1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua hệ thống bài tập trong dạy học chương “từ trường” vật lý 11 trung học phổ thông

150 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định hướng đổi mới PP dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung Ương 4 Khoá VII; Nghị quyết Trung Ương 2 Khoá VIII, được thể chế hoá trong Luật giáo dục 2005, được cụ thể hoá tr

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

RƠ MAH GIANG

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH

THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” VẬT LÍ 11 THPT

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÍ

Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN HUY HOÀNG

Huế, Năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và các chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác

Họ tên tác giả

Rơ Mah Giang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, cùng quý thầy cô giáo khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Huế đã giảng dạy và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Trần Huy Hoàng đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện và hoàn thành bài luận văn

Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Đào tạo sau đại học, khoa Sư phạm Vật lí, thư viện trường Đại học Sư phạm Huế, trung tâm học liệu Đại học Huế

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và thực hiện tốt luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể các thầy cô giáo trường THPT Quang Trung, trường THPT Dân Tộc Nội Trú Gia Lai và trường THPT Dân Tộc Nội Trú Đông Gia Lai đã nhiệt tình giúp đỡ, trao đổi và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã ủng hộ, giúp

đỡ và động viên để tôi có thể hoàn thành tốt bài luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC 0

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BẢNG, ĐỒ THỊ 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu 9

3 Mục tiêu của đề tài 10

4 Giả thuyết khoa học 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

6 Đối tượng nghiên cứu 11

7 Phạm vi nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Đóng góp của đề tài 11

10 Cấu trúc luận văn 12

NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” VẬT LÍ 11 THPT 13

1.1 Tự học và năng lực tự học 13

1.1.1 Tự học 13

1.1.2 Năng lực tự học 14

1.1.2.1 Các quan điểm về năng lực tự học 14

1.1.2.2 Khái niệm năng lực tự học 15

1.1.2.3 Những biểu hiện của năng lực tự học 15

1.1.3 Xác định hệ thống kỹ năng tự học 16

Trang 5

1.1.3.1 Cơ sở xác định hệ thống kỹ năng tự học  25 16

1.1.3.2 Các bước rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học 17

1.3 Sử dụng bài tập vật lí trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 22

1.3.1 Các loại bài tập vật lí bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 22

1.3.1.1 Đặc điểm của bài tập bồi dưỡng năng lực tự học 22

1.3.1.2 Các loại bài tập vật lí bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 22

1.3.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập để bồi dưỡng năng lực tự học 25

1.3.2.1 Đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại 25

1.3.2.2 Đảm bảo tính logic, hệ thống 25

1.3.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng, phù hợp với các đối tượng học sinh 26

1.3.2.4 Đảm bảo tính vừa sức 26

1.3.2.5 Bám sát nội dung dạy học, chú trọng kiến thức trọng tâm 26

1.3.2.6 Gây hứng thú cho người học 26

1.3.2.7 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học 27

1.4 Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của bài tập 27

1.4.1 Biện pháp 1: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh trong giai đoạn mở đầu 27

1.4.2 Biện pháp 2: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh trong quá trình nghiên cứu kiến thức mới 28

1.4.3 Biện pháp 3: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong quá trình ôn tập, củng cố kiến thức 30

1.4.4 Biện pháp 4: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh khi tự học ở nhà 31

1.4.5 Biện pháp 5: Tăng cường giám sát, hướng dẫn và kiểm tra đánh giá hoạt động tự học của học sinh 32

1.4.5.1 Tăng cường hoạt động nhóm, hoạt động tập thể của học sinh 32

1.4.5.2 Dạy phương pháp tự học cho học sinh 33

1.4.5.3 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập đa dạng trong dạy học 33

Trang 6

1.5 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở

trường THPT 34

1.5.1 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Gia Lai 34

1.5.1.1 Mục đích điều tra 34

1.5.1.2 Đối tượng điều tra 34

1.5.1.3 Kết quả điều tra 35

1.5.2 Nhận xét về kết quả điều tra 35

Kết luận chương 1 37

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG THỐNG BÀI TẬP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” VẬT LÍ 11 THPT 39

2.1 Đặc điểm, cấu trúc, nội dung chương Từ trường 39

2.1.1 Đặc điểm nội dung chương Từ trường 39

2.1.2 Nội dung kiến thức chương Từ trường (Vật lí 11 cơ bản) 40

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập chương “Từ trường” Vật lí 11 THPT 40

2.2.1 Xây dựng hệ thống bài tập [12], [13], [16], [17], [29], [34], [35] 40

2.2.1.1 Dạng 1 Mô tả từ trường 40

2.2.1.2 Dạng 2 Véctơ cảm ứng từ 41

2.2.1.3 Dạng 3 Lực từ do từ trường đều tác dụng lên một đoạn dây dẫn có dòng điện 41

2.2.1.4 Dạng 4 Tương tác giữa dòng điện với dòng điện 41

2.2.1.5 Dạng 5 Lực của từ trường đều tác dụng lên hạt mang điện chuyển động (lực Lo-ren-xơ) 42

2.2.2 Hệ thống bài tập chương “Từ trường” vật lí 11 42

2.2.2.1 Dạng 1 Mô tả từ trường 42

2.2.2.2 Dạng 2 Véctơ cảm ứng từ 43

2.2.2.3 Dạng 3 Lực từ do từ trường đều tác dụng lên một đoạn dây dẫn có dòng điện 45

2.2.2.4 Dạng 4 Tương tác giữa dòng điện với dòng điện 47

Trang 7

2.2.2.5 Dạng 5 Lực của từ trường đều tác dụng lên hạt mang điện chuyển động (lực Lo-ren-xơ) 48 2.2.3 Một số dạng bài tập điển hình và hướng dẫn vận dụng vào chương “Từ trường” 51 2.2.3.1.Dạng 1 Mô tả từ trường 51 2.2.3.2 Dạng 2 Véctơ cảm ứng từ 53 2.2.3.3 Dạng 3: Xác định lực từ tác dụng lên dây dẫn có dòng điện đặt trong từ trường 56 2.2.3.4 Dạng 4: Tương tác giữa dòng điện với dòng điện 59 2.2.3.5 Dạng 5 Lực của từ trường đều tác dụng lên hạt mang điện chuyển động (lực Lo-ren-xơ) 62 2.3 Sử dụng biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của bài tập trong chương “Từ trường” Vật lí 11 THPT 64 2.3.1 Đối với biện pháp 1: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh trong giai đoạn mở đầu 64

2.3.1.1 Một số bài tập cho giai đoạn mở đầu 64

2.3.1.2 Rèn luyện một số KN tự học: Thông qua các bước giải bài tập HS đọc, phân tích , so sánh, kiểm tra và kết luận 69 2.3.2 Đối với biện pháp 2: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện KN tự học cho HS trong quá trình nghiên cứu kiến thức mới 69 2.3.2.1 Một số bài tập cho giai đoạn nghiên cứu kiến thức mới 69 2.3.2.2 Rèn luyện hầu hết KN tự học 70 2.3.3 Đối với biện pháp 3: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện KN cho HS trong quá trình ôn tập, củng cố kiến thức 70 2.3.3.1 Một số bài tập cho quá trình ôn tập, củng cố kiến thức 70 2.3.3.2 Rèn luyện gần như hoàn toàn các KN tự học 73 2.3.4 Đối với biện pháp 4: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện KN tự học cho HS khi tự học ở nhà 73 2.3.5 Đối với biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra đánh giá hoạt động tự học của

HS trong chương từ trường 73

Trang 8

2.3.5.1 Tăng cường hoạt động nhóm, hoạt động tập thể của học sinh 73

2.3.5.2 Dạy phương pháp tự học cho học sinh 74

2.3.5.3 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập đa dạng trong dạy học 75

Kết luận chương 2 76

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 77

3.1.1 Mục đích 77

3.1.2 Nhiệm vụ 77

3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 77

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 77

3.2.2 Nội dung của thực nghiệm sư phạm 78

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 78

3.4 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 78

3.4.1 Phân tích kết quả thực nghiệm 78

3.4.2 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm 79

Kết luận chương 3 87

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BẢNG, ĐỒ THỊ

70 – 75

Bảng 3.1 Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích bài kiểm

tra số 1 - THPT DTNT Đông Gia Lai

87

Bảng 3.2 Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích bài kiểm

tra số 1 - THPT DTNT Gia Lai

87

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 - THPT

DTNT Đông Gia Lai

88

Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 - THPT

DTNT Gia Lai

89

Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích bài kiểm

tra số 2 - THPT DTNT Đông Gia Lai

89

Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích bài kiểm

tra số 2 - THPT DTNT Gia Lai

90

Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 - THPT

DTNT Đông Gia Lai

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang ở trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước Sự thay đổi này đòi hỏi ngành giáo dục cần có những đổi mới nhất định để đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho một

xã hội phát triển

Hiện nay, nước ta đang tiến hành đổi mới PPDH theo định hướng phát huy tính tích cực của HS và bồi dưỡng PP học tập mà cốt lõi là tự học để HS có thể tự học suốt đời

