1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết một thế giới không có đàn bà và phương pháp của a c kinsey của nhà văn bùi anh tấn

99 186 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 914,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tư tưởng về nhân vị, tự do, về cuộc sống bất an và âu lo, sự ê chề của kiếp người, sự hoài nghi thực tại, nỗi ám ảnh về sự đổ vỡ của chủ nghĩa hiện sinh vẫn tìm thấy sự đồng điệu t

Trang 1

MỤC LỤC

Phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3 1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Cấu trúc luận văn 11

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: DẤU ẤN HIỆN SINH VÀ ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH TRONG TIỂU THUYẾT MỘT THẾ GIỚI KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA A.C KINSEY CỦA BÙI ANH TẤN 12

1.1 Dấu ấn hiện sinh trong văn học Việt Nam đương đại 12

1.1.1 Vài nét về chủ nghĩa hiện sinh 12

1.1.2 Hoàn cảnh tiếp nhận và sự hình thành phát triển của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam 14

1.1.3 Vài nét về dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 17

1.2 Đề tài đồng tính trong văn học Việt Nam đương đại 20

1.2.1 Sự hình thành giới tính và các xu hướng tình dục 20

1.2.2 Giới thuyết về đồng tính luyến ái 21

1.2.2.1 Khái niệm đồng tính luyến ái 21

1.2.2.2 Tâm lý của những người đồng tính 22

1.2.3 Đồng tính trong lịch sử - xã hội và nghệ thuật 23

1.2.3.1 Vấn đề đồng tính trong lịch sử - xã hội 23

1.2.3.2 Đề tài đồng tính trong văn học nghệ thuật 25

1.3 Nhà văn Bùi Anh Tấn với dấu ấn hiện sinh và đề tài đồng tính 28

Trang 2

1.3.1 Đề tài đồng tính trong sáng tác của Bùi Anh Tấn 28

1.3.2 Dấu ấn hiện sinh trong sáng tác của Bùi Anh Tấn 30

CHƯƠNG 2: DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG CON NGƯỜI ĐỐNG TÍNH QUA TIỂU THUYẾT MỘT THẾ GIỚI KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA A.C KINSEY CỦA BÙI ANH TẤN 35

2.1 Con người cô đơn, lạc loài và con người bi kịch 35

2.1.1 Con người cô đơn, lạc loài 35

2.1.2 Con người bi kịch 40

2.2 Con người bản năng 46

2.2.1 Bản năng tình dục 46

2.2.2 Bản năng yêu thương 50

2.3 Con người hoài nghi, mặc cảm, tha hóa 53

2.3.1 Con người hoài nghi và đi tìm bản thể 53

2.3.2 Con người với những nỗi ám ảnh, mặc cảm 57

2.3.3 Con người tha hóa 61

CHƯƠNG 3: DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT MỘT THẾ GIỚI KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA A.C KINSEY CỦA BÙI ANH TẤN NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 65

3.1 Kết cấu dòng ý thức và tự sự đa điểm nhìn 65

3.1.1 Kết cấu dòng ý thức 65

3.1.2 Tự sự đa điểm nhìn 69

3.2 Ngôn ngữ nhân vật 72

3.2.1 Ngôn ngữ độc thoại 73

3.2.2 Ngôn ngữ đối thoại 77

3.3 Giọng điệu nhân vật 82

3.3.1 Giọng điệu triết lí, trải nghiệm 83

3.3.2 Giọng điệu thương cảm 86

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, phương Tây đã nở rộ nhiều triết thuyết với

nhiều khuynh hướng khác nhau, tạo nên một bức tranh lịch sử triết học đa dạng và phong phú Một trong những trào lưu triết học có ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống văn hóa - xã hội phương Tây và nhiều quốc gia khác trên thế giới (trong đó có Việt

Nam) là triết học hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh sau khi gây một hiệu ứng mạnh mẽ và sâu rộng trong văn học nghệ thuật, sau gần 20 năm nay đã nhường chỗ cho nhiều trào lưu mới Ở Việt Nam, triết học hiện sinh không còn là một vấn đề mới mẻ nhưng nó vẫn mang một sức hút khó cưỡng đối với giới cầm bút Những tư tưởng về nhân vị, tự do, về cuộc sống bất an và âu lo, sự ê chề của kiếp người, sự hoài nghi thực tại, nỗi ám ảnh về

sự đổ vỡ của chủ nghĩa hiện sinh vẫn tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn của khá nhiều nhà văn khi họ đối diện với những đổi thay lớn lao, phức tạp của đất nước và

thời đại

1.2 Nhà văn nhìn cuộc sống, lẽ hiển nhiên không như những triết gia nhưng

trong tác phẩm của họ, một dấu ấn mang màu sắc triết học vẫn hiện diện ở những

cây bút nhiều trải nghiệm Hiểu về dấu ấn mang màu sắc triết học qua tác phẩm của

nhà văn sẽ giúp người đọc hình dung được những nền tảng sâu xa chi phối đến quá trình sáng tác và những tư tưởng về thế giới, con người mà người viết muốn gửi gắm

Trên thế giới, có những tên tuổi bất hủ được coi là gắn liền với chủ nghĩa hiện sinh như: Franz Kafka, Albert Camus, Jean Paul Sartre, Marcel Proust… Trong tầm nhìn của văn học so sánh, chúng ta có thể thấy được sự tác động mạnh mẽ của trào lưu văn học này đến nhiều nước trên thế giới Hơn nữa, trong tương quan đồng điệu nào đó về văn hoá, thời đại, dấu ấn hiện sinh đã nảy sinh và mang những nét riêng

do hoàn cảnh xã hội đất nước quy định Có thể nói, chủ nghĩa hiện sinh đã đem đến cho văn học những điều vừa quen vừa lạ

1.3 Ở Việt Nam, cuối những năm 80 của thế kỉ trước, dấu ấn hiện sinh ngày

càng chi phối khá rõ cái nhìn hiện thực của các nhà văn Người ta có thể tìm thấy điều đó trong sáng tác của những tên tuổi khá quen thuộc với công chúng như:

Trang 4

Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Đoàn Minh Phượng và nhiều nhà thơ khác

Thực chất, dấu ấn hiện sinh không chỉ tác động, làm biến đổi nội dung mà còn tạo ra động lực để thay đổi nghệ thuật biểu hiện của tiểu thuyết Nó tạo ra một cuộc cách tân mạnh mẽ từ nội dung đến hình thức của thể loại nền tảng trong văn học

1.4 Nghiên cứu “Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết “Một thế giới không có

đàn bà” và “Phương pháp của A.C Kinsey” của nhà văn Bùi Anh Tấn” cũng là

cách để hiểu hơn về nhà văn - một cây bút dày dặn, có bản lĩnh với cái nhìn cuộc sống của những con người trong thế giới thứ ba Đó là thế giới của những người đồng tính đang còn gặp nhiều trở ngại, khổ đau trong cuộc sống đầy dị nghị, kỳ thị của xã hội

Để có những “vùng sâu”, để có những trang viết rất “đời” và nhân văn ấy, Bùi Anh Tấn đã dấn thân vào quá trình trải nghiệm cuộc sống của mình và vào thế giới của những con người ấy Ông đã mạnh dạn chạm đụng đến những vấn đề nhạy cảm

mà bấy lâu chưa ai thật sự thể hiện rõ, phơi trần những góc khuất tối tăm, những bi kịch nội tâm xé lòng của những người đồng tính mà một thời gian rất lâu văn học chưa dám nêu rõ Mạnh dạn đi vào những góc khuất về số phận và cuộc đời cũng như những câu chuyện sống “khác” của những người “không bình thường”, Bùi Anh Tấn đã mở ra cho tiểu thuyết đương đại một hướng tiếp cận mới - tiếp cận trên tinh thần dân chủ hóa và nhân đạo hóa

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết

“Một thế giới không có đàn bà” và “Phương pháp của A.C Kinsey” của nhà văn Bùi Anh Tấn” nhằm nhận diện một cách toàn diện và hệ thống những đặc sắc nghệ

thuật của tiểu thuyết Bùi Anh Tấn, trên cơ sở đó đưa ra những nhận định và đánh giá về giá trị tiểu thuyết của ông trên hành trình đổi mới văn học nước nhà

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện đầu thế kỉ XX, được các nhà triết học hiện

sinh phát biểu trong các công trình của mình Husserl viết “Hiện tượng học”, Heidegger viết “Triết học sinh tồn”, tác giả Sartre cũng viết “Hiện sinh, một nhân

bản thuyết”

E Mounier nghiên cứu “Những chủ đề triết hiện sinh” [47], trong đó ông đề cập đến Thuyết đề về sự bừng tỉnh triết lí Ông cho rằng: “Thuyết hiện sinh muốn

Trang 5

giảm giá trị tính cách chắc chắn hay sự an tâm chủ quan, nơi ẩn náu cuối cùng của

sự bất động tinh thần, giúp cho các đam mê được sống động và tiến tới chỗ nối kết con người hiện tồn với chân lý một cách sâu xa Thuyết hiện sinh đã theo con đường này một cách quyết liệt đến độ như cho rằng cái quan trọng không phải là chân lý nhưng là thái độ của người biết” [47, tr.26]; Thuyết đề về sự cải hóa cá nhân, ông nhấn mạnh: “Triết hiện sinh nào cũng triển khai ý niệm về sự cải hóa có tính cách biện chứng Mỗi triết thuyết đó đều diễn tả nhiều cách thức sống kể từ một cuộc sống đã mất tới cuộc sống đã tìm lại được Có một lực tàn phá chặt chẽ liên kết với cuộc sống của ta, đôi khi ta không thể nào phân biệt nó ra nổi, nó lôi kéo chúng

ta luôn để làm sao ta đánh mất cuộc sống đích thực - có một lực khác lại thôi thúc

chúng ta phải làm hòa với chính ta” [47, tr.95-96]

2.2 Chủ nghĩa hiện sinh là lí thuyết triết học và mỹ học được du nhập và có

ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam Việt Nam những năm 1954 - 1975 Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện khi chủ nghĩa duy linh nhân

vị sụp đổ Nó nhanh chóng trở thành một phần trong đời sống qua sự phổ biến của báo chí Những tờ tạp chí lúc đó như Đại học, Sáng tạo, Văn, Bách khoa… đều có những bài viết hay số báo đặc biệt về trào lưu triết học và văn học này cùng những tác gia của nó như Jean-Paul Sartre, Albert Camus… Hỗ trợ có hiệu quả cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đó là nỗ lực dịch thuật ngày càng sâu rộng những đứa con tinh thần của các tác gia hiện sinh Về lý thuyết có các công trình cuả F.Nietzsche, K.Jaspers, M.Heidegger, J.-P Sartre… Về sáng tác có các tiểu thuyết, kịch bản văn

học của A.Camus, J.-P.Sartre, S.de Beauvoir, F.Sagan…

Ngay từ 1942, công trình của Nguyễn Đình Thi Triết học Nietzsche đã đưa lại

những hiểu biết ban đầu đúng đắn về Nietzche và gợi mở về chủ nghĩa hiện sinh

Từ tháng 10-1961 đến tháng 9-1962, dưới bút hiệu Trần Hương Tử, trên Tạp chí Bách Khoa, Trần Thái Đỉnh đã viết một loạt bài giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh,

về sau được tập hợp thành chuyên khảo Triết học hiện sinh (NXB Thời mới, Sài

Gòn, 1967, tái bản 1968) Tác giả đã trình bày một cái nhìn tổng quan về chủ nghĩa hiện sinh, những đề tài và hai ngành chính của nó: Hiện sinh hữu thần và hiện sinh

vô thần Tác giả cũng đã đi sâu phân tích quan niệm của những tác gia tiêu biểu

như: Kiergaard, Nietzsche, Husserl, Jaspers, Marcel, Sartre và Heidegger

Trang 6

Năm 1970, Lê Tôn Nghiêm cũng có nhiều công trình chuyên sâu về triết học

Heidegger: Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương (NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1970); Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger (NXB Trình bầy, Sài Gòn, 1970) Và công trình Những vấn đề triết học hiện đại (NXB Ra khơi, Sài Gòn, 1970), ông đã dành hẳn một chương viết về chủ

nghĩa hiện sinh

2.3 Ở Miền Nam, Nguyễn Văn Trung với Nhìn lại tự trào hiện sinh tại miền

Nam đã trình bày ảnh hưởng của Sartre trên thế giới để xác định chỗ đứng của ông

trong phong trào cách mạng thế giới; trong các yếu tố tạo ảnh hưởng trên của Sartre, Nguyễn Văn Trung chỉ nói đến yếu tố lý luận về văn học, nghệ thuật; Sartre và Việt

Nam, trình bày nhận định về sự du nhập, phổ biến triết hiện sinh ở Miền Nam

Năm 1978, Đỗ Đức Hiểu với chuyên luận Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, ông đã một mặt thừa nhận vai trò tiên phong của F.Kafka đối với văn học

hiện sinh cũng như những yếu tố hiện thực có tính chất tố cáo một chế độ quan liêu

- một chế độ nhà nước đầy áp bức, ngạt thở trong truyện của F.Kafka; mặt khác, ông phê phán những yếu tố siêu hình về thân phận con người tràn ngập trong tác phẩm, lấn át cả một số yếu tố hiện thực vốn không nhiều nhặn gì Tác giả Đỗ Đức Hiểu đã chỉ rõ: có thể nói tính thần bí bao trùm cả tác phẩm của F.Kafka Phi lý, lo

âu, cô đơn, xa lạ, tuyệt vọng, hư vô những khái niệm ấy về con người của F.Kafka tìm thấy ở huyền thoại một hình thức biểu hiện phù hợp F.Kafka đã huyền thoại hoá một thế giới bị tha hoá

Năm 1989 trong tác phẩm Mấy trào lưu triết học phương Tây, tác giả Phạm

Minh Lăng đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của chủ nghĩa hiện sinh: vũ trụ, con người và đời người dưới con mắt của chủ nghĩa hiện sinh Nhưng góc nhìn của tác giả vẫn còn giới hạn trong nhận thức phê phán

