1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn việt nam

197 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 4,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phân tán rủi ro…; và cũng đã đưa ra được một số vấn đề liên quan đến các nhân tố nhân khẩu học ảnh hưởng đến dân trí tài chính của người dân như nghề nghiệp, tuổi, trình độ học vấn của c

Trang 1

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng bài luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nghiên cứu sinh

Khúc Thế Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án tiến sĩ này, ngoài sự nỗ lực không ngừng của bản thân, NCS còn nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Viện Ngân hàng Tài chính, các nhà khoa học trong và ngoài nhà trường

Trước hết, xin dành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Phan Thị Thu Hà, người hướng dẫn khoa học, đồng thời cũng là giảng viên hướng dẫn NCS

từ những ngày tốt nghiệp đại học và ở lại trường Cô là một tấm gương phấn đấu không ngừng trong học thuật cũng như tạo điều kiện cho các giảng viên, nghiên cứu viên trẻ từng bước “đặt chân” vào con đường nghiên cứu một cách nghiêm túc và vững vàng

Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học trong và ngoài trường đã tạo cơ hội cho NCS được phỏng vấn, trao đổi một cách cởi mở về vấn đề mà NCS theo đuổi khi hoàn thiện luận án, cũng như phát triển luận án sau này Các gợi ý mà các nhà khoa học đưa ra đóng một phần quan trọng trong việc củng cố lý thuyết, giải thích thực tiễn Việt Nam cũng như đưa ra những hàm ý chính sách phù hợp đối với Việt Nam

Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, các bạn nghiên cứu sinh và sinh viên đã đồng hành, đã động viên, đã hỗ trợ NCS trong những lúc khó khăn, bế tắc tưởng như phải dừng lại Những lời động viên, chia sẻ thẳng thắn của các anh chị, các bạn, các em cũng như hỗ trợ trong quá trình thực địa điền dã đã giúp NCS rất nhiều trong việc thu thập và xử lý dữ liệu cũng như có thêm động lực để hoàn thiện công trình này cũng như các nghiên cứu có thể phát triển trong tương lai

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Lãnh đạo Viện Ngân hàng - Tài chính, Lãnh đạo và các chuyên viên của Viện Đào tạo Sau đại học, Viện Quản lý Châu Á Thái Bình Dương (nay là Viện Phát triển Bền vững) qua các thời kỳ đã hỗ trợ NCS có được một môi trường học tập và nghiên cứu chuyên nghiệp, năng động, giúp NCS tiếp cận được các phương pháp mới cũng như các lý thuyết gốc có liên quan

Xin chân thành cảm ơn tất cả!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nghiên cứu sinh

Khúc Thế Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH x

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH 7

1.1 Các nghiên cứu về tài chính hành vi 7

1.2 Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô 10

1.3 Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính 15

1.3.1 Nhóm nghiên cứu về nhân tố tác động đến dân trí tài chính 15

1.3.2 Nhóm quan điểm về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 19

1.4 Khoảng trống nghiên cứu 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN 23

2.1 Khái quát về người nghèo khu vực nông thôn 23

2.1.1 Khái quát về khu vực nông thôn 23

2.1.2 Người nghèo khu vực nông thôn 24

2.2 Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn 25

2.2.1 Khái niệm Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn 25

2.2.2 Nội dung dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn 29

2.2.3 Các phương pháp đo lường dân trí tài chính 33

2.3 Vai trò của dân trí tài chính 38

2.3.1 Đối với tổng thể nền kinh tế 38

2.3.2 Đối với các đối tượng của nền kinh tế 40

2.3.3 Đối với thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn 41

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến dân trí tài chính 46

2.4.1 Trình độ học vấn 47

2.4.2 Thu nhập 47

2.4.3 Việc làm 49

2.4.4 Tuổi tác 49

2.4.5 Giới tính 51

2.4.6 Chủng tộc và tôn giáo 52

Trang 6

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56

3.1 Quy trình nghiên cứu 56

3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 58

3.2.1 Đo lường Dân trí tài chính 58

3.2.2 Các nhân tố tác động lên dân trí tài chính 60

3.2.3 Tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 63

3.3 Nghiên cứu sơ bộ 64

3.3.1 Nghiên cứu định tính sơ bộ 65

3.3.2 Nghiên cứu định lượng thử nghiệm 68

3.4 Nghiên cứu chính thức 79

3.4.1 Nghiên cứu định tính chính thức 79

3.4.2 Nghiên cứu định lượng chính thức 81

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 88

4.1 Thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam 88

4.1.1 Thực trạng dân trí tài chính theo các nhân tố phản ánh 90

4.1.2 Thực trạng các nhân tố tác động tới dân trí tài chính 91

4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các nhân tố phản ánh 95

4.2.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha 95

4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 96

4.2.3 Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 98

4.3 Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng 102

4.4 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 107

4.4.1 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 107

4.4.2 Đánh giá tác động của kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính lên thu nhập 109

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý MỘT SỐ CHÍNH SÁCH 112

5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 112

5.1.1 Kết quả về thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam 113

5.1.2 Nhóm kết quả về nhân tố nhân khẩu học 113

5.1.3 Nhóm kết quả về các yếu tố nội hàm dân trí tài chính 117

5.1.4 Nhóm kết quả về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 118

5.2 Một số hàm ý chính sách 119

5.2.1 Nhóm hàm ý về kiến thức tài chính 119

5.2.2 Nhóm hàm ý về thái độ tài chính 123

5.2.3 Nhóm hàm ý về hành vi tài chính 124

Trang 7

5.3 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo 125

5.3.1 Hạn chế của đề tài 125

5.3.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo 126

KẾT LUẬN 127

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 128

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

PHỤ LỤC 146

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

triển châu Á

hình hồi quy trong CFA

Hưu trí của Hoa Kỳ

dục tài chính quốc tế của OECD

loại tiêu chuẩn giáo dục quốc tế

tương quan nội tại các biến quan sát

Trang 9

24 NFES National Financial Education Strategy - Chiến lược giáo dục

tài chính quốc gia

chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

bảo hiểm hàng năm cho giáo viên của Hoa Kỳ

định

hợp lý

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2000-2020 25

Bảng 2.2 Tổng hợp các khái niệm DTTC trong các nghiên cứu đã công bố 28

Bảng 2.3 Bộ công cụ đo lường DTTC 36

Bảng 2.4 Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu sử dụng bảng hỏi 37

Bảng 2.5 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC 53

Bảng 3.1 Thang đo Kiến thức tài chính 69

Bảng 3.2 Thang đo Thái độ tài chính 70

Bảng 3.3 Thang đo Hành vi tài chính 70

Bảng 3.4 Kết quả độ tin cậy thang đo Kiến thức tài chính 72

Bảng 3.5 Kết quả độ tin cậy thang đo Kiến thức tài chính sau khi xóa K4 72

Bảng 3.6 Kết quả độ tin cậy thang đo Thái độ tài chính 73

Bảng 3.7 Kết quả độ tin cậy thang đo Hành vi tài chính 73

Bảng 3.8 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 74

Bảng 3.9 Tổng hợp các nhân tố sau khi phân tích EFA 75

Bảng 3.10 Bảng độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích sơ bộ 76

Bảng 3.11 Ngưỡng chấp nhận của các chỉ số phù hợp mô hình 78

Bảng 3.12 Biến được sử dụng để lọc quan sát 81

Bảng 3.13 Ý nghĩa hệ số Cronbach’s Alpha 85

Bảng 3.14 Ý nghĩa giá trị Factor loading 86

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các nhân tố phản ánh DTTC 90

Bảng 4.2 Điểm số dân trí tài chính trung bình phân loại theo nhân tố giới tính 91

Bảng 4.3 Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố tuổi tác 92

Bảng 4.4 Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố trình độ học vấn 92

Bảng 4.5 Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố thu nhập 93

Bảng 4.6 Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố việc làm 94

Bảng 4.7 Phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo chính thức với hệ số Cronbach’s Alpha 95

Bảng 4.8 Kiểm định giá trị của thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA 97

Bảng 4.9 Bảng kiểm định KMO và Bartlett 98

Bảng 4.10 Kết quả kiểm định thang đo các nhân tố phản ánh 99

Bảng 4.11 Tóm tắt mô hình định lượng chính thức 102

Bảng 4.12 Kiểm định ANOVA định lượng chính thức 102

Bảng 4.13 Coefficients định lượng chính thức 103

Trang 11

Bảng 4.14 Ý nghĩa kết quả hệ số hồi quy của các nhân tố tác động DTTC 104

Bảng 4.15 Hệ số mô hình cấu trúc 106

Bảng 4.16 Kết quả ước lượng mô hình qua Bootstrap với n= 1000 106

Bảng 4.17 Tóm tắt mô hình tác động của DTTC lên thu nhập 107

Bảng 4.18 Kiểm định ANOVA phân tích tác động của DTTC lên thu nhập 108

Bảng 4.19 Kết quả Coefficients phân tích tác động của DTTC lên thu nhập 108

Bảng 4.20 Tóm tắt mô hình tác động của các nhân tố phản ánh lên thu nhập 109

Bảng 4.21 Kiểm định ANOVA 110

Bảng 4.22 Kết quả Coefficients phân tích tác động của các nhân tố phản ánh lên thu nhập 110

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mối quan hệ giữa các nhân tố nội hàm của DTTC 30

Hình 2.2 Lý thuyết hành động hợp lý 31

Hình 2.3 Lý thuyết hành vi dự định 32

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 57

Hình 3.2 Hình biểu diễn mối quan hệ giữa DTTC và GDP/người 60

Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu sơ bộ 63

Hình 3.4 Mô hình CFA định lượng sơ bộ 77

Hình 3.5 Mô hình nghiên cứu chính thức 82

Hình 3.6 Quy tắc kiểm định d của Durbin-Watson 84

Hình 4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 88

Hình 4.2 Điểm số DTTC trung bình của 512 đối tượng khảo sát 89

Hình 4.3 Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 1 100

Hình 4.4 Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 2 101

Hình 4.5 Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 105

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

Thời gian gần đây, tài chính toàn diện được coi là trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tài chính và giảm nghèo bền vững, vì thế tài chính toàn diện là trọng tâm ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới (World Bank, 2015) Theo Grohmann

và cộng sự (2018), dân trí tài chính (DTTC) là một trong những mắt xích quan trọng và ảnh hưởng tích cực lên tài chính toàn diện Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính

2008 đã chỉ ra khả năng đưa ra những quyết định tài chính rất quan trọng đối với việc phát triển tài chính cá nhân, từ đó tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế Demirguc-Kunt và cộng sự (2015) cho rằng DTTC là một trong những yếu tố tác động lên thu nhập của cá nhân thông qua việc lên kế hoạch tài chính, đưa ra những quyết định tài chính tích cực

và nhận diện rủi ro Có thể thấy rằng, DTTC có tác động tích cực đến giảm nghèo thông qua tăng thu nhập của người dân – đặc biệt tại nhóm nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế đang chuyển đổi (Atkinson và Messy, 2012, OECD, 2013, OECD, 2015) Các nghiên cứu về DTTC đã được thực hiện tại nhiều quốc gia, nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất trong vấn đề về lí thuyết cũng như chưa giúp giải quyết các vấn đề về thực tiễn Kết quả nghiên cứu của Research (2008), Lusardi (2008), Dew (2008), Servon và Kaestner (2008), Calamato (2010), OECD (2013), Mottola (2013), Brown và Graf (2013), Scheresberg (2013), OECD (2015)… đã đưa ra một cách khái quát nhất các quan điểm về dân trí tài chính theo cách hiểu của từng nước, từng vùng; song lại chưa có sự thống nhất về nội hàm Một vài khái niệm dân trí về tài chính được chấp nhận rộng rãi như “ khả năng đánh giá một cách có hiểu biết và đưa ra các hành động hiệu quả đối với việc sử dụng và quản lý tiền trong hiện tại và tương lai” (Basu, 2005); hay “khả năng đánh giá và đưa ra quyết định một cách có hiểu biết trong việc sử dụng và quản lý tiền” (Noctor và cộng sự, 1992); hay “bao hàm việc hiểu biết về tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính” (Atkinson và Messy, 2012) Về sau, quan điểm của Atkinson và Messy (2012) được OECD chấp nhận và phát triển thành các khái niệm để đo lường dân trí tài chính