Định hướng đổi mới PP dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung Ương 4 Khoá VII; Nghị quyết Trung Ương 2 Khoá VIII, được thể chế hoá trong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hoá trong chỉ thị Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng của môn học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS PP tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện KN vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”

Trong nhiều năm qua, việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Vật lí ở trường phổ thông đã được chú trọng Nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho người GV nói chung và GV Vật lí nói riêng là phải đổi mới PPDH, chú trọng bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, NLTH, giải quyết vấn đề học tập thông qua mọi nội dung, mọi hoạt động dạy và học vật lí, trong đó HTBT Vật lí dạy học liên hệ với thực tiễn giữ vị trí hết sức quan trọng

Một trong những thành tố quan trọng trong QTDH của người Thầy là mục tiêu dạy học Để đạt được mục tiêu này, người Thầy phải hướng đến mục tiêu: HS phải đạt được 3 mức độ của kiến thức là biết, hiểu và vận dụng được các kiến thức

đó, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển tư duy và góp phần hình thành nhân cách của các em

Trang 12

Trong Vật lí, giải đáp các câu hỏi lý thuyết và giải BTVL là phương tiện cơ bản để giúp HS gợi nhớ kiến thức và bồi dưỡng NLTH cho HS BTVL đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy và KN thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất BTVL không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới

Tuy nhiên, xu hướng hiện nay của HS và sự quan tâm của phụ huynh là chú trọng đến việc học để các em có thể vượt qua các kỳ thi Cao đẳng và Đại học nhằm tìm kiếm môi trường tốt để sau này có một nghề nghiệp, một công việc theo đúng

sở thích và nguyện vọng Do đó, đòi hỏi HS phải làm việc tích cực, tự lực Cần phải nghiên cứu BTVL trên cơ sở hoạt động tư duy để có một cách giải nhanh nhất, hiệu quả nhất Từ đó đề ra cách hướng dẫn HS khả năng tự lực để giải bài tập, thông qua

đó mà tư duy trong HS được phát triển

Mặt khác, do thời gian dạy học môn Vật lí trên lớp còn hạn hẹp, thời gian ôn tập, hệ thống hóa kiến thức môn Vật lí 11, và giải bài tập nâng cao chưa nhiều, không phải HS nào cũng đủ thời gian thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà GV truyền tải trên lớp Vì vậy, việc tự học của HS ở nhà cũng như trên lớp của HS là cần thiết và quan trọng

Tuy nhiên trong thực tế, có rất nhiều loại sách, tài liệu tham khảo được lưu hành cùng với sự phổ biến rộng của mạng internet đã cung cấp cho HS nguồn tài liệu đa dạng và phong phú Chính điều đó đã gây khó khăn cho HS khi phải lựa chọn, phân loại tài liệu để tham khảo, nghiên cứu và sử dụng Do đó, muốn nâng cao hiệu quả dạy học, mỗi GV cần phải xây dựng và lựa chọn HTBT Vật lí, tìm ra

PP giải nhanh và sử dụng chúng sao cho phù hợp với đặc điểm của từng kiểu bài lên lớp để củng cố hoàn thiện, nâng cao kiến thức nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS

Ngoài ra, chương Từ trường được đánh giá là chương dễ tự học nhất vì đặc trưng lý thuyết bài tập nhiều, đa dạng có tính lặp đi lặp lại, có cơ sở từ chương điện trường và ứng dụng thực tiễn phong phú

Trang 13

Xuất phát từ các nhu cầu và thực trạng đó, chúng tôi chọn đề tài : “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua hệ thống bài tập trong dạy học chương ‘Từ trường’ Vật lí 11 THPT”

2 Lịch sử nghiên cứu

Vấn đề tự học đã được nhiều người thực hiện từ rất sớm và là vấn đề quan tâm của nhà nghiên cứu, ngay từ khi giáp dục chưa trở thành một nghành khoa học thực sự Ở thời kỳ đó, người ta đã biết quan tâm đến việc làm sao cho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những giáo huấn của thầy và hành động theo những điều ghi nhớ đó Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc

độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò” Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí giáo dục của nhiều tác giả như: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Lê Công Triêm, Trần Văn Hiếu, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng… đã xây dựng được cơ sở lý luận khá hoàn chỉnh và đề xuất một số biện pháp khác nhau về việc bồi dưỡng rèn luyện KNTH

Các công trình nghiên cứu về việc sử dụng các phương thức dạy học như:

Đề tài “Hình thành năng lực tự học vật lí cho học sinh THPT thông qua việc

sử dụng SGK” của tác giả Võ Lê Phương Dung đã làm rõ việc hình thành NLTH

thông qua SGK cũng như biện pháp sử dụng SGK khi tự học

“Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh qua phiếu học tập trong dạy học phần quang hình học, Vật lí 11 THPT” của Hà Thế Nhân đã xây dựng được một số

bài tập thông qua phiếu học tập và xây dựng được quy trình dạy học bồi dưỡng NLTH qua phiếu

Võ Thị Cẩm Quyên với công trình “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong chương động học chất điểm vật lí 10 qua việc khai thác và sử dụng bài tập vật lí” đã làm rõ được các KN tự học cần rèn luyện, xây dựng được hệ thống BTVL bồi

Trang 14

hướng phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo với từng chủ đề, phân loại bài tập theo PP giải và xây dựng được phiếu học tập áp dụng trong tiến trình dạy học

Quách Nguyễn Bảo Nguyên luận án tiến sĩ “Xác định và rèn luyện hệ thống

kỹ năng học tập cho học sinh trong dạy học phần “điện học”, Vật lí 11” đã xác

định rõ hệ thống KNTH, các mức độ đạt được KN của cá nhân khi tự học và làm rõ các biện pháp bồi dưỡng NLTH dựa trên HTKN đã nêu

Với những công trình nghiên cứu nói trên cho thấy việc phát triển NLTH cho

HS góp phần giải quyết được nhiệm vụ then chốt của QTDH theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức cho HS Tuy nhiên, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng BTVL để hổ trợ dạy học vật lí nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu

về bồi dưỡng NLTH của HS thông qua HTBT trong dạy học chương “Từ trường” Vật lí 11 THPT

3 Mục tiêu của đề tài

Đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS thông qua HTBT

trong dạy học chương “Từ trường” Vật lí 11 THPT

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS và vận dụng biện pháp đó thông qua HTBT trong dạy học chương “Từ trường” Vật lí 11 thì sẽ nâng cao NLTH và chất lượng dạy học vật lí ở THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần phải thực hiện những nhiệm vụ chính sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Xây dựng hệ thống các biện pháp bồi dưỡng NLTH thông qua HTBT chương “Từ trường” Vật lí 11 THPT

- Hướng dẫn HS sử dụng HTBT đã xây dựng một cách hợp lí, hiệu quả

- TNSP để đánh giá hiệu quả của HTBT đã xây dựng và các biện pháp đã đề xuất, từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với HTBT đã đề xuất

- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng HTBT Vật lí bồi dưỡng NLTH cho HS trong QTDH

Trang 15

6 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy và học chương “Từ trường” Vật lí 11 theo định hướng bồi dưỡng NLTH cho HS thông qua HTBT trong dạy học chương “Từ trường” Vật lí 11 THPT

8 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu lý luận về việc HS tự học

- Nghiên cứu về tác dụng và cách sử dụng bài tập trong dạy học vật lí

* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng phiếu câu hỏi

- Phỏng vấn

- TNSP đánh giá hiệu quả, tính khả thi của HTBT và các biện pháp bồi dưỡng HS tự học để đề xuất

* Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng PP thống kê toán học để xử lí các kết quả TNSP nhằm kiểm định giả thuyết khoa học

9 Đóng góp của đề tài

- Xây dựng được cơ sở lý luận của việc rèn luyện các KNTH với sự hỗ trợ của bài tập nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS

- Xác định được biểu và các mức độ đạt được của KN thành phần NLTH với

sự hỗ trợ của bài tập

- Xây dựng được hệ thống các biện pháp bồi dưỡng NLTH và sử dụng các biện pháp đó với sự hỗ trợ bài tập chương “Từ trường”

Trang 16

- Xây dựng, hệ thống được bài tập chương “Từ trường” từ dễ đến khó và hướng dẫn giải một số bài tập điển hình một số dạng; xây dựng một số bài tập tạo tình huống có vấn đề, bài tập chuyển tải kiến thức và bài tập tự học ở nhà