Năm 2002, Thụy Khuê với bài Nỗi đau hiện sinh trong Bướm trắng, tác giả đã trình bày những chủ đề ẩn trong Bướm trắng về tính chất phi lý của cuộc đời, về

vấn đề tự tử, về sự ngộ nhận, về sự sa đọa của con người - những đề tài chủ yếu của hiện sinh đều có mặt trong tác phẩm của Nhất Linh

Năm 2006, Nguyễn Tiến Dũng với công trình nghiên cứu Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, tác giả đã làm rõ vấn đề trung tâm của chủ nghĩa

hiện sinh: “Con người như một nhân vị” Đồng thời đã khái quát sự ra đời, phát

Trang 7

triển và quá trình hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam, từ đó chỉ ra những dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong một số tác giả tiêu biểu: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Huy Thiệp… Theo tác giả: “Chưa có một trào lưu văn học nào như văn học hiện sinh mà chỉ trong thời gian ngắn đã cho ra đời một khối lượng lớn đến thế…” Theo ông, văn học hiện sinh “quan niệm kiếp người là một bất đắc dĩ, là một thảm kịch, là thất bại, vì vậy nó mang nặng chủ nghĩa bi quan xa

lạ với chủ nghĩa lạc quan cách mạng” Vì thế, nó ít có những tác phẩm lớn, ít giá trị nhân văn

Năm 2007 trên Tạp chí Triết học, Hoàng Văn Thắng viết bài Quan niệm của Gi.P.Xáctơrơ về con người trong “Hiện sinh một nhân bản thuyết” Tác giả nêu

lên những phạm trù triết học được Gi.P.Xáctơrơ đề cập trong tác phẩm này: “Hữu thể và bản chất của con người; sự lo âu của con người; con người và dự phóng; sự

tự do của con người; con người và tha nhân”

Cũng trên Tạp chí Triết học, Đỗ Thị Hạnh có bài viết Màu sắc hiện sinh trong truyện ngắn “Ông già và biển cả” Trong phạm vi một bài tiểu luận, người viết đã

đi vào khảo sát và phân tích tác phẩm để làm nổi bật hình ảnh của “con người cô đơn” và “khát vọng dấn thân và nhập cuộc”

Và mới đây nhất vào năm 2008, Trần Thiện Đạo đã tập hợp những bài báo mà tác giả đã viết hoặc đã dịch và đã được in trên các tập san Văn và Tân văn trong

khoảng thời gian từ 1965 đến 1970 tại Sài Gòn trong cuốn sách Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc Tác giả không những đưa ra những định nghĩa ngắn gọn và

dễ hiểu về triết học hiện sinh, về thuyết cấu trúc mà còn giới thiệu cả không khí sinh hoạt văn học của Pháp thập niên 1950

Những công trình và bài viết trên đã đóng góp vào nền phê bình nước nhà những ý kiến về tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh Cùng với quá trình đổi mới, quá trình toàn cầu hóa, những tác phẩm của những triết gia hiện sinh trở nên quen thuộc với đông đảo độc giả Việt Nam Vấn đề nghiên cứu dấu ấn hiện sinh thực chất không phải là vấn đề mới mẻ Trong những nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh, nhiều nhà nghiên cứu đã nhắc đến dấu ấn bi đát về thế giới và con người của những triết gia hiện sinh Trước cuộc sống tất bật của con người, sự bất lực của nhận thức, con người luôn lo âu và bất an Thế giới trở nên xa lạ và bí ẩn Khi nghiên cứu về vấn đề hậu hiện đại, sự đổi mới của tiểu thuyết, vấn đề con người hoài nghi, vô

Trang 8

minh, những cảm nghiệm chua chát, ê chề về thân phận con người được nhắc tới Thực chất, nó rất gần gũi với dấu ấn hiện sinh

2.4 Bùi Anh Tấn là một tác giả mới xuất hiện trên văn đàn Bởi vậy, nguồn tài

liệu về tác giả này còn ít ỏi Hơn nữa, với tinh thần sáng tác có tính chất “mở” như hiện nay tất yếu sẽ có những ý kiến khen, chê khác nhau Trên cơ sở những hiểu biết ban đầu, chúng tôi sẽ cố gắng chọn lọc và tiếp thu những ý kiến được xem là xác đáng, sát hợp với những đóng góp của tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của nhà văn Bùi Anh Tấn

2.5 Sự độc đáo, mới lạ, mang tính thời sự trong những cuốn tiểu thuyết viết

về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn trên thực tế đã được dư luận quan tâm Đã có nhiều bài báo, bài phê bình, cuộc trao đổi trên các diễn đàn về những tiểu thuyết này của ông Nhiều hơn cả vẫn là những bài viết trên các website văn học

Tác giả Ngô Thị Kim Cúc trong bài viết Khoảng trống khó gọi tên đăng trên báo Thanh Niên ngày 17 tháng 10 năm 2000 khi bàn luận về cuốn tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà của Bùi Anh Tấn đã khẳng định: “Thế giới ấy đáng được

biết đến, đáng được thông cảm hơn người ta tưởng Trong tiểu thuyết đầu tay của mình, Bùi Anh Tấn đã phơi bày một thực tế đang có mặt bên cạnh cuộc sống của đa

số công chúng: cuộc sống của những người sinh ra đã bị đồng tính luyến ái Đề tài quá mới lạ trong văn học Việt Nam và hoàn toàn không dễ viết, chỉ cần non tay một chút có thể trở thành bất cập, còn lơi tay một chút sẽ dễ dẫn đến thái quá Bùi Anh Tấn đã tránh được cả hai Suốt gần 500 trang sách, người đọc được dẫn vào một thế giới thực sự lạ lùng Những vũ trường, nhà hàng, quán xá đang là tụ điểm sinh hoạt của giới đồng tính Những Hoa bóng chúa, Ngũ Long công chúa, Quang A, buông thả bản năng Nhưng cũng có những Phạm Hồng Bàng, Lê Viễn đáng thương…”

Trong bài viết Niềm đam mê của cây bút trẻ của tác giả Nguyễn Tuấn đăng

trên báo An Ninh thủ đô ra ngày 3 tháng 11 năm 2000 có đoạn: “Cuốn tiểu thuyết

này Một thế giới không có đàn bà đề cập tới một vấn đề mà ngay cả trong văn học

các nước chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây cũng “ngại” nói tới Đó là thế giới của những người đồng tính luyến ái tại thành phố Hồ Chí Minh Các tuyến nhân vật được dàn dựng hợp lí với sự tiết chế khôn khéo…”

Nhà báo Nguyễn Vịnh trong bài Nhà văn trẻ Bùi Anh Tấn cầm bút đã là sự phiêu lưu (Tạp chí Đẹp, số 6, 2003) có viết: “Bùi Anh Tấn đã bình thản đặt những

Trang 9

bước đi của mình vào ngôi đền văn học, giành lại cho mình một chút dư vang Ở người đàn ông này có một cái gì đó cứ thâm trầm, da diết chảy, một cái gì đó - dù rất nhỏ nhoi nhưng sâu khuất các ý niệm - đang cọ cựa Tác giả như muốn chống lại

sự lãng quên, như muốn thổi tung lớp bụi cũ kỹ của thời gian và bạc bẽo của nhân thế đang bao phủ lên từng mảng lớp của cuộc đời”

Ngoài ra, luận văn còn tham khảo một số bài viết, phỏng vấn, giới thiệu về tác giả Bùi Anh Tấn và các tiểu thuyết đồng tính của anh được đăng tải trên các website như:

- Nhà văn Bùi Anh Tấn: Tôi đã chán chủ đề đồng tính, Bình Nguyên (thực hiện), [cand.com]

- “Tôi muốn cất lên tiếng nói của đồng tính nữ”, Thu Hà (thực hiện), [chaobuoisang.net]

- Bùi Anh Tấn nói tiếp về “Les ”, Anh Vân (thực hiện), [tamsubantre.org] Nhìn chung, qua khảo sát những công trình viết về tác giả Bùi Anh Tấn và các sáng tác của ông về đề tài đồng tính, chúng tôi nhận thấy, mặc dù đã có một số tác giả đã đưa ra những kiến giải tương đối sáng rõ về cái mới trong tiểu thuyết, song hầu hết các kiến giải, đánh giá đó mới chỉ tồn tại dưới dạng một bài viết, một cuộc trao đổi mà chưa có một công trình nào chuyên sâu nghiên cứu về dấu ấn hiện sinh trong các tiểu thuyết của nhà văn Nhận ra khoảng trống đó, chúng tôi mạnh dạn

chọn đề tài “Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết “Một thế giới không có đàn bà” và

“Phương pháp của A.C Kinsey” của nhà văn Bùi Anh Tấn” hy vọng sẽ góp thêm

một tiếng nói về vấn đề này như là cơ sở lý giải nguyên nhân dẫn đến những thành công trong sáng tác của ông

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là dấu ấn hiện sinh trong hai tiểu thuyết Một thế giới không

có đàn bà; Phương pháp của A.C Kinsey tập trung trên các bình diện: Hệ thống nhân

vật, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung khảo sát hai tác phẩm:

- Một thế giới không có đàn bà, NXB Công an nhân dân – 2000

- Phương pháp của A.C Kinsey, NXB Trẻ - 2008

Trang 10

Ngoài ra, chúng tôi khảo sát sáng tác của một số nhà văn khác, nhất là những tác phẩm viết về đề tài đồng tính mang dấu ấn hiện sinh để đối sánh khi cần thiết nhằm làm

rõ vấn đề nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai nghiên cứu đề tài, chúng tôi vận dụng những phương pháp và thao

tác chủ yếu sau:

4.1 Cấu trúc - hệ thống

Nghiên cứu “Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết “Một thế giới không có đàn bà” và

“Phương pháp của A.C Kinsey” của nhà văn Bùi Anh Tấn” như một cấu trúc chặt chẽ,

mang tính hệ thống trong một chỉnh thể hoàn chỉnh

4.2 So sánh – đối chiếu

Trên hai bình diện: đồng đại và lịch đại

- Đồng đại: So sánh, đối chiếu với một số tiểu thuyết của một vài tác giả đương đại

để tìm ra chỗ tương đồng và dị biệt

- Lịch đại: So sánh, đối chiếu sáng tác của Bùi Anh Tấn với những tác phẩm trước

và sau đó để chỉ ra sự tiếp biến về đề tài đồng tính được thể hiện trong tác phẩm

4.3 Thống kê – phân loại

Thống kê những yếu tố thuộc về nội dung, nghệ thuật khi cần thiết từ đó phân loại

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người viết vận dụng các lý thuyết liên ngành

như: Thi pháp học, Tự sự học, Phân tâm học, Tiếp nhận văn học, Văn hóa học… để góp

phần giải quyết những vấn đề nghiên cứu mà đề tài đặt ra

5 Đóng góp của luận văn

5.1 Về lý luận

Luận văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện và khoa học về dấu

ấn hiện sinh trong sáng tác của nhà văn Bùi Anh Tấn Đánh giá những đóng góp mới của Bùi Anh Tấn ở mảng đề tài được xem là một “hiện tượng” của văn học Việt Nam đương đại Thông qua đó, luận văn góp phần khẳng định tài năng và vị trí của Bùi Anh Tấn

Trang 11

trong nền văn học mới Đồng thời, qua kết quả nghiên cứu, luận văn giúp người đọc có

thêm một cái nhìn đúng đắn hơn với những người đồng tính trong xã hội

5.2 Về thực tiễn

Công trình sẽ đem đến cho người đọc cuốn tài liệu tham khảo nhỏ, góp phần kích thích động lực mới, sinh khí mới cho thực tiễn nghiên cứu văn học hiện sinh và những ai quan tâm đến tiểu thuyết của nhà văn Bùi Anh Tấn

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ Lục; phần Nội dung của luận văn được triển khai trong 3 chương sau:

Chương 1: Dấu ấn hiện sinh và đề tài đồng tính trong tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà và Phương pháp của A.C Kinsey của Bùi Anh Tấn

Chương 2: Dấu ấn hiện sinh trong con người đồng tính qua tiểu thuyết Một thế

giới không có đàn bà và Phương pháp của A.C Kinsey của Bùi Anh Tấn

Chương 3: Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà và

Phương pháp của A.C Kinsey của Bùi Anh Tấn nhìn từ phương thức thể hiện

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 DẤU ẤN HIỆN SINH VÀ ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH TRONG TIỂU

THUYẾT MỘT THẾ GIỚI KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ VÀ

PHƯƠNG PHÁP CỦA A.C KINSEY CỦA BÙI ANH TẤN

1.1 Dấu ấn hiện sinh trong văn học Việt Nam đương đại

1.1.1 Vài nét về chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh ra đời từ những điều kiện lịch sử của một “phương Tây suy tàn” không phải chỉ do một nhà lý luận kiệt xuất nào đề ra mà do nhiều người nối tiếp nhau hoàn thiện nó trong mấy thập kỷ vào giữa thế kỉ XX Người ta có lý gọi đó là “phong trào hiện sinh” Người ta cho rằng, chủ nghĩa hiện sinh là một

“phong cách mới trong triết học” mà trước kia chưa từng có Nhưng bất cứ hình thái

ý thức nào cũng có một lôgíc nội tại, cũng bắt nguồn từ những cơ sở đã được tích lũy từ trước

Xã hội duy lý hoá ở phương Tây sa vào khủng hoảng bởi vì nó phi nhân vị hoá con người, con người chỉ còn là “một lực lượng vật chất đơn thuần” Một khi con người trở thành bần cùng kiệt quệ trong bộ máy khổng lồ của xã hội hiện đại thì sự suy sụp của cá nhân là một điều hiển nhiên Thân phận con người đã như thế thì thành tựu kỹ thuật mà loài người giành được tất không phải bằng giá trị người của loài người mà bằng “giá trị suy đồi của đạo đức” Chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng, đối lập lại chủ nghĩa duy lý thống trị trong xã hội Tây phương hiện đại Nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh và các hình thức khác của chủ nghĩa phi duy lý hiện đại

là sự khủng hoảng, sự bại hoại tinh thần do chủ nghĩa duy lý gây nên trong xã hội phương Tây hiện đại

