Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả sẽ tập trung vào các vấn đề sau đây: • Tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến DTTC đối với người
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian gần đây, tài chính toàn diện được coi là trụ cột quan trọng của tăng
trưởng kinh tế, thúc đẩy tài chính và giảm nghèo bền vững, vì thế tài chính toàn
diện là trọng tâm ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới Có thể thấy rằng, DTTC
có tác động tích cực đến giảm nghèo thông qua tăng thu nhập của người dân – đặc
biệt tại nhóm nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế đang chuyển đổi Nghiên
cứu về DTTC đa phần được thực hiện tại các nước OECD hoặc chỉ các nước như
Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu Từ kết quả đo lường, các nghiên cứu
trước đã đưa ra một số hàm ý chính sách lớn, trong đó nhấn mạnh vào việc xây
dựng thói quen tiết kiệm đối với người dân có thu nhập thấp tại các vùng được
điều tra khảo sát Tuy nhiên, các nghiên cứu này đa phần lại bỏ qua các nền kinh
tế ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á (trừ Nhật Bản và Singapore), vốn có nền
văn hóa khác biệt so với các nước phương Tây, thể hiện ở (1) chịu ảnh hưởng lớn
của Nho giáo và Phật giáo nên mối quan hệ của từng thành viên trong gia đình rất
bền chặt, và hướng chi tiêu (thể hiện 1 phần của dân trí tài chính) phụ thuộc nhiều
vào ý kiến của người xung quanh; (2) Vốn có thói quen tiết kiệm nhiều hơn tiêu
dùng Những đặc điểm nhân khẩu học hoàn toàn khác biệt này đã dẫn đến vấn đề
(1) sự thất bại trong việc hiểu các bảng hỏi của người dân khu vực Đông Á và
Đông Nam Á so với các nước phương Tây, từ đó không thể đánh giá được chính
xác về DTTC, và cũng không xác định được cụ thể các nhân tố ảnh hưởng (2)
những hàm ý chính sách liên quan đến phát triển DTTC không thể thực hiện được
như đào tạo về việc tiết kiệm tiền tại các khu vực có thu nhập thấp – vì tỉ lệ tiết
kiệm của người dân tại đây (so với thu nhập) rất cao!
Tại Việt Nam, DTTC được đề cập trong một số ít các nghiên cứu, và thường
tập trung vào “đào tạo về tài chính” chứ không phải DTTC hoặc đánh giá tác động
của DTTC lên thu nhập của nhóm đối tượng được khảo sát Tuy nhiên, điều dễ
nhận thấy: tại các vùng nghèo thì kể cả người dân có kiến thức tài chính tốt nhưng
thu nhập vẫn thấp, bởi thái độ và hành vi về tài chính của nhóm đối tượng này
không cao Người nghèo tại khu vực nông thôn tiếp cận rất hạn chế các dịch vụ
này, và thái độ ứng xử cũng như hành vi sử dụng với các dịch vụ này mang tính
chất mơ hồ rất cao
Luận án này sẽ tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam (trong đó có các nhân tố phản ánh – là những nội dung cấu thành nên DTTC), cũng như đánh giá ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập Đồng thời, luận án đưa ra những hàm ý chính sách để phát triển DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn để hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Để thực hiện mục tiêu trên, luận án sẽ sử dụng một khái niệm DTTC thống nhất và hiệu chỉnh cách đo lường cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu Do đó, đây sẽ là nguồn bổ sung về cả lí thuyết lẫn thực tiễn cho nhánh nghiên cứu về DTTC tại Việt Nam cũng như trên thế giới
2 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ những nhân tố tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm phát triển DTTC của đối tượng này
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả sẽ tập trung vào các vấn đề sau đây:
• Tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn tại Việt Nam, trong đó có các nhân tố phản ánh, bao gồm kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính
• Đo lường ảnh hưởng của trình độ DTTC đến thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam
• Đưa ra các hàm ý chính sách sau khi đối chiếu các cấu phần và nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này trả lời cho những câu hỏi sau:
• Có những nhân tố nào ngoài nhân tố nhân khẩu học tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam? Bản thân từng cấu phần trong DTTC (bao gồm thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính) có tác động gì đến DTTC?
Trang 2• DTTC có tác động thế nào đến thu nhập của người nghèo tại khu vực nông
thôn Việt Nam (thông qua chỉ tiêu thu nhập của cá nhân, hộ gia đình)?
