Trong đó, ở nước ta, các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này như: Thái Duy Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc… Có thể kể ra một số đề tài, công trìn
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ HOÀI NAM
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 2 BUỔI/NGÀY
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHÙNG ĐÌNH MẪN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
TRẦN THỊ HOÀI NAM
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9
4 Giả thuyết khoa học 9
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu: 9
7 Phạm vi nghiên cứu 10
8 Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 2BUỔI/NGÀY CỦA HIỆU TRƯỞNG Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 11
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
1.2 Các khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Quản lý 12
1.2.2 Quản lý giáo dục 13
1.2.3 Quản lý trường học (quản lý nhà trường) 14
1.2.4 Hoạt động dạy học 15
1.2.5 Dạy học 2 buổi/ngày 17
1.2.6 Quản lý hoạt động dạy học 2 buổi/ngày 17
1.3 Cơ sở lý luận về HĐ DH 2 buổi/ngày ở trường Tiểu học 18
1.3.1 Trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân 18
1.3.2 HĐDH 2 buổi/ngày ở trường TH 19
Trang 51.3.3 Vai trò của dạy học 2 buổi/ngày ở trường TH 20
1.4 HT trường TH với việc QL HĐDH 2 buổi/ngày 21
1.4.1 Vai trò, nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn của HT trường TH 21
1.4.2 Những căn cứ QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT trường TH 23
1.4.3 Nội dung QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT trường TH 24
1.5 Các yếu tố ảnh hướng đến HĐ DH 2 buổi/ngày 33
1.5.1 Yếu tố chủ quan 33
1.5.2 Yếu tố khách quan 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 2 BUỔI/NGÀY Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ 35
2.1 Vài nét về tình hình KT - XH, GD&ĐT TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 35
2.1.1 Tình hình KT-XH thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 35
2.1.2 Khái quát chung về GD&ĐT TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 36
2.1.3 Khái quát về giáo dục tiểu học TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 39
2.2 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 42
2.2.1 Mục đích khảo sát 42
2.2.2 Nội dung khảo sát 42
2.2.3 Phương pháp khảo sát 42
2.2.4 Đối tượng khảo sát 42
2.3 Thực trạng HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 42
2.3.1 Quy mô trường, lớp, HS học 2 buổi/ngày các trường TH thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 42
2.3.2 Thực trạng đội ngũ GV DH 2 buổi/ngày ở các trường TH thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 44
2.3.3 Thực trạng tổ chức HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 47
2.3.4 Chất lượng GD toàn diện của các trường TH DH 2 buổi/ngày ở TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 47
Trang 62.3.5 Đánh giá thực trạng HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH thành phố Đông
Hà, tỉnh Quảng Trị 49
2.4 Thực trạng công tác QL HĐDH 2 buổi/ ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 49
2.4.1 Thực trạng QL công tác bồi dưỡng đội ngũ GV 49
2.4.2 Thực trạng QL nội dung, chương trình, kế hoạch DH 2 buổi/ngày 50
2.4.3 Thực trạng QL HĐDH của GV và hoạt động học tập của HS 51
2.4.4 Thực trạng QL công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS 56
2.4.5 Thực trạng QL CSVC&TBDH, các điều kiện phục vụ DH 2buổi/ngày 57
2.4.6 Thực trạng QL các công tác bán trú trong trường TH 58
2.5 Đánh giá chung về thực trạng QL HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 59
2.5.1 Ưu điểm 59
2.5.2 Hạn chế 60
2.5.3 Nguyên nhân hạn chế 60
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 2 BUỔI/NGÀY Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ 63
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 63
3.1.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước và của ngành đối với DH 2 buổi/ngày ở TH 63
3.1.2 Định hướng HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 64
3.2 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 64
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 64
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 64
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 65
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 65
3.3 Các biện pháp QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 65
3.3.1 Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, bồi dưỡng đạo đức nghề giáo cho đội ngũ GV, đáp ứng yêu cầu DH 2 buổi/ngày 65
Trang 73.3.2 Kế hoạch hóa mục tiêu, nội dung, chương trình DH 2 buổi/ngày theo hướng
“tiếp cận năng lực người học” 69
3.3.3 Đổi mới QL hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS học 2buổi/ngày 72
3.3.4 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá và theo dõi, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của HS 75
3.3.5 Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc tổ chức HĐDH 2 buổi/ngày 78
3.3.6 Phát triển các nguồn lực, chuẩn hóa CSVC, các điều kiện hỗ trợ HĐDH 2 buổi/ngày theo hướng hiện đại 81
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84
3.5 Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp xuất 85
3.5.1 Mục tiêu khảo nghiệm 85
3.5.3 Kết quả khảo nghiệm 86
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH : Ban giám hiệu
GVBM : Giáo viên bộ môn
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Thống kê số lượng CBQL, GV, nhân viên của 3 cấp học TP Đông Hà
(Tháng 6/2016) 37
Bảng 2.2: Thống kê số trường, lớp và HS các phường trên địa bàn TP, năm học 2015-2016 40
Bảng 2.3: Thống kê số lượng trường, tỉ lệ lớp học 2 buổi/ngày (4 năm học) 43
Bảng 2.4: Thống kê tỉ lệ HS học 2 buổi/ngày, 4 năm học (2012-13 đến 2015-2016) 44
Bảng 2.5: Thống kê đội ngũ CBQL TH (tháng 6/2016) 45
Bảng 2.6: Thống kê đội ngũ GV TH ( tháng 5/2016) 46
Bảng 2.7a: Thống kê chất lượng GD TH toàn TP Đông Hà (năm học 2014-2015 và 2015-2016) 48
Bảng 2.8: Bảng so sánh chất lượng GD 2 buổi/ngày với chất lượng GDTH 48
Bảng 3.1: Tổng hợp ý kiến về mức độ cấp thiết của các biện pháp 86
Bảng 3.2: Tổng hợp ý kiến về mức độ khả thi của các biện pháp 87
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
GD là một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nó cùng tồn tại và phát triển, gắn bó chặt chẽ với sự phát triển xã hội loài người Ngày nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu và sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật
- công nghệ, GD càng trở nên quan trọng hơn, có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội
Trong công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới GD, Đảng và nhà nước đã đề ra những chủ trương, chính sách phát triển GD, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII đã khẳng định:
"Thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển KT-XH" [12].
Những quan điểm, phương hướng phát triển GD được Đảng ta xác định từ Đại hội
IX, Đại hội X và tiếp tục khẳng định phát triển quan điểm, phương hướng ấy trong
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam: "GD
là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế." [13, tr.130-131]
Nghị quyết Hội nghị VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, trong đó, có quan điểm chỉ
đạo: "Phát triển GD&ĐT phải gắn với nhu cầu phát triển KT-XH và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển GD&ĐT từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng"[14]
Trường TH tổ chức DH từ 1buổi/ngày sang 2buổi/ngày là xu hướng phát
triển tất yếu để GDTH có điều kiện, nền tảng thuận lợi "Chuyển phát triển GD&ĐT
từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả"[14] Luật GD năm 2005 và luật GD sửa đổi năm 2009 chỉ rõ định hướng phát triển GD: "Phát triển GD gắn với phát triển KT-XH, tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH”[30]
Đổi mới GD theo hướng chuẩn hóa, tạo tiền đề quan trọng để thực hiện đổi mới căn bản toàn diện GD và phát triển GD Việt Nam Chuẩn hóa hệ thống nhà trường tạo điều kiện đưa GD Việt Nam hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới Theo Thông tư số 59/2012/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT , tại điều 21, mục c, ở tiêu chuẩn 5: về hoạt động và kết quả GD
Trang 11quy định trường TH đạt Chuẩn mức độ 2: "Có ít nhất 80% HS học 2 buổi/ngày và
có kế hoạch để tất cả HS được học 2 buổi/ngày”
Đối với các nước trong khu vực và trên thế giới có điều kiện kinh tế phát triển, có nền GD tiên tiến đều thực hiện DH 2 buổi/ngày đối với HS TH Như vậy,
có thể nói, DH 2 buổi/ngày sẽ tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác GD toàn diện, phù hợp với quy luật khách quan, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Mặt khác, muốn duy trì, phát triển và nâng cao chất lượng GD của nhà trường tất yếu phải nâng cao chất lượng QL của HT đối với HĐDH Công tác QL HĐDH của
HT là nhiệm vụ quan trọng và được đặt lên hàng đầu trong QL nhà trường
TP Đông Hà là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của tỉnh Quảng Trị Trong những năm qua, ngành GD& ĐT Đông Hà nói chung, các trường TH của TP nói riêng đã chú trọng tăng cường đội ngũ GV, nhân viên, xây dựng CSVC trường, lớp đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng học 2 buổi/ngày cho HS Hiện, toàn TP có 16/16 trường TH (15 trường công lập, 01 trường tư thục) đều có học HS học 2 buổi/ngày
và đã mang lại nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của GD TP, là tiền
đề quan trọng để đổi mới GD TH hiện nay
Để thực hiện thành công Nghị quyết số 29, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT, trước hết, các đơn vị nhà trường cần phải tập trung đổi mới phương thức QL QL nhà trường
là một bộ phận quan trọng nhất của QL GD nói chung Vì thế, phát triển và nâng cao chất lượng GD của nhà trường tất yếu phải nâng cao chất lượng QL của HT đối với HĐDH Đây là HĐ trọng tâm, cơ bản của các trường học, có ảnh hưởng trực tiếp, quyết định đến chất lượng, hiệu quả GD của nhà trường Cụ thể, với các trường
