1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn việt nam tt

13 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 517,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả sẽ tập trung vào các vấn đề sau đây: • Tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến DTTC đối với người

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian gần đây, tài chính toàn diện được coi là trụ cột quan trọng của tăng

trưởng kinh tế, thúc đẩy tài chính và giảm nghèo bền vững, vì thế tài chính toàn

diện là trọng tâm ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới Có thể thấy rằng, DTTC

có tác động tích cực đến giảm nghèo thông qua tăng thu nhập của người dân – đặc

biệt tại nhóm nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế đang chuyển đổi Nghiên

cứu về DTTC đa phần được thực hiện tại các nước OECD hoặc chỉ các nước như

Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu Từ kết quả đo lường, các nghiên cứu

trước đã đưa ra một số hàm ý chính sách lớn, trong đó nhấn mạnh vào việc xây

dựng thói quen tiết kiệm đối với người dân có thu nhập thấp tại các vùng được

điều tra khảo sát Tuy nhiên, các nghiên cứu này đa phần lại bỏ qua các nền kinh

tế ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á (trừ Nhật Bản và Singapore), vốn có nền

văn hóa khác biệt so với các nước phương Tây, thể hiện ở (1) chịu ảnh hưởng lớn

của Nho giáo và Phật giáo nên mối quan hệ của từng thành viên trong gia đình rất

bền chặt, và hướng chi tiêu (thể hiện 1 phần của dân trí tài chính) phụ thuộc nhiều

vào ý kiến của người xung quanh; (2) Vốn có thói quen tiết kiệm nhiều hơn tiêu

dùng Những đặc điểm nhân khẩu học hoàn toàn khác biệt này đã dẫn đến vấn đề

(1) sự thất bại trong việc hiểu các bảng hỏi của người dân khu vực Đông Á và

Đông Nam Á so với các nước phương Tây, từ đó không thể đánh giá được chính

xác về DTTC, và cũng không xác định được cụ thể các nhân tố ảnh hưởng (2)

những hàm ý chính sách liên quan đến phát triển DTTC không thể thực hiện được

như đào tạo về việc tiết kiệm tiền tại các khu vực có thu nhập thấp – vì tỉ lệ tiết

kiệm của người dân tại đây (so với thu nhập) rất cao!

Tại Việt Nam, DTTC được đề cập trong một số ít các nghiên cứu, và thường

tập trung vào “đào tạo về tài chính” chứ không phải DTTC hoặc đánh giá tác động

của DTTC lên thu nhập của nhóm đối tượng được khảo sát Tuy nhiên, điều dễ

nhận thấy: tại các vùng nghèo thì kể cả người dân có kiến thức tài chính tốt nhưng

thu nhập vẫn thấp, bởi thái độ và hành vi về tài chính của nhóm đối tượng này

không cao Người nghèo tại khu vực nông thôn tiếp cận rất hạn chế các dịch vụ

này, và thái độ ứng xử cũng như hành vi sử dụng với các dịch vụ này mang tính

chất mơ hồ rất cao

Luận án này sẽ tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam (trong đó có các nhân tố phản ánh – là những nội dung cấu thành nên DTTC), cũng như đánh giá ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập Đồng thời, luận án đưa ra những hàm ý chính sách để phát triển DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn để hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Để thực hiện mục tiêu trên, luận án sẽ sử dụng một khái niệm DTTC thống nhất và hiệu chỉnh cách đo lường cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu Do đó, đây sẽ là nguồn bổ sung về cả lí thuyết lẫn thực tiễn cho nhánh nghiên cứu về DTTC tại Việt Nam cũng như trên thế giới

2 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ những nhân tố tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm phát triển DTTC của đối tượng này

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả sẽ tập trung vào các vấn đề sau đây:

• Tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn tại Việt Nam, trong đó có các nhân tố phản ánh, bao gồm kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính

• Đo lường ảnh hưởng của trình độ DTTC đến thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam

• Đưa ra các hàm ý chính sách sau khi đối chiếu các cấu phần và nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này trả lời cho những câu hỏi sau:

• Có những nhân tố nào ngoài nhân tố nhân khẩu học tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam? Bản thân từng cấu phần trong DTTC (bao gồm thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính) có tác động gì đến DTTC?

Trang 2

• DTTC có tác động thế nào đến thu nhập của người nghèo tại khu vực nông

thôn Việt Nam (thông qua chỉ tiêu thu nhập của cá nhân, hộ gia đình)?

• Những hàm ý chính sách nào cần được đưa ra để nâng cao DTTC của người

nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông

thôn

Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: tập trung vào khu vực nông thôn Việt Nam

Nghị định số 55/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về khái niệm nông thôn là phần

lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản

lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã (Chính phủ, 2015) Trong phạm vi nghiên

cứu, tác giả sẽ nghiên cứu về những đối tượng có hộ khẩu và thường trú tại vùng

nông thôn Các cá nhân này phải đáp ứng được cả 2 điều kiện về thời gian: (1) có

ít nhất 1 nửa thời gian sinh sống đến hiện tại ở vùng nông thôn; (2) trong 1 năm,

phải có ít nhất 6 tháng sinh sống ở vùng nông thôn

Người nghèo khu vực nông thôn: được xác định theo quyết định

59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 (Thủ

tướng Chính phủ, 2015); tức là người dân sống ở vùng nông thôn có thu nhập thấp

hơn 700.000 đồng/tháng đối với bình quân một người, và không quá 1.000.000

nếu thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ

bản trở lên

Về thời gian: Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2019 Thời gian khảo sát