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực tự học

cho học sinh thông qua hệ thống bài tập trong dạy học chương “Từ trường” Vật lí

11 THPT

Chương 2: Hệ thống bài tập chương “Từ trường” Vật lí 11 THPT để bồi

dưỡng năng lực tự học cho học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” VẬT LÍ 11 THPT 1.1 Tự học và năng lực tự học

1.1.1 Tự học

Tự học là hoạt động học tập do người học tiến hành một cách tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh kiến thức, KN, kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người để tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc chân tay nhờ vào ý chí, nghị lực và sự say mê học tập

Những đặc trưng cơ bản của tự học là: người học tự mình tổ chức xây dựng, kiểm tra tiến trình học tập với ý thức trách nhiệm; tự quyết định trong việc lựa chọn mục tiêu, nội dung, PP học tập Chú ý đến cách học, bởi vì kiến thức, KN có thể thay đổi theo tiến bộ khoa học kĩ thuật

Hoạt động tự học được coi là hoạt động có tổ chức của người học, diễn ra dưới nhiều cách khác nhau [15]:

- Tự học giáp mặt: Những hoạt động học như nghe giảng và tự ghi chép bài theo tinh thần tích cực, thảo luận nhóm, tự đọc sách Quá trình này diễn ra với sự hướng dẫn trực tiếp của GV trên lớp được gọi là tự học giáp mặt

- Tự học không giáp mặt: Quá trình này diễn ra với sự hướng dẫn trực tiếp của GV trên lớp và HS tự mình tiến hành để chiếm lĩnh tri thức Tự học loại này có thể tồn tại ở ba mức:

+ Tự học mức cao: Người học tự học qua sách, qua các phương tiện thông tin như internet, tivi, đài, báo Người học tự chọn nội dung để học, tự đưa ra quá trình học tập, tự kiểm tra đánh giá kết quả Đây là một quá trình độc lập của HS

+ Tự học với sự hướng dẫn từ xa: Người học có các tài liệu hướng dẫn học tập và thông qua các phương tiện thông tin như băng ghi hình, website, ti - vi, các phần mềm dạy học… người học tự học, tự chiếm lĩnh tri thức Sự hướng dẫn tự học

Trang 18

trong trường hợp này là hướng dẫn PP tự học tập, tự tra cứu để hoàn thành nhiệm

vụ học tập

Như vậy, có rất nhiều hình thức tự học Mỗi hình thức có ưu và nhược điểm riêng Tuy nhiên, việc tìm ra và rèn luyện một PP tự học thích hợp đối với nhiều người là việc làm không dễ Vì vậy, GV cần giúp HS trang bị hình thức tự học phù hợp, vì nó không những giúp em học tập tốt khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn cần thiết cho sự phát triển của mỗi HS sau này [27]

1.1.2 Năng lực tự học

1.1.2.1 Các quan điểm về năng lực tự học

Hoạt động tự học muốn diễn ra thực sự thì có một yêu cầu đặt ra là: cần phải hình thành được ở người học NLTH Chỉ khi đã có được NLTH trong bản thân mình, người học mới tự mình tiến hành việc học tập một cách tự chủ, độc lập, sáng tạo như đòi hỏi của giáo dục đào tạo ngày nay

Theo từ điển Tiếng Việt thì năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [6]

Giáo trình “Tâm lí học đại cương” (NXBĐHQGHN, 1998) chia khả năng thành ba mức độ khác nhau: năng lực, tài năng, thiên tài Nếu năng lực là một mức

độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó; tài năng là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành một cách sáng tạo một hoạt động nào đó; thì thiên tài là mức độ cao nhất của năng lực, biểu thị mức kiệt xuất, hoàn chỉnh nhất của các vĩ nhân trong lịch sử nhân loại

Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2007): năng lực của HS được thể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập, hoặc năng lực tiến hành hoạt động học tập của cá nhân người học Điều này

có nghĩa là năng lực của HS sẽ là kết quả cuối cùng cần đạt được của QTDH hay giáo dục Tác giả đã đề xuất 4 nhóm năng lực cần đạt cho HS phổ thông VN:

- Năng lực nhận thức

- Năng lực xã hội

- Năng lực thực hành

- Năng lực cá nhân

Trang 19

Theo Lê Công Triêm, NLTH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao  6

1.1.2.2 Khái niệm năng lực tự học

NLTH là tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái

độ, động cơ, ý chí v.v của người học) chiếm lĩnh tri thức KN

1.1.2.3 Những biểu hiện của năng lực tự học

* Những biểu hiện của NLTH của HS cấp THPT dựa vào chương trình giáo dục của bộ  1

Biểu hiện của NLTH của HS tương ứng với những nhiệm vụ sau:

a Xác định mục tiêu học tập: Xác định nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã

đạt được; đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những khía cạnh còn yếu kém

b Lập kế hoạch và thực hiện cách học: Đánh giá và điều chỉnh được kế

hoạch học tập; hình thành cách học tập riêng của bản thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; thành thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và làm thư mục phù hợp với từng chủ đề học tập của các bài tập khác nhau; ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết; tự đặt được vấn đề học tập

c Đánh giá và điều chỉnh việc học: Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót,

hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học

* Những dấu hiệu đánh giá NLTH, bồi dưỡng NLTH thông qua bài tập  5

+ Có khả năng tự mình tìm tòi nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự nhưng với chất lượng cao hơn

+ Không rập khuôn máy móc mà phải luôn thích ứng với những tình huống mới

+ Có khả năng tái hiện kiến thức và thiết lập những mối quan hệ bản chất một cách nhanh chóng

Trang 20

+ Vận dụng kiến thức để giải quyết tốt những bài toán thực tế

+ Định hướng nhanh, biết phân tích suy đoán và vận dụng các thao tác tư

duy để tìm cách tối ưu và tổ chức thực hiện có hiệu quả

Căn cứ vào những biểu hiện của NLTH cũng như việc đánh giá các mức độ dạt được chung của NLTH của HS thông qua hành vi, nhận thức như sau:

+ Mức độ 1: HS nhận thức ngay là mình thích tự học khi có kiến thức thông qua các quá trình nghe giảng, quan sát và được thể hiện năng lực học tập

+ Mức độ 2: Thông qua các hoạt động dạy học, hoạt đông học nhóm trao đổi với bạn bè hợp tác với nhau cùng làm việc tạo nên động lực học tập và HS sẽ tự lực học tập hay nói cách khác là sẽ tự học

+ Mức độ 3: HS tự học hoàn toàn và tự tìm tòi

1.1.3 Xác định hệ thống kỹ năng tự học

1.1.3.1 Cơ sở xác định hệ thống kỹ năng tự học  25

HTKN được xác định dựa vào một số cơ sở khác nhau Dưới đây là một số

cơ sở được đề cập

Dựa vào phương tiện dạy học thì KNTH của HS gồm: KN tự học với

SGK; KN tự học qua tranh ảnh, thí nghiệm; KN tự học với bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị

Dựa vào nhiệm vụ nhận thức bao gồm: KN thu thập thông tin; KN xử lí

thông tin; KN vận dụng tri thức vào thực tiễn; KN trao đổi và phổ biến thông tin;

KN tự kiểm tra, đánh giá

Dựa vào hình thức và phạm vi của hoạt động tự học bao gồm: KN tự học

trên lớp; KN tự học ở nhà; KN tự học thông qua hoạt động ngoại khóa; KN xây dựng kế hoạch tự học; KN lựa chọn tài liệu; KN lựa chọn hình thức tự học

Căn cứ vào 3 nhiệm vụ học tập của HS: Nhận thức nội dung học tập; Giao tiếp và quan hệ xã hội trong học tập và các hoạt động hỗ trợ học tập; Tổ chức vận dụng kiến thức, quản lí việc học của bản thân của HS  10 Hệ thống KN tự học

được chia ra 3 nhóm KN Mỗi nhóm KN có các KN thành phần như sau : Nhóm

KN thu thập thông tin; Nhóm KN xứ lí thông tin; Nhóm KN vận dụng thông tin

Trang 21

1.1.3.2 Các bước rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học

* Các bước rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học

- Nhóm kỹ năng thu thập thông tin

Bước một: Xác định kiến thức cơ bản, xây dựng kế hoạch đọc

Bước hai: Tiến hành đọc sách, quan sát hình ảnh, đồ thị

Bước ba: Tóm tắt kiến thức vừa đọc

Bước bốn: Xác định các vấn đề cần giải quyết, tranh luận để rút ra kết luận

+ Kỹ năng nghe giảng

Nghe là một hoạt động thường xuyên của con người, hoạt động này được diễn ra hàng ngày Tuy nhiên trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ xin trình bày

về KN nghe trong học tập mà cụ thể là KN nghe hiểu của HS

Bước một: Xác định nội dung nghe giảng

Bước hai: Tiến hành nghe giảng

Bước ba: Tóm tắt kiến thức vừa nghe giảng

Bước bốn: Xác định các vấn đề cần giải quyết, tranh luận để rút ra kết luận

+ Kỹ năng ghi chép

Ghi chép là hoạt động bắt buộc của hoạt động học và ai cũng phải ghi chép Chúng ta có thể nói trung bình 150 từ/phút tuy nhiên chỉ có thể ghi trung bình 27 từ/phút do đó chúng ta không thể ghi chép hết tất cả mọi thứ chúng ta nghe được nên khi ghi chép cần có sự chọn lựa nội dung cần ghi chép