Về vấn đề đo lường, trong phạm vi nghiên cứu là các nước OECD hoặc chỉ các nước như Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu đã cho thấy, các tác giả đã đề xuất ra một số quan điểm để đo lường dân trí tài chính, như (1) dựa vào lãi suất và phí suất của các loại thẻ tín dụng mà khách hàng sử dụng; (2) câu hỏi đúng/sai liên quan đến nhiều khía cạnh tín dụng (9 câu), tiết kiệm (5 câu), đầu tư (6 câu), thế chấp (4 câu), và lĩnh vực khác (4 câu); (3) Các câu hỏi liên quan đến tỷ lệ lãi suất, lạm phát, rủi ro đầu tư, và

Trang 14

phân tán rủi ro…; và cũng đã đưa ra được một số vấn đề liên quan đến các nhân tố nhân khẩu học ảnh hưởng đến dân trí tài chính của người dân như nghề nghiệp, tuổi, trình độ học vấn của cha mẹ…, từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách lớn, trong đó nhấn mạnh vào việc xây dựng thói quen tiết kiệm đối với người dân có thu nhập thấp tại các vùng được điều tra khảo sát (Atkinson và Messy, 2012, OECD, 2013, OECD, 2015) Đây là nền tảng để các nhà nghiên cứu và người làm thực tiễn về sau có thể áp dụng Tuy nhiên, các nghiên cứu này đa phần lại bỏ qua các nền kinh tế ở khu vực Đông Á và Đông Nam

Á (trừ Nhật Bản và Singapore), vốn có nền văn hóa khác biệt so với các nước phương Tây, thể hiện ở (1) chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo và Phật giáo (dẫn lại theo Nguyễn Thừa Hỷ (2000)) nên mối quan hệ của từng thành viên trong gia đình rất bền chặt, và hướng chi tiêu (thể hiện 1 phần của dân trí tài chính) phụ thuộc nhiều vào ý kiến của người xung quanh (Mai và Tambyah, 2011, Nguyễn Thu Thủy, 2016); (2) Vốn có thói quen tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng (Lê Thanh Tâm, 2015) Những đặc điểm nhân khẩu học hoàn toàn khác biệt này đã dẫn đến vấn đề (1) sự thất bại trong việc hiểu các bảng hỏi của người dân khu vực Đông Á và Đông Nam Á so với các nước phương Tây (OECD, 2015), từ đó không thể đánh giá được chính xác về DTTC, và cũng không xác định được cụ thể các nhân tố ảnh hưởng (2) những hàm ý chính sách liên quan đến phát triển DTTC không thể thực hiện được như đào tạo về việc tiết kiệm tiền tại các khu vực

có thu nhập thấp – vì tỉ lệ tiết kiệm của người dân tại đây (so với thu nhập) rất cao! Tại Việt Nam, DTTC được đề cập trong một số ít các nghiên cứu, và thường tập trung vào “đào tạo về tài chính” chứ không phải DTTC (Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ, 2018), hoặc đánh giá tác động của DTTC lên thu nhập của nhóm đối tượng được khảo sát (Morgan và Trinh, 2017) Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy: tại các vùng nghèo thì kể cả người dân có kiến thức tài chính tốt nhưng thu nhập vẫn thấp, bởi thái

độ và hành vi về tài chính của nhóm đối tượng này không cao (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017) Đối với các vấn đề liên quan đến người nghèo và xóa đói giảm nghèo, tại Việt Nam đã tiếp cận trên khá nhiều các góc độ: theo chính sách (Nguyễn Thị Hoa,

2009, World Bank, 2019), theo góc độ tiếp cận tài chính vi mô (Lê Thanh Tâm, 2013, Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017), theo góc độ tài chính toàn diện… Các nghiên cứu này đã làm được khía cạnh là dần phổ biến kiến thức đến người dân về các dịch vụ tài chính, sử dụng các dịch vụ tài chính và góp phần thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói và giảm nghèo Tuy nhiên, người nghèo tại khu vực nông thôn tiếp cận rất hạn chế các dịch vụ này, và thái độ ứng xử cũng như hành vi sử dụng với các dịch vụ này mang tính chất mơ hồ rất cao Cụ thể, các chính sách của Nhà nước đã hỗ trợ người nghèo tại khu vực nông thôn rất nhiều về mặt đào tạo kiến thức tài chính, song do thái

độ và hành vi về tài chính (cùng những lí do khác về mặt thể chế, địa lí…) làm cho các

Trang 15

chính sách chưa phát huy được tác dụng như mong muốn Đồng thời, người nghèo tại khu vực nông thôn khó khăn hơn trong việc tiếp cận sinh kế so với người dân tại khu vực thành thị nên cần phải trang bị những kĩ năng cần thiết để có thể hỗ trợ họ phát triển Mặt khác, mặc dù đa phần các nghiên cứu phát triển của Fishbein và Ajzen (1975) đều cho rằng từ ý định đến hành vi là gần nhất, song điều này lại chưa phù hợp với người nghèo – đặc biệt tại các nước có nền văn hóa chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo và Phật giáo như Việt Nam, và đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường (Mai và cộng sự, 2009) Do vậy, đây vẫn là 1 khoảng trống còn cần tiếp tục nghiên cứu

Luận án này sẽ tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam (trong đó có các nhân tố phản ánh – là những nội dung cấu thành nên DTTC), cũng như đánh giá ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập Đồng thời, luận án đưa ra những hàm ý chính sách để phát triển DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn để hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Để thực hiện mục tiêu trên, luận án sẽ sử dụng một khái niệm DTTC thống nhất và hiệu chỉnh cách đo lường cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu Do đó, đây sẽ là nguồn bổ sung

về cả lí thuyết lẫn thực tiễn cho nhánh nghiên cứu về DTTC tại Việt Nam cũng như trên thế giới

Vì những lí do trên, đề tài “Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông

Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ những nhân tố tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm phát triển DTTC của đối tượng này

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả sẽ tập trung vào các vấn đề sau đây:

• Tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn tại Việt Nam, trong đó có các nhân tố phản ánh, bao gồm kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính

• Đo lường ảnh hưởng của trình độ DTTC đến thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam

• Đưa ra các hàm ý chính sách sau khi đối chiếu các cấu phần và nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam

Trang 16

3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này trả lời cho những câu hỏi sau:

• Có những nhân tố nào ngoài nhân tố nhân khẩu học tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam? Bản thân từng cấu phần trong DTTC (bao gồm thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính) có tác động gì đến DTTC?

• DTTC có tác động thế nào đến thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam (thông qua chỉ tiêu thu nhập của cá nhân, hộ gia đình)?

• Những hàm ý chính sách nào cần được đưa ra để nâng cao DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam?

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn

Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: tập trung vào khu vực nông thôn Việt Nam

Nghị định số 55/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về khái niệm nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã (Chính phủ, 2015) Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ nghiên cứu về những đối tượng có hộ khẩu và thường trú tại vùng nông thôn Các cá nhân này phải đáp ứng được cả 2 điều kiện về thời gian: (1) có ít nhất 1 nửa thời gian sinh sống đến hiện tại ở vùng nông thôn; (2) trong 1 năm, phải có ít nhất 6 tháng sinh sống ở vùng nông thôn

Người nghèo khu vực nông thôn: được xác định theo quyết định 59/2015/QĐ-TTg

về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 (Thủ tướng Chính phủ, 2015); tức là người dân sống ở vùng nông thôn có thu nhập thấp hơn 700.000 đồng/tháng đối với bình quân một người, và không quá 1.000.000 nếu thiếu hụt từ 3 chỉ

số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Về thời gian: Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2019 Thời gian khảo sát tiến hành 2 lần: khảo sát sơ bộ trong vòng 1 tuần, từ ngày 07/03/2019 – 14/03/2019 tại tỉnh Thái Bình Lần khảo sát chính thức trong vòng 3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2019 Nghiên cứu chính thức được tiến hành trên phạm vi cả nước

Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, tác giả dựa trên các học thuyết ban đầu về kinh tế học Trong giai đoạn những năm 1980 – 1990, nhóm học giả thuộc trường phái

Trang 17

Washington Concencus (Đồng thuận Washington) đã phát triển quan điểm về tiếp cận các dịch vụ tài chính và tài chính toàn diện, giúp các cá nhân có thể đầu tư hoặc sử dụng tốt hơn các dịch vụ trên thị trường, từ đó giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế tự do Quan điểm này đã đưa ra cách thức thúc đẩy tài chính từ cả hai phía: bên cung và bên cầu Đối với bên cung, ngoài việc chủ yếu phát triển các tổ chức tài chính, còn có quá trình phát triển các dịch vụ tài chính, và tự đào tạo trong quá trình phát triển tài chính đối với con người (như sử dụng dịch vụ mới hoặc đưa chương trình đào tạo vào nhà trường) – nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho chính các tổ chức này Đối với bên cầu, để có thể thực hiện được các nghiêp vụ trên thị trường tài chính, điều tất yếu là phải làm tăng thu nhập của cá nhân, tăng khả năng tiếp xúc với công nghệ thông tin và tăng các khía cạnh liên quan đến hiểu biết về các dịch vụ tài chính, tiếp cận dịch vụ tài chính, từ đó đưa ra thái

độ và hành vi ứng xử đối với tài chính cho phù hợp Như vậy, tác giả sẽ tiếp cận hướng nghiên cứu từ phía bên cầu của các dịch vụ tài chính

Ngoài ra, luận án này cũng tiếp cận theo khía cạnh sinh kế bền vững và vốn con người, do sinh kế bền vững được phát triển dựa trên các lý thuyết về xóa đói giảm nghèo,

và lấy con người làm trung tâm của vấn đề phát triển bền vững Ngoài những vấn đề liên quan đến hỗ trợ người nghèo có cuộc sống tốt hơn – như sử dụng các chương trình trợ cấp của chính phủ - thì các nghiên cứu trên thế giới đều đưa ra hướng: để người dân

tự phát triển bằng cách hỗ trợ các nguồn lực để đối tượng này có thể tự đối phó với sự thay đổi của môi trường tự nhiên cũng như về kinh tế, xã hội (Chambers và Conway,

1992, Scoones, 1998, Ashley và Carney, 1999, Solesbury, 2003) Thậm chí, nhóm lý thuyết về vốn con người cho rằng, nếu không phát triển được con người dựa trên trí thức thì rất khó có thể quản lý tốt được vốn vật chất (Schultz, 1961, Lucas, 1988, Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008)

Đối với các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tài chính, hiện tại có hai nhóm người đang ít được các ngân hàng thương mại quan tâm đến là người nghèo (vì khả năng vay vốn nhỏ lẻ, và thường không có hoặc ít có tài sản đảm bảo); người sắp về hưu (vì nguồn thu nhập giảm sút, không đủ sức khỏe để sản xuất, kinh doanh…) Tuy nhiên, các đối tượng này lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ ở vùng nông thôn, và vẫn có nhu cầu sử dụng – ít nhất để đảm bảo cuộc sống (với người nghèo) và tiếp tục sử dụng các dịch vụ hàng ngày (với nhóm sắp về hưu) Nếu đẩy mạnh hoạt động liên quan đến dân trí tài chính sẽ giúp nền kinh tế giảm các chi phí liên quan đến giao dịch và tiếp cận dịch vụ tài chính tốt hơn, từ đó, có được hành vi phù hợp liên quan đến sử dụng tiền và phát triển kinh tế

