1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Biện pháp quản lý công tác xây dựng xã hội học tập ở thành phố long xuyên, tỉnh an giang

117 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn “Biện pháp quản l công tác xây dựng xã hội học tập ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang”, tôi đã nhận được r

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN NGỌC HƯƠNG

BIỆN PHÁP QUÂN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP

Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Phan Ngọc Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn “Biện pháp

quản l công tác xây dựng xã hội học tập ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang”, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện thuận lợi của qu lãnh đạo các cấp, qu thầy cô giáo, bạn bè và gia đình

Hôm nay luận văn đã được hoàn thiện, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến với: Qu thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian học tập ở lớp Cao học Quản l Giáo dục khóa XXV; lãnh đạo và phòng ban chuyên môn của

Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh An Giang; lãnh đạo Ủy ban Nhân dân, Phòng Giáo dục

và Đào tạo, Hội Khuyến học thành phố Long Xuyên

Đặc biệt, xin tri ơn sâu sắc đến PGS, TS Trần Văn Đạt - Người Thầy, Người

hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận văn này

Sau cùng, xin cám ơn gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, đóng góp kiến, cung cấp tài liệu và hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiện cứu để hoàn thiện luận văn

Bản thân chưa có điều kiện nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực Giáo dục, nên ngay khi bắt đầu quá trình học tập đã gặp nhiều khó khăn nhưng với quyết tâm và

nỗ lực phấn đấu, tôi đã hoàn thành chương trình học tập và có điều kiện thực hiện luận văn này Luận văn chắc chắn sẽ còn rất nhiều thiết sót, rất mong nhận được kiến đóng góp, chỉ dẫn và giúp đỡ của qu thầy cô để luận văn hoàn thiện hơn

Thừa Thiên Huế, tháng 5 năm 2018

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ 5

MỞ ĐẦU 6

1 L do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9

4 Giả thuyết khoa học 9

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 9

7 Những đóng góp của luận văn 10

8 Cấu trúc luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1 CƠ SỞ L LUẬN VỀ DỰNG HỘI HỌC TẬP 11

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 11

1.1.1 Vấn đề xây dựng xã hội học tập trong một số nghiên cứu trên thế giới 11

1.1.2 Vấn đề xây dựng xã hội học tập trong một số nghiên cứu ở Việt Nam 13

1.2 Một số khái niệm cơ bản 15

1.2.1 Xã hội học tập và xây dựng xã hội học tập 15

1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý công tác xây dựng xã hội học tập 16

1.3 Một số vấn đề l luận về công tác xây dựng xã hội học tập và quản l công tác xây dựng xã hội học tập 19

1.3.1 Lý luận về công tác xây dựng xã hội học tập 19

1.3.2 Lý luận về quản lý công tác xây dựng xã hội học tập 26

Tiểu kết Chương 1 29

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN L CÔNG TÁC ỰNG HỘI HỌC TẬP Ở THÀNH PHỐ LONG U ÊN, TỈNH AN GIANG 31

Trang 5

2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục của thành phố Long

Xuyên, tỉnh An Giang 31

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 31

2.1.3 Tình hình giáo dục ở thành phố Long Xuyên 33

2.2 Khái quát quá trình khảo sát thực trạng 40

2.2.1 Mục đích khảo sát 40

2.2.2 Địa bàn khảo sát và mẫu 40

2.3 Thực trạng công tác xây dựng xã hội học tập của thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 41

2.3.1 Việc triển khai các văn bản chỉ đạo công tác xây dựng xã hội học tập của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương 41

2.3.2 Hoạt động duy trì kết quả chống mù chữ, phổ cập giáo dục 42

2.3.3 Hoạt động củng cố và phát triển Trung tâm giáo dục thường xuyên 44

2.3.4 Công tác xây dựng, phát triển các trung tâm học tập cộng đồng 46

2.3.5 Công tác chỉ đạo, triển khai các hoạt động khuyến học 49

2.3.6 Công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục 52

2.3.7 Nhận thức của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, nhân dân và cán bộ quản lý giáo dục thành phố về công tác xây dựng xã hội học tập 54

2.4 Thực trạng quản l công tác xây dựng xã hội học tập của thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 63

2.4.1 Nhận thức về chủ thể quản lý công tác xây dựng XHHT 63

2.4.2 Thực trạng quản lý công tác xây dựng xã hội học tập của thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 64

2.5 Nhận định, đánh giá chung về thực trạng quản l công tác xây dựng xã hội học tập của thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 68

2.5.1 Mặt mạnh 68

2.5.2 Mặt yếu 70

2.5.3 Cơ hội 71

2.5.4 Thách thức 72

Tiểu kết Chương 2 73

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN L CÔNG TÁC DỰNG HỘI HỌC TẬP Ở THÀNH PHỐ LONG U ÊN, TỈNH AN GIANG 74

Trang 6

3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 74

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý và tính khoa học 74

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 74

3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ 74

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 74

3.2 Biện pháp xây dựng xã hội học tập ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 75

3.2.1 Nâng cao nhận thức về mục đích, nghĩa, vai trò, lợi ích của việc xây dựng xã hội học tập 75

3.2.2 Tổ chức các hoạt động học tập suốt đời thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, câu lạc bộ 78

3.2.3 Củng cố, phát triển mạng lưới các trung tâm học tập cộng đồng, giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục chính quy làm nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, các trung tâm, cơ sở ngoại ngữ, tin học và dạy nghề, trung tâm bồi dưỡng chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ 81

3.2.4 Đẩy mạnh hình thức học từ xa, học qua mạng ở các cơ sở giáo dục và đào tạo, đặc biệt là ở các cơ sở giáo dục đại học ngoài tỉnh đặt trạm tại tỉnh An Giang 86

3.2.5 Triển khai các biện pháp hỗ trợ người học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập suốt đời 87

3.2.6 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình xây dựng xã hội học tập 88

3.2.7 Lồng ghép với các kế hoạch, đề án, dự án, các chương trình mục tiêu đã và đang triển khai ở Trung ương và địa phương 89

3.2.8 Tăng cường hợp tác quốc tế để tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế về xây dựng xã hội học tập 90

3.3 Mối quan hệ của các biện pháp 91

3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 91

Tiểu kết Chương 3 92

KẾT LUẬN VÀ KHU ẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Khuyến nghị 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1 Thống kê số lượng các cơ sở giáo dục tại thành phố Long Xuyên 34

Bảng 2.2 Thống kê số lượng trường, lớp, giáo viên và học sinh tại thành phố Long Xuyên 35

Bảng 2.3 Thống kê kết quả huy động học sinh mầm non 38

Bảng 2.4 Thống kê kết quả huy động học sinh tiểu học 38

Bảng 2.5 Thống kê kết quả chống mù chữ, phổ cập giáo dục thành phố Long Xuyên 43

Bảng 2.6 Quy mô đào tạo giai đoạn 2013 - 2017 46

Bảng 2.7: Nhận thức về khái niệm XHHT 54

Bảng 2.8 Nhận thức tầm quan trọng của công tác xây dựng XHHT 55

Bảng 2.9 Nhận thức về nhiệm vụ xây dưng XHHT (nhóm 1) 56

Bảng 2.10 Nhận thức về mục tiêu xây dựng XHHT (nhóm 1) 57

Bảng 2.11 Nhận thức về chủ thể xây dựng XHHT 57

Bảng 2.12 Nhận thức về nghĩa của việc xây dựng XHHT 59

Bảng 2.13: Nhận thức về những thuận lợi và khó khăn (nhóm 1) 60

Bảng 2.14 Khảo sát kết quả xây dựng XHHT ở thành phố Long Xuyên 61

Bảng 2.15: Kết quả khảo sát nhu cầu học tập của người dân (nhóm 2) 62

Bảng 2.16: Khảo sát nhận thức về chủ thể quản l công tác xây dựng XHHT 63

Bảng 2.17: Khảo sát về thực trạng quản l việc lập kế hoạch thực hiện 64

Bảng 2.18: Khảo sát về thực trạng quản l việc tổ chức, xây dựng bộ máy điều hành 65

Bảng 2.19 Khảo sát về thực trạng quản l việc chỉ đạo điều hành 65

Bảng 2.20 Khảo sát về thực trạng quản l công tác tạo động lực, kích thích, động viên 66

Bảng 2.21 Khảo sát về thực trạng quản l công tác kiểm tra, giám sát 67

Bảng 2.22 Khảo sát về thực trạng quản l công tác đánh giá, sơ, tổng kết 68

Bảng 3.1 Tổng hợp kiến đánh giá về tính hợp l và khả thi của các biện pháp 91

Biểu đồ 2.1 Kết quả khảo sát nhận thức về tầm quan trọng của công tác xây dựng XHHT 56

Biểu đồ 2.2 Đánh giá kết quả công tác xây dựng XHHT của thành phố 62

Sơ đồ 1.1: Mô hình QLGD 18

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các nội dung quản l công tác xây dựng XHHT 28

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn ề t i

Sự phát triển của nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, đã làm thay đổi căn bản tư duy kinh tế, chính trị - xã hội trên phạm vi toàn thế giới theo xu hướng hội nhập cùng phát triển Toàn cầu hóa cũng tạo ra những điều kiện thúc đẩy, giao lưu, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao và tiếp cận công nghệ tiên tiến Để phát triển bền vững, nhiều nước trên thế giới xem

GD là chìa khoá vàng để tiến vào tương lai Từ những năm cuối của thế kỷ XX, nhiều nước phát triển (Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Úc, Nhật…) đã công bố chiến lược phát triển KT - XH, mà hạt nhân của các chiến lược đó là tiến hành cải cách GD nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại Đối với Việt Nam, sự nghiệp GD có vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng con người, chiến lược phát triển KT - XH của đất nước Chăm lo phát triển GD&ĐT là chìa khóa vạn năng để phát huy nguồn nhân lực con người, là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh, bền vững Nghị quyết Đại

hội Đại biểu toàn Quốc lần thứ VIII về GD&ĐT nhấn mạnh: “ cùng với khoa học

và công nghệ, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [10]

Trong thế kỷ XXI, nền kinh tế công nghiệp đang chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn thế giới, trong điều kiện tri thức nhân loại phát triển vượt bậc, cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục đạt được những thành tựu kỳ diệu Do