TH TP Đông Hà là QL HĐDH dạy học 2 buổi/ngày Như vậy, việc nâng cao chất lượng quản lý DH 2 buổi/ngày trong giai đoạn hiện nay ở TP Đông Hà mang tính cấp thiết, là nhiệm vụ quan trọng để đổi mới căn bản toàn diện GD cấp TH Xuất
phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: "Biện pháp QL
HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị"
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát, đánh giá thực trạng công tác QL HĐDH 2 buổi/ngày các trường TH ở TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, luận văn đề xuất các biện pháp QL của HT nhằm nâng cao hiệu quả HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường
TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Trang 123 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT các
trường TH
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT các
trường TH ở TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
4 Giả thuyết khoa học
QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, bên cạnh những ưu điểm vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập trên nhiều bình diện Nếu nghiên cứu đề xuất và triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp QL một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn nhà trường, sẽ nâng cao chất lượng HĐDH
2 buổi/ngày, góp phần tăng cường chất lượng GD TH ở TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Khái quát cơ sở lý luận về công tác QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT trường TH
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng QL của HT đối với HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
5.3 Đề xuất các biện pháp QL HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Nhóm các PP nghiên cứu lý luận
Sử dụng PP phân tích, tổng hợp tài liệu, phân loại tài liệu,… nhằm xây dựng
cơ sở lý luận về công tác QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT trường TH
6.2 Nhóm các PP nghiên cứu thực tiễn
- PP điều tra: Sử dụng phiếu hỏi (điều tra) dành cho CBQL, GVCN, HS và phụ huynh nhằm khảo sát thực trạng QL HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
- PP quan sát: các hoạt động QL của HT, hoạt động dạy và học 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
- PP phỏng vấn: Phỏng vấn CBQL, GVCN, HS về thực trạng, nguyên nhân của những hạn chế bất cập
- PP lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến các chuyên gia về tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất
Việc sử dụng các PP nghiên cứu thực tiễn nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu, thu thập các thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu
Trang 136.3 PP thống kê toán học: Nhằm xử lý kết quả nghiên cứu
7 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng QL HĐDH ở 05 trường TH (4 trường
có tổ chức bán trú) ở TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, từ năm học 2013 - 2014 đến năm học 2015 - 2016
8 Cấu trúc của luận văn
Phần thứ nhất : Mở đầu
Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT trường TH Chương 2: Thực trạng QL HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông
Hà, tỉnh Quảng Trị
Chương 3: Biện pháp QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Phần 3: Kết luận và khuyến nghị
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
2BUỔI/NGÀY CỦA HIỆU TRƯỞNG Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đặt ra yêu cầu:
“GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển GD&ĐT cùng với phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho GD là đầu tư phát triển” [13, tr.77]
Trong hệ thống GD quốc dân, GD TH giữ một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa
Trong công tác GD, DH là một hoạt động đặc thù, giữ vị trí trung tâm, chi phối mọi hoạt động khác trong nhà trường và quyết định chất lượng GD của nhà trường Nhiều nhà khoa học và nhà QL trong nước, nước ngoài đã đề cập đến công tác QL HĐDH và xem QL HĐDH là nguyên nhân cơ bản tác động đến chất lượng GD Trong
đó, ở nước ta, các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này như: Thái Duy Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc…
Có thể kể ra một số đề tài, công trình nghiên cứu như sau: Tác giả Thái Duy Tuyên, trong cuốn “GD học hiện đại”[31], đã đề cập đến nội dung, PP, phương tiện
DH và tổ chức quá trình DH; tác giả Đặng Quốc Bảo, với cuốn “Một số khái niệm
về QL GD” [8], đã nghiên cứu về khái niệm QL GD; tác giả Trần Kiểm trong cuốn
“Khoa học QL GD-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [21] và “Khoa học QL nhà trường phổ thông” [20], đã đề cập đến chức năng, nguyên tắc, PP và công cụ quản
lý GD, những biện pháp nâng cao hiệu quả công tác QL của HT - các biện pháp chỉ đạo hoạt động giảng dạy, GD của GV và các biện pháp QL hoạt động học tập của HS Các công trình nghiên cứu của họ đều khẳng và chứng minh vai trò quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc của công tác QL GD đối với việc nâng cao chất lượng GD, chất lượng DH trong các nhà trường
Trong hệ thống GD phổ thông, GDTH nhằm hướng đến mục tiêu “giúp HS
hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức,
Trang 15trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học
cơ sở” [29], tạo nền móng, tiền đề vững chắc, có ảnh hướng sâu sắc đến sự phát triển toàn diện nhân cách của mỗi con người
Để đáp ứng nhu cầu học tập của HS và phù hợp với sự phát triển của xã hội,
từ những năm giữa thập niên 90 các trường TH ở TP Đông Hà, nếu đủ điều kiện CSVC có chiều hướng chuyển từ DH 1 buổi/ngày sang DH 2 buổi/ngày và được chính thức thực hiện theo Văn bản số 6627/BGDĐT, ngày 18/9/1996 về việc
“Hướng dẫn thực hiện DH 2 buổi/ngày ở TH” của Bộ GD&ĐT Việc tổ chức DH 2buổi/ngày ở các trường TH đến nay đã trở thành chủ trương chung của ngành GD,
là một trong những nội dung của tiêu chuẩn trường TH đạt chuẩn quốc gia hiện nay
“Phát triển GD&ĐT phải gắn với nhu cầu phát triển KT-XH và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan ”[14]. Nhận thức được tầm quan trọng của DH 2 buổi/ngày, trong thời gian qua, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề này Một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành
QL GD thuộc Đại học Huế đã đề cập đến: "Một số biện pháp phát triển đội ngũ QL trường TH DH 2 buổi/ngàyở tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn hiện nay" của Hoàng Thị Lý (2004); “Biện pháp QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT ở các trường TH TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” của Nguyễn Thanh Huyền (2015);… Các đề tài này đã tập trung đề cập đến các biện pháp về QL của HT trường TH DH
2 buổi/ngày trên những địa bàn khác nhau với tính chất đặc thù riêng của từng lĩnh vực nghiên cứu
Ở luận văn này, chúng tôi có kế thừa lịch sử nghiên cứu vấn đề và tập trung khảo sát thực trạng công tác QL HĐDH 2 buổi/ngày ở TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Từ đó, đề xuất biện pháp QL phù hợp với điều kiện địa phương và đặc thù của bậc học
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Khái niệm QL đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trình bày ở những góc độ khác nhau, những thời điểm khác nhau Có người xem khái niệm quản lý là chức năng cơ bản (Henri Fayol), hoặc nhằm vào hiệu quả thuần túy (F.W Taylor), hoặc nhấn mạnh vào yếu tố thông tin (M.I.Kondakop), hoặc khẳng định QL là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp các nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm (tổ chức) và của cộng đồng
Hay nói cách khác: QL là sự tác động của cơ quan QL vào đối tượng QL để tạo sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống nhằm đạt mục tiêu nhất định
Trang 16Giáo sư Hà Thế Ngữ cho rằng: “QL là một quá trình định hướng, quá trình
Khái niệm QL được các nhà nghiên cứu đưa ra gắn với từng lĩnh vực QL và từng lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu cụ thể Nhưng có sự thống nhất về bản chất hoạt động QL là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ
thống thông tin của chủ thể QL đến khách thể QL
Hiện nay, QL thường được định nghĩa rõ hơn: QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoách hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra QL có 4 chức năng cơ bản đó là: kế hoạch hóa,
tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Các chức năng này vừa mang tính độc lập tương đối, vừa liên quan mật thiết với nhau, tạo thành một chu trình QL
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức
1.2.2 Quản lý giáo dục
GD là một hiện tượng xã hội đặc biệt, có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại
và phát triển xã hội, thể hiện thông qua các chức năng GD QL GD là một bộ phận
của QL xã hội, là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi phát triển nền GD ngày càng
tiến bộ hơn Để các cơ sở GD được phát triển và tồn tại thì phải có QL GD, bởi vì
QL GD là nhiệm vụ sống còn của một nhóm, tập thể đơn vị GD
Trong quá trình nghiên cứu về nội dung, khái niệm QLGD có nhiều cách hiểu khác nhau, theo P.V Khuđôminxky: “QLGD là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có các mục đích của các chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất
cả các khâu của hệ thống (Bộ GD&ĐT đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc GD Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hòa của họ” [27,tr.50]
Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD, theo tác giả Đặng Quốc Bảo:
“QL GD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã
Trang 17hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của
xã hội” [8, tr 27]
Tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa: “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý GD của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình DH – GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [16, tr 24]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể
QL tới khách thể QL nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [21, tr 56]
Như vậy, có thể hiểu: QL GD là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống,
