1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ việt nam đầu thế kỉ xxi

103 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tác phẩm của họ phổ biến các kỹ thuật được “gọi tên” trong lối viết hậu hiện đại như sự mở rộng biên độ thể loại; ngôn ngữ tạo sinh, trò chơi; giọng điệu hoài nghi, giễu nhại, bị

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

THÁI THỊ HOÀI THANH

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ NỮ

VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thừa Thiên Huế, năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

THÁI THỊ HOÀI THANH

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ NỮ

VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Hương Trà, ngày 09 tháng 09 năm 2016

Tác giả luận văn

Thái Thị Hoài Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp của đề tài 8

6 Cấu trúc của đề tài 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 THƠ NỮ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI TỪ CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI 9

1.1 Khái lược về chủ nghĩa hậu hiện đại 9

1.1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại 9

1.1.2 Một số thủ pháp nghệ thuật 11

1.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại và sự tiếp nhận trong thơ Việt sau 1986 14

1.2.1 Thơ Việt sau 1986 14

1.2.2 Thơ Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng – những thành tựu và nỗ lực cách tân 19

1.2.2.1 Vi Thùy Linh 19

1.2.2.2 Ly Hoàng Ly 21

1.2.2.3 Nguyễn Thúy Hằng 23

Chương 2 DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẢM QUAN MỚI VỀ THẾ GIỚI VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH 25

2.1 Cảm quan mới về thế giới 25

2.1.1 Cảm quan về một thế giới hỗn độn, bất khả nhận thức 25

Trang 6

2.1.2 Cảm quan về một thế giới KHÁC 31

2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ 34

2.2.1 Cái tôi nội cảm đào sâu bản thể 36

2.2.1.1 Cái tôi giải phóng tính dục 36

2.2.1.2 Cái tôi vô thức 40

2.2.2 Cái tôi bị tẩy trắng 45

CHƯƠNG 3 DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ NỮ ĐẦU THẾ KỈ XXI NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT 50

3.1 Sự mở rộng của biên độ thể loại 50

3.1.1 Thơ tự do 50

3.1.2 Thơ văn xuôi 52

3.1.3 Thơ trình diễn 55

3.2 Giọng điệu 59

3.2.1 Giọng điệu vô âm sắc 59

3.2.2 Giọng điệu hoài nghi, giễu nhại 62

3.3 Kết cấu 67

3.3.1 Kết cấu “phi kết cấu” 67

3.3.2 Kết cấu trò chơi 71

3.3.2.1 Kết cấu cắt dán, lắp ghép 71

3.3.2.2 Kết cấu sắp đặt, tạo hình 73

3.4 Ngôn ngữ 75

3.4.1 Ngôn ngữ trò chơi 76

3.4.2 Ngôn ngữ tạo sinh 83

3.4.3 Ngôn ngữ bị tẩy trắng 86

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

1.1 Hậu hiện đại là hiện tượng mang tính toàn cầu, tinh thần của nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, văn hóa nghệ thuật đến chính trị, xã hội và đã để lại những thành tựu không thể phủ nhận Trong văn học, thi pháp hậu hiện đại có ý nghĩa trong việc mở ra những khả tín cho sự sáng tạo Những tác giả xuất sắc cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI là những đại biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại Trong xu thế mở hiện nay, văn học Việt Nam không thể không tiếp cận với khuynh hướng mới mẻ nhất này của văn học thế giới Sự xuất hiện của những dấu hiệu hậu hiện đại góp phần làm thay đổi diện mạo văn học dân tộc theo xu hướng hội nhập với tiến trình phát triển của văn chương thế giới

1.2 Có thể nhận thấy thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI vận động theo nhiều xu hướng tạo nên một bức tranh đa dạng, phong phú về cảm quan đời sống cũng như các thử nghiệm về thể loại, giọng điệu, kết cấu, ngôn ngữ, Trong đó, những cây bút như

Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng đã tạo nên những phản ứng trái chiều

bằng cách viết khác lạ Trong tác phẩm của họ phổ biến các kỹ thuật được “gọi tên”

trong lối viết hậu hiện đại như sự mở rộng biên độ thể loại; ngôn ngữ tạo sinh, trò chơi; giọng điệu hoài nghi, giễu nhại, bị tẩy trắng; kết cấu trò chơi, cắt dán, lắp ghép… để chuyển tải cảm quan và cái tôi mới trước đời sống Việt Nam đương đại Dù chưa thể nói đến những tác phẩm và khuynh hướng để đời nhưng hướng thể nghiệm của họ đã mang lại những điều mới mẻ cho diện mạo thơ Việt Nam đương đại

1.3 Việc tìm hiểu dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI cho thấy khả năng tiếp biến năng động của thơ Việt Nam đối với một hiện tượng khá mới mẻ và phức tạp của văn học thế giới – văn học hậu hiện đại Bên cạnh đó,

với lối viết “đã khác trước” này, tất yếu không thể sử dụng hệ thống lí luận cũ để

đánh giá, vì vậy, việc vận dụng lí thuyết hậu hiện đại – như một thước đo thẩm mĩ mới, giúp đánh giá những thể nghiệm sáng tạo của một số tác giả đang được chú ý hiện nay Quan trọng hơn nữa, nghiên cứu vấn đề này có thể đưa đến tên gọi cho một hướng thử nghiệm kĩ thuật viết trong thơ nữ nói riêng và thơ Việt Nam nói chung ở đầu thế kỉ XXI, từ đó cho thấy có sự thay đổi quan trọng trong hệ hình văn học trong giai đoạn hội nhập quốc tế của nước ta

Trang 8

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Hậu hiện đại là vấn đề tương đối mới với thế giới nhưng hoàn toàn mới

ở Việt Nam Xuất hiện trên thế giới khoảng từ giữa thế kỉ XX nhưng ở Việt Nam,

bài viết Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại của Antonio Blach đăng

trên Tạp chí Văn học năm 1991 là bài viết đầu tiên về hậu hiện đại được dịch và giới thiệu Từ đó đến nay, giới học giả, người sáng tác và người đọc Việt Nam đã phần nào tiếp cận những nét cơ bản nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại nói chung và văn học hậu hiện đại nói riêng qua các bài viết của các nhà lí luận phê bình trên thế giới như J F Lyotard, Mary Klages, I.P.Ilin, D Martin Fields, Hans Bertens, Fredric Jameson… và một số nhà nghiên cứu Việt Nam như Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân, Lê Huy Bắc, Hoàng Ngọc Tuấn… Tuy nhiên, trong đó Nguyễn Văn Dân không thừa nhận khái niệm hậu hiện đại dùng trong văn học Những bài viết về hiện

tượng này đã được tập hợp tương đối đầy đủ trong cuốn Văn học hậu hiện đại thế

giới - những vấn đề lý thuyết (NXB Hội nhà văn, 2003), và Lí luận - phê bình văn học thế giới thế kỉ XX (NXB Giáo dục, 2007, tập 2)

2.2 Xung quanh vấn đề có hay không dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau (chủ yếu do cách hiểu về hậu hiện đại khác nhau) Các quan điểm cho rằng hậu hiện đại không hiện diện ở Việt Nam đều không nhận được sự đồng tình của đa số người quan tâm bởi không

ai ngây thơ tin rằng sẽ có một trào lưu hậu hiện đại đúng nghĩa ở Việt Nam (cũng như với chủ nghĩa hiện đại), mặt khác, không chỉ đến khi Việt Nam bước vào xã hội hậu hiện đại thì mới có tiền đề cho sự xuất hiện của những dấu hiệu hậu hiện đại

Sau một thời gian bỡ ngỡ, nghi hoặc, đa số giới nghiên cứu đã thừa nhận sự tồn tại của những dấu hiệu hậu hiện đại ở Việt Nam, thậm chí báo Văn nghệ trẻ còn

mở chuyên đề về hậu hiện đại trên Diễn đàn văn học trẻ, Tạp chí Nghiên cứu Văn học dành riêng một số (số 12 – 2007) giới thiệu một số bài viết về văn học hậu hiện đại Các bài viết, ý kiến khá chừng mực khi cho rằng có thể tìm ra những dấu hiệu, yếu tố hậu hiện đại trong văn học, tiêu biểu là bài nghiên cứu của Đào Tuấn Ảnh, Phùng Gia Thế, Đông La, Hoàng Ngọc Tuấn, Insarasa, Nguyễn Hưng Quốc Trong đó Đông La, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc chỉ khẳng định một cách khái quát tinh thần

Trang 9

hậu hiện đại đã và đang phảng phất đâu đó trong văn chương Việt Nam Những bài viết của Đào Tuấn Ảnh, Phùng Gia Thế, Inrasara thực sự đi sâu, chỉ ra được những dấu hiệu hậu hiện đại trong văn học Việt Nam nói chung và thơ Việt Nam nói riêng

Bài viết Hậu hiện đại và thơ hậu hiện đại Việt: Một phác họa 1 [42] và 2 [43] của

Inrasara đề cập đến những dấu hiệu hậu hiện đại trong thơ Việt Nam cả về cảm quan hậu hiện đại lẫn những hình thức nghệ thuật đặc thù trong sáng tác Bùi Giáng, Bùi

Chát, Lí Đợi, Đỗ Kh, Khế Iêm, Tác giả Trần Ngọc Hiếu cũng nhấn mạnh: “sự xuất

hiện của những hiện tượng nổi loạn trong thơ hiện nay có nguyên nhân sâu xa từ sự vận động của đời sống văn hoá xã hội Xét đến cùng, nó là khao khát được nói lên tiếng nói trung thực của cá nhân, nói bằng ngôn từ của mình, vượt thắng những áp lực đè nén nặng nề lên ngôn từ của người nghệ sĩ Và như thế cuộc chơi ngôn từ này

là một cuộc chơi đòi hỏi các cây bút dám mạo hiểm, và hơn hết là sự can đảm.” [32]

2.3 Ngoài ra, chúng tôi quan tâm đến các bài viết về thơ Việt Nam sau 1986 trong đó các tác giả nêu ra những đặc điểm mà ta thấy đó là những nét đặc trưng của văn học hậu hiện đại nhưng không gọi tên hoặc gọi gộp vào văn học hiện đại Đó là các

bài viết của các tác giả như Hoàng Hưng (Thơ Việt Nam đang chờ phiên đổi gác), Mai Hương (Mười năm thơ những xu hướng tìm tòi), Phạm Quốc Ca (Mấy suy ngĩ về hiện

đại hóa thơ ca), Trần Mạnh Hảo (Thơ phản thơ), Mã Giang Lân (Thơ mở rộng biên độ), Trần Hoàng Thiên Kim (Thơ nữ Việt Nam đương đại: Những giá trị vĩnh cửu ),

Inrasara (Song thoại với cái mới, Tiểu luận hậu hiện đại và Thơ hậu hiện đại Việt: Một

phác họa, Thơ Việt từ hiện đại tới hậu hiện đại), Hoàng Thị Huế (Ánh xạ từ biểu tượng cái tôi trong thơ của một số nhà thơ Việt đương đại, Tiếp nhận thơ Việt đương đại từ hành trình cách tân thơ ca), Trần Ngọc Hiếu (Những tìm tòi cách tân hình thức trong thơ Việt Nam thời kì đổi mới, Khúc ngoặt ngôn ngữ của lí thuyết trò chơi hậu hiện đại) Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra quan điểm riêng về sự thay đổi của thơ Việt sau

1986 nhưng tất cả họ gặp nhau ở ý thức khẳng định thơ Việt đương đại có sự vận động

để thoát khỏi hệ hình thơ truyền thống Đặc biệt, Hoàng Hưng nhận xét:“Tôi đang thấy

trước mắt cái mà mình chờ đợi từ rất lâu, sự chờ đợi sắp trở thành vô vọng: một giọng điệu, một nhịp điệu, một cách cảm, và hơn thế, một thẩm mỹ mới về Thơ Ðây là Thơ của lớp người trẻ lớn lên trong môi trường đại đô thị – có nghĩa là chủ nhân tương lai

Trang 10

của một nước Việt Nam hiện đại hoá.”[38] Ngoài ra, nhận định về sự thay đổi phương

pháp sáng tác trong thơ Việt đương đại của nhà nghiên cứu Hoàng Thị Huế càng nhấn

mạnh hơn hành trình cách tân thơ Việt đương đại: “Cho đến sau 1986, xuất hiện nhiều

khuynh hướng cách tân thơ, không lấy nghĩa làm trọng tâm như thời Thơ mới nữa mà lấy chữ làm cốt yếu, sáng tạo chữ, làm chữ phát nghĩa mới là đích đến của sáng tạo.”

