhà văn Ê Đê đầu tiên trong đội ngũ sáng tác văn học ít người ở Việt Nam Theo nhà báo Phong Lan, Y Điêng là người Ê Đê đầu tiên vượt qua khỏi văn học dân gian truyền miệng

để bước tới văn học viết Ông cũng là nhà văn Ê Đê đầu tiên nhận được giải thưởng

Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật cao quý Một số tác phẩm của ông còn được

nhớ nhiều là: truyện ngắn Ông già Kơ Rao; truyện vừa Như cánh chim Kway; truyện dài Hờ Giang, Drai Hling đi về phía sáng, Trung đội người Ba Na; tiểu thuyết Chuyện trên bờ sông Hinh Thấm đẫm trong từng trang viết của ông là những

sợi tơ văn óng ánh sắc màu văn hóa của Tây Nguyên

Y Điêng đã từng khẳng định, tác phẩm mà ông tâm đắc nhất là Chuyện trên

bờ sông Hinh Nội dung tác phẩm này ghi lại cuộc sống của những người dân Ê Đê

trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Bối cảnh tác phẩm là một

xã hội còn mang nặng những tập tục, những tín ngưỡng của lối sống cộng đồng, bị

sự tác động phá hoại của chiến tranh xâm lược, từ đó nói lên ý thức bảo vệ sự tồn vong của dân tộc, khẳng định sức sống và bản lĩnh tự chủ của họ

Tuy nhiên, làm nên giá trị của tiểu thuyết là những giá trị văn hóa ở chiều sâu Mối tình của đôi trai gái người Ê Đê là Hơ Linh và Y Thoa diễn ra bên bờ sông Hinh được chọn làm cốt truyện như là hồi ức của chính người viết về những kỷ niệm xa xôi của dân tộc mình, những kỷ niệm của chính đời mình, về tuổi hai mươi tưởng như đã khuất nẻo nhưng vẫn còn lưu giữ lại những gì trong sáng nhất, đẹp đẽ nhất để làm nên cuộc sống hôm nay Bằng lối viết kể chuyện dung dị, hồn nhiên,

trong trẻo như mạch suối rừng, Chuyện bên bờ sông Hinh của Y Điêng đã hấp dẫn

bạn đọc đến những trang cuối cùng

Nếu Y Điêng đại diện cho thế hệ nhà văn đi trước viết về văn hóa và con người Tây Nguyên thì H’Linh Nie đại diện cho những cây bút trẻ của Tây Nguyên Nói như ngôn ngữ của Nguyễn Trung Thành, H’Linh Nie là một cây xà nu vừa trưởng thành trên mảnh đất màu mỡ huyền thoại ấy Chị đến với văn chương khá muộn màng nhưng đó là một sự sắp xếp có tính định mệnh Sự trẻ trung, sự năng động và xốc vác, cũng như sự sắc sảo của chị thể hiện ở việc chị luôn có một cái

Trang 25

nhìn phản biện khi lựa chọn thể tài bút ký Tác phẩm của chị luôn đặt ra một câu hỏi đau đớn – không chỉ cho Tây Nguyên mà còn cho cả Việt Nam: số phận nền

Folklore của Tây Nguyên và của chúng ta sẽ đi về đâu? Những bài viết như Đi về

đâu hỡi thổ cẩm Tây Nguyên?, Folklore Tây Nguyên - độc đáo và giàu có - còn chăng?, Mất, còn của văn hóa dân gian Tây Nguyên? Ngoài ra, truyện của H’Linh

Niê thể hiện sự vật lộn giằng co giữa cái cũ và cái mới đang diễn ra ở Tây Nguyên Tác phẩm của chị còn có sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa chất sử thi và huyền thoại

để nói về con người và cuộc sống ở Tây Nguyên (Hoa Pơ Lang)

Bên cạnh đó, chị có khoảng trên dưới hai mươi truyện ngắn về các dân tộc Ê

Đê, M’Nông, Gia Rai, Ba Na… Trong thế giới truyện ngắn của H’Linh Nie, cuộc sống được phản ánh như những gì vốn có, những mảng sáng - tối tương phản, xuất phát từ một cái nhìn toàn diện, khách quan Là một nữ trí thức dân tộc tiến bộ, tác giả không ca ngợi một chiều bản sắc văn hoá của dân tộc mình, càng không đánh giá phiến diện hiện thực khách quan mà con mắt phụ nữ của chị như nhìn thấy nét đẹp run rẩy của lá rừng mùa xuân, nhìn thấy ánh mắt của chàng trai Tây Nguyên khi yêu, nhìn thấy sự can trường của con người… Một số truyện ngắn tiêu biểu của

H’Linh Nie như: Gió đỏ, Con trai của rừng xanu, Cà phê vẫn nở hoa trắng, Pơ Thi

mênh mang mùa gió… đã thể hiện tinh tế và sâu sắc thế giới tâm hồn con người

Mỗi truyện ngắn gửi gắm một thông điệp Đó có thể là thông điệp của tình yêu như

trong Đêm Dliê ya ngàn xanh, thông điệp về bảo tồn văn hoá truyền thống trong Long lanh giếng nước buôn Nui, Pơ Thi mênh mang mùa gió… Chính vì vậy,

những câu chuyện của H’Linh Nie chân thật như hình ảnh người Tây Nguyên đang sừng sững giữa trời

Tuy nhiên, những nhà văn người dân tộc thiểu số do hạn chế về lí luận, thực tiễn sáng tác cũng như khó khăn về điều kiện sống, làm việc nên tác phẩm của họ không tránh khỏi một số khiếm khuyết nhất định như nhận xét của Nguyên Ngọc:

“… thoáng thấy họ đề cập đến nhưng chưa thật sự xới ra một cách nhìn rành rọt và

bàn bạc đến nơi đến chốn” [50, tr 5]

Có những người con miền xuôi luôn dành tình cảm yêu mến đặc biệt đối với mảnh đất Tây Nguyên huyền thoại này Nguyên Ngọc được xem là người đầu tiên gieo hạt giống văn học viết về mảnh đất Tây Nguyên, là nhà văn thâm canh, cày xới

trên mảnh đất này khá kĩ Đã có lần Nguyên Ngọc tâm sự: “Nói đến Tây Nguyên

người ta thường hay nghĩ, nói ngay đến thiên nhiên, núi non, rừng rú, cảnh quang

lạ lùng của nó Tất nhiên cái đó cũng đúng và cũng tác động đến người mới bước chân đến đây Nhưng còn quan trọng hơn nhiều, theo tôi là nền văn hóa của nó Các dân tộc Tây Nguyên đã “cấy trồng” trên đất đai núi rừng của mình một nền

Trang 26

văn hóa lớn, cực kì độc đáo và đặc sắc, lâu dài và bền vững” [29, tr.9] Như vậy,

Nguyên Ngọc đã khẳng định, chính yếu tố văn hóa mới là nét mới lạ, độc đáo làm nên sức hấp dẫn để ông cũng như những nhà văn khác khám phá

Cuộc kháng chiến hay cũng là số phận đã đưa Nguyên Ngọc đến với Tây Nguyên h ng vĩ để từ đó khởi đầu một văn nghiệp gắn với một thế giới đại ngàn riêng theo quan niệm của ông - một đại ngàn với những con người, sự tích phi thường Ở hai mươi tư tuổi đời, Nguyên Ngọc đã xuất hiện một cách ấn tượng với

cuốn tiểu thuyết Đất nước đứng lên (cuối 1955) Đây là tiểu thuyết đầu tiên, và

cũng là tác phẩm đầu tay của Nguyên Ngọc Chính tác phẩm này đã đưa ông tới giải cao nhất, Giải nhất - Giải thưởng Văn nghệ 1954 - 1955 của Hội Văn nghệ Việt