Bước một: Xác định nội dung ghi chép

Bước hai: Tiến hành ghi chép

Bước ba: Hoàn thiện kiến thức

+ Kỹ năng ghi nhớ

Trang 22

Ghi nhớ và tái hiện kiến thức được tiếp nhận là công việc bắt buộc đối với việc học tập Không ghi nhớ được kiến thức HS sẽ không có điều kiện để hiểu sâu kiến thức đang được học, không xây dựng được mối liên hệ một cách hệ thống giữa các kiến thức liên quan cũng như gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận dụng kiến thức để giải quyết các bài toán đặt ra nói riêng và giải quyết các vấn đề thực tiễn nói chung

Chúng ta vẫn nhầm lẫn giữa ghi nhớ và tái hiện nên cần có sự phân biệt giữa ghi nhớ và tái hiện Việc ghi nhớ diễn ra một cách liên tục và lưu giữ tất cả các sự vật sự việc diễn ra Tái hiện là công việc nhớ lại các kiến thức đã được ghi nhớ Việc ghi nhớ và xây dựng được các mối liên kết giữa các kiến thức được học giúp cho việc tái hiện kiến thức diễn ra nhanh chóng và hiệu quả đồng thời qua đó phát triển khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân Cá nhân nào càng xây dựng được nhiều mối liên kết thì càng có khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo Do đó, bên cạnh việc rèn luyện khả năng ghi nhớ chúng ta phải rèn luyện khả năng tái hiện lại kiến thức

Bước một: Xác định nội dung kiến thức cần ghi nhớ

Bước hai: Tiến hành ghi nhớ

Bước ba: Tái hiện kiến thức

- Nhóm kỹ năng xử lí thông tin

+ Kỹ năng tóm tắt thông tin, tìm ý chính

Tóm tắt thông tin được cung cấp qua đó tìm ra thông tin chính, quan trọng là một công việc quan trọng, nó chịu ảnh hưởng của KN đọc sách, ghi chép cũng như ảnh hưởng đến việc vận dụng kiến thức, liên kết các kiến thức liên quan để giải quyết bài toán cụ thể

Bước một: Xác định nội dung kiến thức cần tóm tắt

Bước hai: Phân tích các dữ kiện, các thuật ngữ

Bước ba: Xác định các kiến thức liên quan

+ Kỹ năng lập biểu bảng, sơ đồ

Sơ đồ, biểu bảng cũng là một trong các phương tiện học tập Các kiến thức

có thể được trình bày dưới dạng văn bản, công thức hoặc trình bày dưới dạng các sơ

Trang 23

đồ, biểu bảng Việc trình bày trên các sơ đồ, biểu bảng làm cho kiến thức trở nên trực quan, sinh động Kiến thức được thể hiện lại một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ

và thể hiện rõ trình tự tiến hành, thứ tự của các kiến thức

Bước một: Xác định nội dung kiến thức cần lập sơ đồ biểu bảng hoặc đồ thị Bước hai: Xác định mối liên hệ giữa các kiến thức

Bước ba: Xác định loại sơ đồ biểu bảng, hoặc đồ thị cần thiết lập

Bước một: Xác định kiến thức cần phân tích tổng hợp

Bước hai: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ của công việc

Bước ba: Tiến hành phân tích

Bước bốn: Giải quyết nhiệm vụ, tổng kết hóa, tìm mối liên hệ có tính quy luật

+ Kỹ năng so sánh

So sánh là một thao tác tư duy quan trọng So sánh làm bộc lộ sự giống nhau

và khác nhau giữa các sự vật, sự việc, hiện tượng nhằm nhận thức rõ bản chất và khả năng của chúng So sánh không chỉ làm rõ bản chất của các sự vật, sự việc, hiện tượng mà còn tạo ra sự liên hệ giữa chúng So sánh giúp HS nhận ra được cái chung

và cái riêng giữa các kiến thức khác nhau, từ đó hiểu và áp dụng chính xác các kiến thức cần thiết để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể

Bước một: Xác định đối tượng, nội dung cần so sánh

Bước hai: Xác định điều kiện ban đầu

Bước ba: Xác định chuẩn so sánh

Bước bốn: Tiến hành so sánh và rút ra kết luận

- Nhóm kỹ năng vận dụng thông tin

+ Kỹ năng vận dụng kiến thức

Thông tin sau khi được thu thập, xử lí thì cần được vận dụng một cách hợp lí,

Trang 24

có như vậy công việc của các giai đoạn trước mới trở nên có ý nghĩa Bên cạnh đó, việc vận dụng kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ đặc ra là điều bắt buộc phải được thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ học tập Khi một kiến thức đã được học nếu biết cách vận dụng và vận dụng thành công thì kiến thức đó đã nhuần nhuyễn, kiến thức đó mới trở thành kiến thức của bản thân HS

Bước một : Xác định yêu cầu thực tế

Bước hai : Xác định các kiến thức liên quan

Bước ba : Vận dụng kiến thức để giải quyết yêu cầu cụ thể

+ Kỹ năng đào sâu kiến thức

Đào sâu kiến thức sẽ giúp HS hoàn thiện hơn kiến thức của mình, đồng thời phát triển năng lực tư duy, khả năng sáng tạo Tùy vào điều kiện thực tế về năng lực, trình độ, nhu cầu của HS và nhu cầu của xã hội mà xác định mức độ đào sâu của kiến thức

Bước một: Xác định yêu cầu thực tế, phân tích hiện tượng

Bước hai: Giải quyết nhiệm vụ bằng các phương pháp khác nhau

Bước ba: Rút ra kết luận, tổng hợp mối liên hệ mang tính bản chất

+ Kỹ năng giải bài tập

BTVL là bài ra cho người học trong đó chứa đựng những thông tin, bao gồm những điều kiện và yêu cầu đặt ra đòi hỏi người học phải giải đáp bằng cách vận dụng những kiến thức vật lí đã học BTVL có tác dụng to lớn trên cả ba mặt: giáo dục, giáo dưỡng và giáo dục kĩ thuật tổng hợp Bài tập giúp HS hiểu sâu các hiện tượng, các quy luật vậy lí, biết phân tích và vận dụng chúng để giải quyết các vấn

đề thực tế cuộc sống đề ra

Bước một: Xác định loại bài tập, đọc kĩ đề bài và tóm tắt các dữ kiện. 3

Bước hai: Phân tích hiện tượng

Bước ba: Xây dựng lập luận

Bước bốn: Lựa chọn cách giải cho phù hợp

Bước năm: Kiểm tra, xác nhận kết quả và biện luận

+ Kỹ năng thực hành, thí nghiệm

Thực hành, thí nghiệm là một bộ phận không thể tách rời trong việc dạy học,

Trang 25

nó càng đóng vai trò quan trọng hơn trong các bộ môn khoa học thực nghiệm, thí nghiệm để nghiên cứu các hiện tượng, quá trình trong những điều kiện đã được lí tưởng hoá Kết quả của thí nghiệm nhiều khi là các định luật, các ứng dụng kĩ thuật nhưng có khi cũng chỉ để chứng minh một giả thuyết hoặc hình thành một giả thuyết mới

Bước một: Xác định loại thí nghiệm

Bước hai: Xác định các dụng cụ cần thiết

Bước ba: Xác định phương án tiến hành thí nghiệm

Bước bốn: Tiến hành thí nghiệm, thu thập, xử lí số liệu

+ Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra: là xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá, nhận xét Đây là “khâu đầu tiên của quá trình đánh giá”

Đánh giá: là đưa ra nhận xét về giá trị của một sự kiện nào đó Nó bao gồm việc thu nhận, xử lí và sử dụng thông tin đó nhằm đạt tới một mục đích nhất định