[36] Về mối quan hệ giữa lí thuyết trò chơi và văn chương, tác giả Trần Ngọc Hiếu

kiến giải: “Tập hợp các diễn ngôn về trò chơi này hình thành nên cái được gọi là lý

thuyết trò chơi mà bảng phả hệ của nó, theo tổng thuật của Gordon Slethaug trong cuốn Encyclopedia of Contemporary Literary Theory (Bách khoa toàn thư lý thuyết văn chương đương đại), được bắt đầu từ triết học cổ đại Hy Lạp, kéo dài qua nhiều thời đại và đặc biệt phát triển trong thời ỳ hậu hiện đại” [33], còn về việc có hay

không dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại trong thơ Việt, nhà thơ Inrasara khẳng định:

“Có thể nói, Bùi Giáng là nhà thơ đầu tiên sáng tác theo cảm thức hậu hiện đại, hoặc gần như thế., Thơ Việt từ hiện đại tới hậu hiện đại: Đó là thế hệ thơ có một định phận

kì lạ.” [42] Bên cạnh đó, cả Inrasara lẫn Trần Ngọc Hiếu đều xác nhận có một hướng

thử nghiệm trong thơ Việt đương đại từ quan niệm về tính trò chơi của văn chương, đến các đặc điểm như hiện thực thậm phồn không đáng tin cậy, con người bất khả tri

nhận: “Cảm thức thế giới là hỗn độn, nhận thức thế giới của con người luôn đầy thiếu

khuyết, các thiếu khuyết được diễn dịch một cách chủ quan bằng giải trình ngôn ngữ discourse” [42] Một số đặc trưng cơ bản của văn học hậu hiện đại (trong đó có

thơ) đã từng bước được xác lập, chẳng hạn: “sử dụng phổ biến bút pháp trò chơi, giễu

nhại (Tái sử dụng là sáng tạo Phỏng nhại (pastiche), châm biếm (irony), nhại giễu (parody), lắp ghép ngẫu nhiên (collage),… là sáng tạo Tất tần tật cái trên trần đời này đều có thể trở hành chất liệu cho nhà văn sử dụng.), để (Xoá bỏ mọi trung tâm và giải- khu biệt hoá (de-differentiation): cao hay thấp cấp, cũ/mới, thanh cao/dơ bẩn, đặc tuyển/đại chúng,… chủ nghĩa hậu hiện đại đang mở ra một khả thể vô hạn cho nhà văn trong nền văn chương của sự đầy tràn” [42] Nhìn chung, những công trình nghiên cứu

trên đã chứng minh được sự vận động đổi mới của thơ Việt trong thời kì hội nhập thế giới là một nhu cầu, một qui luật tất yếu Ởmức độ nhất định, mỗi kiến giải riêng trong

số đó đã góp phần chỉ ra những điểm khác của thơ đương đại với thơ ca giai đoạn

Trang 11

trước, đấy chính là tiền đề đưa đến việc xác định có dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại trong thơ Việt đương đại.Những nhận kết luận có giá trị về ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đến thơ Việt trở thành những đóng góp trực tiếp giúp đánh giá những thể nghiệm sáng tạo của một số hiện tượng thơ đang được quan tâm hiện nay

Số lượng các bài viết về những tìm tòi đổi mới (trong đó có thơ của ba tác giả Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly và Nguyễn Thúy Hằng) và số bài sử dụng lí thuyết hậu hiện đại để nghiên cứu về thơ Việt đương đại rất phong phú, song nhìn chung

có thể phân chia thành hai nhóm lớn: 1 Các bài viết có xu hướng bao quát diện mạo

và đặc điểm chung của xu hướng cách tân và dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Việt hiện nay; 2 Các bài viết bước đầu sử dụng lí thuyết hậu hiện đại để tìm hiểu về một tác giả, tác phẩm cụ thể Ở những bài viết này, dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Việt hiện ra ở mức độ rất khái quát (nhóm 1) hoặc thiếu chiều sâu và giá trị tổng hợp (nhóm 2) Số công trình nghiên cứu dấu ấn hậu hiện đại trong các tác phẩm của một nhóm tác giả để từ đó khái quát nên diện mạo và đặc điểm của thơ Việt đương đại trong quá trình vận động cách tân thật sự ít ỏi, nếu có cũng chưa có những đóng góp đáng kể Vì vậy, chúng tôi xác định việc nhận diện dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại trong thơ nữ đầu thế kỉ XXI qua tác phẩm của ba nhà thơ Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly và Nguyễn Thúy Hằnglà nhiệm vụ của luận văn Với định hướng nghiên cứu dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ bình diện cảm quan mới về thế giới và cái tôi trữ tình, cũng như từ bình diện phương thức nghệ thuật, luận văn của chúng tôi sẽ góp phần lấp đầy khoảng trống đang hiện hữu trong bức tranh nghiên cứu thơ Việt đương đại theo lí thuyết hậu hiện đại

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI là một mảng đề tài rộng và đòi hỏi nhiều công phu Ở đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài từ các bình diện: cảm quan mới về thế giới và cái tôi trữ tình, phương thức nghệ thuật như là quá trình tìm hiểu những nhân tố khỏi sự và hoàn tất của quá trình sáng tạo

Từ đó, người viếtbước đầu đi đến những đánh giá về giá trị nghệ thuật, xác định phong cách tác giả và làm rõ vị trí của thơ nữ Việt đầu thế kỉ XXI nhìn từ lí thuyết hậu hiện đại Đối tượng và phạm vị nghiên cứu chủ yếu của luận văn là thơ của ba

Trang 12

tác giả: Vi Thùy Linh (qua các tập thơ: Khát, Linh, Đồng tử, Vili in love ), Ly Hoàng Ly (với hai tập thơ: Cỏ trắng, Lô lô) và Nguyễn Thúy Hằng (từ các tập: Thời

hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý với bộ tác phẩm, gồm 3 tập: I – Cửa sổ đập,

II – Cá thể ướt kì lạ, III – Do đó, nó lại đến; Họ - bột hư ảo) Ngoài ra, chúng tôi

còn tham khảo, sưu tầm một số văn bản thơ của các nhà thơ cùng sáng tác theo thiên hướng hậu hiện đại hay cùng là thơ nữ giới đầu thế kỉ XXI và thơ của một số nhà thơ trẻ khá Bên cạnh đó, các bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của ba tác giả được đăng trên các báo, tạp chí đều nằm trong phạm vi tìm hiểu của chúng tôi

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp vận

dụng lí thuyết Hậu hiện đại, lí thuyết Văn hóa học, Phân tâm học, lí thuyết Cấu trúc; phương pháp hệ thống; phương pháp so sánh, đối chiếu; Phương pháp thống kê, phân loại

sự khẳng định ấy còn hướng đến việc xác lập một vị trí, chỗ đứng tương xứng cho thơ nữ đầu thế kỉ XXI nói riêng cũng như thơ hậu hiện đại nói chung trong hành trình đổi mới thơ Việt

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung chia làm 3 chương:

Chương 1 Thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ cảm quan hậu hiện đại

Chương 2 Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI nhìn từ bình diện cảm quan mới về thế giới và cái tôi trữ tình

Chương 3 Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XXI nhìn từ phương thức nghệ thuật

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 THƠ NỮ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI TỪ CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI 1.1 Khái lược về chủ nghĩa hậu hiện đại

1.1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại

Hậu hiện đại là thuật ngữ phức tạp, đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất cho khái niệm hậu hiện đại nói chung, hậu hiện đại trong văn học nói riêng Dựa vào những định nghĩa của các nhà lí luận phương Tây và Việt Nam, ta có thể hiểu nội hàm khái niệm này như sau: Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học là khuynh hướng văn học tiếp nối chủ nghĩa hiện đại (bao gồm các khuynh hướng như tiểu thuyết mới, hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa cực hạn…), ra đời vào khoảng sau chiến tranh thế giới thứ hai với các đặc trưng: sự từ chối tư tưởng trung tâm,

tính liên văn bản, giễu nhại, “xuyên tạc” sự thật, lối trần thuật hỗn độn, xóa nhòa

ranh giới giữa tinh tuyển và bình dân Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại trong cái nhìn của các nghệ sĩ và nhà phê bình là chủ nghĩa đa nguyên văn hóa Nó là một hệ thống mở và không ngừng vận động, nó là cái đang xảy ra

Nửa sau thế kỉ XX, đời sống của nhiều nước trên thế giới, nhất là ở các nước

tư bản phát triển có nhiều thay đổi mạnh mẽ, thậm chí bước sang thời kì mới Hậu hiện đại ra đời trên cơ sở xã hội và ý thức của thời đại mới đó

Hậu hiện đại hình thành trước tiên như phản ứng chiều sâu của con người hiện thời với thế giới xung quanh Khoa học kĩ thuật phát triển vượt bậc, xã hội bước vào thời đại hậu công nghiệp với nền văn minh máy tính, bùng nổ thông tin,

sự thống trị của văn hóa đại chúng và các phương tiện truyền thông, tình hình thế

giới hỗn tạp và nguy hiểm… khiến con người lâm vào tình trạng “chấn thương hậu

hiện đại”, từ đó nảy sinh cảm quan hậu hiện đại Cái nhìn về thế giới thay đổi Thế

độc tôn của Trung tâm – phương Tây, của hệ thống lý thuyết có từ thời Ánh Sáng bị lật đổ trong một thực tại hỗn độn, đứt gãy, đầy ngẫu nhiên Con người hậu hiện đại không còn đặt niềm tin vào quy luật to lớn bao trùm hay những “đại tự sự” về một

xã hội lí tưởng, trường cửu mà tràn đầy hoài nghi về những giá trị đã đạt được trong quá khứ, về những giá trị văn minh, tiến bộ, về ý nghĩa tồn tại của con người mà các cuộc cách mạng hiện đại từng cổ vũ và tưởng chừng đã đạt được Đó là hoàn cảnh

Trang 14

dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại và cũng chính từ đó mà nhiều người xem hậu hiện đại trước hết là một hiện tượng văn hoá tinh thần

Về nguồn gốc danh từ “hậu hiện đại”, theo nhà nghiên cứu như Hassan, xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn Hợp tuyển thơ Tây Ban Nha và các nước Châu Mỹ phụ

thuộc xuất bản năm 1934 của Federico de Onis để chỉ sự đoạn tuyệt các quy phạm

chủ nghĩa hiện đại của thơ ca Tây Ban Nha và Mỹ La tinh đầu thế kỉ XX Năm

1939, Arnold Toynbee chính thức sử dụng trong bộ sách lịch sử Một công trình sử

học để xác định ranh giới chấm dứt thời kì hiện đại (và thời kì hậu hiện đại bắt đầu)

Năm 1959, nhà phê bình văn học Irving Howe là người đầu tiên đưa ra quan niệm

lý thuyết về sự chuyển tiếp từ chủ nghĩa hiện đại sang chủ nghĩa hậu hiện đại trong

bài viết Xã hội đại chúng và tiểu thuyết hậu hiện đại Từ đó thuật ngữ “hậu hiện

đại”, “chủ nghĩa hậu hiện đại” được sử dụng phổ biến suốt thập niên 60 trở đi ở

New York trong giới kiến trúc, phê bình của giới trí thức và nghệ sĩ (Jane Jakobs, Robert Venturi, Hassan, Fielder…) và vào thập niên 1970 được các giáo sư triết học Châu Âu như J F Lyotard, J Derrida, M Foucault, J Baudrillard, F Jameson… khai triển thành một hệ thống lý thuyết có ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực khoa học cũng như đời sống xã hội Trong đó, cần phải nhắc đến J F Lyotard với

cuốn sách nổi tiếng Điều kiện hậu hiện đại (1979) - cuốn sách giáo khoa của các

nhà nghiên cứu hậu hiện đại, được xem là nhà lập thuyết của trào lưu này Luận

điểm quan trọng nhất của Lyotard là về sự sụp đổ của các “đại tự sự” trong “thời

hậu hiện đại” trở thành phạm trù then chốt của chủ nghĩa hậu hiện đại Từ Pháp,

Hoa Kỳ, cùng với hậu cấu trúc luận, nữ quyền luận, hậu thực dân luận, chủ nghĩa hậu hiện đại trở thành một trào lưu phát triển mạnh mẽ, có sức lan toả rất lớn, từ châu Âu, châu Úc đến châu Mỹ Latin và cả châu Á: Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc Trên thế giới, các tên tuổi nhà văn lẫy lừng là đại biểu hậu hiện đại: Italo Calvino, Umberto Eco, Carlos Fuentes, John Barth, John M Coetzee, Julio Cortázar, Gabriel Garcia Márquez…

Là khuynh hướng không có tôn chỉ, cương lĩnh, thủ lĩnh riêng mà chỉ là sự tập hợp quan điểm của các lý thuyết gia cũng như những người sáng tác nên khó xác định thời điểm khởi đầu của chủ nghĩa hậu hiện đại Có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định mốc đánh dấu của chủ nghĩa hậu hiện đại tùy theo từng

Trang 15

lĩnh vực cụ thể mà các nhà nghiên cứu khảo sát Trong kiến trúc, Hassan cho rằng năm 1972, những khối nhà cao tầng được xây dựng từ những năm 50 ở thành phố

St Louis, Missouri (Hoa Kỳ) bị giật sập và mốc 1972 được xem là mốc thời gian ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại Trong văn học, thời điểm ra đời của khuynh hướng

này được xác định sớm hơn Barry Lewis xác định cụ thể: “Phương pháp sáng tác

văn chương nổi bật nhất giữa những năm 1960 và 1990 là lối viết hậu hiện đại” [4,

234], qua các sự kiện văn chương lẫn chính trị xã hội Ngoài ra ông còn chỉ ra “dấu

mốc thích đáng khác” cho văn chương hậu hiện đại là cuốn Naked Lunch (Tạm

dịch: Bữa ăn trưa trần trụi) (1959) của William Burroughs

Khác Barry Lewis, Richard Ruland và Malcolm Bradbury trong công trình

Từ chủ nghĩa Thanh giáo đến chủ nghĩa hậu hiện đại, Lịch sử văn học Mỹ đưa vào

sự kiện Trân Châu Cảng 1941 để xác định thời hậu hiện đại, ngoài ra cũng từ năm

1940 trở đi nhiều thủ lĩnh kiệt xuất của chủ nghĩa hiện đại qua đời: Scott Fitzgerald (1940), Sherwood Anderson (1941), Gertrude Stein (1946)… đánh dấu sự chấm dứt của chủ nghĩa hiện đại (theo Lê Huy Bắc) [7] Năm nhà tiểu thuyết người Ailen James Joyce và người Anh Virginia Woolf qua đời đôi khi được sử dụng như đường ranh giới đơn giản nhất cho sự khởi đầu của chủ nghĩa hậu hiện đại

