1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc bru vân kiều ở các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình

135 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thiết khoa học Nếu vận dụng đồng bộ các biệp pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru- Vân Kiều được đề xuất trong luận văn thì sẽ góp phần nân

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU

Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ

HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60140114

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THANH HÙNG

Thừa Thiên Huế, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với những tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và chia sẻ kinh nghiệm cho chúng tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin chân thành cảm ơn:

- Ban giám hiệu, Khoa Tâm lý - Giáo dục, Phòng đào tạo sau đại học của trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế;

- Lãnh đạo, bạn đồng nghiệp, học sinh các trường PTDT bán trú huyện

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; các cơ quan, đoàn thể xã hội, phụ huynh học sinh trên địa bàn đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn;

- Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thanh Hùng,

người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những lời chỉ dẫn của thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp trao đổi của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 11, năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục các chữ viết tắt 5

Danh mục bảng 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1.Lí do chọn đề tài 7

2.Mục đích nghiên cứu 9

3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9

4.Giả thiết khoa học 9

5.Nhiệm vụ nghiên cứu 9

6.Phương pháp nghiên cứu 9

7.Phạm vi nghiên cứu 10

8.Đóng góp mới của luận văn 11

9.Cấu trúc của luận văn 11

NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 12

1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 12

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 12

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 15

1.2.Lý luận về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 17

1.2.1 Khái niệm kỹ năng sống 17

1.2.2 Khái niệm giáo dục kỹ năng sống 20

1.2.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 21

1.2.4 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 22

1.2.5 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 22

1.2.6 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 23

1.2.7 Hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 25

1.2.8 Nguyên tắc giáo dục KNS cho HSTH 29

1.3.Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 30

Trang 5

1.3.1 Khái niệm quản lý 30

1.3.2 Khái niệm quản lý giáo dục 30

1.3.3 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống 31

1.3.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 32

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU Ở CÁC TRƯỜNG PTDTBT HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH 38

2.1.Khái quát tình hình KT-XH và giáo dục huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên - KTXH 38

2.1.2 Tình hình GD&ĐT huyện Lệ Thủy 39

2.2.Khái quát quá trình khảo sát 42

2.2.1 Mục đích khảo sát 42

2.2.2 Đối tượng khảo sát 42

2.2.3 Địa bàn khảo sát 42

2.2.4 Nội dung khảo sát 43

2.2.5 Phương pháp khảo sát 43

2.3.Thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình 44

2.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học dân tộc Bru-Vân Kiều 44

2.3.2 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về vai trò của việc giáo dục kỹ năng sống 45

2.3.3 Thực trạng KNS của học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều các trường PTDT huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình 48

2.3.4 Thực trạng nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều 48

2.3.5 Thực trạng về phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều 51

2.3.6 Các yếu tổ ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học Bru - Vân Kiều 54

2.4.Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình 56

Trang 6

2.4.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng trong việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân

tộc Bru - Vân Kiều 56

2.4.2 Thực trạng quản lý chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều 57

2.4.3 Thực trạng quản lý xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình, hình thức thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều 58

2.4.4 Thực trạng quản lý xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều 59

2.4.5 Thực trạng quản lý công tác phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều 60

2.4.6 Thực trạng quản lý các điều kiện hỗ trợ thực hiện hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân kiều ở các trường PTDTBT 62

2.4.7 Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống 63

2.5.Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình 64

2.5.1 Những mặt mạnh 64

2.5.2 Những yếu kém và tồn tại 65

2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 66

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68

CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU Ở CÁC TRƯỜNG PTDTBT HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH 69

3.1.Cơ sở đề xuất biện pháp 69

3.1.1 Các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về đổi mới giáo dục và đào tạo 69

3.1.2 Các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ, ngành, địa phương về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 69

3.2.Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 69

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 70

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 70

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 70

Trang 7

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả và khả thi 70

3.3.Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thuỷ 70

3.3.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh và các lực lượng xã hội trong xã về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 70

3.3.2 Xây dựng kế hoạch tổ chức quản lý các hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo năm học, từng học kỳ và từng tháng phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tế của nhà trường 73

3.3.3 Xây dựng chương trinh HĐNGLL cụ thể và quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp 75

3.3.4 Chỉ đạo GV thực hiện triệt để việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào các môn học 79

3.3.5 Tăng cường các điều kiện về cơ sở vật chất và tài chính phục vụ hoạt động GDKNS 81

3.3.6 Tăng cường sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống 83

3.3.7 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và thi đua khen thưởng trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống 85

3.3.8 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88

3.4.Khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 89

3.4.1 Đối tượng khảo sát 89

3.4.2 Phương pháp tiến hành khảo sát 89

3.4.3 Mục đích khảo sát 89

3.4.4 Các biện pháp được khảo nghiệm 89

3.4.5 Nội dung khảo sát 90

3.4.6 Kết quả khảo sát 90

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 93

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.3 Nhận thức của hs về vai trò của việc GDKNS 45

Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL, GV về những kns cần giáo dục cho HSTH ở các trường PTDTBT .46

Bảng 2.5 Mức độ hiểu biết của HSTH dân tộc Bru - Vân Kiều về các kỹ năng sống 47

Bảng 2.6 Khảo sát CB, GV về mức độ thực hiện các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT .49

Bảng 2.7 Khảo sát HS về mức độ thực hiện các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT .49

Bảng 2.8 Mức độ thực hiện các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT .51

Bảng 2.9 Khảo sát HS về mức độ thực hiện các hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT .52

Bảng 2.10 Khảo sát CB, GV về mức độ thực hiện các hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT .53

Bảng 2.11 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc thiếu kns của hs 54

Bảng 2.12 Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng trong việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS .56

Bảng 2.13 Hiệu quả thực hiện việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều 57

Bảng 2.14 Thực hiện về quản lý xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình, hình thức thực hiện giáo dục KNS của nhà trường 58

Bảng 2.15 Thực trạng quản lý xây dựng và bồi dưỡng về đội ngũ GV thực hiện giáo dục KNS 59

Bảng 2.16 Thực trạng quản lý sự phối hợp của các lực lượng giáo dục 61

Bảng 2.17 Thực trạng quản lý về các điều kiện hỗ trợ thực hiện hoạt động GDKNS 62

Bảng 2.18 Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động GDKNS 63

Bảng 2.19 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống 66

Bảng 3.1 Đánh giá mức độ cấp thiết của các biện pháp 90

Bảng 3.2 Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp 91

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là một trong năm nội dung được Bộ GD&ĐT triển khai khi thực hiện phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” đối với các trường trung học phổ thông

Kỹ năng sống là cách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả Giáo dục kỹ năng sống có tác dụng nâng cao nhận thức, trang bị thái độ sống và hành vi tích cực, lành mạnh cho thanh thiếu niên Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống là một hình thức can thiệp sớm, có tác dụng tích cực trong việc ngăn ngừa những hành vi lệch lạc của trẻ em, thanh niên Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO 2003), đó là kỹ năng mang tính tâm lí xã hội, là các khả năng thích ứng và là hành vi tích cực cho phép các cá nhân giải quyết có hiệu quả nhu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày Kỹ năng sống rất cần thiết cho mọi người, đặc biệt là trẻ vị thành niên và thanh niên Nó giúp cho những người trẻ tuổi thể hiện kiến thức, thái

độ và các giá trị, hành vi lành mạnh nhằm giảm thiểu các nguy cơ có hại cho sức khỏe và cải thiện cuộc sống của mình, chẳng hạn: biết đặt mục tiêu cho cuộc sống; thể hiện sự kiên định trước những cám dỗ không có lợi cho sức khỏe như sử dụng ma túy; chơi game; Những năm gần đây, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, những can thiệp dựa trên giáo dục kỹ năng sống giúp cho việc thay đổi hành vi đạt hiệu quả cao hơn so với các phương pháp tiếp cận chỉ cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức

Dân tộc Bru - Vân Kiều ở huyện Lệ Thủy chủ yếu sống ở ba xã miền núi là Ngân Thủy, Kim Thủy và Lâm Thủy Đây là các địa phương có điều kiện sống rất khó khăn, nền kinh tế - văn hóa chậm phát triển và còn lạc hậu Người dân ở đây quanh năm chỉ quanh quẩn với núi rừng, họ không đề cao việc học hành của con em, đối với họ, học sinh đến trường không phải để tiếp thu kiến thức mà vì trách nhiệm

và bắt buộc Điều họ quan tâm là việc hôm nay, ngày mai họ sẽ ăn gì, sống sao, họ không biết rằng chính cái chữ là phương tiện giúp họ vươn lên, thoát khỏi cái nghèo Khác với học sinh người Kinh, đa số những học sinh dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt, hoặc vốn kiến thức về tiếng Việt của các em còn rất hạn chế Trong sinh hoạt cộng đồng, các em chỉ sử dụng vốn ngôn ngữ đặc trưng của người Bru -

Trang 11

Vân Kiều nên khi bước vào môi trường giáo dục phổ thông, tiếng Việt trở thành thứ ngôn ngữ thứ hai Khi đến trường trong trường hợp bắt buộc giao tiếp với giáo viên, các em có thể sử dụng tiếng Kinh nhưng khi giao tiếp với bạn bè, gia đình các em sử dụng ngôn ngữ của mình nên việc để các em sử dụng tiếng Việt một cách thuần thục,

tự nhiên hết sức khó khăn Môi trường các em sống bốn bề là núi rừng và cây cỏ nên khi bước vào môi trường giáo dục là một môi trường mới mẻ và xa lạ, dẫn đến tâm lí rụt rè và sợ sệt Về phía giáo viên, phần lớn các giáo viên giảng dạy các em đều là người Kinh, họ không nắm bắt được ngôn ngữ và phong tục tập quán của các em, chính điều này tạo khoảng cách giữa học sinh và giáo viên Học sinh ở đây gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, trong học tập và sinh hoạt, đặc biệt các em còn thiếu kỹ năng tự vệ, thoát hiểm, vượt qua khó khăn,… Học sinh dân tộc Bru - Vân Kiều vốn chăm ngoan, thật thà nhưng vô cùng nhút nhát, e ngại Đặc biệt kĩ năng giao tiếp của các em rất vụng về, khi đối diện với người lạ các em rất rụt rè, sợ sệt, không thể trả lời một cách đầy đủ và tự nhiên khi được hỏi Hơn nữa, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, nhiều kĩ năng sống cần được trang bị cho các em để các em có thể hoà nhập được với môi trường xung quanh Chính vì vậy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc Bru- Vân Kiều là một việc làm vô cùng cần thiết và có ích đối với các em Giúp các em có được những kỹ năng sống cơ bản, cần thiết, hướng tới hình thành những thói quen tốt giúp các em thành công trong học tập và cuộc sống

Trong thời gian qua các trường phổ thông trên địa bàn đã quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh nói chung và cho học sinh dân tộc nói riêng Tuy nhiên, công tác giáo dục kỹ năng sống vẫn còn mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả thiết thực, việc giáo dục kỹ năng sống vẫn còn nặng về lý thuyết, thiếu các hoạt động thực hành Các tài liệu liên quan đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh vừa thiếu, vừa chung chung cho tất cả các đối tượng học sinh mà chưa có tài liệu dành riêng cho học sinh dân tộc Bru - Vân Kiều Bên cạnh đó các phương pháp giáo dục kỹ năng sống chủ yếu được giáo viên vận dụng nên chưa mang lại lợi ích thiết thực cho các em, chưa đáp ứng được nhu cầu thực sự của các em và của xã hội

Xuất phát từ lí do khách quan và chủ quan trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề

tài: Biên pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân

tộc Bru - Vân Kiều ở các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình để nghiên cứu

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

4 Giả thiết khoa học

Nếu vận dụng đồng bộ các biệp pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru- Vân Kiều được đề xuất trong luận văn thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân kiều trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, đáp ứng mục tiêu đào tạo của các trường phổ thông dân tộc bán trú trong giai đoạn hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa những tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận, từ đó xác lập cơ sở để xây dựng bảng hỏi khảo sát thực trạng, cũng như xây dựng hệ thống các biện pháp quản

lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Trang 13

6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Nhằm khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

6.3 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTTHBT huyện Lệ Thuỷ, Tỉnh Quảng Bình làm cơ sở cho việc phân tích và đánh giá

6.4 Phương pháp chuyên gia

Lấy ý kiến chuyên gia giáo dục trong việc đánh giá, nhận định về các nội dung liên quan đến giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cũng như việc xây dựng hệ thống các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Công cụ sử dụng: Phiếu xin ý kiến chuyên gia

6.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu điều tra, số liệu khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

Công cụ sử dụng: Phần mềm SPSS

7 Phạm vi nghiên cứu

7.1 Phạm vi về đối tượng khách thể nghiên cứu

Để đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân kiều ở Trường PTDTBT TH&THCS Ngân Thủy; Trường PTDTBT TH&THCS Lâm Thủy; Trường PTDTBT TH&THCS số 1 Kim Thủy; Trường TH&THCS số 2 Kim Thủy, Trường TH Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, đề tài tập trung khảo sát các đối tượng khách thể như sau:

- Cán bộ quản lý trường tiểu học

- Giáo viên tiểu học

- Học sinh tiểu học

7.2 Phạm vi về nội dung

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu: (1) Cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều (2) Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều

Trang 14

8 Đóng góp mới của luận văn

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học

sinh tiểu học

Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học

sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thuỷ, Tỉnh Quảng Bình

Chương 3: Các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học

sinh tiểu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thuỷ, Tỉnh Quảng Bình

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG

CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (năng lực thích ứng, năng lực hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội…) để thích ứng với thay đổi nhanh chóng của xã hội Trên thế giới, việc nghiên cứu kỹ năng sống (KNS) đã được nhiều tổ chức con người quan tâm và tìm hiểu, vì đây là một trọng điểm trong việc nghiên cứu và phát triển con người Theo đó, vấn đề giáo dục

kĩ năng sống cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm

Vì vậy, ngay từ những năm 90 của thế kỉ XX, các tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ) như Qũy Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của (UNESCO) và tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chung sức để xây dựng chương trình GDKNS cho thanh thiếu niên Bởi lẽ “Những thử thách mà trẻ em và thanh thiếu niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là kĩ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất” (UNICEF) [1], [24]

Theo WHO (1993) “Năng lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một

cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày [7], [8], [9], [10], [22], [36]

Tại diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegan (2000), Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng

Trang 16

“Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp”, còn trong mục tiêu 6 yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kĩ năng sống của người học” Như vậy, giáo dục KNS cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng với giáo dục các nước

Có thể nói ở các nước phương Tây, kĩ năng sống từ lâu đã được quan tâm Thanh thiếu niên đã được học những kĩ năng sống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu với những khó khăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực Tại

Mỹ, năm 1989, Bộ lao động Mỹ đã thành lập Ủy ban thư ký về rèn luyện các kỹ năng cần thiết (The secretary’s comission on achieving necessary skills - SCANS) Mục đích của ủy ban này nhằm thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao Họ khẳng định rằng chỉ trang bị những kỹ năng cần thiết cho người lao động, đặc biệt là những kỹ năng để họ thích ứng, thì mới cải thiện được hiệu quả lao động Tại Úc (1990 - 2002), Hội đồng kinh doanh Úc (The businet Councli of Australia - BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (The Austalian chambet of comecre an industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục - Đào tạo và Khoa học Úc (The department of edutralian - scien and training - DEST)

và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (The Autralia nationnal training authority - ANTA) đã xuất bản quyển tài liệu “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (2002) Những năm đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), một số nước gần với Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và cả Châu Á nói chung như: Ấn Độ, Lào, Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan, … việc nghiên cứu kỹ năng sống theo hướng áp dụng thử nghiệm rất được quan tâm, và triển khai chương trình dạy kỹ năng sống ở các bậc học phổ thông từ mầm non cho đến Trung học phổ thông Mục tiêu chung của giáo dục kĩ năng sống được xác định là: “Nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng yêu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống” Với mục đích nhắm đến yếu tố cá nhân của người học, các nước cũng đã đưa

ra cách thiết kế chương trình GDKNS với các hình thức, nội dung và các mức độ khác nhau Điển hình như tại Ấn Độ, kỹ năng sống được xem là khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người Kỹ năng sống (life skills) có thể hiểu bao gồm: kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, tư duy sáng