Từ hai góc độ trên, tác giả sẽ tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ phía cầu dịch vụ tài chính nhằm đưa ra những hàm ý chính sách vừa giúp nền kinh tế giảm chi phí giao dịch, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với xóa đói giảm nghèo

Trang 18

6 Những đóng góp mới của luận án

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

Dựa trên cách tiếp cận từ phía cầu của tài chính toàn diện theo trường phái Washington Concencus (đồng thuận Washington), luận án đã có những đóng góp mới

về mặt lý luận như sau:

Thứ nhất, luận án xác định Dân trí tài chính bao hàm 3 khái niệm là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính Đồng thời, luận án cũng đề xuất đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập của đối tượng khảo sát dựa trên vốn con người Đây là một bổ sung cho cách tiếp cận liên ngành về Dân trí tài chính

Thứ hai, dựa trên cách tiếp cận của đồng thuận Washington, cách tiếp cận của sinh

kế bền vững, tác giả đưa ra kiểm định về các nhân tố phản ánh (refelective factors) đến dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn Đây là một trong những gợi ý nhằm đánh giá tác động của các nhân tố cấu thành lên nhân tố tổng, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm nâng cao Dân trí tài chính của nhóm đối tượng được nghiên cứu

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

Thứ nhất, đánh giá được các nhân tố phản ánh của dân trí tài chính (bao gồm thái

độ tài chính, kiến thức tài chính và hành vi tài chính) đều có tác động đến dân trí tài chính Trong các nhân tố này, đáng chú ý là kiến thức tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam được chia thành 2 nhóm chính: kiến thức về tiết kiệm và kiến thức về sử dụng tiền Nhóm nhân tố phản ánh thuộc về kiến thức tài chính đóng vai trò lớn nhất, sau đó là hành vi tài chính và cuối cùng là thái độ tài chính

Thứ hai, dựa trên kết quả của phỏng vấn sâu các chuyên gia, luận án đã đưa ra kết quả rằng giới tính, dân tộc và tôn giáo không ảnh hưởng đến dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam; trong khi đó, tuổi tác và thu nhập có ảnh hưởng

rõ ràng Học vấn của nhóm người dưới tiểu học lại cao hơn nhóm người có trình độ trung học phổ thông

Thứ ba, Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn bị ảnh hưởng bởi thu nhập, và cũng ảnh hưởng đến thu nhập của họ Do vậy, muốn tăng dân trí tài chính thì không nên tập trung vào hướng dẫn người dân cách tiết kiệm mà nên tập trung vào cách sử dụng tiền trong chi tiêu và đầu tư Hoạt động này nên thực hiện thông qua Hội phụ nữ, Hội nông dân Các cơ quan chức năng có thể xem xét tăng dân trí tài chính dựa trên các ứng dụng điện tử và sự phát triển của công nghệ tài chính

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH

“Financial Literacy” là một khái niệm được công bố và sử dụng trên toàn thế giới vào năm 1997 bởi Jump$tart Coalition Từ đó đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến vấn đề này dưới góc độ nghiên cứu về tài chính hành vi, về tài chính

vi mô và một số nghiên cứu trực tiếp liên quan đến DTTC

1.1 Các nghiên cứu về tài chính hành vi

Vì DTTC bao gồm 3 khía cạnh: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính nên nhóm nghiên cứu đầu tiên, có liên quan là các nghiên cứu về tài chính hành

vi – dùng để giải thích hành vi của các nhà đầu tư (sau khi đã có được kiến thức tài chính) trên thị trường, đặc biệt thị trường chứng khoán cũng như các khoản đầu tư trên các thị trường khác Tài chính hành vi được phát triển bởi Tversky và Kahneman (1974) khi trình bày về phương pháp kinh nghiệm và những lệch lạc xảy ra khi đưa ra các quyết định về tài chính Sau đó, Tversky và Kahneman (1979), Kahneman và Tversky (1981) phát triển lí thuyết kì vọng và lí thuyết hữu dụng kì vọng Tài chính hành vi có 3 nhóm nghiên cứu chính: về doanh nghiệp, về thị trường và về cá nhân (nhà đầu tư) Trong phạm vi luận án này chỉ trình bày tổng quan về tài chính hành vi của cá nhân

Các giả định của lí thuyết thị trường hiệu quả cho rằng thông tin được cung cấp chính xác, tin cậy và cân xứng cho các cá nhân và nhà đầu tư (North, 1994) Tuy nhiên, trên thực tế thì vấn đề thông tin bất cân xứng trên thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi tài chính của các cá nhân Do đó, tài chính hành vi xem xét con người như một chủ thể “bình thường”, không hoàn hảo, và do những hạn chế về khả năng xử lý thông tin, con người thường đưa ra những xét đoán sai lệch trong quá trình ra quyết định Tài chính hành vi ghi nhận vai trò quan trọng của cảm xúc trong các quyết định tài chính, và điều này có khuynh hướng được tìm hiểu thông qua phương pháp kinh nghiệm dựa vào hiệu ứng – từ đó đưa ra các vấn đề liên quan đến thái độ tài chính và hành vi tài chính Các nghiên cứu về tài chính hành vi đã chỉ ra rằng, các cá nhân khi đưa ra các quyết định về tài chính thì thường:

Thứ nhất, có khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếm được nhiều lợi nhuận (Levy, 2010) Trong trường hợp khoản đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận, các cá nhân thích nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn việc cố gắng tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai Trong trường hợp ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ, họ lại cố gắng duy trì với hy vọng tình hình sẽ khá hơn và có thể sinh lời trong tương lai bất chấp rủi ro thua lỗ nhiều hơn rất lớn Điều này cũng cho thấy rằng: các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường (đặc biệt là thị

Trang 20

trường chứng khoán) có xu hướng bán các tài sản tài chính đi sớm (trong trường hợp có lãi), và giữ lại lâu hơn (trong trường hợp bị lỗ)

Thứ hai, có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyết định này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng Cũng từ đó, họ đưa ra các quyết định nhìn tưởng hợp lý, nhưng thật ra lại sai lầm – từ đây hình thành nên nhóm nghiên cứu về sự tự tin quá mức và vấn đề lệch lạc (Glaser và Weber, 2010) Hiệu ứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng sự tự lừa dối, sợ rằng nếu bán mà

bị lỗ sẽ cảm thấy bản thân có quyết định đầu tư kém, hay sự tiếc nuối, tức lỡ bán rồi mà giá lên thì sao? Hiệu ứng phân bổ tài khoản cũng giúp lý giải một phần vì sao trong những thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá tại các thị trường lớn

Đối với vấn đề tự tin thái quá, các cá nhân thường cho rằng, bản thân mình “giỏi” hơn những người khác, thường “phóng đại” những hiểu biết của mình nên sẽ giao dịch nhiều hơn Trạng thái quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó khiến các

cá nhân sẵn sàng bảo vệ quan điểm của họ mà bỏ qua việc tham khảo thêm ý kiến từ bên ngoài

Lệch lạc do tình huống điển hình: các cá nhân có xu hướng phân loại các sự kiện điển hình hoặc tiêu biểu, được xem như khuôn mẫu tin cậy nên sẽ dự đoán về thị trường theo một khuôn mẫu mà quên đi rằng khả năng để thị trường phát tín hiệu giống nhau rất hiếm

Tính bảo thủ: Khi điều kiện kinh tế thay đổi mọi người có xu hướng chậm phản ứng với thay đổi đó, họ gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một thời kỳ dài hạn trước đó Nghĩa là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng chỉ tạm thời, dài hạn nền kinh tế vẫn đi lên, mà không nhận thấy có thể tin đó là tín hiệu cho một chu kỳ suy thoái dài hạn đã bắt đầu Sau một khoảng thời gian nhận thấy tình hình vẫn chưa cải thiện thì mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu Kết quả, thị trường lại biến động bất thường Vấn đề này cũng thường đi với vấn đề lệch lạc do quen thuộc

Tâm lý “bầy đàn”: Tâm lý “bầy đàn” luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của các cá nhân, bất kể việc họ có kinh nghiệm hay không Khi cá nhân đối đầu với ý kiến của nhóm, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của mình, vì họ nghĩ rằng, tất cả những người khác có thể không sai

Như vậy, thành công của nhóm nghiên cứu về tài chính hành vi đã giải thích được vấn đề về phản ứng của các cá nhân trên thị trường, trước hết về vấn đề sử dụng tài sản

Trang 21

tài chính ra sao Tuy nhiên, bản thân nhóm nghiên cứu này cũng có những vấn đề nhất định như:

Thứ nhất, các nghiên cứu về tài chính hành vi đều là những nghiên cứu giả định

và bị phê phán bởi các nghiên cứu theo lí thuyết thị trường hiệu quả (Fama, 1998) Phần lớn các công trình đã công bố về tài chính hành vi đều là những nghiên cứu thực nghiệm

để chứng minh tính phổ biến của thị trường từ đó đưa ra các hàm ý chính sách về hành

vi của các cá nhân liên quan đến sử dụng các loại tài sản tài chính Như vậy, nếu trong một “tổng thể” lớn thì các nghiên cứu về tài chính hành vi khó có thể phát triển được Thứ hai, mặc dù có liên quan đến hành vi tài chính của các cá nhân (và sâu xa hơn

là hành vi của doanh nghiệp và thị trường) thì nhánh nghiên cứu về tài chính hành vi cũng chỉ tập trung vào cá nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, tức là nhóm các cá nhân có kiến thức tài chính và thái độ tài chính tốt, đặc biệt là “không nghèo” Tức là các quyết định liên quan đến tài chính của nhóm người này sẽ khác đối với nhóm người nghèo: trước hết phải đáp ứng các nhu cầu cơ bản về cuộc sống, sau đó mới tiến đến các khoản đầu tư – dù rằng nhóm người nghèo cũng có những đặc điểm tương tự mà tài chính hành vi nêu ra: tâm lí bầy đàn, sợ rủi ro, các vấn đề về lệch lạc

Trong các nghiên cứu về hành vi, mặc dù không thuộc lí thuyết về tài chính hành

vi, song vẫn cần đề cập đến lí thuyết hành động hợp lí (Theory of Reasoned Action – TRA) của Fishbein và Ajzen (1975) Nhóm lí thuyết này trả lời các vấn đề liên quan đến hành vi của con người nói chung – trong đó có hành vi tài chính Theo lý thuyết này, ý định hành vi có thể được giải thích bằng thái độ đối với hành vi và mức quy chuẩn chủ quan Thái độ đối với hành vi được định nghĩa là: cảm xúc tích cực hay tiêu cực của một

cá nhân về thực hiện các hành vi mục tiêu, còn quy chuẩn chủ quan được đề cập là: người khác cảm thấy thế nào khi bạn làm một việc nào đó Hạn chế lớn nhất của mô hình này là cho rằng toàn bộ hành vi của một cá nhân đều do lí trí của chính mình Để khắc phục những nhược điểm của mô hình TRA, Ajzen và Fishbein (1980) đã đưa ra

mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) Mô hình TPB cho rằng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định của con người là thái độ Sự mở rộng của lý thuyết TPB khi nghiên cứu cho rằng thái độ, hành

vi kiểm soát cảm nhận và mức quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi của cá nhân (Ajzen, 1991) Nhân tố hành vi kiểm soát cảm nhận (Perceived Behavioral Control) được thêm vào để thể hiện sự khó khăn hay dễ dàng khi thực hiện một hành vi cụ thể và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay không Lý thuyết này được một số nghiên cứu cho rằng tối ưu hơn trong việc giải thích và dự đoán hành

vi của người tiêu dùng trong một nội dung và hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên, các nghiên