Về sự kết thúc chủ nghĩa hậu hiện đại, như quan điểm trên của Barry Lewis thì hậu hiện đại chấm dứt vào năm 1990 và sau năm 1990 ông đề xuất cách gọi khác

là chủ nghĩa hậu hậu hiện đại (Post-Postmodernism) Ngoài ra còn có một số ý kiến khác cũng tuyên bố về cái chết của chủ nghĩa hậu hiện đại vào những năm 1980 từ làn sóng mới của chủ nghĩa hiện thực với đại diện tiêu biểu như Raymond Carrver

Tom Wolfe trong bài báoStalking the Billion – Footed Beastđã cho rằng tầm quan

trọng mới của chủ nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết hư cấu đã thay thế chủ nghĩa

hậu hiện đại và bài báo đó như “một lời hiệu triệu kêu gọi quay về với chủ nghĩa

hiện thực” [4, tr.235] Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay lời tuyên bố về cái chết

của chủ nghĩa hậu hiện đại có lẽ là vội vàng

1.1.2 Một số thủ pháp nghệ thuật

Khái niệm cảm quan hậu hiện đại do Lyotart đề xuất và được chủ nghĩa hậu

cấu trúc hưởng ứng và tiếp nhận; hình thức cảm nhận thế giới đặc thù và là phương thức phản xạ suy tư lí thuyết tương ứng với nó, tiêu biểu cho tư duy khoa học của

Trang 16

các nhà nghiên cứu văn học hiện thời thuộc định hướng hậu cấu trúc – hậu hiện đại

Sự nảy sinh khái niệm cảm quan hậu hiện đại gắn với sự kiện xem xét lại những lí thuyết hậu hiện đại với tư cách là sự phản ánh tâm thức (mentality)

Cụm từ này thể hiện hai loại cảm thức chính:

Ở bình diện thứ nhất: Cảm quan hậu hiện đại là một kiểu cảm nhận đời sống

đặc thù phản ánh trạng thái tinh thần, tâm thức thời đại Đó là “cảm giác về thế giới

như một sự hỗn độn (chaos), nơi không còn bất kỳ tiêu chuẩn giá trị và định hướng

ý nghĩa nào, thế giới này, (…) ghi đậm dấu ấn của cơn “khủng hoảng niềm tin” vào tất cả những giá trị đã từng tồn tại trước đó”[4, tr.8] Và các nhà hậu hiện đại cho

rằng nỗ lực khôi phục lại trật tự thế giới là vô ích, không thể thực hiện được Theo

nhà nghiên cứu Lã Nguyên, “chỉ khi nào tìm thấy tâm thức hậu hiện đại trong sáng

tác văn học, ta mới có quyền nói tới văn học hậu hiện đại” [87, tr.13]

Bình diện thứ hai bộc lộ rõ nhất trong lí thuyết phê bình, đó là một phương

thức tư duy thể hiện qua lối viết tiểu luận nhiều ẩn dụ - lối viết đặc trưng không chỉ

cho các nhà nghiên cứu mà còn dành cho các triết gia và các nhà văn hóa học hiện đại nhằm khôi phục lại ý nghĩa của ngôn ngữ khởi thủy nếu khai thác được những

ẩn dụ

Lối viết ẩn dụ đặc thù của chủ nghĩa hậu hiện đại được thể hiện qua một số thủ pháp nghệ thuật độc đáo:

Thủ pháp mảnh vỡ (fragmentation) là thuật ngữ được trừu xuất từ khái niệm

phi lựa chọn, qua hình thức nghệ thuật cắt dán đặc biệt Về thực chất, không có khả năng biến những mảnh rời rạc thành thể thống nhất Sau đó, Folkema định nghĩa lại khái niệm này và phát triển thành một nguyên tắc tổ chức văn bản hậu hiện đại, để

mô tả hiện tượng phi lựa chọn Đây là thủ pháp phá vỡ nguyên tắc tổ chức văn bản trần thuật theo trình tự thời gian hay tâm lí trong văn học truyền thống Mảnh vỡ là một thủ pháp nghệ thuật chủ yếu đã xâm nhập vào tất cả khuynh hướng sáng tác của văn học hậu hiện đại

Thủ pháp tương phản xuyên suốt là thuật ngữ do Lodge xây dựng, phục vụ

cho nguyên tắc phi lựa chọn để thực hiện nội dung căn bản của văn học hậu hiện đại

đó là mâu thuẫn Cơ sở của lí thuyết này bắt nguồn từ diễn ngôn của Jacobson về cách viết Jacobson xem ẩn dụ và hoán dụ là bản chất của quá trình ngôn ngữ, biến

Trang 17

cách viết hậu hiện đại không đi theo nguyên tắc tương đồng và kề cận mà đi theo nguyên tắc loại suy (alternative) qua sáu mô thức trọng tâm: tính mâu thuẫn, hoán

vị, tính đứt đoạn, ngẫu nhiên, thái quá, đoản mạch Trong đó tính mâu thuẫn là yếu tính và người ta buộc phải chấp nhận tính mâu thuẫn đó như thực tại cuộc sống

Thủ pháp giễu nhại (pastiche) xuất phát từ ca kịch Ý, chỉ phương thức giễu

nhại gắn liền với giả định, có tính phân thân (tự giễu nhại chính mình) Cái hài của hậu hiện đại vượt lên trên cái hài của mĩ học để tự giễu nhại, chống lại bản chất dối trá của ngôn ngữ và tính ảo tưởng của truyền thông đại chúng Nhà văn hậu hiện đại

là người mô phỏng vai trò của tác giả, tức là nhà văn giễu nhại chính bản thân mình bằng hành vi giễu nhại Đây là thủ pháp bóc trần tính mê hoặc của truyền thông đại chúng, văn hóa đại chúng Thủ pháp giễu nhại đã trở thành một đặc điểm nghệ thuật căn bản của văn học hậu hiện đại Nó thâm nhập vào sâu văn bản cả trong cấu trúc

và tư tưởng Thủ pháp nhại tạo nên phạm trù “cái nhại” trong mĩ học hậu hiện đại thay cho “cái hài” trong mĩ học truyền thống

Mặt nạ tác giả (author’s mask) là thuật ngữ tương đương khái niệm hình

tượng tác giả trong mĩ học truyền thống Thủ pháp này đóng vai trò chỉ đạo cho những trần thuật đặc thù của văn chương hậu hiện đại Nó vừa là nguyên tắc chỉ đạo trần thuật, vừa đóng vai trò như một kẻ bịp bợm liên tục nhạo báng vào những niềm tin ngây thơ, lối tư duy văn học theo khuôn mẫu của độc giả, vừa là vật ngụy tạo cho chính tác giả (vì tác giả đã chết)

Mã kép (double code) là thuật ngữ đặc thù của văn học hậu hiện đại Mã ở

đây là những trường liên tưởng, đó là tổ chức siêu văn bản của những ý nghĩ có liên quan đến những cách hiểu về một cấu trúc nhất định Nó chủ yếu thuộc về lĩnh vực văn hóa và có 5 loại mã cơ bản: mã văn hóa, mã giải thích, mã tượng trưng, mã kí hiệu, mã trần thuật Những mã này qui định lẫn nhau, mã đứng sau khu biệt phạm vi hoạt động của mã đứng trước Mã kép, mã hóa kép đều song hành với sự tồn tại của văn bản Hai mã này đều biểu hiện trong văn học hậu hiện đại như hai siêu mã lớn

Mờ hóa (declearisation) là thủ pháp nghệ thuật được sử dụng rộng rãi trong

văn học hậu hiện đại, xuất phát từ “giải nhân cách hóa” Đối tượng được miêu tả

hiện lên không rõ ràng, xóa mờ các đương viền, các đặc điểm cá biệt của đối tượng làm cho văn bản trở nên mơ hồ, tối nghĩa, muốn hiểu được thì độc giả phải tham gia

Trang 18

vào tiến trình nghệ thuật Mục đích của mờ hóa là khai thác khả năng đồng sáng tạo của độc giả

Thủ pháp siêu hƣ cấu (metafiction) là khái niệm được các tác giả hậu hiện

đại sử dụng để bàn về kĩ thuật viết và tiến trình xây dựng tác phẩm của mình Một tác phẩm hư cấu là một trò chơi tự trình bày cách chơi của nó và mời gọi độc giả chơi theo cách chơi của nó Một tác phẩm siêu hư cấu gắn với quan niệm bất tín nhận thức và trần thuật đa điểm nhìn Văn chương hậu hiện đại, cũng bởi thế, là một trò chơi ngôn ngữ mang tính dân chủ tối đa

Hoán vị (permutation)biểu hiện ở các mặt: sự chuyển đổi các bộ phận của

văn bản (người đọc có thể sắp xếp các trang, chương, mục theo ý mình); sự hóa vị văn bản, văn học, văn cảnh xã hội; phá vỡ trật tự thời gian của văn bản Đây là lối viết hậu hiện đại chống lại tính ước lệ văn chương,

Chính việc dựa vào phương pháp tư duy bằng nghệ thuật đã trở thành trọng

tâm nội dung và cấu thành hình thức của mô hình tƣ duy thi ca – cơ sở của cảm

quan hậu hiện đại

1.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại và sự tiếp nhận trong thơ Việt sau 1986

1.2.1 Thơ Việt sau 1986

Có thể thấy chặng đường suốt hơn ba mươi năm qua (1986-2016), thơ ca đương đại vừa có sự tiếp nối lửa văn chương từ thế hệ các nhà thơ đã hành trình trong suốt ba mươi năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, vừa sải bước trên con đường hiện đại hóa bằng sự bức phá ngoạn mục Và trên hành trình thơ ấy có

sự góp mặt của nhiều thế hệ

Điều đáng chú ý đầu tiên là thế hệ các nhà thơ đã thành danh trong chiến tranh vẫn tiếp tục viết và tiếp tục được khẳng định: Lưu Quang Vũ (mất 1988), Phùng Khắc Bắc, Bế Kiến Quốc, Hoàng Hưng, Thanh Thảo, Trúc Thông, Thi Hoàng, Ý Nhi, Nguyễn Trọng Tạo,… Đây là lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến nhưng vẫn giàu nội lực sáng tạo và luôn tìm tòi đổi mới chính thơ mình ở thời hậu chiến Lớp nhà thơ kháng chiến bên cạnh việc đổi mới về hình thức nghệ thuật còn chú ý đổi mới cách phản ánh bản chất đời sống của thơ Dù những cách tân một phần về cảm hứng, bút pháp,… căn bản vẫn dựa trên nền mỹ học truyền thống, nhưng một số nhà thơ chống Mỹ vẫn tạo được những dấu ấn sáng tạo và thành tựu

Trang 19

riêng “Một Hoàng Hưng với những thể nghiệm thơ gây khá nhiều tranh cãi Một

Thi Hoàng với lối nói trạng nửa ỡm ờ, nhấm nhẳng; nửa uyên thâm, triết lí Một Thanh Thảo luôn trăn trở với những tìm tòi, thể nghiệm trên con đường tìm nguồn nước thi ca.” [73, tr.6]

Điều khá lí thú là một loạt các nhà thơ đã từng xuất hiện trong phong trào Thơ mới – cuộc cách tân lần thứ nhất của thi ca Việt – giờ đây, chính họ là những người đầu tiên đặt nền móng cho ngôi nhà cách tân thơ lần thứ hai Cùng với Trần Dần là Hoàng Cầm, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường,… với tư duy thẩm mĩ hiện đại, đầy mới mẻ, họ đã thắp lên những hình tượng mới cho thơ khi vượt thoát được những khuôn sáo ước lệ của vần điệu vốn dĩ quá quen thuộc với người đọc thơ Không gian thơ được nới rộng và đào sâu ở mọi chiều kích, đặc biệt là chiều thứ tư đi vào thế giới nội tâm phong phú nhưng cũng đầy phức tạp của con người

“Người đọc sẽ không thể nào quên được một Trần Dần – “thi sơn thơ”, một Hoàng Cầm – “tràng giang thơ”, một Lê Đạt – “phu chữ thơ”, một Đặng Đình Hưng với

bến mê đầy kì bí và một Dương Tường với “nẻo đường nhạc lạ” Với những cách

định danh này, có thể thấy được tâm huyết và tiềm năng sáng tạo của một thế hệ kì

tài (chữ dùng của Nguyễn Việt Chiến) trong thơ ca đương đại.” [73, tr.7]

Song hành với lớp nhà thơ đi trước là cả một thế hệ người làm thơ mới từ sau chiến tranh nối tiếp đến hôm nay Họ đã làm nên dòng chảy đầy sức sáng tạo và giàu màu sắc cho nền thơ ca đương đại Trước hết phải kể đến nhóm tác giả thành

danh sau 1986 Tác giả Nguyễn Việt Chiến trong cuốn sách Thế hệ nhà văn sau

1975: Diện mạo và thành tựu cho đấylà “một Nguyễn Lương Ngọc bùng cháy và ngạo nghễ trong tìm tòi; một Nguyễn Quang Thiều đã tạo nên từ trường thơ mới; một Dư Thị Hoàn độc đáo trong sáng tạo thơ; một Nguyễn Khắc Thạch thích sự nguyên khối của ý tưởng hơn là sự gia công bằng cảm xúc; một Mai Văn Phấn đang hành trình đến bến bờ của sự cách tân; một Trần Tiến Dũng say mê thử nghiệm các cấu trúc thơ; một Lãng Thanh kì bí và ám ảnh; một Dương Kiều Minh hướng về bản ngã phương Đông, một cõi thơ lạ đến đắm say của Nguyễn Bình Phương; một Nguyễn Minh Tuấn lập trình thơ bằng những suy tưởng mới; một Đặng Huy Giang luôn hướng tới tính triết luận; một Trần Anh Thái đang tìm tòi để trở lại chính mình; một Inrasara cất cánh từ văn hóa Chăm sang chân trời mới; một Thảo