• Những hàm ý chính sách nào cần được đưa ra để nâng cao DTTC của người
nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông
thôn
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: tập trung vào khu vực nông thôn Việt Nam
Nghị định số 55/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về khái niệm nông thôn là phần
lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản
lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã (Chính phủ, 2015) Trong phạm vi nghiên
cứu, tác giả sẽ nghiên cứu về những đối tượng có hộ khẩu và thường trú tại vùng
nông thôn Các cá nhân này phải đáp ứng được cả 2 điều kiện về thời gian: (1) có
ít nhất 1 nửa thời gian sinh sống đến hiện tại ở vùng nông thôn; (2) trong 1 năm,
phải có ít nhất 6 tháng sinh sống ở vùng nông thôn
Người nghèo khu vực nông thôn: được xác định theo quyết định
59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 (Thủ
tướng Chính phủ, 2015); tức là người dân sống ở vùng nông thôn có thu nhập thấp
hơn 700.000 đồng/tháng đối với bình quân một người, và không quá 1.000.000
nếu thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản trở lên
Về thời gian: Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2019 Thời gian khảo sát
tiến hành 2 lần: khảo sát sơ bộ trong vòng 1 tuần, từ ngày 07/03/2019 – 14/03/2019
tại tỉnh Thái Bình Lần khảo sát chính thức trong vòng 3 tháng, từ tháng 5 đến
tháng 8 năm 2019 Nghiên cứu chính thức được tiến hành trên phạm vi cả nước
5 Cách tiếp cận
Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, tác giả dựa trên các học thuyết ban đầu về kinh
tế học Trong giai đoạn những năm 1980 – 1990, nhóm học giả thuộc trường phái
Washington Concencus (Đồng thuận Washington) đã phát triển quan điểm về tiếp cận các dịch vụ tài chính và tài chính toàn diện, giúp các cá nhân có thể đầu tư hoặc sử dụng tốt hơn các dịch vụ trên thị trường, từ đó giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế tự do Luận án sẽ tiếp cận hướng nghiên cứu từ phía bên cầu của các dịch vụ tài chính
Ngoài ra, luận án này cũng tiếp cận theo khía cạnh sinh kế bền vững và vốn con người, do sinh kế bền vững được phát triển dựa trên các lý thuyết về xóa đói
giảm nghèo, và lấy con người làm trung tâm của vấn đề phát triển bền vững CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH 1.1 Các nghiên cứu về tài chính hành vi
Vì DTTC bao gồm 3 khía cạnh: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành
vi tài chính nên nhóm nghiên cứu đầu tiên, có liên quan là các nghiên cứu về tài chính hành vi – dùng để giải thích hành vi của các nhà đầu tư (sau khi đã có được kiến thức tài chính) trên thị trường, đặc biệt thị trường chứng khoán cũng như các khoản đầu tư trên các thị trường khác Các nghiên cứu về tài chính hành vi đã chỉ
ra rằng, các cá nhân khi đưa ra các quyết định về tài chính thì thường:
Thứ nhất, có khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếm được nhiều lợi nhuận
Thứ hai, có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyết định này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng
1.2 Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô
Đối với nhánh nghiên cứu về nghèo đói cũng như các biện pháp để xóa đói giảm nghèo bằng cách hỗ trợ tài chính, đây là một nhánh nghiên cứu quan trọng Tuy nhiên, tài chính vi mô không có nền tảng lí thuyết gốc rõ rệt, mà phải dựa vào
1 số các nhánh nghiên cứu sau đây:
Đầu tiên, là nhánh nghiên cứu về đào tạo kiến thức cho con người (trong đó
có đào tạo tài chính để hình thành nên kiến thức tài chính) và minh chứng rằng đây là nền tảng của phát triển bền vững Nhánh nghiên cứu về vốn con người cho rằng nếu không phát triển con người thì khó có thể phát triển kinh tế bền vững, bởi nếu không có nhân tố con người thì không thể sử dụng hiệu quả vốn vật chất:
ví dụ như đất đai, máy móc… thì vẫn phải “vận hành” bởi con người
Nhánh nghiên cứu thứ hai mà tài chính vi mô dựa vào nền tảng là nhánh nghiên cứu về sinh kế bền vững. Nhóm nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát
Trang 3triển trên nền tảng của các nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo Trong các nghiên
cứu thuộc nhóm này, đa phần các tác giả đều đồng thuận: các luận điểm chính của
sinh kế bền vững bao gồm: (1) các cá nhân, hộ gia đình sử dụng các nguồn lực
hiện tại (con người, tài chính, tự nhiên, vật chất và các yếu tố xã hội) nhằm ứng
phó với những thay đổi của thiên nhiên và thị trường nhằm đạt được sinh kế bền
vững (2) Con người là yếu tố cốt lõi trong khung sinh kế bền vững, do vậy, để có
được một khung sinh kế thì chính phủ phải đưa ra các chương trình trợ cấp liên
quan đến việc tạo lập cho người nghèo một khả năng để có thể tự phát triển được
hoạt động sản xuất kinh doanh trong lâu dài Nhóm nghiên cứu này là nền tảng
chính về tài chính vi mô (3) Vì con người là vấn đề trung tâm trong sinh kế, nên
việc xóa đói giảm nghèo phải hướng đến việc tạo lập cho các cá thể trong nền
kinh tế một nền tảng vững chắc về thể chế, môi trường, xã hội và kinh tế, trong
đó phải có yếu tố giáo dục về tài chính và cách thức sinh hoạt
1.3 Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính
Do chưa có sự thống nhất trong nội hàm của DTTC nên các nghiên cứu về
DTTC thường không phân thành các trường phái, nhưng về cơ bản có thể chia
thành các nhóm nhỏ: (1) nghiên cứu về yếu tố tác động đến DTTC; (2) tác động
của DTTC lên thu nhập
1.4 Khoảng trống nghiên cứu
Thứ nhất, về nội hàm của DTTC chưa thống nhất trong các nghiên cứu
Khoảng trống giữa các nhân tố phản ánh DTTC – tức là bản thân DTTC được bao
gồm 3 yếu tố là Thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính – và 3
nhân tố này phản ánh ra sao lên DTTC Cũng chính vì thế, nên đã xuất hiện khoảng
trống về phương pháp tiếp cận để đánh giá về dân trí tài chính
Thứ hai, việc phân tích và trình bày các kết quả đánh giá của các nghiên cứu
tập trung nhiều đến phân tích định tính
Thứ ba, những đặc trưng riêng của Việt Nam có ảnh hưởng đến DTTC chưa
được đề cập đến trong các nghiên cứu đã công bố
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI
NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN 2.1 Khái quát về người nghèo khu vực nông thôn
2.1.1 Khái quát về khu vực nông thôn
Khu vực nông thôn gồm các xã thuộc các huyện sau khi đã điều chỉnh địa giới hành chính nhằm tránh tình trạng có các cá nhân thuộc khu vực thành thị Thêm vào đó, cá nhân thuộc khu vực nông thôn trong luận án này được hiểu
là những người có hộ khẩu thường trú tại khu vực nông thôn và có thời gian thực trú tại địa bàn là ít nhất 6 tháng/năm Việc này nhằm tránh tình trạng các cá nhân
đi học xa (trường hợp học sinh – sinh viên tham gia học tập tại các cơ sở giáo dục); hoặc có mức thu nhập không mang lại từ khu vực nông thôn
2.1.2 Người nghèo khu vực nông thôn
Quan điểm về nghèo đói: người nghèo sẽ là người có thu nhập không quá 700.000 đồng/người/tháng hoặc 1.000.000 đồng/người/tháng khi thiếu hụt 3 trong
5 tiêu chí sau đây: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin
2.2 Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn
2.2.1 Khái niệm Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn
OECD (2013) định nghĩa DTTC là việc kết hợp của nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ, và hành vi cần để ra quyết định tài chính và cuối cùng đạt được sự
“giàu có” tài chính cá nhân Kết hợp từ những nghiên cứu trên, những năm gần đây, định nghĩa về DTTC đã được phát triển hơn Một số khác định nghĩa DTTC
là tổng hợp của sự nhận thức, thái độ và kỹ năng của cá nhân về những vấn đề tài chính
Tóm lại, DTTC sẽ bao gồm 3 khía cạnh là kiến thức tài chính, thái độ tài chính
và hành vi tài chính
2.2.2 Nội dung dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn
Kiến thức tài chính (financial knowledge) là mức độ hiểu biết của chủ thể đối
với các khái niệm của các thuật ngữ trong tài chính (lãi suất, trái phiếu ) và phương thức hoạt động của các tổ chức tài chính (ngân hàng, tổ chức tín dụng, ) Như vậy, kiến thức tài chính sẽ là yếu tố tiền đề để hình thành hành vi và thái độ tài chính của chủ thể