tiến hành 2 lần: khảo sát sơ bộ trong vòng 1 tuần, từ ngày 07/03/2019 – 14/03/2019

tại tỉnh Thái Bình Lần khảo sát chính thức trong vòng 3 tháng, từ tháng 5 đến

tháng 8 năm 2019 Nghiên cứu chính thức được tiến hành trên phạm vi cả nước

5 Cách tiếp cận

Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, tác giả dựa trên các học thuyết ban đầu về kinh

tế học Trong giai đoạn những năm 1980 – 1990, nhóm học giả thuộc trường phái

Washington Concencus (Đồng thuận Washington) đã phát triển quan điểm về tiếp cận các dịch vụ tài chính và tài chính toàn diện, giúp các cá nhân có thể đầu tư hoặc sử dụng tốt hơn các dịch vụ trên thị trường, từ đó giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế tự do Luận án sẽ tiếp cận hướng nghiên cứu từ phía bên cầu của các dịch vụ tài chính

Ngoài ra, luận án này cũng tiếp cận theo khía cạnh sinh kế bền vững và vốn con người, do sinh kế bền vững được phát triển dựa trên các lý thuyết về xóa đói

giảm nghèo, và lấy con người làm trung tâm của vấn đề phát triển bền vững CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH 1.1 Các nghiên cứu về tài chính hành vi

Vì DTTC bao gồm 3 khía cạnh: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành

vi tài chính nên nhóm nghiên cứu đầu tiên, có liên quan là các nghiên cứu về tài chính hành vi – dùng để giải thích hành vi của các nhà đầu tư (sau khi đã có được kiến thức tài chính) trên thị trường, đặc biệt thị trường chứng khoán cũng như các khoản đầu tư trên các thị trường khác Các nghiên cứu về tài chính hành vi đã chỉ

ra rằng, các cá nhân khi đưa ra các quyết định về tài chính thì thường:

Thứ nhất, có khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếm được nhiều lợi nhuận

Thứ hai, có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyết định này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng

1.2 Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô

Đối với nhánh nghiên cứu về nghèo đói cũng như các biện pháp để xóa đói giảm nghèo bằng cách hỗ trợ tài chính, đây là một nhánh nghiên cứu quan trọng Tuy nhiên, tài chính vi mô không có nền tảng lí thuyết gốc rõ rệt, mà phải dựa vào

1 số các nhánh nghiên cứu sau đây:

Đầu tiên, là nhánh nghiên cứu về đào tạo kiến thức cho con người (trong đó

có đào tạo tài chính để hình thành nên kiến thức tài chính) và minh chứng rằng đây là nền tảng của phát triển bền vững Nhánh nghiên cứu về vốn con người cho rằng nếu không phát triển con người thì khó có thể phát triển kinh tế bền vững, bởi nếu không có nhân tố con người thì không thể sử dụng hiệu quả vốn vật chất:

ví dụ như đất đai, máy móc… thì vẫn phải “vận hành” bởi con người

Nhánh nghiên cứu thứ hai mà tài chính vi mô dựa vào nền tảng là nhánh nghiên cứu về sinh kế bền vững. Nhóm nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát

Trang 3

triển trên nền tảng của các nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo Trong các nghiên

cứu thuộc nhóm này, đa phần các tác giả đều đồng thuận: các luận điểm chính của

sinh kế bền vững bao gồm: (1) các cá nhân, hộ gia đình sử dụng các nguồn lực

hiện tại (con người, tài chính, tự nhiên, vật chất và các yếu tố xã hội) nhằm ứng

phó với những thay đổi của thiên nhiên và thị trường nhằm đạt được sinh kế bền

vững (2) Con người là yếu tố cốt lõi trong khung sinh kế bền vững, do vậy, để có

được một khung sinh kế thì chính phủ phải đưa ra các chương trình trợ cấp liên

quan đến việc tạo lập cho người nghèo một khả năng để có thể tự phát triển được

hoạt động sản xuất kinh doanh trong lâu dài Nhóm nghiên cứu này là nền tảng

chính về tài chính vi mô (3) Vì con người là vấn đề trung tâm trong sinh kế, nên

việc xóa đói giảm nghèo phải hướng đến việc tạo lập cho các cá thể trong nền

kinh tế một nền tảng vững chắc về thể chế, môi trường, xã hội và kinh tế, trong

đó phải có yếu tố giáo dục về tài chính và cách thức sinh hoạt

1.3 Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính

Do chưa có sự thống nhất trong nội hàm của DTTC nên các nghiên cứu về

DTTC thường không phân thành các trường phái, nhưng về cơ bản có thể chia

thành các nhóm nhỏ: (1) nghiên cứu về yếu tố tác động đến DTTC; (2) tác động

của DTTC lên thu nhập

1.4 Khoảng trống nghiên cứu

Thứ nhất, về nội hàm của DTTC chưa thống nhất trong các nghiên cứu

Khoảng trống giữa các nhân tố phản ánh DTTC – tức là bản thân DTTC được bao

gồm 3 yếu tố là Thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính – và 3

nhân tố này phản ánh ra sao lên DTTC Cũng chính vì thế, nên đã xuất hiện khoảng

trống về phương pháp tiếp cận để đánh giá về dân trí tài chính

Thứ hai, việc phân tích và trình bày các kết quả đánh giá của các nghiên cứu

tập trung nhiều đến phân tích định tính

Thứ ba, những đặc trưng riêng của Việt Nam có ảnh hưởng đến DTTC chưa

được đề cập đến trong các nghiên cứu đã công bố

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI

NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN 2.1 Khái quát về người nghèo khu vực nông thôn