Bước một: Xác định kiến thức cần kiểm tra

Bước hai: Xác định PP, công cụ và chuẩn kiểm tra

Bước ba: Đánh giá kết quả theo chuẩn

Bước bốn: Rút ra kết luận, đề xuất biện pháp khắc phục hoặc thúc đẩy

+ Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh

Trong quá trình tự học, để HS tự áp dụng kiến thức trong tình huống mới, giải những bài toán không phải chỉ theo khuôn mẫu đã có, thực hiện những bài làm

có tính chất nghiên cứu và thiết kế, vạch ra các bước thích hợp mà trước kia chưa biết để giải các bài toán thuộc loại mới, cũng như nắm được những KN mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Để nâng cao chất lượng của hoạt động tự học cho

HS, GV cần sử dụng các biện pháp sau [31], [8], [27]

- Xây dựng động cơ hứng thú học tập cho người học

- Xây dựng kế hoạch tự học

- Tăng cường làm việc với sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn tự học

- Phối hợp các hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt

- Nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học

Trang 26

- Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực

- Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại

- Kết hợp nhiều loại hình kiểm tra, đánh giá trong dạy học

1.3 Sử dụng bài tập vật lí trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

1.3.1 Các loại bài tập vật lí bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

1.3.1.1 Đặc điểm của bài tập bồi dưỡng năng lực tự học

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, theo chúng tôi HTBT bồi dưỡng NLTH cần phải:

a, Có đầy đủ các loại bài tập:

+ Bài tập điển hình: là bài tập tiêu biểu cho một dạng nào đó, bắt buộc HS phải giải

+ Bài tập tương tự: là bài tập gần giống bài tập điển hình, HS giải để rèn luyện

KN giải bài tập dạng đó

+ Bài tập khó: là bài tập dành cho HS khá, giỏi với mức độ tư duy cao hơn

b Có phân dạng bài tập và hướng dẫn cách giải từng dạng

c Có bài giải mẫu (đa số là bài tập điển hình)

d Sắp xếp các bài tập từ dễ đến khó và chỉ ra bài tập điển hình, bài tập tương

tự, bài tập khó

1.3.1.2 Các loại bài tập vật lí bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

Các BTVL khác nhau về nội dung, về PP giải, về mục đích dạy học Vì vậy, việc phân loại BTVL có nhiều cách, theo tác giả Nguyễn Văn Khải, chúng ta có thể phân loại theo các phương án như sau [21]:

+ Phân loại theo nội dung (bài tập về cơ học, điện học,…)

+ Phân loại theo PP hình thành bài toán

+ Phân loại theo PP giải (bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm,…)

+ Phân loại theo yêu cầu luyện tập KN, phát triển tư duy trong QTDH (bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo)

Tuy nhiên căn cứ vào dấu hiệu tự học, KN tự học và giới hạn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu quan tâm nhiều tới cách phân loại BTVL theo PP giải

Trang 27

Theo phương án này, người ta phân chia các BTVL thành 4 loại: Bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị  23 Mỗi loại bài tập có một phương pháp giải riêng sử dụng sao cho phù hợp trong dạy học  20 Phân loại này

có ý nghĩa quan trọng vì nó cho phép GV lựa chọn bài tập tương ứng với sự chuẩn

bị Toán học của HS, mức độ kiến thức và sự sáng tạo của HS [21]

* Bài tập định tính: Đặc điểm nổi bật của bài tập định tính là ở chỗ trong các

điều kiện của bài toán đều nhấn mạnh bản chất Vật lí của hiện tượng Giải các bài tập định tính thường bằng các lập luận logic trên cơ sở các định luật Vật lí Khi giải bài tập định tính, HS rèn được tư duy logic, khả năng phân tích hiện tượng, trí tưởng tượng khoa học, KN vận dụng kiến thức Bài tập định tính thường có hai dạng: giải thích hiện tượng và dự đoán hiện tượng sẽ xảy ra Đối với bài tập giải thích hiện tượng: bắt buộc phải thiết lập được mối quan hệ giữa một hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật hiện tượng hay với một số định luật vật lí Đối với bài tập dự đoán hiện tượng thực chất là căn cứ vào những điều kiện cụ thể của đầu bài, xác định những định luật chi phối hiện tượng và dự đoán được hiện tượng

gì xảy ra và xảy ra như thế nào Từ đó tìm quy luật chung chi phối hiện tượng cùng loại và rút ra kết luận Vì vậy, để luyện tập tốt nên bắt đầu từ bài tập định tính

* Bài tập định lượng (Bài tập tính toán): Bài tập định lượng là những bài tập

khi giải phải sử dụng các PP Toán học (dựa trên các định luật và quy tắc, thuyết Vật lí…) Đây là dạng bài tập phổ biến, sử dụng rộng rãi trong chương trình Vật lí phổ thông Dạng bài tập này có ưu điểm lớn là làm sâu sắc các kiến thức của HS, rèn luyện cho HS PP nhận thức đặc thù của Vật lí, đặc biệt là PP suy luận Toán học

Dựa vào mục đích dạy học ta có thể phân loại bài tập dạng này thành hai loại:

- Bài tập tập dượt: Là bài tập đơn giản được sử dụng ngay khi nghiên cứu một khái niệm hay một quy tắc Vật lí nào dó để HS vật dụng kiến thức vừa mới tiếp thu

- Bài tập tổng hợp: Là những bài tập phức tạp mà muốn giải nó HS vận dụng nhiều kiến thức ở nhiều phần, nhiều chương, nhiều cấp học và thuộc nhiều lĩnh vực Đặc biệt khi các câu hỏi loại này được nêu dưới dạng trắc nghiệm khách quan, thì

Trang 28

yêu cầu HS phải nhớ kết quả cuối cùng đã được chứng minh trước đó để giải nó một cách nhanh chóng

Có hai PP xây dựng lập luận bài tập định lượng: PP phân tích và PP tổng hợp

• Phương pháp phân tích: Từ các định luật vật lí tìm đại lượng chưa biết dựa

trên dữ kiện bài cho Thực chất của PP phân tích là phân tích một bài toán phức tạp thành nhiều bài toán đơn giản hơn

• Phương pháp tổng hợp: việc giải bài tập bắt đầu từ những đại lượng đã cho

trong điều kiện của bài tập Dựa vào các định luật, quy tắc vật lí, ta phải tìm những công thức chứa đại lượng đã cho và các đại lượng trung gian mà ta dự kiến có liên quan đến đại lượng phải tìm Cuối cùng ta tìm được một công thức chỉ chứa đại lượng phải tìm và những đại lượng đã biết

• Có thể phối hợp phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp

Vì vậy yêu cầu HS phải hiểu bài một cách sâu sắc để vận dụng kiến thức ở mức độ cao

* Bài tập đồ thị: Bài tập đồ thị là dạng bài tập phân tích đồ thị từ đó tìm các

điều kiện giải bài toán Dạng bài tập này rèn KN đọc và vẽ đồ thị cho HS Việc áp dụng

PP đồ thị cho phép diễn đạt trực quan hiện tượng Vật lí, cho cách giải trực quan hơn, phát triển KN vẽ và sử dụng đồ thị là các KN có tác dụng sâu sắc trong kĩ thuật

Là loại bài tập mà dữ kiện đề bài cho dưới dạng đồ thị hay trong quá trình giải nó ta phải sử dụng đồ thị Có thể phân loại dạng câu hỏi này thành các loại :

- Đọc và khai thác đồ thị đã cho: Bài tập loại này có tác dụng rèn luyện cho

HS KN đọc đồ thị, biết cách đoán nhận sự thay đổi trạng thái của vật thể, hệ vật lí, của một hiện tượng hay một quá trình vật lí nào đó Biết cách khai thác từ đồ thị những dữ để giải quyết một vấn đề cụ thể

- Vẽ đồ thị theo những dữ liệu đã cho: bài tập này rèn luyện cho HS KN vẽ

đồ thị, nhất là biết cách chọn hệ tọa độ và tỉ lệ xích thích hợp để vẽ đồ thị chính xác

* Bài tập thí nghiệm: Đây là dạng bài tập trong đó thí nghiệm là công cụ được sử

dụng để tìm các đại lượng cần cho giải bài toán, cho phép đưa ra lời giải hoặc là công cụ

Trang 29

kiểm tra các tính toán phù hợp ở mức độ phù hợp với điều kiện bài toán Công cụ đó có thể là một thí nghiệm biểu diễn hoặc một thí nghiệm thực tập của HS

Bài tập thí nghiệm còn là loại bài tập cần phải tiến hành các thí nghiệm hoặc

để kiểm chứng cho lời giải lý thuyết, hoặc để tìm những số liệu, dữ kiện dùng trong việc giải các bài tập Tác dụng cụ thể của loại bài tập này là giáo dục, giáo dưỡng và giáo dục kĩ thuật tổng hợp Đây là loại bài tập thường gây cho HS cảm giác lí thú và đặc biệt đòi hỏi HS nhiều tính sáng tạo