Trang 17

tạo, giao tiếp, quan hệ liên nhân cách, ra quyết định, đàm phán, tự nhận thức, đối phó với stress và cảm xúc, từ chối, kiên định và hài hòa… Tại Nepal, có thể thấy việc nghiên cứu về kỹ năng sống trên bình diện khái niệm rất được quan tâm Kỹ năng sống được xem là một phương thức ứng phó hay là những kỹ năng cần thiết để tồn tại Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu rất quan tâm đến việc phân loại các kỹ năng sống cũng như phân biệt các kỹ năng sống Năm 1998, ở khu vực Đông Nam Á cũng như Đông Dương, việc giáo dục kỹ năng được ưu tiên một cách có trọng điểm Ở Lào (1997 - 2002), giáo dục kỹ năng sống được thực hiện với những nội dung cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả; Kỹ năng tư duy sáng tạo; Kỹ năng giải quyết vấn đề… Tại Campuchia, giáo dục kỹ năng sống với vấn đề nổi bật nhất là việc xác lập các kỹ năng cần huấn luyện cho từng lứa tuổi cũng như phương pháp hiệu quả

Kỹ năng sống được coi là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia Kỹ năng tìm việc và kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình là những kỹ năng sống quan trọng đối với thế hệ trẻ

Nhìn chung các quốc gia cũng mới bước đầu triển khai chương trình và biện pháp giáo dục kỹ năng sống nên chưa thật toàn diện và sâu sắc, vì chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kĩ năng sống ở người học sau khi được trang bị hay huấn luyện KNS

Từ những quan niệm trên cho thấy, KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Hay, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Trang 18

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, trước những năm 1990, việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho thế hệ trẻ luôn là mục tiêu quan tâm của các nhà giáo dục Việt Nam Mặc dù khái niệm kỹ năng sống chưa được nêu ra hay những nghiên cứu về kỹ năng sống chưa có Tuy vậy, có thể dễ dàng nhận thấy vấn đề này được đề cập đến trong chương trình giáo dục của nước ta, như môn học Đạo đức, Giáo khoa thư Bên cạnh

đó có nhiều tác giả, dịch giả, học giả nghiên cứu và biên soạn ra những tài liệu, sách học làm người nhằm cung cấp cho mọi giới có thể học biết về cách làm người, cách đối nhân xử thế, phương pháp học tập, tổ chức đời sống cho khoa học,… Có thể nêu lên một số tác giả nổi danh: Nguyễn Hiến Lê với tác phẩm Đắc nhân tâm, Tổ chức công việc theo khoa học; Hoàng Xuân Việt với tác phẩm “Rèn nhân cách”, “Nghệ thuật giao tiếp”; “Phép lịch sự” của Phạm Công Hoàn,… Những tài liệu này đã góp phần rất lớn trong việc trang bị những kỹ năng nhất định để sống, làm việc cho con người Việt Nam Điều đó cho thấy việc nghiên cứu kỹ năng sống tuy chưa được gọi chính thức như nghiên cứu về kỹ năng sống nhưng đã được quan tâm đề cập đến nhiều Tuy nhiên, thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UINCEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục & Đào tạo cùng hội Chữ Thập đỏ Việt Nam thực hiện Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm kỹ năng sống ngày càng được mở rộng

Cho đến những năm trở lại đây, kỹ năng sống trở thành thuật ngữ được nhắc tới nhiều hơn bao giờ hết trong những câu chuyện về giáo dục khi Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được triển khai và hưởng ứng mạnh

mẽ trong các cấp học, ngoài việc nâng cao chất lượng giáo dục, các đơn vị trường học ngày càng chú trọng tới công tác giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, đặc biệt là học sinh phổ thông Và từ đó, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh nói riêng, thế hệ trẻ nói chung trở thành vấn đề không chỉ được ngành giáo dục mà được

cả xã hội quan tâm Sau đó, khái niệm kỹ năng sống được đề cập với đầy đủ nội hàm sau hội thảo: “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ năm 2003 Thuật ngữ kỹ năng sống trở nên phổ biến và được quan tâm một cách rộng rãi với nhiều nhà khoa học Có thể đề cập đến những nghiên cứu về kỹ năng sống thông qua

Trang 19

một số nghiên cứu sau đây xuất phát từ những dự án tài trợ tại Việt Nam: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua dạy học môn đạo đức ở các trường tiểu học khu vực miền núi phía bắc vào năm 2001 Nghiên cứu mô hình giáo dục kỹ năng sống cho các em học sinh trường nội trú tình thương Khai Trí tỉnh An Giang vào năm 2002 Giáo dục kỹ năng sống cho nữ học sinh, sinh viên thành phố Long Xuyên vào năm 2004 Tiếp đến, có thể đề cập đến quyển “Giáo trình chuyên đề giáo dục kỹ năng sống” của tác giả Nguyễn Thanh Bình, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2008, sau khi tác giả tham gia dự án đào tạo giáo viên trung học

cơ sở Tác giả Nguyễn Thanh Bình một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và GDKNS ở Việt Nam Với một loạt bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo của tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể về việc tạo ra hướng nghiên cứu về KNS

và GDKNS ở Việt Nam Có thể nói, tác giả đã thành công khi triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về kỹ năng sống, đề xuất yêu cầu tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục và GDKNS ở nhà trường phổ thông Trên cơ sở phân tích, so sánh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xây dựng được khung lý luận về giáo dục KNS từ xác định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp giáo dục cho đến đánh giá kết quả và tác động của giáo dục

kĩ năng sống [1], [2], [22]

Theo hướng nghiên cứu này còn có một số công trình nghiên cứu khác như:

Kỹ năng sống cho vị tuổi thành niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh; quan niệm về kỹ năng sống hiện nay, nhập môn kỹ năng sống của tác giả Huỳnh Văn Sơn và mốt số công trình nghiên cứu của các tác giả khác

Với nhiều năm nghiên cứu, nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên đã cho ra đời cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” Cuốn sách được viết lồng ghép giữa giáo dục GTS và KNS, trong đó giáo dục GTS luôn là nền tảng, KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống Đây là những tiền đề đẻ đưa công tác giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông vào các nhà trường [11]

Năm 2012, tác giả Lục Thị Nga và Nguyễn Thanh Bình đã biên soạn cuốn sách “Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống

Trang 20

và giao tiếp, ứng xử trong quản lý” Đây là cuốn sách dùng làm tài liệu tập huấn cho cán bộ cốt cán trường THPT theo kế hoạch số 444/KH-BGDĐT ngày 31 tháng 5 năm 2012 Có thể nói tài liệu này là cẩm nang vô cùng quý giá dành cho các nhà quản lý giáo dục

Ngày 22 tháng 7 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 [34] Kèm với chỉ thị này là một thông báo về hướng dẫn triển khai phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” năm học 2008-2009 và giai đoạn 2008-2013 với mục tiêu liên quan đến kỹ năng sống là: “Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội” Chỉ thị 1537/CT-BGDĐT ngày 05/5/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường và nâng cao hiệu quả một số hoạt động giáo dục cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục, đào tạo; Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28/02/2014 ban hành quy định về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa [13]