Nhà hiện sinh cho rằng, tâm linh con người, hiện sinh của nhân vị đó mới

chính là lĩnh vực của triết học

Chủ nghĩa hiện sinh lấy triết học đời sống của Nietzsche, hiện tượng học của Husserl làm tiền đề lý luận Kierkegaard - người mở đường chủ nghĩa hiện sinh đã

kế thừa những di sản tư tưởng cần thiết của triết học Đức để đặt nền móng cho học

thuyết của mình Heidegger trong Giải thích học hiện tượng luận, ông cho rằng:

“Hiện sinh là sự tồn tại mà sự tồn tại mãi mãi chính là cái tôi nhưng cái tôi đích

Trang 13

thực bị tập thể nhân quần, xã hội bao vây, xâm chiếm cuối cùng đã biến thành cái người ta” [66]

Con người có thể được đề cập như một đối tượng của nghiên cứu khoa học nhưng chủ nghĩa hiện sinh lại muốn đề cập tới con người như một hiện sinh của một

tự do, vượt khỏi mọi khoa học Đó là một sinh lực tinh thần thực sự sống bằng tự do của mình trong những tình trạng cụ thể của thế giới loài người Vì con người được sinh ra với những thể chất và tinh thần không lặp lại ở bất cứ người nào khác Mỗi người có nhân vị, có cái đặc hữu của chủ thể tự do Với triết học hiện sinh, khái niệm nhân vị đã đánh dấu một phong cách mới trong triết học, có nghĩa nó là sản phẩm mới trong lịch sử

Tính không thống nhất hay tính sự kiện của nó là tuyệt đối Hiện sinh của nó

là phi lý Mặt khác, trước khi có sự can thiệp của ý thức để nhận thức về nó thì nó không là cái này sẽ là cái khác Rút cuộc nó chỉ là một hỗn mang Do vậy người hiện sinh thấy đời thường mang màu sắc bi thảm

Kẻ thù của tự do là cái hữu thể vô hồn mà Heidegger bảo nó là tầm thường, Camus bảo nó là phi lý, Sartre bảo nó là gây buồn nôn Chẳng ai hiểu buồn nôn như một cảm giác thông thường, như một sự lợm giọng do rối loạn tiêu hoá gây nên Đó

là một thái độ triết học về một trầm tư của con người trước cái phi lý của đời, về một cảm tính khó chịu, nặng nề như ngạt thở trước cái hiện hữu chưa thành hiện sinh của con người Rõ hơn nữa, đó là sự trừu tượng hoá những mối quan hệ giữa con người

và thế giới Khi người ta thấy một thế giới tiêu vong, một bức thành sụp đổ thì từ đó phát hiện ra một thế giới khác để hiện sinh Như vậy, buồn nôn là chìa khoá mở ra hiện sinh cho con người, nó có một giá trị siêu hình một khi ta phát hiện ra cái cơ bản của hiện hữu là hiện sinh thì thế giới khác lập tức mở ra Thế giới ấy tràn đầy sức sống, chuyển động dữ dội, muôn hồng, nghìn tía, tươi vui Cái sức sống ấy được đánh thức bằng buồn nôn làm cho ta càng khó chịu đến tức giận trước cái phi lý bao trùm lên những cái bình thường, cái trừu tượng, cái có sẵn đã được xác lập, cái khuôn sáo khô cứng của những công thức không còn sức sống

Khi nói tới cô đơn của triết học hiện sinh người ta thường nghĩ đến phạm trù cái chết Người theo chủ nghĩa hiện sinh xem cái chết như sự cố trong cuộc đời bi thảm của con người Cần phải hiểu cái chết cũng gắn bó với nhân vị, có nghĩa là

Trang 14

nếu cuộc sống này là của riêng tôi thì cái chết cũng là của riêng tôi, không ai có thể chết thay cho tôi nên cái chết cũng mang tính đặc hữu của riêng tôi

Chỉ có con người đã bị tha hoá như một định mệnh thì không cần phải lo âu, không mảy may phải lo âu, con người hiện sinh thì khác hẳn: họ lo âu

Lo âu không giống với sợ sệt Sợ sệt là cái gì rõ rệt còn lo âu là ưu tư về một cái gì như xa xôi không có chân trời nào cả Bản chất của lo âu là xao xuyến Lo âu mang hình thức một sự xao xuyến thường trực Lo âu triền miên kéo dài và khi không có giải pháp nào để thăng hoa thì con người sẽ sa vào tuyệt vọng Tuyệt vọng không phải là xuôi tay nhắm mắt mà là cửa mở cho sự giải thích, cho sự phủ định cái hữu hạn, là đi tới cái vĩnh cửu, cái vô hạn, cái tuyệt đối, cái siêu việt Như vậy, tuyệt vọng làm cho dự phóng hướng về tương lai Con người lo âu xao xuyến không phải dừng mãi trong cảm tính mà phải nhập cuộc

Tóm lại, triết học hiện sinh “là triết học nhân vị mà chủ thể tri thức là chính nhân vị con người Các phạm trù phái sinh từ hiện sinh của con người không là những định nghĩa trừu tượng phổ quát như triết học cổ truyền, triết học duy lý đã làm mà mô tả để con người lộ dần ra những trắc diện và những trắc diện đó tạo thành sắc thái của cuộc sống, của mỗi người chúng ta” [17, tr.124]

Thuyết hiện sinh được coi là tư tưởng triết học duy tâm chủ quan, cá nhân chủ nghĩa cực đoan Song với tư cách là đại diện của trào lưu tư tưởng chủ nghĩa nhân bản thì thuyết hiện sinh lại giàu tính thời đại Bài viết nhân dịp Sartre qua đời đăng

trên New York Times ngày 16-6-1980 có đoạn: “Chủ nghĩa hiện sinh của Sartre phản ánh sự vỡ mộng trong phạm vi rộng lớn đối với các tư tưởng hiện có của những người sống trong thời kỳ bão táp cách mạng và hệ thống đế quốc thực dân tan vỡ từ sau đại chiến II đến nay”

1.1.2 Hoàn cảnh tiếp nhận và sự hình thành phát triển của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam

Nước ta, sau ngày thống nhất, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, khoa nghiên cứu văn học đã có nhiều thành tựu trên các lĩnh vực nghiên cứu văn học dân tộc và văn học thế giới Giai đoạn 1954-1975, do hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử, đất nước bị chia cắt thành hai miền, điều này tạo nên sự khác biệt trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc Nếu miền Bắc, văn học phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng thì miền Nam, văn học phát triển vô cùng phức tạp với

Trang 15

nhiều khuynh hướng khác nhau Bên cạnh bộ phận yêu nước và cách mạng lại có bộ phận văn học phản cách mạng

Có thể nói, xã hội đô thị miền Nam từ 1954-1975 là một xã hội hội nhập nhiều nền văn hóa, ngoài văn hóa Việt còn có văn hóa phương Tây nói chung và văn hóa

Mỹ nói riêng Chính vì vậy, bức tranh lý luận – phê bình văn học ở đô thị miền

Nam xuất hiện nhiều trường phái lý luận – phê bình phương Tây như: Phân tâm học, Chủ nghĩa hiện sinh, Mỹ học tiếp nhận, Cấu trúc luận, Hiện tượng luận… là

điều tất yếu Bởi, nếu trong những năm 1930-1945, khi trào lưu lãng mạn chủ yếu của phương Tây tràn vào văn học nước ta qua phong trào Thơ mới và Tự lực văn đoàn thì theo Lý Hoàng Phong, ở miền Nam, trào lưu hiện sinh, trào lưu siêu thực

có tác động trong văn thơ cũng là thường Đến sau 1963, khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ kéo theo sự tan rã của chủ nghĩa duy linh – nhân vị, xã hội miền Nam khủng hoảng lại càng khủng hoảng hơn Lúc này cuộc chiến tranh đã bắt đầu bước vào thời kì khốc liệt Sự mất mát đau thương của cuộc chiến đã tác động đến tư tưởng của giới trí thức văn nghệ sĩ, khiến họ đã hoang mang, bế tắc lại càng bế tắc

và hoang mang hơn Đây là điều kiện tốt nhất để chủ nghĩa hiện sinh phát triển vào thời điểm này Vì thế chủ nghĩa hiện sinh được giới thiệu một cách có hệ thống, không những trên báo chí mà còn được viết thành sách để xuất bản, thành giáo trình giảng dạy trong các trường đại học và trung học Chủ nghĩa hiện sinh có cơ hội để phát triển nhanh chóng và trở thành một hệ tư tưởng chi phối mạnh mẽ đến đời sống

xã hội

Với việc ứng dụng lý thuyết của các trường phái lý luận – phê bình văn học

phương Tây hiện đại như: Phân tâm học, Chủ nghĩa hiện sinh, Mỹ học tiếp nhận, Cấu trúc luận, Hiện tượng luận… vào việc tìm hiểu hiện tượng văn học, các nhà lý

luận – phê bình văn học đô thị miền Nam đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí góp phần tạo ra những giá trị mới cho nhiều tác phẩm văn học dân tộc chỉ được nhìn nhận qua hệ quy chiếu của triết học và mỹ học phương Đông

Vào đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã bỏ lại phía sau thời kỳ cổ điển để bước sang thời kì hiện đại Cuộc cách mạng công nghiệp và sau đó cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm biến đổi tận gốc nền sản xuất của xã hội Bước vào thời kì này, công nghiệp cơ khí phát triển, quy mô sản xuất tăng lên mạnh

mẽ dẫn đến việc tích tụ sản xuất và các sản phẩm xã hội tuôn trào khắp nơi Tiến bộ

Trang 16

khoa học kĩ thuật được ý thức hệ của xã hội phương Tây miêu tả như thành quả của chủ nghĩa duy lý

Quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang chủ nghĩa tư bản được gọi là thời kì Ánh

sáng tiếp nối và thay thế cho “thời kì trung cổ ảm đạm” đã hình thành quan niệm

cho rằng, tiến bộ dường như chỉ có thể có được trên cơ sở phát triển phồn vinh của khoa học và kĩ thuật thông qua sự duy lí hóa chính trị, kinh tế và toàn bộ đời sống

xã hội Sự lạc quan đối với trí tuệ và tri thức đã thể hiện một cách đầy đủ và triệt để nhất trong ý thức lấy công nghệ làm nền tảng

Với chủ nghĩa duy lý, xã hội phương Tây đã rơi vào khủng hoảng suy đồi bởi

vì nó “phi nhân vị hóa con người”, con người chỉ là “một lực lượng vật chất đơn thuần” Một khi con người trở nên bần cùng và kiệt quệ trong bộ máy kỹ thuật của

xã hội hiện đại thì sự suy sụp của chủ nghĩa cá nhân là một điều hiển nhiên

F.Fromm nói về con người trong nền văn minh kỹ trị như sau: “Vấn đề của thế

kỉ XIX là “Chúa đã chết”, vấn đề của thế kỉ XX là con người đã chết Ở thế kỉ XIX,

sự tàn bạo chống lại con người, ở thế kỉ XX là sự tha hóa có tính nô lệ, trong tương lai con người có nguy cơ trở thành thần kinh phân liệt Trong quá khứ, tai họa là ở chỗ con người trở thành robot Con người không còn là con người mà biến thành cái máy không tư duy, không tình cảm Con người bị máy móc hóa, tự động hóa, trở thành một yếu tố đơn giản của khoa học kĩ thuật, cho nên đánh mất hết mọi đức tính của riêng mình và không tồn tại như một nhân vị, một cá nhân nữa”

Chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng, đối lập lại chủ nghĩa duy lí thống trị trong

xã hội phương Tây hiện đại Có người cho rằng, các cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc là nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh cho nên nó thấm nặng chủ nghĩa bi quan thất bại Tuy nhiên, không phải thế, bằng chứng là những nơi không có chiến tranh hoặc chiến tranh đã lùi xa vào dĩ vãng thì chủ nghĩa hiện sinh và các xu hướng của chủ nghĩa phi duy lí vẫn phát triển Chiến tranh chỉ là một điều kiện Nguồn gốc của

nó và các xu hướng khác là sự khủng hoảng, sự bại hoại tinh thần do chủ nghĩa duy

lí gây nên trong xã hội phương Tây hiện đại Ngoài ra, chủ nghĩa hiện sinh không

chỉ hiện diện ở lí thuyết mà còn thể hiện ra một lối sống, một “phong cách sống”

Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ đi vào lối sống mà nó còn có mặt ở cả cuộc bạo

loạn của sinh viên trong phong trào phản văn hóa Mỹ, trong “cuộc cách mạng vui vẻ” với những Festival, phong trào mang tên “xã hội mới”… Tuy nhiên, cái ảnh

Trang 17

hưởng nhiều nhất, có ý nghĩa quyết định cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh đó là hiện tượng học của Husserl Hiện tượng học này cung cấp cho chủ nghĩa hiện sinh một lí thuyết để trở thành triết học chứ không phải chỉ là một phương pháp coi như một công cụ nhận thức để vũ trang cho các nhà hiện sinh

Có thể nói, kể từ đầu thế kỉ khi chủ nghĩa hiện sinh chào đời, có hai hình thức nổi trội nhất là chủ nghĩa duy lí mà đáng chú ý là chủ nghĩa Hegel và chủ nghĩa thực chứng, hai lĩnh vực khoa học và triết học khác nhau nên phương pháp cũng khác nhau Đối tượng của khoa học là sự vật mà sự vật thì tĩnh cho nên tính khách thể là tuyệt đối Vì vậy, phương pháp của khoa học dựa trên công thức và đo lường Trái lại chủ nghĩa hiện sinh là nhân vị chủ động và tự do, vì vậy người ta lấy và nói tới “giải thích” trong khoa học và trong quan hệ con người Đồng thời, chủ nghĩa hiện sinh muốn đánh thức con người thoát khỏi giấc mơ duy lí và khoa học bằng cách nêu lên ba cấp độ của tri thức: Thứ nhất, khoa học thực nghiệm lấy thế giới vật

lí làm đối tượng; Thứ hai, triết học hiện sinh lấy đời sống tinh thần làm đối tượng; Thứ ba, thần học lấy cái siêu việt và thượng đế làm đối tượng

Cho đến nay, chủ nghĩa hiện sinh vẫn còn có sức sống riêng của nó và đóng vai trò đáng kể trong đời sống tinh thần của nhiều nước trên phạm vi thế giới