Trang 22

cứu của nhóm lí thuyết này đi về vấn đề giải thích hành vi của cá nhân nói chung hơn các hành vi về vấn đề tài chính – đặc biệt lại không có nghiên cứu nào về hành vi của người nghèo Do vậy, đây sẽ là một trong những nền tảng của tác giả khi phát triển cơ

sở lí thuyết, cùng với lí thuyết về tài chính hành vi

1.2 Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô

Đối với nhánh nghiên cứu về nghèo đói cũng như các biện pháp để xóa đói giảm nghèo bằng cách hỗ trợ tài chính, đây là một nhánh nghiên cứu quan trọng Tuy nhiên, tài chính vi mô không có nền tảng lí thuyết gốc rõ rệt, mà phải dựa vào 1 số các nhánh nghiên cứu sau đây:

Đầu tiên, là nhánh nghiên cứu về đào tạo kiến thức cho con người (trong đó có đào tạo tài chính để hình thành nên kiến thức tài chính) và minh chứng rằng đây là nền

phát triển con người thì khó có thể phát triển kinh tế bền vững, bởi nếu không có nhân

tố con người thì không thể sử dụng hiệu quả vốn vật chất: ví dụ như đất đai, máy móc… thì vẫn phải “vận hành” bởi con người (Schultz, 1961) Từ vấn đề vốn con người, các nghiên cứu về dân trí tài chính hay sinh kế bền vững có nền tảng để phát triển Có thể thấy rằng, nếu ứng dụng nhánh nghiên cứu này vào phát triển DTTC thì có thể phát triển

kiến thức tài chính của các cá nhân

Trong nghiên cứu về vốn con người, có thể chia thành 2 mảng nhỏ hơn

Nhóm nghiên cứu cho rằng một trong các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh

tế (và tất nhiên, kéo theo tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của thu nhập của các cá nhân)

là sự tích lũy kiến thức (hoặc các ý tưởng mới), từ đó tập trung vào đánh giá tác động của vốn con người lên tăng trưởng thông qua các mô hình kinh tế (mô hình tăng trưởng nội sinh) Nhóm nghiên cứu này được đặc trưng bởi Arrow (1969), Romer (1990), Audretsch và Feldman (1996) Nhóm nghiên cứu này đã đưa ra những quan điểm khác nhau về kiến thức và vốn con người: vốn con người là tổng thể các kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi… của một cá nhân và thậm chí là cả một tập thể trong quá trình tích lũy lâu dài Các nghiên cứu trên có mối quan hệ mật thiết với ý tưởng cho rằng, trong phát triển kinh tế - đặc biệt là kinh tế tại các nước đang phát triển – cần chú trọng đến vấn đề nghiên cứu và triển khai các hoạt động hình thành nên vốn con người, bởi có phát triển được hoạt động này thì mới có thể tạo ra mức tăng trưởng nhanh và bền vững (Romer, 1990) Tuy nhiên, đưa ra hàm ý chính sách và đánh giá tác động của tác giả này thường dành cho các nước phát triển, bởi để đạt đến khả năng có thể nghiên cứu và triển khai thì phải có được mức vốn con người – tức là phải tạo ra được một ngưỡng nhất định –

Trang 23

và từ ngưỡng này mới có thể nghiên cứu và triển khai các sản phẩm mới Nhóm nghiên cứu đã chứng minh được rằng, khi đầu tư vào vốn con người thì sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong một thời kỳ nhất định, từ đó tác động đến mức thu nhập của một nhóm đối tượng trong một thời kỳ cụ thể Nhưng hạn chế là khó có thể áp dụng vào khu vực nông thôn tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, bởi khu vực này thiếu cả nguồn lực vật chất lẫn nguồn lực con người nhất là nhóm đối tượng liên quan đến nghèo đói như người nghèo, vùng nghèo (OECD, 2015, Nguyễn Thị Hoa, 2009, Thái Phúc Thành, 2014) Nếu cho rằng nghiên cứu của Romer (1990) là lý thuyết gốc về vốn con người thì lại có rất nhiều các giả thuyết ràng buộc – tức là khó có thể áp dụng vào những khu vực hẹp – điển hình là khu vực nông thôn của các nước đang phát triển hoặc các nước

có nền kinh tế đang chuyển đổi; hoặc đối tượng là người nghèo (tất nhiên, tùy theo từng chuẩn nghèo của các quốc gia) Ngoài ra, nhóm nghiên cứu này vấp phải một quan điểm: trong mối tương quan giữa vốn con người và tăng trưởng kinh tế thì đâu là biến độc lập và đâu là biến phụ thuộc? Nếu coi vốn con người là biến độc lập thì đương nhiên có tác động đến tăng trưởng kinh tế (Romer, 1990) Tuy nhiên, nếu theo chiều ngược lại thì tăng trưởng kinh tế cũng có những tác động nhất định đến vốn con người bởi khi có tăng trưởng kinh tế thì mỗi quốc gia sẽ có nhiều nguồn lực hơn để phát triển con người, và bản thân việc di cư giữa các vùng hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế (Lau và cộng sự, 1993) Ứng dụng hướng nghiên cứu này tại các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, có thể kể đến nghiên cứu của Moock và cộng sự (2003), Nguyen (2004), Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008), Thái Phúc Thành (2014), Patrinos và cộng sự (2018) Đa phần các nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận vi mô, tức là đánh giá tác động của vốn con người lên thu nhập của các đối tượng khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, thường kéo dài trong khoảng giai đoạn 1993 – 2006; và không tập trung vào nhóm đối tượng là người nghèo hoặc đối tượng sinh sống ở khu vực nông thôn Thậm chí, các nghiên cứu này lại đưa ra những kết quả khác nhau về cùng một vấn đề nghiên cứu Ví dụ: theo nguyên tắc thì vốn con người cao hơn thì phải tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cao hơn, nhưng những bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam lại cho thấy vùng đồng bằng sông Hồng có số năm đi học cao nhất Việt Nam nhưng lại

có GDP ở mức thấp; trong khi vùng đồng bằng sông Cửu Long thì tỷ lệ đi học không cao, nhưng GDP lại đứng thứ 3 trong các vùng kinh tế (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008, Patrinos và cộng sự, 2018) Một nghịch lí là nếu như càng đầu tư vào vốn con người (ví dụ như tỷ lệ giáo viên trên học sinh, hay tỉ lệ biết đọc biết viết) thì lại không đưa ra được những bằng chứng về tăng trưởng kinh tế và thu nhập, đặc biệt tại khu vực nông thôn Nghiên cứu của Thái Phúc Thành (2014) còn đánh giá, việc đầu tư

Trang 24

vào vốn con người (như trình độ giáo dục, trình độ chuyên môn) cho khu vực nông thôn không mang lại kết quả, tức là ngược với một số nghiên cứu trước và kể cả sau này Hướng nghiên cứu cho rằng vốn con người là sự tích lũy kiến thức, kỹ năng, chuyên môn… theo thời gian Nhánh này được đặc trưng bởi các nghiên cứu nền tảng của Lucas (1988), sau đó được phát triển bởi Rebelo (1991), Mankiw và cộng sự (1992) Hướng nghiên cứu của Lucas đơn thuần là một dạng mô hình tích hợp kiến thức của các

cá nhân trong quá trình sinh sống, nhưng đơn giản hơn so với hướng nghiên cứu thứ nhất (vì ít ràng buộc), nên nhánh này được phát triển nhiều (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008) Nhánh này đã thúc đẩy sự phát triển các nghiên cứu về tài chính vi mô,

và cũng chứng minh vấn đề: nếu người nghèo không được hỗ trợ để có thể tiếp cận vốn trên thị trường thì sẽ lại rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói Bị giới hạn trong khả năng vay vốn, người nghèo khó có thể có khả năng sử dụng các dịch vụ khác nhau trong nền kinh tế (do không có tiền!), nên không thể đầu tư vào học hành hoặc kinh doanh (Morduch, 1999, Ledgerwood, 1998, Ledgerwood và cộng sự, 2013) Các nghiên cứu

đã đề cao được vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế thông qua việc đầu tư trực tiếp hay gián tiếp vào giáo dục, đặc biệt là mảng tài chính vi

mô và tài chính dành cho người nghèo Vì vậy, điều cần thiết là cần phải miễn phí giáo dục (tiểu học và trung học) hoặc để có thể tăng trưởng kinh tế bền vững thì có thể tạo ra các chương trình tín dụng công để làm gia tăng phúc lợi xã hội Các hàm ý chính sách được đưa ra đã tạo tiền đề để xây dựng các tổ chức tài chính vi mô tại các nước đang phát triển và kém phát triển trên thế giới Tuy vậy, các nghiên cứu trên vẫn vấp phải một

số phê phán từ các bằng chứng thực nghiệm Điển hình trong các nhóm phê phán có thể

đề cập đến như đã quá đề cao vai trò của vốn con người, và một số chính sách (như chính sách liên quan đến hỗ trợ con người học tập) dường như đang rơi vào ý tưởng trực quan của người viết Minh chứng cho việc này là nếu chính phủ trợ cấp cho khu vực tư nhân trong giáo dục thì lại làm giảm tăng trưởng (Zhang, 1996), bởi việc này làm cho khu vực tư nhân sẽ tận dụng các khoản thuế để phát triển các hoạt động khác; hoặc sẽ tạo ra quá nhiều giáo dục dẫn đến sự thay thế không hiệu quả giữa lao động có trình độ chuyên môn cao và lao động phổ thông trong thời gian đủ dài (Upadhyay, 1994) Kết quả của Jones và Williams (2000) còn cho thấy, việc đầu tư vào vốn con người dường như không có hiệu quả khi tăng trưởng kinh tế không theo kịp với tốc độ đầu tư của chính phủ Nguyên nhân của tình trạng này là mỗi nước khác nhau có một đặc điểm kinh

tế khác biệt về mặt thể chế, các chính sách thương mại, pháp luật… làm cho dữ liệu thu thập bị sai khác (Tallman và Wang, 1994, Li và cộng sự, 1998, Gujarati và Porter, 2003), nên đưa ra kết quả của mô hình cũng khác nhau

Trang 25

Tại Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cũng đi theo hướng này, trong đó chủ yếu dựa vào các dữ liệu mảng để phân tích tác động của vốn con người tới tăng trưởng kinh

tế tại từng tỉnh và từng vùng (Scott và Chuyen, 2004, Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung,

2008, Klump và Bonschab, 2004) Các hàm ý chính sách đưa ra từ các nghiên cứu về cơ bản đều đi theo hướng đề xuất của nhóm nghiên cứu thứ nhất, tức là cũng đầu tư vào con người như giáo dục, y tế, hoặc khuyến khích đầu tư thêm vào cơ sở vật chất Nhưng một trong những hạn chế lớn nhất là vẫn không chứng minh được việc đầu tư như thế nào sẽ có hiệu quả cao

Như vậy, về cơ bản, nhóm nghiên cứu này cho rằng đầu tư vào con người sẽ mang lại lợi ích trong tương lai, đặc biệt là đầu tư về kiến thức tài chính Tuy nhiên, vì những đặc điểm khác nhau về nhân khẩu học, địa lý, chính sách… nên các bằng chứng thực nghiệm vẫn đưa ra những kết quả mâu thuẫn Một số hàm ý chính sách liên quan đến khu vực nông nghiệp và nông thôn; hoặc về đối tượng là người nghèo vẫn không đạt được kết quả khả quan như cách thức đào tạo về kiến thức, kỹ năng ra sao; hoặc xác định mức vốn con người ở thời điểm hiện tại như thế nào để đưa ra các chương trình định hướng về thái độ, hành vi, kiến thức, nhất là trong mảng tài chính vẫn chưa được phát triển Do vậy, việc mở rộng các vấn đề liên quan đến vốn con người (trong đó có một cấu phần của nó là Dân trí tài chính) cần được bổ sung nhằm đưa ra các bằng chứng thực nghiệm để phát triển kinh tế bền vững