2.1.1 Khái quát về khu vực nông thôn

Khu vực nông thôn gồm các xã thuộc các huyện sau khi đã điều chỉnh địa giới hành chính nhằm tránh tình trạng có các cá nhân thuộc khu vực thành thị Thêm vào đó, cá nhân thuộc khu vực nông thôn trong luận án này được hiểu

là những người có hộ khẩu thường trú tại khu vực nông thôn và có thời gian thực trú tại địa bàn là ít nhất 6 tháng/năm Việc này nhằm tránh tình trạng các cá nhân

đi học xa (trường hợp học sinh – sinh viên tham gia học tập tại các cơ sở giáo dục); hoặc có mức thu nhập không mang lại từ khu vực nông thôn

2.1.2 Người nghèo khu vực nông thôn

Quan điểm về nghèo đói: người nghèo sẽ là người có thu nhập không quá 700.000 đồng/người/tháng hoặc 1.000.000 đồng/người/tháng khi thiếu hụt 3 trong

5 tiêu chí sau đây: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin

2.2 Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

2.2.1 Khái niệm Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

OECD (2013) định nghĩa DTTC là việc kết hợp của nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ, và hành vi cần để ra quyết định tài chính và cuối cùng đạt được sự

“giàu có” tài chính cá nhân Kết hợp từ những nghiên cứu trên, những năm gần đây, định nghĩa về DTTC đã được phát triển hơn Một số khác định nghĩa DTTC

là tổng hợp của sự nhận thức, thái độ và kỹ năng của cá nhân về những vấn đề tài chính

Tóm lại, DTTC sẽ bao gồm 3 khía cạnh là kiến thức tài chính, thái độ tài chính

và hành vi tài chính

2.2.2 Nội dung dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

Kiến thức tài chính (financial knowledge) là mức độ hiểu biết của chủ thể đối

với các khái niệm của các thuật ngữ trong tài chính (lãi suất, trái phiếu ) và phương thức hoạt động của các tổ chức tài chính (ngân hàng, tổ chức tín dụng, ) Như vậy, kiến thức tài chính sẽ là yếu tố tiền đề để hình thành hành vi và thái độ tài chính của chủ thể

Thái độ tài chính (financial attitude) là quan điểm của chủ thể đối với sự diễn

ra của tình hình tài chính xung quanh Ví dụ như nhận định của chính phủ về tình

Trang 4

hình chuyển biến của nền kinh tế, Việc xác định thái độ của chủ thể đối với tình

hình kinh tế tài chính là hệ quả của kiến thức tài chính của chủ thể đó, tạo tiền đề

cho hành vi tài chính của chủ thể đó

Hành vi tài chính (financial behavior) được hiểu là những tác động của chủ thể

đối với sự biến động của nền kinh tế xung quanh Thông qua các phản ứng của

chủ thể đối với nền kinh tế, chúng ta có thể nhận ra được độ nhạy cảm của chủ

thể đối với nền kinh tế khi có sự thay đổi

Như vậy, dựa trên các quan điểm về dân trí tài chính, nghèo đói và khu vực

nông thôn, thì trong luận án này, tác giả quan niệm rằng DTTC được cấu thành

bởi ba bộ phận là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính Dân

trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn được hiểu là việc áp dụng kiến

thức tài chính và thái độ tài chính vào các hành vi tài chính của các đối tượng

nằm trong chuẩn nghèo tuyệt đối và có thời gian thực trú tại vùng nông thôn đảm

bảo 2 điều kiện (1) ít nhất một nửa thời gian sinh sống đến hiện tại là ở vùng nông

thôn và (2) trong 1 năm có ít nhất 6 tháng sống ở vùng nông thôn

2.2.3 Các phương pháp đo lường dân trí tài chính

Phương pháp FILS

Phương pháp này sử dụng CFA (phương pháp thử nghiệm giả thuyết để kiểm

tra giả thiết và giả thuyết về cấu trúc mô hình bằng các yếu tố chất lượng do đó

cho thấy chất lượng của việc điều chỉnh mô hình của các biến biểu hiện theo phân

bổ cho các biến tiềm ẩn cụ thể)

Phương pháp FSA

FSA là phương pháp đo lường DTTC dựa trên 5 vấn đề chính yếu: (1) Giám

sát tài chính; (2) Đảm bảo chi tiêu; (3) Lập kế hoạch trước; (4) Chọn sản phẩm;

(5) Luôn cập nhật

Phương pháp bảng hỏi

Đây là phương pháp sử dụng các bảng hỏi để đo lường DTTC Dựa trên các

câu hỏi tập trung vào các chủ đề về tài chính như lãi suất, thời hạn đầu tư…

2.3 Vai trò của dân trí tài chính

2.3.1 Tác động lên các đối tượng của nền kinh tế

Tác động lên hành vi tài chính của người có thu nhập trung bình - thấp

Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng những người có DTTC kém thường có những

khoản chi tiêu, đầu tư không hiệu quả gây lãng phí vốn và ảnh hưởng tới thu nhập

của chủ thể đó Những người, khu vực có DTTC cao thường có hiểu biết rộng về những vấn đề tài chính và các phương thức đầu tư, tiết kiệm

Tác động đến năng suất của người lao động

Trình độ DTTC cao làm gia tăng tính hiệu quả, hiệu suất của công việc và sẽ giúp người lao động hiểu rõ hơn về lợi ích mà tổ chức mang lại và cải thiện sự hài lòng của họ Việc nâng cao DTTC có tác động tích cực đến mọi người trong cuộc sống cá nhân và công việc DTTC cao giúp giảm áp lực xã hội và tâm lý và tăng phúc lợi cho các hộ gia đình Lợi thế lớn nhất của việc nâng cao DTTC là làm giảm đi các sai lầm trong tài chính của nhân viên và khiến họ có trách nhiệm hơn trong việc quản lý tài chính cá nhân, điều này sẽ góp phần làm tăng chất lượng sống của các hộ gia đình