đó nhiều quốc gia đã có chiến lược xây dựng XHHT trong đó mọi người dân đều có

cơ hội, có điều kiện học tập và ai cũng học suốt đời Thời gian gần đây, việc xây dựng và phát triển XHHT đã trở thành xu thế lớn ở nhiều quốc gia trên thế giới Trong xu thế đó, Đảng ta đã sớm khẳng định ngay trong giai đoạn CNH - HĐH đất nước, Việt Nam đã phải xây dựng XHHT

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII trình trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh: “Coi phát triển GD&ĐT, khoa học

và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH - HĐH” và “Tiếp tục nâng cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản l GD”; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học

Trang 10

tập trong nhân dân bằng những hình thức GD chính quy và không chính quy, thực hiện “GD cho mọi người”, “cả nước trở thành một XHHT” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiến thêm một bước khẳng định: “chuyển dần mô hình GD hiện nay sang

mô hình GD mở - mô hình XHHT” Vừa qua, Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: “Đẩy mạnh xây dựng XHHT, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” [13, tr55]

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng XHHT tạo điều kiện cho mọi người dân được học tập suốt đời, năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

Đề án Xây dựng XHHT giai đoạn 2005 - 2010 Qua 5 năm triển khai thực hiện, đề án

đã đạt được những thành tích đáng kể, tuy nhiên còn nhiều mục tiêu chưa đạt Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những tồn tại yếu kém trong quá trình xây dựng XHHT, đến nay Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 phê duyệt Đề án “Xây dựng XHHT giai đoạn 2012 - 2020” Để triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng XHHT giai đoạn 2012 - 2020” của Chính phủ, tỉnh An Giang đã ban hành Kế hoạch “Xây dựng XHHT tỉnh An Giang giai đoạn 2013 - 2020” Đề án nhấn mạnh: (1) XHHT là một xã hội trong đó mọi cá nhân đều phải học tập thường xuyên, học suốt đời, tận dụng triệt để các cơ hội học tập do xã hội cung cấp nhằm mục tiêu: “Học để làm người công dân tốt, học để có nghề và lao động với hiệu quả ngày càng cao, học để cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc, học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại”; do đó, học tập phải trở thành nhu cầu tự thân, là trách nhiệm của mỗi người và của toàn dân, nội dung này cần được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước; (2) Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ nhằm tạo cơ hội học tập và điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời; (3) Xây dựng XHHT tạo điều kiện cho mọi người được học tập suốt đời là chìa khóa của phát triển KT - XH, là mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển GD; và (4) Xây dựng XHHT dựa trên nền tảng phát triển KT - XH, thức tự giác của cộng đồng xem đó là quyền lợi gắn liền với đời sống xã hội; đồng thời, gắn kết và liên thông giữa GD chính quy và GDTX; đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường;

ưu tiên các đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi [31, tr5] Trong những năm qua, việc xây dựng thành phố Long Xuyên trở thành một XHHT được dựa trên nền tảng phát triển, đồng thời gắn kết liên thông cả hai bộ phận

Trang 11

cấu thành đó là: GD chính quy và GDTX của hệ thống GD quốc dân, trong đó GDTX

và trung tâm HTCĐ - với vị trí là cơ sở GDTX của cộng đồng dân cư ở phường, xã thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi công dân, đây sẽ là một bộ phận có chức năng quan trọng, làm tiền đề để xây dựng XHHT

Việc xây dựng XHHT ở thành phố Long Xuyên đã đạt được những thành tựu quan trọng: Quy mô, mạng lưới GD đào tạo có bước phát triển nhanh; Tất cả phường, xã của thành phố Long Xuyên đều có trường MN, TH, THCS và trung tâm HTCĐ, đáp ứng tốt yêu cầu học tập đa dạng của nhân dân; Quy mô đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đã có bước phát triển; cơ sở vật chất trường, lớp từng bước được chuẩn hóa, hiện đại hóa; Chất lượng GD ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ; Công tác quản l GD có chuyển biến tích cực và đội ngũ nhà giáo và quản l GD các cấp tăng về SL, từng bước nâng lên về chất lượng Cùng với GD chính quy, GDTX đã góp phần xây dựng XHHT trên địa bàn thành phố Long Xuyên; Tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho mọi người, mọi lứa tuổi được học

ở mọi trình độ; Mọi người đều được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời; Việc học được tổ chức ở mọi nơi, mọi lúc Việc xây dựng XHHT bước đầu huy động sức mạnh của toàn xã hội; Mọi người, mọi tổ chức ngày càng có trách nhiệm

và nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích cực xây dựng XHHT

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, việc xây dựng XHHT tại thành phố Long Xuyên vẫn còn một số hạn chế, bất cập Nhận thức của một bộ phận các ban ngành, tổ chức, đoàn thể và người dân về mục đích, nghĩa, tác dụng và ích lợi của việc xây dựng XHHT còn hạn chế, do sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền ở một số nơi đối với việc xây dựng XHHT còn chưa thường xuyên, thiếu cụ thể; công tác tuyên truyền chưa được quan tâm Tuy đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng XHHT cấp thành phố nhưng chưa phát huy được vai trò, trách nhiệm của các ban ngành, đoàn thể và các doanh nghiệp trong quá trình xây dựng XHHT Công tác quản l , chỉ đạo và tạo điều kiện cho các trung tâm HTCĐ hoạt động chưa được quan tâm ở nhiều địa phương

Xuất phát từ những l do trên, nên tôi chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Biện pháp qu n công tác xây dựng xã hội học tập ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang”

Trang 12

2 Mục ích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu l luận, khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xây dựng XHHT và thực trạng quản l công tác xây dựng XHHT, nghiên cứu này sẽ đề xuất biện pháp quản l công tác xây dựng XHHT tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

3 Khách thể v ối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Xây dựng XHHT

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản l công tác xây dựng XHHT tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

4 Giả thuyết khoa học

Việc xây dựng XHHT tại thành phố Long Xuyên sẽ được phát triển nếu áp dụng đồng bộ các biện pháp quản l mang tính khoa học, thực tiễn và khả thi được

đề xuất trong nghiên cứu này

5 Nhiệm vụ v phạm vi nghiên cứu

5 1 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.1 Nghiên cứu các vấn đề l luận về vấn đề xây dựng XHHT

5.1.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xây dựng XHHT và quản l công tác xây dựng XHHT tại thành phố Long Xuyên

5.1.3 Đề xuất một số biện pháp quản l hợp l , khả thi góp phần đẩy mạnh công tác xây dựng XHHT ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay

5 2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về một số biện pháp quản l công tác xây dựng XHHT tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu l luận: đọc, phân tích tổng hợp các tài liệu tham khảo, các văn bản pháp quy về chủ trương, quan điểm của Đảng, của các nghiên cứu liên quan để làm cơ sở l luận cho đề tài

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: thông qua quan sát, theo dõi, kiểm tra, tổng kết kinh nghiệm

6.3 Nhóm các phương pháp toán học: Phương pháp toán học, phương pháp thống kê toán học, tính tỉ lệ phần trăm để xử l số liệu nghiên cứu

Trang 13

7 Những óng góp của luận văn

7.1 Về mặt l luận

7.2 Về mặt thực tiễn

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc của luận văn gồm

có 3 Chương:

Chương 1: Cơ sở l luận về xây dựng XHHT

Chương 2: Thực trạng quản l công tác xây dựng XHHT ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Chương 3: Biện pháp quản l công tác xây dựng XHHT ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ L LUẬN VỀ DỰNG HỘI HỌC TẬP

1 1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn ề

1.1.1 Vấn đề xây dựng xã hội học tập trong một số nghiên cứu trên thế giới

Xã hội loài người đang có những thay đổi quan trọng, ở đó trí thức đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khoa học công nghệ cùng với công nghệ thông tin đang có bước phát triển như vũ bão, ngày càng xâm nhập sâu vào các ngõ ngách của cuộc sống, làm cho tốc độ phát triển của các quốc gia có những thay đổi về chất Một giai đoạn mà sự phát triển đòi hỏi rất cao về mặt trí tuệ, hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm hàng hóa, dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng lớn Nếu trước đây quốc gia nào nắm giữ nguồn tài nguyên, vật chất dồi dào quốc gia đó nắm phần quyết định sự phát triển, thì ngày nay không hoàn toàn như vậy Thực tế đã chứng minh quốc gia nào chăm lo phát triển trí tuệ, có nền học vấn cao thì chiếm ưu thế, tài nguyên và vật chất đang bị đẩy xuống hàng thứ yếu Trong số các quốc gia mới vươn lên không có nước nào không phát triển GD, khuyến khích học tập, chăm

lo bồi dưỡng nhân tài

Trước bối cảnh đó, các quốc gia trên thế giới đã nhận thức lại về GD trên tất

cả phương diện: mục tiêu, nội dung và phương pháp GD GD truyền thống đã có từ hàng ngàn năm nay không còn phù hợp nữa Trước đây, GD chỉ cần có một trình độ nào đó là đủ, độ tuổi đến trường chỉ ở một độ tuổi nhất định thì nay phải thay đổi: học không bao giờ đủ, có bằng cấp cao vẫn phải học, học không chỉ một nghề, học không chỉ ở trường lớp, sự học không hạn chế tuổi tác, hình thức học không chỉ ở trường lớp… Vì vậy, quan niệm về XHHT ra đời với nhiều nội dung rất mới, nhằm đáp ứng được sự phát triển của xã hội, nhu cầu cuộc sống và nhu cầu tự thân của mỗi thành viên trong xã hội

Ủy ban Quốc tế về GD thế kỷ XXI - UNESCO (The United Nations Educational, Scientific an Cultural Organization), cử người đứng đầu là ông Jacques Delors có nhiệm vụ nghiên cứu về những thách thức mà GD phải vượt qua nhằm gợi và khuyến nghị các nhà hoạch định đề ra chính sách GD thế kỷ XXI ở cấp độ quốc gia và phạm vi toàn cầu Sau một thời gian nghiên cứu, Jacques Delors đã công bố một công trình nghiên cứu mang tên: “Học tập: Một kho báu bí ẩn” [22]