Thái độ tài chính (financial attitude) là quan điểm của chủ thể đối với sự diễn
ra của tình hình tài chính xung quanh Ví dụ như nhận định của chính phủ về tình
Trang 4hình chuyển biến của nền kinh tế, Việc xác định thái độ của chủ thể đối với tình
hình kinh tế tài chính là hệ quả của kiến thức tài chính của chủ thể đó, tạo tiền đề
cho hành vi tài chính của chủ thể đó
Hành vi tài chính (financial behavior) được hiểu là những tác động của chủ thể
đối với sự biến động của nền kinh tế xung quanh Thông qua các phản ứng của
chủ thể đối với nền kinh tế, chúng ta có thể nhận ra được độ nhạy cảm của chủ
thể đối với nền kinh tế khi có sự thay đổi
Như vậy, dựa trên các quan điểm về dân trí tài chính, nghèo đói và khu vực
nông thôn, thì trong luận án này, tác giả quan niệm rằng DTTC được cấu thành
bởi ba bộ phận là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính Dân
trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn được hiểu là việc áp dụng kiến
thức tài chính và thái độ tài chính vào các hành vi tài chính của các đối tượng
nằm trong chuẩn nghèo tuyệt đối và có thời gian thực trú tại vùng nông thôn đảm
bảo 2 điều kiện (1) ít nhất một nửa thời gian sinh sống đến hiện tại là ở vùng nông
thôn và (2) trong 1 năm có ít nhất 6 tháng sống ở vùng nông thôn
2.2.3 Các phương pháp đo lường dân trí tài chính
Phương pháp FILS
Phương pháp này sử dụng CFA (phương pháp thử nghiệm giả thuyết để kiểm
tra giả thiết và giả thuyết về cấu trúc mô hình bằng các yếu tố chất lượng do đó
cho thấy chất lượng của việc điều chỉnh mô hình của các biến biểu hiện theo phân
bổ cho các biến tiềm ẩn cụ thể)
Phương pháp FSA
FSA là phương pháp đo lường DTTC dựa trên 5 vấn đề chính yếu: (1) Giám
sát tài chính; (2) Đảm bảo chi tiêu; (3) Lập kế hoạch trước; (4) Chọn sản phẩm;
(5) Luôn cập nhật
Phương pháp bảng hỏi
Đây là phương pháp sử dụng các bảng hỏi để đo lường DTTC Dựa trên các
câu hỏi tập trung vào các chủ đề về tài chính như lãi suất, thời hạn đầu tư…
2.3 Vai trò của dân trí tài chính
2.3.1 Tác động lên các đối tượng của nền kinh tế
● Tác động lên hành vi tài chính của người có thu nhập trung bình - thấp
Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng những người có DTTC kém thường có những
khoản chi tiêu, đầu tư không hiệu quả gây lãng phí vốn và ảnh hưởng tới thu nhập
của chủ thể đó Những người, khu vực có DTTC cao thường có hiểu biết rộng về những vấn đề tài chính và các phương thức đầu tư, tiết kiệm
● Tác động đến năng suất của người lao động
Trình độ DTTC cao làm gia tăng tính hiệu quả, hiệu suất của công việc và sẽ giúp người lao động hiểu rõ hơn về lợi ích mà tổ chức mang lại và cải thiện sự hài lòng của họ Việc nâng cao DTTC có tác động tích cực đến mọi người trong cuộc sống cá nhân và công việc DTTC cao giúp giảm áp lực xã hội và tâm lý và tăng phúc lợi cho các hộ gia đình Lợi thế lớn nhất của việc nâng cao DTTC là làm giảm đi các sai lầm trong tài chính của nhân viên và khiến họ có trách nhiệm hơn trong việc quản lý tài chính cá nhân, điều này sẽ góp phần làm tăng chất lượng sống của các hộ gia đình
2.3.2 Tác động lên tổng thể nền kinh tế
● Bảo vệ người tiêu dùng khỏi sự thiếu hụt tài chính gây ra những vụ lừa đảo
Bằng cách tăng DTTC thông qua cả kỹ năng, thái độ và hành vi và tài chính
sẽ góp phần làm tăng khả năng bảo vệ tài chính người tiêu dùng – nhất là nhóm người khó có khả năng tiếp cận dịch vụ tài chínhchính thức (thường là người nghèo ở khu vực nông thôn)
● Thay đổi thói quen giữ tiền nhàn rỗi
Dân số có kiến thức tài chính tốt hơn có khả năng sử dụng khoản tiền nhàn rỗi như một khoản vốn đầu tư trong nướcgiảm sự phụ thuộc vào vốn nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô cũng cho thấy, khi người nghèo hoặc người dân khu vực nông thôn được đào tạo về các sản phẩm tài chính thì sẽ có khả năng sử dụng đồng tiền nhàn rỗi tốt hơn thông qua mở rộng
tỷ lệ tiết kiệm, từ đó hướng đến mục tiêu sử dụng khoản vay và tiến tới xóa đói giảm nghèo
2.3.3 Đối với thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn
a Kiến thức