1.1.3 Vài nét về dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện ở miền Nam những năm 1954-1975 khi con người khao khát tự do và quyền sống, mong muốn suy tư về chính tự do và thân phận làm người Nó có ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống và nghệ thuật: sân khấu, điện ảnh, cải lương, đặc biệt là văn học Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra yếu tố hiện

sinh trong những tác phẩm văn học cổ như: Cung oán ngâm, Truyện Kiều…

Cùng với đó, trong những tác phẩm văn học của Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Thị Hoàng… thì những yếu tố của hiện sinh như cái chết, sự hư vô luôn hiện diện thường trực Tác giả Nguyễn Thị Hoàng ví cuộc sống như là một

“thành lũy hư vô”, ở đó ngày lại ngày mọc lên những nấm mồ mới, ngày Chúa nhật cũng chỉ là một bãi chiến trường và ở trong cái “thành lũy hư vô” đó “không có ánh sáng rực rỡ của sửng sốt ngạc nhiên và nồng nàn của xôn xao rung cảm”, mọi cảm xúc bị lịm chìm, chỉ còn lại một người kéo lê cái thân xác trong cõi hồng trần mà thôi Còn tác giả Lê Xuyên thì thường xuyên đưa vào trong những sáng tác của mình về những chết chóc, về sự khốn khổ của kiếp người Với Dương Nghiễm

Trang 18

Mậu, ông được đánh giá là một nhà văn xuất sắc với một lối viết hiện đại, thấm đầy chất hiện sinh, đi sâu vào thân phận con người, phơi bày những cảnh ngộ làm người

trong một thế giới nhiều bất trắc, phi lý

Với sự ảnh hưởng lớn mạnh của mình, chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành một phần trong đời sống tâm hồn người Việt Nam, nó hướng con người đến cuộc sống

tự do, khẳng định nhân vị độc đáo của mình Mặt khác, chủ nghĩa hiện sinh đã trực

tiếp hoặc gián tiếp tác động vào quá trình “nhà văn nắm bắt hiện trạng phi lý của thế giới duy lý hoá hiện đại, thấy được thân phận nhỏ bé của của con người trước

nền văn minh kĩ thuật của thế giới hiện đại” [51]

Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh, văn học “không chỉ phản ánh hiện thực” mà “suy ngẫm về hiện thực”, “áp sát hiện thực” Nó đi vào thân phận cá

nhân với tư cách là nhân vị, sản phẩm của sự không nhất thiết, của ngẫu nhiên cho nên nó từ chối đi vào điển hình, dù là tính cách hay hoàn cảnh điển hình mà chỉ

bằng lòng dừng lại ở cái “bản chất cụ thể” [17, tr.163]

Đất nước ta hiện nay trong thời kì hội nhập, các nhà văn hoàn toàn nắm bắt được hiện trạng phi lí của thế giới duy lí hóa hiện đại, thấy được thân phận nhỏ bé của con người trước nền văn minh kĩ thuật của thế giới hiện đại Các nhà văn sáng tác theo cảm hứng hiện sinh có thể chịu ảnh hưởng của các nhà văn nước ngoài do tiếp xúc với các tác phẩm của họ Nhưng trong thời đại ngày nay, văn học so sánh cho phép chúng ta thấy những vấn đề lớn của thời đại đang đặt ra không chỉ cho một dân tộc mà cho cả hành tinh Những vấn đề ấy mang tính chất toàn cầu và nhân

loại Vấn đề thân phận bi thảm của con người là một trong những vấn đề lớn ấy

Tác giả Nguyễn Quang Lập trong cuốn tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng

đã nhìn đời chỉ là những mảnh đời đen và trắng Với ông, mảnh đen được hiểu là cái bản năng, là cái vô thức, còn mảng trắng, mảnh ánh sáng là cái đối lập Ở tiểu thuyết này, Nguyễn Quang Lập muốn thông qua mảnh trắng để nói về mảnh đen Một cái thị trấn nhỏ bé đang vận hành bởi những con người duy lý đến cứng nhắc, tiêu biểu là Đại úy Thìn Trong thời khóa biểu của Đại úy, người ta như sờ thấy cái nỗi nhớt nhát, chán chường của các nhân vật kiểu Camus Mỗi con người chỉ là một

chi tiết nhỏ trong cái guồng máy ấy “Họ đang cô độc trong cái xã hội mười lăm ngàn dân cư ngụ trong thị trấn”, ai sẽ là người an ủi họ Làm cho con người ta có

Trang 19

cảm giác như “đang ngồi dưới nấm mồ rờn rợn” và “cái nhà này cũng là một ngục

tù chứ đâu xa”

Trong cái ngột ngạt đó, nói theo kiểu của chủ nghĩa hiện sinh, trong cái cộng

đồng của những tồn tại thô lậu, con người làm sao tránh khỏi buồn nôn “Mỗi lúc mỗi ngấy lên nỗi buồn nôn”, “Buồn nôn, có cái gì ghê tởm đang ứ đầy trong cổ”,

“Trần tục nhìn vào chỉ thấy buồn nôn” Nhưng buồn nôn chỉ đến và chỉ có ở những

người dám đối diện với cái phần đen của mình Khi bản thân họ không thể siêu việt,

họ cảm thấy cô đơn, cô đơn như chưa bao giờ được cô đơn

Trong tác phẩm Thiên sứ , tác giả Phạm Thị Hoài đã cho nhân vật của mình

suy nghĩ rằng, người ta không ai quyết định được thay ai, nếu có lựa chọn thì cũng không hề lựa chọn, lựa chọn chỉ là một ngụy tạo bởi vì quyết định táo bạo nhất cũng chỉ nảy sinh từ ngẫu nhiên, từ xô đẩy của các dữ kiện

Viết về nhân vật lịch sử không phải để “đập phá thần tượng”, các tác giả coi các nhân vật lịch sử không hiện sinh, không có nhân vị Vì thế, họ muốn khai thác các nhân vật này theo một hướng mới: nhìn họ như những cá thể hiện sinh với những sinh hoạt, ham muốn đời thường Nguyễn Huy Thiệp đã cho Nguyễn Trãi vốn là người giàu tưởng tượng và là một nhà duy mỹ Chủ nghĩa duy mỹ là biểu hiện của mơ tưởng vô thức Do vậy “cái đẹp là thứ không thể bình bầu, không thể tổ chức, không thể rao bán như món hàng chợ phiên” [47, tr.34]

Trong những sáng tác của những nhà văn trẻ như Thuận, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Đoàn Minh Phượng luôn mang đậm dấu ấn hiện sinh… Người đọc dễ dàng bắt gặp sự ê chề trong thân phận con người qua tác phẩm của Thuận Những con người nhỏ bé, mất tích trong thế giới hối hả của cuộc sống Rồi họ mất tích trong sự dửng dưng lạnh lùng của người thân Họ là những người bị lãng quên, những kẻ ngoài lề của cuộc sống

Sự hoài nghi về thế giới đầy rẫy tranh chấp Thiện – Ác luôn xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương Con người với ám ảnh về “trí nhớ suy tàn”,

sự suy tàn của lí trí, của những mối quan hệ và chính cuộc sống tẻ nhạt hàng ngày Con người luôn ấp ủ một chuyến đi, là con người ưu tư của hiện sinh, không cam chịu cuộc sống như cỏ cây, khao khát tìm lại nhân vị tự do của mình Dấu ấn hiện sinh như một ám ảnh u buồn day dứt

Trang 20

Tất cả những ý tưởng của chủ nghĩa hiện sinh mà chúng ta bắt gặp trong những nhà văn trên đã cho thấy có một sự du nhập, chịu sự tác động của nhiều nhà triết học hiện sinh trên thế giới trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

1.2 Đề tài đồng tính trong văn học Việt Nam đương đại

1.2.1 Sự hình thành giới tính và các xu hướng tình dục

Bất kỳ tế bào nào của cơ thể loài người cũng đều có 21 cặp nhiễm sắc thể thường và một cặp nhiễm sắc thể giới tính Ở phái nữ, nhiễm sắc thể quy định giới tính là X và X, còn ở nam là X và Y Đôi nhiễm sắc thể giới tính này quyết định những khác biệt giới tính giữa hai phái, trong đó có bộ sinh dục ngoài Bên cạnh đó,

bộ não nam và nữ cũng khác nhau Nó có một vùng đặc biệt gọi là hạ đồi, tiết ra nội tiết tố có tác dụng kích thích tinh hoàn hay buồng trứng sản xuất ra nội tiết tố giới tính Trong nó cũng có trung tâm xác định đối tượng tình dục mà nếu bị trục trặc thì

có thể nó sinh ra chuyện yêu người cùng phái

Trong sinh học, quá trình hình thành giới tính gắn với quá trình phân ly tế bào (giới tính- sex, gốc Latinh là sectus, nghĩa là chia cắt) Bình thường khi phân chia tế bào cơ chế xảy ra trong lúc giảm chất nhiễm sắc hoạt động một cách hết sức chính xác Nhưng đôi khi quá trình phân bào giảm nhiễm, hai nhiễm sắc thể giới tính lại không tách rời nhau (hiện tượng không phân ly) Chính điều này khiến sinh ra cá thể mang nhiễm sắc thể bất thường

Dựa theo xu hướng tình dục, có thể chia giới tính thành ba loại:

- Dị giới tính luyến ái (heterosexuality): Đó là đa số nhân loại Nếu là nam,

họ sẽ có cặp nhiễm sắc thể XY trong tế bào và chỉ yêu người khác phái - người có cặp nhiễm sắc thể XX

- Đồng tính luyến ái (homosexuality): Về mặt sinh học, những người đồng tính

luyến ái hoàn toàn bình thường Nam giới bị “pờđờ” không phải do thiếu nội tiết tố sinh dục nam testosterone, nên họ chẳng cần thử máu để biết nồng độ testosterone có bình thường hay không, và cũng chẳng cần phải điều trị họ bằng testosterone uống hay chích vào, bởi nó chỉ có hại cho sức khỏe con người Hiện nay, khoa học vẫn chưa giải thích được vì sao trung tâm não nhận diện đối tượng tình dục của những người này chỉ có hình ảnh của người cùng phái Có phải do rối loạn nhiễm sắc thể hay không? Có phải do thiếu testosterone khi còn trong bào thai hay không? Chưa ai

Trang 21

chứng minh được Có một điều các nhà chuyên môn rõ nhất là nữ giới cũng có đồng tính luyến ái nhưng ít gặp hơn nam

- Lưỡng tính luyến ái (bisexuality): Nhắc tới đồng tính luyến ái thì không thể

không nhắc tới Alfred Kinsey, người đã đưa ra thang chia mức độ giới tính luyến ái,

đi từ dị giới tính tới đồng tính luyến ái, mà nằm giữa hai thái cực là những người lưỡng tính luyến ái May mắn hơn những người đồng tính luyến ái, những người lưỡng tính luyến ái vẫn có thể có chồng (vợ), có con nhưng vẫn có… bồ cùng giới

Có những người lưỡng tính luyến ái, sau một thời gian có vợ có con, lại hiểu ra mình chỉ có thể quan hệ đồng tính, nên đành “dứt áo” ra đi, bỏ vợ (chồng) bỏ con,

đi theo một chàng (nàng) nào đó

1.2.2 Giới thuyết về đồng tính luyến ái

1.2.2.1 Khái niệm đồng tính luyến ái

“Đồng tính luyến ái” (homosexuality) hay “đồng tính” là một thuật ngữ dùng phổ biến ở phương Tây thế kỉ XX chỉ hiện tượng tình dục đồng giới

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Thạch và Võ Chí Dũng trong Mẹ ơi, con đồng tính, đã định nghĩa: “Đồng tính luyến ái là một trong bốn thiên hướng tính dục lớn của con người, bao gồm đồng tính, dị tính, lưỡng tính và vô tính Trong đó, hiểu đơn giản, đồng tính luyến ái là những người nam giới, nữ giới đã trưởng thành có thiên hướng quan hệ tình cảm, tình dục với người có cùng giới tính với mình Nếu là nam với nam thì gọi là “gay”, nữ với nữ gọi là “lesbian”, gọi tắt là les Họ được coi là “thiểu số tình dục”

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Đồng tính luyến ái” hay “đồng

tính” chỉ việc hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc lâu dài Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thức của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này (…) Đồng tính luyến ái được coi là một dạng trong thang liên tục của thiên hướng tình dục Thực tế, “đồng tính” khá phức tạp, có nhiều kiểu, dạng, loại

và cách gọi khác nhau

Đồng tính nữ được gọi là Lesbian, gọi ngắn gọn là “Les” “Les” lại chia làm

nhiều kiểu: “Fem” chỉ những người đồng tính nữ có nữ tính, khó phát hiện là les;

“Butch” là những người đồng tính nữ có nam tính, cử chỉ điệu bộ giống đàn ông;

“Soft butch”(SB) là từ chỉ một dạng khác của đồng tính nữ, có bề ngoài và cá tính

Trang 22

mạnh mẽ nhưng ở mức độ chừng mực, không cố gắng hết sức nhằm loại bỏ những đặc điểm nữ tính của mình

Đồng tính nam được gọi là “Gay” “Gay” lại chia làm “gay kín”, “gay mở” (bóng lộ) “Gay kín” là những đồng tính nam có nam tính, rất khó và không thể nhận biết được họ đồng tính nếu họ không công khai “Gay mở” là những người đồng tính nam ăn mặc, cử chỉ như phụ nữ, họ tự coi mình là nữ giới và nhiều người

đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính Một cách bình dân, “pêđê” có thể chỉ người đồng tính nam, “ô môi” có thể chỉ người đồng tính nữ Các từ “đồng tính luyến ái”,

“gay”, “les” là từ khoa học mang tính chất trung lập song các từ “pêđê”, “bóng lộ”,

“hifi”… mang tính xúc phạm ít hoặc nhiều Cụm từ “giới thứ ba” mặc dù không mang tính chất xúc phạm và được dùng phổ biến bởi người dân và báo chí nhưng nó không có định nghĩa rõ ràng và thường để chỉ cộng đồng người đồng tính và người chuyển giới tính một cách không phân biệt Theo bác sĩ Trần Bồng Sơn, nhà giới tính học nổi tiếng Việt Nam, có hai loại người đồng tính: thật và giả Những người đồng tính thật là những người đồng tính bẩm sinh và số người này rất hiếm Theo ông, hầu hết những người đồng tính là giả, bị bạn bè rủ rê để thử nghiệm lối sống mới nhưng cuối cùng cũng trở về với lối sống trước đó