Từ năm học 2010-2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa chương trình GDKNS vào chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học hàng năm Tuy nhiên cho đến nay, nghiên cứu kỹ năng sống tại Việt Nam hay triển khai chương trình rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh chỉ mới thể hiện rõ ở chương trình giáo dục ngoài khung chương trình đào tạo hoặc chỉ lồng ghép, tích hợp vào các môn học, các hoạt động giáo dục trong nhà trường cũng chưa có văn bản, tài liệu khoa học hay giáo trình chính thống

về giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong giáo dục kỹ năng sống tại Việt Nam hiện nay

1.2 Lý luận về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

1.2.1 Khái niệm kỹ năng sống

Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) coi

kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày, gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (Learning to

Trang 21

now); Học để tự khẳng định (Learning to be); Học để chung sống với người khác (Learning to live together); Học để làm (Learning to do) [9], [23], [24]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý

xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân cần có để tương tác với những người khác một cách hiệu quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay những thách thức của cuộc sống hàng ngày

Cũng theo WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết

Theo UNICEF, kỹ năng sống là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp

họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả

Giáo dục kĩ năng sống (Tài liệu tham khảo dành cho giáo viên Mầm non và Tiểu học của Tổ chức giáo dục Poki Á Châu, Kỹ năng sống là khả năng và hành vi thích ứng với sự thay đổi để phát triển bản thân và sống tốt hơn [8, tr.10]

Tại Việt Nam, kỹ năng sống đang được quan tâm, tuy nhiên trong nhà trường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kỹ năng học tập và chính trị, còn việc giáo dục kỹ năng sống chưa được quan tâm nhiều Theo chuyên viên tâm lý Huỳnh Văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt: "Hiện nay, thuật ngữ kỹ năng sống được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị "lạm dụng" khi chính những người huấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹ cũng chưa thật hiểu gì về nó"

Theo Tài liệu tập huấn Mã mô đun TH 39 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học qua các môn học của tác giả Lưu Thu Thủy, Kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Trang 22

Giáo dục kỹ năng sống, Tài liệu tham khảo dành cho GV THCS và THPT của tác giả Nguyễn Thanh Bình, Kỹ năng sống là năng lực tâm lý - xã hội của mỗi cá nhân, giúp con người có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác

và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Trong giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, kỹ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn,

vệ sinh, cách diễn đạt, và kỹ năng tổ chức Đôi khi kỹ năng sống, nhưng không phải luôn luôn, khác biệt với các kỹ năng nghiệp vụ (trong nghề nghiệp)

Trong những năm trở lại đây, khi Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được triển khai và hưởng ứng mạnh mẽ trong các cấp học, ngoài việc nâng cao chất lượng giáo dục, các đơn vị trường học ngày càng chú trọng tới công tác giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, đặc biệt là học sinh phổ thông

Mục tiêu giáo dục là nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng

cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN Yêu cầu về nội dung giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho HS có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về nghệ thuật Tuy nhiên, nội dung giáo dục trong các nhà trường tiểu học hiện nay còn xem trọng việc

Trang 23

dạy chữ, chưa chú trọng đúng mức dạy làm người, nhất là việc giáo dục kỹ năng sống (GD kỹ năng sống) cho HS

Trong cuốn Phương pháp giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống (Nguyễn Công Khanh, Nhà xuất bản đại học sư phạm, xuất bản năm 2012, Kĩ năng sống là những cách hành xử giúp mỗi cá nhân hòa nhập vào môi trường xung quanh (gia đình, lớp học…), giúp cá nhân ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, thách thức của cuộc sống thường ngày giúp học hình thành các mối quan hệ, phát triển những nét nhân cách tích cực thuận lợi cho sự thành công trong học đường và thành công trong cuộc sống [5, Tr 96]

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về kỹ năng sống, nhưng theo chúng tôi kỹ năng sống hướng vào việc giúp con người thay đổi nhận thức, thái độ và giá trị trong những hành động theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng

KNS chính là kỹ năng tự quản lí bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói một cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Theo chúng tôi, thì kỹ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người Kỹ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người Kỹ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người

1.2.2 Khái niệm giáo dục kỹ năng sống

Theo như tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) không phải là lĩnh vực hay môn học, nhưng nó được áp dụng lồng vào những kiến thức, giá trị và kỹ năng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời [2], [9], [24]

GDKNS là quá trình hình thành, rèn luyện và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người xung quanh trong cộng đồng xã hội và ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống [1], [2], [3, [24]

GDKNS là trang bị những kiến thức, thái độ, hành động giúp cho người học hình thành được những KNS cần thiết, phù hợp với từng lứa tuổi, điều kiện kinh tế -

xã hội, môi trường sống, GDKNS cho HS nói chung và cho HS TH nói riêng là

Trang 24

việc rất quan trọng, ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho

HS GDKNS cần được tiến hành càng sớm càng tốt và có thể bắt đầu ngay từ bậc tiểu học, thậm chí còn có thể ở tuổi mầm non Bởi vì lứa tuổi này những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách đang dần được hình thành

1.2.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Rèn kĩ năng sống là một mặt giáo dục cần đặc biệt coi trọng và nhất là trong thập kỉ XXI khi sự nghiệp giáo dục đang được đẩy mạnh Việc rèn kĩ năng sống cho học sinh đòi hỏi thường xuyên của công tác giáo dục đồng thời cũng là đòi hỏi cấp thiết của việc hình thành nhân cách trong công tác giáo dục hiện nay Giáo dục trong nhà trường luôn là vấn đề cần được quan tâm, bằng nhiều hình thức, nhiều con đường, trong đó việc rèn kĩ năng sống chiếm một vị trí quan trọng Qua việc rèn kĩ năng sống sẽ trang bị tri thức, hành vi cho học sinh Tiểu học Đồng thời nó định hướng cho học sinh Tiểu học rèn luyện hành vi và thói quen ứng xử tốt Trong sự phát triển nhân cách của học sinh, việc rèn luyện kĩ năng sống là đảm bảo cho học sinh Tiểu học có được bản lĩnh rõ ràng về nhân cách toàn diện Nếu không rèn kĩ năng sống thì không những sự ứng xử trong các tình huống sẽ phức tạp, gặp khó khăn, thậm chí mắc phải sai lầm, mà việc hình thành nhân cách toàn diện của trẻ bị hạn chế, phiến diện, việc xây dựng những thói quen hành vi dễ rơi vào chủ nghĩa hình thức máy móc, lí trí và tình cảm không thống nhất với nhau đó là lời nói không

đi đôi với việc làm thì dẫn đến hiện tượng lệch lạc về nhân cách

Do vậy, việc trang bị kỹ năng sống cho học sinh tiểu học sẽ giúp các em có những hiểu biết và cung cấp thêm thông tin về mối quan hệ giữa con người và cách sống; Đề cao những giá trị và thái độ tích cực đối với các chuẩn mực về văn hóa, xã hội, đạo đức và sự công bằng, chính trực; Nâng cao lòng tự tin; Lý giải được cảm xúc của bản thân để phát triển kỹ năng tự điều chỉnh; Phát triển lòng tự trọng và tôn trọng đối với người khác, chấp nhận đặc tính riêng của mỗi cá thể; Dạy cách ứng xử phù hợp; Phân tích được những ảnh hưởng của gia đình, xã hội, kinh tế và chính trị lên cách cư xử của con người với con người; Phát triển lòng thông cảm, nhân ái giữa con người với con người; Rèn luyện cách tự kiềm chế bản thân và năng lực ứng phó đối với trạng thái căng thẳng (Stress)

Đối với HS tiểu học việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này

Trang 25

1.2.4 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Mục tiêu GD của Việt Nam đã chuyển từ cung cấp kiến thức là chủ yếu sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, hình thành và phát triển những năng lực cần thiết (Nghị quyết 29-NQ/TW), giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học nhằm:

Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ và hoạt động hằng ngày;

Nâng cao khả năng tự đánh giá bản thân và tính tự trọng, tự tin cho các em trong quan hệ bạn bè cùng trang lứa và người lớn;