Kiến thức là một phần cơ bản tạo nên vốn con người, nên tác động của kiến thức lên thu nhập rất rõ ràng, nhất là trong nhánh nghiên cứu về vốn con người Các nghiên cứu đều có đồng quan điểm rằng số năm đi học và kinh nghiệm làm việc ảnh hưởng cùng chiều lên thu nhập của họ Như vậy, kiến thức tài chính, một khía cạnh trong DTTC có ảnh hưởng cùng chiều đến thu nhập của các đối tượng trong nền kinh tế
Trang 5b Thái độ
Đối với nhánh nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo, đặc biệt về sinh kế bền vững
và tài chính vi mô sau này, đều cho rằng thái độ của các cá nhân có ảnh hưởng
đến thu nhập Đối với những cá nhân có thái độ thận trọng và hiểu biết đầy đủ các
thông tin sẽ chi tiêu ít hơn khi thu nhập cao, xu hướng tiết kiệm tăng và sẽ sử dụng
khoản tiết kiệm đó khi thu nhập giảm
c Hành vi
Trong nhánh nghiên cứu về vốn con người, những người có hành vi sai lệch
trong việc đầu tư cũng như không có hành vi gì đối với tài chính đều ảnh hưởng
xấu tới thu nhập Những hành vi và quyết định tài chính trên có ảnh hưởng trực
tiếp đến thu nhập
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến dân trí tài chính
2.4.1 Trình độ học vấn
Kết quả của những nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng trình độ học vấn là một yếu
tố ảnh hưởng tích cực lên DTTC của một cá nhân; những nhóm đối tượng có trình
độ giáo dục càng cao thì tỷ lệ trả lời đúng những câu hỏi về tài chính càng cao
2.4.2 Thu nhập
Thu nhập là một trong những yếu tố tác động lên điểm số DTTC của một cá
nhân Những đối tượng có thu nhập cao hơn thường có xu hướng có điểm số
DTTC cao hơn và ngược lại Tuy nhiên, các nghiên cứu trên cũng chỉ ra một thực
trạng rằng, điểm số DTTC và tỉ lệ những người có kiến thức tài chính chính xác
vẫn còn thấp, thậm chí ở nhóm đối tượng có thu nhập cao nhất Điều này đặt ra
yêu cầu phải nâng cao và cải thiện DTTC không chỉ ở những người có thu nhập
thấp mà còn ở cả những nhóm đối tượng có thu nhập trung bình và thu nhập cao
2.4.3 Việc làm
Nhóm đối tượng có việc làm, đặc biệt là liên quan đến kinh tế và tài chính
thường có những kiến thức tài chính chính xác và thỏa đáng hơn, dẫn đến điểm
số DTTC cũng cao hơn nhóm đối tượng không có việc làm
2.4.4 Tuổi tác
Tuổi tác là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến DTTC được đề cập rất nhiều
trong các nghiên cứu ở trên thế giới Tuy vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn,
nhưng nhiều các nghiên cứu đều đồng tình với quan điểm cho rằng: Điểm số
DTTC sẽ cao nhất ở độ tuổi trung niên và thấp dần đi ở những độ tuổi trẻ hơn
hoặc già hơn
2.4.5 Giới tính
Một số quan điểm cho rằng có sự khác biệt về điểm số DTTC giữa nữ giới và nam giới Cụ thể, phụ nữ thường có DTTC thấp hơn đàn ông trong đa số các trường hợp Hơn thế nữa, phụ nữ còn đưa ra những câu trả lời không xác định cho những vấn đề liên quan đến tài chính Tuy nhiên, một số khác lại đưa ra một quan điểm ngược lại khi nhận định rằng ảnh hưởng của giới tính lên điểm số DTTC là không rõ ràng Nghiên cứu đưa ra điểm số trung bình của nữ giới là 47,87, ở nam giới là 49,02 Như vậy, ảnh hưởng của giới tính lên DTTC vẫn là một trong những nhân tố chưa có được sự thống nhất giữa các nghiên cứu về DTTC trên thế giới
2.4.6 Chủng tộc và tôn giáo
Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng chủng tộc và tôn giáo là nhân tố tạo ra ảnh hưởng lên DTTC Tuy nhiên, sự khác biệt về phương pháp đo lường và việc chia mẫu đo lường khiến cho kết quả các nghiên cứu này chưa thật sự thống nhất và rõ ràng
Trang 6CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu này kết hợp cả hai phương pháp là nghiên cứu định tính và nghiên
cứu định lượng Trên cơ sở tổng hợp và phát triển các lý thuyết từ các nghiên cứu
trước cũng như các lý thuyết DTTC, tác giả đã phân tích định tính các yếu tố ảnh
hưởng đến DTTC và ảnh hưởng của DTTC đến thu nhập của người dân ở vùng
nông thôn
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng, mô hình hóa những dữ liệu điều
tra về các cá nhân để có những thông tin về DTTC và thu nhập của đối tượng