2.3.2 Tác động lên tổng thể nền kinh tế

Bảo vệ người tiêu dùng khỏi sự thiếu hụt tài chính gây ra những vụ lừa đảo

Bằng cách tăng DTTC thông qua cả kỹ năng, thái độ và hành vi và tài chính

sẽ góp phần làm tăng khả năng bảo vệ tài chính người tiêu dùng – nhất là nhóm người khó có khả năng tiếp cận dịch vụ tài chínhchính thức (thường là người nghèo ở khu vực nông thôn)

Thay đổi thói quen giữ tiền nhàn rỗi

Dân số có kiến thức tài chính tốt hơn có khả năng sử dụng khoản tiền nhàn rỗi như một khoản vốn đầu tư trong nướcgiảm sự phụ thuộc vào vốn nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô cũng cho thấy, khi người nghèo hoặc người dân khu vực nông thôn được đào tạo về các sản phẩm tài chính thì sẽ có khả năng sử dụng đồng tiền nhàn rỗi tốt hơn thông qua mở rộng

tỷ lệ tiết kiệm, từ đó hướng đến mục tiêu sử dụng khoản vay và tiến tới xóa đói giảm nghèo

2.3.3 Đối với thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn

a Kiến thức

Kiến thức là một phần cơ bản tạo nên vốn con người, nên tác động của kiến thức lên thu nhập rất rõ ràng, nhất là trong nhánh nghiên cứu về vốn con người Các nghiên cứu đều có đồng quan điểm rằng số năm đi học và kinh nghiệm làm việc ảnh hưởng cùng chiều lên thu nhập của họ Như vậy, kiến thức tài chính, một khía cạnh trong DTTC có ảnh hưởng cùng chiều đến thu nhập của các đối tượng trong nền kinh tế

Trang 5

b Thái độ

Đối với nhánh nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo, đặc biệt về sinh kế bền vững

và tài chính vi mô sau này, đều cho rằng thái độ của các cá nhân có ảnh hưởng

đến thu nhập Đối với những cá nhân có thái độ thận trọng và hiểu biết đầy đủ các

thông tin sẽ chi tiêu ít hơn khi thu nhập cao, xu hướng tiết kiệm tăng và sẽ sử dụng

khoản tiết kiệm đó khi thu nhập giảm

c Hành vi

Trong nhánh nghiên cứu về vốn con người, những người có hành vi sai lệch

trong việc đầu tư cũng như không có hành vi gì đối với tài chính đều ảnh hưởng

xấu tới thu nhập Những hành vi và quyết định tài chính trên có ảnh hưởng trực

tiếp đến thu nhập

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến dân trí tài chính

2.4.1 Trình độ học vấn

Kết quả của những nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng trình độ học vấn là một yếu

tố ảnh hưởng tích cực lên DTTC của một cá nhân; những nhóm đối tượng có trình

độ giáo dục càng cao thì tỷ lệ trả lời đúng những câu hỏi về tài chính càng cao

2.4.2 Thu nhập

Thu nhập là một trong những yếu tố tác động lên điểm số DTTC của một cá

nhân Những đối tượng có thu nhập cao hơn thường có xu hướng có điểm số

DTTC cao hơn và ngược lại Tuy nhiên, các nghiên cứu trên cũng chỉ ra một thực

trạng rằng, điểm số DTTC và tỉ lệ những người có kiến thức tài chính chính xác

vẫn còn thấp, thậm chí ở nhóm đối tượng có thu nhập cao nhất Điều này đặt ra

yêu cầu phải nâng cao và cải thiện DTTC không chỉ ở những người có thu nhập

thấp mà còn ở cả những nhóm đối tượng có thu nhập trung bình và thu nhập cao

2.4.3 Việc làm

Nhóm đối tượng có việc làm, đặc biệt là liên quan đến kinh tế và tài chính

thường có những kiến thức tài chính chính xác và thỏa đáng hơn, dẫn đến điểm

số DTTC cũng cao hơn nhóm đối tượng không có việc làm

2.4.4 Tuổi tác

Tuổi tác là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến DTTC được đề cập rất nhiều

trong các nghiên cứu ở trên thế giới Tuy vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn,

nhưng nhiều các nghiên cứu đều đồng tình với quan điểm cho rằng: Điểm số

DTTC sẽ cao nhất ở độ tuổi trung niên và thấp dần đi ở những độ tuổi trẻ hơn

hoặc già hơn

2.4.5 Giới tính

Một số quan điểm cho rằng có sự khác biệt về điểm số DTTC giữa nữ giới và nam giới Cụ thể, phụ nữ thường có DTTC thấp hơn đàn ông trong đa số các trường hợp Hơn thế nữa, phụ nữ còn đưa ra những câu trả lời không xác định cho những vấn đề liên quan đến tài chính Tuy nhiên, một số khác lại đưa ra một quan điểm ngược lại khi nhận định rằng ảnh hưởng của giới tính lên điểm số DTTC là không rõ ràng Nghiên cứu đưa ra điểm số trung bình của nữ giới là 47,87, ở nam giới là 49,02 Như vậy, ảnh hưởng của giới tính lên DTTC vẫn là một trong những nhân tố chưa có được sự thống nhất giữa các nghiên cứu về DTTC trên thế giới