1.2.2.2 Tâm lý của những người đồng tính

Theo thực tế đã được chứng minh, những người đồng tính thường có xu hướng quan hệ tình dục với người đồng giới Họ chỉ đạt khoái cảm khi quan hệ với người đồng giới mà thôi Họ có những biểu hiện khác biệt: người đàn ông có xu hướng tình dục đồng giới đa phần có tâm hồn mỏng manh, yếu đuối, luôn muốn được che chở bởi người khác Tâm hồn họ đa cảm như người phụ nữ Đối với những người nữ đồng tính luyến ái, họ có xu hướng muốn che chở cho người yêu, nhưng đa phần nữ giới che giấu xu hướng tình dục của mình Phụ nữ chịu nhiều sự ràng buộc từ gia đình, xã hội, nhất là ở một nước có truyền thống Nho giáo khá lâu đời như nước ta

Hầu hết, người đồng tính thường rơi vào trạng thái hoang mang, mặc cảm khi biết về xu hướng tình dục của mình Khi họ nhận thức được về bản thân mình thì họ phải đấu tranh rất nhiều để chấp nhận sự thật về bản thân Họ đồng thời lo sợ

bị dị nghị, bị khinh bỉ nên sống trong mặc cảm, che giấu sự thật về bản thân mình

Đó là tâm lý chung của đa phần người đồng tính Người đồng tính nào cũng luôn

Trang 23

luôn phải đối mặt với những dằn vặt nội tâm: mình là ai, mình thuộc giới tính nào, mình phải sống thế nào, mình muốn gì? Khi không biết mình là ai, người ta hoảng loạn, khi phát hiện ra bản thân mình thì đau đớn , sợ hãi, sau đó hằng ngày đối mặt với cuộc sống không giống mọi người, người đồng tính lại rơi vào bi kịch hổ thẹn,

bế tắc, cô đơn

1.2.3 Đồng tính trong lịch sử - xã hội và nghệ thuật

1.2.3.1 Vấn đề đồng tính trong lịch sử - xã hội

* Nguồn gốc của đồng tính luyến ái

Đồng tính luyến ái đã thực sự trở thành một trong những hiện tượng quan trọng ở cả phương Đông và phương Tây Đã có nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề nguồn gốc của hiện tượng đồng tính luyến ái này Có người cho đó là chuyện bình thường trong khi một số khác cho đó là một loại bệnh hoặc là một dạng

tệ nạn xã hội Một số tôn giáo lớn trên thế giới (Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo) cho đồng tính luyến ái là do quỷ Satan xúi giục, cám dỗ để chống lại những lời dạy dỗ của Thiên Chúa Phái Thiên Chúa giáo bảo thủ chủ trương đồng tính là một lựa chọn của cá nhân do ảnh hưởng của môi trường và lựa chọn này trái với ý muốn của Thiên chúa Bác bỏ những cáo buộc trên, giới khoa học đã chứng minh đồng tính luyến ái là một khuynh hướng tình dục tự nhiên, không phải là một bệnh rối loạn tâm thần hay một tệ nạn xã hội cần phải loại bỏ

Khi nghiên cứu lịch sử của nhân loại, các nhà khoa học rất bất ngờ rằng đồng tính đã xuất hiện từ rất sớm (thế kỉ VI -> thế kỉ IV TrCN), khi những nền văn minh của loài người bắt đầu nhen nhúm, từ Đông sang Tây, từ Á sang Âu đồng tính không còn là chuyện lạ Nhiều truyền thuyết, nhiều cổ vật miêu tả cảnh quan hệ đồng tính Nổi bật nhất có thể thấy đồng tính hiện diện ở nền văn minh Hi Lạp, La

Mã, Ả Rập, Ba Tư, Trung Quốc, Nhật Bản và thậm chí trong Kinh thánh được xem

là một trong những tài liệu cổ xưa nhất cũng nói về đồng tính Tại Cộng hoà Séc, các nhà khoa học đã khai quật được một ngôi mộ cổ của một người đồng tính có niên đại từ 4500 năm đến 5000 năm tại ngay thủ đô Praha Nhiều nhân vật lịch sử trong đó có Socrates, Lord Byron, Leônardo da Vinci,… có thể được xem là người đồng tính Vị vua lừng danh Friedrich II đại đế tức “Friedrich độc đáo” trị vì nước Phổ từ 1740 đến 1786 cũng bị nghi vấn đồng tính luyến ái

Trang 24

Ở Đông Á, tình yêu đồng tính có trong những tài liệu lịch sử xa xưa nhất Đồng tính luyến ái ở Trung Quốc được biết đến với “mối tình cắt tay áo” (vua Lưu Hân thời nhà Tây Hán vào năm thứ VII TrCN yêu mê mệt chàng trai trẻ Đồng Hiền…) Đồng tính luyến ái ở Nhật Bản được biết đến dưới dạng chúng đạo shudo hay nam sắc nanshoku (những từ bị ảnh hưởng từ văn chương Trung Quốc) được ghi nhận từ hơn một nghìn năm và từng là một phần trong đời sống Phật giáo và truyền thống Samurai Văn hoá tình yêu cùng giới làm truyền thống hội hoạ và văn chương cũng được tôn vinh “Truyện kể Genji” là một trường thiên tiểu thuyết của Murasaki Shikibu cũng đề cập đến mối quan hệ này Trong lịch sử Việt Nam rất hiếm có trường hợp đựơc ghi nhận mặc dù trong thế kỉ XVI, XVII có một vài vua chúa có thê thiếp là đàn ông… Ngoài ra, sách sử có chép rằng vua Khải Định tuy có

12 bà vợ nhưng bất lực hoặc không thích gần đàn bà, chỉ thích đàn ông

Như vậy, không phải bây giờ mới có đồng tính mà đồng tính đã xuất hiện từ rất lâu Nói bây giờ đồng tính nhiều hơn do lây lan là “oan” cho đồng tính vì các nhà khoa học nghiên cứu được rằng luôn có một tỉ lệ đồng tính nhất định trên tổng dân số (trung bình khoảng 5%) Chính vì thế dân số tăng thì tỉ lệ đồng tính cũng phải tăng theo Mặt khác, thời đại ngày nay, công nghệ phát triển, nhận thức thoáng hơn thì nhiều người đồng tính “công khai” hơn trước kia

*Quan điểm xã hội đối với hiện tƣợng đồng tính luyến ái

Do những thành kiến và phân biệt đối xử, thậm chí ngay cả phỉ báng, khinh

rẻ, kết tội trong nhiều xã hội, nhiều cộng đồng mà nhiều người đồng tính luyến ái phải chịu áp lực, tủi hổ và đau khổ Trong thế kỉ XX, Đức quốc xã đã cho hành quyết những người đồng tính luyến ái vì cho rằng họ đe doạ sự nam tính và làm dơ bẩn “giống nòi Aryan” Năm 1950, hàng trăm người bị sa thải vì là đồng tính trong một chiến dịch có tên là “Nỗi sợ hoa oải hương” của McCarthyism

Hiện nay, khi xã hội đã cởi mở hơn, quyền cá nhân càng được tôn trọng hơn thì thái độ của xã hội đối với những người đồng tính luyến ái không còn quá nghiệt ngã Ở Việt Nam, nhìn chung thái độ của xã hội đối với đồng tính luyến ái là kì thị

ở các mức độ khác nhau hoặc không thể hiện thái độ rõ ràng như phớt lờ, không quan tâm Những định kiến về đồng tính luyến ái vẫn còn khá phổ biến trong xã hội Việt Nam Mặc dù pháp luật không cấm cản nhưng đề tài đồng tính luyến ái được xem là không bình thường, tránh né

Trang 25

Có thể thấy, Khổng giáo là nền tảng tư tưởng đạo đức phong kiến ở Việt Nam, nó tồn tại khá lâu, và dù không còn địa vị nữa, nhưng ngày nay tư tưởng đó vẫn còn ảnh hưởng nhất định Theo Khổng giáo, người đàn ông cần lập gia đình, sinh con nối dõi Chính vì vậy, người đồng tính nam chịu áp lực gia đình rất nhiều, không dám sống cho chính mình Họ giấu đi sự thật về bản thân, lập gia đình và che giấu bản thân hoặc tìm đến bạn tình nam một cách lén lút Người phụ nữ chịu đựng

áp lực nhiều hơn nam, và phần đông phụ nữ đồng tính không công khai sự thật về bản thân mình

Rất nhiều ý kiến cho rằng, người đồng tính ngày càng nhiều và công khai vì

họ ảnh hưởng lối sống phương Tây, chạy theo mốt, đua đòi Điều này không hề có

cơ sở Tuy nhiên chính lối suy nghĩ đó khiến định kiến xã hội với người đồng tính trở nên nặng nề hơn Trong số các nước Đông Nam Á, Thái Lan là nước có cái nhìn với người đồng tính khá thoải mái Họ chưa hề bị các nước phương Tây đô hộ trong quá khứ

Đã từng có rất nhiều người cho rằng, đồng tính là một hành vi đáng ghê tởm, bệnh hoạn, đặc biệt những hành vi âu yếm của những người nam với nhau Định kiến này ở nông thôn càng khắc nghiệt hơn Rất nhiều bậc cha mẹ khi biết con mình

là người đồng tính thì giận dữ, la mắng, bỏ rơi hoặc không quan tâm nữa Điều này làm nhiều người đồng tính không dám công khai sự thật về bản thân, sống trong đau khổ, tủi nhục Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển thì nhận thức của con người càng được mở rộng, một số người đã không còn coi đồng tính là một căn bệnh cần phòng tránh nữa và thái độ của họ với người đồng tính đã cởi mở hơn so với trước đây

1.2.3.2 Đề tài đồng tính trong văn học nghệ thuật

Vấn đề đồng tính đã trở thành một trong những đề tài không chỉ có trong văn học Việt Nam đương đại mà còn trong văn học thế giới từ cổ chí kim, từ Tây sang Đông Văn học đồng tính hiện hữu như một nhu cầu tự thân, phản ánh cuộc sống muôn màu của những người đồng tính Thế giới đồng tính phức tạp nhưng lại đầy hấp dẫn Đó cũng là nguyên nhân khiến một số nhà văn dày công viết nên tác phẩm văn học đồng tính mới lạ, mang giá trị sâu sắc

Trên thế giới, đề tài đồng tính trong văn chương không còn xa lạ Tuy mỗi nhà văn có cách tiếp cận và góc nhìn khác nhau nhưng nhìn chung tác phẩm văn

Trang 26

chương về “giới thứ ba” đã ít nhiều giảm bớt việc bị cái nhìn định kiến và “cấm kỵ” của xã hội “theo dõi” Trong văn học phương Tây, nhà văn Hy Lạp Lucian (120 - 185) là người đầu tiên viết về chuyện tình yêu của những người đồng tính nam với

tác phẩm có tên Lịch sử có thật (True History) Tác phẩm với cốt truyện kể về nhân

vật chính bị cơn bão cuốn lên mặt trăng và chứng kiến cuộc chiến tranh giữa cư dân mặt trăng và cư dân mặt trời Nhân vật chính (nam giới) sau những chiến công trên chiến trường đã được vua mặt trăng chọn làm con rể bằng cách cho lấy con trai nhà

vua Sau đó một thời gian dài, tác phẩm Carmilla của Sheridan le Fanu với nội dung

đề cập về đồng tính nữ Tác phẩm thể hiện ở hình tượng người con gái bị biến thành

Ma cà rồng và có hành vi sex với người đồng giới Bên cạnh đó, nhiều độc giả cũng

đã sốc nặng với cảnh quan hệ đồng tính dày đặc trong tiểu thuyết Bức tranh của Dorian Gray (The picture of Dorian Gray) của nhà văn danh tiếng Oscar Wilde

Đến thế kỉ XX, nhiều tác giả đã mạnh dạn hơn khi viết về đồng tính với nhiều tác phẩm có chất lượng Văn học về đề tài đồng tính đã trở thành một trào lưu khá mạnh mẽ, nhiều tác phẩm làm say mê hàng triệu độc giả trên thế giới Tiểu

thuyết Annie trong tâm trí tôi (Annie on My Mind) của nhà văn nữ người Mỹ -

Nacy Garden, xuất bản năm 1982 là một câu chuyện tình đầy tinh tế và nhạy cảm về tình bạn, tình yêu, về định kiến và những lực cản xã hội Nữ văn sĩ Nancy đã tỏ ra đồng cảm với nỗi lòng và tâm trạng của những người đồng tính luyến ái

Cuốn Sa mạc trái tim (Derert of the Heart) của Jane Rule và cuốn Nghe thấy tiếng hát của những nàng tiên cá (Mrs Stevens Hears the Mermaids Singing) của

bà Stevers là hai cuốn sách về đề tài đồng tính đầu tiên được giới xuất bản chính

thống ở Mỹ xuất bản ở dưới dạng bìa cứng vào năm 1964 Tác phẩm Nữ đàn ông

(The Female Man) của Joanna Russ cũng được độc giả đón nhận nồng nhiệt và đưa

vị trí của Russ lên hàng “bà hoàng văn học đồng tính”…

Ở phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc, văn học viết về đồng tính luyến ái

ra đời rất nhiều với những tác phẩm: Biện nhi thoa, Long dương dật sử, Nghi hương xuân chất, Phẩm hoá bảo giám, Kim bình mai, Liêu trai chí dị, Hồng Lâu Mộng…

Nhiều tác phẩm đã được chuyển thể thành phim và trình chiếu ở nước ngoài (Đông cung, Tây cung) Ngoài ra, còn xuất hiện nhiều tác phẩm viết về đồng tính trên mạng cũng được lưu truyền và đón nhận Còn ở Nhật Bản, rất nhiều nhà văn viết về

đề tài đồng tính Trong đó, tiêu biểu là nhà văn Haruki Murakmi với tiểu thuyết

Trang 27

mang tên Người tình Sputnik Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Marakmi đi sâu vào thế giới đồng tính nữ nhưng Người tình Sputnik trước hết là một ẩn dụ đẹp và

da diết buồn về sự cô độc của kiếp người, về sự mất đi và tìm kiếm vô vọng cái tôi đích thực

