1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học phổ thông thành phố long xuyên, tỉnh an giang

117 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo ông giáo dục vừa có chức năng phân hóa vừa có chức năng xã hội hóa; Tác giả Phạm Minh Hạc chỉ ra rằng XHHGD là: “Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm của GD, GD phục vụ đắc lực cho ph

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẶNG THỊ KIM PHƯỢNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS PHAN MINH TIẾN

Thừa Thiên Huế, năm 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Đặng Thị Kim Phượng, cam đoan rằng: Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS - Tiến sĩ Phan Minh Tiến; những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác và các số liệu được sử dụng trong luận văn đều có trích dẫn đầy đủ

Huế, tháng 4 năm 2018

TÁC GIẢ

Đặng Thị Kim Phƣợng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, sự giúp đỡ nhiệt tình với các đồng chí Trưởng, phó phòng, chuyên viên các phòng ban chuyên môn thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang; cảm ơn các đồng chí CBQL và GV các trường THPT trên địa bàn thành phố Long Xuyên đã tham gia đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn Với tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới thầy giáo hướng dẫn PGS-Tiến sĩ Phan Minh Tiến đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau sại học và sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo trong thời gian học tập và nghiên cứu đã trang bị cho tôi những kiến thức quý giá

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Do thời gian và khả năng có hạn, luận văn khó có thể tránh khỏi những hạn chế Kính mong được sự đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô trong hội đồng khoa học, bạn bè và đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 5 năm 2018

TÁC GIẢ

Đặng Thị Kim Phƣợng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9

4 Giả thuyết khoa học 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 9

7 Phạm vi nghiên cứu 10

NỘI DUNG 11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 11

1.2 Các khái niệm cơ bản 14

1.2.1 Xã hội hóa giáo dục 14

1.2.2 Quản lý 17

1.2.3 Quản lý giáo dục 18

1.2.4 Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục 19

1.3 Lí luận về công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT 20

1.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác xã hội hoá giáo dục 20

1.3.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT 22

1.3.3 Mục tiêu công tác xã hội hóa giáo dục ở trường THPT 25

1.3.4 Những nguyên tắc cơ bản của công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT 26

1.3.5 Nội dung cơ bản của công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT 27

Trang 5

1.4 Quản lí công tác xã hội hóa giáo dục của Hiệu trưởng trường THPT 31

1.4.1 Tầm quan trọng của việc quản lí công tác xã hội hoá giáo dục 31

1.4.2 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của người Hiệu trưởng trường THPT 33 1.4.3 Nội dung quản lý công tác xã hội hoá giáo dục của Hiệu trưởng trường THPT 34

1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT học 38

Tiểu kết chương 1 41

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG 42

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và giáo dục - đào tạo của Thành phố Long Xuyên 42

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 42

2.1.2 Kinh tế - xã hội 42

2.1.3 Khái quát chung về giáo dục và đào tạo thành phố Long Xuyên 43

2.2 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 52

2.2.1 Mục đích khảo sát 52

2.2.2 Nội dung khảo sát 52

2.2.3 Đối tượng khảo sát 52

2.2.4 Địa bàn khảo sát 52

2.2.5 Phương pháp khảo sát 52

2.3 Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học phổ thông, Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 52

2.3.1 Những chủ trương chính sách của địa phương và ngành giáo dục đối với công tác xã hội hoá giáo dục trường trung học phổ thông 52

2.3.2 Về nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, nhân dân và cán bộ quản lý giáo dục đối với công tác xã hội hoá giáo dục 54

2.3.3 Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 58

Trang 6

2.4 Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường THPT thành phố

Long Xuyên, tỉnh An Giang 63

2.4.1 Thực trạng quản lý xây dựng kế hoạch xã hội hóa giáo dục 64

2.4.2 Thực trạng quản lý tổ chức thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục 65

2.4.3 Thực trạng quản lí việc chỉ đạo, giám sát công tác xã hội hóa giáo dục 66

2.4.4 Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá công tác XHHGD 66

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 67

2.5.1 Đánh giá chung 67

2.5.2 Nguyên nhân thực trạng 70

Tiểu kết Chương 2 72

Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG 73

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 73

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, khả thi 73

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 74

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 74

3.2 Các biện pháp quản lí công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 74

3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức về công tác XHHGD cho các ngành, các lực lượng xã hội, cán bộ, giáo viên, học sinh ở các trường THPT 74

3.2.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT 79

3.2.3 Kế hoạch hóa công tác xã hội hoá giáo dục ở trường trung học phổ thông 81

3.2.4 Tổ chức thực hiện công tác XHHGD có hiệu quả 83

3.2.5.Tăng cường việc giám sát, chỉ đạo công tác XHHGD 86

3.2.6 Nâng cao hiệu quả việc kiểm tra, đánh giá công tác XHHGD 88

3.2.7 Tổ chức các điều kiện hỗ trợ công tác xã hội hoá giáo dục 91

Trang 7

3.2.8 Mối quan hệ giữa các biện pháp 92

3.3 Khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất 94

3.4.1 Đối tượng khảo nghiệm 94

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 94

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96

1 KẾT LUẬN 96

2 KHUYẾN NGHỊ 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Hệ thống các trường trên địa bàn tỉnh An Giang, năm học 2016 - 2017 44

Bảng 2.2: Thống kê xếp loại học lực hạnh kiểm cuối năm học 2016-2017 50

Bảng 2.3: Trình độ đội ngũ CB, GV các trường THPT trên địa bàn thành phố Long Xuyên 50

Bảng 2.4: Kết quả trưng cầu ý kiến về tầm quan trọng của công tác XHHGD 55

Bảng 2.5: Nhận thức về mục tiêu của XHHGD ở các trường THPT 55

Bảng 2.6: Nhận thức về lợi ích của công tác XHHGD ở các trường THPT 56

Bảng 2.7: Quan điểm về công tác XHHGD 57

Bảng 2.8: Nhận thức về XHHGD trong giai đoạn hiện nay 57

Bảng 2.9: Kết quả ý kiến đánh giá về việc thực hiện công tác XHHGD ở các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thời gian qua 58

Bảng 2.10: Kết quả đánh giá về tổ chức Đại hội giáo dục 60

Bảng 2.11: Kết quả đánh giá về hoạt động của Hội đồng giáo dục 60

Bảng 2.12: Kết quả đánh giá về hoạt động của Ban ĐDCMHS trường 61

Bảng 2.13: Kết quả đánh giá về mức độ tham gia của các ban ngành vào các hoạt động giáo dục của địa phương 62

Bảng 2.14: Kết quả khảo sát về công tác quản lý của Hiệu trưởng các trường THPT đối với công tác XHHGD 63

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 94

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục có vai trò hết sức to lớn, là trụ cột của một quốc gia ảnh hưởng đến

sự tồn vong của dân tộc Nền giáo dục tốt sẽ góp phần tạo dựng, bảo vệ giá trị nhân bản làm nền tảng cho xã hội hưng thịnh

Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, thế giới ngày càng trở nên “phẳng”, mọi thứ đều giống nhau, vai trò của giáo dục càng đặc biệt quan trọng Giáo dục góp phần nâng cao dân trí quốc gia; giáo dục còn góp phần tạo ra hệ thống giá trị xã hội mới, tạo ra tài sản quý giá nhất của con người và xã hội là tri thức Nhà nước quan tâm đến giáo dục bằng việc thực hiện các chủ trương, chính sách đầu tư cho giáo dục nhằm tạo điều kiện, cơ hội học tập cho tất cả mọi người, đảm bảo cho mọi người được học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời

Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII xác định: Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Phát triển giáo dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xã hội, trong đó đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới

cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đào tạo… Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo” do đó, hơn lúc nào hết công tác XHHGD phải trở thành phong trào rộng lớn, mạnh mẽ tạo điều kiện cho sự phát triển đáp ứng được mục tiêu chiến lược của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là việc vận động xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục XHH và đa dạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực, trí lực trong xã hội để phát triển giáo dục; phát huy và sử dụng có hiệu quả các

Trang 11

nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giáo dục và phát huy vai trò, ảnh hưởng của giáo dục đối với xã hội

XHHGD không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và sự đầu tư của nhà nước

mà trái lại, nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn thu để tăng tỉ lệ ngân sách cho các hoạt động giáo dục, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí đó Chính phủ đã ban hành Quyết định 90/CP; Nghị quyết 05/2005/NQ-CP, Nghị định 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác Qua đó cho thầy lâu nay, công tác XHHGD luôn được Đảng, nhà nước, các cấp lãnh đạo địa phương quan tâm triển khai thực hiện

Giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội và là yếu tố quyết định tương lai của mỗi con người và của cả xã hội Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam hiện nay đặt ra vấn đề cần phải cải cách giáo dục và XHHGD là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện điều đó XHHGD là tinh thần, là nội dung quan trọng nhất của cải cách giáo dục, đảm bảo sự thành công của cải cách giáo dục

Đối với các trường THPT, XHHGD vừa là chủ trương, vừa là giải pháp để các trường tham mưu với địa phương trong việc huy động mọi nguồn lực phục vụ cho các hoạt động giáo dục, tạo điều kiện cho nhà trường ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay

Trong thực tế, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm qua có

sự phát triển và mở rộng về trường học cũng như số lượng học sinh Tuy nhiên, các nhà quản lý giáo dục chưa tập trung đúng mức để khai thác các nguồn lực mà chỉ chú trọng vào những đóng góp của phụ huynh học sinh Công tác XHHGD ở các trường THPT đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả nhất định Nhiều gia đình quan tâm, chăm lo việc học tập con em; ngày càng có nhiều đơn

vị, cá nhân quan tâm, ủng hộ cho sự phát triển cơ sở vật chất trong các đơn vị trường học Tuy nhiên, công tác xã hội hóa vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Việc huy động các nguồn lực tham gia XHHGD ở mỗi trường chưa đồng bộ; chưa có sự tổng kết, đánh giá, so sánh, rút kinh nghiệm để tìm giải pháp quản lý phù hợp để công tác này đạt được hiệu quả cao

Trên địa bàn thành phố Long Xuyên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về công tác XHHGD, đặc biệt là về công tác quản lý XHHGD của hiệu trưởng các trường THPT

Trang 12

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Biện

pháp quản lý công tác XHHGD ở các trường THPT ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát, đánh giá thực trạng về công tác XHHGD và quản lý công tác XHHGD ở các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác XHHGD ở trường THPT, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý ở trường THPT

3.2.Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý công tác XHHGD của hiệu trưởng ở các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

4 Giả thuyết khoa học

Công tác XHHGD ở các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn những hạn chế và bất cập trong công tác tổ chức, quản lý, hiệu quả chưa cao Chất lượng, hiệu quả của hoạt động này sẽ được nâng cao nếu hiệu trưởng các tường THPT xây dựng và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHHGD ở trường THPT 5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác XHHGD và quản lý công tác XHHGD ở các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng XHHGD các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Sử dụng các phương pháp: phân tích - tổng hợp, phân loại tài liệu, hệ thống hóa, khái quát hoá các tài liệu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHHGD ở trường THPT

Trang 13

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng các phương pháp điều tra; Phương pháp tổng kết kinh nghiệm; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia…để khảo sát, đánh giá thực trạng công tác XHHGD và quản lý công tác XHHGD ở các trường THPT thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý được đề xuất

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Nhằm xử lý kết quả nghiên cứu

7 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu thực trạng công tác XHHGD và quản lý công tác XHHGD ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Long Xuyên, bao gồm: Trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu, THPT Long Xuyên, THPT Thực hành sư phạm, THPT Nguyễn Công Trứ , THPT Mỹ Hòa Hưng

Đối tượng khảo sát: Ban giám hiệu các trường THPT; Các tổ trưởng chuyên môn và một số giáo viên; PHHS

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

Xã hội hoá giáo dục không phải là vấn đề hoàn toàn mới Đó là bước phát triển của một chủ trương giáo dục được thực thi qua nhiều năm Ở nước ngoài, công tác XHHGD đã được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm Các nước Trung Quốc,

Ấn Độ, Singapo đến Pháp, Nga, Đức…đều khẳng định XHHGD “là vấn đề vô cùng quan trọng” Trong quá trình toàn cầu hóa ngày nay, nhiều quốc gia phương Tây càng chú trọng phát triển giáo dục, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc Họ ý thức rất rõ rằng, trong thế giới ngày càng trở nên “phẳng” và mọi thứ đều giống nhau, một dân tộc muốn “nhận diện” được so với các dân tộc khác chỉ có thể dựa vào bản sắc dân tộc và nếu bản sắc dân tộc không còn thì điều đó đồng nghĩa với thảm họa dân tộc ấy sẽ bị xóa sổ, hòa tan

Ở Đức, trong hội đồng xét chọn chương trình của trường cũng như ở cấp thành phố, ngoài thành phần thầy cô, bắt buộc phải có đại diện học sinh tham gia Ngoài ra, mỗi trường đều có một hội đồng riêng của học sinh, sinh viên (để đánh giá, góp ý cho nhà trường về chương trình, phương pháp giảng dạy…) và vì nó giúp cho nhà nước thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình nên hoạt động của hội đồng này cũng nằm trong

số đối tượng mà nhà nước có nghĩa vụ hỗ trợ, đặc biệt là về mặt tài chính [24]

Ở Việt Nam lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm việc mở mang dân trí, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục Người đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đối với sự hưng thịnh của đất nước, với nhiệm vụ cực kỳ trọng đại là nâng cao dân đức, mở mang dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, là động lực của sự phát triển, đưa nước nhà tiến tới giàu mạnh, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu

Bác Hồ kính yêu luôn dành tình cảm đặc biệt cho các em thiếu niên, nhi đồng - thế hệ trẻ của đất nước Với Người, thế hệ trẻ chính là những mầm non, là niềm hi vọng cho đất nước phát triển tiến bộ, văn minh, hiện đại Trong bức thư Bác gửi học sinh trong ngày khai trường vào tháng 9/1945 ngay sau ngày Bác đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, Bác viết: Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn,

Trang 15

ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” Vì vậy chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm, là tình thương và hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng

Trải qua nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, XHHGD ở nước ta

đã có những bước phát triển mới; nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo Cách mạng tháng 8 thành công, quan điểm giáo dục của Đảng và Bác Hồ đã được khởi xướng và dấy lên nhiều phong trào học tập rầm rộ Khẩu hiệu “Diệt giặc dốt” và sắc lệnh thành lập “Nha bình dân học vụ” của Chính phủ đã mở đầu cho nền giáo dục của dân, do dân và vì dân Tư tưởng giáo dục của Hồ Chủ Tịch có tính thuyết phục cao và đem lại hiệu quả to lớn Hình thức tổ chức dạy - học được thực hiện theo khẩu hiệu hành động: “Người biết chữ dạy người chưa biết, chồng dạy vợ, cha dạy con” Ai biết chữ đều có thể tham gia dạy bình dân học vụ Quan điểm giáo dục của Đảng và Bác Hồ đã thực sự đi vào lòng dân và đã khơi dậy truyền thống hiếu học của dân tộc, tạo nên một sức mạnh tổng hợp vượt qua mọi khó khăn thử thách để

“Ai cũng được học hành” Từ đó Đảng và nhân dân ta đã ý thức sâu sắc lời dạy của Bác Hồ: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người” Tuy ở trong hoàn cảnh đất nước với nhiều khó khăn, thử thách, Đảng và nhân dân ta đang phải đương đầu với nhiều giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm nhưng nền giáo dục Việt Nam do Bác Hồ khởi xướng đã phát triển một bước khá dài và mạnh

mẽ, huy động được sự đóng góp to lớn của toàn xã hội

Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước độc lập, thống nhất, Đảng và Chính phủ đã có nhiều nỗ lực đầu tư phát triển giáo dục nhưng do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, tổ chức thực hiện còn máy móc nên chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có để phát triển, việc phát triển XHHGD là điều cần thiết để nền GD nước nhà ngày càng phát triển Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là nhà nước chuyển giao hay phó thác nhiệm vụ hiến định của mình cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, mà là tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia vào giáo dục, sao cho nó đáp ứng tốt nhất nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội, sao cho ai cũng được đến trường, ai cũng có điều kiện hưởng cơ hội vào đời như nhau Chính vì vậy, Luật

Trang 16

Giáo dục năm 2005 (Điều 12) có quy định: Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và hình thức giáo dục; huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn [29]

Bên cạnh những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nêu trên, các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu

về XHHGD Tác giả Phạm Minh Hạc: “Xã hội hóa công tác giáo dục, một con đường phát triển giáo dục của nước ta” [14,tr.16] Trong tác phẩm “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XX”, tác giả Phạm Minh Hạc nêu rõ: “Sự nghiệp giáo dục không chỉ là của Nhà nước mà là của toàn xã hội Mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm giáo dục” [14,tr.330-331]

Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” đã làm rõ nội hàm khái niệm XHH công tác giáo dục và coi XHH là một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn, khái niệm

đó lại được phát triển thêm, nội hàm phong phú hơn Ông đã nhấn mạnh: “Với tư cách là nhân tố mới của sự phát triển giáo dục, tư tưởng “xã hội hóa” công tác giáo dục lại tạo ra những điều kiện để xuất hiện những nhân tố mới trong các quá trình vận động đi lên của phong trào giáo dục”