Trang 15

Sau đó, Ủy ban quốc tế về GD thế kỷ XXI đã sử dụng và phát triển các tưởng nêu trong “Học để tồn tại” của Edgar Faure, đặc biệt là hai quan niệm: Học tập suốt đời

và XHHT theo cách tiếp cận mới Từ đó, Ủy ban đã khuyến nghị về “Bốn trụ cột của GD thế kỷ XXI” (học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định); “coi GD liên tục, suốt đời là chìa khóa mở cửa đi vào thế kỷ XXI” và “buộc nền GD phải định hướng lại theo GD suốt đời”; “xã hội thông tin gắn với XHHT” trong thời đại internet; “GD suốt đời gắn với một quan niệm khác tiên tiến hơn, đó chính là quan niệm về một XHHT, ở đó tất cả mọi thứ điều có thể tạo ra cơ hội học tập và phát triển tiềm năng con người” [22]

Xây dựng xã hội thành XHHT đang trở thành một trào lưu của thế giới trong giai đoạn bước vào thế kỷ XXI Hội nghị thượng đỉnh G8 (Ookinawa, Nhật Bản, tháng 7 năm 2000), nguyên thủ tướng các thành viên cho rằng: “Sự thách thức đối với mỗi nước là phải trở thành một XHHT và phải đảm bảo cho công dân của mình được trang bị kiến thức, kỹ năng và tay nghề cho thế kỷ mới” Sau Hội nghị G8, Nhật Bản đã xác định mục đích xây dựng XHHT là nhằm vào sự chuyển đổi xã hội

từ định hướng mạnh vào bằng cấp hiện nay, sang xã hội đề cao giá trị học hỏi ở mọi nơi, mọi lúc, mọi mặt, bất chấp có bằng cấp đi kèm hay không, tạo ra cơ hội rộng rãi để người dân tiếp cận ngày càng nhiều đến các loại hình học tập, giúp làm phong phú cuộc sống và trí tuệ, tạo điều kiện cho người dân tiếp tục học tập để phản ứng kịp thời với các thay đổi nhanh chóng hiện nay về mặt xã hội, kinh tế và công nghệ Tháng 12/2003, Hội nghị của UNESCO họp ở Giơnevơ đã gắn XHHT với xã hội thông tin, xã hội tri thức Từ đó các đại biểu dự hội nghị đã đi tới thống nhất XHHT, xã hội tri thức, xã hội thông tin đều đặt con người vào vị trí trung tâm, đều tập trung vào con người, tạo điều kiện cho con người phát triển bền vững và là điều kiện của mọi sự phát triển KT - XH

Hoạt động và định hướng phát triển GD của nhiều nước như Mỹ, Canada, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đều coi XHHT là mô hình của GD trong một xã hội đang thay đổi Singapore đề ra: “Nhà trường tư duy, quốc gia học tập” Mục tiêu GD của Thái Lan trong kỷ nguyên toàn cầu hóa là xây dựng XHHT đồng thời ban hành “Luật thiết lập nền GD suốt đời” vào năm 1999 Đài Loan đưa ra chính sách “Tiến tới xây dựng XHHT” và công bố năm 1998 là “năm học tập suốt đời cho mọi người” Hàn Quốc xây dựng ban hành luật GD mới - Luật GD suốt đời vào năm 1999 …[2, tr.55]

Trang 16

Từ những kết quả nghiên cứu trên, xây dựng nền GD mới tiếp cận học suốt đời tiến tới XHHT đã trở thành xu thế thời đại của nhân loại bước vào thế kỷ XXI Mặc dù, cho đến nay các nhà l luận GD trên thế giới chưa đạt được sự thống nhất

về nội hàm của khái niệm XHHT, nhưng trong thực tiễn GD ở một số nước đang hoàn thiện hoặc chuyển nền GD nước mình tiến tới XHHT

1.1.2 Vấn đề xây dựng xã hội học tập trong một số nghiên cứu ở Việt Nam

Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” Nước nhà đã giành được độc lập, nhưng Bác nhận ra hơn 95% số dân ta mù chữ, thất học, đó là một quốc nạn và cho rằng

“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, và Người ra lời kêu gọi diệt giặc dốt [23, tr31]

Có thể xác định mầm mống đầu tiên của tư tưởng xây dựng XHHT ở nước ta bắt đầu từ việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã k 3 sắc lệnh về chống nạn thất học vào ngày 08/9/1945 đó là: Sắc lệnh 17/SL: Đặt ra Nha Bình dân học vụ trên toàn cõi Việt Nam; Sắc lệnh 19/SL: Thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối và Sắc lệnh 20/SL: Quy định việc học chữ quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người Hạn trong một năm, toàn thể quần chúng Việt Nam trên 8 tuổi đều phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Tư tưởng về XHHT đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ qua Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học (10/1945): “… Những người biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ… Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi Vợ chưa biết chữ thì chồng bảo, em chưa biết chữ thành anh bảo, cha mẹ chưa biết chữ thì con bảo, người ăn người làm chưa biết chữ thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho người chưa biết chữ …” [2, tr98]

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, chủ trương phát triển GD&ĐT

là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, xem việc học tập vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân, ưu tiên phát triển GD cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bằng dân tộc, từng bước thực hiện bình đẳng trong GD

Từ đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển GD, tạo điều kiện để ngày càng có nhiều người học tập, thu hút ngày càng nhiều người tham gia xây dựng GD, hướng tới một XHHT

Trang 17

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ II (khóa VIII) đã ban hành Nghị Quyết “Định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT và nhiệm vụ đến năm 2000”, khẳng định một cách mạnh mẽ vai trò của GD “thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, phát triển GD gắn liền với phát triển KT

- XH” Luật GD năm 2005 ghi rõ: “GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình

độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm,

tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” [29, tr13]

Chiến lược phát triển GD&ĐT giai đoạn 2001 - 2010 nêu: “GD là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, xây dựng XHHT, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, học suốt đời; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD, đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển GD” [5, tr12] Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đặt ra nhiệm vụ cho GD&ĐT là “Tạo được chuyển biến cơ bản về phát triển GD&ĐT” và đòi hỏi GD phải “Đổi mới tư duy GD một cách nhất quán cả về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, cơ cấu,

hệ thống tổ chức, cơ chế quản l ”, để đạt cho được mục tiêu cần “đổi mới toàn diện GD&ĐT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” [13, tr124]

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng XHHT giai đoạn 2005 - 2010” và Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng XHHT giai đoạn 2012 - 2020”, theo đó đã xác định mục tiêu GD cần đạt trong từng giai đoạn đồng thời tập trung vào việc đẩy mạnh các hoạt động học tập trong cộng đồng, việc cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời, tiến tới xây dựng XHHT …

Trong lĩnh vực nghiên cứu về XHHT của các học giả Việt Nam trong thời gian gần đây đã có hàng loạt bài báo, tác phẩm, hội thảo, công trình nghiên cứu của các tác giả như: Vũ Oanh, Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Nguyễn Minh Đường, Phan Đức Thành… bàn về vấn đề XHHT và xây dựng XHHT Vấn đề chính các công trình nghiên cứu mà các tác giả đề cập là: Sự cần thiết phải xây dựng XHHT ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH đất nước; quan niệm về XHHT, từ các phương diện tiếp cận khác nhau; Định hướng phát triển XHHT ở nước ta; các giải pháp và một số bài học kinh nghiệm về xây dựng XHHT; sự khẳng định trung

Trang 18

tâm HTCĐ là hạt nhân, là đơn vị tổ chức học tập của XHHT; Hội Khuyến học làm nồng cốt liên kết các lực lượng xây dựng XHHT… Các nghiên cứu của các tác giả trên chính là những nét phác thảo về XHHT và xây dựng XHHT ở Việt Nam

Ở thành phố Long Xuyên, ngoài những văn bản mang tính định hướng, chỉ đạo, lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, của ngành GD&ĐT và các văn bản triển khai của địa phương về xây dựng XHHT, thì hầu như chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này Cho nên hướng nghiên cứu của chúng tôi là tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận xây dựng XHHT, quản lý công tác xây dựng XHHT gắn với trình độ phát triển KT - XH của địa phương, tìm ra biện pháp quản lý công tác xây dựng XHHT ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Xã hội học tập và xây dựng xã hội học tập

1.2.1.1 Xã hội học tập

Trên thế giới chưa có cá nhân, tổ chức hoặc quốc gia nào đưa ra một khái niệm đầy đủ, toàn diện về XHHT và mô hình XHHT Phần lớn các học giả, các tổ chức chỉ đưa ra những tưởng, những chính sách có tính định hướng cho việc xây dựng một nền GD thỏa mãn nhu cầu học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời của mọi người dân để thích ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế tri thức, của công cuộc cạnh tranh phát triển và hội nhập

Ở Việt Nam, thuật ngữ XHHT lần đầu tiên xuất hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức GD cho mọi người, cả nước trở thành một XHHT” [11, tr35] Gần đây XHHT được đề cập trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy của Ban chấp hành Trung ương khóa IX: “Xây dựng phong trào cả nước trở thành một XHHT, học tập suốt đời, trước hết trong cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ” [12, tr26] Đặc biệt trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Phát huy vai trò giám sát của cộng đồng, khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời” [15, tr132] Theo tác giả Vũ Oanh, XHHT là “Một xã hội vì người học, của người học, do người học, lấy người học và việc học suốt đời làm trung tâm” [24, tr8]

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “XHHT là một xã hội mọi người đều lấy học tập làm một công việc thường xuyên, suốt đời, học trong nhà trường và ngoài nhà trường, học chính quy và không chính quy, như là một phần không thể thiếu

Trang 19

được của đời mình, lấy học tập làm phương pháp tiếp cận của cuộc sống nhằm phát triển con người bền vững - động lực cho toàn bộ sự tiến bộ xã hội” [18, tr4]

Theo tác giả Phạm Tất Dong: “XHHT là xã hội trong đó diễn ra quá trình GDTX, đào tạo liên tục, học tập suốt đời XHHT là tiền đề của việc chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức và khi kinh tế tri thức có vai trò chính như một động lực thúc đẩy xã hội tiến lên thì XHHT mới đích thực là một xã hội có

sự học tập suốt đời” [8, tr3]