Thông qua lập luận giải bài tập, HS được rèn luyện và phát triển tư duy vật lí

 21 ,  32 Mỗi loại bài tập có những tiêu chuẩn và tiêu chí riêng phù hợp với việc bồi dưỡng và nâng cao NLTH cho HS trong QTDH

Trong quá trình tìm kiếm lời giải bài tập theo các bước kỹ năng giải bài tập, nếu HS chưa áp dụng thuần thục thì GV cần hướng dẫn HS theo các hướng dẫn sau : hướng dẫn theo mẫu (Angôrit), hướng dẫn tìm tòi (Hướng dẫn ơrixtic) và định hướng khái quát chương trình hóa  5 Mỗi hướng dẫn có những ưu nhược điểm khác nhau, tùy theo đặc điểm HS mà có thể sử dụng phù hợp

1.3.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập để bồi dưỡng năng lực tự học

Để định hướng cho việc tuyển chọn, xây dựng BTVL, chúng tôi đã nghiên cứu và đề xuất các nguyên tắc sau:

1.3.2.1 Đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại

Đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc chủ yếu của việc lựa chọn nội dung

Theo nguyên tắc này thì nội dung BTVL phải thể hiện một cách đúng đắn những quan điểm của kiến thức vật lí hiện đại (ngôn ngữ vật lí, các định luật, các lý thuyết, các khái niệm, ) và phải phù hợp với nội dung SGK Bảo đảm tính cơ bản là phải

đưa vào hệ thống BTVL những kiến thức cơ bản, trọng tâm về vật lí Bảo đảm tính hiện đại tức là phải đưa vào các nội dung hiện đại, phù hợp với thực tiễn Điều kiện

quan trọng để thực hiện nguyên tắc này là tính hệ thống của kiến thức, thiết lập mối liên hệ giữa các kiến thức, KN; tập trung vào kiến thức trọng tâm

1.3.2.2 Đảm bảo tính logic, hệ thống

Tính logic được hiểu một cách đơn giản chính là sự hợp lí Hợp lí trong cả việc chọn nội dung kiến thức phù hợp với đối tượng sử dụng HTBT là hợp lí trong

Trang 30

việc trình bày các kiến thức đó HTBT phải được trình bày tinh gọn, dễ hiểu, cấu trúc rõ ràng Tính hệ thống là sắp xếp các dạng bài tập một cách có sự liên tục để người sử dụng thấy được chúng là những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau

1.3.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng, phù hợp với các đối tượng học sinh

- Thông qua HTBT, HS nắm được các kiến thức cơ bản, trọng tâm; đầy đủ các dạng bài tập thường gặp; mỗi HS có trình độ khác nhau, mỗi lớp đều có HS giỏi, khá, trung bình, thậm chí mỗi vùng miền khác nhau thì trình độ HS cũng khác nhau HTBT cần phù hợp với các đối tượng HS

1.3.2.4 Đảm bảo tính vừa sức

Tính vừa sức cần hiểu theo 2 nội dung:

- Vừa sức về độ khó: Bài tập cao hơn khả năng của HS một chút là rất tốt Nếu dễ thì HS dễ ỷ lại, còn nếu khó quá thì HS lại bỏ giữa chừng GV cần chú ý đưa những bài tập có hệ thống từ dễ đến khó và củng cố lý thuyết kèm theo phương hướng giải quyết để HS không nản chí (hướng dẫn cách giải cho từng dạng bài tập, sau đó cho bài tập tương tự có kèm theo đáp số)

- Vừa sức về số lượng: Nếu nhiều bài tập quá thì HS không giải hết, chán nản

và ảnh hưởng đến các môn học khác Nếu ít quá thì không phủ kín chương trình và không đủ để bồi dưỡng HS tự học

1.3.2.5 Bám sát nội dung dạy học, chú trọng kiến thức trọng tâm

HTBT cần bám sát nội dung của từng bài, từng chương và cần xoáy vào kiến thức trọng tâm giúp cho mọi đối tượng HS (khá, giỏi, trung bình và yếu) mức tối thiểu nắm được những kiến thức cơ bản, làm nền tảng cho HS có thể nâng cao kiến thức chắc chắn rằng kết quả học tập sẽ tốt hơn

1.3.2.6 Gây hứng thú cho người học

Để gây hứng thú cho người học thì:

- BTHH gắn liền với các kiến thức khoa học về vật lí hoặc các môn học khác, gắn với thực tiễn sản xuất hoặc đời sống,…

- HTBT cần chứa đựng các bài tập có thể giải theo nhiều cách, trong đó cách giải ngắn gọn nhưng đòi hỏi HS phải thông minh hoặc có sự suy luận cần thiết thì mới giải được

Trang 31

1.3.2.7 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học

Để HS tự học tốt cần được hướng dẫn HS học tập cụ thể và có thông tin phản hồi Việc tự học thuận lợi sẽ giúp HS tiếp thu kiến thức cần nắm và say mê học tập hơn, kết quả học tập nâng cao Vì vậy, HTBT cần có lý thuyết tóm tắt; có các PP giải nhanh; hướng dẫn giải và đưa ra một số cách giải phù hợp với nhiều đối tượng HS; có đáp án cho câu hỏi trắc nghiệm; có bài tập tổng hợp để HS kiểm tra lại kiến thức

1.4 Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của bài tập

Bồi dưỡng NLTH cho HS với sự hỗ trợ của bài tập thực chất là sử dụng bài tập để rèn luyện các HS tự học trong quá trình học tập

1.4.1 Biện pháp 1: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh trong giai đoạn mở đầu

a, Mục tiêu

Giai đoạn mở đầu là giai đoạn rất quan trọng tạo tiền đề để HS thu nhận thông tin, xử lí thông tin và vận dụng thông tin một cách chính xác trước và những phần sau của tiết học Đây cũng là sự giáp mặt đầu tiên giữa HS và GV trong buổi học

Ở phần mở đầu, để tạo tình huống có vấn đề có rất nhiều cách trong dạy học nhưng nếu chọn bài tập để tạo tình huống có vấn đề thì bài tập đó phải gần gũi với bài học, có tính thực tế, khởi động tư duy và kích thích các em nhu cầu tìm hiểu, giải thích vấn đề, từ đó hướng cho các em vào việc tiếp thu những kiến thức mới

b, Cách thực hiện

Dùng bài tập tạo tình huống có vấn đề để đặt vấn đề đối với bài mới thì phải tạo được sự mâu thuẫn, xung đột và bất ngờ trong suy nghĩ cùa học sinh lôi cuốn học snh tham gia giải quyết

Bài tập có thể là một câu hỏi định tính, định lương, thí nghiệm đơn giản hoặc cũng có thể là một câu chuyện liên quan nhằm giáo dục, một câu chuyện

Trang 32

kiện, những quan điểm trái ngược nhau mà HS phải tìm hiểu, phân tích hiện tượng, phê phán quan điểm sai để tìm ra chân lý. 18

Ví dụ: BT thí ngiệm về quả dọi trong bài sư rơi tư do

Treo quả dọi thẳng đứng, cắt dây dọi quan sát hiện tương, cho biết quả dọi rơi như thế nào? Tại sao nó không rơi về phía trên ?

Trước khi giải bài tập HS sử dụng các KN đọc, nghe, ghi chép, quan sát, phân tích tổng hợp (mục 1.1.3) nhưng phải nhanh gọn, sau đó vận dụng kiến thức

đã học và KN giải bài tập giải

Nếu HS không giải quyết được nhiệm vụ được giao thì GV phải là người hướng dẫn cho HS giải bài tập

c, Điều kiện sử dụng

Tùy theo bài học cũng như năng lực HS mà ta lựa chọn loại bài cho phù hợp Không phải ở giai đoạn này lúc nào cũng dùng bài tập để đặt tình huống có vấn đề Tùy theo bài học, năng lực HS hoặc ý đồ người dạy có thể sử dụng MVT, bản đồ tư duy, thí nghiệm để đạt mục đích dạy học Có những bài học không thể dùng bài tập để tạo tình huống có vấn đề mà có thể là sự hỗ trợ của bản đồ tư duy, MVT, thí nghiệm hoặc là kết hợp hài hòa giữa bài tập với các phương tiện trực quan đó

Bài tập này phải tạo được sự mâu thuẫn, kích thích học tập và giúp HS tiếp thu kiến thức mới Bên cạnh đó, đòi hỏi ở HS sự tư duy nhanh, tự lập cao, vận dụng hết KN tự học để giải quyết vấn đề nên không phải HS nào cũng làm được chủ yếu rơi vào HS khá giỏi Bài tập phải là bài vừa sức để tất cả HS tham gia

KN tự học ở giai đoạn này cũng được rèn luyện và nâng cao nhưng khó đồng đều ở các HS nhưng kết hợp với PP dạy học của GV chắc chắn tạo được bầu không khí lớp học tích cực, kích thích học tập, tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS và tạo được động cơ học tập đúng đắn cho các em