Vấn đề XHHGD đã được đề cập, nghiên cứu trên nhiều phương diện, cả về

lý luận lẫn thực tiễn ở trong nước và các nước trên thế giới Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác XHHGD của các nhà khoa học, nhà quản lý; nhiều luận văn thạc sĩ QLGD cũng đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề này như

“Biện pháp quản lý công tác XHHGD Mầm non ở Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” của tác giả Đỗ Văn Cang; “Biện pháp quản lý công tác XHHGD của Hiệu trưởng các trường THCS Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” của tác giả Phạm Thị

Tô Điểm… Tuy nhiên đó là những vấn đề đúc kết mang tính khái quát hoặc cụ thể gắn liền với công tác quản lý ở từng địa phương mang tính riêng biệt Ở tỉnh An Giang nói chung, thành phố Long Xuyên nói riêng, vấn đề XHHGD ở trường THPT đến nay vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu

Trang 17

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Xã hội hóa giáo dục

XHHGD là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động GD và cộng đồng xã hội, làm cho GD phát triển phù hợp với sự phát triển xã hội XHHGD là cách nói gọn của XHH công tác GD với nội hàm là phương thức, cách thức, phương châm, cách làm GD, tổ chức và quản lý giáo dục XHHGD là một chiến lược trong đường lối GD của Đảng, là một trong ba tiêu chí: chuẩn hóa, hiện đại hóa và XHH

GD của Việt Nam hiện nay Đồng thời XHHGD cũng là một trong các giải pháp cơ bản để thực hiện chiến lược GD và nâng cao chất lượng GD

Xã hội hoá giáo dục cũng là quá trình trao đổi những kinh nghiệm, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp, hình thức, phương tiện giáo dục một cách phù hợp với đối tượng và điều kiện nước ta Xã hội hoá giáo dục cũng là quá trình mở rộng phạm vi giáo dục, nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục ở quy mô quốc gia, khu vực và quốc tế Việc coi trọng chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá của các tổ chức chính trị - xã hội, các hội, đoàn thể, các thôn xóm, tổ dân phố, cộng đồng dân cư thực chất là xã hội hoá giáo dục, là các tổ chức này tham gia vào quá trình giáo dục

Đặc điểm của XHHGD là mở rộng quy mô, mở rộng trách nhiệm giáo dục, chuyển hướng từ giáo dục tinh hoa thành giáo dục đại chúng, giáo dục cho mọi người và tiến tới một xã hội học tập Hoạt động GD từ chỗ là trách nhiệm của ngành

GD, do Nhà nước đảm trách trở thành trách nhiệm của mọi cá nhân, tập thể, cộng đồng cùng chăm lo XHHGD là quá trình tăng cường tính xã hội của GD lên tầm cao hơn, đa phương hóa nguồn lực, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, cộng đồng hóa trách nhiệm

XHHGD là quá trình giáo dục gia nhập và hòa nhập xã hội vào cộng đồng, đồng thời xã hội tiếp nhận giáo dục như là công việc của mình, do mình và vì mình Như vậy, XHHGD là thực hiện mối liên hệ phổ biến, có tính quy luật giữa giáo dục

và cộng đồng xã hội Thiết lập các mối quan hệ làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển xã hội XHHGD bao gồm hai nội dung: mọi người có nghĩa vụ chăm lo giáo dục và giáo dục phục vụ mọi người Hai nội dung trên nêu rõ hai yêu cầu của XHHGD là phải XHH trách nhiệm, nhiệm vụ của cộng đồng xã hội đối với giáo dục, đồng thời phải XHH quyền lợi về giáo dục đối với mọi người

Khi bàn về công tác giáo dục, Hồ Chủ tịch đã dạy: “Giáo dục là sự nghiệp

Trang 18

của quần chúng, cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan

hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường với nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ…” [23, tr.258] Vì vậy, không thể hiểu xã hội hóa giáo dục như một phương châm hành động khi đất nước còn nghèo, điều kiện đầu tư cho giáo dục còn quá eo hẹp XHHGD là một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục nhằm làm cho hoạt động giáo dục thực sự là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân gắn với các quá trình phát triển và tiến bộ xã hội

Khi đề cập đến khái niệm XHHGD đã có nhiều ý kiến khác nhau:

Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim (1858-1917) là một trong số rất ít người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “xã hội hóa” Theo ông giáo dục vừa có chức năng phân hóa vừa có chức năng xã hội hóa;

Tác giả Phạm Minh Hạc chỉ ra rằng XHHGD là: “Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm của GD, GD phục vụ đắc lực cho phát triển KT-XH, thực hiện việc kết hợp GD trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để GD kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; XHHGD có quan hệ hữu cơ với dân chủ hóa GD” [14, tr.18]

Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục quốc dân, các cấp học, đẩy mạnh xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp công lập có khả năng tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động theo hướng tiếp tục đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, nhân sự Khuyến khích thành lập các

tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo Bên cạnh việc củng cố các trường công lập giữ vai trò chủ đạo, lấy đó làm nòng cốt, cần mở ra nhiều hình thức giáo dục, phát triển các loại hình trường ngoài công lập, tạo cơ hội cho mọi người dân nâng cao trình độ, tiếp cận được tri thức mới, tiến bộ khoa học

kỹ thuật; sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để phát triển giáo dục từ xa Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại trường, lớp bán công, dân lập, tư thục tại thành phố, thị xã, thị trấn và những vùng có kinh tế thuận lợi

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hoá giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời” [13, tr.15]

Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “XHHGD trước hết phải được hiểu là một sự

Trang 19

nghiệp rộng lớn, đầy trách nhiệm và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội và toàn dân chăm lo cho phát triển giáo dục và đào tạo không những chỉ đối với thế hệ trẻ mà tất cả mọi người công dân Việt Nam không phân biệt già, trẻ, nam, nữ, giàu, nghèo, dân tộc, cương vị, vị trí xã hội và dù ở đâu (thành thị, nông thôn, vùng núi, hải đảo, các vùng khó khăn, xa xôi, hẻo lánh ) ai ai muốn học, muốn học gì, muốn học bằng cách nào, học như thế nào phù hợp với hoàn cảnh, năng lực của mình nhất, cũng tạo điều kiện tốt nhất có được để học” [16, tr.343]

Tác giả Lê Quốc Hùng nhận định XHHGD nhìn từ góc độ pháp luật thì nó là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển giáo dục và đào tạo, XHHGD là chủ trương đúng đắn, mang tính chiến lược của Đảng “Xã hội hóa giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế-xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập” [17, tr.17];

Như vậy, XHHGD được hiểu khái quát là quá trình toàn thể quần chúng nhân dân cùng tham gia vào sự nghiệp GD, làm cho hoạt động GD trong nhà trường trở thành công việc chung của toàn xã hội để thu hút mọi thành phần, thành viên trong xã hội tích cực tham gia vào hoạt động GD [32];

XHHGD là cuộc vận động lớn trong xã hội có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt của ngành giáo dục Để từ đó mọi người có cơ hội được hưởng quyền lợi về giáo dục, được học tập, học tập suốt đời, xây dựng một xã hội học tập nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

XHHGD là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội;

XHHGD là mở rộng quy mô, mở rộng trách nhiệm giáo dục, chuyển hướng

từ giáo dục tinh hoa thành giáo dục đại chúng, giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập;

Sự nghiệp giáo dục từ chỗ là trách nhiệm của ngành giáo dục, của nhà nước đến mọi cá nhân, tập thể, cộng đồng cùng chăm lo Điều đó tạo nên sức mạnh tổng hợp và động lực mới, tính công bằng xã hội của giáo dục

Trong hoạt động thực tiễn, cần phân biệt rõ tính chất xã hội của GD và XHHGD, nếu không có định hướng rõ ràng thì bản thân hoạt động GD vẫn có tính

Trang 20

chất xã hội một cách tự phát nhưng không thể đạt tới trình độ XHH đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó Cần xác định rõ ràng: nội hàm XHHGD nói ở đây thuộc phạm trù phương thức, phương châm, cách làm GD, thuộc phương thức tổ chức và QLGD đúng với bản chất và nội dung XHH đã nêu

1.2.2 Quản lý

Có nhiều quan điểm tiếp cận quản lý như: quan điểm tiếp cận lịch sử, tiếp cận phân tích tổng hợp, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận hệ thống

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang khẳng định: Quản lý là sự tác động có tổ chức,

có định hướng của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường [27, tr.42]

Theo tác giả Phan Văn Kha: QL là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo

và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các hệ thống nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định

Xét QL với tư cách là một hành động, tác giả Vũ Ngọc Hải cho rằng: QL là

sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra [15]

Xét theo chức năng QL, hoạt động QL thường được định nghĩa: QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)

kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra

F.W.Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [9, tr.89]