Giúp các em hiểu và tự giải quyết những vấn đề về sức khỏe bản thân, phát triển ở họ những giá trị và những kỹ năng sống có khả năng đưa đến một phong cách sống lành mạnh, tích cực và có trách nhiệm;

Nâng cao kiến thức và hiểu biết về giới tính, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục;

Tạo điều kiện cho các em nhận biết được sự lạm dụng về tình cảm, tình dục

Nâng cao sự hiểu biết cho các em về những tác động xấu của tệ nạn xã hội với

sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của đất nước cũng như sự phát triển giống nòi của mỗi dân tộc

Tóm lại, giáo dục kỹ năng sống dành cho học sinh tiểu học nhằm hướng tới mục tiêu tạo ra môi trường trải nghiệm và rèn luyện kỹ năng sống giúp các em hoàn thiện kỹ năng của bản thân, luôn tự chủ thích ứng cuộc sống, tự tin và thể hiện bản thân

1.2.5 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Nội dung GDKNS cho HSTH căn cứ vào đặc điểm của HSTH; căn cứ vào các KNS cần GD cho HS của UNESCO, căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng HSTH, căn cứ

Trang 26

vào những KN được phân loại theo nhóm trong GD chính quy ở nước ta, căn cứ về nội dung GDKNS đưa vào nhà trường phổ thông hiện nay cho thấy: Theo nhiệm vụ do Bộ Giáo dục và Đào tạo phân công, Viện KHGDVN đã và đang triển khai hướng dẫn, thử nghiệm GDKNS trong các nhà trường Việt Nam Trong tài liệu bồi dưỡng GV, cán bộ quản lý về GDKNS thì phần những vấn đề chung đã đề cập tới 5 nhóm KNS cần GD cho học sinh phổ thông nói chung và học sinh TH nói riêng, đó là: [12], [13], [14]

- Nhóm kĩ năng tự nhận thức: Kĩ năng xác định giá trị bản thân, kĩ năng tự tin,

- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm

- Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác

- Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội

Để giáo dục kĩ năng sống thực sự có hiệu quả, phù hợp đặc điểm mỗi cấp học, với thực tế mỗi địa phương, thậm chí đối với từng trường thì mỗi trường nên tập trung vào một số kĩ năng cốt lõi

1.2.6 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

1.2.6.1 Phương pháp động não

Là phương pháp giúp cho người học trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó

Trang 27

Ưu điểm: Với phương pháp này người dạy có thể thu thập được nhiều ý kiến, nhiều thông tin từ người học trong một thời gian ngắn

Hạn chế: Bầu không khí ít sôi nổi, trầm nếu giáo viên đưa ra câu hỏi chưa phù hợp hoặc HS thiếu tự tin

1.2.6.2 Phương pháp thảo luận nhóm

Là phương pháp tổ chức cho học sinh bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ về một chủ đề xác định

Ưu điểm: phương pháp này giúp cho mọi HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho HS có thể chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, cách giải quyết một vấn đề có liên quan đến cuộc sống Mặt khác, phương pháp này còn rèn cho HS kỹ năng giao tiếp trong học tập, tự tin, biết cách trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe, nhận xét ý kiến của các bạn

Hạn chế: rất dễ xảy ra tình trạng ồn ào, ỷ lại, hoạt động không đều tay nếu giáo viên thiếu kiểm soát

độ, hành vi của người học theo hướng tích cực; có thể thấy ngay hiệu quả của việc lời nói hoặc việc làm của các vai diễn giúp HS rất dễ hiểu

Hạn chế: Đòi hỏi người học phải tham gia tích cực, sáng tạo và tự tin

1.2.6.4 Phương pháp trò chơi

Là cách thức tổ chức cho người học tiến hành một trò chơi nào đó để tìm hiểu một vấn đề hoặc được bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làm phù hợp trong một tình huống cụ thể

Ưu điểm:

Thông qua trò chơi HS có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi của mình hình thành ở các em niềm tin vào thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong ở người học

Trang 28

Người học còn được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp, rèn luyện được kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi

Đặc biệt, gây hứng thú cho người học, tạo không khí sôi nổi giúp người học tiếp cận những nội dung giáo dục một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả

Hạn chế: Dễ mất thời gian, nhàm chán nếu kéo dài quá lâu

1.2.6.5 Phương pháp nghiên cứu tình huống

Là tổ chức cho người học nghiên cứu một câu chuyện, mô tả một tình huống

có thật trong thực tiễn cuộc sống

Ưu điểm: Tác động một cách mạnh mẽ tới nhận thức, thái độ, hành vi của người học qua những tình huống thực tế hấp dẫn và sinh động

Tạo cơ hội cho gười học thể hiện quan điểm, thái độ sống và đưa ra cách giải quyết vấn đề phù hợp

Hạn chế: Đôi khi khó để kết hợp kết quả của phương pháp này với những thực tiễn hoạt động cụ thể

1.2.7 Hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Tìm hiểu về phương thức tổ chức GDKNS trong trường phổ thông hiện nay cho thấy: GDKNS không thể bố trí thành một môn học riêng trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông Việt Nam, bởi vậy KNS phải được GD ở mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện, cơ hội phù hợp như GDKNS phải thực hiện thông qua từng môn học và trong các hoạt động giáo dục Tuy vậy, cơ hội thực hiện GDKNS rất nhiều và rất đa dạng, có thể đề cập tới một số phương thức tổ chức chủ yếu sau đây:

1.2.7.1 Thông qua dạy học lồng ghép, tích hợp vào các môn học

Thông qua các tiết học, giáo viên có thể lồng ghép, tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Đây là hình thức phổ biến, dễ thực hiện và có hiệu quả nhất hiện nay ở các trường tiểu học Tùy vào nội dung của các môn học, bài học mà giáo viên linh động lồng ghép, tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho HS, hình thức này giúp HS kết nối được giữa kiến thức và thực tiễn cuộc sống

Ví dụ, trong các tiết học đạo đức, tuỳ vào nội dung các bài học mà giáo viên lồng ghép giáo dục kĩ năng tự bảo vệ bản thân, kĩ năng giải quyết các vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng kiên định và từ chối

Trong tiết Kể chuyện, giáo viên yêu cầu học sinh kể lại câu chuyện cho cả lớp nghe, giúp học sinh rèn kĩ năng giao tiếp trước đám đông, mạnh dạn và tự tin, nói

Trang 29

năng ngày càng lưu loát hơn Khi kể xong, giáo viên mời các bạn nhận xét, trao đổi

về nội dung ý nghĩa câu chuyện, nhận xét về tính cách của các nhân vật trong truyện, giúp các em tạo cảm giác tự tin khi trao đổi một vấn đề, cách giải quyết một vấn đề

có hiệu quả nhất

Trong tiết Khoa học, qua việc tổ chức học nhóm rèn cho học sinh kĩ năng hợp tác cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc

Tuy nhiên, hình thức này có thể bỏ ngõ nếu GV không thực hiện, nó đòi hỏi

sự linh hoạt, sáng tạo và ý thức trách nhiệm cao ở người giáo viên đứng lớp cũng như sự kiểm tra, thúc đẩy của cán bộ quản lý

1.2.7.2 Thông qua hoạt động Đội - Sao

Tổ chức Đội - Sao là những tổ chức gắn bó, theo sát với HS trong suốt thời gian HS học tại trường Tổ chức Đội - Sao hướng dẫn tổ chức cho HS tham gia các hoạt động phong trào, hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt Đội - Sao,… nhằm giúp HS phát huy những kỹ năng đã có của bản thân, điều chỉnh những hành vi tiêu cực và hình thành những hành vi tích cực

Để rèn được kĩ năng sống có hiệu quả, đòi hỏi TPT Đội luôn tâm huyết, tìm tòi, sáng tạo để đổi mới hình thức, nội dung sinh hoạt Đội - Sao để thu hút được HS

và các nội dung GD phải gần gũi, thiết thực và thực sự là HS đang cần, đang thiếu như kĩ năng vệ sinh cá nhân, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng vượt khó vươn lên hoàn cảnh,…