có kế hoạch của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm đưa hoạt động sư phạm của tổ chức đơn vị QL đi đến mục tiêu
GD của Đảng, Nhà nước đặt ra
1.2.3 Quản lý trường học (quản lý nhà trường)
Trường học là một tổ chức, có một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng truyền đạt những kinh nghiệm xã hội (có chọn lọc) theo một chương trình, kế hoạch nhất định, nhằm hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện cho người học; là đơn vị cơ sở của hệ thống GD quốc dân nên nó là khách thể
QL GD, là một tổ chức có tính độc lập nên QL nhà trường nhất thiết phải có tính Nhà nước và tính xã hội
P.V.Zimin cho rằng: “QL nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm riêng biệt,
hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể QL lên các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội-kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình DH và GD thế hệ đang lớn lên” [28]
Khái niệm QL nhà trường đã được nhiều tác giả bàn đến Phạm Minh Hạc đã
khái quát: QL nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng HS” [16, tr 22]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “QL trường học là lao động của các cơ quan QL nhằm tập hợp và tổ chức lao động của GV, HS và các lực lượng GD khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực GD để nâng cao chất lượng GD&ĐT nhà trường”[38, tr 106]
Từ những định nghĩa của các nhà khoa học GD, có thể nói rằng: QL trường
Trang 18hoạt động GD, HĐDH, GV, HS, các điều kiện) nhằm đưa nhà trường vận hành theo các quy định của nhà nước, của ngành để đạt được mục tiêu GD&ĐT
1.2.4 Hoạt động dạy học
Trong tất cả các hoạt động của nhà trường, DH là hoạt động đặc thù nhất, điển hình nhất, đồng thời có tác động chi phối mạnh mẽ đến tất cả các hoạt động
GD khác HĐDH là một quá trình thống nhất, biện chứng giữa hoạt động dạy của
GV và hoạt động học của HS, nhằm hướng tới các mục tiêu DH
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “DH là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội tích lũy được để biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân” [16, tr 38]
Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt quan niệm : “Quá trình DH là một quá trình
sư phạm bộ phận, một phương tiện trao đổi học vấn, phát triển GD và phẩm chất
GD, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành” [22, tr 25]
Theo Đặng Quốc Bảo: “HĐDH là hoạt động đặc trưng cho bất cứ loại hình nhà trường và xét theo quan điểm tổng thể DH chính là con đường GD tiêu biểu nhất ”[9]
HĐDH là quá trình tương tác giữa người dạy và người học, trên cơ sở người dạy tổ chức, điều khiển, thiết kế các hoạt động của người học để người học tự giác, tích cực, chủ động tìm tòi, khám phá chiếm lĩnh tri thức thông qua các hoạt động học tập, giúp người học lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức của nhân loại, tự hình thành các phẩm chất, năng lực và hoàn thiện nhân cách của mình HĐDH bao gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Hai hoạt động này có sự tác động qua lại với nhau, thống nhất và quy định lẫn nhau
* Hoạt động dạy của GV
GV là chủ thể của hoạt động dạy, thực hiện chức năng tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh, định hướng hoạt động học của HS nhằm đạt được mục tiêu
DH, qua đó phát triển trí tuệ, năng lực, phẩm chất góp phần hình thành nhân cách sự
phát triển toàn diện ở HS
Theo tác giả Lê Văn Hồng: “Hoạt động dạy của GV là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình HS lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách của mình”
[17, tr 21]
Nội dung, chương trình, kế hoạch DH tùy theo mức độ, lứa tuổi, của HS được Bộ GD&ĐT quy định trong chương trình và sách giáo khoa của phổ thông Để
Trang 19thực hiện hoạt động dạy, GV phải có những hiểu biết cơ bản về chương trình, sách giáo khoa, kế hoạch DH và có kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm để chuẩn bị bài lên lớp (soạn giáo án, chuẩn bị và tự làm ĐDDH), tổ chức giờ lên lớp,
sử dụng linh hoạt, sáng tạo hệ thống PPDH, hình thức DH, phương tiện DH phù hợp tình hình thực tế, để đạt mục tiêu cụ thể của từng tiết học, mục tiêu chung của quá trình DH Đồng thời, có kế hoạch thực hiện công tác phụ đạo HS yếu, bồi dưỡng HS giỏi, đánh giá kết quả học tập của HS
* Hoạt động học của học HS
“Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi
mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những hình thức hành
vi và những dạng hoạt động nhất định” [22, tr21]
HS là chủ thể hoạt động học, là nhân vật trung tâm của quá trình DH HS tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực, tự giác và chủ động nhằm vận dụng những kiến thức, kỹ năng đang có để giải quyết những nhiệm vụ học tập Qua
đó, thực hiện chức năng lĩnh hội và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực, hình thành nhân cách theo mục tiêu GD Nhờ đó, người học chiếm lĩnh tri thức nhân loại, hình thành các phẩm chất, năng lực của bản thân, để vận dụng kiến thức giải quyết những vấn đề thực tiễn
Nội dung, PP, hình thức học của HS được quy định bởi đặc trưng riêng của môn học GV là người lựa chọn, sử dụng PP, hình thức học của HS để phù hợp với môn học, bài học, trình độ nhận thức, năng lực của HS và điều kiện cụ thể của nhà trường Đồng thời, phải đảm bảo hoạt động học của HS đạt được mục tiêu DH, tạo nên hứng thú cho người học và để đạt hiệu quả, chất lượng DH cao nhất Hoạt động học của HS phải tiến hành học tập tại trường và kết hợp với học tập rèn luyện ở gia đình
* Sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học
Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ biến chứng, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, chương trình,
PP, phương tiện (CSVC&TBDH) của hoạt động dạy và hoạt động học
Hoạt động DH là quá trình đồng thời diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học, tạo nên sự thống nhất, có mối quan hệ biện chứng Nếu thiếu một trong hai
HĐ, quá trình DH không diễn ra
Trang 20Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của quá trình DH
Mặt khác, hoạt động dạy của GV sẽ quy định hoạt động học của HS "Thầy dạy thế nào, trò học thế ấy"; ngược lại, tùy vào khả năng nhận thức, trình độ nhận thức của người học để GV lựa chọn nội dung, PP, hình thức dạy sao cho phù hợp
HĐDH là một quá trình thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của GV
và hoạt động học của HS; trong đó người dạy đóng vai trò chủ đạo (điều khiển, điều chỉnh, định hướng, hỗ trợ,…) người học đóng vai trò chủ động (tự giác, tích cực,…) nhằm thực hiện mục tiêu DH đã đề ra
1.2.5 Dạy học 2 buổi/ngày
DH 2 buổi/ngày được hiểu là hình thức tổ chức cho HS được rèn luyện và học tập trong nhà trường cả buổi sáng và buổi chiều (2 buổi) của đa số các ngày học trong tuần (9 đến 10 buổi/tuần) Hiện nay, nhiều địa phương DH 2 buổi/ngày được
tổ chức DH mỗi tuần 9 buổi học (4 ngày: mỗi ngày học 2 buổi và 1 ngày: học
1 buổi học, còn 1 buổi có thể dùng tổ chức hoạt động chuyên môn) DH 2 buổi/ngày
ở bậc TH nhằm mục tiêu giảm bớt căng thẳng, mõi mệt, giãn thời gian học tập cho
HS từ 1 buổi (sáng hoặc chiều) trong ngày thành 2 buổi học Đồng thời, có thêm thời gian GV tổ chức cho HS hoàn thành các nhiệm vụ học tập ngay tại lớp, dạy DH thêm một số nội dung tự chọn, tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tạo cơ hội thuận lợi để phát triển một số năng lực, phẩm chất cho HS và góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện
1.2.6 Quản lý hoạt động dạy học 2 buổi/ngày
QL HĐDH 2 buổi/ngày là công tác QL HĐDH của nhà trường TH có tổ chức hình thức HS học 2 buổi/ngày QL HĐDH 2 buổi/ngày là quá trình tác động của chủ thể QL (HT) đến khách thể QL (cán bộ, GV, nhân viên, HS và các điều kiện hỗ trợ HĐDH) nhằm tổ chức, chỉ đạo vận hành quá trình DH trong nhà trường đạt tới mục tiêu nhiệm vụ DH đã định với chất lượng và hiệu quả cao nhất, đáp ứng yêu cầu đổi
mới căn bản toàn diện GD nói chung, GDTH nói riêng
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
MÔI TRƯỜNG KINH TẾ - XÃ HỘI – VĂN HÓA – KHOA HỌC
Kết quả dạy học
Đánh giá
Trang 21Đối với công tác QL nhà trường, QL HĐDH là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng nhất của người HT Bởi vì, chất lượng, hiệu quả của HĐDH ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ chất lượng GD nói chung Mặt khác, vai trò HT trong thực thi chế
độ thủ trưởng của các trường học công lập hiện nay vô cùng quan trọng Để QL có hiệu quả HĐDH, trước hết, người HT phải nắm chắc yêu cầu cơ bản, khái niệm, các thành tố cấu trúc của quá trình DH và đầu tư, cống hiến nhiều công sức, trí tuệ, thời gian cho công tác QL HĐDH
QL HĐDH trong nhà trường TH nói chung và trường 2 buổi/ngày nói riêng
có những điểm chung, bên cạnh đó, QL HĐDH 2 buổi/ngày có những điểm riêng, mang tính phức tạp hơn, khó khăn hơn so với trường DH 1buổi/ngày Do đó, QL HĐDH 2 buổi/ngày ở trường TH đòi hòi người QL phải có tư duy sáng tạo, linh hoạt, năng động, Bởi vì, đối với DH 2 buổi/ngày, thời lượng HS học tập, sinh hoạt tại trường gấp đôi so với 1 buổi/ngày Do đó, mức độ QL cũng tăng gấp đôi Người
HT còn phải định hướng việc sắp xếp thời khóa biểu, lựa chọn nội dung các môn học tự chọn, các hoạt động trải nghiệm cho HS vừa phù hợp điều kiện nguồn lực nhà trường, vừa phù hợp với đặc điểm địa phương, nhu cầu của HS, phụ huynh, vừa đạt mục tiêu GD toàn diện và phát triển nhà trường phù hợp với sự phát triển XH
QL HĐDH 2 buổi/ngày chính là QL việc thực hiện nội dung, chương trình,
kế hoạch giảng dạy 2 buổi/ngày, hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS và các điều kiện hỗ trợ cho HĐDH 2 buổi/ngày nhằm đạt được mục tiêu DH
1.3 Cơ sở lý luận về HĐ DH 2 buổi/ngày ở trường TH
1.3.1 Trường TH trong hệ thống GD quốc dân
Điều 2, Điều lệ trường TH khẳng định: "Trường TH là cơ sở GD của bậc
TH, bậc học nền tảng của hệ thống GD quốc dân… TH là bậc học đạt nền tảng ban đầu cho việc hình thành, phát triển nhân cách con người Đó là cơ sở nền tảng vững chắc cho GD phổ thông và toàn bộ hệ thống GD quốc dân Trường TH đảm nhận HS từ 6-14 tuổi được đào tạo GD từ lớp 1 đến lớp 5 " [3, tr 5].