Nam về văn xuôi Mười năm sau, năm 1965, truyện ngắn Rừng xà nu ra mắt bạn

đọc Truyện được trao Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu, một giải thưởng danh giá hồi đó dành cho các tác phẩm văn học nghệ thuật và văn nghệ sỹ bộ phận Văn nghệ Giải phóng miền Nam Việt Hai tác phẩm viết ở hai thời kỳ và viết về hai cuộc chiến khác nhau nhưng đều viết về Tây Nguyên anh h ng trên cơ sở lấy những con người thật, sự việc thật làm chất liệu sáng tạo hình tượng Nói thế để thấy trong mạch văn của Nguyên Ngọc, Tây Nguyên luôn luôn chiếm vị trí nổi bật, là điểm nhấn quan trọng ở bất kỳ thể loại nào, d đó là tiểu thuyết, truyện ngắn, ký hoặc tạp văn

Hơn nửa thế kỷ qua, Tây Nguyên đối với Nguyên Ngọc là “thứ vàng mười”

để khai thác, sáng tạo, hình thành một phong cách nhà văn không giống bất kỳ ai,

không lẫn với ai Là một người gắn bó lâu dài với Tây Nguyên và gần suốt cuộc đời

đã tự coi mình như một đứa con của v ng đất anh h ng và giàu tình nghĩa này, Nguyên Ngọc hướng đến Tây Nguyên, viết về Tây Nguyên phải chăng như một sự tri ân, trả nghĩa và cũng là trách nhiệm Trách nhiệm của một công dân, trách nhiệm của một nhà văn Cũng vì vậy, có thể nói Nguyên Ngọc còn viết vì Tây Nguyên

Sau Nguyên Ngọc, người viết hay nhất về Tây Nguyên chính là Trung Trung Đỉnh Sáng tác của Trung Trung Đỉnh là đối tượng chính của luận văn nên chúng tôi

sẽ phân tích kĩ hơn những đứa con tinh thần của ông viết vê Tây Nguyên ở những phần sau

Việc thể hiện văn hóa v ng miền trong văn học không chỉ đòi hỏi nhà văn phải có tâm huyết, tình cảm sâu nặng với v ng đất ấy, có vốn sống phong phú mà còn phải thực sự tài năng mới để lại những tác phẩm có giá trị Với hai nguồn nhà văn – một nguồn của người dân tộc thiểu số, một nguồn của người Kinh – đã tạo nên gương mặt đa dạng của văn xuôi viết về Tây Nguyên

Như vậy, Tây Nguyên là một v ng văn hóa đặc sắc Đó là v ng đất của những lễ hội, của những nghi lễ cổ xưa có giá trị cao, đó còn là v ng đất sử thi của

Trang 27

Việt Nam và của thế giới, bản thân con người Tây Nguyên cũng là một n t đẹp của văn hóa Chính những điều này đã khiến Tây Nguyên trở thành “dáng kiều thơm” trong tâm tư của bao nhiêu nhà văn Tây Nguyên đã đi vào văn học như một vùng đất của những huyền thoại Tác phẩm của Y Điêng, H’Linh Nie, Nguyên Ngọc, Trung Trung Đỉnh… là những minh chứng rõ nét nhất

1.2 Sáng tác của Trung Trung Đỉnh về Tây Nguyên

1.2.1 Vài nét về tác giả Trung Trung Đỉnh

Trung Trung Đỉnh tên thật Phạm Trung Đỉnh, sinh ngày 21 tháng 09 năm

1949 trong một gia đình nông dân, quê ở xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng Là người con của làng Sưa ven bờ sông Hóa, lớn lên trong cảnh đất nước có giặc Mỹ xâm lược, Phạm Trung Đỉnh học hết phổ thông đã vội vàng khoác

ba lô vào Nam (Tây Nguyên) chiến đấu theo tiếng gọi thiết tha của non sông, đất nước

Hơn mười năm hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên - thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước - nên vốn sống của Trung Trung Đỉnh về v ng đất này rất phong phú Trung Trung Đỉnh thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành từ sau năm 1975 Trước khi trở thành nhà văn, ông đã từng làm đội trưởng đội chiếu bóng lưu động ở Tây Nguyên Sau đó, Trung Trung Đỉnh được nhà văn Nguyễn Chí Trung đưa về trại sáng tác… Trung Trung Đỉnh là hội viên Hội nhà văn Việt Nam (1984) Ngoài viết văn, ông còn làm thơ, viết kịch bản phim

Trung Trung Đỉnh mê văn chương từ nhỏ Xuất phát điểm từ việc đam mê

văn chương và ham đọc sách, đến khi vào bộ đội đánh Mỹ lại càng mê hơn “Mê đọc

sách và nuôi ước mơ viễn vông ấy, cứ thấy nhà văn, nhà thơ ở đâu là cuống cuồng

chạy theo chiêm ngưỡng họ” [70, tr.1] Ngay cả, trong hoàn cảnh chiến tranh khắc

nghiệt, “nhà văn kiếm được quyển sổ nào là mải miết ghi chép” [85] Sau đó, ông

được sống và làm việc với các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như: Phan Tứ, Thu Bồn, Nguyên Ngọc, Thanh Thảo… trong thời gian ở trại viết Quân khu V, thời gian này

đã rèn luyện cho ngòi bút Trung Trung Đỉnh thêm dạn dày

Trong một lần đánh địch năm 1971, Phạm Trung Đỉnh tình cờ nhặt được cái máy đánh chữ kèm hai cuộn giấy giặc bỏ lại Năng khiếu cùng với sự đam mê luôn tồn tại trong con người Trung Trung Đỉnh, khi gặp điều kiện thuận lợi thì năng khiếu ấy lập tức được nảy nở Truyện ngắn đầu tiên được nhà văn lấy cảm hứng từ một câu chuyện “phịa” khá lý thú trong những tháng năm c ng đồng đội sống chiến

đấu với mảnh đất cao nguyên đầy khói lửa chiến tranh với nhan đề Những khấc

coong chung Chuyện “phịa” này dựa trên thực tế một cuộc họp tìm cách đánh địch

của đơn vị Trong truyện, nhân vật chính là BLét làm tiểu đội trưởng của một tổ du kích đánh với Sư Đoàn không vận số một của Mỹ Anh đã nghĩ ra cách đánh: đào

Trang 28

hầm bí mật ngay giữa đường hành quân của địch vì bọn địch không bao giờ bỏ bom giữa đường hành quân của chúng Trận đánh thắng lớn vì tạo được yếu tố bất ngờ Thông minh, táo bạo hơn, BL t leo lên cây khoọc lớn, phục kích từ trên cao, đợi địch đến gần, phóng B.40 xuống… Anh c ng đồng đội đã bất ngờ tấn công cả một đơn vị của địch đang hành quân, diệt được cả xe tăng và khá nhiều binh lính… Tác phẩm được tòa soạn văn nghệ quân giải phóng cho in ngay vào số tạp chí đầu năm

1972 Và cũng từ khi đó, nhà văn Phạm Trung Đỉnh bỗng dưng trở thành…Trung Trung Đỉnh Nhà văn tâm sự: sau này thấy cái tên ấy nghe cũng giòn giã và cũng là một kỷ niệm - do trong lúc đánh máy nhầm - nên tôi lấy luôn làm bút danh…) [23,

tr.10] Được in truyện ngắn đầu tay, anh lính trẻ chưa kịp mừng đã lo vì “câu

chuyện phịa” ấy bị cấp trên về điều tra thực hư

Trung Trung Đỉnh đến với văn chương bằng văn xuôi nhưng sau đó ông tiếp tục sáng tác không phải văn xuôi mà là thử sức với thể loại thơ và trường ca Nhưng

càng tìm đến với thơ ông “càng thấy mình …hồn nhiên kém” nên ông bèn chùn

bước và chuyển hẳn sang lĩnh vực sáng tác văn xuôi

Văn xuôi ông viết về “những kí ức Tây Nguyên”, nhưng cứ thấy “thấp

thoáng bóng dáng của người và đất làng Sưa”, vừa viết đề tài chiến tranh vừa viết