TPT Đội cần tuyển chọn, thành lập các Liên Đội, Chi Đội, đào tạo, bồi dưỡng lực lượng này thay mình đôn đốc, kiểm tra, nhắc nhở thường xuyên, khi đó các kĩ năng mới hình thành được

1.2.7.3 Thông qua công tác chủ nhiệm

Ở trường TH, giáo viên chủ nhiệm (GVCN) giống như là người cha, người

mẹ thứ hai của HS bởi lẽ GVCN luôn cận kề, theo sát HS của lớp mình chủ nhiệm GVCN là người nắm bắt mọi thông tin về HS của mình từ hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm sinh lí, sở thích, năng lực,… của HS HSTH cũng xem GVCN như là cha

mẹ của các em, các em mặc định đó là cô, là thầy của mình, các em luôn có sự thần tượng hóa thầy cô chủ nhiệm, trong lòng các em thầy cô chủ nhiệm có một chỗ đứng rất đặc biệt

Trang 30

Chính vì vậy, GDKNS ở TH thông qua công tác chủ nhiệm thực sự rất hiệu quả Ở trường TH, ngoài công tác dạy học, GVCN làm công tác chủ nhiệm được hưởng 3 tiết/tuần và GVCN dạy luôn tiết học giáo dục tập thể (GDTT) 1 tiết/ tuần

Từ những quan sát thường ngày GVCN biết được HS thiếu và yếu kĩ năng nào từ đó giáo dục cho các em từ những kĩ năng nhỏ nhặt nhất như kĩ năng vệ sinh cá nhân, vệ sinh phong quang trường lớp, kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp,…

Thông qua tiết GDTT vào cuối mỗi tuần, GVCN sẽ hướng dẫn HS đánh giá hoạt động của lớp, của tổ, nhóm và đề ra kế hoạch tuần tới, thông qua đó GVCN lồng ghép GDKNS cho HS, giáo viên phải lắng nghe đồng thời hướng học sinh giao tiếp một cách lịch sự, không chỉ trích nhau trong các tiết sinh hoạt mà chỉ khuyên các bạn cố gắng khắc phục những khuyết điểm, phát huy những ưu điểm để thực hiện một cách tốt hơn trong tuần tiếp theo…

Vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho HS còn cần đến vốn sống, tình thương và nhân cách của người thầy Học kiến thức ở thầy trước hết là ở tấm gương sống của

thầy Vì vậy để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh HS trước hết “Mỗi thầy cô giáo

là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” mà ngành Giáo dục đã phát động 1.2.7.4 Thông qua hoạt động GD ngoài giờ lên lớp

Tại Quyết định 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/5/2006 Ban hành chương trình giáo dục phổ thông, [15] quy định Chương trình các hoạt động gồm:

- Hoạt động tập thể

- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: Bình quân 4 tiết/ tháng

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối và thống nhất hữu

cơ với hoạt động dạy học, tạo điều kiện gắn lí thuyết với thực hành, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của học sinh

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong toàn bộ quá trình giáo dục của các trường phổ thông nói chung, của trường tiểu học nói riêng

Thông qua các tiết HĐNGLL, các trường lên chương trình đưa giáo dục kĩ năng sống vào một số tiết riêng biệt hoặc lồng ghép vào một phần thời lượng trong các tiết này như kĩ năng bơi an toàn, kĩ năng an toàn giao thông (ATGT), kĩ năng ứng phó với thiên tai

Trang 31

Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường Tiểu học là điều kiện tốt nhất giúp HS tích luỹ và rèn kĩ năng sống có hiệu quả Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp các em được hợp tác, trải nghiệm các kĩ năng sống Vậy giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp sao cho HS có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác

Tuy nhiên quy trình tổ chức các hoạt động GDNGLL hiện nay ở các trường đa

số chưa đầy đủ

1.2.7.5 Thông qua hoạt động vui chơi, lao động, văn hóa, văn nghệ, TDTT,…

Hoạt động vui chơi, lao động, văn hóa, văn nghệ, TDTT,… là nơi HS thể hiện cái tôi, cá tính, bản ngã của mình một cách thoải mái nhất, hoạt động này góp phầ giáo dục học sinh kĩ năng giao tiếp với nhau và tạo ra tinh thần đồng đội Vì thế, giáo viên cần theo dõi, quán xuyến đến mọi học sinh trong trường, trong lớp, chú ý xem các em chơi trò chơi gì, môn thể thao nào, nói năng với nhau ra sao, nhắc nhở những học sinh còn có cách hành xử chưa phù hợp Giáo viên cũng cần hướng học sinh tham gia các trò chơi, các loại hình TDTT lành mạnh, có ý nghĩa, có tinh thần tập thể như: chơi chuyền, nhảy dây, đá cầu, kéo co, đá bong, hát hò khoan,

1.2.7.6 Thông qua các câu lạc bộ

CLB trong Nhà trường là nơi tập hợp các học sinh có cùng sở thích, năng khiếu ở một lĩnh vực nào đó tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập, vui chơi giải trí phù hợp với bản thân

Cho đến nay, các câu lạc bộ trong các trường tiểu học đã không còn là điều mới mẻ với nhiều người CLB học tập (CLB Tiếng Anh, Toán học), CLB thể thao, CLB nghệ thuật (CLB hò khoan),… nhiều CLB đã là nơi chắp cánh cho những tài năng trong tương lai

Lợi ích của các CLB này nhiều vô cùng, vừa cho học sinh có thể vui vẻ học tập, vui chơi trong môi trường mà chúng yêu thích, vừa giúp chúng tự tin vào bản thân, hòa đồng với bạn bè

Không chỉ thế, những hoạt động ngoại khóa như thế này chắc chắn tốt hơn rất nhiều so với việc học sinh lãng phí thời gian của mình ở những nơi khác như tiệm internet, rong chơi…

Thông qua các CLB các trường lồng ghép GDKNS như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng hợp tác,…

Trang 32

1.2.8 Nguyên tắc giáo dục KNS cho HSTH

Theo các nhà giáo dục học, có 5 nguyên tắc giáo dục KNS cho học sinh, đó là:

- Nguyên tắc trải nghiệm:

Học sinh chỉ hình thành kỹ năng khi chính các em làm việc đó chứ không chỉ nói về việc đó Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với điều kiện thực tế Giáo viên cần phải có thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS được hoạt động thực, có cơ hội thể hiện ý tưởng, có cơ hội xử lí các tình huống cũng như phản biện…

- Nguyên tắc tiến trình:

Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học không thể hình thành trong

“ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức- hình thành thái độ - thay đổi hành vi Do vậy giáo dục kỹ năng sống phải là một quá trình và cần duy trì

nó không thể là nửa vời được

- Nguyên tắc thay đổi hành vi:

Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực Giáo dục KNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ, hành động của mình Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, nhất là đối với HSTH Giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tự tóm tắt những ghi nhận cho bản thân sau mỗi nội dung được học

- Nguyên tắc thời gian - môi trường giáo dục:

Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh

Trang 33

áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống Giáo dục KNS được thực hiện đồng bộ từ trong gia đình, trong nhà trường và trong xã hội Trong nhà trường phổ thông, giáo dục KNS được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể-xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động khác

1.3 Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

1.3.1 Khái niệm quản lý

Theo Bách khoa toàn thư Quản lý (thuật ngữ tiếng Anh là Management [ˈmænɪdʒmənt], đặc trương cho quá trình điều khiển và hướng dẫn tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thực và giá trị vô hình)

Theo từ điển Giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà nội, 2001, tr.326

“Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.