Trang 20

Phương luôn khát vọng đổi mới thơ; một Tấn Phong đang soạn tiếp những giao hưởng thơ; một Nguyễn Linh Khiếu đang mê man trong dạo khúc phồn sinh; Một Trần Quang Quý bức xúc vì những siêu – thị - mặt, một Phan Thị Vàng Anh đang

cố vượt lên bằng một bản lĩnh thơ mới…” [12]

Một thế hệ thơ táo bạo và đầy tài năng – đấy là nhận định chung nhất cho những nhà thơ trẻ đương đại Điểm nổi bật nhất trong những sáng tác của họ là ở sự trẻ trung, tươi mới và giàu chất trí tuệ Những cây bút trẻ đương đại được nhắc tới nhiều nhất có thể kể đến: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải, Nguyễn Thúy Hằng, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Vĩnh Tiến, Trương Quế Chi, Nhóm Mở miệng, Nhóm Ngựa trời,… Hầu hết các tác giả này con rất trẻ, trên dưới hai mươi tuổi vào thời điểm họ xuất bản các tập thơ đầu tay của mình Điểm chung nhất ở họ là sự khao khát thể hiện tiếng nói của thế hệ mình như một giá trị Và giá trị ấy được đảm bảo bằng cái mới, cái hiện đại trong quan miện về thơ, trong giọng điệu, bút pháp, hình thức thể hiện,… Dù có thể những tìm tòi, cách tân chưa dễ tìm được sự đồng thuận trong đánh giá và tiếp nhận của người đọc nhưng vẫn có thể cảm nhận được một nguồn sinh lực mới trong thơ trẻ hôm nay

Cuối cùng không thể phủ nhận những đóng góp tích cực của các nhà thơ hải ngoại: Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Thị Khánh Minh, Đỗ Kh., Lê Thị Thẩm Vân, Nguyễn Thị Hoàng Bắc,… Nhờ sự hỗ trợ tích cưc của những phương tiện thông tin hiện đại, những cây bút xa quê hương đã thể hiện được vị thế của mình trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam đương đại

Sự đa dạng trong xu hướng tìm tòi là minh chứng cho nhu cầu đổi mới thơ ca

và thể hiện sự cố gắng của các nhà chức trách trong việc đem lại một bầu không khí sôi nổi, cởi mở cho thơ Việt hôm nay Trong các xu hướng cách tân, có thể gọi tên một số dòng thơ tạo được sự chú ý đối với công chúng như: thơ dòng chữ, thơ dòng nghĩa, thơ tân hình thức, thơ thị giác, thơ hậu hiện đại Phát súng đầu tiên mở đầu

cho công cuộc cách tân thơ là Không đề của Nguyễn Đình Thi Tuy nhiên, lẽ

thường những điều mới và khác lệ thường ban đầu rất ít được đón nhận, nếu không muốn nói là bị phản đối như trường hợp của Lê Đạt, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Văn Cao,…

Trang 21

Thơ hậu hiện đại được xem là trào lưu khởi phát sớm nhất và được kì vọng

hơn cả trong thời kì hậu đổi mới thơ, mang trong mình khả tính cách mạng sau bao

nỗ lực tìm tòi, khai phá Nó được khơi mào từ giữa thập niên cuối của thế kỉ XX và

nở rộ cùng văn chương mạng tiếng Việt Hậu hiện đại chủ động tồn tại bên lề sinh hoạt văn học dòng chính qua hình thức mạng internet và cả ở dạng in photocopy

Nó đã làm nên một cuộc thay đổi lớn

Toàn cầu hóa, vách ngăn trong ngoài không còn, thế giới đang phẳng ra, nhất

là khi văn hóa internet ra đời, các website văn chương cấp nở rộ, phương tiện ấn hành mới mở ra không gian mênh mông cho nhà thơ thể hiện và nhanh chóng đưa

tác phẩm mình đến với người đọc khắp mọi nơi trên thế giới “Thế hệ nhà thơ hậu

hiện đại xuất hiện làm cuộc giải trung tâm toàn triệt thơ Việt lâu nay gò mình trong vùng chật hẹp, bó buộc.” (Inrasara) [44]

Tiếp nối Bùi Giáng – người được xem là cây bút đầu tiên sáng tác thơ theo

cảm thức hậu hiện đại, chúng ta có thể kể đến những tên tuổi khác của trào lưu thơ

hậu hiện đại: Đặng Thân, Lê Anh Hoài, Mai Văn Phấn, Bùi Giáng, Trần Wũ

Khang, Như Huy; Bùi Chát, Lý Đợi, Phan Bá Thọ, Lynh Bacardi, Lê Vĩnh Tài, Jalau Anưk, Bỉm, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly; Đỗ Kh, Đinh Linh, Đỗ Quyên, Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Thúy Hằng,… Dù ở phương trời nào, nam hay nữ, không phân biệt dân tộc, kênh in ấn và

phát hành tác phẩm,… tất cả họ đều cùng tự thức self consciousness trong chân trời

của tự do sáng tạo trong thế giới toàn cầu hóa, ở đó mỗi cá nhân được thể hiện trọn vẹn mọi khả năng của mình

Dấu ấn hậu hiện đại thể hiện ở cảm quan và thủ pháp sáng tác Xuất phát từ

tu duy hậu hiện đại, các nhà thơ nhìn thế giớ đang vận động, chưa hoàn kết, chấp nhận đa giá trị, bảng giá trị truyển thống cần được xem xét lại, hoài nghi chân lí và mọi sự tồn tại Thơ hậu hiện đại khước từ duy cảm mà hướng đến duy lí nhiều hơn Cái tôi trữ tình hậu hiện đại và các thi ảnh, cấu trúc, giọng điệu, ngôn ngữ mang dâu

ấn hậu hiện đại Có thể dẫn Bến lạ - một bài thơ văn xuôi của Đặng Đình Hưng để

hiểu hơn về những bi kịch cá nhân, tâm trạng bất an, cô đơn, hoang hoải; những khoảng tối cấm kị được phơi bày Cảm thức thế giới là hỗn độn, nhận thức thế giới của con người luôn đầy thiếu khuyết, các thiếu khuyết được diễn dịch một cách chủ

Trang 22

quan bằng giải trình ngôn ngữ (discourse) Chúng hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân Bất tín nhận thức, hậu hiện đại coi đại tự sự (grand narratives) -

thứ được xem như huyền thoại từng thao túng cuộc sống nhân loại, khiến họ ngày càng chìm sâu hơn trong nỗi vong thân Hậu hiện đại thức tỉnh nhân loại nhận thức lại giấc mơ đại tự sự, thúc đẩy con người trực diện với chính thời đại mình đang

sống, một thứ hiện thực thậm phồn “Nhà hậu hiện đại giải-mơ mộng của nhà lãng

mạn, giải ảo tưởng của nhà lí tưởng, hủy trung tâm để thiết lập nhiều trung tâm nhỏ

lẻ khác, đặt đại tự sự vào thế chông chênh để nó luôn tự xét lại mình, vượt bỏ nhà hiện đại để đưa thơ ca kết nối lại với truyền thống Do đó, có thể khẳng định rằng chính nhà hậu hiện đại bám hiện thực hơn mọi nhà hiện thực [chủ nghĩa] nào bất kì.” (Inrasara) [45]

Hơn mười lăm năm phát triển, nhà thơ hậu hiện đại Việt vận dụng nhiều thủ pháp tiếp nhận trên thế giới để sáng tạo nhiều loại thơ chưa từng có mặt trong truyền thống thơ ca Việt Nam trước đó: Phỏng nhại, siêu hư cấu sử kí, thơ phụ âm,

thơ graphic, thơ thực hiện, thơ cụ thể, thơ phân thân, thơ động tác, thơ tịnh tiến,…

Thơ văn xuôi của Đặng Đình Hưng; Trần Dần giải phóng cá tính bằng lối thơ bậc thang, thơ không lời, sáng tạo câu thơ dòng chữ, chú trọng làm chữ phát sinh nghĩa;

Lê Đạt đi tìm Bóng chữ qua những câu thơ sống động, cựa quậy; Văn Cao biết đem đến một vẻ thơ riêng biệt qua tập Lá đầy ẩn dụ; Bùi Giáng tìm mình trong lỗi diễn

tả cảm xúc một cách đặc biệt, vừa chân thành vừa giễu nhại; trong khi đó Mở miệng

được đánh giá là một hiện tượng xã hội hơn là một hiện tượng văn học bởi cách làm rối ngôn từ Lê Đạt quá xuất sắc khi sử dụng thủ pháp nhiễu kép – một phương thức

nghệ thuật làm cho người đọc không phân biệt thực – hư: Tóc trắng tầm xanh qua

cầu với gió/ Đùi bãi ngô non/ ngo ngó sông đầy/ Cây gạo già lơi tình/ lên điệu đỏ/

la lả cành/ cởi thắm/ để hoa bay/ Em về nói làm sao với mẹ (Lê Đạt - Quan họ) Rõ

ràng, Lê Đạt đâu chỉ miêu tả một khung cảnh nên thơ và người đọc cũng không thoát được cảm nghĩ về cái đắm say của tình yêu nhục thể được diễn tả bằng bóng chữ Chính cảm thức và thủ pháp như vậy làm nên phong cách của các nhà thơ hậu hiện đại

Tóm lại, toàn cầu hóa, bao nhiêu trào lưu sáng tác tràn vào Việt Nam Mỗi nhóm văn chương, mỗi tác giả, mỗi thời đoạn có nhiều cách tiếp nhận và thể hiện

Trang 23

khác nhau Nhà phê bình không thể bao quát để nghiên cứu xuyên suốt được tất cả các dòng thơ mà chỉ có thể đi sâu vào các sáng tác của một hệ mĩ học để làm phê bình, không thể khác Inrasara khi nói về việc nghiên cứu thơ đương đại, đã lưu ý

rằng: “Không thể đứng từ mĩ học này để phán xét thơ thuộc hệ mĩ học khác Càng

không thể nhấn vào một số tác giả hay tác phẩm chưa tiêu biểu thuộc một hệ mĩ học nào đó để phê phán chính tư tưởng của hệ mĩ học đó.” (Inrasara) [45] Chỉ khi đó,

các nhà nghiên cứu mới thật sự công tâm và chính xác trong công việc của mình và góp phần đưa văn học Việt Nam vượt vũ môn ra biển lớn

1.2.2 Thơ Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng – những thành tựu

và nỗ lực cách tân

Nhìn vào đội ngũ viết văn trẻ đương đại, người đọc có thể nhận ra một thế hệ nhà văn mới của văn chương Việt Nam và họ đã làm nên một thời đại mới, thời đại của chính họ Một thế hệ có trình độ học vấn, đa tài và hoạt động ở nhiều lĩnh vực

xã hội Họ sáng tạo nghệ thuật và có nhiều điều kiện giao lưu quốc tế Họ khẳng định một thế hệ trẻ của một đất nước mở cửa và hội nhập hôm nay, khác với các thế

hệ đi trước trưởng thành trong chiến tranh Mười năm cuối thế kỉ XX và mười năm đầu thế kỉ XXI vừa qua, là khoảng thời gian xuất hiện và khẳng định tài năng của nhiều nhà thơ nữ Chúng tôi muốn nhắc đến những người mà ngay khi mới xuất hiện đã tạo được những làn sóng trong làng thơ

1.2.2.1 Vi Thùy Linh

Vi Thùy Linh sinh ngày 4 tháng 4 năm 1980, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện đang sống và viết tại Hà Nội; tốt nghiệp Đại học Báo chí