Nhánh nghiên cứu thứ hai mà tài chính vi mô dựa vào nền tảng là nhánh nghiên

tảng của các nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo Trong các nghiên cứu thuộc nhóm này,

đa phần các tác giả đều đồng thuận: các luận điểm chính của sinh kế bền vững bao gồm: (1) các cá nhân, hộ gia đình sử dụng các nguồn lực hiện tại (con người, tài chính, tự nhiên, vật chất và các yếu tố xã hội) nhằm ứng phó với những thay đổi của thiên nhiên

và thị trường nhằm đạt được sinh kế bền vững (2) Con người là yếu tố cốt lõi trong khung sinh kế bền vững, do vậy, để có được một khung sinh kế thì chính phủ phải đưa

ra các chương trình trợ cấp liên quan đến việc tạo lập cho người nghèo một khả năng để

có thể tự phát triển được hoạt động sản xuất kinh doanh trong lâu dài Nhóm nghiên cứu này là nền tảng chính về tài chính vi mô (3) Vì con người là vấn đề trung tâm trong sinh

kế, nên việc xóa đói giảm nghèo phải hướng đến việc tạo lập cho các cá thể trong nền kinh tế một nền tảng vững chắc về thể chế, môi trường, xã hội và kinh tế, trong đó phải

có yếu tố giáo dục về tài chính và cách thức sinh hoạt (Chambers và Conway, 1992, Scoones, 1998, Ashley và Carney, 1999, Solesbury, 2003)

Trang 26

Thành tựu lớn nhất của nhóm nghiên cứu về sinh kế bền vững là đã đưa ra được một khung nghiên cứu nhóm lại trong 5 yếu tố chính: (1) nguồn lực sinh kế; (2) hoạt động sinh kế; (3) kết quả sinh kế; (4) thể chế và chính sách; (5) các tác động bên ngoài (Solesbury, 2003) Trong 5 nhóm yếu tố này thì nguồn lực sinh kế là yếu tố quan trọng nhất, bao gồm nguồn lực tài chính và nguồn lực con người và một số nguồn lực khác Việc ứng phó với sự thay đổi của môi trường, đặc biệt là biến đổi khí hậu và việc di cư nông thôn đã đặt vấn đề tài chính và giáo dục về cách làm ăn, sinh sống của các cá nhân lên làm trọng tâm (Dey và Prein, 2004, DfID, 1999) Khi đó mới có thể thay đổi được thái độ và hành vi của người nghèo tại khu vực nông thôn, nhất là các vấn đề liên quan đến tài chính

Do nghiên cứu về sinh kế bền vững thường tiến hành với đối tượng là người nghèo của khu vực nông thôn nên đây cũng là nền tảng của tài chính vi mô (Scoones, 1998, Ledgerwood và cộng sự, 2013) Việc đưa ra một khung chương trình nhằm hướng đến việc giảm nghèo cần thiết đối với khu vực này Chính vì thế, khi đưa ra được hướng giảm nghèo trên cơ sở kết hợp được nhiều chương trình, dự án của chính phủ, ví dụ như các chương trình hỗ trợ tài chính cho người nghèo tại khu vực nông thôn, giáo dục tài chính cá nhân hay hướng dẫn việc sử dụng các sản phẩm tài chính qua hệ thống ngân hàng (trên góc độ tài chính – nằm trong tính bền vững về xã hội); hoặc tạo ra sản phẩm mới hoặc có cơ chế riêng để giúp người nghèo tại vùng nông thôn có thể tự thích ứng được trong dài hạn (Armitage và cộng sự, 2009, Smit và Wandel, 2006) Tuy nhiên, bản thân nhóm nghiên cứu này cũng có một số vấn đề về mặt thực tiễn liên quan đến vấn đề con người, trong đó có người nghèo ở khu vực nông thôn như:

Thứ nhất, mục tiêu của tác giả là vấn đề làm sao người nghèo có thể tồn tại và có thể phát triển được Đây là vấn đề ưu tiên hàng đầu của cả các nhà nghiên cứu và các nhà làm luật (Vũ Thị Hoài Thu, 2013) Nhưng khi đã có được một khung sinh kế bền vững (dựa trên các hỗ trợ của chính phủ hoặc các tổ chức khác), và các đối tượng hưởng lợi đã thoát nghèo thì nhóm lý thuyết này lại không đưa ra được các hàm ý chính sách tiếp theo bởi khi đã thoát nghèo thì nhóm người này lại hướng đến các mục tiêu khác như bình đẳng giới, hoặc sự cân bằng giữa mục tiêu vật chất và phi vật chất

Thứ hai, trong việc phát triển sinh kế bền vững cho khu vực nông thôn (thường hướng tới đối tượng là người nghèo) thì thể chế và chính sách đóng vai trò quan trọng (Scoones, 1998) Chính vì thế, các hàm ý về thể chế và chính sách nhằm tạo ra khung sinh kế bền vững cho người nghèo đều liên quan đến việc giáo dục chính sách tài chính nhằm tạo ra khả năng tiết kiệm, hoặc có thể sử dụng đồng vốn một cách phù hợp Trong khung sinh kế này, việc hướng dẫn người nghèo biết đọc, biết viết, biết tính toán cũng

Trang 27

là một phần quan trọng về mặt thể chế (Ledgerwood và cộng sự, 2013) Sau khi đã biết đọc và biết viết mới hướng dẫn người nghèo các kiến thức về tài chính Nhưng việc điều tra thực tiễn cho thấy, người nghèo có được kiến thức tài chính tốt (liên quan đến vấn

đề hiểu biết – thuộc phạm trù con người trong sinh kế bền vững) thì vẫn không thể thoát nghèo do những vấn đề liên quan đến thái độ và hành vi tài chính còn “lệch lạc” (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017)

Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát triển dựa trên lý thuyết về giảm nghèo và có mối liên hệ mật thiết với các nghiên cứu về tài chính

vi mô Trong giới hạn phạm vi của mình, các nghiên cứu này đã giải quyết được vấn đề

về khung sinh kế bền vững, đưa ra được các hàm ý chính sách khác nhau liên quan đến mặt thể chế dành cho người nghèo khu vực nông thôn Một trong những hàm ý quan trọng (theo hướng tiếp cận các dịch vụ tài chính) là việc cung cấp cho người dân một nguồn lực sinh kế dựa trên việc có thể cho vay vốn và hình thành thói quen tiết kiệm Tuy nhiên, nếu chỉ có dịch vụ tài chính và giáo dục tài chính mà không đánh giá tình trạng dân trí tài chính đang ở mức độ nào thì khó có thể đưa ra một hàm ý chính sách bền vững – đặc biệt là đối với nhóm đối tượng cận nghèo

1.3 Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính

Do chưa có sự thống nhất trong nội hàm của DTTC nên các nghiên cứu về DTTC thường không phân thành các trường phái, nhưng về cơ bản có thể chia thành các nhóm nhỏ: (1) nghiên cứu về yếu tố tác động đến DTTC; (2) nghiên cứu về phương pháp đo lường DTTC; (3) nghiên cứu về hàm ý chính sách Trong phạm vi phần này của luận

án, chỉ trình bày về nhân tố tác động đến DTTC và ảnh hưởng của DTTC đến thu nhập

1.3.1 Nhóm nghiên cứu về nhân tố tác động đến dân trí tài chính

Các quan điểm về tác động của trình độ học vấn theo cách tiếp cận này cũng có nhiều điểm tương đồng do dựa trên kết luận về vốn con người Brown và Graf (2013) chỉ ra mối quan hệ tương quan chặt chẽ giữa DTTC và trình độ học vấn Cùng quan điểm trên, Atkinson và Messy (2012) cho thấy ở Đức, Malaysia và Ba Lan thì các cá nhân có học vấn cao hơn có điểm số DTTC cao hơn Tùy từng phạm vi nghiên cứu mà các tác giả đánh giá trình độ học vấn của các cá nhân, ví dụ như học vấn của bố mẹ có tác động đến DTTC của con cái hay không Tuy nhiên, đối với người nghèo hoặc người lớn tuổi thì việc xác định trình độ học vấn lại khó khăn, khi mà thế hệ trước của họ không có điều kiện học tập hoặc đã qua đời

Trang 28

Ở mỗi quốc gia đều có cách đo lường trình độ học vấn riêng biệt, nên kết luận cụ thể về tác động của trình độ học vấn lên DTTC vẫn chưa đồng nhất tạo ra khoảng trống của những nghiên cứu này Một đặc điểm đặc trưng của Việt Nam là tuy trình độ học vấn cao, nhưng thu nhập lại thấp (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008) – thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người hoặc GDP Đặc biệt, khu vực đồng bằng sông Hồng

là nơi có trình độ học vấn cao nhất cả nước, nhưng tính bình quân GDP lại thấp gần nhất Vì vậy, việc đánh giá học vấn tác động lên DTTC trong bối cảnh Việt Nam là một khe hở có thể tiếp tục khai thác

Jonubi và Abad (2013) đã chỉ ra rằng thu nhập đóng một vai trò quan trọng trong hành vi tiết kiệm của con người: khi thu nhập tăng thì tiết kiệm tăng Các nghiên cứu ở Estonia, Na Uy, Cộng hòa Séc, Hungary, Ireland, Malaysia và Nam Phi cho thấy rằng thu nhập càng cao thì điểm DTTC càng tốt (Monticone (2010); Lusardi và Mitchell (2011b), Bhushan và Medury (2013); Potrich và cộng sự (2015)) Tuy nhiên, ở Armenia

và Ireland, người tiêu dùng thu nhập trung bình có hiểu biết về tài chính tốt nhất và ở

Na Uy có rất ít sự khác biệt giữa người tiêu dùng trung bình và người có thu nhập cao Quan điểm này cũng được ủng hộ trong các nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2007), Lusardi và cộng sự (2011b)

Đa phần, các nghiên cứu trên đều đo lường thu nhập thông qua việc trả qua thẻ ngân hàng, tuy nhiên, tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, việc sử dụng tiền mặt rất nhiều (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2014, Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017, World Bank, 2014) nên việc đánh giá thu nhập không phù hợp Thêm vào đó, một trong những đặc trưng của vùng nông thôn Việt Nam là việc “đổi công” trong quá trình sản xuất và thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp – và hoạt động này thường không được hạch toán vào thu nhập Vì vậy, việc tính toán và đánh giá lại thu nhập cũng như tác động của nó lên DTTC là một yêu cầu cần thiết

Banks và Oldfield (2007) chỉ ra những người có việc làm ổn định sau khi nghỉ hưu

có DTTC cao hơn nhóm người có việc làm không ổn định sau khi nghỉ hưu Bhushan

và Medury (2013) dựa trên cơ sở tính chất của việc làm, đã chia đối tượng nghiên cứu thành hai loại là nhân viên chính phủ và phi chính phủ Kết quả cho thấy cho thấy các nhân viên phi chính phủ có trình độ hiểu biết về tài chính cao hơn so với nhân viên chính phủ Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng kết luận rằng bản chất của việc làm ảnh hưởng đến trình độ DTTC Kết luận này cũng được ủng hộ bởi Baker và Ricciardi (2014); Albeerdy và Gharleghi (2015); Nanziri và Leibbrandt (2018)

Trang 29

Cách tiếp cận theo việc làm phù hợp về mặt đánh giá DTTC, nhưng vẫn để lại một khoảng trống: đa phần phạm vi nghiên cứu của các nước thuộc các nghiên cứu trên là nước phát triển, thu nhập từ việc làm (cũng như từ trợ cấp xã hội rất cao), trong khi đó các nước phát triển lại không như thế Và nếu như đối tượng nghiên cứu là người nghèo lại hiếm khi có một việc làm mang tính chất hành chính hoặc đều đặn nên việc kiểm tra tác động của việc làm mang tính chất thời vụ của nhóm đối tượng này tại khu vực nông thôn vẫn còn bỏ ngỏ