Tóm lại, quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định

Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý [9]

1.3.2 Khái niệm quản lý giáo dục

Hiện nay các quan niệm về quản lý giáo dục tiếp cận theo 2 cấp độ: quản lý giáo dục cấp vĩ mô và quản lý giáo dục cấp vi mô Quản lý giáo dục cấp vĩ mô tương ứng với việc quản lý một hoặc một loạt đối tượng có quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệ thống Trong hệ thống này có nhiều hệ thống con và tương ứng với hệ thống con này có hoạt động quản lý, đó là quản lý vi mô Việc phân chia cấp vĩ mô

và vi mô có ý nghĩa tương đối Ví dụ, quản lý ở cấp Phòng GD-ĐT nếu đặt trong phạm vi một tỉnh hay thành phố thì nó chỉ là cấp vi mô so với Sở GD-ĐT nhưng nếu đặt ở phạm vi một quận, huyện thì nó là cấp vĩ mô so với các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở

Trang 34

Trần Kiểm (2008) viết: “Quản lý giáo dục cấp vĩ mô là sự tác động liên tục, có

tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động” [21; tr.10] Trần Ngọc Giao định nghĩa: “Quản lý giáo dục ở cấp độ quản lý hệ thống giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục được vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng” [16; tr.46] Quản lý giáo dục cấp vi mô là quản lý hệ thống con của hệ thống ở cấp vĩ mô

Hiện nay, có rất nhiều ý kiến thường xem quản lý giáo dục ở cấp vi mô là quản lý trường học Chính vì vậy, có thể nói: quản lý giáo dục là quản lý một hoạt động cụ thể của đời sống xã hội, đó là hoạt động giáo dục Quản lý giáo dục có nhiều cấp khác nhau, từ vĩ mô đến vi mô Chủ thể quản lý giáo dục bao gồm nhiều cấp khác nhau trong một hệ thống giáo dục Mặc dù các chủ thể quản lý giáo dục có đối tượng và phạm vi quản lý khác nhau, nhưng tất cả đều cùng nhằm thực hiện mục đích chung của hệ thống giáo dục Từ đó, có thể định nghĩa: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý giáo dục đến các đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục nhằm thực hiện mục đích chung của hệ thống giáo dục

1.3.3 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống

* Quản lí hoạt động GDKNS: Quản lí GDKNS cho HS chính là quản lí kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức, sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu các nhiệm vụ GD rèn luyện KNS ở HS

Quản lý GDKNS là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối

đa các nguồn lực xã hội để nâng cao GDKNS trong nhà trường

Quản lý GDKNS chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác GDKNS Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GDKNS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho học sinh

Trang 35

Từ đó có thể nói: “Quản lý GDKNS trong nhà trường được hiểu như là một

hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động GDKNS của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện KNS cho học sinh đã đề ra”

1.3.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

1.3.4.1 Quản lý về mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Để quản lý GDKNS cho học sinh đạt hiệu quả thì nhà quản lý trước hết cần phải quản lý về mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học Bởi đây chính

là cái đích để cho nhà quản lý hướng tới, đó là: “Chuyển dịch kiến thức, thái độ và

giá trị thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các thao tác, hành động đó như khả năng thực tế theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng” theo các nguyên tắc cơ bản sau:

- Giáo dục học sinh qua thực tiễn sinh động của xã hội: Nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường phải nhạy bén với tình hình thay đổi của địa phương, của đất nước, phải gắn với đời sống thực tiễn của xã hội, đưa những thực tiễn đó vào những giờ học, vào những hoạt động của nhà trường để giáo dục học sinh;

- Giáo dục KNS phải phối hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh và đặc điểm hoàn cảnh cá nhân học sinh, đồng thời chú ý đến cá tính, giới tính của các em để tổ chức các hoạt động giáo dục đa dạng, sinh động cũng như có phương pháp giáo dục phù hợp, thu hút và mang lại hiệu quả thiết thực

- Giáo dục theo nguyên tắc tập thể: Giáo dục học sinh tinh thần tập thể: tập thể có vai trò làm hình thành, phát triển những phẩm chất tốt đẹp như tinh thần đoàn kết, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, tính tổ chức kỹ luật, tính khiêm tốn học hỏi mọi người, tình bạn và sự cảm thông lẫn nhau, nó khuyến khích và có tác dụng điều chỉnh những động cơ bên trong, góp phần rất lớn vào việc giáo dục KNS cũng như việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh

1.3.4.2 Quản lý xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Việc xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học là rất cần thiết và không thể thiếu được trong quản lý bất kỳ một

Trang 36

công tác nào của người lãnh đạo Có xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình nhà lãnh đạo mới xác định được mục tiêu sẽ đạt đến, các biện pháp thực hiện, thời gian tiến hành và hoàn thành, chỉ tiêu cần đạt và tổ chức hoạt động quản lý một cách khoa học và có hiệu quả

Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục KNS là xác định mục tiêu, nội dung, chương trình, hình thức tổ chức và các biện pháp để đạt các mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh

Nhà lãnh đạo quản lý, chỉ đạo công tác giáo dục KNS thông qua công tác xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình Căn cứ tình hình thực tế của học sinh, giáo viên trường mình trong năm học, của địa phương mà nhà trường định ra nội dung, chương trình cho thích hợp Kế hoạch phải cụ thể, rõ ràng theo từng mốc thời gian (tuần, tháng, học kỳ, năm học), nội dung chương trình (theo chủ đề, chủ điểm), dự kiến kết quả đạt được

Như vậy, kế hoạch, nội dung, chương trình phải đảm bảo tính khái quát, đồng

Cần làm tốt công tác tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức cho tập thể sư phạm của nhà trường hiểu được rằng: giáo dục KNS cho học sinh là hoạt động cấp thiết, cần thực hiện thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi, trong tất cả các hoạt động đều có thể và phải thực hiện yêu cầu này

Các tiết học trên lớp không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức khoa học cho học sinh mà thông qua đó rèn cho học sinh các thao tác, kỹ năng học tập, ứng

xử, giáo dục cho các em những hành vi, cử chỉ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan đúng đắn

Ở nhà trường TH thì GVCN là đội ngũ chủ chốt, đóng vai trò quan trọng

trong công tác giáo dục học sinh, là cầu nối giữa lớp và nhà trường, giữa nhà trường

và gia đình và địa phương để cùng giáo dục học sinh Gắn hoạt động giáo dục KNS

Trang 37

thông qua hoạt động của GVCN sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách học sinh, giúp các

em tự tin, vững bước vào cuộc sống

Bên cạnh GVCN thì GVBM cũng có tác động không nhỏ trong hoạt đôngk giáo dục KNS cho HS thông qua việc tích hợp các nội dung giáo dục KNS vào bài giảng GVBM phải thật linh hoạt, khéo léo để có thể vừa chuyển tải đầy đủ nội dung, kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, vừa kết hợp giáo dục những kĩ năng cần thiết, gần gũi với cuộc sống Từ đó, học sinh sẽ định hướng và thay đổi hành vi của mình, dần hình thành các KNS cho bản thân

Như vậy, GV có vai trò rất quan trọng trong công tác GDKNS cho học sinh, chính vì vậy nhà quản lý phải lập kế hoạch chi tiết, cụ thể cho hoạt động Bên cạnh

đó, thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ giáo viên, đồng thời phân cấp quản lý cho đội ngũ tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng chuyên môn để thống nhất việc tích hợp giáo dục KNS vào từng chương, bài cụ thể, kết hợp đánh giá giờ dạy của giáo viên và kết quả học tập, rèn luyện của học sinh sau đó rút kinh nghiệm cụ thể

1.3.4.4 Quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Lực lượng GD trong nhà trường gồm: Ban giám hiệu, các lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội trong nhà trường, giáo viên chủ nhiệm và GV bộ môn; lực lượng GD ngoài nhà trường bao gồm: Cơ quan QLGD các cấp, Ban phụ trách thiếu nhi thôn/ phường, các đoàn thể Đảng, đoàn, ban chăm sóc GD trẻ em phường, Đoàn thanh niên… CMHS Việc kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng đoàn thể trong và ngoài nhà trường có ý nghĩa hết sức quan trọng trong GD nhân cách, đạo đức, KNS cho HS bởi lẽ giáo dục kỹ năng sống không phải là một hoạt động đơn lẻ, mỗi phẩm chất đạo đức của học sinh là kết quả tác động của rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan Mặt khác, con người chịu sự chi phối bởi môi trường tự nhiên và môi trường

xã hội mà họ đang sống Trong đó, gia đình, nhà trường, xã hội là 3 môi trường liên kết, gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Để phát huy tối đa tiềm năng của các lực lượng giáo dục, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công tác GDKNS cho học sinh đạt hiệu quả, nhà quản lý cần xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và quản lý chặt chẽ sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức hoạt động GDKNS về cả nội dung, hình thức tổ chức và cách phối hợp