Các Mác khẳng định: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cần có một sự lãnh đạo

để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ mọi vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [5, tr.342]

Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [19, tr.8]

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Công tác QL lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là việc thực hiện hai quá trình liên hệ chặc chẽ với nhau: Quản và Lý Quá

Trang 21

trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; quá trình “Lý” gồm những việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào hệ phát triển”

Như vậy, QL không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật trong đó hoạt động QL vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất

1.2.3 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực công tác giáo dục Nói một cách đầy đủ hơn, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội

Theo P.V.Khuđôminxky: “ Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (Bộ Giáo dục & Đào tạo đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ”[9, tr.5]

Theo M.I.Kondakop: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và

mở rộng cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [18, tr.17]

Theo tác giả Trần Kiểm, ở cấp độ vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện

có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [19, tr.21]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên

Trang 22

trạng thái mới về chất” [27, tr.35];

Tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [1, tr.17]

Như vậy, có thể hiểu QLGD là: Sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu

đã định

Trong QLGD, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp; đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục và đào tạo Như thế, sự tác động từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, có thể từ người quản lý đơn vị cơ sở giáo dục đến các đối tượng quản lý là người dạy, người học, CSVC hoặc là sự tác động giữa các cấp QLGD từ Trung ương đến địa phương

QLGD bao gồm các vấn đề cơ bản sau:

+ Xây dựng và thực hiện chính sách, chiến lược và quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục;

+ Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, ban hành điều lệ nhà trường;

+ Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, CSVC, trang thiết bị trường học;

+ Tổ chức bộ máy QLGD;

+ Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo viên;

+ Huy động quản lý sử dụng các nguồn lực;

QLGD được phân công theo các nguyên tắc khác nhau, theo địa bàn lãnh thổ, theo chuyên môn kỹ thuật, theo mục tiêu quản lý

Tóm lại, quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội, trong đó diễn ra những hoạt động phù hợp với hiện thực khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết cho sự ổn định và phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu mà xã hội đặt ra

1.2.4 Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục

Từ bản chất của XHHGD và quản lý, có thể xác định: Quản lý công tác XHHGD là sự tác động có ý thức của người quản lý lên các hoạt động XHHGD,

Trang 23

làm cho nó tiến triển theo ý muốn của nhà quản lý giáo dục, phù hợp với định hướng, mục tiêu của nền giáo dục nước nhà

XHHGD là một trong những nhân tố quan trọng trong việc triển khai thực hiện mục tiêu, chương trình, cũng như kế hoạch hóa các loại hình GD XHHGD phải đảm bảo sự nhà nước thống nhất quản lý, sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GD Quản lý công tác XHHGD là quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách do nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức,

cá nhân cho sự phát triển giáo dục; để đảm bảo tốt công tác XHHGD phải có sự tham gia của nhân dân và của cả hệ thống chính trị từ cơ sở, tham gia hoạch định công tác XHHGD Công tác quản lý hoạt động XHHGD bao gồm việc xây dựng chiến lược; chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác XHHGD Trong điều kiện đổi mới

GD hiện nay, để nâng cao được chất lượng GD việc thực hiện tốt công tác quản lý XHHGD là một nhiệm vụ quan trọng trong trường học

1.3 Lí luận về công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT

1.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác xã hội hoá giáo dục

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định trong mọi chủ trương, chính sách từ trước đến nay là phải huy động toàn xã hội làm giáo dục, thể hiện sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Cần phải phát huy đầy đủ tính dân chủ XHCN, xây dựng mối quan hệ thật tốt, đoàn kết giữa thầy và trò, giữa trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó” [22, tr.258]

Nghị quyết TW 2 (Khóa VIII) của Đảng đã khẳng định: “Phát triển giáo dục

là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, từng gia đình và mỗi công dân Kết hợp giáo dục học đường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội” [10]

Nghị quyết TW 6 (Khóa IX) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân và XHHGD là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục.” [12]

Văn kiện Đại hội IX (2001) của Đảng khẳng định: “ Tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước và đẩy mạnh XHHGD” [11] Nghị quyết TW6 khóa IX tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh XHHGD, xây dựng xã hội học tập, coi GD là sự nghiệp của toàn dân và XHHGD là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục”

Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 [6] và Nghị định số: 69/NĐ-CP

Trang 24

ngày 30/5/2008 [7] của Chính phủ đã cụ thể hóa quan điểm: XHHGD là quá trình giáo dục hóa xã hội, vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục, làm cho xã hội trở thành một xã hội học tập; tạo lập và phát triển môi trường giáo dục lành mạnh; là đa dạng hóa sự đầu

tư vào các loại hình giáo dục, các hình thức giáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước

Luật GD 2005: “Phát triển GD, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước, của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức GD; khuyến khích, huy động

và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD” [29]

Trong Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo 2011- 2020 [3], Chính phủ

đã chỉ rõ: XHHGD là quá trình làm cho mọi người có nghĩa vụ xây dựng và tạo điều kiện cho giáo dục, tham gia vào sự nghiệp giáo dục; đổi mới căn bản, toàn diện

để chấn hưng giáo dục và đào tạo thành một nền giáo dục thực tiễn, đại chúng và hiệu quả theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; tạo bước phát triển mạnh về phát triển nguồn lực

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra: “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo… bổ sung chính sách ưu đãi để phát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm học tập cộng đồng Có lộ trình cụ thể cho việc chuyển đổi một số cơ sở GD, đào tạo công lập sang dân lập, tư thục…” [13]

Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng khóa XI tiếp tục khẳng định

về quan điểm chỉ đạo đối với GD&ĐT: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,

là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới tất cả các bậc học, ngành học [25, Tr2]

Hiến Pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, Điều 61 ghi rõ: “Phát triển GD là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Nhà nước ưu tiên

Trang 25

đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho GD; chăm lo giáo dục mầm non; đảm bảo giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề” [28, Tr 12]

Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã ban hành các văn bản về chính sách khuyến khích và đẩy mạnh công tác XHHGD và các lĩnh vực

Nghị định số 69/2008/NĐ-CP, ngày 30/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường [7] Trong đó, quan tâm thực hiện các chính sách cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất, các chính sách ưu đãi về tín dụng, huy động vốn… tạo điều kiện cho địa phương, các tổ chức và cá nhân tham gia Nhằm

đa dạng hóa các loại hình trường lớp, xây dựng cơ sở vật chất, huy động, duy trì sĩ

số học sinh, giáo dục đạo đức cho học sinh, thực hiện công tác phổ cập giáo dục

Như vậy, có thể khẳng định, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác XHHGD; luôn nhất quán quan điểm về phát triển giáo dục và đào tạo theo phương châm xã hội hoá; thực hiện tốt công tác XHHGD để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội chăm lo cho sự phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, làm tiền đề

để phát triển đất nước và hội nhập quốc tế

1.3.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT

XHHGD là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Chủ trương đó đã trở thành một cuộc vận động lớn mang lại hiệu quả thiết thực Điều quan trọng nhất trong công tác XHHGD là tạo một cơ chế, phối hợp tối ưu giữa chính quyền; địa phương và ngành GD&ĐT Giáo dục là một nhu cầu không thể thiếu của xã hội

Trang 26

XHHGD chính là trả lại đầy đủ tính chất xã hội của giáo dục cho giáo dục XHHGD

để khơi dậy truyền thống hiếu học lẫn tiềm năng của con người, phát triển sự nghiệp giáo dục và tiến tới xây dựng một xã hội học tập Đảng ta đã xác định: “Giáo dục là

sự nghiệp của quần chúng”,“Nhà nước và nhân dân cùng làm giáo dục”

XHHGD tiếp tục khẳng định quan điểm: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, đề cao một nền giáo dục của dân, do dân, vì dân Làm cho xã hội nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của GD GD chính là nhân tố quan trọng đảm bảo cho

sự tồn tại và phát triển của xã hội GD đóng vai trò “trồng người”, là cơ sở phát triển KT-XH của đất nước, của địa phương Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức về trách nhiệm của mỗi người, của xã hội đối với sự phát triển GD và đó cũng chính là

cơ sở để giáo dục đầu tư, phát triển đúng hướng

XHHGD làm cho xã hội nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò của giáo dục cũng như về thực trạng giáo dục của từng địa phương; đồng thời nhận thức rõ hơn

về trách nhiệm của xã hội đối với giáo dục và chỉ có sự tham gia của toàn xã hội mới đảm bảo cho giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả

XHHGD sẽ huy động được nhiều nguồn lực như: nhân lực, vật lực, tài lực, cho sự phát triển giáo dục Huy động nguồn nhân lực là chiến lược dựa vào con người, tạo điều kiện thuận lợi để mọi cá nhân, các lực lượng phát huy năng lực, chủ động tự giác cống hiến vào các hoạt động giáo dục Huy động nguồn vật lực là tạo

ra sự hỗ trợ các điều kiện vật chất và tinh thần cho các hoạt động giáo dục Huy động nguồn lực phát triển giáo dục là điều kiện cần thiết Hàng năm, ngân sách nhà nước dành cho giáo dục đều tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành

Vì thế, việc huy động được nhiều nguồn tài chính trong nhân dân, trong xã hội để phát triển giáo dục là yêu cầu của XHHGD

XHHGD góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT Chính XHHGD tạo nên những điều kiện thuận lợi về cả tinh thần và vật chất để nâng cao chất lượng giáo dục cũng như góp phần hoàn thiện nội dung, chương trình, phương pháp … tạo chuyển biến tích cực về chất lượng của giáo dục

XHHGD tạo ra một xã hội học tập, một động lực thực hiện mục tiêu giáo dục XHHGD tạo điều kiện và cơ hội học tập cho mọi người để từ đó hình thành nên một

xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

XHHGD sẽ phát huy được sự hợp tác, hỗ trợ của nhiều ngành chuyên môn qua việc liên thông với thị trường bên ngoài, tạo điều kiện cho GD&ĐT mở rộng

Trang 27

phạm vi hoạt động; có môi trường thuận lợi để phát triển vững chắc, đúng hướng nhằm đào tạo những con người thích ứng với xã hội, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang cần

XHHGD góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT Thông qua việc huy động toàn xã hội tham gia vào việc cụ thể hóa mục tiêu, cải tiến nội dung và phương pháp

GD, tạo điều kiện tăng cường cơ sở vật chất, kết hợp ba môi trường GD: nhà trường -gia đình - xã hội để tạo nên sản phẩm GD XHHGD là phương thức đặc biệt, vừa thực hiện, vừa tự kiểm tra, đánh giá Do vậy, hoạt động GD - dạy học luôn luôn được cải tiến đổi mới, góp phần làm cho chất lượng GD được nâng cao

XHHGD sẽ tạo điều kiện thực hiện dân chủ hóa và công bằng trong giáo dục Thực hiện dân chủ hóa là nhằm xóa bỏ tính khép kín của hệ thống giáo dục nhà trường để xây dựng nền giáo dục đại chúng của dân, do dân và vì dân Phải thật công bằng, minh bạch trong việc thực hiện các chính sách, chế độ và mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường cũng như trong ngành giáo dục Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Xã hội hóa giáo dục gắn liền với dân chủ hóa giáo dục Chỉ có thể thực hiện xã hội hóa giáo dục khi xã hội có một nền dân chủ, hiện thân nhân văn và nền dân chủ này được quán triệt trong đời sống giáo dục; mọi người dân có quyền được

đi học, học được (tức là được lĩnh hội một nền giáo dục phù hợp với hoàn cảnh khả năng của mình) và được phát triển tài năng [2, tr.6]

XHHGD và dân chủ hóa GD là hai phạm trù có mối liên hệ mật thiết và biện chứng XHHGD là con đường để thực hiện dân chủ hóa GD, ngược lại nhờ dân chủ hóa GD mà các thành phần xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển GD ngày càng đông đảo, đa dạng, phong phú, rộng khắp, làm cho sự nghiệp GD trở thành sự nghiệp của toàn xã hội Đẩy mạnh XHHGD, thực hiện tốt dân chủ hóa GD là cơ hội tốt nhất để thu hút mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư cho GD Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “XHHGD gắn liền với dân chủ hóa giáo dục Chỉ có thể thực hiện XHHGD khi xã hội có một nền dân chủ, hiện thân nhân văn và nền dân chủ này được quán triệt trong đời sống giáo dục; mọi người dân có quyền được đi học, học được và được phát triển tài năng”

XHHGD góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để GD phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp phát triển KT-XH Có thể khẳng định, đời sống KT-XH quy định trình độ phát triển của GD, ngược lại GD có nhiệm vụ nâng cao nhận thức, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Mục tiêu của GD xuất phát từ mục tiêu KT-XH, kế

Trang 28

hoạch phát triển GD nằm trong kế hoạch phát triển KT-XH Do đó, giáo dục muốn phát huy được sức mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH thì GD phải bám sát mục tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ tăng trưởng KT-XH của địa phương để xây dựng và thực hiện nhiệm vụ GD và phải được phản ánh bằng con người được đào tạo XHHGD là yếu tố, là giải pháp để nâng cao chất lượng GD đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương

XHHGD góp phần làm cho môi trường văn hóa của địa phương (nhà trường), trong sạch, lành mạnh, thân thiện, thuận lợi cho việc xây dựng và thực hiện

kỷ cương, nề nếp góp phần nâng cao chất lượng GD, tạo niềm tin cho cộng đồng

Công tác XHHGD không chỉ có vai trò thúc đẩy sự nghiệp GD&ĐT phát triển mà còn có vai trò tích cực trong việc hình thành nhân cách con người Thực hiện tốt công tác XHHGD tức là đã huy động được toàn xã hội làm giáo dục, điều

đó giúp cho mọi người có đủ năng lực, phẩm chất để tham gia vào các hoạt động xã hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng đất nước

1.3.3 Mục tiêu công tác xã hội hóa giáo dục ở trường THPT

Mục tiêu của công tác XHHGD ở trường THPT là nhằm tăng nguồn lực, mở rộng quy mô, hình thức tổ chức, loại hình giáo dục, thực hiện mục tiêu giáo dục đáp ứng những yêu cầu và hoạt động giáo dục trong nền kinh tế thị trường, tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Là làm cho công tác XHHGD ngày càng phát triển và trở thành động lực thúc đẩy phát triển

GD, góp phần giảm bớt khó khăn về mặt tài chính cho nhà nước đồng thời đưa hoạt động XHH đi đúng hướng, duy trì và phát triển bền vững

Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN, của dân, do dân và vì dân, cho nên ở bất cứ loại hình đào tạo nào, cấp học nào cũng gắn liền với đời sống nhân dân Đảng ta luôn khẳng định: Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân Vì thế mà chủ trương toàn dân, toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục ngày càng trở thành phong trào rộng lớn và phát triển mạnh mẽ Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và nhận thức tầm quan trọng của nền kinh tế tri thức đã làm tăng nhu cầu học tập của mọi người; do đó mà công tác XHHGD thể hiện tư tưởng chiến lược, coi sức mạnh của toàn xã hội là điều kiện không thể thiếu để phát triển giáo dục có chất lượng hiệu quả

Mục tiêu cụ thể của công tác XHHGD ở trường THPT là:

- Xây dựng môi trường học tập lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc thế

Trang 29

hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ GD trong nhà trường với GD gia đình và GD ngoài xã hội, tăng cường trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, tổ chức đoàn thể, tổ chức KT-XH của gia đình, của từng người dân đối với sự nghiệp GD;

- Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, các hình thức học tập trên cơ sở củng cố các loại hình công lập, lấy đó làm hệ thống nòng cốt của hệ thống GD quốc dân, tích cực phát triển các loại hình ngoài công lập để tạo thêm cơ hội học tập, nâng cao trình độ cho mọi người, trước hết là cho thế hệ trẻ;

- Tăng cường nguồn đầu tư ngân sách Nhà nước và mở rộng nguồn đầu tư khác Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát triển GD;

- Tiếp tục cụ thể hóa thể chế, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện XHHGD;

- Xây dựng xã hội học tập và xã hội tham gia trực tiếp vào sự nghiệp phát triển GD

Trong quá trình đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển GD, thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức GD nhằm hướng đến xây dựng nền GD dành cho mọi người, tạo cơ hội để cho mọi người ở mọi lứa tuổi đều có điều kiện tham gia học tập thường xuyên, học suốt đời

Quản lý tốt công tác XHHGD sẽ tạo điều kiện để phát huy tối đa vai trò và tác dụng của giáo dục trong đời sống xã hội, tạo sự gắn kết cộng đồng trách nhiệm ngày càng chặt chẽ giữa nhà trường - gia đình và xã hội

1.3.4 Những nguyên tắc cơ bản của công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT

1.3.4.1 Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và quyền chủ động của cơ sở giáo dục

Đảng ta có vai trò hết sức to lớn là lãnh đạo toàn diện trên cả ba mặt: Chính trị, tư tưởng và tổ chức; lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, các lĩnh vực trong đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và hoạt động xã hội hóa công tác giáo dục Đảng