1.4.2 Biện pháp 2: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh trong quá trình nghiên cứu kiến thức mới

a, Mục tiêu

Trang 33

Trong quá trình nghiên cứu kiến thức mới, HS sẽ tiếp thu những kiến thức mới (khái niệm, định luật, thuyết vật lí, PP nhận thức vật lí và ứng dụng vật lí) xử lí

và vận dụng chúng vào thực tiễn

Bài học vật lí là bài học chia làm nhiều mục, nhiều kiến thức thống nhất với nhau Trong một thời gian ngắn, HS không thể tiếp thu với một lượng kiến thức nhiều như vậy Để khắc phục điều này, GV có thể sử dụng phiếu học tập để chia nội dung kiến thức cần nghiên cứu thành những đơn vị kiến thức nhỏ vừa sức với trình

độ xuất phát của HS Phiếu học tập là những bài tập mang kiến thức chuyển tiếp từ phần này sang phần kia tạo sự logic,dễ nhớ, dễ tư duy lôi cuốn HS vào học tập

Hình thức bài tập có thể trắc nghiệm khách quan và tự luận Thông qua việc thảo luận nhóm sẽ rèn luyện cho các em KN trao đổi thông tin với các bạn học trong nhóm, trong lớp và với cả GV, góp phần nâng cao tinh thần học hỏi, hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Tuy nhiên, GV cần lưu ý phải chia nhóm đồng đều

và quan sát theo dõi hướng dẫn các em nhằm tìm ra hướng đi chung nhất

b, Cách thực hiện

Phát phiếu cho học sinh đọc sơ lược; hướng dẫn HS thì khi:

- Thu thập thông tin:

+ Đọc: Xác định từ khóa trong bài tập để tìm kiến thức liên quan Đối với trắc nghiệm thêm chú ý từ in đậm, in nghiêng vì nếu HS không để ý thì dễ hiểu sai yêu cầu bài tập

+ Nghe: Lắng nghe sự hướng dẫn của GV, nghe từ bạn, học hỏi và trao đổi thông tin với bạn bè, rồi bản thân tự lắng nghe để suy nghĩ và tư duy

+ Quan sát: Sau khi đọc thì quan sát câu nào dễ thì làm trước, câu nào khó thì làm sau Phiếu học tập kết hợp với thí nghiệm, MVT tăng khả năng quan sát, nhận xét, dự đoán hoặc đánh giá hiện tượng

Sau khi phát phiếu, GV tổ chức cho HS trao đổi, thảo luận theo nhóm để giải quyết vấn đề Khi đó HS tiến hành:

- Xử lí và vận dụng thông tin

+ Từ việc quan sát thí nghiệm rút ra kết luận đối với hiện tượng vật lí trong bài tập định tính

Trang 34

+ Phân tích tìm kiến thức liên quan, xử lí số liệu, nêu ý nghĩa của đại lượng vật lí

Ví dụ: Khi nói đến đại lượng đặc trưng cho sự thay đổi chuyển động của một vật thì phải vận tốc v

Hoặc khi nói đến sự biến đổi vận tốc của vật theo thời gian thì đại lượng đó phải là gia tốc a

Sau cùng là vận dụng tất cả kiến thức liên quan giải bài tập

c, Điều kiện sử dụng

Giai đoạn này, thời gian tương đối dài thuận lợi để rèn luyện KN tự học thông qua bài tập làm cơ sở nền tảng cho giai đoạn khác Vì trong giai đoạn này HS được tiếp cận đầy đủ về PP GV, với môi trường học tập, phương tiện trực quan, với kiến thức để hình thành, bồi dưỡng và nâng cao NLTH Bài tập mục này có thể bài tập liên quan kiến thức mới cho phần sau mà lý thuyết không thể trình bày hết được

để tạo sự tư duy logic cho HS đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian để thực hiện nhiệm vụ dạy học cũng như nhiệm vụ học tập khác

1.4.3 Biện pháp 3: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong quá trình ôn tập, củng cố kiến thức

a, Mục tiêu và cách thực hiện

Mục tiêu của giai đoạn này là khắc sâu kiến thức cho HS trong QTDH Đối với những bài học vật lí nhằm ôn tập, củng cố cho HS thì thường rơi các hoạt động sau đây:

+ Hoạt động cuối bài dạy: Hoạt động này mục đích là để ôn tập, củng cố sau mỗi bài học nhằm khắc sâu kiến thức, giúp HS vận dụng kiến thức và tự kiểm tra, tự đánh giá bản thân sau mỗi tiết học Giai đoạn này HS mất tập trung nên mục đích dạy học khó thành công Để khắc phục tình trạng này thì bài tập này cũng phải có

hệ thống từ đễ đến khó, tương tư như bài tập ở giai đoạn nghiên cứu kiến thức mới

và bài tập điển hình để đánh giá HS Giai đoạn này chủ yếu rèn luyện KN vận dụng

và tự kiểm tra, tự đánh giá của HS

+ Tiết bài tập là tiết thường được dạy sau một hai bài học hoặc ở cuối chương GV lập sơ đồ kiến thức một cách có hệ thống logic và vận dụng kiến thức

Trang 35

đó để khắc sâu tâm trí HS thông qua đó có thể vận dụng ở mức độ cao, hình thành kiến thức mới bổ sung cho kiến thức mà lý thuyết chưa trình bày hết được

b, Điều kiện sử dụng

Qua tiết bài tập này cũng rèn luyện tất cả KN tự học Kết hợp với sử dụng MVT trình chiếu hệ thống bài tập (kèm theo kết quả bài tập), tiết kiệm được thời gian nâng cao NLTH và chất lượng dạy học

Trình chiếu những bài tập thí nghiệm, và HS làm bài tập kiểm chứng kết quả thí nghiệm

Bài tập phải tổng hợp để HS nắm kiến thức một cách tổng quát, cũng như biết cách phân biệt giữa kiến thức này với kia để lựa chọn hoặc phối kết hợp kiến thức giải bài tập

1.4.4 Biện pháp 4: Tăng cường sử dụng bài tập rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh khi tự học ở nhà

a, Mục tiêu

Đây là kiểu tự học có sự hướng dẫn của thầy cô nhưng không trực tiếp Vật lí học là môn học có kiến thức liên quan chặt chẽ với kĩ thuật và đời sống Vì vậy, nếu HS chỉ dành thời gian học trên lớp thôi thì không đủ để các em nắm vững được các kiến thức, sẽ không vận dụng chúng một cách có hiệu quả để giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn đặt ra Do đó, GV cần phải tổ chức cho

HS tự học ở nhà Nhiệm vụ ở nhà của HS không chỉ giải quyết những bài tập có liên quan đến việc củng cố các kiến thức vừa được học ở trên lớp mà còn chuẩn bị trước nội dung kiến thức, cũng như chuẩn bị một số công việc cho bài học sau Sự chuẩn

bị này giúp cho việc tiếp thu kiến thức của các em được thuận lợi hơn, các em nhanh chóng nắm bắt được kiến thức mới

Trang 36

tốt hoạt động tự học ở nhà, GV cần phải có những định hướng rõ ràng cụ thể giúp cho HS dễ dàng hơn trong việc tự học ở nhà, từ đó nâng cao kết quả học tập

Giai đoạn này có thể rèn luyện hết KN tự học với đầy đủ các loại bài tập bồi dưỡng NLTH Sự khác biệt lớn so với các giai đoạn trên là HS phải tự lực hoàn toàn

về mặt tư duy và có thêm sự sáng tạo dựa vào năng lực của từng HS

1.4.5 Biện pháp 5: Tăng cường giám sát, hướng dẫn và kiểm tra đánh giá hoạt động tự học của học sinh

1.4.5.1 Tăng cường hoạt động nhóm, hoạt động tập thể của học sinh

a, Mục tiêu của biện pháp: Biện pháp này hướng đến việc rèn luyện nhóm

KN giao tiếp học tập và nhóm KN quản lí học tập cho HS Nhờ có hoạt động trong nhóm mà HS biết chia sẻ kiến thức cho nhau, hợp tác với nhau để giải quyết các nhiệm vụ học tập cụ thể với tinh thần trách nhiệm cao

b, Cách thức thực hiện và điều kiện sử dụng

Hai hình thức tổ chức dạy học được đề xuất là tổ chức dạy học theo nhóm và

tổ chức dạy học theo hình thức seminar

 Tổ chức dạy học theo nhóm

Tùy theo nội dung mà có thể tổ chức dạy học theo trạm, hay dạy học theo góc, đó cũng là hình thức cụ thể hơn của dạy học nhóm

 Tổ chức dạy học theo hình thức seminar

Seminar hay báo cáo khoa học về bản chất cũng là một hoạt động nhóm Cách tổ chức học tập này không chỉ HS báo cáo được rèn luyện KN mà những