Điều 3, Điều lệ trường TH của Bộ GD&ĐT ban hành năm 2010 quy định trường TH có nhiệm vụ:
“1 Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động GD đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình GD phổ thông cấp TH do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành
2 Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em
đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập GD và chống mù chữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền QL các hoạt động GD của các cơ
Trang 22quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình TH cho HS trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách
3 Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ GD&ĐT và nhiệm vụ phát triển GD của địa phương
4 Thực hiện kiểm định chất lượng GD
cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết
và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể; giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu
về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật” [29]
Theo quy định Chương trình GD Phổ thông cấp TH, ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT, ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tổng số tiết (chương trình chính khóa)/tuần: khối 1: 22 tiết; khối 2,3: 23 tiết; khối 4,5: 25 tiết; theo Công văn số 4323/BGD&ĐT-GDTH ngày 25/08/2015 về việc hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2015-2016 đối với GD TH, quy định HS học 1buổi/ngày, mỗi buổi học không quá 5 tiết, HS học 2 buổi/ngày, mỗi ngày học không quá 7 tiết Như vậy, mỗi tuần HS học 2 buổi/tuần học không quá 35 tiết/tuần
Hiện nay, ở nhiều trường TH DH 2 buổi/ngày có một bộ phận PHHS có nhu cầu và được sự đồng thuận của chính quyền địa phương, nhà trường được tổ chức
Trang 23ăn uống, nghỉ ngơi, sinh hoạt, trong khoảng thời gian kết thúc buổi học buổi sáng đến đầu buổi học buổi chiều (bán trú) ngày càng có xu hướng phát triển cả quy mô
và số lượng
Như vậy, HĐDH 2 buổi/ngày ngoài việc tạo điều kiện nền tảng thuận lợi
"Chuyển phát triển GD&ĐT từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả "[14]. HS còn có điều kiện tiếp xúc, trao đổi, giao tiếp, học tập với bạn học, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng học tập chính đáng của HS
1.3.3 Vai trò của dạy học 2 buổi/ngày ở trường TH
Theo chủ trương của Bộ GD&ĐT về việc tổ chức DH 2 buổi/ngày cho HS
TH, ngoài việc giãn các nội dung, thời lượng học tập (các môn học chính khóa theo quy định) chỉ tập trung học 1 buổi chuyển thành 2 buổi, để HS bớt căng thẳng, nâng cao chất lượng DH; còn có thêm thời gian để GV hướng dẫn HS hoàn thành các yêu cầu học tập ngay ở trường, được học các môn tự chọn, tham gia hoạt động ngoại khóa, năng khiếu, sinh hoạt tập thể, rèn luyện kỹ năng sống, phát triển năng lực cho trẻ; HS được đảm bảo an toàn trong thời gian bố mẹ phải tham gia lao động, sản xuất, tạo sự yên tâm cho phụ huynh
HS học 2 buổi/ngày dưới sự hướng dẫn của GV, các nhiệm vụ học tập sẽ hoàn thành ngay tại lớp Hơn nữa, GV là người có chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm sư phạm, có hiểu biết nhất định về tâm lý, điều kiện hoàn cảnh của HS, biết lựa chọn hình thức DH đảm bảo tính vừa sức, tính phù hợp với nội dung, PPDH trên từng đối tượng HS cụ thể Nhờ đó, có thể hạn chế tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan HS có điều kiện được tiếp xúc nhiều với GV, bạn bè, góp phần tích cực hóa mối quan hệ trong lớp học, giúp HS tự tin hơn, được phát triển toàn diện hơn Tạo nên sự yên tâm cho PHHS
Đối với các địa phương thuộc vùng thành thị, DH 2 buổi/ngày còn là điều kiện thuận lợi để nhà trường tổ chức DH cả ngày (bán trú) HS TH được học cả ngày, ăn nghỉ buổi trưa tại trường là mong muốn chính đáng đối với nhiều phụ huynh Bởi, HS TH chưa đủ lớn để phụ huynh yên tâm cho trẻ tự đi, tự về và tự lo được bữa trưa cho bản thân nếu phụ huynh không có thời gian Chưa nói đến nhiều
lý do khác như: HS được tổ chức ăn uống, nghỉ ngơi điều độ, có thời gian sinh hoạt vui chơi với bạn cùng trang lứa,
Như vậy, HS học 2 buổi/ngày tại trường được tăng thời lượng học tập, giãn nội dung DH ra 2 buổi học; có thời gian tham gia các hoạt động tập thể, ngoại khoá, vui chơi, rèn luyện về âm nhạc, thể dục, mĩ thuật,… được học các môn tự chọn như
Trang 24gần gũi với thầy cô, bạn bè; nâng cao chất lượng DH; đáp ứng nhu cầu học tập của
HS và nguyện vọng của phụ huynh, góp phần tích cực trong quá trình thực hiện chất lượng GD toàn diện, phù hợp với xu thế phát triển xã hội hiện nay
1.4 HT trường TH với việc QL HĐDH 2 buổi/ngày
1.4.1 Vai trò, nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn của HT trường TH
đã được Hội đồng sư phạm nhà trường xây dựng, nhằm góp phần phát triển sự nghiệp GD của địa phương và mục tiêu GD của ngành
HT là CBQL GD tại cơ sở, giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, QL điều hành các hoạt động GD Do đó, HT nhà trường phải luôn không ngừng học tập, trau dồi kiến thức, tu dưỡng, rèn luyện để làm tốt công việc được giao
1.4.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HT
Theo Điều 20, Điều lệ trường TH (năm 2010), nhiệm vụ và quyền hạn của
Trang 25g) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ QL; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;
h) Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng GD;
i) Thực hiện XHH GD, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động GD, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng”[3]
Để thực hiện chức năng và quyền hạn của HT có hiệu lực, hiệu quả, đòi hỏi người HT phải có kiến thức, kỹ năng nhất định về DH, về GD, về công tác QL để
thực hiện thành công các mục tiêu GD của nhà trường
1.4.1.3 Chức năng QL HĐDH của HT trường TH
QL HĐDH của HT bao gồm 4 chức năng cơ bản đó là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
* Chức năng kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa HĐDH là đưa toàn bộ HĐDHcủa nhà trường vào kế hoạch, trong đó nêu rõ các bước tiến hành, các biện pháp thực hiện và các nguồn lực bảo
đảm việc thực hiện để HĐDH đạt được mục tiêu đề ra
Kế hoạch này được xây dựng trên cơ sở các định hướng cơ bản của Đảng và Nhà nước về GD Mục đích của kế hoạch hóa là hướng mọi hoạt động của hệ thống bằng các phương pháp, nguồn lực, phương tiện, thời gian để tổ chức thực hiện đạt được mục tiêu
* Chức năng tổ chức
Chức năng tổ chức trong QL có vai trò hiện thực hóa các mục tiêu và tạo ra sức mạnh của một tập thể Đây là quá trình sắp xếp, bố trí các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) một cách phù hợp đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu mà kế
hoạch HĐDH đã vạch ra
Kế hoạch HĐDH cần có sự tổ chức hợp lý và khoa học trong cấu trúc hệ thống của nhà trường Cách tổ chức đó có thể thực hiện bằng việc phân công, phân nhiệm của HT cho cán bộ, GV, nhân viên trong nhà trường một cách phù hợp; cùng việc sử dụng đúng, hiệu quả nguồn lực và thời gian cần thiết để thực hiện kế hoạch;
là việc xác lập và giải quyết các mối quan hệ tổ chức của hệ thống, của nhà trường với cộng đồng xã hội
* Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động của HT tới mọi thành viên của nhà trường, nhằm
Trang 26đạo, HT còn phải theo dõi, giám sát các hoạt động của hệ thống, kịp thời điều chỉnh để tiến trình thực hiện kế hoạch đã định vận hành thông suốt, phù hợp với điều kiện khách quan, chủ quan của hệ thống nhằm sớm đạt mục tiêu kế hoạch đã đề ra
HT phải là người luôn chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo, sẵn sàng ứng phó với những tình huống có thể xảy ra, luôn bình tĩnh, sáng suốt trong mọi tình huống,
đủ bản lĩnh chịu trách nhiệm với những quyết định QL của bản thân
* Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là khâu cuối của quá trình thực hiện chức năng QL nhà trường Kiểm tra là quá trình xem xét, phát hiện, đánh giá thực trạng về HĐDH, khuyến khích nhân rộng các yếu tố tích cực, phê phán các yếu tố lệch lạc và kịp thời điều chỉnh các bộ phận, cá nhân trong và sau quá trình thực hiện để hoàn thành mục tiêu
DH đã đề ra, từ đó rút ra bài học QL
Như vậy, để QL tốt HĐDH trong nhà trường, người HT phải có kiến thức về