đề ra chủ trương, đường lối, nghị quyết về phát triển KH-XH Nhà nước thể chế hóa chủ trương đường lối của Đảng thành chính sách pháp luật Ngành GD và nhà trường là cơ quan chuyên môn, căn cứ vào những định hướng của Đảng, quy định Nhà nước về hoạt động GD nói chung và công tác XHHGD nói riêng, nhất là căn

cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương mình để xác định mục tiêu, nhiệm vụ, nhu

Trang 30

cầu, phương án, kế hoạch phù hợp Chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền tổ chức thực hiện công tác XHHGD để phát triển GD&ĐT một cách có hiệu quả, bền vững

1.3.4.2 Đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Tại điều 2 Hiến pháp nước CHXHCNVN, ngày 28/11/2013 đã khẳng định Nhà nước ta là nhà nước “ do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc

về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ” [28]

XHHGD phải đảm bảo phát huy quyền làm chủ nhân dân trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục Công tác XHHGD có thành công hay không trước hết phải thực hiện tốt việc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Việc đảm bảo thông tin truyền thông, công khai hóa các hoạt động XHHGD là để người dân thể hiện vai trò vừa là chủ thể vừa là đối tượng Có như vậy thì người dân sẽ hiểu, tự giác và tích cực tham gia Đây là nguyên tắc rất quan trọng cần phải thực hiện xuyên suốt nhằm đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo động lực cho sự phát triển nền giáo dục tiên tiến

1.3.4.3 Đảm bảo tính pháp chế

XHHGD về bản chất là một cuộc vận động toàn xã hội làm công tác GD nhưng phải được vận hành trong khuôn khổ pháp lý, tuân thủ pháp luật Hiện nay, chúng ta đang thực hiện công tác XHHGD trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nên các chủ thể hoạt động XHHGD cần phải được trang bị kiến thức pháp luật để đảm bảo cho sự đầu tư đúng mức, phù hợp đối với GD mà không ảnh hưởng đến pháp luật Như vậy thì mục đích, ý nghĩa, chủ trương, chính sách XHHGD mới đạt hiệu quả, đảm bảo tính đồng bộ và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cho sự phát triển giáo dục

1.3.5 Nội dung cơ bản của công tác xã hội hoá giáo dục ở trường THPT

1.3.5.1 Giáo dục hóa xã hội

Đây là nội dung cơ bản của XHHGD nhằm xây dựng một phong trào toàn xã hội học tập Học tập là quyền lợi đồng thời là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước Mọi người trong xã hội cần phải nỗ lực học tập để nâng cao kiến thức, năng lực làm việc, năng lực hợp tác và để tự khẳng định mình Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra bốn trụ cột của việc học trong thời đại nền kinh tế tri thức là “

Trang 31

Học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để tự khẳng định mình”

Để thực hiện giáo dục hóa xã hội, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ: “Phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập” [3, Tr.2]

1.3.5.2 Huy động các lực lượng xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho việc phát triển nhà trường

Công tác XHHGD thực chất là nội dung huy động các lực lượng xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi trong việc phát triển nhà trường

Môi trường chính là toàn bộ các yếu tố, các điều kiện xung quanh ảnh hưởng đến con người, ảnh hưởng đến nhà trường “Tác dụng của môi trường đến dạy học còn đặt ra dưới dạng chung như: yêu cầu xã hội đặt ra cho nhà trường; hoặc môi trường được xem như là điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nhà trường” [30, tr.118]

Gia đình là nền tảng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh

“Gia đình là tế bào xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” [13] Chính vì vậy, cần nhấn mạnh tiềm năng giáo dục gia đình cùng với họ tộc

Xã hội là môi trường luôn tác động đến việc phát triển nhân cách học sinh, góp phần giúp học sinh nhận biết các chuẩn mực của xã hội Vì vậy, các tổ chức xã hội, cơ quan Nhà nước cần quan tâm chăm lo giúp đỡ để các gia đình có điều kiện tối thiểu cho việc giáo dục thế hệ trẻ

Ngoài ra, môi trường thiên nhiên cũng rất quý giá, có tác động đến việc hình thành những phẩm chất tốt đẹp trong nhân cách học sinh

Môi trường nhà trường, môi trường gia đình và môi trường xã hội tốt đẹp sẽ tạo nên môi trường giáo dục ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục nhà trường phổ thông là rất quan trọng và cần thiết

1.3.5.3 Huy động nhân dân, các tổ chức đoàn thể xã hội tham gia thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trường

Huy động nhân dân, các tổ chức đoàn thể xã hội tham gia thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch phát triển GD ở các trường TH gồm những nội dung sau:

Tạo điều kiện thuận lợi, cơ hội cho mọi đối tượng học sinh trong địa bàn phường được đảm bảo quyền học tập của mình;

Huy động 80 % học sinh TNTHCS vào lớp 10;

Trang 32

Vận động học sinh bỏ học đến trường, duy trì và đảm bảo số lượng;

Vận động học sinh khuyết tật tham gia hòa nhập cộng đồng;

Thực hiện tốt công tác phổ cập, đảm bảo học sinh trong độ tuổi học hết THPT Việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch nêu trên không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng, trong đó cấp ủy, chính quyền địa phương cần phải có chủ trương, nghị quyết, kế hoạch cụ thể để lãnh đạo, chỉ đạo

và tổ chức thực hiện Phải phân công trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân phụ trách, đồng thời huy động và tập hợp các lực lượng xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch của nhà trường

Xây dựng nền kinh tế tri thức là xu thế phát triển của xã hội hiện nay nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Việc huy động các nguồn lực của xã hội nói chung đóng góp cho sự nghiệp GD là nội dung có tính toàn diện, trong đó huy động nguồn lực chất xám tham gia vào công tác XHHGD là rất quan trọng và cần thiết, cần phải được quan tâm chú trọng nhằm tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong xã hội đáp ứng quyền được hưởng thụ GD của mọi người

1.3.5.4 Huy động cộng đồng đầu tư nguồn lực cho mục tiêu và yêu cầu phát triển các trường THPT

Huy động tiềm năng của cộng đồng hỗ trợ cho quá trình tổ chức giáo dục và phát triển trường THPT, cần tập trung xây dựng và hoàn thiện dần cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong việc tổ chức tham gia cùng làm giáo dục; phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn ngân sách nhà nước và tiềm năng

xã hội; mở rộng khả năng đóng góp của mọi người cho GDTHPT; tổ chức các hoạt động, phong trào để tạo động lực trong việc huy động sự đóng góp của xã hội để phát triển GDTHPT; phát huy truyền thống họ tộc, lễ hội và cá nhân; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về GDTHPT

Nguồn lực của cộng đồng nói chung rất phong phú cho mục tiêu này, nếu nhà trường biết khai thác đúng đắn và có hiệu quả

1.3.5.5 Huy động các lực lượng tham gia vào việc đa dạng hóa các hình thức học tập, phát triển quy mô giáo dục

Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay thì việc đa dạng hóa các hình thức học tập và các loại hình nhà trường, phát triển quy mô GD là một yêu cầu tất yếu

Việc đa dạng hóa các hình thức học tập thông qua hình thức nhà trường phối

Trang 33

hợp cùng chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, đoàn thể đứng ra tổ chức các lớp học không chính quy nhằm thu hút, tạo điều kiện cho các em được tham gia học tập theo khả năng, điều kiện, hoàn cảnh… nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Hình thức phổ biến hiện nay như: các trung tâm học tập cộng đồng, lớp học tình thương …Các lực lượng xã hội cùng với nhà trường tham gia vào quá trình

GD, đa dạng hóa các hình thức học tập góp phần làm cho mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời và đây cũng chính là một trong những nội dung quan trọng trong công tác XHHGD

Điều 48, Luật GD 2005 nêu: “Nhà trường trong hệ thống GD quốc dân được

tổ chức theo các loại hình trường lớp, công lập, dân lập, tư thục Đồng thời cho phép

GD theo phương thức chính quy và GD thường xuyên; hình thức học tập trung, học tại chức và học từ xa, tự học có hướng dẫn, trong đó phải lấy loại hình trường công lập, GD chính quy giữ vai trò nòng cốt, chủ đạo chi phối trong toàn bộ hệ thống GD”

Như vậy, các lực lượng xã hội và cá nhân có thể tham gia trực tiếp vào quá trình GD bằng cách tổ chức các cơ sở GD ngoài công lập XHHGD chính là xây dựng hệ thống GD mở, tạo cơ hội cho mọi người tham gia GD và GD cho mọi người thường xuyên, liên tục, góp phần quan trọng vào việc phát triển GD và làm giảm gánh nặng đầu tư của Nhà nước Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang tiếp tục củng cố vững chắc phổ cập giáo dục TH, Trung học cơ sở, tiến tới phổ cập Trung học phổ thông thực hiện mục đích nâng cao dân trí, việc đa dạng hóa các loại hình học tập sẽ góp phần quan trọng phát triển quy mô GD