Năm 1995, Vi Thùy Linh đăng in bài thơ đầu tay của mình trên báo Tiền

phong; năm 1999, Nxb Hội Nhà Văn in tập thơ Khát của chị, Nguyễn Trọng Tạo

khi viết lời tựa cho tập thơ đó, đã xác quyết mạnh mẽ rằng: Vi Thùy Linh đã đi vào

thơ hiện đại bằng con ngựa chữ nghĩa dậy thì; năm 2000, Nxb Thanh Niên ấn hành

tập Linh, tán thưởng tập thơ này, Nguyễn Huy Thiệp nhận xét rằng: so với các nhà

thơ nữ trên văn đàn, Linh không chỉ “đáng kể nhất”, mà còn “nguy hiểm nhất”[105] Hiện tượng Vi Thùy Linh đã gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi với hai

luồng ý kiến khen chê trái ngược nhau Khoảng 5 năm sau, Vi Thùy Linh công bố

tập thơ song ngữ Việt – Pháp Đồng Tử (2005), tập này được nhà thơ Vũ Mão ưu ái

Trang 24

viết lời giới thiệu Năm 2008, Linh cho ra mắt tập thơ Vili in love gồm 29 bài thơ

song ngữ Việt – Anh, do Dương Tường và Trịnh Lữ dịch, Lê Thiết Cương vẽ bìa và

minh họa Về mặt nội dung, tập thơ chia làm 3 phần: Mãi mãi ngày thơ bé, Tình tự

Hà Nội, Con và Paris Năm 2010, tập thơ Phim đôi – Tình tự chậm (Nxb Thanh

Niên) là một ấn phẩm nghệ thuật sang trọng và đắt giá (theo cả nghĩa đen), có sự góp mặt của nhiều họa sĩ, dịch giả, nhà thơ, đạo diễn, nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Tập

thơ có 39 bài, gồm hai phần: Phần I chọn 10 bài của các tập Khát và Linh; phần II

gồm 29 bài được sáng tác chủ yếu trong năm 2010 Năm 2011, tập thơ thiếu nhi

Chu du cùng ông nội (NXb Kim Đồng), tuyển chọn 22 bài thơ tác giả tâm đắc viết

về những kỉ niệm thân thương của tuổi thơ Cách đây ít năm, ngày 1 – 12 – 2012, tại Nhà hát Lớn, Hà Nội, Vi Thùy Linh đã tổ chức thành công buổi biểu diễn văn

học Bay cùng Vili, giới thiệu hai cuốn sách: Vili in Paris và Vili tùy bút Linh đã trở

thành người tiên phong, lần đầu tiên đưa trình diễn văn học vào Nhà hát Lớn Buổi trình diễn thành công, đánh dấu sự trưởng thành theo hành trình của cô gái làm thơ

từ năm 16 tuổi và đã lao động miệt mài, hết mình vì nghệ thuật gần 20 năm qua

Chúng ta vẫn còn nhớ thời điểm Vi Thùy Linh xuất hiện, người khen hết cỡ,

người chê cạn lời Cô gái tuổi 18 dõng dạc tuyên ngôn cho thơ mình: “Tôi không

bao giờ hóa trang để nhập vai kẻ khác” Theo Trần Đăng Khoa thì: “Đấy là một dấu hiệu đáng mừng Bởi cuốn sách đã không bị quên lãng Nó đã có đời sống và

số phận của nó Đối với việc sáng tạo nghệ thuật, sợ nhất là sự im lặng Một tác phẩm ra đời, như hạt cát ném vào vũ trụ, rồi mất hút trong cõi mịt mù giá lạnh, chẳng để lại một tiếng vọng nào” [49] Thơ Vi Thùy Linh trình bày cái tôi không xấu hổ trước những khuôn phép đầy dị nghị - cái khuôn phép mà Hồ Xuân Hương ở

thế kỉ 19 đã từng băng qua Đến với thơ Linh cũng là đến với con người Linh – một bản thể khác biệt, độc lập Sự độc đáo ấy thể hiện trong những quan niệm lẫn tuyên

ngôn trong thơ Chị khẳng khái “muốn được mọi người nhắc tới mình, vì thơ ca”

Vi Thùy Linh khát khao biểu hiện cái tôi đào sâu bản thể trước cuộc đời và trong sáng tạo, cái tôi bản thể mang tính khác biệt Linh luôn muốn tạo sự độc đáo

riêng biệt trong lối tư duy, diễn đạt và hình ảnh: “Tôi yêu thơ bằng tình yêu say

đắm, tận trung của một người si tình, chung tình, không tiếc gì cho tình yêu ấy” Và

đặt niềm tin sâu sắc: “Thơ không bao giờ chết! bản chất của Sáng tạo là Mới và

Trang 25

Đẹp” Với những quan niệm tích cực ấy, Linh vẫn ngày đêm dồn hết sinh lực để

góp phần đổi mới thi ca Việt, với một tư duy mới, tạo ra sự độc đáo trong hình

tượng thơ Một lối thơ “bạo động chữ” (Văn Giá), “tư duy về lời” (Trần Thiện Khanh), “một khát vọng trẻ” (Nguyễn Thụy Kha), “thi sĩ của ái quyền” (Chu Văn Sơn) Linh đúng là “kẻ si tình chung thân vì nghệ thuật” (Hà Linh) Chị nhìn thấy

cuộc đời này chỉ được tạo sinh trong những cuộc đi dài, không thể ngừng nghỉ, cho nên chị đã dấn thân, thậm chí là liều lĩnh được khám phá, và được chinh phục những đỉnh cao, mà nếu chỉ có nhiệt huyết thôi không thể nào với tới được

Chia sẻ về quãng thời gian hơn 10 năm gắn bó với thơ ca, Linh tự tin tâm sự:

“Tôi bất chấp mọi giông bão để dấn thân bởi tôi tin vào con đường mình đã chọn Nhân cách và tài năng là những yếu tố không thể nào thay thế ở một người cầm bút.” [58] Đó chính là sức sống của nghệ thuật Đúng như Linh đã từng nói: với

nghệ thuật, không thể dùng thâm niên, nghệ thuật là sẵn sàng dấn thân và chấp nhận trả giá

Vi Thùy Linh là một trong những tác giả đã đạt được giải Bông hồng vàng

của đài truyền hình kĩ thuật số VTC do khán giả bình chọn năm 2006, cùng với kỉ niệm chương của Hội liên hiệp Phụ nữ Hà Nội tháng 3 năm 2008

1.2.2.2 Ly Hoàng Ly

Ly Hoàng Ly sinh năm 1975, tại Hà Nội, tốt nghiệp Đại học Mĩ thuật Cha làm thơ, mẹ tảo tần nuôi con những ngày người cha lâm nạn chữ Hiện sinh nhà thơ đang sống tại Sài Gòn

Chị là nhà thơ, hoạ sĩ, tác giả của nhiều triển lãm sắp đặt và trình diễn đã

trưng bày trong và ngoài nước Lô lô là tập thơ thứ hai của Ly Hoàng Ly xuất bản năm 2005 Tập thơ đầu tiên Cỏ trắng của chị ra đời năm 1999 từng đoạt giải Mai

Vàng của báo Người lao động.Năm 2000, Ly Hoàng Ly nhận được vô số lời mời đi

dự triển lãm và trình diễn quốc tế Một số bài thơ trong tập Lô Lô và Cỏ Trắng của

chị được dịch ra tiếng Mỹ và in trong một số tuyển tập chung, và hơn thế, bài thơ nào cũng là dòng chảy cảm xúc trong sống động ngôn từ, với sự hài hoà trong thể nghiệm không gian thơ mới, thế nhưng Ly Hoàng Ly ít khi nhận mình là nhà thơ, và

dần dần, chị xoá trong trí nhớ người khác về một người thơ: “Tôi nghĩ tôi là người

viết và gọi cái mình viết là thơ hoặc có thể không là thơ thì gọi là gì cũng được,

Trang 26

nhưng tôi không theo đuổi nghiệp thơ như nghiệp hoạ Nhưng rõ ràng vì tôi hay ghi lại những suy nghĩ của mình, phản chiếu của mình về cuộc sống, lý tưởng sống, công việc mình làm, nên hành trình nghệ thuật thị giác của tôi chắc chắn hiện lên trong thơ tôi.” [100]

Ly chạm vào “danh” từ rất sớm: Giải thơ Bút Mới của Báo Tuổi Trẻ năm 20 tuổi, bốn năm sau, tập thơ Cỏ trắng của Ly nhận Giải Mai Vàng của Báo Người Lao

Động Là biên tập viên của một nhà xuất bản, Ly Hoàng Ly cũng là cái tên nhiều người trong và ngoài nước biết với các hoạt động nghệ thuật đương đại Từ chối

tặng thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2006 cho tập thơ Lô Lô, có lẽ, Ly không để

“danh” chạm vào mình Ly nghĩ: “Mong muốn sáng tạo là vô hạn, giải thưởng có cao quý đến đâu cũng là hữu hạn Kỳ vọng vào bất kỳ giải thưởng nào là tự giới hạn mình” [89] Cách Ly Hoàng Ly khẳng định cái tôi nghệ sĩ trong sáng tạo cũng

nhẹ nhàng, dường như, chị không có nhu cầu phát ngôn nhiều để lí giải về con

đường của mình Ly Hoàng Ly là “một ca khá kỳ lạ”, đã khắc hoạ được chân dung

của mình vào thơ Việt Nam đương đại với những đường nét, tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc

Nhà thơ Ly Hoàng Ly đã vượt qua những nhà thơ nữ đi trước và mở ra một con đường mới cuả thơ ca Chị cũng không để cái bóng của cha mình là nhà thơ

Hoàng Hưng che khuất Những bài thơ viết theo Nghệ thuật trình diễn là những

cảnh diễn đầy tư tưởng và thẩm mỹ, nó gọi mời người đọc tham dự vào cảnh diễn

để cùng trải nghiệm hiện sinh Năng lực sáng tạo của chị thật dồi dào và độc đáo Bên trong mọi hình thức sáng tạo và diễn đạt nghệ thuật, người ta thấy một Ly

Hoàng Ly rất thao thức với “sự đời” Thế rồi, Ly cứ lẳng lặng đi trên con đường tự

do sáng tạo và thể hiện tư tưởng của mình, không danh, không lợi, không gì chạm vào được Chỉ có thể lý giải bằng sức tập trung cao độ, tinh thần quyết liệt, ý chí mạnh mẽ, và nhất là bằng tâm niệm xem con gái, và nghệ thuật là tất cả của

mình.“Có lẽ, nghệ thuật với Ly chính là bão giông cuồng phong, là hạn hán, cũng

là đất mẹ, là khí trời, là nắng trong và gió mát” [89] Chị tâm sự: “Có một người bạn nói với Ly rằng: chính Ly sẽ là ngôi nhà cho nghệ thuật Theo Ly hiểu thì câu

ấy có nghĩa: Ly không thể thở bình thường nếu thiếu nghệ thuật, hoặc nghệ thuật là ngôi nhà của Ly” [89] Một nghệ sĩ chân chính là từ trong tim đã thắp lên ngọn lửa

Trang 27

đam mê, là ý hướng sống chết với nghề nghiệp, là vắt kiệt cùng sức lực dâng hiến cho nghệthuật và lấy tất cả những điều đó ý thức sự tồn tại và cảm nhận hạnh phúc

của mình Về điều này, Ly Hoàng Ly cũng không ngoại lệ, chị nói: “Với tôi, làm

nghệ thuật là công việc đường dài, càng làm càng mê, càng làm càng thấy đuối sức Tôi làm nghệ thuật là để khám phá thế giới quanh mình và khám phá chính mình” [118] Khi được hỏi về khả năng duy trì việc sáng tác và ấn hành tác phẩm,

Ly rất từ tốn và chân thành: “Giàu hay nghèo Ly cũng đều sống được…” [89] Chỉ

có người nghệ sĩ có ý nghĩ trong sáng mới đủ sức vượt qua những chông gai của nghề và để lại cho đời những tác phẩm giá trị

1.2.2.3 Nguyễn Thúy Hằng

Nguyễn Thúy Hằng, sinh năm 1978 tại Sài Gòn Tốt nghiệp Đại học Mĩ Thuật TP.HCM Hiện sống và làm việc trên hai lĩnh vực Nghệ thuật thị giác và Văn chương tại TP.HCM

Nguyễn Thúy Hằng đã xuất bản các tác phẩm gây được sự chú ý đối với đọc

giả và giới chuyên môn: Họ - bột hư ảo, tuyển tập thơ, Nxb Văn học do Nhã Nam phát hành, 2012; Bởi từ lâu chúng ta không thể ngủ, tập truyện ngắn, Nxb Văn học

và Nhà sách Kiến Thức phát hành, 2008; bộ ba tập Thời hôm nay, khoái cảm và

điên rồ hợp lý, Nxb Trẻ và Nhà sách Kiến Thức phát hành, 2006

Bên cạnh hoạt động văn học, Nguyễn Thúy Hằng còn thể mình trong những

hoạt động nghệ thuật đầy sôi nổi: Four poets, two languages – thơ Việt – Mỹ, Tadioto, Hanoi, 2012; Poetry and Performance, British Council, Hà nội, 2007; Tọa đàm Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý, Viện Goethe Hà Nội, 2006 Hằng đặc biệt gây được ấn tượng mạnh mẽ qua các triển lãm cá nhân: Điêu khắc Ta

Thán của Nguyễn Thúy Hằng, Tadioto Gallery, Hà Nội, 2009; Một bọn tại Trung

tâm Viet Art Centre, Hà Nội, 2008

Nếu như Nghệ thuật thị giác và cả văn chương của Nguyễn Thúy Hằng còn tạo ra nhiều băn khoăn nơi độc giả, thì đối với một số đồng nghiệp và các nhà nghiên cứu, Nguyễn Thúy hằng được nhận những lời có cánh về khả năng văn

chương – nghệ thuật của cô Việt Quỳnh cho rằng“Nguyễn Thúy Hằng là Một tâm

hồn không dễ nắm bắt, và là Một nghệ sĩ không dễ nắm bắt”[100] Đỗ Minh Tuấn

lại gọi chị là“người mộng du chuyên nghiệp”[119] Trong khi đó, Trần Tiễn Cao

Trang 28

Đăng lại đưa ra cảm nhận của riêng mình về cá tính nghệ thuật của cô: “Mỗi lần

đọc Thúy Hằng, tôi luôn luôn có cảm giác cô là một người sinh ra không phải cho thế giới này Phần nào đó như tôi Ấn tượng trong tôi khi đọc cô: tình yêu của cô đối với những thế giới khác – cùng với các quy luật khác biệt của chúng – mà chỉ mình cô biết, sự quả cảm của cô trong việc miệt mài nói về các thế giới đó, sự cô đơn của cô khi quá ít người trên thế giới sẵn lòng nghe cô, có thể hiểu cô.” [82]

Tác phẩm của hằng đã khiến cho Dương Tường phải say đắm mà thốt lên những

nhận xét đầy ưu ái dành cho thơ và nghệ thuật của chị: “Ai đó có thể gọi Nguyễn

Thúy Hằng là nghệ sĩ hậu hiện đại Tôi chẳng có lý do để nói ngược lại Song, mặt khác, tôi ưng nhìn tác phẩm của cô như một giá trị khu biệt, thách thức mọi cố gắng định loại, bởi nghệ thuật của Thúy Hằng, với những yếu tố thơ-nhạc-họa hòa quyện kết dính đến mức không thể tìm ra mối hàn, là duy nhất trong loại của nó.” [82]