Tác giả Nguyễn Minh Đường thì quan niệm về XHHT là: Xã hội “Mọi người đều phải học, mọi loại hình lao động đều phải học thường xuyên, học suốt đời, học bằng nhiều hình thức để có thể lao động và sống trong các điều kiện mới của quá trình CNH - HĐH” [17, tr5]

Từ việc trình bày khái niệm XHHT theo quan niệm của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng tôi cho rằng: XHHT về bản chất là một xã hội mà trong đó mọi người đều được học, học thường xuyên, học suốt đời và mọi lực lượng xã hội đều

có trách nhiệm tạo cơ hội học tập cho mọi người dân, hướng tới mục đích là học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định Như vậy, khi nói đến XHHT phải chú đến cả hai đặc trưng quan trọng của nó, là: “GD cho mọi người”

và “Mọi người cho GD”

1.2.1.2 Xây dựng xã hội học tập

Xây dựng XHHT là hoạt động nhằm hình thành một xã hội có sự gắn kết chặt chẽ giữa học tập ban đầu trong nhà trường với học tập suốt đời bên ngoài nhà trường, giữa GD với phát triển KT - XH, mọi người có nhu cầu đều được học tập thường xuyên, suốt đời, học gắn với hành, được tri thức hóa, ai cũng được phát huy mọi tiềm năng của mình

Xây dựng XHHT ở nước ta đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược nhằm thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, sớm sánh vai với các nước phát triển trong khu vực và thế giới

1.2.2 Qu n , qu n giáo dục và qu n công tác xây dựng xã hội học tập

1.2.2.1 Quản lý

Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, từ khi loài người có sự hợp tác, phân công lao động thì hoạt động quản l đã được hình thành Quản l là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Do đối

Trang 20

tượng quản l phong phú, đa dạng tùy thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động cụ thể, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà có những cách hiểu khác nhau về quản l

Ở Việt Nam, khi bàn về khái niệm quản lý, có nhiều ý kiến khác nhau:

Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý hệ thống nhằm đạt đến những mục tiêu nhất định” [19, tr35]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản l (người quản l ) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [4, tr1]

Tác giả Nguyễn Minh Đạo lại nhìn nhận khái niệm trên một cách khác: “Quản

lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể về các mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, quản lý bằng một hệ thống các luật định, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [16, tr7]

Các tác giả Vũ Dũng và Phùng Đình Mẫn cho rằng: “Theo nghĩa chung nhất

từ góc độ của tâm lý học, quản l được hiểu như sau: quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [9, tr43]

Các khái niệm trên có sự thống nhất ở một số nội dung như: Nói đến quản lý thì phải có chủ thể quản lý, khách thể quản lý và đối tượng quản lý Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ

để chủ thể tạo ra các tác động cần thiết; phải có hệ thống những công cụ cần thiết; tác động của chủ thể phải phù hợp với khách thể, hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị hoặc tổ chức

Tóm lại: quản lý là sự tác động, điều hành, hướng dẫn và điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới các mục tiêu đã đề ra

1.2.2.2 Quản lý giáo dục

QLGD là một bộ phận của quản l xã hội, là sự tác động có thức của chủ thể quản l tới khách thể quản l , nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều

Trang 21

hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [1, tr.31]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch kết hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng Thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [28, tr.12]

Từ hai cách tiếp cận trên, chúng tôi khái quát hóa mô hình QLGD như sau:

Sơ ồ 1 1: Mô hình QLGD

Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: QLGD là sự tác động có hệ thống,

có kế hoạch, có thức và hướng đích của chủ thể quản l lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác trong và ngoài nhà trường, huy động họ cùng phối hợp, tác động, tham gia vào các hoạt động của nhà trường nhằm đạt mục tiêu GD đề ra

1.2.2.3 Quản lý công tác xây dựng xã hội học tập

Quản lý công tác xây dựng XHHT là hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng là công tác xây dựng XHHT, nhằm đạt được mục tiêu đề ra Như vậy, theo quan niệm của khoa học quản lý, chúng ta có thể hiểu: quản lý công tác xây dựng XHHT là những tác động có ý thức, có hướng đích của chủ thể quản lý trong việc vận hành bộ máy, huy động, sử dụng, điều phối, phát huy các nguồn lực một cách tối ưu vào công tác xây dựng XHHT để đạt mục tiêu đề ra Thực chất của việc quản lý công tác xây dựng XHHT là quản lý tổ chức và quản lý các nguồn lực phục

vụ cho công tác xây dựng XHHT của địa phương, đơn vị

Mục tiêu

QL

Trang 22

1 3 Một số vấn ề lý luận về công tác xây dựng xã hội học tập v quản lý công tác xây dựng xã hội học tập

1.3.1 L uận về công tác xây dựng xã hội học tập

1.3.1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng xã hội học tập

1.3.1.1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác xây dựng xã hội học tập

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển GD, giúp cho nhiều người có cơ hội học tập, thu hút ngày càng nhiều người tham gia xây dựng GD và hướng tới xây dựng XHHT

Luật GD thể hiện rất rõ ràng: “GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình

độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm,

tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Nhà nước có chính sách phát triển GDTX, thực hiện GD cho mọi người, xây dựng XHHT” [29, tr.13]

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển GD&ĐT, khoa học

và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH - HĐH” [11, tr.35]

Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định: “Phấn đấu xây dựng nền

GD hiện đại, của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn XHHT và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu CNH

- HĐH đất nước”[13, tr206] và “Chuyển dần mô hình GD hiện nay sang mô hình

Trang 23

kín, thiếu mềm dẻo, thiếu liên thông; xây dựng hệ thống GD mở đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân và tăng hiệu quả GD Ngày 20/02/2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020”

Về chủ thể tham gia xây dựng XHHT, quản lý công tác xây dựng XHHT: Điều 12 của Luật GD Việt Nam năm 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) nêu: “Phát triển GD, xây dựng XHHT là sự nghiệp của Nhà nước và của nhân dân”; Điều 44 quy định: “…Nhà nước có chính sách phát triển GDTX, thực hiện GD cho mọi người, xây dựng XHHT” [30] Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg, ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ đã giao cho UBND các cấp: Chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan, các đoàn thể, thường xuyên đẩy mạnh các hoạt động khuyến học, khuyến tài hướng đến mục tiêu xây dựng XHHT trên địa bàn

Từ những chủ trương, nghị quyết và quan điểm nêu trên thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp GD&ĐT nói chung, trong đó có nhiệm vụ xây dựng XHHT như là một yêu cầu tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của đất nước

1.3.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng xã hội học tập

Trong quá trình phát triển GD cũng như xây dựng XHHT hiện nay, tư tưởng

và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về GD Lúc sinh thời, mặc dù Bác không trực tiếp đề cập đến công tác XHHT, nhưng tư tưởng GD cho mọi người và mọi người cho GD đã được thể hiện rất rõ qua việc làm, qua các bài phát biểu, các bài nói chuyện trong suốt thời gian lãnh đạo của Người, tiêu biểu như: Ngay trong phiên họp đầu tiên (3/9/1945) của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch về CMC” [20, tr8]; chỉ trong 6 ngày sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khai sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã k ban hành 03 sắc lệnh chống nạn thất học Khi Bác trả lời báo chí tháng 01/1946: “Tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [20, tr161]; trong thư gửi Quân nhân học báo (tháng 4/1946), Bác căn dặn: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn… Muốn biết thì thi đua học Học không bao giờ ngừng Học mãi để tiến bộ mãi Càng tiến bộ càng thấy phải học thêm” [21, tr489]; đối với nhân dân, Bác

Trang 24

khuyên “Học hành là vô cùng, học càng nhiều, biết càng nhiều càng tốt” [20, tr220] Giáo viên là những người giúp cho người khác học tập Song, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại rất quan tâm đến việc học tập của chính nhà giáo Năm 1956, khi đến dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn ngành GD lần thứ I tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã nói: “Các cô, các chú đã thấy trách nhiệm to lớn của mình, đồng thời cũng thấy khả năng của mình cần được nâng cao thêm mãi mới làm tròn nhiệm vụ được Vì thế, các cô, các chú là những người thầy giáo, những cán bộ GD đều phải luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn Nếu không tiến bộ thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu” [2, tr155]

Tâm sự với những cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia Công việc cứ tiến mãi Không học thì không theo kịp, công việc nó

sẽ gạt mình lại phía sau Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ, kể cả ở Liên Xô, Trung Quốc, thì chúng mình dốt lắm Tôi cũng dốt lắm”[2, tr87]

1.3.1.2 Mục tiêu xây dựng xã hội học tập

Xây dựng XHHT là công cụ chủ yếu để tạo điều kiện cho sự phát triển KT -

XH ở nước ta, là giải pháp then chốt để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ và mục tiêu

cơ bản của GD Mục tiêu xây dựng XHHT ở nước ta gắn với mục tiêu phát triển KT

- XH, gắn với Đề án đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Từ mục tiêu tổng quát trên đây, cần cụ thể hóa thành những yêu cầu để từng bước xây dựng XHHT ở nước ta

Trước tiên phải khắc phục những yếu kém trong GD, tạo bước chuyển biến căn bản và toàn diện nền GD theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực các chương trình, mục tiêu phát triển KT - XH của đất nước, của từng vùng, từng địa phương Phấn đấu đưa nền GD nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Từng bước hình thành cơ bản, hệ thống GD mới của XHHT gồm hai khu vực GD trong nhà trường (GD chính quy) và GD ngoài nhà trường (GD không chính quy, GD phi chính quy) liên thông với nhau, huy động được hai đối tượng người học có SL lớn: thế hệ trẻ và một bộ phận người lớn tuổi cần được thụ hưởng GD phổ thông trong độ tuổi đi học; các nhà lãnh đạo của hệ

Trang 25

thống chính trị các cấp và các nhà quản lý, doanh nhân, nhà GD, chuyên gia khoa học - công nghệ