1.3.5.6 Đa dạng hóa các nguồn lực cho xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Trong bối cảnh kinh tế, xã hội còn khó khăn, việc huy động các nguồn lực của xã hội cho quá trình xây dựng các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của nhà trường là việc làm hết sức cần thiết Bên cạnh việc sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, cần phải tiến hành khai thác triệt để các nguồn đầu tư khác ở trong nước cũng như nước ngoài (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho sự phát triển giáo dục

Ngoài ba nguồn lực đã nêu, ngày nay người ta còn nói đến hai nguồn lực: Tâm lực và tin lực

“Tâm lực” có thể hiểu là tấm lòng, là tâm huyết của nhân dân của cộng đồng, của cha mẹ học sinh mong muốn hiến kế cho sự phát triển nhà trường

“Tin lực” là các thông tin về khoa học giáo dục mà các gia đình học sinh

Trang 34

hoặc những người hiểu biết trong cộng đồng mang đến cho nhà trường

Sự phát triển của thông tin ngày nay đa dạng và diễn ra với tốc độ nhanh chóng Các thầy cô giáo cần phải được cập nhật, tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Nguồn lực của cộng đồng nói chung rất phong phú, nếu nhà trường biết khai thác đúng đắn và có hiệu quả

1.3.5.7 Phát huy vai trò của nhà trường đối với xã hội

Việc huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động XHHGD có vai trò của nhà trường; tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là nhà trường cần phải thể hiện ảnh hưởng của mình đối với cộng đồng, địa phương

Trong quá trình tổ chức thực hiện, nhà trường phải thể hiện đầy đủ tính chủ động và sáng tạo, vai trò trung tâm nòng cốt trong XHH công tác giáo dục Trước hết, nhà trường cần xây dựng cho mình thực sự trở thành một trung tâm văn hóa lành mạnh, đi đầu và đóng vai trò chủ đạo trong các phong trào giáo dục ở địa phương như: Giáo dục môi trường, giáo dục dân số, tuyên truyền phòng chống các

tệ nạn xã hội, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, khuyến học, khuyến tài… là lực lượng nòng cốt trong việc kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội

Để tiến hành XHH hoạt động GD cần phải tạo ra được một phong trào học tập sâu rộng trong địa bàn dân cư theo nhiều hình thức Động viên, khuyến khích và khơi dậy tinh thần học tập của mọi người; thực hiện việc học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt hơn nhất là những người trong

độ tuổi lao động Tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền vận động nhân dân quan tâm chăm lo giáo dục thế hệ trẻ; tạo ra môi trường GD lành mạnh, nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cộng đồng trong việc tham gia XHHGD, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu GD đề ra cũng như phát huy vai trò, ảnh hưởng của nhà trường đối với cộng đồng xã hội ở địa phương

1.4 Quản lí công tác xã hội hóa giáo dục của Hiệu trưởng trường THPT

1.4.1 Tầm quan trọng của việc quản lí công tác xã hội hoá giáo dục

Quản lí công tác XHHGD của Hiệu trưởng là việc làm mang tầm quan trọng lớn vì công tác XHHGD mang tính quần chúng, cộng đồng, vì phúc lợi XH có liên quan trực tiếp đến nhiều người, vấn đề XHHGD đa dạng và mang tính nhạy cảm

Để tạo hành lang pháp lý cho các nguồn lực của xã hội đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, đào tạo và tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục được hưởng chính sách ưu đãi

Trang 35

xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tiễn Trong

đó, nhà đầu tư thực hiện xã hội hóa được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, như được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng; được hỗ trợ kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư đã tự thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng; được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; được tham gia cung cấp các dịch vụ công do Nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ hoạt động theo quy định của pháp luật; được đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở thực hiện xã hội hóa, Để phát triển giáo dục mầm non khu công nghiệp, khu chế xuất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg, ngày 20-3-2014, về phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020

Về chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): cùng với việc ký kết các hiệp định song phương giữa các quốc gia, các điều ước quốc tế và cam kết hạn chế đối xử quốc gia trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngày 26-9-2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2012/NĐ-CP quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục

Thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo được thực hiện theo các hình thức khác nhau, như công nhận văn bằng, thành lập cơ sở giáo dục, đào tạo theo hình thức liên doanh; hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc theo hình thức 100% vốn nước ngoài để thực hiện các hoạt động giáo dục cho người nước ngoài hiện đang công tác có thời hạn tại Việt Nam; giáo dục bậc phổ thông trung học cho người nước ngoài và người Việt Nam; đào tạo trung học chuyên nghiệp, dạy ngoại ngữ, dạy nghề, đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học cho người nước ngoài và người Việt Nam thuộc các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học quản lý kinh tế, ngôn ngữ; thành lập văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam

Với những định hướng khuyến khích xã hội hóa giáo dục nêu trên, giáo dục

Trang 36

mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần nâng tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách Qua đó ta thấy các văn bản, Nghị định do Chính phủ đã ban hành luôn luôn đúng và phù hợp với tình hình thực

tế Quản lý công tác XHHGD là quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách do nhà nước cấp

và các nguồn kinh phí khác từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân cho

sự phát triển giáo dục; để đảm bảo tốt công tác XHHGD phải có sự tham gia của nhân dân và của cả hệ thống chính trị từ cơ sở, tham gia hoạch định công tác XHHGD Công tác quản lý hoạt động XHHGD bao gồm việc xây dựng chiến lược; chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác XHHGD Trong điều kiện đổi mới GD hiện nay, để nâng cao được chất lượng GD việc thực hiện tốt công tác quản lý XHHGD

là một nhiệm vụ quan trọng trong trường học Trên thực tế nhà lãnh đạo thực hiện các văn bản, nghị định là đa dạng Mỗi người có một quan điểm khác nhau, một cách nghĩ và cách làm khác nhau thậm chí có những quan điểm lệch lạc không đi đúng hướng nên phải có biện pháp kiểm tra, uốn nắn quản lí chặt chẽ việc thực hiện các văn bản, Nghị định do Chính phủ ban hành Bởi vì nếu QL một cách máy móc, cứng nhắc sẽ rơi vào tình trạng hành chính hóa, làm thui chột tính năng động của hoạt động XHH Nếu QL quá dễ dãi, giản đơn sẽ đẩy hoạt động XHH vào những sai lầm, nhất là huy động các nguồn thu

1.4.2 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của người Hiệu trưởng trường THPT

Căn cứ theo Thông tư số 12/2011/TT-BGD&ĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục & Đạo tạo: Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường THPT: được qui định tại Điều 18, 19 của Điều lệ trường trung học: [5]

Hiệu trưởng trường THPT là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường Hiệu trưởng do Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo bổ nhiệm đối với trường THPT công lập, công nhận đối với trường THPT tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp

Trang 37

được đánh giá và có thể được bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại Đối với trường THPT công lập, Hiệu trưởng được quản lí một trường THPT không quá hai nhiệm

kì Mỗi Hiệu trưởng chỉ được giao quản lí một trường THPT

Sau mỗi năm học, mỗi nhiệm kì công tác, Hiệu trưởng trường THPT được cán bộ, giáo viên trong trường và cấp có thẩm quyền đánh giá về công tác quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường theo quy định

Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng:

Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện

kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;

Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;

Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;

Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;

Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;

Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị -

xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;

Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng

1.4.3 Nội dung quản lý công tác xã hội hoá giáo dục của Hiệu trưởng trường THPT

Quản lý công tác XHHGD trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động XHH, tạo hành lang để hoạt động XHH đi đúng theo quỹ đạo, theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra Để quản lý công tác XHHGD đạt hiệu quả phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 38

Một, Quản lý công tác XHHGD có những cách làm khác nhau giúp cho công tác QL có những phương pháp linh hoạt và thích hợp với từng điều kiện, từng hoàn cảnh cụ thể Nếu QL một cách máy móc, cứng nhắc sẽ rơi vào tình trạng hành chính hóa, làm thui chột tính năng động của hoạt động XHH Nếu QL quá dễ dãi, giản đơn sẽ đẩy hoạt động XHH vào những sai lầm, nhất là huy động các nguồn thu;

Hai, QL công tác XHH đòi hỏi phương pháp mềm dẻo, linh hoạt, tạo được phong trào, định hướng được phong trào, phát huy dân chủ trong nhân dân, tăng cường nguồn lực của xã hội và cộng đồng cho giáo dục;

Ba, QL công tác XHHGD không hoàn toàn là công việc của ngành GD Với chức năng Nhà nước của mình, ngành GD chủ yếu làm công tác tham mưu, vận động, tuyên truyền để xã hội nhận thức đầy đủ hơn về GD, chia sẻ khó khăn với GD, cộng đồng cùng trách nhiệm và tham gia vào quá trình phát triển GD - ĐT Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, ngành GD trực tiếp chỉ đạo và QL hoạt động XHH trong các nhà trường, giúp cho công tác XHH đi đúng hướng và có kết quả cao