nghiên cứu Bộ chỉ số đo lường DTTC theo phương pháp định lượng sẽ được xây
dựng dựa trên bộ câu hỏi của OECD (2015), sau đó hiệu chỉnh để phù hợp với
Việt Nam
Tác giả phỏng vấn sâu các chuyên gia về lĩnh vực dân trí tài chính và tài chính
cá nhân nhằm hiệu chỉnh bảng hỏi phù hợp với Việt Nam, làm rõ hơn nữa các mối
liên hệ định tính giữa các biến trong nghiên cứu và giải thích rõ được các kết quả
định lượng đạt được trong nghiên cứu này
3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết
3.2.1 Đo lường Dân trí tài chính
DTTC là sự kết hợp của kiến thức, thái độ và hành vi tài chính để có thể ra
quyết định tài chính và nâng cao mức độ “giàu có” của một cá nhân (well-being
financial)
Kiến thức tài chính được hiểu là những kiến thức về lí thuyết và thực tiễn cần
thiết để một cá nhân có thể đưa ra quyết định tài chính một cách hiệu quả
H1: DTTC được thể hiện qua Kiến thức tài chính (reflective model)
Thái độ tài chính là những suy nghĩ hay niềm tin của một cá nhân về những
vấn đề, lĩnh vực tài chính, từ đó ảnh hưởng tới các hành vi và việc đưa ra quyết
định của cá nhân đó Điểm số thái độ tài chính cũng được đo lường trên thang đo
của Likert, dựa trên các thái độ tài chính tích cực của các đối tượng tham gia
nghiên cứu này
H2: DTTC được thể hiện qua Thái độ tài chính (reflective model)
Hành vi tài chính là những tác động của chủ thể đối với sự biến động của nền
kinh tế xung quanh Thông qua các phản ứng của chủ thể đối với nền kinh tế,
chúng ta có thể nhận ra được độ nhạy cảm của chủ thể đối với nền kinh tế khi có
sự thay đổi
H3: DTTC được thể hiện qua Hành vi tài chính (reflective model)
3.2.2 Các nhân tố tác động lên dân trí tài chính
● Thu nhập
Thu nhập là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến DTTC được đề cập đến rất nhiều trong các nghiên cứu – kể cả trong nhánh nghiên cứu về vốn con người, các mô hình tăng trưởng nội sinh và lý thuyết về sinh kế bền vững Thu nhập có ảnh hưởng thuận chiều tới DTTC
H4: Thu nhập có tác động cùng chiều lên DTTC
● Trình độ học vấn
Thang đo bao gồm 5 mức trình độ học vấn: Chưa hoàn thành trung học, tốt nghiệp trung học, cao đẳng, đại học, sau đại học Các nghiên cứu trước đều cho rằng học vấn có tác động dương lên DTTC
H5: Trình độ học vấn có tác động dương lên DTTC
• Việc làm
Những người có việc làm sẽ có điểm số DTTC cao hơn những đối tượng thất nghiệp và những người làm trong lĩnh vực tài chính và quản lý nhà nước có xu hướng có điểm số cao hơn những đối tượng còn lại
H6: Việc làm có tác động lên DTTC
• Tuổi tác
Quan điểm về tác động của tuổi tác lên DTTC vẫn chưa thống nhất giữa các nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất giả thuyết
H7: Tuổi tác có tác động lên DTTC
• Giới tính
Như vậy, giới tính là một nhân tố tác động lên DTTC đã được phát hiện trong một số nghiên cứu trước đây Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất giả thuyết
H8: Giới tính có tác động lên DTTC
• Chủng tộc và tôn giáo
Chủng tộc là một trong những nhân tố ảnh hưởng lên DTTC nhưng chưa thống nhất Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất
H9: Chủng tộc và tôn giáo có tác động lên DTTC
3.2.3 Tác động của dân trí tài chính lên thu nhập
Các nghiên cứu về vốn con người, về mô hình tăng trưởng nội sinh đều đề cập
Trang 7rằng học vấn nói chung có tác động lên thu nhập
H10: DTTC có tác động lên thu nhập
3.3 Nghiên cứu sơ bộ
3.3.1 Nghiên cứu định tính sơ bộ
Nghiên cứu định tính được xác định bằng hình thức phỏng vấn sâu các chuyên
gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực DTTC, Tài chính cá nhân, tài chính vi mô và
các lĩnh vực chung thuộc khối kiến thức Tài chính - Ngân hàng
Kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ
Những nhân tố nhân khẩu học bao gồm: giới tính, tuổi tác, trình độc học vấn,
việc làm, thu nhập
Bảng hỏi cần nêu ra những vấn đề như sau:
Thứ nhất, về các lĩnh vực hoạt động của cá nhân được phỏng vấn tại vùng nông
thôn nên chia thành 9 lĩnh vực sau để đảm bảo tính bao quát của các ngành nghề:
(1) Lĩnh vực Quản lý hành chính (2) Lĩnh vực Công nghiệp (3) Lĩnh vực Nông
nghiệp (4) Lĩnh vực Kỹ thuật (5) Lĩnh vực Nghiên cứu khoa học và công nghệ (6)
Lĩnh vực Đào tạo (7) Lĩnh vực Y tế (8) Lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng (9) Lĩnh
vực khác
Thứ hai, học vân cần chia thành (1) Dưới tiểu học (2) Tiểu học/ Trung học cơ
sở (3) Trung học phổ thông (4) Trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề (5) Cao
đẳng và đại học (6) Trên đại học
Thứ ba, với các câu hỏi thuộc kiến thức tài chính, tác giả nên hiệu chỉnh trở
thành thang đo Likert 5 cấp độ, sau đó vẫn giữ nguyên ý tưởng của câu hỏi
Thứ tư, sau khi kiểm định thang đo của các nhân tố phản ánh (Kiến thức tài
chính, Thái độ tài chính, Hành vi tài chính), DTTC sẽ được tính bằng cách lấy
trung bình điểm số của các biến quan sát có ý nghĩa thống kê trong mô hình
3.3.2 Nghiên cứu định lượng thử nghiệm
a Bảng hỏi
Dựa vào quá trình nghiên cứu tổng quan, mục tiêu nghiên cứu, mô hình nghiên
cứu và kết quả phỏng vấn sâu sơ bộ, tác giả tiến hành phác thảo một bảng hỏi
Bảng hỏi được thiết kế dựa vào các nghiên cứu nước ngoài được dịch ra tiếng
Việt, sau đó hiệu chỉnh cho phù hợp với Việt Nam
- Bảng hỏi khảo sát đối tượng gồm 2 phần chính:
Phần 1: Thông tin chung bao gồm thông tin cá nhân như: giới tính, tuổi, trình
độ học vấn, việc làm, số năm kinh nghiệm, thu nhập và việc tiếp cận với các ứng dụng thanh toán điện tử hiện đại
Phần 2: đo lường kiến thức tài chính thông qua thang đo Likert 5 mức độ với
7 biến Thông tin thu thập từ nghiên cứu định lượng này sẽ được phân tích trên phần mềm SPSS 22 và AMOS 20
- Đối tượng khảo sát:
Đối tượng được chọn để tham gia nghiên cứu có độ tuổi từ 18 trở lên, thuộc đối tượng là hộ nghèo, và thỏa mãn điều kiện về thời gian: (1) tổng thời gian sống tại tỉnh Thái Bình phải bằng ít nhất ½ số tuổi và (2) hàng năm, thời gian sinh sống trong tỉnh phải ít nhất 6 tháng (không cần liên tục)
b Kết quả nghiên cứu định lượng thử nghiệm
Đối với bảng ma trận xoay từ phân tích nhân tố khám phá EFA, kết quả cho thấy các biến K6, K2, K7 và A3 được xếp vào cùng một thành phần nhân tố và được kết hợp thành nhân tố 3 Tuy nhiên, theo các tác giả nghiên cứu trước, các biến này có sự khác biệt về nội dung Vì vậy để có được thang đo hoàn chỉnh, tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn sâu lần 2 với các chuyên gia để làm rõ về vấn đề này Đồng thời, sau quá trình nghiên cứu định lượng thử nghiệm, các đối tượng khảo sát đã đưa ra những góp ý về cách diễn đạt của bảng hỏi
3.4 Nghiên cứu chính thức
3.4.1 Nghiên cứu định tính chính thức
a Mục tiêu phỏng vấn sâu
Thang đo và mô hình được kiểm định lại thêm một lần nữa thông qua kết quả của nghiên cứu sơ bộ cùng với ý kiến của các chuyên gia về tài chính vi mô và tài chính từ đó xác định lại sự phù hợp của các biến bao gồm định nghĩa, giả thuyết
và xu hướng tác động của các biến lên biến tiềm ẩn tại khu vực nông thôn Việt Nam
Đối tượng phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu được thực hiện với 11 chuyên gia trong lĩnh vực tài chính và giáo dục
b Kết quả phỏng vấn sâu Thứ nhất, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu tuy không thể hiện nhưng cần phải bao hàm đo lường dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam nên vẫn phải bao hàm đầy đủ các câu hỏi tương tự như của OECD (2013) làm lý thuyết nền tảng để nghiên cứu Do đó, khi khảo sát thì vẫn phải có các câu
Trang 8hỏi cũ, nhưng khi kiểm định mô hình thì có thể loại bỏ nhóm này (đối với các biến
cần loại khỏi mô hình khi nghiên cứu thử nghiệm)
Thứ hai, khi các nhân tố nhỏ gộp lại thành 1 nhân tố lớn, bao gồm K1, K3 và
K5 (lạm phát, lãi suất tiền gửi và lãi suất trong trường hợp có lạm phát) thì sẽ có
mối quan hệ tác động bởi 3 nhân tố này thường đi kèm với nhau và nằm trong các
nhân tố tiết kiệm tiền của người nghèo khu vực nông thôn Nhóm nhân K6, K2,
K7 và A3 liên quan đến kế hoạch và khả năng sử dụng tiền của người dân nên vẫn
có thể chấp nhận được các vấn đề này Việc giải thích này tương tự như A2 và
A5; A1 và A4