Ngoài ra, công tác xây dựng XHHT còn hướng tới các mục tiêu như: góp phần nâng cao dân trí, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ trong lao động, sản xuất, đời sống; góp phần ổn định về tư tưởng chính trị cho nhân dân; bồi dưỡng nghiệp

vụ, kỹ năng, kỹ xảo cho người lao động

1.3.1.3 Nhiệm vụ của xã hội học tập

Nhiệm vụ của XHHT ở nước ta là tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người có nhu cầu đều được học thường xuyên, suốt đời, học gắn với hành, ai cũng được phát huy mọi tiềm năng của mình Học để có những kỹ năng làm việc và kỹ năng sống, nhằm tạo nên năng lực thích ứng và phát triển của mỗi người trong một xã hội hiện đại và thường xuyên thay đổi Học để biết vận dụng tri thức, để biết giao tiếp, ứng

xử, để cùng chung sống với nhau, biết tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, biết thích nghi với những thay đổi về việc làm, biết tự tạo việc làm, biết tự rèn luyện đạo đức, thể lực… Việc học có thể thực hiện mọi lúc, mọi nơi, học ở mọi người, mọi việc, trong lao động, giao tiếp, giải trí, học bằng nhiều cách Mọi người học tập lẫn nhau và giúp nhau học tập

Mở rộng cơ chế để mọi người đều hiểu biết và có trách nhiệm, nghĩa vụ học tập và góp phần xây dựng XHHT Trong XHHT, quan niệm về học được mở rộng, nhiệm vụ của việc học không chỉ là học văn hóa mà còn phải học các kiến thức khác để làm việc, để sáng tạo, để làm người, để sống tốt hơn, thích ứng sự thay đổi của xã hội Vì vậy, học không chỉ trong nhà trường, học tập trung theo niên khóa

mà còn học trong cuộc sống xã hội, thông qua tập thể, gia đình, bạn bè… XHHT là một xã hội cung cấp cho con người các điều kiện, các cơ hội để học tập, phát triển, bảo đảm cho con người có được phẩm chất, trí tuệ, kỹ năng, thái độ thích ứng với đòi hỏi của xã hội luôn biến đổi

1.3.1.4 Định hướng xây dựng xã hội học tập ở nước ta

Thứ nhất, xây dựng XHHT ở Việt Nam là một chủ trương mới, nhằm thực

hiện chiến lược đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách để đuổi kịp các nước phát triển trên thế giới Xây dựng XHHT còn là con đường sáng tạo của nhân dân ta, nhằm phát triển mọi tiềm năng có sẵn ở mỗi con người Việt Nam, phát huy nội lực của người học bằng tự học, tự rèn luyện, tự lập thân, lập nghiệp Khai thác và phát triển những tiềm năng của xã hội nói chung, của ngành GD nói riêng để phát triển GD

Trang 26

Thứ hai, xây dựng XHHT ở Việt Nam nhằm thực hiện có hiệu quả các chương

trình mục tiêu quốc gia về GD&ĐT: Hỗ trợ ngành GD thực hiện các quyết định của Chính phủ về GD&ĐT và hoàn thành nhiệm vụ đề ra trong chiến lược phát triển

GD giai đoạn 2011 - 2020, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ

sự nghiệp phát triển KT - XH của từng địa phương và cả nước; thực hiện PCGD

MN cho trẻ em 5 tuổi, duy trì và nâng cao kết quả PCGD TH đúng độ tuổi, PCGD THCS; củng cố kết quả XMC và chống tái mù chữ…

Thứ ba, xây dựng XHHT dựa trên đường lối phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, theo phương thức xã hội hóa GD kết hợp với vai trò chủ đạo của Nhà nước, phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc, kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về GD toàn diện, coi trọng GD nhân cách

Thứ tư, mạnh dạn đổi mới cơ chế QLGD theo hướng phân cấp mạnh, để tăng

cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho địa phương và các cơ sở GD ứng dụng sáng tạo những thành tựu về khoa học, công nghệ nói chung để xây dựng nền GD Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, tạo tiền đề cho nền GD

nước ta hội nhập với nền GD tiên tiến của các nước trong khu vực và thế giới

1.3.1.5 Mô hình xã hội học tập

Việc nghiên cứu xây dựng mô hình XHHT ở nước ta, nhằm mục đích tìm ra cấu trúc, mối quan hệ và quy trình vận hành của XHHT Xây dựng mô hình XHHT phải bắt đầu từ việc xây dựng hệ thống GD của XHHT Hệ thống đó bao gồm các thành phần sau:

- Hệ thống trình độ (chương trình) GD: GD phổ thông (TH, THCS, THPT),

GD nghề nghiệp (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học), chương trình

GD bổ túc nâng cao, chương trình GD cộng đồng, chương trình GDTX

- Các phương thức GD: GD ban đầu (GD thế hệ trẻ) thực hiện phương thức

GD chính quy; GD người lớn thực hiện phương thức GD không chính quy và GD

phi chính quy

GD chính quy: Là các hình thức học tập chủ yếu được tiến hành trong nhà

trường, được thể hiện ở một đội ngũ cán bộ chuyên trách, đó là các giáo viên có trình độ đào tạo chuẩn theo yêu cầu của các bậc học như: MN, TH, THCS, THPT, cao đẳng, đại học… Đặc trưng của GD chính quy là: tính thống nhất về lứa tuổi, lớp học, chương trình được thực hiện theo khóa, lớp; tính cứng rắn về chương trình, về kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo; tính phổ cập; tính cấu trúc; tính nối tiếp, tính liên

Trang 27

tục từ chương trình cấp này, lớp này, sang chương trình cấp kế tiếp, lớp kế tiếp; tính chuẩn hóa và thể hóa GD

GD không chính quy: Là các phương thức GD được thực hiện bên ngoài nhà trường chính thống là chủ yếu, trong đó có sự thống nhất tự giác giữa người dạy và người học để giải quyết các nhiệm vụ học tập được đặt ra Ở Việt Nam, GD không chính quy bao gồm: bổ túc, GDTX và các hoạt động phát triển kỹ năng sống, nhầm đáp ứng nhu cầu học tập, hiểu biết khác nhau của thanh thiếu niên và người lớn ở mọi lứa tuổi Đặc trưng của GD không chính quy là phục vụ cho một đối tượng nào

đó để thỏa mãn các mục tiêu GD được xác định GD không chính quy cũng được tổ chức, được cấu trúc chặt chẽ nhưng có sự linh hoạt nhất định; có sự chuyển đổi nội dung của cả người dạy và người học vì một lý do hợp l nào đó được chấp nhận

GD phi chính quy: Là phương thức GD phi cấu trúc được tiến hành bên ngoài nhà trường, mang tính liên tục, ngẫu nhiên, xảy ra thường xuyên trong hoạt động của con người GD phi chính quy là một quá trình “thẩm thấu” giữa chủ thể tiếp nhận (người học) với người khác (được coi là người dạy) theo hình thức hết sức tự nhiên Theo nghĩa này, thời lượng tác động của GD phi chính quy trong cuộc sống rất lớn Đặc trưng của GD phi chính quy là tính phi cấu trúc về nội dung, chương trình, cách thức tiến hành… Đối tượng của GD phi chính quy rất rộng

Như vậy, các phương thức GD chính quy, GD không chính quy và GD phi chính quy liên quan chặt chẽ đến các loại hình (hình thức) GD: GD trong nhà trường và GD bên ngoài nhà trường, GD tập trung và GD không tập trung, GD tại chỗ và GD từ xa, GD công lập, GD dân lập và GD tư thục Trong XHHT, phương thức GD không chính quy trở nên rất phổ biến và được đề cao, vì người học coi trọng “tính hữu dụng” của kiến thức cần học, cần gì học nấy, không vì bằng cấp, hoàn toàn tự giác học tập, không vì một áp lực nào khác từ bên ngoài

- Hệ thống cơ sở GD gồm: trường, trung tâm ngoại ngữ, tin học, trung tâm

GDTX, viện nghiên cứu… các cơ sở này có tư cách pháp nhân, được phép sử dụng một hay một số chương trình, phương thức GD khác nhau để tham gia vào quá trình

xây dựng XHHT

- Về chủ thể sở hữu các hình thức GD của XHHT có các loại hình: công lập, ngoài công lập, tư thục, loại sở hữu có yếu tố nước ngoài

- Hệ thống cơ quan QLGD của XHHT: Hội đồng quốc gia GD, Bộ GD&ĐT,

UBND các cấp, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, Ban GD

Trang 28

1.3.1.6 Nội dung công tác xây dựng xã hội học tập

XHHT là kết quả tất yếu của sự phát triển xã hội Điều đó nghĩa là trong thời đại ngày nay, mọi xã hội nếu ngừng học sẽ bị diệt vong dưới dạng này, mức độ này hay dạng khác, mức độ khác Vì trong thời đại hiện nay, khoa học và công nghệ tiến

bộ như vũ bão buộc xã hội phải xây dựng một XHHT và mọi người dân phải học tập suốt đời, để tiếp cận, cập nhật thường xuyên những tri thức tiến bộ, đây là động lực mạnh nhất, thúc đẩy con người, toàn xã hội lao vào học hành, đúng như khẩu hiệu kêu gọi của V.Lênin: “Học! học nữa! học mãi”

Công tác xây dựng XHHT được hiểu là hoạt động của hệ thống, tổ chức bộ máy có chức năng, nhiệm vụ tham gia xây dựng XHHT, trên cơ sở khai thác, huy động các điều kiện, nguồn lực cần thiết để xây dựng XHHT theo mục tiêu đã đề ra, góp phần phát triển KT - XH của địa phương, đơn vị Nội dung xây dựng XHHT bao gồm:

- Xây dựng, phát triển các văn bản chỉ đạo liên quan đến công tác xây dựng XHHT cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương: sẽ tạo cơ sở, điều kiện pháp l để hệ thống tổ chức, bộ máy và các tầng lớp nhân dân tham gia, thực hiện Đồng thời, làm

cơ sở cho công tác kiểm tra, đánh giá của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp

- Tuyên truyền, GD, nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức và nhân dân

về XHHT: nhận thức rõ nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng XHHT và

từ đó không ngừng nâng cao sự hiểu biết của mình về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến XHHT, tích cực, tự giác và cùng cộng đồng trách nhiệm, chung sức chăm lo cho sự nghiệp GD