đề tài cuộc sống đương đại Đúng như ông nói: “Với tôi, nếu viết hoàn toàn thời

bình cũng không được, mà hoàn toàn về chiến tranh cũng không ổn” [23, tr.13]

Hơn ba mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có khoảng 16 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, tự truyện đặc biệt thành công

ở hai thể loại: tiểu thuyết và truyện ngắn Với những “đứa con tinh thần” ấy cũng đủ chứng tỏ Trung Trung Đỉnh có một chỗ đứng nhất định trong làng văn học hiện đại Việt Nam

Tên tuổi của Trung Trung Đỉnh gắn liền với những tác phẩm viết về mãnh

đất Tây Nguyên trong quá khứ: Lạc rừng, Lính trận, Ngược chiều cái chết, Chớp

trên đỉnh KonTừng, Tây Nguyên nỗi nhớ làng rừng… Ngoài những tác phẩm trên,

ông còn viết nhiều tác phẩm về đời sống đương đại: Ngõ lỗ thủng; Tiễn biệt những

ngày buồn; Sống khó hơn là chết Đề tài nào ông cũng gặt hái những thành công

nhất định

Tác phẩm chính:

07 cuốn tiểu thuyết: Những người không chịu thiệt thòi (1984), Ngược chiều

cái chết (1989), Tiễn biệt những ngày buồn (1990), Ngõ lỗ thủng (1990), Lạc rừng

(1999), Sống khó hơn là chết (2008), Lính trận (2010)

07 tập truyện ngắn: Thung lũng Đắc hoa (in chung với Thanh Quế, 1979),

Người trong cuộc (1980), Đêm nguyệt thực (1982), Bậc cao thủ (1994), Truyền

Trang 29

thuyết một tình yêu (2001), Gốc đá (2004), Cuộc chia ly của những vì sao (2007)

02 Tập bút kí: Tây nguyên - nỗi nhớ làng rừng (2007), Tây Nguyên của tôi (2007) Trong những sáng tác trên, Lạc rừng là cuốn tiểu thuyết thành công hơn

mong đợi của nhà văn Trung Trung Đỉnh Ông đoạt liền hai giải thưởng, một của

Bộ Quốc phòng - Giải thưởng văn học nghệ thuật về đề tài lực lượng vũ trang chiến tranh cách mạng và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc (1994 - 1999); một trong cuộc thi tiểu thuyết của Hội nhà văn Việt Nam (1998 - 2000) Sau hơn mười năm, đến nay tác phẩm vẫn giữ gần như nguyên vẹn giá trị và sức thu hút đối với nhiều thế hệ bạn đọc

1.2.2 Trung Trung Đỉnh – nhà văn “duyên nợ” với Tây Nguyên

Trong hoạt động văn chương, mỗi nhà văn thường chọn cho mình một vùng đất thích hợp với sở trường để “cày cấy gieo mầm” những đứa con tinh thần của mình Với Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam đã trải trang sách của mình trên mảnh đất Nam Bộ, Tô Hoài tìm đến với mảnh đất Tây Bắc… Nhưng với Trung Trung Đỉnh lại chọn mảnh đất Tây Nguyên huyền bí, tươi đẹp

Nhắc đến văn học viết về Tây Nguyên trước 1975, người ta sẽ nghĩ ngay đến Nguyên Ngọc, nhưng từ sau năm 1975 đến nay, Trung Trung Đỉnh là nhà văn thành

công nhất khi viết về v ng đất này Vậy “mối lương duyên” nào đưa Trung Trung

Đỉnh đến với Tây Nguyên? Điều gì đã làm nên sự thành danh của ông khi viết về

v ng đất hoang sơ, h ng vĩ ấy?

“Duyên cơ” để Trung Trung Đỉnh gắn bó với Tây Nguyên chính là cuộc chiến tranh – định mệnh của dân tộc Việt Chàng thanh niên miền Bắc hăm hở tham

gia kháng chiến ở chiến trường miền Nam: “Vì miền Nam ruột thịt, vì thống nhất

nước nhà - ngày nào chúng tôi cũng nói tới điều đó, và điều đó luôn thôi thúc chúng tôi” [27, tr.46] Nhà văn đã có lần kể lại “duyên nợ” của mình với người dân và núi

rừng Tây Nguyên: “Tôi là lính chủ lực, được huấn luyện chính qui để vào Nam

chiến đấu Đơn vị tôi hành quân đến vùng rừng Quảng Nam thì tôi bị sốt rét, phải đưa vào bệnh viện đường dây 559 điều trị Ra viện tôi về trạm giao liên, định bụng

sẽ nghe ngóng tin tức đơn vị, và nếu có thể thì đuổi theo, nhưng được một anh cán

bộ đường dây bảo, đơn vị cậu vào tuốt trong Nam Bộ rồi, phân tán hết rồi, chịu khó chờ sẽ có đơn vị khác đón Thế là tôi thành lính thu dung May mà tôi không phải chờ lâu, vào một buổi sáng tôi thấy có một đồng chí cán bộ đeo cái ba lô rất to, bên hông khẩu K59 bé tẹo rất oai vệ Bên cạnh anh là một đồng chí công vụ người dân tộc rất to khoẻ và đẹp mã, đeo một cái ba lô nặng trịch Anh cán bộ ấy đứng lên một cái ụ mối, huơ cái ba – toong một vòng trên đầu, nói lớn: Gia Lai gạo trắng nước trong Anh nào muốn về Gia Lai chiến đấu thì xếp hàng theo tôi đây! ” [77] Sau

khi vào Gia Lai, ông được điều về các đơn vị: trinh sát, thông tin, trợ chiến của tỉnh

Trang 30

đội Ông được điều về Huyện đội Khu 8 An Khê) và được một đồng chí giao liên người Ba Na dẫn đường Thực ra đó là một tổ công tác cánh Bắc đường 19 của huyện đội Ở đây, biết bao nhiêu chuyện vui buồn của đội công tác cánh Bắc đường

đã hằn sâu vào kí ức của ông Những năm tháng sống và chiến đấu ở Huyện đội Khu 8 là những dấu ấn đậm nhất về cuộc chiến tranh nhân dân, nhiều kỷ niệm nhất đối với ông Huyện đội đó sống và chiến đấu chung với làng Đê Chơ Rang - một ngôi làng Ba Na nguyên sơ - tiêu biểu cho bản sắc văn hóa dân tộc Ba Na ở Tây Nguyên Ở đây, ông được học tiếng Ba Na và học những việc làm của một người đàn ông Ba Na Ở An Khê từ 1969 đến 1972, năm 1973 ông về Huyện đội Khu 10 Anh hùng Núp lúc ấy là Bí thư Huyện ủy Khu 10 Và kể từ đó, ông gắn bó với miền đất thân thương này không k m gì quê hương Như vậy, tham gia chiến đấu chống

Mỹ như là cái “duyên” để Trung Trung Đỉnh đến với Tây Nguyên

Mười năm gắn bó với Tây Nguyên đã mài giũa cho cây bút của Trung Trung Đỉnh trở nên sắc bén khi viết về cuộc sống, thiên nhiên, con người nơi đây với tình yêu chân thành và sự gắn bó sâu sắc Những gương mặt thân quen của những cô gái

Ê Đê, Ba Na… những tình cảm ân tình của những người mẹ, người chị, những lời

ăn tiếng nói hằng ngày, những phong tục tập quán, những lễ hội văn hóa Tây Nguyên đi vào sáng tác của Trung Trung Đỉnh một cách tự nhiên và sống động Chính vì vậy, sáng tác của ông mang một phong cách rất riêng không lẫn vào ai được