2.4.6 Chủng tộc và tôn giáo

Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng chủng tộc và tôn giáo là nhân tố tạo ra ảnh hưởng lên DTTC Tuy nhiên, sự khác biệt về phương pháp đo lường và việc chia mẫu đo lường khiến cho kết quả các nghiên cứu này chưa thật sự thống nhất và rõ ràng

Trang 6

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu này kết hợp cả hai phương pháp là nghiên cứu định tính và nghiên

cứu định lượng Trên cơ sở tổng hợp và phát triển các lý thuyết từ các nghiên cứu

trước cũng như các lý thuyết DTTC, tác giả đã phân tích định tính các yếu tố ảnh

hưởng đến DTTC và ảnh hưởng của DTTC đến thu nhập của người dân ở vùng

nông thôn

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng, mô hình hóa những dữ liệu điều

tra về các cá nhân để có những thông tin về DTTC và thu nhập của đối tượng

nghiên cứu Bộ chỉ số đo lường DTTC theo phương pháp định lượng sẽ được xây

dựng dựa trên bộ câu hỏi của OECD (2015), sau đó hiệu chỉnh để phù hợp với

Việt Nam

Tác giả phỏng vấn sâu các chuyên gia về lĩnh vực dân trí tài chính và tài chính

cá nhân nhằm hiệu chỉnh bảng hỏi phù hợp với Việt Nam, làm rõ hơn nữa các mối

liên hệ định tính giữa các biến trong nghiên cứu và giải thích rõ được các kết quả

định lượng đạt được trong nghiên cứu này

3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết

3.2.1 Đo lường Dân trí tài chính

DTTC là sự kết hợp của kiến thức, thái độ và hành vi tài chính để có thể ra

quyết định tài chính và nâng cao mức độ “giàu có” của một cá nhân (well-being

financial)

Kiến thức tài chính được hiểu là những kiến thức về lí thuyết và thực tiễn cần

thiết để một cá nhân có thể đưa ra quyết định tài chính một cách hiệu quả

 H1: DTTC được thể hiện qua Kiến thức tài chính (reflective model)

Thái độ tài chính là những suy nghĩ hay niềm tin của một cá nhân về những

vấn đề, lĩnh vực tài chính, từ đó ảnh hưởng tới các hành vi và việc đưa ra quyết

định của cá nhân đó Điểm số thái độ tài chính cũng được đo lường trên thang đo

của Likert, dựa trên các thái độ tài chính tích cực của các đối tượng tham gia

nghiên cứu này

 H2: DTTC được thể hiện qua Thái độ tài chính (reflective model)

Hành vi tài chính là những tác động của chủ thể đối với sự biến động của nền

kinh tế xung quanh Thông qua các phản ứng của chủ thể đối với nền kinh tế,

chúng ta có thể nhận ra được độ nhạy cảm của chủ thể đối với nền kinh tế khi có

sự thay đổi

 H3: DTTC được thể hiện qua Hành vi tài chính (reflective model)

3.2.2 Các nhân tố tác động lên dân trí tài chính

Thu nhập

Thu nhập là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến DTTC được đề cập đến rất nhiều trong các nghiên cứu – kể cả trong nhánh nghiên cứu về vốn con người, các mô hình tăng trưởng nội sinh và lý thuyết về sinh kế bền vững Thu nhập có ảnh hưởng thuận chiều tới DTTC

 H4: Thu nhập có tác động cùng chiều lên DTTC

Trình độ học vấn

Thang đo bao gồm 5 mức trình độ học vấn: Chưa hoàn thành trung học, tốt nghiệp trung học, cao đẳng, đại học, sau đại học Các nghiên cứu trước đều cho rằng học vấn có tác động dương lên DTTC

 H5: Trình độ học vấn có tác động dương lên DTTC

• Việc làm

Những người có việc làm sẽ có điểm số DTTC cao hơn những đối tượng thất nghiệp và những người làm trong lĩnh vực tài chính và quản lý nhà nước có xu hướng có điểm số cao hơn những đối tượng còn lại

 H6: Việc làm có tác động lên DTTC

• Tuổi tác

Quan điểm về tác động của tuổi tác lên DTTC vẫn chưa thống nhất giữa các nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất giả thuyết

 H7: Tuổi tác có tác động lên DTTC

• Giới tính

Như vậy, giới tính là một nhân tố tác động lên DTTC đã được phát hiện trong một số nghiên cứu trước đây Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất giả thuyết

 H8: Giới tính có tác động lên DTTC

• Chủng tộc và tôn giáo

Chủng tộc là một trong những nhân tố ảnh hưởng lên DTTC nhưng chưa thống nhất Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất

 H9: Chủng tộc và tôn giáo có tác động lên DTTC

3.2.3 Tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

Các nghiên cứu về vốn con người, về mô hình tăng trưởng nội sinh đều đề cập

Trang 7

rằng học vấn nói chung có tác động lên thu nhập

 H10: DTTC có tác động lên thu nhập

3.3 Nghiên cứu sơ bộ

3.3.1 Nghiên cứu định tính sơ bộ

Nghiên cứu định tính được xác định bằng hình thức phỏng vấn sâu các chuyên

gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực DTTC, Tài chính cá nhân, tài chính vi mô và

các lĩnh vực chung thuộc khối kiến thức Tài chính - Ngân hàng

Kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ

Những nhân tố nhân khẩu học bao gồm: giới tính, tuổi tác, trình độc học vấn,

việc làm, thu nhập

Bảng hỏi cần nêu ra những vấn đề như sau:

Thứ nhất, về các lĩnh vực hoạt động của cá nhân được phỏng vấn tại vùng nông

thôn nên chia thành 9 lĩnh vực sau để đảm bảo tính bao quát của các ngành nghề:

(1) Lĩnh vực Quản lý hành chính (2) Lĩnh vực Công nghiệp (3) Lĩnh vực Nông

nghiệp (4) Lĩnh vực Kỹ thuật (5) Lĩnh vực Nghiên cứu khoa học và công nghệ (6)

Lĩnh vực Đào tạo (7) Lĩnh vực Y tế (8) Lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng (9) Lĩnh

vực khác

Thứ hai, học vân cần chia thành (1) Dưới tiểu học (2) Tiểu học/ Trung học cơ

sở (3) Trung học phổ thông (4) Trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề (5) Cao

đẳng và đại học (6) Trên đại học

Thứ ba, với các câu hỏi thuộc kiến thức tài chính, tác giả nên hiệu chỉnh trở

thành thang đo Likert 5 cấp độ, sau đó vẫn giữ nguyên ý tưởng của câu hỏi

Thứ tư, sau khi kiểm định thang đo của các nhân tố phản ánh (Kiến thức tài

chính, Thái độ tài chính, Hành vi tài chính), DTTC sẽ được tính bằng cách lấy

trung bình điểm số của các biến quan sát có ý nghĩa thống kê trong mô hình

3.3.2 Nghiên cứu định lượng thử nghiệm

a Bảng hỏi

Dựa vào quá trình nghiên cứu tổng quan, mục tiêu nghiên cứu, mô hình nghiên

cứu và kết quả phỏng vấn sâu sơ bộ, tác giả tiến hành phác thảo một bảng hỏi

Bảng hỏi được thiết kế dựa vào các nghiên cứu nước ngoài được dịch ra tiếng

Việt, sau đó hiệu chỉnh cho phù hợp với Việt Nam

- Bảng hỏi khảo sát đối tượng gồm 2 phần chính:

Phần 1: Thông tin chung bao gồm thông tin cá nhân như: giới tính, tuổi, trình

độ học vấn, việc làm, số năm kinh nghiệm, thu nhập và việc tiếp cận với các ứng dụng thanh toán điện tử hiện đại

Phần 2: đo lường kiến thức tài chính thông qua thang đo Likert 5 mức độ với

7 biến Thông tin thu thập từ nghiên cứu định lượng này sẽ được phân tích trên phần mềm SPSS 22 và AMOS 20

- Đối tượng khảo sát:

Đối tượng được chọn để tham gia nghiên cứu có độ tuổi từ 18 trở lên, thuộc đối tượng là hộ nghèo, và thỏa mãn điều kiện về thời gian: (1) tổng thời gian sống tại tỉnh Thái Bình phải bằng ít nhất ½ số tuổi và (2) hàng năm, thời gian sinh sống trong tỉnh phải ít nhất 6 tháng (không cần liên tục)

b Kết quả nghiên cứu định lượng thử nghiệm

Đối với bảng ma trận xoay từ phân tích nhân tố khám phá EFA, kết quả cho thấy các biến K6, K2, K7 và A3 được xếp vào cùng một thành phần nhân tố và được kết hợp thành nhân tố 3 Tuy nhiên, theo các tác giả nghiên cứu trước, các biến này có sự khác biệt về nội dung Vì vậy để có được thang đo hoàn chỉnh, tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn sâu lần 2 với các chuyên gia để làm rõ về vấn đề này Đồng thời, sau quá trình nghiên cứu định lượng thử nghiệm, các đối tượng khảo sát đã đưa ra những góp ý về cách diễn đạt của bảng hỏi

3.4 Nghiên cứu chính thức

3.4.1 Nghiên cứu định tính chính thức

a Mục tiêu phỏng vấn sâu

Thang đo và mô hình được kiểm định lại thêm một lần nữa thông qua kết quả của nghiên cứu sơ bộ cùng với ý kiến của các chuyên gia về tài chính vi mô và tài chính từ đó xác định lại sự phù hợp của các biến bao gồm định nghĩa, giả thuyết

và xu hướng tác động của các biến lên biến tiềm ẩn tại khu vực nông thôn Việt Nam

Đối tượng phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu được thực hiện với 11 chuyên gia trong lĩnh vực tài chính và giáo dục

b Kết quả phỏng vấn sâu Thứ nhất, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu tuy không thể hiện nhưng cần phải bao hàm đo lường dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam nên vẫn phải bao hàm đầy đủ các câu hỏi tương tự như của OECD (2013) làm lý thuyết nền tảng để nghiên cứu Do đó, khi khảo sát thì vẫn phải có các câu

Trang 8

hỏi cũ, nhưng khi kiểm định mô hình thì có thể loại bỏ nhóm này (đối với các biến

cần loại khỏi mô hình khi nghiên cứu thử nghiệm)