- Xây dựng, phát triển các trung tâm HTCĐ: việc phát triển mô hình hoạt động của trung tâm HTCĐ không những phù hợp với xu thế hiện nay, mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của mỗi người dân trong cộng đồng, đặc biệt

là những người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội Các trung tâm HTCĐ góp phần tạo cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho mọi người dân trong cộng đồng nhằm nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân Trung tâm HTCĐ phường, xã là loại hình tổ chức học tập không chính quy, phi chính quy được thành lập tại công sở, là công cụ thiết yếu để phát triển cộng đồng, xây dựng XHHT trong điều kiện hiện nay

- Chỉ đạo, triển khai các hoạt động khuyến học: mô hình XHHT của nhiều địa phương từng bước được xây dựng, củng cố và phát triển dựa trên nền tảng của

Trang 29

phong trào khuyến học, khuyến tài Hoạt động này có nghĩa quan trọng góp phần

hỗ trợ các cơ sở GD trong giảng dạy và học tập; phát triển mạnh mẽ phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ và cộng đồng hiện nay

- Công tác xã hội hóa sự nghiệp GD: đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, có nghĩa chiến lược và tác động tích cực đến sự nghiệp GD Do đó, các ngành chức năng phải cụ thể hóa quan điểm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để triển khai phát động mạnh mẽ phong trào toàn dân chăm lo cho sự nghiệp GD Những chủ trương, chính sách xã hội hóa GD của cấp ủy Đảng, chính quyền sẽ tạo động lực quan trọng cho các cấp, các ngành, các cơ sở GD tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hóa GD

- Đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ, công chức, người lao động: Đây là yêu cầu tất yếu trong công tác quản lý cán bộ hiện nay nhằm không ngừng trang bị tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ, công chức, người lao động đảm bảo đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ Đây là sự cụ thể hóa quan điểm học thường xuyên, học tập suốt đời trong đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động trong xu thế hội nhập, phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức

1.3.2 L uận về qu n công tác xây dựng xã hội học tập

1.3.2.1 Nội dung quản lý công tác xây dựng xã hội học tập

- Kế hoạch hóa công tác xây dựng XHHT: Kế hoạch hóa là một nội dung và là một chức năng quan trọng nhất của quản lý quá trình xây dựng XHHT Kế hoạch hóa gắn liền với việc lựa chọn và tiến hành các chương trình hoạt động trong tương lai Kế hoạch hóa cũng là việc lựa chọn phương pháp tiếp cận hợp lý các mục tiêu định trước Việc lập kế hoạch xây dựng XHHT chính là bắt nhịp cầu từ trạng thái XHHT hiện tại, tới XHHT mà chúng ta muốn có trong tương lai Các quyết định chính trong quá trình lập kế hoạch hóa quản lý xây dựng XHHT là: xác định mục tiêu và nhiệm vụ; xây dựng các phương án; xác định các nguồn lực cần thiết (vật chất, công nghệ, vốn, lao động); xác định mốc thời gian Trên cơ sở đó, phân công trách nhiệm thực hiện cho các tổ chức, các tập thể và cá nhân

- Tổ chức, thực hiện công tác xây dựng XHHT: nếu như tầm quan trọng của công tác lập kế hoạch quá trình xây dựng XHHT được thể hiện ở việc xác định mục tiêu và phương án hành động, thì tầm quan trọng của chức năng tổ chức thực hiện là việc biến những mục tiêu thành hiện thực Chức năng này là nhân tố quyết định sự

Trang 30

thành bại của quá trình xây dựng XHHT Thực hiện tốt chức năng tổ chức trong việc xây dựng bộ máy đảm bảo nề nếp, nhịp nhàng trong phối hợp giữa các bộ phận, đảm bảo tính kỷ luật và phát huy được sở trường của mỗi cá nhân và mỗi bộ phận trong tổ chức khi xây dựng XHHT Ngược lại, khi bộ máy tổ chức không được thiết kế phù hợp có thể làm cho các hoạt động của quá trình xây dựng XHHT kém hiệu quả và gặp nhiều khó khăn Đồng thời, trong việc phân công công việc, nếu bố trí, sắp xếp sai nhân lực sẽ lãng phí nguồn lực của tổ chức (nhân lực, vật lực, tài lực…), đánh mất cơ hội làm cho quá trình xây dựng XHHT bị suy yếu, không đem lại hiệu quả như mong muốn

- Chỉ đạo công tác xây dựng XHHT: là sự tác động bằng nghệ thuật và khoa học của chủ thể quản lý công tác xây dựng XHHT để duy trì kỷ luật, kỷ cương của

tổ chức và hướng dẫn, thuyết phục, khích lệ nhân viên, nhằm khuyến khích, động viên, tạo động lực để phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họ hướng tới thực hiện mục tiêu xây dựng XHHT của tổ chức Xét cho cùng, chỉ đạo là sự tác động lên con người, tạo điều kiện để mọi người tích cực, tự giác làm việc để đạt hiệu quả cao nhất Để làm được điều đó, chủ thể quản lý phải triển khai công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân về XHHT, thường xuyên định hướng công tác xây dựng XHHT cho cán bộ các cấp; tổ chức phối hợp với cơ quan, tổ chức khác trong xây dựng XHHT theo kế hoạch, để đạt được mục đã đề ra

- Huy động nguồn lực xây dựng XHHT: Các nguồn lực cho quá trình xây dựng XHHT phải được huy động đầy đủ, phân bổ và sử dụng có hiệu quả Ngoài ngân sách Nhà nước, nguồn lực phục vụ cho quá trình xây dựng XHHT còn phải được huy động từ các tổ chức KT - XH, các đơn vị sử dụng nhân lực sau đào tạo, được chia sẻ với người học và các hộ gia đình Nguồn lực xây dựng XHHT được quản lý và sử dụng có hiệu quả trên cơ sở nâng cao tính tự chủ, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm đối với Nhà nước, người học và xã hội

- Kiểm tra, đánh giá kết quả công tác xây dựng XHHT: Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng XHHT là một công việc và chức năng của nhà quản lý nhằm làm cho kế hoạch và mục tiêu xây dựng XHHT của tổ chức chắc chắn trở thành hiện thực Trong quản lý công tác xây dựng XHHT thì công tác kiểm tra, đánh giá là một việc làm cần thiết Tuy nhiên, việc kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo tính phù hợp, khách quan, kịp thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục, đồng thời tạo động lực để hoàn thiện và phát triển quá trình xây dựng XHHT Nội dung chủ yếu

Trang 31

của chức năng kiểm tra công tác xây dựng XHHT là: Đánh giá (xác định chuẩn mực, thu thập thông tin, đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành công so); điều chỉnh (uốn nắn, sửa chữa những sai lệch, phát huy mặt tốt hoặc xử lý những hạn chế, yếu kém); hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực đánh giá hiệu quả nếu cần Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản lý phải kiểm tra, giám sát thường xuyên các chương trình,

kế hoạch đối với công tác xây dựng XHHT

Tóm lại, để quản lý công tác xây dựng XHHT đạt mục tiêu đề ra, chủ thể quản

lý phải thực hiện các nội dung quản lý nói trên Từng nội dung quản lý công tác xây dựng XHHT vừa mang tính độc lập tương đối, vừa liên hệ mật thiết với nhau, tạo thành một chu trình quản lý công tác xây dựng XHHT khép kín Do đó, trong quá trình quản lý phải thực hiện liên tiếp, đan xen, phối hợp tạo nên sự kết nối từ chu trình này sang chu trình khác của quá trình quản lý công tác xây dựng XHHT Trong đó, phải dựa trên yếu tố thông tin và chính yếu tố thông tin luôn giữ vai trò xuyên suốt trong quá trình quản lý Mối quan hệ giữa các nội dung quản lý công tác xây dựng XHHT theo sơ đồ sau:

Sơ ồ 1.2: Mối quan hệ giữa các nội dung quản lý công tác xây dựng HHT

1.3.2.2 Hình thức quản lý công tác xây dựng xã hội học tập

Hình thức quản lý công tác xây dựng XHHT là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động quản l : Đó là cách tiến hành hoạt động quản lý của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý là công tác xây dựng XHHT Có ba hình thức quản lý sau:

Hình thức quản lý gián tiếp: Chủ thể quản lý thông qua bộ phận chức năng hay

Trang 32

cá nhân được giao quyền, được ủy quyền thay mặt mình thực hiện các chức năng quản lý đối với công tác xây dựng XHHT

Hình thức quản lý trực tiếp: Chủ thể quản lý không thông qua bộ phận hay cá

nhân nào mà chính bản thân đứng ra thực hiện các chức năng quản lý đối với công tác xây dựng XHHT

Hình thức quản lý vừa gián tiếp, vừa trực tiếp: tùy tình hình và thực tế diễn ra hoạt động xây dựng XHHT, mà bộ phận chức năng hay người được giao quyền, được ủy quyền thực hiện chức năng quản lý hoặc chủ thể quản lý đứng ra thực hiện chức năng quản lý

Các hình thức trên vừa có ưu điểm, vừa có nhược điểm Do đó, tùy tình hình đặc điểm của mỗi đơn vị, người quản lý cần lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp, tránh làm cho hoạt động xây dựng XHHT rối loạn, dẫn đến hiệu quả quản lý thấp

Nghiên cứu đã tóm tắt những vấn đề cơ bản công tác xây dựng XHHT: khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề, các khái niệm về XHHT, một số vấn đề lý luận về công tác xây dựng XHHT, để làm rõ hơn quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng XHHT như: mục tiêu, nhiệm vụ, mô hình, nội dung quản lý công tác xây dựng XHHT Đặc biệt, về lý luận và qua thực tiễn, chúng tôi đã sáng tỏ thêm nội hàm của công tác xây dựng XHHT và quản lý công tác xây dựng XHHT

Trong phạm vi đề tài này, phạm trù “Biện pháp quản lý công tác xây dựng XHHT ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” được hiểu là quá trình tác động có

Trang 33

tổ chức, có định hướng của nhà quản lý đến hệ thống, tổ chức bộ máy làm công tác xây dựng XHHT và các nguồn lực phục vụ cho công tác này tại địa phương Đó là quá trình làm cho bộ máy quản lý công tác xây dựng XHHT vận hành đảm bảo đạt hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra, trên cơ sở huy động tối đa nguồn lực, tiềm năng vốn

có, để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng XHHT gắn với mục tiêu phát triển KT