Sáng tạo là phẩm chất của thi ca và là yêu cầu bắt buộc đối với người nghệ

sĩ Thơ trẻ nói chung và thơ nữ Việt đầu thế kỉ XXI nói riêng ngày càng xác lập được bản lĩnh, họ khẳng định bản thể trong sáng tạo một cách sòng phẳng, và những thể nghiệm của họ ít nhiều nhận được sự ủng hộ, hay ít ra là sự đồng cảm từ những

bậc tiền bối: “Là người chạy tiếp sức, thơ trẻ phải tạo ra dấu ấn thế hệ của mình

Mọi tìm tòi, thể nghiệm cần được trân trọng và khuyến khích Vì đây là sáng tạo, là tìm ra một cái gì đó chưa từng có, cần phải có thái độ cởi mở, rộng thoáng tin cậy

Có thể có những quá đà, những vấp ngã, những trả giá đớn đau Đó là tất yếu không tránh được Bởi cuộc tìm kiếm đích thực nào chả thế Miễn là hay…” (Hữu

Thỉnh) [121]

Trang 29

Chương 2 DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM

ĐẦU THẾ KỈ XXI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẢM QUAN MỚI

VỀ THẾ GIỚI VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH 2.1 Cảm quan mới về thế giới

Chúng ta đang sống trong thế giới bị tấn công bởi những cơn lũ thông tin Thông tin và nhất là nhịp độ sản xuất thông tin mới tăng theo cấp số nhân; thông tin

được tân trang, tổng hợp lại để nhập vào thông tin mới Thời đại toàn cầu hóa, “con

người ở giao thời thế kỉ XX – XXI trong cả cuộc đời mình tiếp nhận nhiều hơn hàng chục nghìn lần lượng thông tin mà tổ tiên hắn nhận được 300-400 năm trước” [dẫn

theo M Epstein, 2000] Đứng trước thách thức của một hành tinh đang dần phẳng

ra, mọi lên kết bề mặt đều trở nên vô cùng dễ dàng bởi mạng truyền thông Thị trường tiêu dùng phát triển và sản xuất tăng nhanh, tất cả giá trị của đời sống đều được phơi bày và cùng nhau tồn tại Trước những biến đổi vô cùng mau lẹ và đầy phức tạp ấy, con người có nhu cầu cất lên tiếng nói của mình

2.1.1 Cảm quan về một thế giới hỗn độn, bất khả nhận thức

Thơ nữ đầu thế kỉ XXI phản ánh thực trạng đời sống, xã hội đầy hỗn loạn như là một cảm thức mới mẻ về thế giới đang diễn ra Vi Thùy Linh cảm nhận cuộc tồn sinh chứa đựng những giá trị đối lập dùng tồn tại, không thể phân biệt đúng – sai, chân – ngụy, cao – thấp, sang – hèn,… tất cả đều vỡ tung thành một mớ hỗn

độn không cách gì sắp đặt: Trò Domino với hiệu ứng lan truyền, đổ sang nhau

những/ ăn năn – bất cần, trong sạch – vấy bẩn, ý nghĩa – vô bổ, cạn kiệt – lấp đầy, tuyệt vọng và ngộ nhận, đoàn tụ và lưu lạc, trấn tĩnh và hoảng loạn/ Sự ầm ĩ chen đua của đám đông chỉ là một chế giễu cho mảnh đất chật hẹp/ Những tranh cãi

chằng chịt chẳng biện minh điều gì ( Vi Thùy Linh - Sinh ngày 4 tháng 4) Có khi,

mọi sự vật hiện tượng đêu bị làm lu mờ trước những sự vật khác và con người chỉ là

đang đuổi theo những cái bóng của người khác trên trần gian: Mặt hồ mặt trời mặt

người mỗi ngày một khác/ Mọi sự vật đều chồng tên người cũ/ Những gương mặt

nhòa tên nhòa nét (Vi Thùy Linh - 23 tháng 3, nơi ánh sáng) Không gian trong

thơ được thể hiện ở trạng thái rối tung, các sự vật không hề có mối liên hệ nào, không gian ấy vừa gợi ra quang cảnh đất trời sau một cơn giống tố bão bùng, vừa

Trang 30

giống con chuyển dạ sinh nở của người đàn bà, vừa y hệt một đống rác đủ thành phần Nhà thơ gọi đó là cõi hỗn mang mà con người khát khao thoát khỏi để kiến

tạo một thế giới khác tươi đẹp và đáng sống hơn – bằng tình yêu: Khi yêu nhau,

chúng mình đã thoát ra khỏi thế giới hỗn mang này, kiến tạ một thế giới khác, chỉ

có Anh và em Chỉ có Anh và em (Vi Thùy Linh - Linh) Cái đời sống xã hội mà

nghệ sĩ hậu hiện đại nói đến như một sân khấu kịch phi lí (Vi Thùy Linh - Tôi)

Cảm quan thơ hậu hiện đại mang dấu ấn sâu đậm của một thời đại rạn nứt các mối quan hệ, mọi sự kết hợp trở nên ngẫu nhiên hơn, vì thế khi đọc thơ của Phan Huyền Thư chúng ta không khỏi bị sốc khi nhà thơ thản nhiên đem những điều tục tĩu (vốn

là một phần của đời sống) đặt bên cạnh cái đẹp, cái thuộc về nghệ thuật, mà rõ ràng

đó không phải là một sự xúc phạm mà là đời: Sóng sánh cà phê bạc hà khói thuốc/

Tuấn Ngọc/ trong quần nhợt nhạt nỗi hoang dâm (Phan Huyền Thư - Tuấn Ngọc

buổi sáng) Hiện thực thậm phồn ấy hóa ra có đủ khả năng tồn tại trong thơ – lĩnh

vực mà các triết gia xưa dùng để thanh tẩy tâm hồn, thi ca hậu hiện đại có lúc đã trở

thành tiểu thuyết

Hiện thực trong thơ Ly Hoàng Ly ồn ào, náo nhiệt đấy, nhưng con người gần

như không thuộc về và cũng không tìm thấy được một sự đồng cảm nào: Chiều/ Im

im không nói/ Đi trên phố/ Rất đông/ Chiều/ Im im không nói/ Đi trên phố/ Quá ồn/ Chiều/ Im im không nói đi trên phố đông/ Im im không nói đi trên phố ồn/ Im im

bánh xe quay vù (Ly Hoàng Ly - Chiều im im) Con người bị vây bọc và lọt thỏm

trong thế giới của những hình ảnh xếp chồng ngồn ngộn, những âm thanh va đập chan chát vào nhau, nhưng lại bị bỏ rơi giữa mọi liên kết rệu rã của nó với hiện thực xung quanh Xã hội trong cảm quan của Ly Hoàng Ly chẳng khác gì một chiếc bánh

ham – bơ – gơ thập cẩm, Như nồi súp đặc quánh nhiều gia vị lờ lợ (Ly Hoàng Ly -

Sóng đêm), nghĩa là nhiều mùi nhiều vị đấy nhưng không khiến con người có cảm

giác ngán ngẩm Bức tranh cuộc sống trong thơ của Ly Hoàng Ly cũng thường được vẽ bằng những nét nguệch ngoạc, thể hiện sự vật ở trạng thái bát nháo, xô bồ, rối tung Cuộc sống hiện đại với nhiều góc khuất, mặt trái được thơ chị quay trực diện như một chiếc camera đang thực hiện những thước phim tài liệu sống động,

chân thực: Những lưng thon vào sàn nhảy/ Uốn éo dưới ánh đèn chớp mắt/ Những

ánh mắt đầy kim tuyến những nụ cười đầy kim tuyến/ Nhìn nhau cười vào nhau

Trang 31

than thở/ Ồ! Ồ ố ô! Nhạc/…/ Không nói không rằng/ Những son môi sượt miệng Heineken/…/ Những gót giầy bóng loáng giẫm đạp lên những xúc cảm bóng loáng trôi tuột vào bóng loáng/…/ Tắt đêm dắt díu nhau về (Ly Hoàng Ly -

Discotheque) Văn hóa đô thị thời mở cửa đi vào thơ Ly Hoàng Ly trong trạng thái

hỗn loạn, cái đẹp thuần khiết nhường ngôi cho lối sống ăn chơi hưởng thụ, buông thả của con người, đặc biệt là giới trẻ Lối sống đàn đúm biến họ trở thành những cái xác vô hồn, những giá trị tinh thần thuần Việt vì thế cũng biến mất Cuộc hiện sinh hiện ra với bộ dạng nhếch nhác, một hiện thực thậm phồn mặc nhiên diễn ra trước mắt chúng ta Thi sĩ có cách đưa hiện thực vào thơ không nhào nặn cuộc sống bằng suy nghĩ của mình, mà mô tả nó một cách chân thật nhất có thể Những mảnh đời, số phận được Ly Hoàng Ly chọn đưa vào thơ tuy rời rạc và không mang tính chất đại diện nhưng gợi ra được cuộc hiện tồn đầy gian khó của con người trong bức tranh do chính chị ghép nên Cuộc sống trong thơ Ly Hoàng Ly như một thước phim nhựa mà nội dung chính thường là thân phận người đàn bà trong cuộc sống hiện đại bộn bề, hạnh phúc thì ít, đắng cay lại nhiều Trong hoàn cảnh thời đại ấy, con người trong thơ chị như những con rối bị cuộc đời giật giây, một hình nhân được người ta sao chép trên tờ giấy, hay một diễn viên với những cung bậc cảm xúc

hỗn loạn trên sân khấu đời: Những bức chân dung photo nhòe nhoẹt dán tứ tung

trên tường/ Ghi hình những trạng thái khác nhau của cùng một khuôn mặt/ Cười – khóc – giận dữ - vui vẻ - yêu đương – thất lạc – khổ đau – hạnh phúc(Ly Hoàng Ly

- Performance photo)

Trong thơ Nguyễn Thúy Hằng, đôi giầy đỏ dưới chân người phụ nữ làm dáng khua vang trên đường phố phòng họp hay trong bếp có thể trở thành hình tượng cô Kếu gái tân thời, những lon sữa và túi ni lông lăn lóc trên quảng trường có thể trở thành những chi tiết nghệ thuật phê phán về vệ sinh môi trường hay nếp sống văn hoá trong đô thị thời đổi mới Tất cả đều được nhà thơ cổ tích hoá biến thành những

tiếng kèn vang lên quanh thân thể con người: Và kia, hình như tôi trong bấn loạn đã

viết lên tường lảm nhảm vô lí về một ai đó/ Không thể xác định đó là tình trạng gì./ / Tôi nhớ trong một tuần đã đứng trước đồ vật để nói với chúng về sự thật, đã bày tỏ u uất của tôi và khuyên chúng bằng mọi cách hãy tan biến đi, đừng để bọn người sử dụng và làm cho mới lên [những màu mè tạm bợ, hợp chất và ô nhiễm,

Trang 32

đường gân, chất vải, kim loại, gốm sứ…(Nguyễn Thúy Hằng – Chế nhạo và phỉ

báng) Có người nói rằng, “Lần đầu tiên thấy trong thế hệ 8X cái da diết trữ tình

hiện ra trong ống kính vạn hoa, nhuần nhuyễn trong cái mới, liên thông và hoà trộn.” [119] Nguyễn Thúy Hằng biến thơ mình thành một trò chơi đầy biến hóa:

lúc vui mắt kỳ ảo, lúc lập loè ma quái, lúc điên loạn rối ren

Trong thế giới hỗn độn, bất khả tri nhận ấy, những trạng huống bi hài trở nên phổ biến Ở đó, lí tưởng và các thang bảng giá trị đời sống thường trực nữa, con người muốn có chúng phải mò mẫm trong thế giới hỗn loạn, bởi một vài trong số

chúng đã trở thành kẻ vắng mặt kinh niên Thơ nữ đầu thế kỉ XXI, dấu ấn của hiện

tượng này cũng đã xuất hiện qua cái nhìn sắc sảo của người nghệ sĩ Với Vi Thùy Linh, tình yêu là sự sống, nhưng trong những vần thơ đầy khao khát của mình, chị không giấu giếm khi bộc bạch những trăn trở tha thiết về một tình yêu thiếu ngọt

ngào, lãng mạn mà chưa trọn vẹn: Đời người thì ngắn/ Giấc mơ lại dài/ Anh giấu

đôi tay trước sự chờ đợi của em (Vi Thùy Linh - Mùa thụ mầm) Có lẽ, cùng sống

và viết trong hoàn cảnh hậu hiện đại nên nhà thơ Ly Hoàng Ly cũng mang cảm quan như thế về tình yêu, chị diễn đạt sự thất vọng của mình nhẹ nhàng hơn Vi

Thùy Linh nhưng đủ khiến lòng người se sắt: Đêm là của chúng mình/ Sao nỡ ngủ/

Hở anh/ Em đành thức một mình/ Những đêm đèn sáng trưng/ Chiếc chăn bò trước

ngực/ Lạnh buốt/ Đêm là của chúng mình… (Ly Hoàng Ly - Đêm là của chúng

mình) Cái đẹp của tình yêu thưa vắng dần, hạnh phúc vì vậy càng trở nên khắc

nghiệt với người đàn bà yêu như Vi Thùy Linh: Thế giới thu nhỏ khi ban mai mãn

khai/ Em xếp hàng chen lấn mua vé tàu tìm hạnh phúc/ Căn phòng tàu lửa đầy cuống vé cũ, đuổi bám/ Dù em đã trát nỗi đau cùng hình dung cái chết thường trực,

lên tường trắng (Vi Thùy Linh - Tàu lửa) Nếu thi sĩ Vi Thùy Linh vẽ ra một thế

giới không vẹn tròn như khao khát của chị, thì Phan Huyền Thư thường giễu cợt trên chính sự vỡ mộng và nhầm lẫn của bản thân, trạng hướng bi hài từ đó mà xuất

hiện: Cá chép của em/ bơi theo dấu anh sông biền biệt/ vượt vũ môn không hóa

rồng/ hóa lộn chồng/ lộn kiếp (Phan Huyền Thư - Hai mươi ba tháng chạp)