Thứ hai, khi các nhân tố nhỏ gộp lại thành 1 nhân tố lớn, bao gồm K1, K3 và

K5 (lạm phát, lãi suất tiền gửi và lãi suất trong trường hợp có lạm phát) thì sẽ có

mối quan hệ tác động bởi 3 nhân tố này thường đi kèm với nhau và nằm trong các

nhân tố tiết kiệm tiền của người nghèo khu vực nông thôn Nhóm nhân K6, K2,

K7 và A3 liên quan đến kế hoạch và khả năng sử dụng tiền của người dân nên vẫn

có thể chấp nhận được các vấn đề này Việc giải thích này tương tự như A2 và

A5; A1 và A4

Nhân tố K4 (tính toán lãi suất đơn) bị loại ra khỏi mô hình bởi hiện tại, đa phần

các khoản vay trên thị trường đều tính theo lãi gộp, hoặc tính lãi theo ngày Đây

là vấn đề phù hợp với Việt Nam

3.4.2 Nghiên cứu định lượng chính thức

Mô hình nghiên cứu chính thức

a Mẫu nghiên cứu

• Cách thức khảo sát

Phương thức khảo sát được tác giả sử dụng đó là phát bảng hỏi trực tiếp đến

từng đối tượng khảo sát Sau khi phát 600 bảng hỏi, tác giả nhận về 512 quan sát

phù hợp với nghiên cứu

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam

Số quan sát ý nghĩa còn lại là 512 quan sát Trong số này, nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với nam giới, do thời điểm hiện tại, vấn đề di dân nông thôn lên các vùng thành thị đã làm cho phụ nữ sinh sống ở khu vực nông thôn nhiều hơn hẳn nam giới Do đó, việc tác giả thu thập được 61,5% tổng số phiếu là nữ phù hợp với thực tế và các nghiên cứu trước đây Đối với khu vực, miền Bắc chiếm tỷ trọng 52%, miền Nam chiếm tỷ trọng 38%, số còn lại là miền Trung Về độ tuổi

từ 26-40 tuổi chiếm 42% là tỉ lệ lớn nhất, sau đó là độ tuổi từ 41-55 tuổi chiếm 35.2%, về trình độ học vốn đa phần là cao đẳng và đại học chiếm 49.2%, sau đó

là trung học phổ thông chiếm 20.1% Đối tượng khảo sát chủ yếu là người nghèo sống ở vùng nông thôn và đa số là đối tượng làm trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp nên mức thu chủ yếu là từ 3-5 triệu một tháng (chiếm 30.7%) và 1-3 triệu một tháng (chiếm 23.4%), còn lại là đối tượng có thu nhập từ 1 triệu trở xuống Tuy nhiên, đa phần nhóm đối tượng được phỏng vấn là đối tượng lao động chính trong gia đình, số lượng người phụ thuộc từ 1 – 3 người nên vẫn nằm trong đối tượng hộ nghèo

4.1.1 Thực trạng dân trí tài chính theo các nhân tố phản ánh

Đa số các biến quan sát Thái độ tài chính và Hành vi tài chính có giá trị trong khoảng [3.41;4.2] khá lớn, cho thấy phần lớn người dân đều đồng tình với ý kiến

từ thang đo Tuy nhiên, nhiều người được khảo sát lại có ý kiến trung lập về Thái

độ tài chính “Tôi phải dùng đa phần số tiền mà tôi có vào việc mua hàng hóa, đồ

ăn cho gia đình.” (độ trung bình 3.24) cho thấy thái độ với việc mua sắm hàng hóa của người dân

Với biến quan sát Kiến thức tài chính, toàn bộ các biến quan sát cũng đều có giá trị trong khoảng [3.65;4.1], tuy nhiên sự chênh lệch giữa điểm số trung bình giữa các câu là khá lớn, điều này thể hiện sự không chắc chắn của người điền khảo sát trong các câu hỏi về kiến thức tài chính Đặc biệt ở câu hỏi về kiến thức định nghĩa lạm phát K1, có tới 102/152 đối tượng trả lời “Tôi không chắc chắn” việc tiếp cận về những kiến thức tài chính như lạm phát, lãi suất,… của người dân còn khá hạn chế

4.1.2 Thực trạng các nhân tố tác động tới dân trí tài chính

Điểm số DTTC của nữ giới cao hơn nam giới là 0.0506 điểm Điều này cho

Trang 9

thấy, không có sự khác biệt quá rõ ràng giữa nam và nữ khi cùng đo lường về

DTTC Nhóm đối tượng có điểm số DTTC trung bình cao nhất nằm ở độ tuổi từ

56 - 70 tuổi và 41 - 55 tuổi, lần lượt là 4.069 và 3.871 điểm Nhóm có độ tuổi từ

18 - 25 tuổi có điểm số DTTC thấp nhất là 2.754 điểm

4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các nhân tố phản ánh

Thang đo “Kiến thức tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.729 và các hệ

số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 Thang đo “Kiến thức tài chính” đạt yêu

cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo

Thang đo “Thái độ tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.834 và các hệ số

tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 Thang đo “Thái độ tài chính” đạt yêu cầu

để thực hiện các phân tích tiếp theo

Thang đo “Hành vi tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.871 và các hệ

số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 Thang đo “Hành vi tài chính” đạt yêu

cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo

4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Kết quả EFA về Hành vi tài chính cho thấy 9 tiêu chí đo lường từ B1 đến B9

được tải vào một nhân tố với các hệ số tải lần lượt từ 0.592 đến 0.766 chứng tỏ

các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với nhân tố

Kết quả EFA về Thái độ tài chính cho thấy 5 tiêu chí đo lường từ A1 đến A5

được tải vào một nhân tố với các hệ số tải lần lượt từ 0.658 đến 0.838 chứng tỏ

các tuyên bố

Kết quả EFA về Kiến thức tài chính cho thấy 6 tiêu chí đo lường từ K1 đến K6

được tải vào hai nhân tố riêng biệt:

Nhân tố 1 (Nhân tố về lãi suất và lạm phát): bao gồm K2, K3, K1, K5 với hệ

số tải lần lượt từ 0.625 đến 0.844 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa

với các nhân tố

Nhân tố 2 (Nhân tố về rủi ro và chi phí cơ hội): bao gồm K7, K6 với hệ số tải

lần lượt là 0.883 và 0.855 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với các

nhân tố

4.2.2 Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

• Mô hình CFA bậc 1 đo lường các nhân tố phản ánh DTTC

Sau phân tích CFA thang đo DTTC bao gồm 4 thành phần nhân tố (Behavior,

Attitude, Knowledge_1, Knowledge_2) Kết quả phân tích CFA cho thấy các

thành phần của thang đo đều đạt được yêu cầu về giá trị cũng như độ tin cậy

• Mô hình CFA bậc 2 đo lường DTTC

Kết quả phân tích CFA các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp của mô hình cho thấy, giá trị Chi-square/df = <3, TLI=, CFI=, NFI= đều lớn hơn 0.9, hệ số RMSEA=

<0.08, vì thế mô hình có sự phù hợp với thị trường Kết quả các giá trị P-value của các biến quan sát biểu diễn các nhân tố đều có giá trị bằng 0.000 Hệ số độ tin cậy tổng hợp của thang đo đạt giá trị cao hơn 0.5, và hệ số phương sai trích nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận Có thể khẳng định thang đo đạt được giá trị hội

tụ và tính đơn hướng Như vậy, thang đo nghiên cứu đối với DTTC đã đảm bảo các yêu cầu phân tích

4.3 Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng

a Ước lượng mô hình hồi quy OLS

Tóm tắt mô hình định lượng chính thức

Mẫu R R bình

phương

R bình phương hiệu chỉnh

Sai số chuẩn của ước lượng

Durbin-Watson

Bộ dự báo: (hằng số), giáo dục, giới tính, tuổi, thu nhập

Biến phụ thuộc: Financial Literacy

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Từ bảng Model Summary b, ta thu thập được những kết quả sau:

- Giá trị Adjusted R Square đạt 32% Điều này nghĩa là các biến bao gồm giáo dục, giới tính, tuổi, thu nhập.ảnh hưởng 32% sự thay đổi của biến phụ thuộc DTTC, còn lại 68% là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên

- Giá trị Durbin - Watson của mô hình đạt 1.705 nằm trong khoảng từ 1 đến

3 đồng nghĩa với mô hình hồi quy tuyến tính đơn tốt

Bảng 4.12 Kiểm định ANOVA định lượng chính thức

Hàm hồi quy tuyến tính 60.980 000b

a Biến phụ thuộc:Financial Literacy

b Bộ dự báo: Hằng số, Trình độ giáo dục, Giới tính, Tuổi tác, Thu nhập

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Trang 10

Coefficients định lượng chính thức

Mẫu

Hệ số chưa chuẩn

hóa Hệ số Beta

chuẩn hóa

Giá trị

t

Giá trị Sig

Giá trị VIF Beta Độ lệch

chuẩn

Giới tính 0.019 0.036 0.020 0.537 0.591 1.007

Tuổi 0.021 0.001 0.515 13.874 0.000 1.036

Thu nhập 0.038 0.012 0.118 3.138 0.001 1.065

Trình độ

học vấn 0.036 0.013 0.099 2.647 0.008 1.055

(Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

a Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

Hình 4.4 Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Hệ số hồi quy đã chuẩn hóa của các biến độc lập cho thấy, mức độ tác động

của Tuổi tác lên DTTC là 1.182, lớn nhất trong tất cả yếu tố Mức độ ảnh hưởng

của trình độ học vấn và tuổi tác lần lượt là 0.321 và 0.133 Các chỉ tiêu đo lường

độ phù hợp của mô hình cho thấy, giá trị Chi-square/df= 2.861<3, GFI= 0.904, CFI=0.906 đều lớn hơn 0.9, TLI nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận được, hệ số RMSEA= 0.060<0.08, vì thế mô hình đạt được sự phù hợp dữ liệu thị trường Kết quả của các giá trị P-value của các biến độc lập đều có giá trị thấp hơn giá trị 0.05,

do đó các biến độc lập đều thể hiện sự ảnh hưởng tới biến phụ thuộc là DTTC

b Kiểm định độ tin cậy của mô hình với phương pháp Bootstrap

Kết quả ước lượng mô hình qua Bootstrap với n= 1000

SE-Bias

Critical Ratios

Financial_Literacy

< - Age .148 .003 1.105 .027 .005 0.54 Financial_Literacy

< - Income .082 .002 .291 .002 .003 0.67 Financial Literacy

< - Education .066 .001 .131 .003 .002 1.5

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Kiểm định này giúp đánh giá lại độ tin cậy của các ước lượng trong mô hình với mẫu lặp lại N=1000 Qua bảng trên, các hệ số CR đều bé hơn 1.96 từ đó có thể kết luận từ kết quả ước lượng mô hình, sự chênh lệch của nhóm hệ số trong

mô hình với 1000 quan sát rất nhỏ Suy ra, mô hình DTTC vẫn có ý nghĩa đối với

cỡ mẫu lớn

4.4 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

4.4.1 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

Tóm tắt mô hình tác động của DTTC lên thu nhập

phương

R bình phương hiệu chỉnh

Sai số chuẩn của ước lượng

Bộ dự đoán: Hằng số, Financial Literacy Biến phụ thuộc: Thu nhập

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Ngày đăng: 12/09/2020, 00:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hỏi cũ, nhưng khi kiểm định mô hình thì có thể loại bỏ nhóm này (đối với các biến cần loại khỏi mô hình khi nghiên cứu thử nghiệm) - Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn việt nam tt
h ỏi cũ, nhưng khi kiểm định mô hình thì có thể loại bỏ nhóm này (đối với các biến cần loại khỏi mô hình khi nghiên cứu thử nghiệm) (Trang 8)
a. Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) - Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn việt nam tt
a. Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w