QL, có kỹ năng lãnh đạo, có hiểu biết nhất định về chuyên môn và thực hiện các chức năng QL phù hợp với thực tiễn đơn vị để huy động tối đa các nguồn lực vào HĐDH
1.4.2 Những căn cứ QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT trường TH
Để QL việc tổ chức thực hiện DH có liên quan đến DH 2 buổi/ngày ở các trường TH, cần tuân thủ những văn bản chỉ đạo, hướng dẫn:
Chương trình GD phổ thông cấp TH (Ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT)
Điều lệ trường TH (Ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT
ngày 30 tháng 12 năm 2010)
Thông tư liên tịch số 35/2006-TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 về việc hướng dẫn định mức biên chế viên chức cơ sở GD phổ thông công lập, tại điểm b, khoản 1, mục II quy định:
Trang 27“Thời lượng tối đa 7 tiết/ngày HT chủ động xây dựng kế hoạch DH 2buổi/ngày trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu:
- HS được tự học có sự hướng dẫn của GV để hoàn thành nội dung học tập tại lớp, nghiêm cấm giao bài tập về nhà cho HS DH các môn học bắt buộc, các môn học tự chọn; tổ chức cho HS tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa,
- Đối với những vùng khó khăn, vùng có đông HS dân tộc thiểu số, việc tổ chức DH 2 buổi/ngày cần lưu ý tạo điều kiện thuận lợi cho HS tăng cường tiếng Việt bằng nhiều hình thức, đa dạng và phong phú để HS có nhiều cơ hội giao tiếp bằng tiếng Việt
- Khuyến khích tổ chức bán trú cho HS một cách linh hoạt, đa dạng hoạt động bán trú, có thể tổ chức các hoạt động như xem phim, xem tivi, đọc sách, tham gia các trò chơi dân gian, trong thời gian nghỉ trưa giữa hai buổi học
- Động viên phụ huynh, cộng đồng, đầu tư, đóng góp nhân lực, trí lực, tài lực
để thực hiện GD toàn diện cho HS trong hoạt động tổ chức DH 2 buổi/ngày Với những lớp học có sĩ số đông, tham mưu với chính quyền để có thêm GV hỗ trợ, trợ giảng hoặc tham mưu quy hoạch xây dựng các trường TH tại địa phương, từng bước khắc phục tình trạng số lượng HS trên lớp cao hơn so với quy định ở một số
TP lớn.” [5]
Thông tư số 30/TT-BGD&ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 ban hành quy định
đánh giá HS TH, các trường TH đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá HS theo 3 nội dung: Quá trình học tập từng môn học, hoạt động GD; mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu Đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT, Thành
ủy Đông Hà có Chương trình Hành động Số 13-CTHĐ/TU ngày 30/9/2014 Chương trình Hành động thực hiện Nghị quyết số 29, ngày 4/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, cùng với nhiều văn bản khác Trong đó, chú trọng
đến việc đầu tư CSVC, phấn đấu “đến năm 2018 đảm bảo 100% HS TH được học
2 buổi/ngày” [32]
1.4.3 Nội dung QL HĐDH 2 buổi/ngày của HT trường TH
QL HĐDH 2 buổi/ngày là nội dung quan trọng của công tác QL nhà trường (có tổ chức hình thức DH 2 buổi/ngày) Vì vậy, công tác QL HĐDH phải được tiến hành đồng bộ các khâu: QL thực hiện nội dung, chương trình, kế hoạch giảng dạy;
QL hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học tập của HS; QL các điều kiện hỗ
Trang 281.4.3.1 QL thực hiện nội dung, chương trình, kế hoạch giảng dạy 2buổi/ngày
Chương trình GD phổ thông cấp TH ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định: số tiết bắt buộc đối với lớp1: 22 tiết/tuần; lớp 2 và 3: 22 tiết/tuần; lớp 4 và 5: 22 tiết/tuần, ngoài ra còn có thời lượng các nội dung, môn học tự chọn Thực hiện chương trình theo quy định của Bộ GD&ĐT mang tính pháp lệnh Nhà nước Đây là căn cứ cho các cấp QLGD tiến hành chỉ đạo, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện HĐDH của nhà trường, của GV Vì vậy, HT không những phải nắm vững mà còn phải tổ chức cho GV nghiên cứu, nắm vững chương trình DH của từng môn học, nội dung, phạm vi kiến thức, PPDH đặc trưng, các điều kiện để thực hiện DH từng môn học, lớp học, cấp học Trên cơ sở đó, HT chỉ đạo thực hiện nghiêm túc chương trình DH
Đặc biệt, để đáp ứng sự phù hợp với điều kiện DH, tính chất vùng miền của từng địa phương Trong chương trình DH, Bộ GD&ĐT có quy định một số nội dung "mở" giao quyền tự chủ cho cơ sở (CB QL, GV) được chủ động lựa chọn nội dung, chương trình, kế hoạch DH các tiết học ngoài quy định bắt buộc (chính khóa) còn có nội dung, môn học tự chọn (ngoài chính khóa) cho mỗi khối lớp, đảm bảo tính cân đối, hài hòa giữa phát triển kiến thức kỹ năng với phát triển năng lực, phẩm chất cho HS phù hợp với thực tiễn đơn vị
Chương trình DH 2 buổi/ngày ở trường TH, ngoài việc thực hiện đầy đủ theo quy định các tiết dạy chính khóa, tùy vào điều kiện cụ thể của đơn vị, nhà trường tổ chức DH thêm một số môn học tự chọn như: Tiếng Anh, Tin học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, bồi dưỡng năng khiếu, tổ chức các câu lạc bộ, tăng cường rèn luyện một số kỹ năng, hoạt động trải nghiệm phù hợp lứa tuổi, góp phần phát triển năng lực người học, giúp HS phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD phù hợp xu thế hội nhập
Để việc QL thực hiện nội dung, chương trình, kế hoạch DH 2 buổi/ngày góp phần tích cực nâng cao chất lượng DH, đòi hỏi người QL phải có định hướng, chỉ đạo việc lựa chọn, sắp xếp, bố trí, triển khai thực hiện linh hoạt, sáng tạo, phong phú về hình thức và nội dung, chương trình Có như vậy mới có được sự chuyển biến tích cực góp phần tạo nên sự khác biệt, tính ưu việt của HD 2 buổi/ngày
1.4.3.2 QL hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS
Trong quá trình DH, hoạt động dạy của GV và hoạt động học tập của HS tạo thành khối thống nhất, có mối quan hệ biện chứng với nhau
Trang 291.4.3.2.1 QL hoạt động DH của GV
Trong DH, hoạt động dạy của GV đóng vai trò chủ đạo, là một hoạt động
quan trọng có tính chất quyết định hiệu quả, chất lượng DH Vì vậy, QL các công việc có liên quan đến hoạt động giảng dạy của GV là một nhiệm vụ cơ bản trong
QL HĐDH, cụ thể: QL việc phân công giảng dạy; việc chuẩn giờ lên lớp; thực hiện giờ lên lớp; hoạt động tổ chuyên môn
* QL việc phân công giảng dạy cho GV
Sắp xếp phân công giảng dạy cho đội ngũ GV là công việc khó khăn nhất trong QL nhân sự Việc phân công giảng dạy cho GV có tác động trực tiếp quyết định chất lượng DH Căn cứ vào khả năng, năng lực, tâm tư, nguyện vọng, chuyên môn đã được đào tạo của từng GV để có sự phân công đảm bảo tính khoa học, hợp
lí, cần đối, hài hòa giữa các bộ phận, phù hợp với chuyên môn, năng lực, sở trường của đội ngũ GV nhằm phát huy tối ưu nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực )
Phân công giảng dạy cho GV phải đặt quyền lợi học tập của HS lên hàng đầu, nhưng cần chú ý để bảo đảm tính công bằng về quyền, nghĩa vụ của cá nhân GV; tạo sự thống nhất, đoàn kết, thân ái, yêu thương, thông cảm, chia sẻ lẫn nhau mới phát huy được sức mạnh của tập thể sư phạm
* QL việc chuẩn bị giờ lên lớp của GV
Lập kế hoạch DH (soạn bài) là phần việc quan trọng nhất của GV trong chuẩn bị giờ lên lớp GV được quyền lựa chọn, quyết định về nội dung, PP giảng dạy, ĐDDH, hình thức lên lớp phù hợp với đối tượng HS và đúng với mục tiêu cần đạt của từng tiết học
HT có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua tổ khối chuyên môn chỉ đạo, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc nghiên cứu nội dung, chương trình, công tác chuẩn bị của
GV Trên cở sở đó, GV thực hiện lập kế hoạch DH theo phân phối chương trình và chuẩn bị tốt các phương tiện hỗ trợ cho HĐDH
Yêu cầu bài soạn phải xác định được mục tiêu bài học, phải thể hiện được các hoạt động cơ bản của GV và của HS, phải thể hiện được việc sử dụng phương tiện, hình thức, PPDH nào? GV và HS cần chuẩn bị những ĐDDH là gì? Và cả những phương án và cách giải quyết các tình huống có thể xảy ra trong quá trình DH, để phát huy khả năng chủ động, tích cực tham gia vào hoạt động học tập của
HS nhằm đạt mục tiêu DH
Theo quy định giáo án được tổ, chuyên môn nhà trường kiểm tra đình kì hoặc đột xuất Sau kiểm tra có nhận xét, đánh giá, yêu cầu GV rút kinh nghiệm, điều chỉnh, sửa chữa, bổ sung thiếu sót, khuyến lệ, động viên, phát huy ưu điểm, sự
Trang 30* QL giờ lên lớp của GV
Giờ lên lớp là khâu quyết định chất lượng, hiệu quả quá trình DH, được thực hiện trong một thời gian nhất định (35-40') Hiệu quả giờ lên lớp thể hiện qua việc