Agarwal và cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng hiệu suất tài chính cao nhất ở trung niên vào khoảng 53 tuổi khi họ có những quyết định tài chính ít sai lầm hơn so với những người trẻ tuổi hơn hay là những người lớn tuổi hơn Tuy nhiên, Brown và Graf (2013) chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa tuổi tác và DTTC: những người trả lời có độ tuổi

từ 36 - 50 tuổi có trình độ DTTC cao, trong khi đó nhóm tuổi dưới 35 tuổi và trên 65 tuổi chỉ có 45% số người trả lời trả lời tất cả các câu hỏi một cách chính xác Kết quả này cũng được chỉ ra trong một số nghiên cứu của Alessie và cộng sự (2008), Lusardi

và Tufano (2015), Agarwal và cộng sự (2009), Lusardi và cộng sự (2010), Atkinson và Messy (2012), Lusardi và cộng sự (2017) Các nghiên cứu của Bhushan và Medury (2013); Nanziri và Leibbrandt (2018) lại chỉ ra rằng tuổi tác không thật sự có ý nghĩa thống kê khi đo lường DTTC Một trong những nguyên nhân của sự khác biệt này là các nghiên cứu này tiến hành trong những môi trường khác nhau (đa phần thuộc khu vực thành thị, và với những nhóm đối tượng không phải người nghèo), bỏ qua các nước chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Đông Á – khi mà mức độ tiêu dùng hay thái độ tài chính chịu ảnh hưởng lớn từ những người xung quanh, hoặc nhóm người già (Mai và Tambyah, 2011) Như vậy, các nghiên cứu trên vẫn có sự khác biệt và chưa đưa ra được một kết luận thống nhất về ảnh hưởng của yếu tố tuổi tác lên DTTC – đặc biệt là trong những nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam

DTTC cũng có sự khác biệt lớn về giới tính, ví dụ, tại Hoa Kỳ, Thụy Điển, Ý, Nga

và New Zealand, cũng như các nước có nền kinh tế phát triển (Atkinson và Messy, 2011, Atkinson và Messy, 2012) cho thấy nam có DTTC tốt hơn nữ Tuy nhiên, Bucher-Koenen

và Lusardi (2011) đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt quá rõ ràng giữa nam và nữ khi cùng đo lường về DTTC Kết quả nghiên cứu này dường như đi ngược lại với hầu như các nghiên cứu hiện nay đang có ở trên thế giới về DTTC Đây cũng là kết quả của các nghiên cứu Bhushan và Medury (2013); Nanziri và Leibbrandt (2018)

Trang 30

Một trong những vấn đề mà các nghiên cứu trên đã tiến hành là đa phần mẫu nghiên cứu đều tại các nước có nền kinh tế phát triển, hoặc vấn đề bình đẳng giới đã được đề ra

và giải quyết trong thời gian khá dài Trong khi đó, tại các vùng nông thôn của các nước Đông Á và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, bất bình đẳng giới vẫn là một trong những thách thức đối với việc giáo dục về DTTC hoặc tiếp cận các dịch vụ tài chính cơ bản (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017, Ledgerwood và cộng sự, 2013) Nhưng do sự phát triển của các tổ chức tài chính tài chính vi mô, sự hỗ trợ của chính phủ Việt Nam và các tổ chức khác, nhóm đối tượng phụ nữ nghèo ở vùng nông thôn đã có khả năng nâng cao DTTC và dần làm chủ cuộc sống của mình (Shakya và Rankin, 2008, Nghiem và cộng sự, 2012) Như vậy, quan điểm về ảnh hưởng của yếu

tố giới tính lên DTTC ở trên thế giới vẫn chưa thật sự thống nhất hoàn toàn và vẫn

có những khoảng trống nghiên cứu cần được phát triển thêm, nhất là tại các vùng có

sự hỗ trợ của chính phủ về xóa đói giảm nghèo cũng như sự phát triển của tổ chức tài chính vi mô

Ảnh hưởng của chủng tộc tới DTTC đã được nghiên cứu bằng nhiều công trình khác nhau như Bumcrot và cộng sự (2011) tại Hoa Kỳ, Crossan và cộng sự (2011) ở New Zealand; Alessie và cộng sự (2008) ở Hà Lan; Bagić (2011) ở Bosnia và Herzegovina; Trong nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2011b), Lusardi và cộng sự (2011a) cũng chỉ ra rằng chủng tộc cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến DTTC Kết quả nhóm tác giả thu lại được là đã có một sự khác biệt nhất định trong việc nhận thức về DTTC giữa các nhóm chủng tộc Kết quả được ủng hộ trong nghiên cứu của Zhan (2006) tại Tây Ban Nha Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã chỉ ra rằng, những người tham gia có gốc Tây Ban Nha thường có điểm về kiến thức tài chính thấp hơn so với những dân tộc khác

Alessie và cộng sự (2008) nghiên cứu đối với hơn 2.000 hộ gia đình bằng phương pháp điền bảng hỏi đã đưa ra kết quả rằng yếu tố tôn giáo ảnh hưởng tới DTTC Trong nghiên cứu này chia tôn giáo thành 4 nhóm chính là không có tôn giáo, đạo Tin Lành, Công giáo và các nhóm tôn giáo khác Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm người thuộc đạo Tin lành có kiểm soát về tài chính tốt hơn những người thuộc đạo Công giáo và các tôn giáo khác trong khi những người không có tôn giáo lại là những người có xu hướng đầu tư vào chứng khoán và bất động sản nhiều hơn những nhóm còn lại Kết quả này cũng được ủng hộ trong nghiên cứu của Nanziri và Leibbrandt (2018)

Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu trên được tiến hành tại các nước chịu ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa, trong khi đó, tại các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi như

Trang 31

khu vực Đông Nam Á hay Đông Á, Nho giáo và Phật giáo lại là những tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất Tran và cộng sự (2017) chỉ ra rằng, tại các nước thuộc khu vực này, người dân có tư tưởng tôn giáo không nặng nề, và cũng thường ít đến các cơ sở thờ tự Thậm chí, tư tưởng “vô vi” còn cho thấy, việc tìm hiểu kiến thức tài chính cũng không quá nặng nề Như vậy, các nghiên cứu từ những khu vực khác nhau trên thế giới chỉ ra được rằng chủng tộc và tôn giáo là một yếu tố ảnh hưởng đến việc nhận thức và kiến thức tài chính nên ảnh hưởng của nó tới DTTC, nhưng lại chưa tìm hiểu tại các nước như Việt Nam – đặc biệt là của người nghèo khu vực nông thôn

1.3.2 Nhóm quan điểm về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

Nếu như ảnh hưởng của thu nhập lên DTTC đã nghiên cứu và chứng minh ở trong các nghiên cứu khác nhau (trong tác giả về vốn con người), thì ảnh hưởng của DTTC lên việc nâng cao thu nhập của cá nhân vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng và cụ thể Trong trường hợp coi DTTC là sự kết hợp của kiến thức, thái độ và hành vi tài chính để

có thể ra quyết định tài chính và nâng cao mức độ tài chính của một cá nhân, thì thu nhập là một trong những chỉ tiêu đo lường mức độ tài chính của cá nhân Nói cách khác, DTTC có ảnh hưởng lên thu nhập

Các nghiên cứu của Stango và Zinman (2009), Lusardi và Mitchell (2007) cũng ủng hộ quan điểm: việc cải thiện DTTC sẽ giúp một cá nhân đưa ra những quyết định tài chính tốt hơn, cho phép lên kế hoạch tốt hơn trong việc quản lý tài chính và sử dụng tiền bạc, vì thế ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của một cá nhân

Ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập còn được chứng minh qua các việc nghiên cứu các hành vi nợ Agarwal và cộng sự (2009) đã thực hiện một nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng những cá nhân có kiến thức về thẻ tín dụng sẽ thường đưa ra những sự lựa chọn khoản nợ tốt hơn Kết quả này cũng được ủng hộ bởi Lusardi và Tufano (2015) khi cho rằng việc điểm số DTTC thấp có liên quan tới việc chi phí nợ cao Courchane

và Zorn (2005) đã đưa ra kết luận rằng nhân tố chính ảnh hưởng đến việc lựa chọn khoản vay hay kết quả của việc chi trả nợ chính là hành vi tài chính, một trong những nhân tố phản ánh nên mức độ DTTC của một cá nhân Việc lựa chọn khoản vay hay chi trả nợ

là một trong những yếu tố được sử dụng để tính toán thu nhập khả dụng của một cá nhân, chính vì vậy, thông qua việc nghiên cứu hành vi nợ cũng có thể thấy rằng DTTC ảnh hưởng lên thu nhập

Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào trên thế giới đưa ra một khẳng định

rõ ràng về ảnh hưởng và xu hướng tác động của DTTC lên thu nhập của một cá nhân, đặc biệt là người nghèo khu vực nông thôn

Trang 32

1.4 Khoảng trống nghiên cứu

Lusardi và Mitchell (2014) và rất nhiều các nghiên cứu khác trên thế giới đã chỉ ra rằng DTTC có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Thông qua các kết quả của các nghiên cứu đã được nêu ở phần trên, DTTC có tác động tới việc chi tiêu, đầu tư và tiết kiệm của từng cá nhân trong nền kinh tế biểu hiện qua lý thuyết, thái độ

và hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế Song, các kết quả của các tác giả còn nhiều điểm bất tương đồng; qua đó, bộc lộ ra một số vấn đề có thể được phát triển tiếp trong các nghiên cứu sau này Đây chính là khoảng trống của các nghiên cứu đã công

bố, cụ thể:

trống giữa các nhân tố phản ánh DTTC – tức là bản thân DTTC được bao gồm 3 yếu tố

là Thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính – và 3 nhân tố này phản ánh

ra sao lên DTTC Cũng chính vì thế, nên đã xuất hiện khoảng trống về phương pháp tiếp cận để đánh giá về dân trí tài chính

Thứ hai, việc phân tích và trình bày các kết quả đánh giá của các nghiên cứu tập trung nhiều đến phân tích định tính

Nguyên nhân của các điểm bất đồng này có thể do sự khác biệt giữa quan điểm của các nhà nghiên cứu, đặc điểm riêng của từng vị trí địa lý, khác biệt về mẫu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Cụ thể:

điều chỉnh cho phù hợp với thực tế tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam

thu nhập trung bình trở lên, sinh viên và người sống ở khu vực thành thị Vậy, đối tượng người nghèo và người sống ở khu vực nông thôn chưa được đề cập đến

Mỹ, Nhật… mà bỏ qua các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam

mảng văn hóa mang tính chất tiêu dùng cao, nhưng lại bỏ qua các nước có tính chất cộng đồng lớn như Việt Nam, hoặc có ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và Phật giáo (Mai

và Tambyah, 2011, Nghiem và cộng sự, 2012, Tran và cộng sự, 2017)

Thứ ba, những đặc trưng riêng của Việt Nam có ảnh hưởng đến DTTC chưa được

đề cập đến trong các nghiên cứu đã công bố

Trang 33

Nền kinh tế Việt Nam có giai đoạn phát triển khác biệt so với kinh tế thế giới Sau quá trình đổi mới từ năm 1986, Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có định hướng của nhà nước Hiện tại, Việt Nam đang tạo điều kiện cho chính sách khởi nghiệp bao gồm: khung pháp lý để tạo thuận lợi cho khởi nghiệp; cơ chế vốn

và đầu tư riêng cho khởi nghiệp; doanh nghiệp lớn đầu tư, hỗ trợ khởi nghiệp (Tang

và Tan, 2015) Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, đồng thời Việt Nam đang cải thiện rất nhiều trong việc nâng cao đời sống của cư dân tại khu vực nông thôn (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017) nhưng việc tiếp cận các dịch vụ tài chính tại khu vực này vẫn rất thấp, đặc biệt là về kiến thức tài chính (Dinh và Nguyen, 2017) hay

sử dụng các dịch vụ liên quan đến ngân hàng số (Phạm Bích Liên, 2016) Do vậy, việc đánh giá hiện trạng DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ Thêm vào đó, trình độ tri thức của người dân còn kém Mặc dù World Bank (2014) cho rằng Việt Nam luôn nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ phổ cập giáo dục, xóa

mù chữ nhanh nhất trên thế giới nhưng đối với một số khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, vấn đề về tài chính hầu như còn nguyên sơ, chưa được phát triển, khả năng tiếp cận tài chính còn kém Vì vậy, việc đưa ra các bằng chứng thực nghiệm cũng như các hàm ý chính sách phù hợp để thúc đẩy DTTC cho người nghèo khu vực nông thôn cũng cần được xem xét