Trang 38

1.3.4.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục KNS

Kiểm tra, đánh giá là công việc quan trọng, cần thiết trong quản lý, giúp nhà quản lý biết được tiến độ thực hiện kế hoạch Kiểm tra thường đi đôi với công tác đánh giá - đó là những phán đoán, nhận định về kết quả của công việc dựa trên mục tiêu đề ra

Qua hoạt động kiểm tra, đánh giá, nhà quản lý sẽ kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai lệch trong công tác giáo dục KNS trong nhà trường; đánh giá được mức độ thực hiện của đội ngũ giáo viên; mức độ hưởng ứng tham gia của học sinh; quá trình thực hiện kế hoạch,… Từ đó, nhà quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục KNS

về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động cho phù hợp và

có các biện pháp điều chỉnh kịp thời và có biện pháp bồi dưỡng cán bộ phù hợp hơn, cải thiện kết quả hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục

Việc kiểm tra, đánh giá đòi hỏi phải khách quan, toàn diện, hệ thống, công khai, cần phải bám sát vào những nội dung đánh giá, các mức đánh giá, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học

Sau công tác kiểm tra, phải có nhận xét, kết luận Nhà quản lý, cần phải động viên, khen thưởng, nhắc nhở kịp thời những thiếu sót, có như vậy mới thúc đẩy được hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường ngày một hoàn thiện hơn

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

1.4.1 Yếu tố chủ quan

- Nhận thức của CB-GV, CMHS, các LLXH về việc GDKNS cho HS

Nhận thức của CB-GV, CMHS, các LLXH đóng vai trò quan trọng, quyết định tới sự thành công hay thất bại của công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Nhận thức ảnh hưởng mạnh đến hoạt động giáo dục KNS, nhận thức đúng

sẽ dẫn đến hành động đúng Do đó, chỉ khi cán bộ quản lý, GV, CMHS, các LLXH nhận thức đúng đắn, đầy đủ về sự cần thiết phải GDKNS cho HS tiểu học, xác định được vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ,… của hoạt động GDKNS đối với việc phát triển nhân cách HS, thì kế hoạch giáo dục kĩ năng sống của ban giám hiệu mới có tính khả thi cao và công tác tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch này mới đem lại hiệu quả như mong muốn

- Năng lực của cán bộ, giáo viên và các LLGD

Trang 39

GDKNS là một hoạt động GD đặc biệt, nó giúp cho người học có khả năng về mặt tâm lí xã hội để phán đoán và ra quyết định tích cực, chính vì vậy các lực lượng cần có năng lực, sự hiểu biết về KNS

Năng lực của CB, GV và các LLGD là nhân tố quyết định sự thành công của hoạt động GDKNS Vì vậy, BGH nhà trường cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về KNS cho cán bộ, GV, các LLGD trong nhà trường, để từ đó CB,

GV nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, tự rèn luyện KNS cần thiết cho chính bản thân, vận dụng những hiểu biết về KNS để xác định những nội dung và biện pháp GDKNS phù hợp với từng đối tượng HS của mình

- Hiệu quả của công tác kiểm tra đánh giá các HĐGDKNS

Làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động phối hợp sẽ có tác dụng: + Đôn đốc các khách thể chịu sự quản lí, thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ đã được chủ thể quản lí phân công

+ Đánh giá chính xác mức độ hoàn thành công việc của từng cá nhân, đơn vị, các tổ chức xã hội tham gia vào quá trình GDKNS cho HS

+ Giúp nhà quản lí nắm bắt chính xác diễn biến các hoạt động giáo dục kĩ năng sống và kết quả của hoạt động này Từ đó nhà quản lí có thể điều chỉnh các hoạt động cho hợp lý nhằm góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ, chức trách quản lí của mình

1.4.2 Yếu tố khách quan

- Các yếu tố khách quan bên ngoài

Các yếu tố khách quan bên ngoài có thể nêu ra ở đây là: Ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đến HĐGDKNS và công tác QLHĐGDKNS

+ Điều kiện kinh tế của gia đình và địa phương có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến công tác QLHĐGD KNS Kinh tế của các gia đình, địa phương phát triển sẽ tạo điều kiện cho nhà trường trong công tác xã hội hóa, tăng trưởng cơ sở vật chất;

có chế độ hỗ trợ và khen thưởng hợp lý cho cá nhân, tập thể thực hiện tốt trong các lĩnh vực dạy học và giáo dục, trong đó có KNS Ngược lại khi điều kiện kinh tế của các gia đình và địa phương chậm phát triển, nghèo sẽ xảy ra tình trạng thờ ơ, xem nhẹ GDKNS và giao phó hoàn toàn cho nhà trường

+ Điều kiện văn hóa, xã hội của địa phương cũng đóng vai trò khá quan trọng trong công tác QLHĐGDKNS Một địa phương có bề dày về văn hóa như các lễ hội, các nghành nghề truyền thống, các gia tộc có truyền thống hiếu học,… sẽ có tác động

Trang 40

thúc đẩy hoạt động GDKNS ở nhà trường phát triển theo chiều hướng tích cực Còn nếu như địa phương có nét văn hóa mờ nhạt, an ninh trật tự không đảm bảo, các tệ nạn xã hội gia tăng hoành hành sẽ gây khó khăn không nhỏ cho nhà trường trong công tác quản lí HĐGDKNS

- Các yếu tố khách quan bên trong: Việc ban hành các văn bản của Bộ, Sở GD&ĐT và sự chỉ đạo của sở, phòng GD&ĐT đối với hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học Các yếu tố khách quan bên trong đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng nhiều đến hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học Hiện nay, việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục kĩ năng sống của các nhà trường vẫn hoàn toàn dựa vào các văn bản chỉ đạo của phòng giáo dục, sở giáo dục và bộ giáo dục đào tạo Do đó rất cần có các chủ trương, chính sách, văn bản ban hành đầy đủ, thường xuyên cập nhật tính thời sự, sát với thực tiễn của địa phương và nhà trường để giúp cho các nhà trường xây dựng được kế hoạch QLHĐGDKNS cụ thể, đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, hiện nay mặc dù đã quan tâm hơn đến HĐGDKNS trong nhà trường nhưng vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể

về chế độ, chính sách cho lực lượng tham gia hoạt động GDKNNS, cũng như chưa

có bất kỳ chế độ đãi ngộ nào cho lực lượng làm công tác GDKNS; các lực lượng tham gia HĐGDKNS và công tác QLHĐGDKNS chỉ kiêm nhiệm chứ không được đào tạo để làm công tác này

Tiểu kết chương 1

Trong nội dung của chương 1, chúng tôi đã đi sâu phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về KNS, GDKNS, tầm quan trọng của việc GDKNS, mục tiêu và nội dung GDKNS cũng như công tác quản lý HĐGDKNS cho học sinh Tiểu học ở các nhà trường TH hiện nay Đó là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi có cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDKNS cho HSTH dân tộc dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thuỷ, Tỉnh Quảng Bình Tuy nhiên muốn đề

ra được các giải pháp mang tính khả thi và có hiệu quả cao thì đòi hỏi người cán bộ quản lý ngoài việc nắm vững những vấn đề về mặt lý luận như đã trình bày ở trên thì phải có sự đánh giá một cách khách quan, khoa học về thực trạng hoạt động giáo dục

kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong giai đoạn hiện nay của các nhà trường

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w