tổ chức, điều khiển, điều chỉnh, hỗ trợ,… của GV tác động đến quá trình học tập nhằm giúp HS tích cực, chủ động, tự giác,… tham gia vào chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển năng lực, phẩm chất, hoàn thiện bản thân Vì vậy, GV không chỉ có kiến thức về môn dạy, mà đặc biệt có khả năng lựa chọn PPDH, hình thức DH phong phú, đa dạng, phù hợp, tổ chức các hoạt động học tập linh hoạt, sáng tạo, hấp dẫn, tạo nên bầu không khí học tập thoải mái, tự nhiên, hứng thú cho
người học
HĐDH trong nhà trường TH hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức
DH trên lớp Do đó, chất lượng giờ lên lớp của GV là căn cứ cơ bản phản ánh khách quan toàn bộ năng lực sư phạm, lòng nhiệt tình, tâm huyết của GV với nghề nghiệp Chính vì vậy, trong quá trình QL HĐDH, HT cần đặc biệt quan tâm đến QL giờ lên
lớp của GV
Trường TH có đặc thù riêng, GV có thể đảm nhiệm DH nhiều môn Vì thế,
HT cần có kế hoạch thăm lớp, dự giờ (thường xuyên, đột xuất, hay định kỳ) để việc đánh giá, nhận xét đầy đủ, chính xác, toàn diện Sau dự giờ, cần tổ chức góp ý, rút kinh nghiệm, để GV thấy được những thành công, hạn chế, điểm mạnh, điểm yếu của mình Qua đó, đội ngũ GV không ngừng phát triển về chuyên môn nghiệp vụ Đồng thời thông qua dự giờ, bản thân HT cũng có điều kiện nâng cao năng lực
chuyên môn nghiệp vụ
HT QL giờ lên lớp của GV thông qua nhiều kênh thông tin như: phỏng vấn
HS, tham khảo ý kiến của tổ trưởng chuyên môn, của các GV dạy cùng khối, lớp, qua kết quả học tập của HS, ý kiến PH,…
* QL hoạt động của tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là bộ phận tham mưu quan trọng cho HT và chỉ đạo trực tiếp các hoạt động chuyên môn của tổ, đánh giá đúng khả năng, năng lực và sự cống hiến từng thành viên, đồng thời trực tiếp bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ
Chính vì vậy, HT phải chỉ đạo, tổ chức tổ chuyên môn hoạt động theo quy trình cụ thể, chặt chẽ, bố trí GV vị trí tổ trưởng, tổ phó đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quy định rõ tại Điều 18 của Điều lệ trường TH, Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT
Đồng thời HT cần có kế hoạch kiểm tra tất cả các khâu từ xây dựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện kế hoạch, công tác kiểm tra, đánh giá của tổ
Trang 31cụ thể qua 4 bước: Lựa chọn nội dung, xây dựng kế hoạch và công tác chuẩn bị; tổ
chức DH minh họa; dự giờ, suy ngẫm; thảo luận chung; áp dụng vào thực tiễn DH
Để SHCM mang lại hiệu quả, tạo không khí thoải mái, không gây áp lực cho
GV trực tiếp thể hiện (minh họa) chuyên đề, người chủ trì chú ý hướng cho các thành viên tham gia ý kiến đánh giá, nhận xét tập trung vào người học (HS) Từ đó tìm ra ưu điểm, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân, đồng thời đưa ra các giải pháp để trao đổi, lựa chọn Sau khi đã được thống nhất một số nội dung chuyên môn tiếp tục chỉ đạo việc triển khai thực hiện vào thực tế
- QL đổi mới PPDH
Trong quá trình thực hiện đổi mới SHCM luôn gắn với đổi mới PPDH Đây
là một trong những vấn đề cấp thiết ở các nhà trường, nhằm tác động trực tiếp đến chất lượng DH nói riêng và chất lượng GD nói chung Để chất lượng DH đáp ứng những yêu cầu của đổi mới GD hiện nay, đổi mới PPDH là nội dung đặc biệt, HT, CBQL trường học cần coi trọng Vì thế, bằng nhiều biện pháp khác nhau, bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau, HT chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả việc
đổi mới PPDH
Hiệu trưởng chỉ đạo, phân công trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân tham dự các hoạt động liên quan đến việc thực hiện các văn bản chỉ đạo về chuyên môn của cấp học ngành học, tích cực tham gia bồi dưỡng về đổi mới PPDH theo sự chỉ đạo của cấp trên, để GV tin tưởng sẵn sàng tiếp cận cái mới, cái hay, nhiệt tình tham gia đổi mới, ứng dụng vào DH, tránh tư tưởng trì trệ, ỉ lại, không chịu đổi mới
Trong đổi mới PPDH cần tập trung đổi mới cách dạy của GV và đổi mới cách học của HS Cách học của HS là mục đích của cách dạy và chỉ thay đổi thực sự khi cách dạy được đổi mới, cách đánh giá kiểm tra, nhận xét được thay đổi Như vậy muốn đổi mới PPDH, đổi mới cách dạy là điều kiện tiên quyết Muốn đổi mới PPDH thành công, mỗi một CBQL, GV phải có nhận thức đúng đắn về định hướng của đổi mới, mục đích, yêu cầu của đổi mới; có kiến thức, kỹ năng thực hành, vận dụng PPDH mới; có nhu cầu, mong muốn đổi mới và kiên trì với việc vận dụng, sử
Trang 32dạy làm thay đổi, tạo động lực thúc đẩy cho HS đổi mới cách học PPDH mới chỉ thực sự mang lại hiệu quả khi tác động làm thay đổi cách học của HS
Đổi mới PPDH là một quá trình thay đổi và vận dụng sáng tạo, linh hoạt các PPDH mới vào thực tiễn DH Đây là một công việc đầy khó khăn, thách thức không chỉ đối với cá nhân GV mà cả tập thể HS Để sự thay đổi không làm xáo trộn những nền nếp, thói quen học tập đã có, GV cần biết lựa chọn từng nội dung, yêu cầu đổi mới phù hợp vừa phát huy tính kế thừa và phát triển trong cho quá trình DH
Tổ chuyên môn là bộ phận trực tiếp thực hiện quá trình DH, phải luôn đối mặt với các vấn đề nảy sinh từ thực tế và phải giải quyết khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn; đồng thời giúp đội ngũ GV phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm QL tốt hoạt động tổ chuyên môn sẽ góp phần quan trọng đối với việc tăng cường hiệu quả, chất lượng của QL HĐDH
1.4.3.2.2 QL hoạt động học của HS
Học tập là nhiệm vụ chính của người HS Hoạt động học tập là quá trình thực hiện các nhiệm vụ, yêu cầu của GV đối với cá nhân/nhóm HS trong thực hiện mục tiêu DH Qua đó, các em chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo để phát triển năng lực, nhân cách một cách toàn diện dưới sự tổ chức, điều khiển, điều chỉnh của người GV QL hoạt động học tập của HS thông qua các nội dung chủ yếu sau:
QL quá trình học tập trên lớp của HS thông qua dự giờ, trao đổi, kiểm tra vở
HS để nắm bắt tình hình học tập, từ đó có những biện pháp chỉ đạo HĐDH phù hợp
để nâng cao chất lượng học tập của HS
Thông qua GV tổng phụ trách, các buổi sinh hoạt tập thể, ngoại khóa
Phối hợp với gia đình HS QL việc tự học, tự rèn luyện và chuẩn bị bài ở nhà của HS
Theo dõi, tìm hiểu để nắm bắt, đánh giá về công tác chủ nhiệm, về các giải pháp hỗ trợ, tác động của các GV đến sự tiến bộ của HS
Để QL hoạt động học tập của HS, HT cần có các biện pháp để QL được thái
độ, tinh thần, năng lực, phẩm chất của người học khi tham gia các hoạt động học tập Cụ thể, khả năng hoàn thành các nhiệm vụ học tập, sự chuẩn bị của cá nhân đối với phần việc được giao của mỗi tiết học; việc tham gia đóng góp ý kiến trong chia
sẻ, thảo luận; việc tự học của HS, thái độ, động cơ học tập, tinh thần học tập,…
Ngoài ra, cần phải chú ý công tác QL phụ đạo HS yếu, bồi dưỡng HS giỏi, tổ chức DH các môn học tự chọn, chỉ đạo tổ chức khảo sát chất lượng, phân loại HS theo từng nhóm, có kế hoạch phụ đạo cho HS yếu và bồi dưỡng HS giỏi, phát triển
HS năng khiếu, phát huy thế mạnh của DH 2buổi/ngày
Trang 331.4.3.3 QL công tác kiểm tra, đánh giá kết quả DH 2 buổi/ngày
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học HS học 2 buổi/ngày là thước đo chất lượng HĐDH, là một khâu không thể thiếu trong quá trình DH; qua kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS nhằm xác định được mức độ chiếm lĩnh tri thức, các kỹ năng, năng lực, phẩm chất, thái độ học tập của HS Qua công tác kiểm tra, đánh giá HS, HT QL chất lượng DH, đó cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả của quá trình dạy và học
Từ năm học 2014-2015, các trường TH thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá
HS TH theo Thông tư 30 của Bộ GD&ĐT, trong quá trình QL hoạt động kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập của HS, người HT cần phải:
Thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo về đánh giá, xếp loại HS
Nâng cao nhận thức cho GV về quan điểm đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, ý nghĩa, tầm quan trọng và năng lực thực hiện trong ra đề kiểm tra, nhận xét, đánh giá kết quả rèn luyện học tập của HS Tổ chức thực hiện đúng theo quy định,
đảm bảo công bằng, chính xác, khách quan và khoa học