Đến hiện tại, chỉ có một số ít các nghiên cứu về DTTC tại Việt Nam Các số liệu DTTC trong các nghiên cứu của Việt Nam thường được đưa ra bởi các tổ chức tài chính quốc tế như World Bank (2015), Klapper và cộng sự (2015) Những số liệu này thường

có những điểm hạn chế như số liệu đưa ra phục vụ cho mục đích so sánh các khu vực với nhau trên toàn thế giới chứ không phải để phục vụ mục đích nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam; số liệu không chuyên sâu cho một nhóm đối tượng ở một vùng miền hay một độ tuổi nhất định; Chính vì thế các giải pháp các nhà hoạch định chính sách xây dựng nên trên thế giới vẫn chưa thật sự phù hợp với thực tiễn Việt Nam và có thể áp dụng tại Việt Nam Một số các nghiên cứu khác của Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ (2018) tập trung vào vấn đề khởi nghiệp chứ không tập trung vào người nghèo Theo tìm hiểu của tác giả thì hầu như các nghiên cứu chưa đề cập tới mối quan hệ giữa thu nhập của người dân Việt Nam với DTTC Ở Việt Nam, với mức thu nhập ở mức trung bình thấp so với thế giới Đây là sự khác biệt rất lớn ở tầng lớp thu nhập trung bình - thấp của Việt Nam so với cùng tầng lớp thu nhập trung bình - thấp ở các nước trên thế giới Do vậy việc không đi sâu vào nghiên cứu thu nhập có thể gây nên những

lỗ hổng lớn trong nghiên cứu về DTTC

Trang 34

Những tác động của vấn đề này có thể ảnh hưởng trực tiếp tạo ra sai lệch trong kết quả nghiên cứu từ đó gây ra những sai lầm trong vận hành chính sách tại Việt Nam Với mục tiêu có thể đưa ra những nhân tố tác động, xây dựng nên một khung nghiên cứu DTTC cụ thể, chính xác; phân tích sự ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập tại nông thôn Việt Nam Phát triển từ những kinh nghiệm của các nghiên cứu trước, đưa ra một số biện pháp có thể áp dụng phù hợp và dành riêng vào việc nâng cao và cải thiện DTTC

tại Việt Nam, đề tài “Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt

Trang 35

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI

NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN 2.1 Khái quát về người nghèo khu vực nông thôn

Khu vực nông thôn là một khu vực rộng lớn, xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Nhìn chung, các quan điểm của các nghiên cứu đều cho rằng: “khu vực nông thôn là khu vực địa lý không bao gồm thị trấn và thành phố” Cụ thể hơn về quan điểm này, thì khu vực nông thôn bao gồm toàn bộ các cá nhân, hộ gia đình, vùng lãnh thổ không nằm trong khu vực đô thị

Về đặc điểm của khu vực nông thôn, có thể kể đến như sau:

Đây là khu vực người sinh sống, hoạt động kinh tế chủ yếu dưới dạng nông nghiệp Dân số tại đây thường tập trung dưới dạng nhóm nhỏ Đối với các nước đang phát triển, đời sống của người dân tại khu vực nông thôn phụ thuộc vào sản xuất nông – lâm – thủy sản; và thường không cao so với khu vực thành thị - tập trung nhiều ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ

Do mức sống của người dân tại khu vực nông thôn thấp hơn khu vực thành thị nên khu vực nông thôn thường là nơi tập trung nhiều người nghèo, và cũng xảy ra hai hiện tượng chính: (1) đô thị hóa khu vực nông thôn, do những tác động về mặt chính sách, kinh tế cũng như đầu tư làm cho khu vực này dần trở thành khu vực thành thị do có thêm các nhà máy, khu công nghiệp cũng như đông dân cư hơn; (2) di cư từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị Nguyên nhân của việc này là người dân tại khu vực nông thôn muốn tìm một cuộc sống mới với thu nhập cao hơn ở khu vực thành thị Hậu quả làm cho khu vực nông thôn trở nên ít người sinh sống hơn, người còn ở lại phần nhiều là người già và trẻ em

Phương thức sản xuất tại khu vực nông thôn của các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào thời tiết, địa hình, chưa ứng dụng nhiều khoa học kỹ thuật Cũng vì thế, nên các sản phẩm đặc trưng của khu vực này chưa được biết đến nhiều thông qua các chỉ dẫn địa lý hay bảo hộ sản phẩm

Đa phần các quan điểm về khu vực nông thôn trên thế giới được pháp điển hóa thông qua luật – tức là xác định khu vực nào là khu vực thành thị, phần còn lại sẽ là khu vực nông thôn Trong luận án này, khu vực nông thôn được hiểu theo quan điểm của nghị định 55/2015/NĐ-CP: “Nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm

Trang 36

địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố” Trong luận án này, khi nghiên cứu

về khu vực nông thôn, tác giả sẽ tìm các xã thuộc các huyện sau khi đã điều chỉnh địa giới hành chính nhằm tránh tình trạng có các cá nhân thuộc khu vực thành thị

Cá nhân thuộc khu vực nông thôn trong luận án này được hiểu là những người có

hộ khẩu thường trú tại khu vực nông thôn (theo nghị định 55/2015/NĐ-CP) và có thời gian thực trú tại địa bàn ít nhất 6 tháng/năm; đồng thời có tổng thời gian cư trú (từ lúc sinh ra đến thời điểm hiện tại) ít nhất 50% Việc này nhằm tránh tình trạng các cá nhân

đi học xa (trường hợp học sinh – sinh viên tham gia học tập tại các cơ sở giáo dục); hoặc

có mức thu nhập không mang lại từ khu vực nông thôn

Quan điểm về nghèo đói được nghiên cứu tại một số nước và khu vực trên thế giới,

và cũng phát triển theo từng thời kỳ - do thu nhập của người dân tăng lên Có một số quan điểm về nghèo đói như Watts (1968) cho rằng: “nghèo được hiểu là thiếu khả năng thỏa mãn đối với các loại hàng hóa thông thường”; còn theo Sen (1976): “nghèo là thiếu khả năng hoạt động và kém phát triển, nghèo đói là vấn đề đa chiều”; theo ADB (1999):

“nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi người có quyền được hưởng” Một số cách tiếp cận khác có thể đề cập đến nghèo đói thông qua ngưỡng nghèo như (1) xác định ngưỡng nghèo dựa vào thu nhập; (2) xác định ngưỡng nghèo dựa vào lượng calo đảm bảo cho 1 ngày làm việc; (3) xác định ngưỡng nghèo căn cứ vào các nhu cầu đời sống hàng ngày (Nguyễn Thị Hoa, 2009)

Nghèo có thể được xem xét với nghĩa là nghèo tuyệt đối hay tương đối Trần Xuân Cầu (2013) cho rằng: “Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản rất tối thiểu để duy trì cuộc sống như ăn, mặc, ở, nước sạch, vệ sinh môi trường và chăm sóc y tế, giáo dục, đi lại Nghèo tương đối, hay nghèo so sánh là sự nghèo khổ thể hiện sự bất bình đẳng trong quan hệ phân phối của cải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư và vùng địa lý”

Để đo lường nghèo hay xác định được người nghèo, về lý thuyết, phải đo lường được tất cả các khía cạnh thiếu hụt hay sự không thỏa mãn tất cả các nhu cầu cơ bản Ví

dụ, thiếu hụt về nhu cầu ăn (dinh dưỡng, lương thực, thực phẩm,…), nhu cầu về mặc (đẹp, ấm,…), nhu cầu về ở (diện tích, chất lượng nhà ở),… Trên thực tế, do có sự tương quan khá chặt chẽ giữa mức thu nhập với mức độ tiêu dùng hay thỏa mãn những nhu cầu của con người; với xu hướng chung là mức thu nhập càng cao thì mức tiêu dùng càng cao và mức tiêu dùng này được hiểu là mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản càng

Trang 37

cao Chính vì vậy, chuẩn nghèo (tuyệt đối) thường được xác định trên cơ sở một mức thu nhập hay chi tiêu, mà với mức thu nhập hay chi tiêu đó có thể đảm bảo thoả mãn được những nhu cầu cơ bản phù hợp trình độ phát triển kinh tế xã hội Đây là cách xác định chuẩn nghèo phổ biến ở các nước trên thế giới trong những năm gần đây

Tất cả các chuẩn nghèo ở Việt Nam được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chuẩn nghèo tuyệt đối Chuẩn nghèo quốc gia là chuẩn nghèo do Chính phủ ban hành, quy định và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc Chuẩn nghèo này được dùng để xác định đối tượng nghèo để thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo của Chính phủ

Bảng 2.1 Chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2000-2020

đồng/người/tháng nếu thiếu hụt 3 tiêu chí nghèo đa chiều

đồng/người/tháng nếu thiếu hụt 3 tiêu chí nghèo đa chiều

Nguồn: Quyết định 1143/2000/QĐ-LĐTBXH, Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, Chỉ thị

số 1752/CT-TTg; Quyết định 09/2011/QĐ-TTg, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg

Như vậy, theo quan điểm của tác giả, người nghèo khu vực nông thôn là người có thu nhập không quá 700.000 đồng/người/tháng hoặc 1.000.000 đồng/người/tháng khi thiếu hụt 3 trong 5 tiêu chí sau đây: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin

2.2 Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

“Financial Literacy” là một thuật ngữ có được hiểu theo nhiều cách khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng cách hiểu “financial literacy” là DTTC

Trang 38

(Chi tiết xem Phụ lục 1) Việc hiểu “literacy” thành dân trí phản ánh tương đối đầy đủ

phương diện về hiểu biết và khả năng vận dụng các nguyên tắc, phương pháp về tài chính, kinh tế Nghiên cứu đầu tiên về DTTC được công bố vào năm 1992 (Noctor và cộng sự, 1992), và đến bây giờ, đây là một thuật ngữ được quan tâm và sử dụng trên toàn thế giới Cho đến nay đã rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa và cách giải thích, tuy nhiên thuật ngữ này vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau theo từng nghiên cứu cụ thể

DTTC được Noctor và cộng sự (1992) định nghĩa là khả năng đưa ra những phán đoán sáng suốt và đưa ra những quyết định hiệu quả liên quan đến việc sử dụng và quản

lý tiền Trong khi đó, Schagen và Lines (1996) cho rằng một cá nhân được cho là có DTTC sẽ được hưởng lợi ích về thái độ và khả năng như hiểu biết về khái niệm quản lý tiền, kiến thức về các tổ chức tài chính và thái độ cho phép quản lý các vấn đề tài chính hiệu quả và có trách nhiệm Như vậy, ngoài ủng hộ quan điểm của Noctor và cộng sự (1992), Schagen và Lines (1996) đã nghiên cứu và phát triển thêm khía cạnh thái độ của chủ thể