- XH của địa phương

Xây dựng XHHT là một chủ trương lớn, nhằm động viên mọi đối tượng tham gia học tập để nâng cao trình độ, góp phần nâng chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Sự nghiệp CNH - HĐH đất nước đang diễn ra trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế mạnh mẽ, quá trình đó đan xen những thuận lợi và thách thức lớn Trong điều kiện đó, đất nước muốn phát triển chỉ có thể dựa trên nền tảng một xã hội có nguồn nhân lực chất lượng cao Vì vậy, xây dựng một XHHT vừa là nhu cầu, vừa là yêu cầu tất yếu của sự phát triển

Xây dựng XHHT là một mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới căn bản

và toàn diện GD&ĐT, là nội dung chủ yếu của việc chuyển mô hình GD truyền thống hiện nay sang mô hình GD mở - hệ thống GD hiện đại của thế kỷ 21 Đây là vấn đề cấp thiết hiện nay của cả nước nói chung và An Giang nói riêng Những vấn

đề lý luận trên đây là cơ sở để khảo sát, phân tích thực trạng quản lý công tác xây dựng XHHT của thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ở chương tiếp theo

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN L CÔNG TÁC ỰNG HỘI HỌC TẬP

Ở THÀNH PHỐ LONG U ÊN, TỈNH AN GIANG

2.1 Khái quát ặc iểm kinh tế - xã hội v tình hình giáo dục của th nh phố Long uyên, tỉnh An Giang

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Ngày 14/4/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 474/QĐ-TTg

về việc công nhận thành phố Long Xuyên là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang Thành phố Long Xuyên có diện tích tự nhiên 11.522 ha, chiếm 3,3% diện tích tự nhiên của Tỉnh Dân số hiện nay khoảng 285.745 người, chiếm 13% dân số trung bình của Tỉnh Thành phố có 13 đơn vị hành chính, gồm 11 phường và 2 xã: Mỹ Bình, Mỹ Long, Đông Xuyên, Mỹ Xuyên, Bình Đức, Bình Khánh, Mỹ Phước, Mỹ Quý, Mỹ Thới, Mỹ Thạnh, Mỹ Hòa, xã Mỹ Khánh và xã Mỹ Hòa Hưng

Thành phố Long Xuyên là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh An Giang, có vị trí địa lý - kinh tế đặc biệt quan trọng đối với tỉnh An Giang và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long Thành phố nằm bên dòng sông Hậu, có nhiều kênh rạch giàu tiềm năng về đất đai, nguồn nước ngọt, thủy sản, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch Mặt khác, thành phố Long Xuyên

là đô thị nằm trên trục hành lang kinh tế đô thị quốc gia và quốc tế, là đầu mối giao thương hàng hóa trong Tỉnh và khu vực, có khu công nghiệp Mỹ Quý và nhiều nhà máy chế biến xuất khẩu với nhiều mặt hàng như: gạo, cá, hàng may mặc, vật liệu xây dựng, rau quả đóng hộp… có đường quốc lộ và đường sông thông suốt đến các khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và nước bạn Campuchia

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Với lợi thế về vị trí địa l và điều kiện tự nhiên, cùng với truyền thống đoàn kết, cần cù, năng động, sáng tạo, những năm qua Đảng bộ và nhân dân thành phố Long Xuyên đã đoàn kết nhất trí, phát huy nội lực, tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành, các cấp, tập trung mọi nguồn lực để xây dựng, phát triển thành phố xứng đáng với vai trò và vị trí là trung tâm kinh tế - chính trị của tỉnh An Giang và đạt được những kết quả đáng kể Thực tế quá trình xây dựng và phát triển, thành phố Long Xuyên luôn thể hiện vị trí đầu tàu, thành phố đã có những bước phát triển vượt bậc Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao; đô thị phát triển rộng hơn, hiện

Trang 35

đại hơn, kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật khá hoàn thiện Các lĩnh vực văn hóa - xã hội từng bước phát triển, chất lượng đời sống người dân ngày càng nâng cao

Trong những năm qua thành phố Long Xuyên đã đạt được nhiều kết quả quan trọng về phát triển kinh tế, về xây dựng và phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại; đời sống vật chất và tinh thần của người dân thành phố ngày càng tốt hơn Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 là 10,3%/năm (của Tỉnh là 8,6%/năm); cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng tiềm năng và thế mạnh của thành phố, cụ thể: khu vực thương mại - dịch vụ chiếm 79,5%, công nghiệp - xây dựng 18,5%, nông nghiệp chiếm 2%; GRDP bình quân đầu người đạt 95,3 triệu đồng, gấp 2,4 lần so với Tỉnh (Tỉnh là 39,3 triệu đồng); tạo mới gần 26 ngàn việc làm; tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,4 điểm %/năm

Khu vực dịch vụ tiếp tục dẫn dắt kinh tế thành phố Long Xuyên đi lên theo hướng phát triển kinh tế gắn liền với đô thị hóa, hiện đại hóa với các loại hình dịch

vụ phát triển đa dạng, nhất là các dịch vụ tài chính, tín dụng, vận tải kho bãi, thông tin truyền thông, y tế, GD, dịch vụ phục vụ cá nhân và cộng đồng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, tập trung nâng tỷ trọng trồng màu, lúa chất lượng cao Thành phố Long Xuyên đã triển khai thực hiện việc phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo Nghị quyết số 09-NQ/TU của Tỉnh ủy, đã hình thành các vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, nhiều mô hình kỹ thuật mới được áp dụng vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế, công nghệ chế biến sau thu hoạch phục vụ nông nghiệp và xuất khẩu phát triển khá - chuỗi liên kết sản xuất được hình thành và nhân rộng

Dân số trung bình hiện nay của thành phố ước khoảng 285.745 người, chiếm 13% dân số trung bình của Tỉnh Tổng lao động đang làm việc trên địa bàn khoảng

là 149 ngàn người Thành phố có nguồn lao động dồi dào, trẻ và chất lượng nguồn nhân lực là khá cao so với các địa phương trong Tỉnh Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên hàng năm, hiện đạt trên 65% (Tỉnh là 50%)

Lĩnh vực việc làm, giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội: trong 10 năm qua,

có hơn 31.000 lao động được đào tạo nghề cơ bản, hàng năm có trên 6.000 lao động được giới thiệu việc làm ổn định Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tiếp cận đa chiều đầu năm 2016 là 2,14% so với tổng số hộ dân

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được duy trì thường xuyên đa

Trang 36

dạng về hình thức, phong phú về nội dung Đến nay, có hơn 92% gia đình văn hóa,

03 phường văn minh đô thị và 02 xã văn hóa nông thôn mới Du lịch phát triển cả

về quy mô và cơ sở vật chất, từng bước vươn lên cùng với ngành thương mại - dịch

vụ trở thành lĩnh vực kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung

Hệ thống kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư xây dựng Nhiều công trình quan trọng, thiết yếu đã và đang xây dựng, tạo diện mạo đô thị mới cho thành phố Long Xuyên như: Siêu thị Metro, Siêu thị Nguyễn Kim, Trung tâm thương mại Vincom; Nhà ở xã hội Khu dân cư Tây Đại học và Khu Dân cư Bắc Hà Hoàng Hổ, trường mẫu giáo Bình Minh, trường THPT quốc tế GIS, bệnh viện Hạnh Phúc

2.1.3 Tình hình giáo dục ở thành phố Long Xuyên

Lĩnh vực GD&ĐT được xác định làm một trong các lĩnh vực được ưu tiên phát triển hàng đầu của Tỉnh cũng như thành phố Long Xuyên UBND Tỉnh và Sở GD&ĐT đã có những chỉ đạo kịp thời và sâu sát để phát triển hệ thống GD tại thành phố Long Xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của người dân trên địa bàn

Trong những năm qua, thành phố Long Xuyên đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng GD&ĐT một cách cơ bản toàn diện Sự nghiệp GD&ĐT của thành phố Long Xuyên đã đạt được những thành tựu quan trọng: Quy

mô, mạng lưới GD&ĐT có bước phát triển nhanh; tất cả các xã, phường đều có trung tâm HTCĐ, hầu hết các xã đều có trường mẫu giáo Cơ sở vật chất trường, lớp từng bước được chuẩn hóa, khang trang xây dựng theo chuẩn quốc gia Chất lượng

GD ở các cấp học ngày càng được nâng lên và trình độ nghiệp vụ của giáo viên cũng được quan tâm và được tổ chức bồi dưỡng thường xuyên hằng năm Công tác QLGD có nhiều chuyển biến tích cực áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý Thực hiện công bằng trong GD ngày càng tốt hơn Đội ngũ nhà giáo và QLGD các cấp tăng về SL, từng bước nâng lên về chất lượng

Hiện nay, mạng lưới các trường MN, phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học (sau đây gọi chung là cơ sở GD) ở thành phố Long Xuyên đã và đang được sắp xếp phù hợp với quy hoạch phát triển KT - XH của địa phương Do thành phố Long Xuyên là trung tâm chính trị - KT - XH của Tỉnh có điều kiện tập trung nhiều loại hình trường học, cơ sở GD Đồng thời được bố trí khá hợp lý trên khắp địa bàn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân Hệ thống cơ sở GD tại thành phố Long Xuyên vào thời điểm cuối năm 2017 được thống kê như sau:

Trang 37

Bảng 2 1 Thống kê số lƣợng các cơ sở giáo dục tại th nh phố Long uyên STT Loại hình cơ sở giáo dục Số lƣợng Ghi chú

8 Trung tâm Chính trị thành phố Long Xuyên 1

9 Trường trung cấp: nghề kinh tế kỹ thuật

12 Các trung tâm, cơ sở tin học, ngoại ngữ do

Sở GD&ĐT cấp phép

(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Long Xuyên)

Hiện nay toàn thành phố có 58 trường công lập trong đó: MN 18 trường; TH

26 trường; THCS 12 trường và 06 trường THPT Hệ thống ngoài công lập và các loại hình khác có: MN 11 trường và 92 điểm; TH 02 trường; THCS 03 trường; THPT 03 trường; 03 trường phổ thông nhiều cấp bậc học Ngoài ra, trên địa bàn thành phố có nhiều cơ sở GD&ĐT như: Trường Đại học An Giang, Trung tâm GDTX Tỉnh, Trường Cao đẳng Nghề, Trường Trung cấp Nghề, Trung cấp Y tế và nhiều trung tâm ngoại ngữ, tin học đang hoạt động…