Chỉ đạo GV phối hợp với đồng nghiệp, tham khảo ý kiến nhận xét của HS, PHHS để đánh giá, xếp loại HS Có kế hoạch khảo sát khách quan việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá của GV, tìm ra những hạn chế, bất cập để khắc phục và bồi dưỡng nâng cao năng lực về ra đề kiểm tra, kỹ năng nhận xét, đánh giá, hỗ trợ
HS để đảm bảo thực hiện đúng theo quy định
1.4.3.4 QL CSVC&TBDH, các điều kiện phục vụ HĐDH 2 buổi/ngày
1.4.3.4.1 QL CSVC&TBDH
CSVC là điều kiện tiên quyết, ảnh hướng trực tiếp, đảm bảo việc tổ chức và duy trì HĐDH 2 buổi/ngày của các trường TH Nhà trường không những phải đảm bảo tỉ lệ về phòng học/lớp ít nhất 1/1, có các phòng học bộ môn như Tiếng Anh, Tin học, Nghệ thuật, mà còn phải đầu tư CSVC phục vụ sinh hoạt, các hoạt động tập thể như: diện tích sân chơi, bãi tập, công trình vệ sinh, nước sạch, thư viện, cảnh quan môi trường sư phạm xanh, sạch, đẹp, thân thiện, an toàn,… TBDH là phương tiện lao động sư phạm giúp GV và HS thực hiện thuận lợi các nhiệm vụ DH, để đạt mục tiêu DH cao nhất QL CSVC&TBDH cần đảm bảo được các yêu cầu: Xây dựng hệ thống CSVC&TBDH phải đáp ứng với yêu cầu DH và thường xuyên được
bổ sung để từng bước hình thành hệ thống CSVC&TBDH hoàn chỉnh Cần chú ý đến thiết thực, tiết kiệm trong việc xây dựng CSVC&TBDH nhà trường, tránh hình thức phô trương Phối hợp với các cơ quan chức năng, các lực lượng xã hội để tăng
Trang 34Để QL tốt CSVC&TBDH, ngoài việc triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư, mua sắm, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực đầu tư, cần phải quan tâm thường xuyên việc kiểm tra, đôn đốc sử dụng, khai thác và chế độ bảo dưỡng, bảo quản CSVC&TBDH trong quá trình tổ chức DH
1.4.3.4.2 Ql các điều kiện phục vụ HĐDH 2 buổi/ngày
Để QL HĐDH 2 buổi/ngày các trường TH có hiệu quả, cần phải làm tốt công tác QL các điều kiện phục vụ cho quá trình DH Đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo HĐDH được tổ chức, thực hiện có hiệu quả
- QL công tác chủ nhiệm lớp góp phần quan trọng vào hiệu quả DH Bởi lớp học là đơn vị tổ chức của nhà trường, các hoạt động GD của HS diễn ra phần lớn tại lớp Vì vậy, công tác tổ chức lớp học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả DH GVCN là người thay mặt HT QL GD HS tại lớp, truyền đạt và thực hiện tới HS những tư tưởng, tinh thần GD của nhà trường; GVCN cũng
là người gần gũi chia sẻ mọi hoàn cảnh, là chỗ dựa tinh thần tin cậy nhất cho HS lúc ở trường
- QL công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV là nhiệm vụ thường
xuyên, quan trọng của QLGD Điều 15, Luật GD đã nêu: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng GD”, “nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học” và “Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình” [29]
Đẩy mạnh công tác kiện toàn đội ngũ, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ theo chuẩn nghề nghiệp, khuyến kích GV ứng dụng những thành tựu khoa học sư phạm vào thực tiễn một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp địa phương, đáp ứng xu thế phát triển GD hiện nay
- QL tốt công tác thi đua, khen thưởng là động lực phát triển của nhà trường,
tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong từng cá nhân, tập thể, tổ chức, đồng thời đẩy mạnh phong trào thi đua, khắc phục những khó khăn, hạn chế, phát huy những mặt mạnh, sáng tạo trong từng thành viên Qua phong trào thi đua, phát hiện những nhân
tố tích cực, điển hình tiên tiến, biểu dương, khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể có nhiều thành tích xuất sắc, nhằm động viên khuyến khích phong trào dạy tốt, học tốt của GV và HS Đặc biệt chú ý đảm bảo tính khách quan công bằng, dân chủ
và công khai, tạo được niềm tin, hướng phấn đấu trong HS và GV, để mọi người phát huy cao độ khả năng rèn luyện, cống hiến bản thân cho nhà trường
- QL công tác xây dựng môi trường sư phạm
Trang 35+ Môi trường bên ngoài: cảnh quan sư phạm trường TH có ví trí, vai trò hết
sức quan trọng đối với HS tuổi TH, tạo cảm nhận, dấu ấn đầu tiên khi các em cắp sách đến trường, nên nhà trường cần phải tạo được cảnh quan môi trường xanh,
sạch, đẹp, an toàn, thân thiện
+ Môi trường bên trong: bầu không khí học tập, làm việc trong nhà trường tác động không nhỏ đến khả năng, kết quả dạy và học của GV và HS Xây dựng mối quan hệ tôn trọng, thân ái, đoàn kết trong hội đồng sư phạm, trong tập thể các lớp học, trong quan hệ nhà trường với PH, nhà trường với chính quyền địa phương,…Để đảm bảo nề nếp kỹ cương cần xây dựng nội quy, quy chế hoạt động nhà trường, đảm bảo thực hiện các quyền, nghĩa vụ, các chế độ, chính sách đúng,
đủ, kịp thời Phát huy dân chủ cơ sở và thực hiện công khai hóa các hoạt động nhà trường sẽ tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho DH
- Ứng dụng CNTT trong công tác QL là một vấn đề rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay Ứng dụng CNTT giúp các nhà QL tiết kiệm thời gian, nắm bắt thông tin kịp thời, chính xác Từ đó có thể đưa ra những quyết định QL phù hợp, linh hoạt, hiệu quả hơn
Trước tiên, nhà trường phải xây dựng hệ thống QL các tài khoản của các tổ chức đoàn thể, bộ phận, GV, nhân viên và HS của đơn vị; có quy định về việc truyền thông tin, gửi báo cáo, trao đổi thông tin được phổ biến cụ thể cho cán bộ,
GV, nhân viên và PHHS để thực hiện Trong quá trình thực hiện, cần có những điều chỉnh để đảm bảo tính hoàn thiện của hệ thống
Thông qua hệ thống QL nhà trường kết nối với các tổ chức ban ngành, PH
HS trong việc trao đổi thông tin để góp phần QL tốt hoạt động GD, HĐDH của nhà trường góp phần tạo sự gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội
- Ban đại diện cha mẹ HS là tổ chức đại diện cho tất cả cha mẹ HS, là cầu nối giữa nhà trường và cha mẹ HS, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường vai trò cha mẹ HS có tác động không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng GD Đặc biệt ngày nay, HT cần phát huy tinh thần dân chủ trong trường học, tôn trọng ý kiến đóng góp của cha mẹ HS và vài trò của Ban đại diện cha mẹ HS vào việc giám sát, kiểm tra các hoạt động DH cũng như hoạt động GD và thực hiện công khai, minh bạch việc huy động, sử dụng các nguồn quỹ do PHHS đóng góp, tạo niềm tin của nhân dân đối với nhà trường
HT nhà trường phải chỉ đạo công tác tuyên truyền cho PHHS hiểu về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của họ; QL công tác phối hợp GVCN với Đội Thiếu
Trang 36niên Nhi đồng Hồ Chí Minh tuyên truyền cho HS nhận thức đúng đắn động cơ học tập, từ đó giúp HS tự giác, tích cực và chủ động hơn trong học tập
Nhà trường có nhiệm vụ thường xuyên cập nhật và phổ biến những chính sách, quy định mới liên quan đến cấp học, liên quan đến quyền, nghĩa vụ của phụ huynh để họ hiểu và tích cực phối hợp thực hiện
1.5 Các yếu tố ảnh hướng đến QL HĐDH 2 buổi/ngày
1.5.1 Yếu tố chủ quan
Con người luôn đóng vai trò quyết định chất lượng, hiệu quả mọi hoạt động
của tổ chức, đơn vị Các yếu chủ quan ảnh hướng đến QL HĐDH 2 buổi ngày là
nguồn nhân lực của nhà trường đầu tư cho HĐDH Đó là thái độ, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và những kỹ năng cơ bản khác đối với từng nhiệm vụ cụ thể của CBQL và đội ngũ GV, nhân viên trong nhà trường tác động đến chất lượng, hiệu quả HĐDH nói chung, DH 2 buổi/ngày nói riêng
1.5.1.2 Chất lượng đội ngũ
Đội ngũ là lực lượng sản xuất trong trường học Nghị quyết 29 đã khẳng
định: “GV là nhân tố quyết định chất lượng GD và được xã hội tôn vinh, GV phải
có đủ đức, tài” [14] Chất lượng đội ngũ được nâng cao khi họ thực sự muốn học tập, cống hiến, lao động Đặc biệt thông qua các hoạt động thực tiễn, bằng sự trải nghiệm, suy ngẫm để có thể tự học, tự bồi dưỡng Tự giác nâng cao năng lực và tự giác đem hết khả năng, năng lực bản thân vào công việc của đội ngũ có được khi họ xác định đúng trách nhiệm của bản thân đối với trọng trách người làm công tác GD
Trang 37Để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV, HT phải quan tâm thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ
1.5.2 Yếu tố khách quan
Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của ngành, chính quyền các cấp, điều kiện
KT-XH địa phương là yếu tố khách quan quan trọng ảnh hướng đến QL HĐDH; điều kiện CSVC, phương tiện DH cũng là yếu tố khách quan ảnh hướng trực tiếp đến việc