Nguyễn Thúy Hằng bất lực trước sự khô héo, cỗi cằn của hành tinh: Tôi đã rửa hình

xong, đâu đâu cũng là nó Châu lục đen Mất bao nhiêu năm để tái tạo vành đai xanh và rắc những lớp diệp lục để lọc bớt mảnh kim loại trong đầu (Nguyễn Thúy

Trang 33

Hằng - Cõng người lạ) Hiện thực trong cái nhìn của Ly Hoàng Ly lắm lúc vô cùng

rối rắm, và khi bất lực tri nhận cuộc đời, cái đọng lại trong tâm hồn nghệ sĩ chỉ là thứ ảo ảnh ngoài tầm với và cảm giác bị cầm tù trong nỗi buồn của chính mình:

(Hôm nay nỗi buồn chui sau rèm cửa trắng tinh)/ Hôm qua nó chui dưới chăn mỏng/ Ngày mai nó nằm bò trên sàn đá lạnh buốt/ Ngày kia nó vẫn vẫy taxi đi một

vòng/ Nhìn những ảo ảnh của phố đêm (Ly Hoàng Ly - Lô lô)

Trong cảm quan hậu hiện đại, thế giới hỗn độn, bất khả nhận thức còn bởi vì

lí tưởng và các thang bảng giá trị đời sống đổ vỡ, trở thành kẻ vắng mặt kinh niên

Đọc thơ của các nhà thơ Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng, chúng ta nhận thấy dấu ấn này khá rõ nét Những giá trị từng được tôn vinh trên bảng vàng

về phẩm giá của người phụ nữ Việt như đạo đức, chính chuyên, đức hạnh,… bị từ chối ra mặt trong thơ nữ đương đại, bởi lẽ đây là thời đại con người đang nỗ lực đấu tranh vì nhân quyền Vi Thùy Linh thẳng thừng quay mặt với đức hạnh – thứ cản trở

hạnh phúc của biết bao người đàn bà: Ngày lồng khung chân dung đức hạnh/ Tôi

bước khỏi bức tranh (Vi Thùy Linh - Sinh năm 1980) Mạnh dạn hơn, nhà thơ Phan

Huyền Thư kêu gọi nữ giới đạp đổ nhà tù vô hình được xây từ đạo đức, chính chuyên, dư luận, đám đông để sống với khát vọng của mình, vươn đến chân trời tự

do của tình yêu cá nhân: Này chị em ơi!/ Nhớ ai gàm gào trong cổ họng/ rồi cười

nưa rúc mặt đám đông/ xanh thì đỏ/ tím thì vàng/ váy ngắn thì chân phải cong/ một

mình: đạo đức – cười thầm: sang trọng (Phan Huyền Thư - Thị Mầu 97) Xét ở một

góc độ nào đó, khi nhân quyền được đề cao, việc con người thể hiện tiếng nói cá nhân về những khát vọng riêng tây không phải là điều khó chấp nhận Bởi lẽ, một

xã hội tân tiến, văn minh, những gì đi ngược với quyền con người sẽ phải đứng sau bảng xếp hạng giá trị sống Thơ nữ Việt đầu thế kỉ XXI đã nói lên được tiếng lòng chung của người phụ nữ đương đại, đó cũng chính là giá trị nhân bản – một biểu hiện quan trọng của văn học hậu hiện đại

Trong cảm quan của các nhà thơ theo khuynh hướng hậu hiện đại, đời sống

không có tính ổn định và con người bất lực trên hành trình nhận thức về nó: Cuộc

đời – dòng sông lớn đầy nghịch lưu/ Dẫu mỗi con người hóa thân thành sóng/ Cũng

không lường được vòng xoáy dòng sông ấy (Vi Thùy Linh - Dòng sông không trở

Trang 34

lại) Tác giả Ly Hoàng Ly bày tỏ sự ngậm ngùi: Những hỗn loạn của ban ngày/

Đêm không bắt được/ Những nỗi lòng như sông uẩn khúc/ Chỉ chảy được về đêm/

Tôi lặng lờ trôi vào đường hầm thời gian (Ly Hoàng Ly - Sóng đêm) Không chỉ

vậy, con người trở nên méo mó, đáng thương, mất sức đề kháng, thậm chí tê liệt Vi

Thùy Linh nói về sự tồn tại như một cái bóng của con người: Trong những bức họa

của mình/ Lêvitan không hề vẽ người (?)/ Và ở tranh Đinh Ý Nhi/ Đàn bà, thiếu nữ,

bé gái đều gày gò hai màu đen – trắng (Vi Thùy Linh - Bóng người) Nhà thơ

mượn thơ mình để gửi gắm tâm trạng chán chường thực tại vô nghĩa, nỗi cô đơn đến tội nghiệp của con người trong cuộc sống (hậu) công nghiệp khi họ mất kết nối với thế giới xung quanh Tác giả Ly Hoàng Ly có vẻ hiền lành hơn, chị không tức giận mà chỉ cảm thấy mất hứng thú khi bài ca cuộc sống mà chị đang viết bỗng cạn

lời bởi sự ngưng trệ đang diễn ra khắp nơi: Hát tiếp rằng:/ Định hát tiếp rằng/

Nhưng/ Thôi/ Hát làm gì/ Còn gì mà hát/ Ngồi thừ (Ly Hoàng Ly - Performance

Ham bơ gơ) Ở nhà thơ Nguyễn Thúy Hằng, cảm quan về sự hoà trộn xâm nhập

thẩm thấu liên thông của các sinh thể, vật thể trong vũ trụ theo quan niệm của người phương Ðông Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Thuý Hằng, những nắp cống,

lò vi sóng, đàn bò, tượng sắt, xác chết… những vật thể sinh linh trong vũ trụ đều được nối kết, hoà trộn, chồng kề và tan biến vào nhau nhờ phép lạ của cái nhìn hoạ

sĩ, theo tinh thần Phật giáo Những trang viết của nhà thơ có sự hoà trộn của nhiều sắc thái tình cảm: chua chát, cay nghiệt, thảng thốt, giễu nhại, ân tình và bình thản Ðôi khi, có những câu những đoạn rờn rợn một mặc khải, có dáng dấp những dòng kinh Coran Con người và sự vật trở nên mất đi hình hài toàn vẹn, ý nghĩa toàn vẹn, logíc toàn vẹn, thái độ và hành vi toàn vẹn, trong chính sự kết nối, hoà trộn, liên thông đó Con người, đôi khi chỉ còn là những đốm sáng của một thể thơ flash được

nhà thơ chụp lấy một cách ngẫu nhiên Inrasara cho rằng:“Nếu chủ nghĩa hiện đại

xem những cái/kẻ khác (Others): sự không hợp lí, sự thiếu văn minh, không phải nguồn gốc châu Âu, phi da trắng, phi dị tính luyến ái, không phải đàn ông, văn hóa dân tộc thiểu số, không vệ sinh,… là biểu trưng cho mọi bất ổn, vô trật tự và hỗn loạn trong thế giới nhị nguyên, cần phải loại trừ khỏi xã hội hiện đại đầy hợp lí thì chủ nghĩa hậu hiện đại ngược lại: chấp nhận và dung hóa chúng.” [42]

Trang 35

2.1.2 Cảm quan về một thế giới KHÁC

Xã hội chúng ta đang đi vào con đường mở cửa kinh tế, giao lưu văn hóa, kết nối thông tin và chấp nhận cuộc sống không thể thiếu những con số, máy móc và hàng hóa tiêu dùng Mọi giá trị tồn tại cùng con người, trong một thời điểm mà con người chưa thể phân loại chúng Đôi lúc con người không vượt qua được cảm giác

bơ vơ, cô đơn, tuyệt vọng, bất lực trước cuộc hiện sinh nhiều khi vô nghĩa Không tìm thấy sự thấu hiểu, không hi vọng được cứu cánh, không Thánh thần, tôn giáo, chân lí nào có thể đáp ứng được tất cả mọi nhu cầu thế là con người rạn vỡ niềm tin vào tất cả, thậm chí với chính mình Trên tinh thần hậu hiện đại, các nhà thơ nữ đầu thế kỉ XXI đã thể hiện được cảm quan về một thế giới bao gồm những cõi khác, mà trước đây chỉ là một cõi mà họ có thể nhìn thấy

Khi hệ hình văn học cũ không còn, mọi tiêu chuẩn sáng tác và đánh giá đều thay đổi theo nguyên tắc nghệ thuật của nó Cảm thức hậu hiện đại còn là lối cảm

nhận sự tồn tại của những cõi Khác trong thế giới, những vỉa chìm lẩn khuất đằng

sau những giá trị hiện hữu hằng ngày Giờ đây, những điều vô hình, vô giá trị vốn không xuất hiện trong thơ ca truyền thống, được tồn tại ngang hàng trong thơ hậu hiện đại và có tiếng nói riêng Chúng hóa giải vị trí độc tôn của những giá trị đã

được đặt nơi vị trí trung tâm của thi ca Mọi “nỗ lực khôi phục trật tự đẳng cấp,

hoặc những hệ thống ưu tiên nào đó trong cuộc sống, đều vô ích và không thể thực hiện được” (I.P Ilin) (dẫn theo Inrasara) [44] Nhận thức thế giới của con người

luôn là nhận thức đầy thiếu khuyết Trong lúc ngôn ngữ như phương tiện diễn đạt

“chân lí” cũng không đáng tin cậy Các nhà thơ hậu hiện đại mở rộng khả năng

nhận thức thế giới ra khỏi những biên độ đã được vạch sẵn trước đây, đưa thơ chạm đến những địa hạt chưa từng có Họ không dám đặt niềm tin nơi những giá trị lớn lao và hướng đến xác lập vị trí của những điều được xem là mang giá trị ngược lại Nhà thơ Vi Thùy Linh từ chối vai trò của tôn giáo, triết học, khoa học, bởi tất thảy

đều bất lực trước nỗi bất hạnh của con người: Từng cánh sao ướt sáng dần/ chìm,

con chỉ ước mình bé thơ, khi hiểu những điều lớn/ lao chẳng làm vơi đi bất/ hạnh

mỗi đời người (Vi Thùy linh - Âu Cơ); thi sĩ nhận thức lại độ bền vững của triết lí:

“Lưu thủy hành vân”/ triết lí cuộc sống/ một chảy một trôi (Thực dụng hư vô) Với

Vi Thùy Linh, không có tôn giáo nào cao hơn tình yêu, hơn tất cả mọi điều, tình yêu

Trang 36

của Anh mới chính là ánh sáng soi đường: Không phải Phật nghìn mắt nghìn tay/

Anh ủ em trong im lặng đày hơi ẩm bằng đôi tay xuất thần (Vi Thùy Linh - Mùa

thụ mầm) Thần tượng, thần linh, các đấng tối cao, thần quyền khi trong cảm quan

hậu hiện đại đã không còn giữ được quyền năng tối thượng dẫn đường cho thi ca Con người tiến tới xác lập một thế giới mang tính chủ quan để xây dựng một khung giá trị thẩm mĩ mới cho thi ca Và có lẽ, Vi Thùy Linh đã thể hiện khá tốt khía cạnh

này của chủ nghĩa hậu hiện đại, chị viết: Nhưng Hercules không phải là thần tượng

của chúng ta/ Tình yêu mạnh hơn thần quyền, vô hiệu hóa những áp đặt (Vi Thùy

Linh - Đôi cánh của mẹ) Còn nghệ sĩ Ly Hoàng Ly lại chống đối đại tự sự trên cơ

sở nhận thức lại những qui tắc, định kiến, nếp nghĩ đã có sẵn để đi đến xây dựng vị

thế cá nhân của mỗi sự vật: Ngôi nhà nằm nghiêng/ Trong ý thức của con người

ngôi nhà phải nằm thẳng đứng/ Nhưng nó cứ nghiêng nó cứ thích nghiêng (Ly

Hoàng Ly - Nhà nghiêng)

Phi đại tự sự xem trọng yếu tố cá nhân, là đặc điểm nhân văn của hậu hiện đại Phi trung tâm hóa khẳng định vai trò ngoại vi là tinh thần dân chủ mới của hậu hiện đại Hậu hiện đại tôn trọng sự đa dạng, các giá trị trái nhau.Những cây bút nhưVi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly và Nguyễn Thúy Hằng là những nữ nhà thơ tiên phong trong việc đề cao cá nhân trong thơ ca đương đại Việt Nam Vi Thùy Linh bác bỏ quyền năng của số phận, khẳng định sức mạnh cá nhân mỗi người trong việc

định đoạt cuộc sống của mình: Người ta an ủi nhau bằng cách qui về “số phận”/

Em không tin sự định đoạt của số phận/ Hạnh phúc không an bài bằng dấu của định

mệnh/ Con người làm nên tất cả/ Con người là nỗi đau! (Vi Thùy Linh - Không

thanh thản); thi sĩ thậm chí không tin vào sự tuyệt đối của thuyết tương đối, bởi cái

tuyệt đích duy nhất trong đời người là ở mỗi cá nhân con người: Thế giới không bao

giờ yên ổn/ Mỗi người là một thế giới nhỏ (Vi Thùy linh - Không thanh thản)