Dành tình cảm sâu nặng cho Tây Nguyên, nên dù ngồi viết ở đâu thì Trung Trung Đỉnh cũng tạo ra được những trang sách chân thật, đầy cảm xúc như chắt ra

từ máu thịt của mình khi hướng đến mảnh đất này Trong văn của Trung Trung Đỉnh còn ám ảnh nhiều về những ngày bom đạn ở Trường Sơn, Tây Nguyên ấy Đối

với nhà văn “có nhiều đêm chiêm bao mơ bằng tiếng Ba Na” này xem viết văn là

“thứ lao động khổ sai, tự nguyện”, viết như một sự thôi thúc, viết để “trả nợ” cho

cuộc đời, “trả nợ” cho những tháng năm tuổi trẻ đã qua Từ một người con của làng

quê ven bờ sông Hóa êm đềm thuở nào giờ đã trở thành người con của Tây Nguyên,

“già làng Tây Nguyên” từ trong máu thịt thật rồi Bởi vì “khi từ rừng bước ra, anh

lính Phạm Trung Đỉnh giống y hệt một chàng trai Bahnar Da đen Tóc cũng xoăn Không những nói tiếng Bahnar giỏi mà còn biết… cúng bằng tiếng Ba Na” Đỗ Tiến

Thụy) Có khi ông tâm sự: “Ở nơi ấy, tôi có bà con thân thuộc, anh em bè bạn và

đồng đội Tôi luôn thầm hứa là sẽ cố gắng hết sức mình “viết được một cái gì đấy”

về quê hương” [19, tr.7] để “trả nợ” d biết rằng món nợ này không bao giờ trả

hết…Tây Nguyên ngẫu nhiên đã trở thành miền quê thứ hai, miền đất gắn bó với

ông và chắp cánh cho sự nghiệp văn chương của ông bay cao, bay xa

Nhìn lại sự nghiệp văn chương của Trung Trung Đỉnh, người đọc nhận thấy

Trang 31

văn của ông luôn trĩu nặng những trăn trở về cuộc đời, về phận người và có sức ám

ảnh kì lạ Thung lũng Đắc Hoa là tập truyện đầu tiên được xuất bản năm 1979 của

Trung Trung Đỉnh Tập truyện đã chứa đựng những tình cảm ấm áp của nhà văn đối với mảnh đất Tây Nguyên mà ông đã gắn bó suốt thời trai trẻ Từ đây, cây bút Trung Trung Đỉnh trưởng thành hơn và sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị khác

Sau Thung lũng Đắc Hoa, nhiều tập truyện ngắn khác được xuất bản và tạo

nên tiếng vang lớn trên diễn đàn văn học viết về Tây Nguyên gắn liền với thể loại

truyện ngắn như: Người trong cuộc (1980), Đêm nguyệt thực (1982), Những người

không chịu thiệt thòi 1983)…Qua các tập truyện này, người đọc như sững sờ trước

một thế giới Tây Nguyên vừa chân thực vừa huyền bí vừa hoang sơ đến lạ lùng Cuộc sống, phong tục và cả lời ăn tiếng nói của các dân tộc Gia Rai, Ba Na… hiện

ra rõ nét qua từng con chữ của nhà văn

Khi đã thành công với thể loại truyện ngắn, Trung Trung Đỉnh bắt tay vào thử sức mình ở thể loại tiểu thuyết Không chỉ dừng lại ở đề tài viết về mảnh đất Tây Nguyên trong chiến đấu mà Trung Trung Đỉnh đã mở rộng đề tài, ông đề cập đến những vẫn đề tồn tại của xã hội Cuộc chiến đã qua đi, nước ta “trở mình” xây dựng cuộc sống mới, cuộc sống chuyển tiếp từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị

trường với bao sự đổi thay, với bao mặt trái còn tồn tại Tiểu thuyết Ngõ lỗ thủng (1990) viết về những vấn đề ấy Có người thắc mắc về hình ảnh “ngõ thủng”, nhà văn tâm sự: “Nó chỉ đơn giản là cái ngõ khác ở cái xứ sở này Nó ở gần phố Vân

Hồ 3, nơi tôi và rất nhiều bạn văn của tôi sống ở đó trong những ngày gian khổ của đất nước Bản thân ngõ đó không có cái tên, nhưng những người đi tập thể dục đã khoét một lỗ thủng để đi vào công viên Thống Nhất (…) Tôi gọi nó là “ngõ lỗ thủng” đúng như thực tế vốn có của nó mà thôi” [78] Thực ra viết Ngõ lỗ thủng,

ông muốn đưa ra một thông điệp về “lỗ thủng” của nhân cách, của trí thức, của văn

hóa đang len lỏi trong từng con người Bút lực của Trung Trung Đỉnh ngày càng

sung sức hơn, cũng trong năm ấy, Trung Trung Đỉnh lại cho ra đời tiểu thuyết Tiễn

biệt những ngày buồn (1990) Tiễn biệt những ngày buồn viết về những con người -

những người lính trở về sau cuộc chiến - chỉ tin vào những tình cảm trong sáng Vừa thoát ra cuộc chiến với giặc Mỹ họ phải lao vào một cuộc chiến khác, một cuộc chiến vô cùng phức tạp mà họ không hình dung được hết diện mạo của nó, đó là sự hội nhập với đời thường, với công việc, với gia đình, với những mối quan hệ xã hội

muôn màu muôn vẻ Đối diện với cuộc sống “mới” họ như đi vào ngõ cụt Nói Tiễn

biệt những ngày buồn nhưng thực chất nhà văn lại muốn lưu giữ nó, gặm nhấm nó

như một vết sẹo trong tâm hồn, trong kí ức Những điều nhà văn trăn trở trong hai tiểu thuyết trên cũng chính là điều mà nhà văn Ma Văn Kháng quan tâm Chính nhà

Trang 32

văn Ma Văn Kháng đã viết thư cho Trung Trung Đỉnh với lời lẽ mộc mạc, giản dị,

chân thành “Tôi đọc xong cuốn sách của Đỉnh rồi Buồn và cả tuần không làm gì

được nên viết thư cho Đỉnh…” [74] Hai tiểu thuyết trên đã chạm đến nỗi day dứt

của đạo điễn Quốc Trọng về một thời quá khứ và ông đã dựng thành 29 tập phim

lấy tên Ngõ lỗ thủng Bộ phim đã công chiếu trong sự háo hức đón nhận của bạn

xem truyền hình

Quay về với đề tài cuộc sống đời thường một thời gian nhưng Trung Trung Đỉnh vẫn đau đáu hướng về Tây Nguyên, Tây Nguyên vẫn còn có sứt hút kì lạ

khiến nhà văn còn phải khám phá Năm 1999, tiểu thuyết Lạc rừng ra đời và nhận

được nhiều giải thưởng quan trọng Tiểu thuyết đã dựng trên bối cảnh của Tây Nguyên và viết về anh bộ đội người Kinh bị lạc vào cộng đồng người dân tộc và phải tìm mọi cách để hiểu, để cảm, để khám phá và để được chấp nhận là thành viên của cộng đồng ấy Tiểu thuyết đã bộc lộ rõ con người thật của nhân vật xưng tôi với một giọng điệu tự thú chân thành

Tác phẩm gần nhất là tiểu thuyết Lính trận (2011), tiểu thuyết đã tái hiện lại

các sự kiện chủ yếu của chiến dịch Plei Me qua lối kể truyền thống H’Man của dân tộc Gia Rai Tiểu thuyết này một lần nữa khắc đậm tấm lòng thủy chung, cưu mang,