tổ chức, duy trì HĐDH 2 buổi ngày và chất lượng DH, chất lượng GD Ngoài ra còn
có các yếu tố khác có thể ảnh hướng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HĐDH
Các yếu tố khách quan luôn tồn tại hai mặt của một vấn đề, thuận lợi này sẽ dẫn đến khó khăn khác và ngược lại Nhà QL cần biết phát huy ưu điểm, hạn chế, khó khăn để QL HĐDH đạt hiệu quả cao
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ việc khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề, đến hệ thống hóa các khái niệm
cơ bản về QL, QL GD, QL trường học, HĐDH, HĐDH 2 buổi/ngày, QL HĐDH
2 buổi/ngày và một số đặc trưng cơ bản của HĐDH, công tác QL HĐDH
2 buổi/ngày ở trường TH, chúng tôi cho rằng:
HĐDH 2 buổi/ngày và QL HĐDH 2 buổi/ngày ở trường TH trong giai đoạn hiện nay là vấn đề có tính chất quyết định sự phát triển của GD TH, phù hợp với công cuộc đổi mới GD
Để nâng cao chất lượng HĐDH 2 buổi/ngày nói chung, QL HĐDH
2 buổi/ngày nói riêng, đòi hỏi HT nhà trường TH phải nắm vững kiến thức về lý luận QL, có năng lực QL, năng lực sư phạm và có phẩm chất đạo đức mẫu mực trong sáng, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có uy tín với đội ngũ, HS, phụ huynh, tâm huyết với nghề nghiệp
Những vấn đề lý luận trên đây là cơ sở để tác giả nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp QL HĐDH 2 buổi/ngày ở các trường TH TP Đông Hà, tỉnh Quảng
Trị hiện nay
Trang 38CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 2 BUỔI/NGÀY
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1 Vài nét về tình hình KT - XH, GD&ĐT TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
2.1.1 Tình hình KT-XH TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Thị xã Đông Hà được công nhận đô thị loại III từ ngày 11 tháng 8 năm 2009 theo Nghị quyết số 33/NQ - CP của Chính phủ TP Đông Hà được thành lập, đánh dấu bước trưởng thành và phát triển có những nét khởi sắc mới của đô thị trẻ, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh Quảng Trị, có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu với các tỉnh trong cả nước, các huyện, thị trong tỉnh qua Quốc lộ
1, Quốc lộ 9, đồng thời nằm trong tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, là tuyến đường bộ nối với các nước Lào, Thái Lan, Myama… qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, cách khoảng 80 km về phía Tây
Đông Hà có vị trí giữa trung tâm của tỉnh, nằm ở tọa độ 160007’53”-
160052’22’’ vĩ độ Bắc, 107004’24” - 1070 07’24’’ kinh độ Đông; phía Bắc giáp
huyện Gio Linh, Cam Lộ; phía Nam giáp huyện Triệu Phong; phía Đông giáp huyện
Triệu Phong, Gio Linh; phía Tây giáp huyện Cam Lộ; có tổng diện tích tự nhiên
72.96 km2 được chia thành 9 phường: Phường 1, 2, 3, 4, 5, Đông Giang, Đông Thanh, Đông Lương và Đông Lễ Quy mô dân số khoảng 92.000 đến 93.000 người; dân cư phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung các phường nội thị, phường 1 đông dân nhất, mật độ 9032 người/km2; phường 3 mật độ thấp nhất 292 người/km2
TP Đông Hà có tiềm năng phát triển thương mại, dịch vụ công nghiệp, nông nghiệp ven đô Sau khi được nâng cấp lên đô thị loại III, được sự đầu tư của Nhà nước, của Tỉnh cơ sở hạ tầng đô thị được cải thiện lên một bước; các khu, cụm công nghiệp, khu thương mại, dịch vụ tiếp tục thu hút đầu tư và đang phát huy tác dụng Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của TP đạt khá, năm sau luôn cao hơn năm trước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế chung toàn Tỉnh Bình quân tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế giai đoạn 2010 - 2015 đạt 11,59%; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ 123,7 tỷ đồng năm 2010 lên 264,2 tỷ đồng năm 2015, bình quân tăng 16,37%/năm Mức sống của dân cư trên địa bàn không ngừng được tăng lên, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Đó là nền tảng cơ bản tạo đà để Đông Hà phát triển
Mặc dù có tốc độ phát triển cao so với toàn tỉnh, nhưng tốc độ tăng trưởng của Đông Hà chưa thật sự bền vững; chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành kinh tế còn
Trang 39chậm; sản phẩm du lịch, dịch vụ còn hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng Nông nghiệp chưa phát triển toàn diện, chất lượng và hiệu quả kinh tế thấp Thu ngân sách chưa thực sự vững chắc, tình trạng nợ đọng thuế vẫn còn cao Chi đầu tư phát triển còn phụ thuộc vào nguồn thu từ quỹ đất, đầu tư của Trung ương và Tỉnh Huy động vốn đầu tư phát triển còn gặp nhiều khó khăn, nhất là huy động nguồn vốn từ ngân sách, chưa đáp ứng được tiến trình xây dựng TP đạt đô thị loại II đến năm
2020 [Kế hoạch KT-XH TP Đông Hà 2016 - 2020]
TP Đông Hà là đô thị trẻ vẫn còn rất nhiều những khó khăn, thách thức Cơ
sở hạ tầng đô thị mới được nâng cấp, chưa hoàn thiện, tiềm lực kinh tế còn hạn chế, tốc độ tăng trưởng chưa cao so với yêu cầu phát triển mới Thu nhập của dân cư trên địa bàn chưa tương xứng với mức bình quân của một số đô thị phát triển trong khu vực miền Trung và trong cả nước Việc xây dựng đời sống văn hóa, nếp sống văn minh đô thị chuyển biến còn chậm, các phong trào tự nguyện tự quản có lúc có nơi còn hình thức, hiệu quả chưa cao Kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, ý thức vươn lên làm giàu, chủ động thoát nghèo của người dân còn yếu Ý thức bảo vệ môi
trường còn hạn chế, môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm [Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển TP Đông Hà đến năm 2020]
Để định hướng, quy hoạch phát triển TP trong giai đoạn 2016 - 2020 và thời gian tiếp theo, UBND TP Đông Hà đã có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và các
kế hoạch thực hiện Trong đó, Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển
KT-XH TP Đông Hà đến năm 2020 và Kế hoạch phát triển KT-KT-XH 5 năm 2016 - 2020,
TP Đông Hà quyết tâm xây dựng trở thành đô thị loại II trước 2020, xứng đáng là
đô thị trung tâm tỉnh lỵ trong giai đoạn phát triển mới
2.1.2 Khái quát chung về GD&ĐT TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Trong những năm qua, sự nghiệp GD&ĐT TP Đông Hà đã đạt được kết quả khá toàn diện, xứng đáng là lá cơ đầu trong ngành GD&ĐT toàn tỉnh Để có được kết quả đó, ngành GD&ĐT TP luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, UBND TP về CSVC, đội ngũ và các điều kiện để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ GD của ngành Đặc biệt với quyết tâm cao của lãnh đạo, CBQL, GV, nhân viên, ngành GD TP đã không ngừng nỗ lực xây dựng
và thực hiện thành công các chiến lược, đề án phát triển GD TP, xứng đáng là GD
đô thị, trung tâm tỉnh lỵ của Tỉnh
Đến nay, GD&ĐT TP Đông Hà có quy mô mạng lưới trường lớp phát triển đều khắp các địa bàn phường với nhiều cấp học, bậc học và các loại hình trường công
Trang 40cấp học: Mầm non, TH, Trung học cơ sở; trường Trung học phổ thông có 04: Trường Trung học phổ thông Chuyên Lê Quý Đôn, Trung học phổ thông Lê Lợi, Trung học phổ thông Đông Hà, Trung học phổ thông Phan Châu Trinh Hệ thống trường Cao đẳng, Đại học có 04: Trường Cao đẳng Sư phạm, Trường Cao đẳng Nông Nghiệp, Trường Cao đẳng Y tế và Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị
Năm học 2015 - 2016, Phòng GD&ĐT TP Đông Hà có 42 trường trực thuộc:
18 trường Mầm non, 15 trường TH, 9 trường Trung học cơ sở; có 8 lớp Mầm non
và 35 nhóm trẻ độc lập Trong đó:
- Mầm non: Tổng số huy động 5006 cháu/201 nhóm, lớp; nữ 2212 cháu Tỉ
lệ huy động trẻ từ 0 - 5 tuổi đạt 58,7%
- TH: Số HS huy động đầu năm 7956 em/231 lớp; duy trì 7950 em/231 lớp,
nữ 3831 em; có 15/15 trường tổ chức DH 2 buổi ngày với 6873 HS/214 lớp Tỉ lệ huy động đạt 99,6%; học đúng độ tuổi là 96,6%
- Trung học cơ sở: Số HS huy động đầu năm 5537em/140 lớp; duy trì 5526 em/140 lớp, nữ 2720 em; Tỉ lệ huy động đạt 99,4%; học đúng độ tuổi đạt 96,02%
(Trích Báo cáo sơ kết học kì 1, năm học 2015 - 2016, Phòng GD&ĐT)
Đội ngũ CBQL, GV toàn ngành có trình độ đạt chuẩn 100%, cơ bản đủ về cơ cấu Chất lượng đội ngũ CBQL, GV, nhân viên ngày càng được nâng cao về cả chất lượng và số lượng, đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD hiện nay
Bảng 2.1: Thống kê số lượng CBQL, GV, nhân viên của 3 cấp học TP Đông Hà
(Tháng 6/2016)
Cấp học
Tổng số CBQL, GV, nhân viên