Thực hiện kế hoạch phát triển GD&ĐT của thành phố Long Xuyên, kết quả được ghi nhận trong năm học 2016 - 2017 như sau:

2.1.3.1 Về quy mô, mạng lưới phát triển

Quy mô, mạng lưới GD của thành phố Long Xuyên được thể hiện sau:

Trang 38

Bảng 2 2 Thống kê số lượng trường, lớp, giáo viên v học sinh tại

th nh phố Long uyên

2014 – 2015 2015 – 2016 2016 - 2017 Tổng

cộng

Nhà nước

Tư thục

Tổng cộng

Nhà nước

Tư thục

Tổng cộng

Nhà nước

Tư thục

Số trường hiện có là 29 trường (11 trường tư thục) Tổng số nhóm, lớp là: 294,

số nhóm, lớp không tăng không giảm so với cùng kỳ năm học trước Số trẻ đầu năm học là: 9196/8750, đạt 105% so kế hoạch, tăng 465 trẻ, so cùng kỳ năm học trước,

tỷ lệ tăng 5,05% Bình quân trẻ/lớp là 30 - 35 trẻ Mạng lưới trường MN trong toàn thành phố đều khắp các phường, xã Mỗi phường, xã có ít nhất 1 trường mẫu giáo

Trang 39

công lập và các nhóm, lớp tư thục độc lập tạo điều kiện cho học sinh đến trường 100% các trường MN, nhà trẻ, mẫu giáo công lập và ngoài công lập thực hiện tốt chương trình GD MN đạt hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc GD trẻ 5 tuổi Chú trọng đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm GD lấy trẻ làm trung tâm, phát huy tốt tính tích cực của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, khám phá thế giới xung quanh thu hút trẻ đến lớp

- Ngành học phổ thông:

+ Cấp TH: Số trường hiện có là 28 trường (2 trường tư thục) Tổng số 653 lớp của 26 trường công lập/21.685 học sinh Bình quân học sinh/lớp là 34 học sinh, giảm 8 lớp so với cùng kỳ năm học trước Số học sinh đầu năm học của cả công lập

và ngoài công lập: 22.962/22.345 đạt 102.76% so kế hoạch, tăng 67 em so cùng kỳ năm học trước, tỷ lệ tăng 0.96% Trong đó, huy động được 75 học sinh dân tộc, chiếm tỷ lệ 0.33 % so với tổng số học sinh Mạng lưới trường TH: toàn thành phố

có 26 trường công lập, 02 trường ngoài công lập Có 12/26 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, đạt tỷ lệ: 46,2%

+ Cấp THCS: Số trường hiện có là 14 trường (02 trường tư thục) Tổng số 367 lớp, tăng 2 lớp so với cùng kỳ năm học trước Số học sinh đầu năm học: 15.890/15.565, đạt 102,09% so kế hoạch, tăng 396 em so cùng kỳ năm học trước, tỷ

lệ tăng 0,9 % Bình quân học sinh/lớp là 39 học sinh Trong đó, huy động được 49 học sinh dân tộc, chiếm tỷ lệ 0.3% so với tổng số học sinh Mạng lưới trường THCS: toàn thành phố có 12/13 phường, xã có trường THCS (trừ phường Đông Xuyên) Có 6/12 trường THCS đạt chuẩn quốc gia mức độ 1: đạt tỷ lệ 50%

+ Cấp THPT: Số trường hiện có là 9 trường (03 trường tư thục) Tổng số 184 lớp, tăng 10 lớp so với cùng kỳ năm học trước Số học sinh đầu năm học: 6792 đạt 100% so kế hoạch, tăng 432 em so cùng kỳ năm học trước, tỷ lệ tăng 0,9 % Bình quân học sinh/lớp là 37 học sinh

- Ngành học GDTX (cấp THPT): Các hoạt động được tập trung tại Trung tâm GDTX Tỉnh Tổng số học viên tuyển sinh đầu năm là: 302 học viên, so với năm học trước giảm 69 học viên, tỷ tệ giảm 18,6% Tổng số học viên cuối năm là: 244 học viên Số học viên bỏ học là: 58 học viên, tỷ lệ giảm 19.2%, so với năm học trước (26,7%) giảm 7,5% Tổng số lớp: 7 lớp (khối 10: 3 lớp; khối 11: 2 lớp; khối 12: 2 lớp), so với năm học trước giảm 01 lớp khối 12

Ngoài ra, Trung tâm tiếp tục phối hợp với Trường Cao đẳng Nghề An Giang

Trang 40

mở các lớp học chương trình GDTX cấp THPT cho học viên đang học nghề, với

298 học viên/ 9 lớp (khối 11 có 200 học viên /6lớp; khối 12 có 98 học viên/3 lớp); phối hợp với Trường THPT Mỹ Hòa Hưng chiêu sinh 33 học viên/02 lớp (24 học viên lớp 10, 9 học viên khối 11), học ghép theo phương thức hòa nhập với học sinh phổ thông Các lớp liên kết đào tạo: Tổng số tuyển sinh học viên liên kết đào tạo các chương trình trung cấp, cao đẳng, đại học hình thức vừa làm vừa học và từ xa là: 225 học viên/ 6 lớp (đạt 35% chỉ tiêu)

Số liệu trường, lớp, học sinh các ngành học đều tăng mạnh, đặc biệt là ngành học MN và phổ thông… Nguyên nhân là do các phường, xã có vị trí địa lý thuận lợi, gần các trung tâm của thành phố, khu dân cư nên đã thu hút lực lượng lao động

từ các địa phương khác trong cả nước về cư ngụ, kéo theo sự gia tăng về dân số nói chung và số học sinh ở các cấp học nói riêng Điều này đã tạo áp lực lớn cho ngành

GD trong việc quy hoạch phát triển hệ thống trường lớp trong nhiều năm qua Ở bậc học MN, công tác xã hội hoá được phát triển mạnh mẽ Trong tổng số 29 trường, đã

có 11 trường tư thục – tỷ lệ 38% Ngoài ra trên địa bàn thành phố hiện có nhiều nhóm lớp giữ trẻ ngoài công lập được cấp phép hoạt động, đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ của người dân tại các các khu dân cư Quy mô ngành học MN tiếp tục tăng

so với các năm học trước do việc huy động trẻ trong độ tuổi ra lớp thực hiện khá tốt

Ở cấp học THPT, sau khi tốt nghiệp THCS, học sinh có nhiều lựa chọn trong việc tiếp tục học văn hoá ở cấp THPT hoặc vào bậc trung cấp chuyên nghiệp để vừa học nghề vừa học văn hoá tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Điều này phù hợp với định hướng phân luồng học sinh sau THCS của địa phương

Ngành học GDTX khi có chủ trương chuyển cơ sở hoạt động và sáp nhập Trung tâm với đơn vị khác trong thời gian gần đây đã gây ra tâm l hoang mang, dao động trong tập thể công chức, viên chức; đồng thời cũng đã tác động không ít đến tâm l người học, cũng như các đối tác tham gia công tác liên kết tuyển sinh, đào tạo với Trung tâm Cho nên, công tác tuyển sinh ngày càng gặp nhiều khó khăn,

do nhiều cơ sở GD trên địa bàn tham gia tuyển sinh chương trình GDTX, cùng với

sự đánh giá không thuận lợi về chương trình GDTX của xã hội đã ảnh hưởng lớn quy mô đào tạo và hoạt động của Trung tâm

Nhìn chung, quy mô phát triển mạng lưới trường lớp của thành phố Long Xuyên đã có sự phát triển mạnh mẽ, phù hợp với quy hoạch phát triển KT - XH của

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý Giáo dục, Trường CBQL Giáo dục và Đào tạo TW1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý Giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
2. Nguyễn Mạnh Cầm (2009), Xây dựng XHHT ở Việt Nam, NXB Dân Trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng XHHT ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cầm
Nhà XB: NXB Dân Trí
Năm: 2009
3. Chi cục Thống kê thành phố Long Xuyên (2017), Niên giám Thống kê năm 2016, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê năm 2016
Tác giả: Chi cục Thống kê thành phố Long Xuyên
Năm: 2017
4. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004), Bài giảng cơ bản khoa học quản lý, Trường CBQL Giáo dục và Đào tạo TW1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng cơ bản khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2004
5. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2002), Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2002
6. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2005), Đề án Xây dựng XHHT giai đoạn 2005-2010, được ban hành tại Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Xây dựng XHHT giai đoạn 2005-2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Năm: 2005
7. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013), Đề án Xây dựng XHHT giai đoạn 2012-2020, được ban hành tại Quyết định số 89/2013/QĐ-TTg ngày 09/1/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Xây dựng XHHT giai đoạn 2012-2020
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Năm: 2013
8. Phạm Tất Dong (2004), “Xã hội học tập”, Tạp san Khuyến học Nghệ An (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học tập
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 2004
9. Vũ Dũng, Phùng Đình Mẫn (2007), Giáo trình Tâm lý học quản lý, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học quản lý
Tác giả: Vũ Dũng, Phùng Đình Mẫn
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2007
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TW khóa IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TW khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011- 2020
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
16. Nguyễn Minh Đạo (1997), Cơ sở khoa học về quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học về quản lý
Tác giả: Nguyễn Minh Đạo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
17. Nguyễn Minh Đường (2004), “Xây dựng một XHHT, yêu cầu tất yếu của công cuộc CNH-HĐH đất nước”, Tạp chí Giáo dục (số 91) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một XHHT, yêu cầu tất yếu của công cuộc CNH-HĐH đất nước”
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Năm: 2004
18. Phạm Minh Hạc (2004), Tìm hiểu quan niệm về XHHT, Tạp chí GD số 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quan niệm về XHHT
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 2004
19. ĐặngVũ Hoạt, Hà Thế Ngữ (1998), Giáo dục học tập 1, 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tập 1, 2
Tác giả: ĐặngVũ Hoạt, Hà Thế Ngữ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
23. Nguyễn Khắc Hùng (2009), XHHT với những giá trị văn hóa truyền thống, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: XHHT với những giá trị văn hóa truyền thống
Tác giả: Nguyễn Khắc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w