Cảm quan hậu hiện đại còn biểu hiện qua ý hướng về cái phi tâm của thế giới

Con người trong mối tương quan với thế giới, luôn thể nghiệm “sự hoài nghi quyết

liệt mang tính nhận thức luận và bản thể luận” [dẫn theo Hans Bertens, 1980] Con

người không tìm thấy sự chắc chắn ở mọi trung tâm buộc phải chấp nhận bản chất thế giới là hỗn mang Chìm ngập giữa cõi hỗn mang đó, nhà văn hậu hiện đại thức nhận vai trò của nghệ thuật là tham dự vào trò chơi hỗn loạn giữa các sự thế vì giả tạo Chủ

Trang 37

nghĩa hậu hiện đại là chủ nghĩa đa nguyên văn hóa Chủ nghĩa hậu hiện đại chấp nhận

và dung hóa những cái/kẻ khác (Others) như: không phải con người, sự không hợp lí,

sự thiếu văn minh, không phải nguồn gốc châu Âu, phi da trắng, phi dị tính luyến ái, không phải đàn ông, văn hóa dân tộc thiểu số, không vệ sinh,… Đó là những đối tượng từng biểu trưng cho mọi bất ổn, vô trật tự và hỗn loạn trong thế giới nhị nguyên, cần phải loại trừ khỏi xã hội hiện đại đầy hợp lí Thơ nữ Việt đầu thế kỉ XXI

ghi đậm dấu ấn của sự nỗ lực đưa những cái Khác ở trong cánh gà thi ca truyền thống

ra sân khấu thơ đương đại Ý hướng về cái Khác của thế giới bộc lộ ở việc bài bác

mọi trung tâm và khẳng định các ngoại biên Nhà thơ Phan Huyền Thư muốn phá vỡ

mọi trật tự, mọi áp đặt và ràng buộc: Tự phá vỡ đối xứng/ bằng nón nghiêng/ quang

gánh lệch/ mắt nhìn ngang (Phan Huyền Thư - Huế) Tác giả Vi Thùy Linh thì cho

rằng con người không phải là cái rốn của vũ trụ và hơn một lần lên án hành động hủy

diệt sự sống của con người: Những sinh vật cần sống, bị hủy diệt dần hoặc tuyệt

chủng, bởi con người/ (Loại người đem cho nhau bi thương và cái chết) (Vi Thùy

Linh - Đồng tử) Nguyễn Thúy Hằng có chủ ý tạo cho mình một “cõi riêng” kiểu

như Macondo của Márquez hay Yoknapatawpha của Falkner Hằng được ví như một

“Andersen của thời đại A còng” [119] khi chị đã viết nên những chuyện cổ tích mới

cho những vật tầm thường tràn ngập đời sống đương đại Ðây là một đoạn trong Họ -

bột hư ảo của nhà thơ: đó sẽ là mùa xuân và hạt nước ngọt bạn sẽ nghe người ta

kể về chúng tôi những con ngựa đen đã phi điên dại trong nhiều cuộc chinh chiến rồi từ đó, bạn sẽ chính thức là một chiến binh và tham dự cuộc viễn chinh với máu

ấm của mình mà không cần phải nghe ai kể lại những huyền bí của cuộc đời nữa

(Nguyễn Thúy Hằng - Mùa xuân đắm chìm)

Xuyên suốt các tập thơ của nhà thơ Nguyễn Thúy Hằng là một nỗ lực thẩm

mỹ, một khát vọng thăng hoa, một cái nhìn huyền thoại của người hoạ sĩ mộng du nghệ thuật luôn nhảy vọt khỏi cái thế giới chết chóc tầm thường và thực dụng Nếu

trước đây nhân vật của Nam Cao trong “Trăng sáng” nhìn vầng trăng như thứ thực

phẩm không ăn được, thì giờ đây Nguyễn Thuý Hằng nhìn tất cả thực phẩm ăn được như những mảnh trăng Ðó là một sự đảo thế có tầm văn hoá, bộc lộ một nội lực thẩm mỹ lớn Cách nhìn của Nguyễn Thuý Hằng thấy thế giới như tác phẩm sắp đặt, thức ăn như chất liệu hội hoạ cũng đáng trân trọng như cách nhìn của Don

Trang 38

Quichotte nhìn những cối xay gió thành những gã khổng lồ Don Quichotte bị ám ảnh bởi khát vọng giải phóng con người khỏi bất công, còn Nguyễn Thuý Hằng bị

ám ảnh bởi khát vọng thẩm mỹ hoá thế giới tầm thường và dung tục: tôi có gương

mặt thật xấu xí, vì thế tôi muốn chúng méo mó hơn nữa, trở thành một dị

biệt(Nguyễn Thúy Hằng - Những tâm thần không đúng hẹn) Trên sân chơi mênh

mông của vũ trụ, con người và sinh vật, tư tưởng và đồ vật, không gian và thời gian, mùa thu và bọn quân phiệt, lá vàng và chấy rận đều được xếp cạnh nhau trong tương tác bình đẳng, như một xã hội mở rộng, một xã hội mà con người không chỉ giao tiếp với nhau mà còn liên thông, biến hình với, trong, hay thành vô vàn thứ

khác “Trong thơ Hằng, luôn luôn có một điều kỳ diệu mi ni, như con bướm nhỏ

đậu trên những điều tầm thường vụn vặt, thậm chí ẩn náu sau những điều nhàm chán và thô kệch để bất chợt bay lên.” [119] Chính vì thế, độc giả như lạc lối trong

một thế giới vừa quen vừa lạ, thật ra là rất lạ; một thế giới do nhà văn mang từ nơi

khác tới hơn là thế giới quen thuộc hàng ngày của họ “Tuy nhiên, không nên hiểu

đơn giản rằng “giải thiêng” đồng nghĩa với việc đạp đổ những thần tượng, những giá trị truyền thống đã ăn sâu vào tâm thức dân tộc mà phải hiểu nó như là nỗ lực xác lập những hệ tiêu chí mới để tất cả “những gì thuộc về con người không xa lạ với tôi” (Marx) (dẫn theo Nguyễn Đăng Điệp) [17]

Với chủ nghĩa hậu hiện đại, cảm thức về thế giới là hỗn hộn, bất khả nhận

thức, là nơi tồn tại của những cõi Khác, “khi mọi trung tâm không chắc chắn, các

nhà hậu hiện đại chấp nhận sự hỗn độn như là một sự kiện và sống một cách thực

tế, xâm nhập vào nó bằng “tình cảm mật thiết” (I.P Ilin) (dẫn theo Inrasara) [46]

Cảm thức này bao trùm lên nhiều ngành nghệ thuật và đặc biệt đến văn học của các nước trên thế giới Mọi sự thật vĩnh hằng sẽ biến mất, thay vào đó là những biểu hiện của những hiện tượng không bản chất Thời hậu hiện đại là thời của sự lựa

chọn không ngừng, nó là hệ quả của bùng nổ thông tin “Đó là một thời không phải

chỉ thuộc về những người giàu có mà mỗi người đàn ông đều trở thành một công dân thế giới và mỗi người đàn bà là một cá nhân được giải phóng.” [62]

2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ

Nhà nghiên cứu Lê Lưu Oanh cho rằng: “cái tôi trữ tình là thế giới chủ

quan, thế giới tinh thần của người được thể hiện thông qua các phương tiện của thơ

Trang 39

trữ tình… Cái tôi trữ tình là nội dung, đối tượng cũng như bản chất của tác phẩm trữ tình”[95, tr.18-19] Nhà phê bình Hà Minh Đức khẳng định: “Cái tôi trữ tình chính là cái tôi tác giả đã được nghệ thuật hóa, lí tưởng hóa và điển hình hóa”

[19] Các nhà tâm lí học khi bàn về nhân cách đã phân tích rất kĩ cái tôi: Phân tâm

học Sigmund Freud, Thuyết hiện sinh Husserl, Sartre, Thuyết phát triển trí tuệ

J.Piagic,… Các công trình lí luận về nhân cách của các nhà tâm lí học Mác – xít A.N.Leonchiep; A.G.Covaliop,… đều coi cái tôi là yếu tố cơ bản nhất, quan trọng nhất cấu thành ý thức, nhân cách

Vũ Tuấn Anh đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về bản chất và sự biểu hiện

của cái tôi trữ tình trong thơ Ông nhận định: “Cái tôi trữ tình là một sự tổng hòa

nhiều yếu tố, là sự hội tụ, thăng hoa theo qui luật nghệ thuật của ba phương diện cá nhân – xã hội – thẩm mĩ trong hình thức thể loại trữ tình” [3, tr.26] Bản chất thứ nhất của cái tôi trữ tình là bản chất chủ quan – cá nhân, bộc lộ qua những thuộc tính

sau: Cái tôi trữ tình trở thành hệ qui chiếu thẩm mĩ đặc biệt mang tính chủ quan, chuyển đổi hiện thực khách thể thành hiện thực chủ thể, mang đậm dấu ấn cá nhân như một hiện tượng độc đáo, duy nhất, không lặp lại; Cái tôi trữ tình tự biểu hiện, khai thác và phơi bày nội tâm cá nhân, đồng thời qua đó xây dựng một hình ảnh mang tính quan niệm về chủ thể Cái tôi trữ tình khác về chất lượng cái tôi nhà thơ,

nó là cái tôi thứ hai hoặc cái tôi đã được khách thể hóa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật Bởi vậy cái tôi trữ tình còn có thể là cái tôi trữ tình nhập vai hoặc nhiều

vai Bản chất thứ hai của cái tôi trữ tình là bản chất xã hội nhân loại Cái tôi trữ tình

tồn tại trong phức hợp các mối quan hệ: truyền thống, văn hóa, thời đại, nhân loại,… nên bao giờ cũng mang giá trị xã hội Cái tôi trữ tình đồng hóa vào mình những gì tốt đẹp được kết tinh trong đời sống tinh thần dân tộc, nhân loại, đồng thời, nó cũng có xu thế đào thải những gì lỗi thời, lạc hậu Thơ trữ tình là tiếng nói của một cá nhân trong đó có sự đồng vọng, cộng hưởng tiếng nói của xã hội, thời

đại và nhân loại Bản chất thứ ba là bản chất nghệ thuật – thẩm mĩ của cái tôi trữ

tình Cái tôi trữ tình là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản trữ tình Cái tôi trữ

tình luôn vươn tới cái lí tưởng thẩm mĩ (chân – thiện – mĩ) và biểu hiện một thế giới

mang tính đặc trưng của phương thức trữ tình Để vươn tới lí tưởng thẩm mĩ, cái tôi

Trang 40

trữ tình bao giờ cũng bắt nguồn từ những tình cảm, cảm xúc hết sức chân thành Tình cảm chân thực là cơ sở cho bản chất nghệ thuật – thẩm mĩ của cái tôi trữ tình

Tóm lại, cái tôi trữ tình là một sự thống nhất giữa cái tôi cá nhân, cái tôi xã hội và cái tôi nghệ thuât – thẩm mĩ Chặng đường thơ của Vi Thùy Linh, Ly Hoàng

Ly và Nguyễn Thúy Hằng chưa dài nhưng cũng không ngắn, đủ để các tác giả hóa thân vào các dạng thức khác nhau của cái tôi trữ tình

2.2.1 Cái tôi nội cảm đào sâu bản thể

Hegel trong Mĩ họcđã từng nói: “Nguồn gốc và điểm tựa của thơ trữ tình là

ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất mang nội dung”[30, tr.162] Còn tác giả

Belinsky cho rằng: “Toàn bộ hiện thực đều có thể là nội dung của thơ trữ tình

nhưng với điều kiện nó phải trở thành sở hữu máu thịt của chủ thể” (dẫn theo Lê

Lưu Oanh) [95, tr.26] Trong thơ cổ, do đặc trưng sùng cổ và phi ngã, cái tôi trữ tình ẩn khuất theo lối nhân sinh là chủ yếu Các nhà Thơ mới đã tạo dựng trong thơ một cái tôi sừng sững – lấy cái Tôi cá nhân làm nguyên tắc cắt nghĩa thế giới Đến thơ ca cách mạng, cái tôi trữ tình khi thì tự biểu hiện, khi đứng vai trò là người chứng kiến và tái hiện hiện thực Thế hệ trẻ sau đổi mới và đặc biệt từ đầu thế kỉ XXI đã tìm cho mình lối đi riêng, chủ quan, độc đáo, khẳng định vị thế của mình với xã hội Giờ đây các nhà thơ trẻ có thể đi sâu vào mọi ngõ ngách tâm hồn mình với đủ cung bậc của suy tư và cảm xúc Họ muốn nghiên cứu, lí giải và phơi trải con người hiện thực của chính mình với một màu sắc riêng, tiếng nói riêng, tất cả đều khao khát đi đến tận cùng thơ và tận cùng mình để thỏa sức bung phá và khẳng định cá tính

2.2.1.1 Cái tôi giải phóng tính dục

Các nhà thơ nữ sáng tác ở đầu thế kỉ XXI như Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly

và Nguyễn Thúy Hằng đã bắt đầu đề cập đến tính dục một cách trực tiếp, mạnh mẽ

Họ viết về cái tôi giải phóng tính dục một cách đầy nhiệt tình và đam mê Khi tình dục là quyền lực của đàn ông trên cả phương diện thể xác lẫn diễn ngôn thì cuộc giải phóng tính dục của nữ giới là một cuộc giải phóng kép Họ không chỉ viết về tình dục mà còn hướng đến tính dục mang bản sắc giới của mình Quan niệm của Vi Thùy Linh định vị sex trong cuộc sống giới nữ và đây là quan niệm có khả năng phổ

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w