đ m bọc của bà con dân tộc Tây Nguyên đối với bộ đội

Với hệ thống các tác phẩm viết về Tây Nguyên được bạn đọc đón nhận, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Xuân Hải đều khái quát Trung Trung Đỉnh tuy là người Kinh nhưng sống và hoạt động nhiều năm ở Tây Nguyên, lại thêm sự thành thạo tiếng Ba Na và căn cốt bền vững của nghề văn, cho nên ông

đã có được những trang viết sinh động, sắc sảo về cảnh sắc thiên nhiên h ng vĩ nơi đây, những phong tục tập quán và và các giá trị văn hóa cổ truyền còn được lưu giữ

Và nhiều bài viết cho rằng, những truyện ngắn như Chớp trên đỉnh Kon Từng cùng

với hàng loạt truyện khác cùng đề tài, đã đưa Trung Trung Đỉnh vào hàng những tác giả tiêu biểu viết về v ng đất Tây Nguyên vài chục năm gần đây Trong bài viết

Nhà văn “Lạc rừng”, Văn Công H ng khẳng định: “từ sau năm 1975 trở lại đây, Trung Trung Đỉnh là người viết thành công nhất về Tây Nguyên, bởi anh có vốn

sống, vốn hiểu biết sâu sắc về Tây Nguyên” [76]

Là bậc “trưởng lão” trong làng văn hóa, văn học Tây Nguyên; Nguyên Ngọc

đã dành cho Trung Trung Đỉnh những ngôn từ đầy trang trọng, những cảm nhận thú

vị khi đánh giá những sáng tác của Trung Trung Đỉnh viết về Tây Nguyên: “Anh đã

sáng tạo ra được một cách viết mới về Tây Nguyên, và do đó đã khám phá lại cho ta một lần nữa cái thế giới Tây Nguyên khiêm nhường, lẩn khuất mà tuyệt đẹp ấy Trong nghệ thuật làm được một việc như vậy là rất nhiều Tiểu thuyết này của anh

Trang 33

là một minh chứng rõ rệt”[81]

Tóm lại, Trung Trung Đỉnh đã gắn bó sống chết với con người, với mảnh đất Tây Nguyên cả trong thời chiến lẫn trong thời bình nên trong sáng tác Tây Nguyên không phải là “đề tài”, cũng không phải là văn chương mà đối với ông, Tây Nguyên

là tình yêu, là tất cả, là một sự khải huyền vượt lên trên cả số phận và sẽ đi theo nhà văn cho tới mọi hành trình

* Tiểu kết chương 1

Văn hóa là một khái niệm hết sức đa dạng và phức tạp Nhưng tựu trung lại,

“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người

sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

Giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ thống nhất mà không đồng nhất Trong đó, văn hóa quy định đến sự biểu hiện của văn học Còn văn học lại là nơi lưu giữ những giá trị của văn hóa

Tây Nguyên là một v ng đất vừa có vai trò trọng yếu về địa lý, kinh tế, an ninh quốc phòng vừa có vai trò trọng yếu về văn hóa Đây là v ng đất hội tụ nhiều

n t văn hóa đặc sắc và huyền thoại Yếu tố địa lý tự nhiên hòa quyện với những lớp huyền thoại đã tạo nên một không gian văn hóa độc đáo và mang tính bản sắc cao

độ Chỉ ở Tây Nguyên mới có những lễ hội, những bản anh h ng ca say đắm lòng

người như Đăm San, Xinh Nhã,…

Với vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp của văn hóa, Tây Nguyên đã trở thành kí ức của văn học Những nhà văn miền xuôi và nhiều nhà văn người dân tộc thiểu số đã đem một Tây Nguyên huyền nhiệm vào tác phẩm của mình như một khối bí mật khổng lồ, vừa xa lạ mà vừa hấp dẫn Trong số những nhà văn đó, sau Nguyên Ngọc, Trung Trung Đỉnh vẫn là nhà văn thủy chung với Tây Nguyên như là định mệnh

Trang 34

Chương 2 DẤU ẤN VĂN HÓA TÂY NGUYÊN TRONG VĂN XUÔI

TRUNG TRUNG ĐỈNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Thiên nhiên Tây Nguyên trong văn xuôi Trung Trung Đỉnh

Mỗi dân tộc, cộng đồng đều tồn tại trong một không gian sống nhất định Không gian ấy ảnh hưởng lớn đến tính cách của con người từ đó góp phần hình thành nên diện mạo văn hóa v ng miền Do đó, đặc điểm tự nhiên của một v ng đất cũng chính là một trong những biểu hiện văn hóa của v ng đất đó

Thông thường, mỗi nhà văn đều hướng ngòi bút của mình đến một v ng đất riêng để tìm hiểu và khám phá Các nhà văn khác khi viết về các vùng núi cao thường tập trung khắc họa một khung cảnh thiên nhiên hoang sơ h ng vĩ - vẻ đẹp đặc trưng của chốn núi rừng Nhưng với Trung Trung lại miêu tả vẻ đẹp đa dạng của núi rừng Tây Nguyên Đó là thiên nhiên vừa đẹp trong cái hoang sơ, kì bí vừa đẹp trong cái thanh bình, thơ mộng

2.1.1 Thiên nhiên Tây Nguyên hoang sơ, huyền bí

Có thể khẳng định, khung cảnh Tây Nguyên với vẻ đẹp h ng vĩ, hoang sơ của núi rừng, sự lạ lẫm, kỳ thú của tên đất, tên người Tây Nguyên đã để lại một dấu

ấn khó quên đối với người đọc Chính vẻ đẹp hoang sơ, huyền bí của ấy đã làm cho những trang văn viết về Tây Nguyên của Trung Trung Đỉnh thêm sinh động hơn Trên mảnh đất Tây Nguyên có hàng trăm con thác, mỗi con thác khoác trên mình một vẻ đẹp huyền kỳ không giống nhau, hàng chục dãy núi cao ngăn cách các con sông và các cao nguyên bạt ngàn tạo nên những đường đứt gãy kì lạ …

Với người Tây Nguyên, rừng sâu đầy bí hiểm là tâm linh, là cội nguồn văn hóa, là một phần máu thịt của họ Cội nguồn của văn hóa rừng đã tạo nên sắc thái

riêng biệt, độc đáo mà chỉ nơi đây - làng rừng nối tiếp làng rừng mới có Trong Lạc

rừng, Trung Trung Đĩnh đã khẳng định: “Sự huyền bí của rừng sẽ là nỗi kinh hoàng,

lo sợ nếu ta chưa biết gì về nó” Do vậy, nói đến tính chất hoang sơ, huyền bí, kì vĩ

của thiên nhiên, không thể không nhắc đến rừng

Không giống như thần thoại sử thi, rừng là một thế giới huyền bí linh thiêng,

là nơi ngự trị của thần linh ma quái với một sức mạnh dữ dội, rừng trong sáng tác Trung Trung Đỉnh vừa hoang sơ, kỳ thú lại vừa gần gũi, gắn bó chặt chẽ với con người

Trước hết, “dấu ấn rừng” thể hiện ngay ở nhan đề của tác phẩm đã gợi lên được sự hoang sơ, huyền bí của thiên nhiên Tây Nguyên Nhan đề đã tạo cho người đọc ấn tượng về một không gian vừa lạ lẫm, hoang dã lại vừa hấp dẫn lẫn thích thú

như: Lạc rừng, Rừng già, Rừng ơi ta đã về đây, Tây Nguyên rừng thẳm đá già, Tây

Trang 35

Nguyên nỗi nhớ làng rừng Khi đi vào những trang viết giàu chất hiện thực, Tây

Nguyên hiện ra một cách lạ kỳ, diễm ảo dưới ngòi bút của Trung Trung Đỉnh trước hết qua việc gợi nhắc những địa danh thuần túy Tây Nguyên Hầu hết đó là những địa danh có những cái tên rất lạ, thậm chí là nghịch âm so với quán tính tiếp nhận của người miền xuôi như: Pleime, Đê Chơ Rang, Dốc Thở, Đắklapà, Đăkkrôngpa, Kon Từng, Ia Đ’răng… Trung Trung Đỉnh ít khi miêu tả chi tiết những địa danh được gợi nhắc trong tác phẩm nên những địa danh đó hiện lên một cách mơ hồ và biến hóa theo tưởng tượng của bạn đọc Sự mơ hồ, phiếm chỉ đó đã tạo nên nét huyền bí, gợi sức hấp dẫn cho thiên nhiên Tây Nguyên trong từng trang viết của ông