Quản lý công tác xã hội hoá giáo dục trường THPT bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

1.4.3.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục

Để chủ động trong việc thực hiện chủ trương XHHGD, cơ quan chịu trách nhiệm QL hoạt động này phải tiến hành lập kế hoạch thực hiện Việc lập kế hoạch bao gồm xác định mục tiêu XHHGD nói chung và mục tiêu cho từng hoạt động nói riêng, theo từng giai đoạn của thời kỳ, đề xuất các nhiệm vụ và người thực hiện, đưa

ra các giải pháp và điều kiện nguồn lực thực hiện kế hoạch Kế hoạch cuối cùng của việc thực hiện chức năng này là bản kế hoạch thực hiện XHHGD

Bất cứ chương trình xã hội hoá giáo dục THPT nào của nhà trường cũng phải đưa vào chu trình kế hoạch hoá Chu trình này quán triệt các yêu cầu:

- Phân tích được tình hình, nêu rõ được điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường

về công tác xã hội hoá; phân tích được khó khăn, thuận lợi trước và trong quá trình thực hiện công tác xã hội hoá;

- Xác định được mục đích, yêu cầu, đối tượng, phạm vi và các nhu cầu thiết thực trong xã hội hoá giáo dục tiểu học;

- Vạch ra được mục tiêu trong xã hội hoá: phải trọng tâm, trọng điểm và đảm bảo mục tiêu giáo dục giáo dục THPT;

- Cụ thể hoá thành các nhiệm vụ cần tiến hành, xác định được nhiệm vụ

Trang 39

chung, nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra;

- Gắn nhiệm vụ vào trục thời gian, phải xác định được lộ trình, thời gian triển khai thực hiện, thời gian hoàn thành một cách cụ thể

1.4.3.2 Xây dựng bộ máy điều hành công tác xã hội hoá giáo dục

Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả

Đối với những mục tiêu khác nhau, đòi hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khác nhau Người Hiệu trưởng cần có quyền được lựa chọn cấu trúc tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có Huy động các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục thông qua việc thực hiện dân chủ hóa nhà trường, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục THPT thông qua các hoạt động đóng góp tài chính, vật chất, công sức để xây dựng các điều kiện giáo dục tốt nhất cho học sinh THPT Người Hiệu trưởng phải biết tìm người, sử dụng người và sắp xếp lực lượng, cần có tầm nhìn xa trông rộng để phát hiện nhu cầu, phát hiện các tiềm năng, tìm kiếm, tranh thủ đối tác, có năng lực vận động quần chúng phát huy được ý thức tự giác, làm chủ, chủ động và sáng tạo

1.4.3.3 Quản lý việc tổ chức thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục

Trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch đề ra, cần có sự chỉ đạo, chỉ huy, điều phối Chức năng chỉ đạo, điều hành của Hiệu trưởng thể hiện ở việc vận dụng đúng đắn các văn bản pháp luật; quy chế hoạt động phối hợp giữa các ban ngành, bộ phận, ; việc

tổ chức các lực lượng tham gia thực hiện các hoạt động XHHGD của nhà trường

Chỉ dẫn mọi thành viên trong đơn vị thực hiện các công việc đề ra về xã hội hoá giáo dục

Điều phối, điều chỉnh các nhiệm vụ để công việc tiến hành nhịp nhàng Trong quá trình theo dõi, chỉ đạo, người cán bộ quản lý cần có những điều chỉnh kịp thời giữa khối lượng công việc và năng lực của các nhóm tổ chức để công việc tiến triển có hiệu quả và đúng thời gian

1.4.3.4 Kiểm tra , chỉ đạo công tác xã hội hoá giáo dục

Công tác kiểm tra, giám sát cần được tiến hành theo định kỳ, thường xuyên nhằm kịp thời bổ sung, điều chỉnh những vấn đề nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch

Trang 40

Để việc tổ chức thực hiện kế hoạch XHHGD có hiệu quả, người Hiệu trưởng cần có sự chỉ đạo, giám sát công việc đảm bảo đúng tiến độ theo kế hoạch đã đề ra Chủ động phân phối, điều chỉnh các nhiệm vụ sao cho tiến trình thực hiện được phù hợp, trôi chảy Kịp thời uốn nắn, trợ giúp, hướng dẫn những khâu khó và có thể cùng tham gia để làm gương hoặc rèn luyện thêm kỹ năng cho các thành viên Quá trình tổ chức thực hiện cần có khen thưởng kịp thời để khích lệ, phê bình để rút kinh nghiệm nhằm tạo động lực cho đội ngũ trong phấn đấu thực hiện nhiệm vụ Đây là một việc làm thể hiện rõ năng lực quản lý của người Hiệu trưởng nhằm đảm bảo hoàn thành công việc đúng tiến độ và đạt hiệu quả cao

1.4.3.5 Tổng kết, đánh giá công tác xã hội hoá giáo dục

Công tác XHHGD muốn đạt hiệu quả cao thì ngay từ trong nhà trường, Hiệu trưởng cần có những biện pháp phát huy sức mạnh nội lực về các mặt chuyên môn, hiệu quả dạy học, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của học sinh, phẩm chất và năng lực nhà giáo…tất cả điều đó tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh, niềm tin của các bậc cha mẹ học sinh và quần chúng nhân dân ở địa phương

Tổng kết và đánh giá chính là việc đo lường kết quả thực hiện các mục tiêu nêu trong kế hoạch từ đó nhân rộng những mô hình tốt, những cách làm hay đồng thời rút

ra được những bài học kinh nghiệm quý báu làm cơ sở để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch nhằm thực hiện công tác XHHGD ngày càng tốt hơn Công tác tổng kết, đánh giá, khen thưởng, động viên cần kịp thời kích thích phong trào phát triển, đem lại hiệu quả thiết thực Đây là khâu rất quan trọng trong quy trình quản lý công tác XHHGD

1.4.3.6 Tổ chức các điều kiện hỗ trợ công tác XHHGD

Trong quá trình thực hiện, nhà trường cần phối hợp với Ban ĐDCMHS, chính quyền địa phương … để thống nhất

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền trong cộng đồng và nhà trường

Cần đảm bảo về điều kiện, về cơ chế chính sách, chủ trương… để việc thực hiện công tác XHHGD đạt hiệu quả

Việc tổ chức điều hành công tác XHHGD cần phải tuân thủ các nguyên tắc

cơ bản đảm bảo xây dựng hình thành tổ chức, tập hợp các lực lượng quần chúng thành sức mạnh, phát hiện các nhu cầu, các tiềm năng, tranh thủ các đối tác Các hoạt động cần điều phối một cách đồng bộ, hài hòa trong mối quan hệ chặt chẽ với các nhiệm vụ KT - XH ở địa bàn dân cư

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (1998), Tổng quan về tổ chức và quản lý, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về tổ chức và quản lý
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1998
2. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí (1999), Khoa học tổ chức và quản lý, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức và quản lý
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
8. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004), Cơ sở khoa học quản lý, Trường CBQLGD&ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2004
9. Nguyễn Thị Doan (Chủ biên) (1996), Các học thuyết quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Tác giả: Nguyễn Thị Doan (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
14. Phạm Minh Hạc (1997), Xã hội hóa công tác giáo dục, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa công tác giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1997
17. Lê Quốc Hùng (2004), Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật
Tác giả: Lê Quốc Hùng
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2004
18. M.I.KONĐACOP (1984), Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục, Trường CBQL giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: M.I.KONĐACOP
Năm: 1984
19. Trần Kiểm (1990), Quản lý giáo dục và quản lý trường học, Viện khoa học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục và quản lý trường học
Tác giả: Trần Kiểm
Năm: 1990
20. Trần Kiểm (2006), Quản lý giáo dục và quản lý trường học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục và quản lý trường học
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2006
21. Lê Ngọc Lan (2004), Giáo trình xã hội học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Lan
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
22. Hồ Chí Minh (1962), Bàn về giáo dục, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1962
26. Nguyễn Ngọc Quang (1997), Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục, Giáo trình của Trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo TW1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1997
27. Nguyễn Ngọc Quang (2001), Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý TW1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 2001
30. Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học cổ truyền và đổi mới, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học cổ truyền và đổi mới
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2008
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư ban hành Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học Khác
5. Các Mác (1997), Tư bản, Quyển thứ nhất tập II, NXB Sự thật Hà Nội Khác
6. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể dục thể thao, Hà Nội Khác
7. Chính phủ (2008), Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường, Hà Nội Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TW lần 2 Khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w