Tại Việt Nam, văn học đầu thế kỉ XX cũng đã xuất hiện một số tác phẩm về

đề tài này mặc dù xuất hiện khá muộn Nhà thơ Xuân Diệu nổi tiếng chủ yếu qua

thơ tình của ông và ông cũng đã có những bài thơ viết về đồng tính như Tình trai,

Em đi, Biển… (Bài thơ tặng mối tình trai của ông và Hoàng Cát) Nhà thơ Huy Cận cũng có một số bài thơ như Vạn lý tình, Mai sau, Ngủ chung cũng thấp thoáng đề

cập đến vấn đề đồng giới

Trong những năm trở lại đây, văn học viết về đề tài đồng tính đã bắt đầu

được khai thác mạnh dạn hơn với rất nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Một thế giới không có đàn bà (Bùi Anh Tấn, 1999), Les, vòng tay không đàn ông (Bùi Anh Tấn, 2004), Phương pháp của A.C.Kinsey (Bùi Anh Tấn, 2005), Xin lỗi em, anh đã yêu anh ấy (Nguyễn Thơ Sinh, 2007), Song song (Vũ Đình Giang, 2007), tự truyện Bóng của Nguyễn Văn Dũng (Hoàng Nguyên, Đoan Trang (ghi), 2008), tự truyện Thành phố không lạc loài của Phạm Thành Trung ( Lê Anh Hoài, (ghi), 2008), Những đốm lửa trên vịnh Tây Tử (Trang Hạ, 2008), 1981 (Nguyễn Quỳnh Trang, 2007), Lạc giới (Thuỷ Anna, 2008)… Với những tác phẩm kể trên, văn học viết về

đề tài đồng tính luyến ái đã tạo ra những cơn sóng nhất định trong dòng chảy của văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI và đã nhận được sự phản hồi từ cộng đồng tiếp nhận

Những tác phẩm viết về đề tài đồng tính đọng lại trong tâm trí người đọc một thế giới của những con người đang đi tìm bản thể đích thực của mình, những giằng xé nội tâm, những khát khao hạnh phúc và trong họ cũng nhiều nỗi đau khổ không biết chia sẻ cùng ai Thời đại càng phát triển thì tư tưởng con người càng tiến bộ và văn học đồng tính ngày càng có nhiều không gian phát triển Người

ta sẽ bắt đầu nhận thấy rằng, cuộc sống của chúng ta cần nhiều tác phẩm văn học thể hiện một cách chân thực nội tâm con người Bên cạnh những tác phẩm có những thành công về nội dung cũng như nghệ thuật còn có những tác phẩm còn nhiều hạn chế nhưng tất cả đã tạo nên sự đa dạng, nhiều màu sắc cho hiện tượng văn học còn khá mới mẻ này

Trang 28

1.3 Nhà văn Bùi Anh Tấn với dấu ấn hiện sinh và đề tài đồng tính

1.3.1 Đề tài đồng tính trong sáng tác của Bùi Anh Tấn

Nói đến Bùi Anh Tấn, người ta sẽ nghĩ ngay đến một nhà văn của người đồng tính Bởi ông được xem là người tiên phong khi viết nhiều tác phẩm về đề tài này Chỉ riêng ông cũng đã có “tuyển tập đồng tính” do nhà xuất bản Trẻ phát hành gồm

các tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà (viết về đồng tính nam), Les, vòng tay không đàn ông (viết về đồng tính nữ), Phương pháp của A.C Kinsey (viết về đồng tính nam), Không và sắc (đề cập đến vấn đề dục lạc và những biểu hiện của sự khát dục trong hàng ngũ tăng sĩ trẻ) và tuyển tập truyện ngắn Cô đơn (với các truyện như

“Cô đơn”, “Tình trai”, “Bướm đêm”, “Biển cạn”, “Bụi đường”, “Trái tim tội lỗi”, “Như một tiếng thở dài”, “Ánh đèn đêm”, “Bên đời hiu quạnh”, “Tình nhớ”…) Với số lượng những tác phẩm kể trên, có thể nói, Bùi Anh Tấn là nhà văn

Việt Nam đầu tiên mở đường và soi rọi đề tài đồng tính, một vấn đề khá nhạy cảm hiện nay

Bằng ngòi bút của mình với những trải nghiệm từ thực tế, nhà văn đã giúp độc giả thấy rõ hơn, hiểu sâu hơn về thế giới của những người đồng tính mà họ đang sống và trải qua với những thăng trầm của số phận Trong những tác phẩm ấy, thế giới của người đồng tính hiện lên với nhiều mảng màu sắc khác nhau, nhiều dư vị khác nhau, để rồi sau đó khi kết thúc tác phẩm, độc giả lại bàng hoàng và xót xa về một thế giới không “an lành” cho những người đồng tính, những trái ngang của cuộc đời mà họ phải gánh chịu, mà lẽ ra họ phải được hưởng trọn vẹn niềm vui, hạnh phúc như bao người bình thường khác

Năm 1999, cuốn tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà ra đời đã đưa Bùi

Anh Tấn trở thành cái tên “hot” trên văn đàn Tác phẩm đã tái hiện rõ một thực tế đang hiện hữu bên cạnh của cuộc sống của những người bình thường, đó là thế giới của những người bị đồng tính luyến ái Tiểu thuyết đã thể hiện rõ nét chân thật đời sống của giới đồng tính “gay”, những cảm nhận chiêm nghiệm của tác giả dưới góc

độ “nhân học” Ông đã không ngần ngại gửi thông điệp đến với xã hội, đến với chúng ta một điều rằng, nếu là người đồng tính luyến ái thì họ cần được sự cảm thông và chia sẻ từ đồng loại Và bản thân người đó, tức những người đồng tính, hãy dũng cảm sống và hướng tới hạnh phúc bằng chính nghị lực từ trái tim mình Hãy ngẩng cao đầu để chờ đón những thử thách và cả những ngọt ngào mà mỗi con

Trang 29

người trong chúng ta khi sinh ra đều có quyền được hưởng… Có thể nói tác phẩm

ra đời đã mang đến cho văn học đương đại một “làn gió mới”, nó “thổi tan” những định kiến vốn tồn tại kiên cố trong tâm thức người dân Việt

Sau khi gây được sự chú ý của độc giả về đề tài khá nhạy cảm này, nhà văn

Bùi Anh Tấn đã tiếp tục xuất bản tiểu thuyết Les, vòng tay không đàn ông với nội

dung viết về đồng tính nữ Nhân vật chính là những doanh nhân thành đạt (Kiều Thu, Hương Trang), giảng viên đại học (Yên Thảo), sinh viên (Hoàng Châu) Tác

giả từng tâm sự rằng: “khi viết về đồng tính nữ, tôi hoàn toàn hiểu rằng mình đang mạo hiểm (…) Viết về đồng tính nam dù sao tôi cũng có một số lợi thế nhất định, trong khi viết về giới tính nữ tôi hoàn toàn là người “trắng tay” Dù vậy, tôi hy vọng mọi người nhận ra cái tâm của người cầm bút và những bạn đọc đồng tính nữ

sẽ hiểu và cảm thông bởi vì tôi rất muốn xã hội hiểu các bạn hơn” [64] Trong tác

phẩm này, nhà văn đề cấp đến các nhân vật chính đều là những người phụ nữ thành đạt, cả về danh vọng lẫn vật chất Đọc tác phẩm, độc giả nhận thấy các nhân vật phải đối mặt với những rắc rối của bản thân cũng như sức ép của dư luận Và hiểu

được những trắc trở của mình, họ đã tìm đến nhau … “Phụ nữ - bất kể họ là ai thì vẫn luôn giữ được sự mềm mại, dịu dàng, nữ tính Và dĩ nhiên, những trang viết về

họ cũng sẽ như vậy Không có vụ án, không có đổ máu nhưng nhiều nước mắt …”

[68] Cuốn tiểu thuyết này ra đời đã đáp ứng lòng mong mỏi của những người yêu thích văn chương cũng như chính những người trong cuộc

Cũng sau đó một thời gian, năm 2005, Bùi Anh Tấn tiếp tục cho ra đời tiểu

thuyết Phương pháp của A.C Kinsey Tiểu thuyết tập trung đề cập đến đời sống

tinh thần của những “gay” khá thành đạt trong cuộc sống như: Cường, Bằng, Rich Phạm, kỹ sư Trung, giám đốc Trần Anh Đọc tác phẩm, người đọc sẽ thấy được cuộc sống vật chất của họ khá sung túc và đầy đủ Họ luôn khát khao được sống thật với bản thân nhưng luôn phải chịu những giằng xé nội tâm đau đớn Có thể thấy, tác phẩm này là một bước tiến mới thể hiện sự hiểu biết sâu sắc hơn của tác giả về đồng tính với cái nhìn cảm thông và nhân văn hơn

Bên cạnh việc cho ra đời những tiểu thuyết trên, các tiểu thuyết khác sau đó

như Không và sắc, Và ta và em và cả bầu trời và tập truyện ngắn Cô đơn cũng là

những sáng tác rất hay và có giá trị của Bùi Anh Tấn về chủ đề giới tính Với tập

truyện Cô đơn, một lần nữa, Bùi Anh Tấn cho người đọc thấy được thế giới tâm hồn

Trang 30

phong phú của những người đồng tính, những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính luyến ái Dù có những giả định mang tính chủ quan nhưng với giọng văn chân thành, tự nhiên, giàu cảm xúc, tác phẩm đã để lại những ấn tượng khó quên trong lòng độc giả

Như vậy, bằng việc cho ra đời một loạt các sáng tác viết về đề tài đồng tính của mình, Bùi Anh Tấn thực sự đã trở thành nhà văn của thế giới những người đồng tính với cái nhìn đầy thiện cảm và chia sẻ, và cũng là nhà văn Việt Nam đầu tiên đề cập đến đề tài đồng tính và gặt hái được nhiều thành công Đây là sự gợi hướng, mở đường cho các nhà văn khác tiếp tục hành trình đến với những con người thuộc về thiểu số Qua mỗi trang viết, mỗi nhân vật ấy, người đọc thông cảm và đồng cảm với những cảm xúc rất bản năng, với những dằn vặt và khổ đau của kiếp người mà không rơi vào cách nhìn dung tục hoá tới mức tầm thường các giá trị cuộc sống Đặc biệt, nhà văn luôn đề cao tính nhân văn, sự hướng thiện và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ nhất trong con người dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc sống Trong hai chương sau, chúng tôi tập trung tìm hiểu dấu ấn hiện sinh của thế giới đồng tính

ở hai tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà và Phương pháp của A.C Kinsey

1.3.2 Dấu ấn hiện sinh trong sáng tác của Bùi Anh Tấn

Nhà văn Bùi Anh Tấn là người đầu tiên đã đưa đề tài đồng tính vào tiểu thuyết trong nền văn học Việt Nam Qua đó, nhà văn đã thể hiện thiện chí của người cầm bút nhằm giúp mọi người trong xã hội hiểu, thông cảm, chấp nhận và có cái nhìn khác hơn về giới này Ông cho chúng ta thấy một thế giới của lời ca, của nước mắt

và cả nụ cười, thế giới của những dằn vặt đau đớn, của những kẻ bị bỏ bên lề cuộc sống mà họ phải gánh chịu một cách thầm lặng và sống trong đau khổ của bể đời Không chỉ nhìn người đồng tính từ những biểu hiện tâm lý khác thường, từ những sự lệch chuẩn về mặt sinh học, mà quan trọng hơn, Bùi Anh Tấn đã nhìn họ

ở góc độ hiện sinh, một góc độ cuộc sống của con người với những cảm thông và chia sẻ Đó là một cái nhìn hiện sinh toàn diện, đa chiều và công bằng với người đồng tính Qua tác phẩm của mình, Bùi Anh Tấn đã cho độc giả thấy một thế giới thứ ba, thế giới của những người đồng tính không dễ dàng sống và tồn tại một cách

êm đềm và hạnh phúc, một thế giới lạc loài với những giọt nước mắt khóc thương

số phận bẽ bàng trước thực tại xã hội cay nghiệt khi chưa có một sự nhìn nhận đúng đắn và chấp thuận với sự tồn tại trong đời sống “lệch lạc” của chính họ

Trang 31

Các tác phẩm viết về đồng tính của nhà văn đều hiện lên rõ nét những dấu ấn hiện sinh về cuộc đời, số phận, những góc khuất của nhân vật đồng tính Đó là một bức tranh toàn cảnh bên cạnh xã hội với những con người thuộc thế giới thứ ba, thế giới nơi mà những số phận, những hoàn cảnh đau thương, khốn cùng nhất đang tồn tại song song với những người bình thường khác Trong thế giới đó, cuộc sống của các nhân vật là những góc tối về duyên phận, danh vọng, tình yêu, tình dục… luôn chứa chan nhiều nước mắt và những nỗi đau ít ai biết được Nhà văn Bùi Anh Tấn

đã thấu hiểu được nỗi lòng của họ, đi vào tận trong sâu thẳm nội tâm, nỗi đau của

họ để thể hiện trên từng trang văn với những dòng chữ đầy cảm xúc, sự cảm thông

và sự sẻ chia đầy nhân văn Và mỗi câu chuyện, sự kiện, hình ảnh của mỗi nhân vật

mà nhà văn thể hiện luôn mang đậm những dấu ấn hiện sinh về con người với cái nhìn đa chiều