Vitt và Anderson (2000) cho rằng DTTC có thể được định nghĩa là một người có khả năng hiểu, phân tích, quản lý và truyền đạt các vấn đề tài chính cá nhân DTTC là khả năng và kỹ năng để có kiến thức đúng đắn về các vấn đề tài chính của một cá nhân Trình độ DTTC thấp có thể dẫn đến việc ra quyết định tài chính không phù hợp và điều này có thể dẫn đến nhiều vấn đề như nợ hoặc phá sản Phát triển từ nghiên cứu của mình, Vitt (2004) đưa ra định nghĩa DTTC bao gồm khả năng nhận thức các lựa chọn tài chính, thảo luận vấn đề về tiền và tài chính mà không có gặp trở ngại, dự định trong tương lai,

và phản ứng lại thành thạo đến biến cố trong đời thực ảnh hưởng đến quyết định tài chính hàng ngày, trong đó có sự kiện trong nền kinh tế tổng quát Quan điểm này cũng tương đồng với khái niệm được đưa ra trong nghiên cứu của Mason và Wilson (2000) Willis (2008) định nghĩa DTTC là khả năng có thể sử dụng kiến thức và kĩ năng

để quản lý những nguồn lực tài chính của một cá nhân một cách hiệu quả cho việc bảo đảm tài chính trọn đời Quan điểm này cũng được ủng hộ trong các một số nghiên cứu khác trong đó nổi bật là của (Lusardi và Mitchell, 2011c, Lusardi và cộng sự, 2011a, Lusardi và cộng sự, 2017), khi định nghĩa DTTC là khả năng của cá nhân tiếp thu các thông tin về kinh tế và đưa ra những quyết định về kế hoạch tài chính, tích lũy của cải, lên kế hoạch hưu trí và các khoản nợ

Ở một phương diện khác, Cutler và Devlin (1996) quan niệm về DTTC bao gồm các khía cạnh của kiến thức và sự tự tin Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả tập trung chủ yếu vào kiến thức tài chính xung quanh các vấn đề đối với hưu trí và người sắp về hưu

Trang 39

Ngoài ra, nghiên cứu không đề cập đến việc mọi người giải quyết vấn đề tài chính của

họ hiệu quả như thế nào, nhưng ngụ ý rằng DTTC về cơ bản là một chức năng của việc truy cập thông tin tài chính Tương tự, trong một số nghiên cứu về DTTC trên thế giới cũng định nghĩa DTTC như “các kiến thức liên quan đến vấn đề tài chính” (Hilgert và cộng sự, 2003) Phát triển từ cách định nghĩa này, theo Moore (2003) DTTC lại được định nghĩa như những kinh nghiệm thực tế và hội nhập một cách chủ động kiến thức về vấn đề tài chính của những cá nhân

Hiểu theo một cách rộng hơn thì Holzmann (2010) chỉ ra DTTC tại một số quốc gia là việc “chuyển đổi” kiến thức và hiểu biết về tài chính sang kỹ năng và năng lực tài chính, thái độ và hành vi, tức là ứng dụng được vào cuộc sống (hiện tại, các nghiên cứu này đề cập đến khái niệm well-being financial) DTTC được coi là quá trình mà người tiêu dùng cải thiện hiểu biết về các khái niệm và sản phẩm tài chính thông qua thông tin, hướng dẫn hoặc nhà đầu tư tài chính mục tiêu tư vấn, phát triển các kỹ năng và sự tự tin

để nhận thức được các rủi ro và cơ hội tài chính, để thực hiện lựa chọn thông báo, để biết nơi cần giúp đỡ và thực hiện các hành động hiệu quả khác để cải thiện phúc lợi tài chính và bảo vệ người tham gia hoạt động OECD (2013) định nghĩa DTTC là việc kết hợp của nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ, và hành vi cần để ra quyết định tài chính

và cuối cùng đạt được sự “giàu có” tài chính cá nhân Kết hợp từ những nghiên cứu trên, những năm gần đây, định nghĩa về DTTC đã được phát triển hơn Sekar và Gowri (2015) định nghĩa DTTC là tổng hợp của sự nhận thức, thái độ và kỹ năng của cá nhân về những vấn đề tài chính

Cho đến nay, định nghĩa về DTTC của OECD (2013), Lusardi và cộng sự (2011b), Lusardi và Mitchell (2017) được sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác trên thế giới Tại Việt Nam, những nghiên cứu về DTTC cũng thường sử dụng cách định nghĩa của OECD, ví dụ như Khúc Thế Anh và Đặng Anh Tuấn (2017), Nguyen (2017), Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ (2018), Phùng Thanh Quang và Khúc Thế Anh (2018), Khúc Thế Anh và cộng sự (2020)

Như vậy, tuy là một khái niệm xuất hiện trong nhiều nghiên cứu trên thế giới trong lĩnh vực kinh tế - tài chính, nhưng DTTC vẫn chưa có một sự thống nhất về cách định nghĩa, mà còn phụ thuộc vào khía cạnh và chủ đề của nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu

về DTTC trong các nghiên cứu đã công bố, khái niệm về DTTC được tổng hợp trong bảng sau đây:

Trang 40

Bảng 2.2 Tổng hợp các khái niệm DTTC trong các nghiên cứu đã công bố

của áp dụng kiến thức bản thân để đưa ra các quyết định tài chính

(2009)

DTTC là hiểu biết của khách hàng hoặc nhà đầu tư về khái niệm hay sự thật tài chính, và khả năng của họ khi biết tận dụng rủi ro và cơ hội để đưa ra quyết định hiệu quả để cải thiện mức độ giàu có của họ

(2011)

DTTC là việc hiểu các khái niệm cơ bản về kinh tế và tài chính gặp phải trong cuộc sống hàng ngày bao gồm: các tính toán đơn giản về lãi suất và lạm phát, hoạt động phân tán rủi ro, mối quan hệ giữa giá trái phiếu và lãi suất và mối quan hệ giữa thanh toán lãi và đáo hạn trong các khoản thế chấp

DTTC được định nghĩa như “sự nhận thức, hiểu biết

và khả năng xử lý các thông tin về các lĩnh vực tài chính khác nhau bao gồm các chủ đề liên quan đến quản lý tài chính cá nhân, tiền bạc và đầu tư.”

Nguồn: Tổng hợp của tác giả, 2020

Tóm lại, đa phần các nghiên cứu kể trên đều định nghĩa DTTC tương tự như cách định nghĩa kiến thức tài chính (Financial knowledge) hay khả năng hiểu biết các định nghĩa về tài chính như lãi suất, chiết khấu, và có khả năng đưa ra được quyết định của

Ngày đăng: 12/09/2020, 08:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Ajzen, H. và M. Fishbein (1980), Understanding attitudes and predicting social behavior, Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding attitudes and predicting social behavior
Tác giả: Ajzen, H. và M. Fishbein
Năm: 1980
7. Ajzen, I. (1991), 'The theory of planned behavior', Organizational behavior human decision processes, Số 50(2),Trang: 179-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Organizational behavior human decision processes
Tác giả: Ajzen, I
Năm: 1991
8. Albeerdy, M. I. và B. Gharleghi (2015), 'Determinants of the financial literacy among college students in Malaysia', International Journal of Business Administration, Số 6(3),Trang: 15-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Business Administration
Tác giả: Albeerdy, M. I. và B. Gharleghi
Năm: 2015
9. Alessie, R., L. Annamaria và V. R. Maarten (2008), Financial Literacy, Retirement Planning, and Household Wealth, NBER Working Paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Literacy, Retirement Planning, and Household Wealth
Tác giả: Alessie, R., L. Annamaria và V. R. Maarten
Năm: 2008
10. Almenberg, J. và J. Sọve-Sửderbergh (2011), 'Financial literacy and retirement planning in Sweden', Journal of Pension Economics Finance, Số 10(4),Trang:585-598 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Pension Economics Finance
Tác giả: Almenberg, J. và J. Sọve-Sửderbergh
Năm: 2011
11. Ansong, A. và M. A. Gyensare (2012), 'Determinants of university working- students' financial literacy at the University of Cape Coast, Ghana', International Journal of Business Management, Số 7(9),Trang: 126-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Business Management
Tác giả: Ansong, A. và M. A. Gyensare
Năm: 2012
13. Arrow, K. J. (1969), 'The organization of economic activity: issues pertinent to the choice of market versus nonmarket allocation', Economica, Số 1,Trang: 59- 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economica
Tác giả: Arrow, K. J
Năm: 1969
14. Ashley, C. và D. Carney (1999), Sustainable livelihoods: Lessons from early experience, Department for International Development London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable livelihoods: Lessons from early experience
Tác giả: Ashley, C. và D. Carney
Năm: 1999
15. Atkinson, A., S. McKay, S. Collard và E. Kempson (2007), 'Levels of financial capability in the UK', Public Money Management, Số 27(1),Trang: 29-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Money Management
Tác giả: Atkinson, A., S. McKay, S. Collard và E. Kempson
Năm: 2007
16. Atkinson, A. và F.-A. Messy (2011), 'Assessing financial literacy in 12 countries: an OECD/INFE international pilot exercise', Journal of Pension Economics Finance, Số 10(4),Trang: 657-665 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Pension Economics Finance
Tác giả: Atkinson, A. và F.-A. Messy
Năm: 2011
17. Atkinson, A. và F.-A. Messy (2012), Measuring Financial Literacy: Results of the OECD/ International Network on Financial Education (INFE) Pilot Study, OECD Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring Financial Literacy: Results of the OECD/ International Network on Financial Education (INFE) Pilot Study
Tác giả: Atkinson, A. và F.-A. Messy
Năm: 2012
18. Audretsch, D. B. và M. P. Feldman (1996), 'R&D spillovers and the geography of innovation and production', The American economic review, Số 86(3),Trang:630-640 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American economic review
Tác giả: Audretsch, D. B. và M. P. Feldman
Năm: 1996
19. Bagić, D. (2011), Financial literacy in Bosnia and Herzegovina: Analytical report, World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial literacy in Bosnia and Herzegovina: Analytical report
Tác giả: Bagić, D
Năm: 2011
20. Baker, H. K. và V. Ricciardi (2014), Investor behavior: The psychology of financial planning and investing, John Wiley & Sons Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investor behavior: The psychology of financial planning and investing
Tác giả: Baker, H. K. và V. Ricciardi
Năm: 2014
21. Banks, J. và Z. Oldfield (2007), 'Understanding pensions: Cognitive function, numerical ability and retirement saving', Fiscal studies, Số 28(2),Trang: 143-170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fiscal studies
Tác giả: Banks, J. và Z. Oldfield
Năm: 2007
22. Basu, S. (2005), Financial literacy and the life cycle, Financial Planning Association, Washington, DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial literacy and the life cycle
Tác giả: Basu, S
Năm: 2005
23. Beal, D. J. và S. B. Delpachitra (2003), 'Financial literacy among Australian university students', Economic Papers: A journal of applied economics policy, Số 22(1),Trang: 65-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Papers: A journal of applied economics policy
Tác giả: Beal, D. J. và S. B. Delpachitra
Năm: 2003
24. Beck, T., A. Demirgỹỗ-Kunt và R. Levine (2007), 'Finance, inequality and the poor', Journal of economic growth, Số 12(1),Trang: 27-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of economic growth
Tác giả: Beck, T., A. Demirgỹỗ-Kunt và R. Levine
Năm: 2007
25. Benjamin, D. và L. Brandt (2004), Agriculture and income distribution in rural Vietnam under economic reforms: a tale of two regions, World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agriculture and income distribution in rural Vietnam under economic reforms: a tale of two regions
Tác giả: Benjamin, D. và L. Brandt
Năm: 2004
189. Thanh Du (2016), Vỡ hụi trăm tỷ đồng ở Thanh Hóa: Vay ngân hàng góp hụi vì lãi suất cao, soạn), http://giadinh.net.vn/phap-luat/vo-hui-tram-ty-dong-o-thanh-hoa-vay-ngan-hang-gop-hui-vi-lai-suat-cao-20160427070850449.htm Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w