HS khác cũng được rèn luyện.Bên cạnh đấy, hoạt động này thúc đẩy mọi HS tích cực tham gia vào hoạt động học tập

Trang 37

1.4.5.2 Dạy phương pháp tự học cho học sinh

a, Mục tiêu của biện pháp: Mục tiêu cuối cùng của tự học là giúp HS vận

dụng HTKN học tập thực hiện các nhiệm vụ học tập cá nhân, hình thành NLTH Do

đó, mục tiêu của biện pháp này là rèn luyện cho HS HTKN học tập để HS có thể tham gia vào quá trình tự học

b, Cách thức thực hiện và điều kiện sử dụng: Một số biện pháp cơ bản để dạy

cách học cho HS là: thiết kế tài liệu hướng dẫn tự học; xây dựng động cơ học tập cho HS; xây dựng hệ thống câu hỏi và hướng dẫn HS đặt câu hỏi; học tập trực tuyến…

 Thiết kế tài liệu hướng dẫn tự học

Tài liệu hướng dẫn tự học cho HS phải đảm bảo các yêu cầu sau: là nguồn tri thức cơ bản đối với HS, có mục tiêu rõ ràng, là phương tiện tổ chức các HĐHT của

HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học đồng thời rèn luyện KN học tập cho HS;

 Xây dựng động cơ học tập cho HS

Động cơ học tập quyết định đến kết quả học tập của HS Việc xây dựng động

cơ học bằng cách dạy học phải đưa HS vào tình huống có vấn đề để giải quyết nhằm khởi động tư duy cho HS

Tạo được bầu không khí lớp học tích cực

 Xây dựng hệ thống câu hỏi và hướng dẫn HS đặt câu hỏi

Hệ thống câu hỏi của GV phải có tính hệ thống, logic, phù hợp với đối tượng HS, luôn đặt HS vào trạng thái có nhu cầu trong việc trả lời câu hỏi; ngoài việc định hướng, phải kích thích được tính khám phá, suy luận của HS

 Học tập trực tuyến

Để xây dựng cho HS khả năng học tập trực tuyến, tham gia các diễn đàn học tập, khai thác tài nguyên học tập từ mạng internet thì GV có thể thực hiện những công việc sau đây: GV giao nhiệm vụ học tập cho HS, hướng dẫn HS dăng nhập và HS báo cáo tiến độ, kết quả công việc thông qua thư điện tử; xây dựng diễn đàn học tập,

HS khai thác tài nguyên học tập từ mạng internet và cập nhật vào diễn đàn học tập

1.4.5.3 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập đa dạng trong dạy học

Trang 38

 Bài tập vật lí trong bài học thực hành vật lí: BTVL trong hoạt động thực

hành hay còn gọi là bài tập thí nghiệm là những bài tập xây dựng những phương án tiến hành TN mới, đề xuất những biện pháp khắc phục những hạn chế và tận dụng những dụng cụ TN hiện có

 Bài tập vật lí trong dạy học ngoại khóa vật lí: Hình thức dạy học ngoại

khóa phổ biến nhất hiện nay đối với bộ môn vật lí đó là hình thức làm việc nhóm vận dụng những kiến thức đã học kết hợp với kinh nghiệm của bản thân thì các bài tập mà GV chuẩn bị phải mang tính chất thiết kế, chế tạo

1.5 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở trường THPT

1.5.1 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Gia Lai

1.5.1.1 Mục đích điều tra

* Về phía HS

- Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTVL

- Việc chuẩn bị cho tiết luyện tập và giải bài tập của HS

- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập; những khó khăn mà các em gặp phải khi

tự học và các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học

- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học

- Tìm hiểu vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học

* Về phía GV

- Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV

- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTVL trong dạy học vật lí

- Tìm hiểu tình hình dạy BTVL ở trường THPT: mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTVL

- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng HTBT bồi dưỡng NLTH cho HS

1.5.1.2 Đối tượng điều tra

- Chúng tôi tiến hành điều tra trên hai đối tượng là HS và GV vật lí

Trang 39

- Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 30 GV vật lí ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Gia Lai Số phiếu thu được là 30 phiếu

- Chúng tôi cũng đã gửi phiếu điều tra đến 11 lớp 11 (460 HS) ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Gia Lai Số phiếu thu được 460 phiếu

1.5.1.3 Kết quả điều tra

* Phiếu điều tra của HS gồm 13 câu hỏi ( phụ lục )

* Phiếu điều tra cho GV: Chúng tôi nêu lên 10 câu hỏi ( phụ lục )

1.5.2 Nhận xét về kết quả điều tra

Từ những số liệu thu được, kết hợp với điều tra GV và HS, chúng tôi rút ra được một số nhận xét sau:

a Nhận thức của GV và HS về tự học và thực trạng của việc bồi dưỡng NLTH cho HS ở các trường THPT hiện nay

- Hầu hết HS và GV đều hiểu đúng khái niệm về tự học và nhận thức đúng vai trò của tự học đối với quá trình học tập nhằm chiếm lĩnh các kiến thức một cách chủ động Tuy nhiên, rất ít GV và HS nắm được các khái niệm NLTH

- Đa số trong QTDH GV chưa chú ý đến việc bồi dưỡng NLTH cho HS, trong khi đó hầu hết HS lại cho rằng việc tự học của họ thường gặp khó khăn, mất nhiều thời gian và không hiệu quả

- Phần lớn GV chưa tổ chức hoặc tổ chức chưa tốt các PPDH tích cực Trong các tiết học, HS rất ít có điều kiện tự suy nghĩ, trao đổi, thảo luận về những vấn đề kiến thức của bài học mà hầu hết câu hỏi GV được đưa ra rồi tự GV giải quyết

- Trong QTDH, GV ít chú ý bồi dưỡng NLTH cho HS, hầu hết GV cố gắng truyền đạt hết nội dung SGK Điều này dẫn đến NLTH của các em không được bồi dưỡng trong quá trình học tập, biểu hiện là các em lúng túng khi phải tự đọc sách,

tự tìm tài liệu và đặc biệt là chưa biết thu thập, xử lí, vận dụng thông tin vào đời sống thực tế cũng như KN tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh quá trình học tập của bản thân

b Thực trạng về sử dụng BTVL để bồi dưỡng NLTH cho HS ở các trường THPT hiện nay

Trang 40

BTVL là phương tiện tốt để bồi dưỡng NLTH mà cụ thể là bồi dưỡng NLTH cho HS Tuy nhiên qua thăm dò, điều tra thì thực trạng của vấn đề sử dụng BTVL để bồi dưỡng NLTH cho HS ở các trường THPT hiện nay còn hạn chế

- Đa số GV đều nhận thức được tầm quan trọng của BTVL trong QTDH Tuy nhiên, việc khai thác BTVL để bồi dưỡng NLTH cho HS hầu như chưa được chú ý

- Hầu hết GV chưa quan tâm đến việc sử dụng BTVL để bồi dưỡng NLTH cho HS Đa số GV tự giải mà không hướng dẫn HS độc lập suy nghĩ tìm kiếm các phương án giải để từ đó bồi dưỡng cho HS NLTH

- Hầu hết GV ít sử dụng BTVL bồi dưỡng NLTH trong việc kiểm tra, đánh giá HS

- Phần lớn GV chưa có sự đầu tư khai thác những BTVL

* Một số nguyên nhân cơ bản

- Về phía GV

+ Mặc dù GV nhận thức được tầm quan trọng của BTVL trong QTDH nhưng

GV chưa có sự đầu tư đúng đắn

+ Nhiều GV vẫn quen dạy theo lối cũ, ngại đổi mới PPDH do đó việc sử dụng BTVL theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS đòi hỏi GV phải tốn thời gian và công sức để sưu tầm và tuyển chọn HTBT phù hợp với các hình thức dạy học

+ Các giáo án của GV chỉ mang tính hình thức và chỉ tóm tắt nội dung chính trong SGK mà chưa thiết kế giáo án theo một tiến trình cụ thể bằng hệ thống các BTVL để hình thành kiến thức cho HS

+ Chế độ kiểm tra, thi cử, đánh giá kết quả học tập chưa kích thích được khả năng tư duy và ý thức tự học của các em vì một bộ phận không nhỏ các GV vẫn dạy theo quan niệm “thi gì, dạy nấy” Vẫn còn nạn chạy đua theo thành tích, tuy không nhiều nhưng cũng tác động rất lớn đến việc tự học của các em

- Về phía HS

+ Phần đông HS nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học trong quá trình học tập của các em, tuy nhiên các em không biết và không có điều kiện để rèn luyện được những NLTH vì áp lực học tập và thi cử (học thêm tràn lan)

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w