Để phác họa một cái nhìn đầy đủ hơn về thiên nhiên huyền bí của núi rừng, Trung Trung Đỉnh đã ưu ái dành những trang viết đặc sắc để tái hiện rừng Tây Nguyên Rừng ở đây hiện lên vừa hoang sơ, kỳ thú lại vừa gần gũi, gắn bó chặt chẽ với con người Ông dành tình cảm yêu quý cho những cánh rừng bạt ngàn, xanh

thẳm Vì thế, ông từng tâm sự: “Trong mọi sinh hoạt của mình ở chốn thị thành,

không lúc nào tôi nguôi nhớ về những đỉnh núi Kon Ka Kinh, Kon Từng, Chư Sê cho đến Chư Mố bên những dòng sông chảy suốt ngàn năm tạo nên ngọn nguồn văn hóa, ngọn nguồn lịch sử…” [27, tr.92] Tuy nhiên, trong sáng tác của Trung Trung

Đỉnh, rừng được miêu tả chủ yếu là rừng già Rừng già là nơi con người sinh ra và gắn bó muôn đời Con người vừa bị cái hoang sơ nguyên thủy của rừng bao trùm,

lại vừa gắn bó không thể tách rời khỏi rừng: “Rừng im ắng hạ mình xuống trong khi

tôi lâm vào trạng thái mơ hồ, mãi tới khi tôi chợt nhận ra mình đã lọt vào một thung lũng rộng lớn với vô vàn những thảm lá mục mới bị ủi tung, không biết cơ man nào là dấu chân lợn rừng” [24, tr.101]

Trong một tác phẩm khác, cái huyền bí của rừng già đại ngàn được khắc họa

rõ n t hơn qua âm thanh của tiếng côn trùng kêu xen lẫn ánh sáng chợt tắt chợt hiện hòa vào tiếng chinh chiên kết hợp với hơi ẩm mốc tạo nên một n t đặc trưng của núi

rừng: “Rừng già vây bủa những đốm lân tinh lập lòe cùng tiếng côn trùng ri rỉ và

tiếng sương rơi, thi thoảng có luồng gió mang hơi ẩm mốc lùa lên Đâu đó xa lắm

có tiếng suối chảy, tiếng chinh chiêng tựa hồ không phải thứ âm thanh ấy của con người, mà nó được sinh ra cùng với rừng già” [13, tr.75] Nhà văn hòa mình trong

cái huyền bí của đại ngàn, trút hết tâm hồn vào thiên nhiên hoang sơ, kì ảo ấy

Sự gắn bó với Tây Nguyên sau những tháng năm chung sống và chiến đấu đã giúp cho Trung Trung Đỉnh am hiểu sâu sắc hơn n t hoang dã của chốn núi rừng Dường như có những ngọn núi, cánh rừng còn khoác trên mình chiếc áo hoang dã nguyên thủy mà chưa in dấu chân Một không gian thần thoại, sử thi Tây Nguyên thời cổ đại với vẻ đẹp của rừng nguyên sơ như hiện ra trước mắt của hai chiến sĩ

Trang 36

Phiêng và Chung: “Càng lên cao rừng càng dày và rậm hơn Những cây bằng lăng

cao vút, thân lốm đốm trắng đứng chênh vênh trên những triền núi hiểm trở…tiếng vượn hú trong rừng sâu nghe vang xa, man rợ… Bây giờ là rừng già liên miên, không khí ẩm ướt nặng nề Người ta có cảm giác mặt trời không mấy khi ló ra được

ở vùng núi này…” [18, tr.38] Chỉ có Trung Trung Đỉnh với một tình yêu vô bờ đối

với thiên nhiên Tây Nguyên, một sự chung tình sâu sắc, một niềm yêu thích khám phá, một tâm hồn nhạy cảm, một con mắt tinh tế mới có thể đem lại cho người đọc những trang viết hay về rừng già Tây Nguyên với những nét riêng

Không những thế, tính chất hoang sơ, huyền bí của thiên nhiên Tây Nguyên còn để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc bởi sự khác lạ ở từng con suối, thác

nước, dòng sông… Với địa hình hiểm trở, núi liền núi, dốc nối dốc nên ở v ng đất

Tây Nguyên có hàng trăm con sông lớn nhỏ vắt ngang qua dãy Trường Sơn h ng vĩ Sông Tây Nguyên lại lắm thác ghềnh khi phải uốn mình qua những ngọn núi đèo dốc và những vách đá dựng đứng Chính những thác ghềnh ấy tạo nên những dòng thác, con sông chảy xiết, quanh co, uốn lượn làm cho thiên nhiên thêm hoang sơ, huyền bí Mỗi thác nước khoác trên mình một vẻ đẹp kỳ vĩ không giống nhau, những con sông lớn tạo nên v ng thung lũng thâm nghiêm đầy bí ẩn của núi rừng

“Ở Trường Sơn cứ đi hai mươi mét là bắt gặp một khe núi Hai trăm mét gặp một con suối Hai kilômét gặp một dòng sông” [22, tr.68] Ấn tượng hơn,“sát bờ sông

là những vách đá, những hang động với những tảng đá lớn chồng lên nhau Rễ cây trườn trên đá chằng chịt cùng với những thân cây uốn mình sà sát mặt nước” [24, tr.90]

Với người Tây Nguyên, ngoài rừng là cội nguồn sự sống thì sông cũng không ngoại lệ Theo quy luật địa lí, sông chảy hung bạo, mãnh liệt ở v ng thượng lưu và êm đềm, trữ tình, thơ mộng ở vùng hạ lưu tạo nên các bãi bồi rộng lớn - là nơi cư trú của các tộc người Chính những con sông ấy là cội nguồn sự sống, là mạch nguồn văn hóa Tây Nguyên

Sẽ vô cùng thiếu sót nếu chúng ta không đề cập đến những cây cầu treo dài

vắt vẻo qua những vách đá, vực sâu của Tây Nguyên khi nhắc đến tính chất hoang

sơ, kì vĩ của thiên thiên Tây Nguyên Không ai trong chúng ta có thể quên một con

dốc Ngàn Lẻ Một với một cây cầu bắc qua con sông h ng vĩ, dữ dội trong Lính trận:

“có một cây cầu treo dài ba bốn cây số, chỗ cao nhất hai trăm mét, chỉ cần sẩy

chân một phát là biến ngay thành bọt nước, thành mồi cho hàng đàn cá sấu đói đang há mồm chờ dưới chân thác!”, “Nó được treo lắt lẻo trên các cành cây mỏm

đá, dưới chân nước reo, thác tung bọt trắng xóa Trong thoáng chốc, ta thấy trời xoay ngược lên mây tràn xuống dưới, mây lộn tùng phèo, thác hóa thành một biển

mù sa trắng xóa, rợn người!” [26, tr.9] Những chi tiết này đã gợi lên khung cảnh

Trang 37

h ng vĩ và hiểm nguy với độ cao rợn ngợp, mà nói như Trung Trung Đỉnh là “xây

xẩm mặt mày” Người đọc như đang ở trong không gian bốn chiều ảo diệu, dưới

chân mình là thăm thẳm vực sâu, trên đầu là mây mù vần vũ với cảm giác đi trong mây Cái tài của nhà văn là đã tạo nên ảo giác của nỗi choáng ngợp đáng sợ nhưng cũng là một khoái cảm đặc biệt của sự chiêm ngưỡng và chinh phục cho người đọc

Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ khi bắt đầu tiểu thuyết nhà văn đã nói đến con dốc huyền thoại và con thác h ng vĩ này Với cách miêu tả trên, một mặt tạo nên không khí và ấn tượng hoang sơ của một miền đất lạ lẫm nhưng oanh liệt Mặt khác, nó còn dự cảm cho sự đứt gãy, gập ghềnh, hiểm nguy của số phận người lính - cả những anh lính tuổi đời lẫn tuổi quân đều non trẻ như Ty, Ton, Bỉnh “còi”, Hiễn, Báu cho đến những “lão tướng” như anh Tíu, anh Tụ, anh Từ, anh Lâng… Chính vì vậy, ngay con dốc đó, tác giả đã kể lại sự kiện rùng rợn, một trải nghiệm bi thương trong ngày đầu hành quân của những anh lính trẻ tuổi: cái chết của thằng Xuyên “con” Suốt chiều dài tác phẩm, con dốc Ngàn Lẻ Một với cái chết của thằng Xuyên “con” trở đi trở lại trong tâm tưởng các nhân vật, nhất là nhân vật “tôi” như một điềm báo, một nỗi ám ảnh Nhưng mặt khác, đó cũng là một thử thách mà những anh lính cụ Hồ cần phải vượt qua và thực tế họ đã vượt qua

Mặc dù, tác giả chỉ phác thảo sơ lược nhưng những trang viết về thiên nhiên hoang dã, h ng vĩ của Tây Nguyên đã tạo được điểm nhấn về một không gian xa lạ, vừa bí ẩn nhưng cũng vừa hấp dẫn Giữa cuộc sống xô bồ thường nhật, hình ảnh thiên nhiên hoang dã, huyền bí ấy như chở tâm hồn con người hướng về cội nguồn khi nghĩ đến rừng

2.1.2 Thiên nhiên Tây Nguyên khắc nghiệt, dữ dội

Gắn bó với Tây Nguyên như máu thịt, Trung Trung Đỉnh đã am hiểu tường tận về thiên nhiên nơi đây Nhà văn không chỉ khắc họa thiên nhiên hoang sơ, huyền bí mà còn tái hiện một thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội gắn liền với khói lửa của chiến tranh và đời sống cực khổ của người dân Tây Nguyên trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước Chính thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội ấy là phông nền tô đậm bức tranh hiện thực cuộc sống khổ cực, khốc liệt đó Nhiều trang viết của nhà văn đã vẽ nên một cách chân thực, sinh động và gây ấn tượng thẩm mỹ đối với người đọc khi xen lồng thiên nhiên khắc nghiệt trong bối cảnh của cuộc chiến

Với địa hình rộng lớn, đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu Tây Nguyên mang những n t đặc trưng riêng biệt gắn liền với hai m a mưa, nắng Bước vào cuộc chiến với tâm thế là “kẻ ở miền xa, trời quen đất lạ”, những người lính trẻ

miền Bắc cảm nhận rõ hơn sự khắc nghiệt của thời tiết Tây Nguyên

Đầu tiên là cơn mưa rừng của đất Tây Nguyên Mưa dai dẳng, mưa lê thê k o

Trang 38

dài từ tháng này sang tháng khác, mưa như ngấm sâu ba tầng đất bazan và tuôn đổ

ra sông ra suối nước đỏ ngầu: “Mưa không kịp vuốt mặt Đường xuống dốc nhão

nhoét Những rãnh nước đỏ ngầu tuôn xối xả” [14, tr.34], “Trận mưa lớn đã qua, hai bên đường là rừng già đẫm nước Mặt đường lầy lội” [14, tr.85] Hầu như mỗi

người lính Nam tiến trên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” thuở ấy đều nếm trải những cơn mưa rừng buốt giá Trong Lính trận, cơn mưa rừng giữa đêm đại

ngàn và suối lũ cứ trở đi trở lại thật bi thiết và day dứt như những kỉ niệm trong

lòng các anh lính tuổi trẻ: “Trời mưa to, sấm chớp ầm ầm, nước trên núi đổ xuống

như thác, dòng nước đục ngầu dưới khe, cuốn theo cây rừng, lá rừng, cuốn theo cả rắn rết” [26, tr.53], “Mưa quá! Đêm nằm trong võng mà nghe mưa mới ê ẩm làm

sao!” [26, tr.61], “Suối rừng Hạ Lào đêm nay mưa dầm dề!” [26, tr.63], “Mưa ở xứ

sở này cũng khác với mưa Trường Sơn Mới đầu mưa rất to, rồi ngớt dần, ngớt dần, sau đó không to nhưng dai dẳng Nước suối hôm qua còn trong veo hiền lành, hôm nay biến thành sông, sóng cuộn dữ dội” [26, tr.93] Những con suối rừng hiền lành

bỗng trở thành suối lũ đã vẽ ra được địa hình hành quân của các anh lính cụ Hồ Đó

là một địa hình hiểm trở, phải trèo đèo, lội suối, vượt sông Trong cơn mưa bất tận

ấy, người lính còn phải hứng chịu bom đạn của chiến tranh ác liệt nên càng trở nên

khắc nghiệt hơn “Bên phải đường, một hố bom toang hoác, nước xanh như

mực…Một khe nước phèn từ trong đá rỉ ra đỏ ngỏn, nhớp nhúa” [18, tr.71] Cuộc

sống Tây Nguyên bị xáo trộn vì mưa dữ, bom rơi để rồi nhà văn xót xa thốt lên:

“Mưa! Sao mà mưa khốn mưa khổ thế này? Mới chiều hôm qua còn nắng ráo thế, vậy mà bây giờ rừng như đang chịu sự trừng phạt của thiên nhiên” [18, tr.43]

Hầu như tác giả không miêu tả rõ nét những cơn mưa rừng, suối lũ của vùng Tây Nguyên xa lạ đó, ông chỉ phác họa sơ lược khung cảnh và nhận định khung cảnh đó bằng chính cảm nhận của nhân vật Kết thúc những câu văn có tính điểm

xuyết ấy, nhà văn thường dùng dấu chấm than (!), thán từ “làm sao” đã biến câu

văn từ sự miêu tả thông thường thành sự cảm nhận bên trong của nhân vật Trong

Lính trận, khi nhân vật “tôi” đứng đợi anh Chuốt trong bìa rừng, nhân vật đã hồi

tưởng thoáng chốc: “Những đêm đông giá rét không thể xòa nổi bàn tay, vậy mà

vẫn phải lội dưới khe” [26, tr.172] Tác giả không miêu tả gì thêm, nhân vật cũng

không nghĩ gì nhiều nhưng người đọc đã hình dung ra được sự khắc nghiệt của mùa đông giữa ngàn cao rú thẳm M a đông nơi quê hương vốn dĩ đã lạnh lẽo thì mùa đông nơi nước độc rừng thiêng còn lạnh lẽo và đáng sợ hơn

Tính chất khắc nghiệt của thời tiết còn được nhấn mạnh hơn khi Trung Trung

Đỉnh dùng bút lực của mình để miêu tả cái nắng cái gió chói chang, gay gắt như

thiêu như đốt của Tây Nguyên Trong Tiễn biệt những ngày buồn, nhà văn từng

Trang 39

nhắc đến cái nắng ấy bằng lời văn nóng bỏng: “Cái nắng như nung trong rừng khộp,

mỗi bước chân chạm phải lá khô giòn và sỏi rát bỏng đến rợn da gà” [15, tr.07]