Qua tác phẩm của Bùi Anh Tấn, thế giới của những người đồng tính hiện ra với nhiều khía cạnh khác nhau Thế giới ấy có giọt nước mắt của những người khao khát được sống với chính mình, được khẳng định mình mà càng chua xót khi nhận

ra mình là kẻ “lạc loài”, bị xã hội và người thân xa lánh, coi như một kẻ lập dị;

khao khát được yêu thương nhưng lại sợ đồng loại chê cười, xỉa mói… Trong thế giới đó đầy rẫy tội ác, nghiện ngập, chơi bời, dục vọng của những con người tha hóa, biến chất Nhưng thế giới ấy cũng có tình yêu, những tình yêu chân thành, tha thiết và sẵn sàng hy sinh cho nhau khi giữa họ tìm thấy được sự đồng cảm, yêu thương lẫn nhau Tình yêu của người đồng tính cũng đẹp như những người dị tính, nhưng họ yêu nhau trong lo âu, khắc khoải, lo sợ bị xã hội coi thường, ngăn cản Con người vẫn đang khao khát khám phá và khẳng định bản ngã chính mình Nhưng con người vẫn luôn tự biến mình thành vật hiến tế cho những định kiến của

xã hội Định kiến xã hội đã trở thành một bức tường thành kiên cố bất khả xâm phạm, và những người đồng tính, những người thuộc thế giới thứ ba đang miệt mài tìm cho mình chỗ đứng trong xã hội ấy Để rồi từ đó, họ mỏi mệt, lo âu, họ khát khao được là mình nhưng không dám sống là mình, tự thu mình trong những vỏ bọc

để hàng đêm sống với những giọt nước mắt và những niềm vui lén lút Tạo hóa sinh

ra họ không giống mọi người và họ đang tự đi tìm cho mình những người cùng cảnh ngộ, để được sống, được yêu, được cống hiến, được trở thành chính mình Và rồi họ lại chết trên con đường tìm về bản ngã, sống theo bản năng và những cái chết do bế

Trang 32

tắc Cái chết đã tìm đến họ như một định mệnh Có người chết vì không còn đường sống, sợ bị xã hội phát hiện; có người chết vì lối sống buông thả, vì con đường mưu sinh bán thân đồng tính, vì không chấp nhận được sự thật về bản thân mình … Họ

đã tìm đến cái chết hay chính cái chết chọn họ như điều cần phải thế? Y như rằng, cái chết là điều mà người đồng tính luôn phải đối mặt

Có thể hiểu rằng, chủ nghĩa hiện sinh đề cao nhân vị Bằng cách đi sâu vào nỗi

cô đơn bản thể của con người trong xã hội hiện đại với sự phát triển rầm rộ của khoa học kĩ thuật, chủ nghĩa hiện sinh đã thể hiện cái nhìn cảm thương cho số phận con người Và không ít bộ phận trong giới nghiên cứu từ trước đến nay đã chọn con đường khám phá tác phẩm của các nhà văn đương đại dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh để khám phá tính nhân văn của văn học Trong khi đó, đồng tính là một chủ đề còn khá mới mẻ và “hot” trong nền văn học Việt Nam Bởi lẽ, văn hóa phương Đông chúng ta còn khá xa lạ với vấn đề đồng tính nên vẫn giữ thái độ xa lánh, kì thị với người đồng tính Việc lựa chọn chủ nghĩa hiện sinh là cách để đem lại tính nhân văn cho những sáng tác về đề tài đồng tính của các nhà văn hiện nay, trong đó Bùi Anh Tấn là một nhà văn tiêu biểu

Theo tác giả Thái Phan Vàng Anh: “Hiện sinh là triết học về thân phận con người, các nhà hiện sinh đề cao nhân vị Hiện sinh chỉ xuất hiện khi con người ý thức được bản thể, ý thức được mình là một chủ thể” [61] Chính vì thế mà cảm

thức hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 nói chung và tiểu thuyết viết về đồng tính của Bùi Anh Tấn nói riêng chủ yếu được biểu hiện ở những ưu tư, trăn trở

về bản thể, về thân phận con người Cuộc sống của con người là một hành trình mải

miết kiếm tìm với câu hỏi “Ta là ai? Ta vì ai? Ta sẽ đi về đâu?” Nếu nhân vật của Đoàn Minh Phượng lang thang trên những toa tàu vô định để trả lời câu hỏi “Tôi là ai? Tôi từ đâu đến?” (Và khi tro bụi) thì nhân vật đồng tính của Bùi Anh Tấn cũng

băn khoăn đi tìm bản chất thật của mình như những người bình thường khác Việc thừa nhận bản thân mình là ai, với người bình thường đã là một điều hết sức khó khăn, nhưng với người đồng tính thì điều này còn khó khăn hơn nữa Lí do cũng thật dễ hiểu bởi họ phải chịu áp lực từ gia đình, xã hội Chính vì vậy, người đồng tính vừa muốn khẳng định mình là ai lại vừa hoài nghi chính bản thân mình Họ vừa muốn biết mình là ai nhưng cũng sợ biết mình là ai Nhưng dẫu sự thực có thế nào thì người đồng tính đều muốn biết sự thật về bản thân mình, nhận thức lại mình để

Trang 33

tồn tại trong xã hội Có thể thấy, hầu hết các tiểu thuyết viết về đồng tính của Bùi Anh Tấn đều hướng đến việc truy tìm bản thể, nhưng nghịch lý thay, đó là hành trình khám phá cái tôi đầy trăn trở, giằng xé Và họ cũng luôn mắc kẹt trong mớ bùng nhùng của những mê cung, đối mặt hay trốn chạy đều phi lí

Trong tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn thì những vấn đề hiện sinh như cái chết, nỗi cô đơn, sự khốn khổ của kiếp người, thân phận con người luôn hiện diện thường trực Người đồng tính chỉ là những kẻ lạc lòi, những kẻ bên lề của cuộc sống Con người ai cũng cô đơn thế nhưng người bình thường vẫn có thể tìm đến bạn bè để tâm sự, giãi bày tâm tư còn người đồng tính thì không Họ cô đơn tuyệt đối Họ hoàn toàn “bị bỏ rơi” giữa thế giới này Họ không thể chia sẻ cùng ai, bởi lẽ họ sợ sau đó sẽ phải nhận lấy sự khinh rẻ, xa lánh, xỉ vả của người đời vì sự “lệch lạc”, sự

bất thường về giới tính của mình Từ lúc sinh ra họ đã phải mang lấy những khiếm

khuyết mà chính họ cũng không sao lí giải được Họ khao khát được sống như một người bình thường nhưng không thể Cuối cùng có người trong số họ phải lựa chọn cái chết như giải pháp duy nhất để kết thúc bi kịch Thế nhưng, Bùi Anh Tấn luôn

đề cao tính nhân văn, sự hướng thiện và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ nhất trong con người dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc sống Ở thế kỉ XXI này, độc giả vẫn tìm thấy ở tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn với những kết thúc có hậu, đẹp như chuyện

cổ tích Tất nhiên đó là niềm tin và giấc mơ của nhà văn rằng người đồng tính sẽ có thể trở thành những con người bình thường với tình yêu khác giới thuận theo tự

nhiên và họ sẽ không còn phải lạc loài giữa thế giới bao la này

Khẳng định nhân vị, dấu ấn hiện sinh còn thể hiện ở việc đề cao thân xác

“Con người chỉ hiện hữu nhờ thân xác và trong thân xác Tôi hiện tồn bằng chính thân xác của mình Thay vì chỉ trăn trở “tôi là ai” như trước đây, con người trong tiểu thuyết hôm nay còn trăn trở thêm: Tôi đứng ở đâu giữa sự phân chia muôn đời đực/cái” Lấy tính dục làm trung tâm cảm xúc, qua tính dục để lí giải, cắt nghĩa những vấn đề cuộc sống và con người là bằng chứng của một quan niệm về hiện sinh tính dục ở tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI nói chung và tiểu thuyết về đề tài đồng tính nói riêng Tính dục không chỉ là phương diện để tận hưởng hay trốn tránh thực tại mà còn là phương diện để nhận diện chính mình Việc miêu tả con người tính dục trong tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn và nhiều nhà văn đầu thế kỉ XXI trở thành cái cớ để nhìn thấu những bản thể người Hiện sinh tính dục, đặc biệt là tính dục

Trang 34

lệch pha, trở thành một điểm nổi bật ở nhiều tác phẩm tiểu thuyết Bùi Anh Tấn, Vũ Đình Giang, Nguyễn Đình Tú Trong các tiểu thuyết như “Một thế giới không có đàn bà”, “Les, vòng tay không đàn ông”, “Không và Sắc”, “Phương pháp của A.C Kinsey” của Bùi Anh Tấn nhân vật phải nếm trải nỗi đau giới, bản năng lệch Điều đáng lưu ý là khai thác tính dục lệch pha, các nhà văn viết về đề tài đồng tính nói chung và Bùi Anh Tấn nói riêng “không nhìn nó từ góc nhìn xã hội học về giới

mà đi sâu vào những trạng thái tâm hồn con người, niềm đam mê bản năng, nỗi cô đơn, mặc cảm thân xác, sự tìm kiếm bản ngã qua hoạt động tính giao nghịch dị” [61]

Dẫu cuộc sống đầy rẫy những cái phi lí, nhưng người đồng tính vẫn phải chấp nhận để tồn tại và mong muốn đi tìm bản chất thật của mình và mong muốn sống thật với chính mình Với nội dung mang đậm dấu ấn hiện sinh và ngòi bút đầy cảm thông, nhà văn Bùi Anh Tấn đã đi sâu tìm hiểu thế giới đồng tính với thái độ đồng cảm sâu sắc Thế giới ấy không đơn giản như những bài phóng sự mà đầy những uẩn khúc, nỗi đau của người trong cuộc Bằng sự thể hiện dấu ấn hiện sinh rõ nét trong từng tác phẩm, nhà văn cho ta thấy một cái nhìn toàn diện về thế giới đồng tính Qua đó, độc giả khi đọc tác phẩm có thể ngẫm nghĩ và có những thái độ khác nhau với người đồng tính Họ có thể giữ thái độ riêng của mình, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng thế giới ấy đáng nhận được sự đồng cảm từ mọi người với những yêu thương, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau Phải chăng, nhà văn còn gửi gắm ước mơ xây dựng nên một cuộc sống, một xã hội yên lành, hạnh phúc và ngập tràn những niềm vui trong cuộc sống hằng ngày

Trang 35

CHƯƠNG 2 DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG CON NGƯỜI ĐỐNG TÍNH

QUA TIỂU THUYẾT MỘT THẾ GIỚI KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ

VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA A.C KINSEY CỦA BÙI ANH TẤN

2.1 Con người cô đơn, lạc loài và con người bi kịch

2.1.1 Con người cô đơn, lạc loài

Soren Kierkegaard (1813-1855), triết gia Đan Mạch, cho rằng: “Mỗi con người là một hiện sinh độc đáo… mỗi con người là một vũ trụ đóng kín, không ai hiểu nổi và cũng không tự thông báo cái nội tâm phức tạp của mình cho bất cứ ai”

[45, tr.257] Như vậy, theo S Kierkegaad, cô đơn là bản chất của con người, chứng

tỏ sự tồn tại đích thực của con người, làm cho con người được là chính nó, không thể trộn lẫn

Trong văn học Việt Nam, nhiều tác phẩm gần đây thường đề cập đến sự cô

đơn và nó được coi như là một căn bệnh của thế kỉ Qua những tác phẩm của các

nhà văn, đâu đâu ta cũng thấy các nhân vật đều mang trong mình một trạng thái cô đơn và thậm chí là lạc loài giữa xã hội, giữa đồng loại mà không thể nào thoát ra được những nỗi ám ảnh đó Dù hiện nay, cuộc sống xã hội đang ngày càng phát triển, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông ngày càng hiện đại nhưng vẫn không đủ sức để xóa đi những hố sâu ngăn cách giữa các cá nhân trong một xã hội không ngừng thay đổi này

Với những người bình thường thì có thể hiểu nguyên nhân của những nỗi cô đơn bắt nguồn từ đâu, họ phải làm gì để thoát khỏi nỗi cô đơn ấy để tìm đến một cuộc sống tươi đẹp hơn Nhưng với những người đồng tính, cuộc sống của họ là một thế giới của nỗi cô đơn và sự lạc loài luôn vây quanh Họ chìm ngập trong đau buồn vì không được ai thấu hiểu Họ đối mặt với những dằn vặt nội tâm không biết mình là ai, mình thuộc giới tính nào, mình phải sống như thế nào và sẽ phải làm gì… Và khi không trả lời được câu hỏi đó, họ sợ hãi, đau đớn và rơi vào trạng thái hoảng loạn, bế tắc, cô đơn và lạc loài giữa xã hội Cuối cùng, hầu hết những người đồng tính luôn sống trong vỏ bọc, họ mong muốn được hòa nhập, giãi bày, sẻ chia

mà không thể được ngay cả với những người thân, bạn bè

Trang 36

Đọc tác phẩm của Bùi Anh Tấn, chúng ta thấy hình ảnh con người cô đơn, lạc loài xuất hiện nhiều trong từng trang văn của ông với nhiều trạng thái cảm xúc và hoàn cảnh khác nhau Dường như, cô đơn và lạc loài là một bản chất chủ yếu của con người hiện đại Những nhân vật cô đơn, lạc loài thường là những nhân vật có khả năng nhận thức về bản ngã, về số phận của mình trong xã hội Hầu hết các tác phẩm của Bùi Anh Tấn, sự cô đơn, lạc loài như là một thứ định mệnh nghiệt ngã và khủng khiếp đối với những người đồng tính Một mặt, nó chứng tỏ sự hiện tồn của con người giữa cuộc đời, mặt khác, nó bủa vây và bóp nghẹt sự sống của chính họ

và trở thành rào cản tâm hồn, chướng ngại vật ngăn trở sự hoà hợp của mọi người với nhau và với thế giới bên ngoài

Nhân vật Hoàng trong tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà là một chàng

trai có học thức với vẻ bề ngoài đẹp trai, có gia đình êm ấm và hạnh phúc, nhưng Hoàng luôn cô đơn trong chính bản thân mình và cảm thấy lạc loài với mọi người