Chính sự khắc nghiệt của thời tiết đã mang lại những khó khăn, hiểm nguy cho người lính Dường như, mọi hiểm nguy luôn rình rập và lấy đi từng hơi thở của người lính một cách chóng vánh và hãi h ng Đó là những cơn sốt rét rừng - người bạn thân chung thủy của người lính Nam tiến - những cái chết do nó đem lại luôn được Trung Trung Đỉnh nhắc đến nhiều trong tác phẩm Dù không còn chứng kiến

cảnh “Anh bạn dãi dầu không bước nước/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời”(Quang

Dũng) nhưng người đọc không thể nào không “sởn gai óc”, “dựng tóc gáy” trước

cái đổ “kềnh” của thằng Xuyên “con”, anh Tíu, thằng Nam, thằng Báu trên đường

hành quân Đặc biệt, cái chết của thằng Xuyên “con” được tác giả kể lại rất chi tiết:

“Xuyên “con” vều mặt ra, mắt lờ đờ”, “thằng Xuyên “con” ngã nhào xuống như cây chuối đổ”, “nó ôm bụng co người nôn”, “Thằng Xuyên “con” mất lúc chúng tôi dưa được nó tới bệnh viện binh trạm.” [26, tr.49-50] Tiếp đó là anh Tíu với cái

chết đầy ngỡ ngàng và đau đớn cho đồng đội: “Anh Tíu nom như ông già, chống

gậy lẽo đẽo leo hết dốc, tới bên thằng Khôi “đen”, vừa ngả người xuống đã kềnh

ra đã giãy lên đành đạch, cấm khẩu luôn, miệng phun ra toàn bọt” [26, tr.69]

Trong điều kiện sống gắn với rừng thiên nước độc “Không khí oi nồng ngột ngạt

Những con muỗi rằn ri bay vật vờ, đốt vào những kẻ hở dưới bàn chân, trên cổ, buốt như kim châm Một con vắt xanh vội vã đo mình trên tay áo Một con nữa đã chui vào mạng sườn ớn lạnh ” [26, tr.171] thì bệnh sốt r t ác tính đã đánh gục biết

bao nhiêu người lính trẻ là điều tất yếu Chỉ bấy nhiêu thôi, ta cũng thấy được một thiên nhiên Tây Nguyên vừa h ng vĩ nhưng cũng muôn phần khiếp sợ bởi sự khắc nghiệt của nó

Thiên nhiên khắc nghiệt của Tây Nguyên ngoài nghĩa thực của một hiện thực khắc nghiệt nhưng trong tâm tưởng của thế hệ cựu chiến binh cùng thời với nhà văn còn là thử thách của tuổi trẻ, thử thách của tình yêu quê hương đất nước, thử thách của lý tưởng và tinh thần con người Chính vì vậy, các anh lính trên đường hành quân, dù biết rằng mình khó thoát khỏi cái chết nếu tiếp tục theo đơn vị nhưng họ vẫn một ý chí hành quân, theo đuổi lí tưởng Thằng Xuyên “con” khi “bị” cáng về

trạm y tế đã khóc róng lên, vừa đáng thương vừa đáng phục: “Ở anh Tíu ơi nà anh

Tíu ơi, sao anh lỡ bỏ em dọc đường” [26, tr 67] Hay anh Tíu d đã đuối sức, vẫn

cố lết theo đồng đội, khi nghe phải về trạm phía sau thì anh “chồm lên, túm lấy anh

Lâng” mà van vỉ: “Anh đừng đuổi em! Em đi được mà Em mà xa anh với anh em

tiểu đội mình thì em chết ngay! Anh đừng ruồng rẫy em!” [26, tr.59] Thằng Nam

cũng bị quật ngã, nhưng may mắn là không chết, khi đem vào binh trạm cũng khẩn

Trang 40

khoản: “chúng mày đừng bỏ tao dọc đường như bỏ thằng Xuyên, anh Tíu”, “tao về

với chúng mày, chết như anh Tíu cũng được, chúng mày đừng bỏ tao” [26, tr.72]

Bên cạnh sự khắc nghiệt, thiên nhiên Tây Nguyên còn hết sức dữ dội bởi

phải oằn mình hứng chịu bom đạn của chiến tranh Bom đạn đã làm cảnh vật trơ trụi,

xác xơ, tiêu điều, sặc mùi thuốc súng Thiên nhiên Tây Nguyên trong bối cảnh chiến tranh là bãi chiến trường khốc liệt Mỗi dòng sông, vạt đồi, bìa rừng, khe cạn, thung lũng đều dễ dàng trở thành nơi đụng độ giữa ta và địch Bao trùm không khí Tây Nguyên những năm tháng chiến tranh là sự ngột ngạt, bức bối của tiếng máy bay, tiếng súng và tiếng bom

Đây là khung cảnh một vạt rừng đã trở nên tiêu điều vì bom đạn: “Một bầy

khỉ chạy tán loạn Chúng đu trên cành, chạy dưới đất, dắt díu nhau, kêu lóe chóe Một quả cối nổ rất đanh ngay phía trước Rồi liên tiếp mấy quả nữa Tiếng cành cây gãy Tiếng mảnh cối cắm vào thân cây phùm phụp” [26, tr.172-173] Trong Những người không chịu thiệt thòi, tác giả miêu tả cảnh thiên nhiên lụi tàn đến thảm

hại: “Những khoảng ruộng ngập cỏ Một vài hố bom ngập cỏ ”[14, tr.132-133] Còn đây là một vạt núi bị vây phủ bởi những trận bom của giặc: “Một cột khói

khổng lồ bỗng dựng lên cuồn cuộn rồi liên tiếp hàng chục cột khói như vậy cùng lúc cuốn theo lửa bùng lên Đất rung chuyển Núi rung chuyển Thung lũng Ia Đ’răng rung chuyển Mặt trời chiều đỏ ối đang bị khói bom đạn từ dưới thung lũng đùn lên che kín” [26, tr.199-200] Tiếng đạn rốc-két hú, những tiếng nổ vang lên, “núi

rừng rung chuyển, tưởng như mỗi cành lá là một cành kim loại bị khua mạnh” [18,

tr.22] Những cánh rừng dày đặc, xanh tươi thuở nào giờ đây trở nên xác xơ, xám

xịt Những “mỏm đá, những đám rễ cây chỏng chơ”, đây đó có “một bụi lau xơ

xác” [18, tr.22]… Một Tây Nguyên dữ dội trong chiến tranh được Trung Trung

Đỉnh lột tả một cách trực diện Tây Nguyên đang quằn quại, đang hầm hập sốt dưới bom đạn của quân thù Hình ảnh mặt trời bị che lấp trong khói bom đã ám ảnh đến tâm can người đọc Trong bối cảnh ấy, Trung Trung Đỉnh ít khi đề cập đến chiến thắng và niềm vui chiến thắng mặc dù ông có nhiều trang viết về khát vọng trở về của những người lính

Trong những tiểu thuyết chiến tranh của Trung Trung Đỉnh, đa phần nhà văn chú ý đến kỉ niệm của nhân vật và thường đặt nhân vật vào không gian của kỉ niệm

Thiên nhiên thực tế của hiện tại ít khi được nhà văn để ý đến Chẳng hạn, trong Lính

Trận, Ngược chiều cái chết, Lạc rừng câu chuyện thường là những hồi ức về đời

lính Do vậy, sự miêu tả không gian thường được giới hạn tối đa Mặt khác, để làm nên không khí ngột ngạt của chiến tranh, nhà văn không chú ý nhiều đến việc xây dựng không gian chiến trận cụ thể có tính trường đoạn Ngược lại, nhà văn chỉ phác

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w