Khi anh nhận thức được rằng mình là một gay thì hầu hết những mối tình đồng giới

ở Hoàng đều xuất phát từ chính nỗi cô đơn trong anh từ thuở nhỏ cho đến lúc dậy thì Sống trong một gia đình hạnh phúc với ba má, vợ chồng anh hai là Nguyễn Lân, Hoàng đã rất hãnh diện và tự hào với gia đình mình, nhưng sao trong cuộc sống đó, anh vẫn cảm thấy bơ vơ và trống trải Nhiều lúc Hoàng muốn nói chuyện, hỏi han điều gì đó với mọi người hay muốn tâm sự và mong được sự chỉ bảo, động viên từ anh hai thì Hoàng nhận được chỉ là sự vô tình, thiếu quan tâm, chia sẻ của người

cha và anh Chính vì thế mà“trong căn nhà rộng của mình, nhiều lúc Hoàng bơ vơ không biết tâm sự cùng ai” [57, tr.126] Thời gian trôi qua, Hoàng lớn dần ở tuổi

dậy thì với những khám phá và tò mò về bản thân, rồi cảm thấy sợ sệt và lo lắng về những tình cảm lạ lùng của mình với thằng bạn, Hoàng muốn nói chuyện với anh

hai, nhưng khi hỏi anh hai thì “anh mắng nó, mới tí tuổi đầu mà đã đòi yêu đương” bởi anh nghe câu được câu không Hoàng “buồn bã lủi thủi với nỗi cô đơn ám ảnh trong tâm hồn mình” [57, tr.219] Cũng chính vì thế mà Hoàng luôn cô đơn và thấy

lạc lõng với chính gia đình và trong bản thân mình Khi không thể giấu nổi được sự thật về bản thân, Hoàng đành chấp nhận thú thật với gia đình Để rồi, Hoàng bị anh

hai đánh đập, xỉ vả, Hoàng cay đắng, ngậm ngùi ra đi và “từ đó Hoàng sống một mình dày vò trong cô đơn ám ảnh, không còn quan hệ với bất cứ ai nữa” [57,

tr.222]

Trang 37

Rời gia đình, Hoàng mở Sài Gòn Boys Bao nhiêu năm làm việc và tiếp xúc

nhiều với dân gay nhưng Hoàng không kết thân với ai và cũng không làm tình với

ai Nghĩ đến những giọt nước mắt đau khổ của má, ánh mắt đầy tuyệt vọng của ba trước khi qua đời, Hoàng luôn thấy hoảng sợ và trách móc chính bản thân mình vì

đã gây nên tội lỗi đó Cũng từ đó, “Hoàng cô đơn Phải chăng đây chính là cái giá phải trả cho một kẻ đồng tính” [57, tr.222-223] Nỗi cô đơn và lạc loài ấy tràn ngập

trong suy nghĩ, lo âu của Hoàng Anh luôn cảm thấy mình bơ vơ trong cuộc sống bộn bề và hiện đại này

Cùng với Hoàng, những nhân vật như Bằng, Rich Phạm, Trần Anh trong tiểu

thuyết Phương pháp của A.C Kinsey là những nhân vật cô đơn và lạc loài với xã

hội Đối với nhân vật Rich Phạm, cô đơn và lạc loài như thấm sâu trong dòng máu của anh Đọc tác phẩm, người đọc cảm nhận được tâm hồn Rich là một khung trời rộng mênh mông, nhiều khoảng trống dài đến tận vô cực mà chẳng thể nào ngăn lại

được Ngay từ nhỏ “Rich đã có cảm giác mình là một con người khó hiểu, khó hiểu bởi những cảm giác cô đơn mãi vây quanh” [59, tr.144] Vì thế mà Rich luôn sống

trong cảm giác thiếu vắng, trống trải, nhạt nhòa không gì lấp đầy nổi mặc dù có rất nhiều người thân bên cạnh Rich đã triết lí rất sâu sắc về sự cô đơn trong một trò

chuyện với Cường: “cô đơn không hẳn là thuộc tính dành riêng cho người nghệ sĩ như họ vẫn thường cho là vậy, cô đơn vốn là bản chất của con người Khi chúng ta bắt đầu có tri thức, biết tư duy tức là chúng ta đã cảm nhận được sự cô đơn rồi…”

[59, tr.144-145] Với triết lí ấy, liệu rằng đến bao giờ Rich mới có thể thoát khỏi nỗi

“cô đơn” quá mênh mông và rộng lớn mà anh như đang bị “ngập” và bị nhấn chìm trong đó Hai tiếng “cô đơn” dường như đã ẩn sâu trong tiềm thức và cảm xúc của Rich ở mọi lúc mọi nơi Có lẽ vì thế, trong mỗi giấc mơ, Rich luôn khát khao tìm được người mình yêu thương và thấu hiểu mình tất cả

Cùng với nỗi cô đơn như Rich, nhân vật Trần Anh cũng luôn sống trong cô đơn và lạc loài Anh là một doanh nhân sớm thành đạt khi được sinh trưởng trong một gia đình trí thức với sự giáo dục đầy nghiêm khắc của cha mẹ Cũng vì thế mà Trần Anh là niềm mơ ước của nhiều cô gái theo đuổi nhưng nỗi cô đơn và lạc loài

của một người đồng tính khiến “trái tim anh hoàn toàn nguội lạnh trước bất kỳ cô gái nào” [59, tr.335] Biết mình là một gay, anh đã cố che giấu sự thật để giữ gìn

danh dự bản thân và gia đình Cũng bởi anh đang là một doanh nhân lớn có tiếng

Trang 38

trên thương trường với cuộc sống gia đình tưởng chừng hạnh phúc, êm đềm cùng

vợ con Nhưng tất cả chỉ là vẻ hào nhoáng, là vỏ bọc bên ngoài Không gì có thể khỏa lấp được những ưu tư, trăn trở trong anh Nỗi cô đơn, lạc loài cứ thế chế ngự bản thân anh mọi lúc mọi nơi khi anh nghĩ về mình Là một người đồng tính với bao dằn vặt và lo sợ, những nỗi đau trong anh chẳng thể nào nguôi đi, nó khiến anh đau khổ và mệt mỏi khi đối mặt với gia đình nếu họ biết được sự thật ấy Cũng chính vì thế mà lúc nào, anh cũng cảm thấy mình cô đơn, cảm thấy mình lạc loài Là người

có học thức, anh đã cố gắng tìm mọi cách để chế ngự bản thân, chôn giấu đi những cảm xúc bản năng để làm tròn trách nhiệm của một người chồng, người cha trong gia đình Thế nhưng, anh đã không thể chiến thắng bản thân mình mà giấu vợ để tìm trai, cùng sống với tình trai ấy để thỏa mãn những khát vọng tình yêu đồng giới của mình

Bùi Anh Tấn đã phát hiện và xây dựng thành công một trạng thái luôn thường trực bên trong những người đàn ông gay đã có vợ con Họ dù cho có sống trong tình yêu thương của vợ và con, đời sống vật chất đầy đủ và công việc ổn định, nhưng khi

đã là một người đồng tính thì những người đàn ông ấy vẫn luôn mang trong mình nỗi cô đơn, lạc loài đến bất tận mà chẳng thể nào xua tan được Bởi họ luôn sống theo bản năng, đi tìm một tình yêu đích thực với giới tính của mình, dù rằng nó sẽ mang lại những đau khổ, mất mát cho gia đình Biết làm sao được khi số phận đã nghiệt ngã sắp đặt họ như vậy và họ đành chấp nhận sự thật với chính bản thân mình

Con người cô đơn, lạc loài thường nghiêng về đời sống nội cảm và sống trong

quá khứ với nhiều nỗi buồn, ẩn ức Trong tiểu thuyết Les, vòng tay không đàn ông,

nhân vật Kiều Thu cũng là một người luôn chứa đựng trong mình sự cô đơn và lạc loài Chị là một người nổi tiếng trên thương trường với vị trí là tổng giám đốc Công

ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Dược phẩm A, dó đó, người ta luôn thấy

“dược sỹ Kiều Thu luôn chủ động trong mọi tình huống quan hệ, sắc sảo và quyết đoán trong làm ăn kinh doanh, nhiều đối thủ cạnh tranh phải kính nể mỗi khi nhắc đến” [58, tr.61] Bên ngoài Kiều Thu là một người thông minh, mạnh mẽ và thẳng thắn là thế nhưng “có ai biết mỗi đêm về nằm một mình trong cô đơn chị thèm khát một bờ vai để sẻ chia, hờn giận” [58, tr.325] Biết mình là một les, chị đã rất lo sợ

và mặc cảm nếu người khác phát hiện mình là một người có giới tính lệch lạc, bởi

Trang 39

chị là “một người đàn bà có xu hướng thích quan hệ đồng tính nữ, là một lesbian đúng nghĩa” [58, tr.83] Vì thế, Kiều Thu cảm thấy đau khổ, trăn trở với số phận

khi không biết chia sẻ cùng ai Để che giấu sự thật ấy, chị đã chấp nhận lấy chồng xem đó là một biện pháp hữu hiệu Chị cố gắng làm tròn bổn phận và trách nhiệm của một người vợ, người mẹ Nhưng sự thật đã không thể khiến chị vượt qua được

mình là một người đồng tính, chị “muốn sống thật với bản thân, được quyền yêu và lựa chọn tình yêu của mình” [58, tr.84] như là một sự giải thoát Nhận thức rõ điều

đó, chị đã quyết định chia sẻ và nói rõ cho chồng biết về việc bản thân bị đồng tính

và mong nhận được sự cảm thông, thấu hiểu từ người bạn đời Nhưng chị đã bất hạnh và đau khổ khi bị chồng khinh bỉ và xa lánh Nỗi đau còn lớn hơn khi chị không được quyền nuôi con, bởi người chồng sợ đứa con gái của mình cũng sẽ bị đồng tính như chị Và đó như là một cái giá phải trả khi chị là một les Cũng từ đó, chấp nhận công khai giới tính, sống tự do nhưng Kiều Thu lúc nào cũng cảm thấy

cô đơn và trống trải

Qua những nỗi đau mà Kiều Thu phải trải qua, có thể thấy nhà văn Bùi Anh Tấn đã rất tinh tế và thành công khi khắc hoạ nỗi cô đơn, lạc loài của chị - một người đàn bà mạnh mẽ, giàu có và quyền uy nhưng lại có những khoảng tối sâu

thẳm trong cuộc sống đáng thương của mình: “Dưới vẻ mạnh mẽ, cứng rắn kia còn

có một Kiều Thu khác, một Kiều Thu đầy tâm sự khổ đau trong lòng mà không dám nói cùng ai” [58, tr.277] Và thế, nỗi cô đơn đã trở thành nỗi ám ảnh luôn thường

trực trong cuộc sống của Kiều Thu

Với việc xây dựng con người cô đơn, lạc loài trong các tiểu thuyết của mình, Bùi Anh Tấn đã thực sự làm toát lên nỗi buồn da diết về thân phận con người và sự trăn trở về khoảng trống sâu thẳm còn tồn tại trong kiếp người Nhà văn đã tái hiện lại một cách cụ thể, sắc nét, đầy đủ những cung bậc cảm xúc, biểu hiện khác nhau của những người đồng tính Qua đó, độc giả nhận thấy được những khoảng trống không thể bù đắp trong tâm hồn con người trong cuộc sống hiện đại đương thời, nơi con người luôn cảm thấy lạc lõng, bơ vơ và trống trải với mọi thứ xung quanh Những người đồng tính phải đối mặt với những khó khăn của chính bản thân mình, với những nghi kị, xa lánh của gia đình và xã hội Họ luôn cố thoát khỏi sự bủa vây của nỗi cô đơn, lạc loài bằng những cách riêng của mình Vì thế mà các nhân vật luôn sợ phải đối mặt với hiện thực Nhưng càng chối bỏ thực tại, họ lại càng bị nhấn

Trang 40

chìm sâu hơn trong nỗi cô đơn và lạc loài trước cuộc sống này Hơn thế nữa, đó còn

là sự thể hiện tình trạng lỏng lẻo, rời rạc của các mối quan hệ xã hội trong đời sống,

sự thiếu đồng cảm và chia sẻ của đồng loại đối với những người đồng tính Từ đó, nhà văn muốn người đọc phải suy ngẫm, nhìn lại bản thân, thức tỉnh ở người đọc ý thức trách nhiệm đối với cuộc sống và thái độ cảm thông chân thành với những người đồng tính

2.1.2 Con người bi kịch

Khái niệm “bi kịch” đã được biết đến nhiều trong văn học Theo Từ điển văn học: “Bi kịch phản ánh không chỉ bằng tự sự mà bằng hành động của nhân vật chính, mối xung đột không thể điều hoà giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn,…diễn ra trong một tình huống cực kỳ căng thẳng mà nhân vật thường chỉ thoát ra khỏi nó bằng cái chết bi thảm gây nên những suy tư và xúc động mạnh mẽ đối với công chúng” [30, tr.18-19] Kết thúc của bi kịch thường là những giá trị vật

chất quý giá bị tiêu tan, là cái chết của nhân vật Sự kết thúc bi thảm ấy thường có ý nghĩa thức tỉnh, dự báo một cái gì tốt đẹp hơn sẽ nảy sinh trong cuộc sống của mỗi người

“Trong công trình “Dẫn luận nguyên văn bản”, Genette không chỉ chất vấn cách dùng không chặt chẽ từ “bi kịch” (tragedy) của Aristotle mà còn vạch rõ sự khác biệt giữa “mô thức” và “thể loại” để khắc phục những sự nhầm lẫn lâu nay của chúng ta về thể loại Genette cho rằng Aristotle đã dùng từ “bi kịch” với cả hai

ý nghĩa: một khía cạnh quan trọng của thể loại, và một chủ đề liên quan đến những tình huống bi kịch của con người trong đời sống, được phản ánh trong văn học Liên quan đến thể loại, bi kịch phải là một thể loại dính líu đến những con người

“bề trên”, ở thang bậc cao nhất của xã hội Liên quan đến chủ đề, bi kịch có thể xảy ra với mọi số phận cá nhân Chẳng hạn, chúng ta vừa gọi Vũ Như Tô là bi kịch nhưng cũng gọi như thế đối với Chí Phèo, và như vậy, sự phân giới thể loại ngay từ ban đầu đã khó mà đạt đến tính trong suốt” [60]

Với nhiều lăng kính khác nhau của mỗi nhà văn, với văn học đồng tính, những mảnh đời, những số phận bi kịch của những người đồng tính đã được các nhà văn mạnh dạn đưa vào và thể hiện nó một cách khách quan và đầy đủ Thế giới nhân vật đồng tính trong các tiểu thuyết đương đại mang trong mình những mặc cảm về thân phận và chịu những áp lực từ những định kiến của xã hội Họ muốn vượt thoát ra

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w