Nhân tố K4 (tính toán lãi suất đơn) bị loại ra khỏi mô hình bởi hiện tại, đa phần
các khoản vay trên thị trường đều tính theo lãi gộp, hoặc tính lãi theo ngày Đây
là vấn đề phù hợp với Việt Nam
3.4.2 Nghiên cứu định lượng chính thức
Mô hình nghiên cứu chính thức
a Mẫu nghiên cứu
• Cách thức khảo sát
Phương thức khảo sát được tác giả sử dụng đó là phát bảng hỏi trực tiếp đến
từng đối tượng khảo sát Sau khi phát 600 bảng hỏi, tác giả nhận về 512 quan sát
phù hợp với nghiên cứu
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam
Số quan sát ý nghĩa còn lại là 512 quan sát Trong số này, nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với nam giới, do thời điểm hiện tại, vấn đề di dân nông thôn lên các vùng thành thị đã làm cho phụ nữ sinh sống ở khu vực nông thôn nhiều hơn hẳn nam giới Do đó, việc tác giả thu thập được 61,5% tổng số phiếu là nữ phù hợp với thực tế và các nghiên cứu trước đây Đối với khu vực, miền Bắc chiếm tỷ trọng 52%, miền Nam chiếm tỷ trọng 38%, số còn lại là miền Trung Về độ tuổi
từ 26-40 tuổi chiếm 42% là tỉ lệ lớn nhất, sau đó là độ tuổi từ 41-55 tuổi chiếm 35.2%, về trình độ học vốn đa phần là cao đẳng và đại học chiếm 49.2%, sau đó
là trung học phổ thông chiếm 20.1% Đối tượng khảo sát chủ yếu là người nghèo sống ở vùng nông thôn và đa số là đối tượng làm trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp nên mức thu chủ yếu là từ 3-5 triệu một tháng (chiếm 30.7%) và 1-3 triệu một tháng (chiếm 23.4%), còn lại là đối tượng có thu nhập từ 1 triệu trở xuống Tuy nhiên, đa phần nhóm đối tượng được phỏng vấn là đối tượng lao động chính trong gia đình, số lượng người phụ thuộc từ 1 – 3 người nên vẫn nằm trong đối tượng hộ nghèo
4.1.1 Thực trạng dân trí tài chính theo các nhân tố phản ánh
Đa số các biến quan sát Thái độ tài chính và Hành vi tài chính có giá trị trong khoảng [3.41;4.2] khá lớn, cho thấy phần lớn người dân đều đồng tình với ý kiến
từ thang đo Tuy nhiên, nhiều người được khảo sát lại có ý kiến trung lập về Thái
độ tài chính “Tôi phải dùng đa phần số tiền mà tôi có vào việc mua hàng hóa, đồ
ăn cho gia đình.” (độ trung bình 3.24) cho thấy thái độ với việc mua sắm hàng hóa của người dân
Với biến quan sát Kiến thức tài chính, toàn bộ các biến quan sát cũng đều có giá trị trong khoảng [3.65;4.1], tuy nhiên sự chênh lệch giữa điểm số trung bình giữa các câu là khá lớn, điều này thể hiện sự không chắc chắn của người điền khảo sát trong các câu hỏi về kiến thức tài chính Đặc biệt ở câu hỏi về kiến thức định nghĩa lạm phát K1, có tới 102/152 đối tượng trả lời “Tôi không chắc chắn” việc tiếp cận về những kiến thức tài chính như lạm phát, lãi suất,… của người dân còn khá hạn chế
4.1.2 Thực trạng các nhân tố tác động tới dân trí tài chính
Điểm số DTTC của nữ giới cao hơn nam giới là 0.0506 điểm Điều này cho
Trang 9thấy, không có sự khác biệt quá rõ ràng giữa nam và nữ khi cùng đo lường về
DTTC Nhóm đối tượng có điểm số DTTC trung bình cao nhất nằm ở độ tuổi từ
56 - 70 tuổi và 41 - 55 tuổi, lần lượt là 4.069 và 3.871 điểm Nhóm có độ tuổi từ
18 - 25 tuổi có điểm số DTTC thấp nhất là 2.754 điểm
4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các nhân tố phản ánh
Thang đo “Kiến thức tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.729 và các hệ
số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 Thang đo “Kiến thức tài chính” đạt yêu
cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo
Thang đo “Thái độ tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.834 và các hệ số
tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 Thang đo “Thái độ tài chính” đạt yêu cầu
để thực hiện các phân tích tiếp theo
Thang đo “Hành vi tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.871 và các hệ
số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3 Thang đo “Hành vi tài chính” đạt yêu
cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo
4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Kết quả EFA về Hành vi tài chính cho thấy 9 tiêu chí đo lường từ B1 đến B9
được tải vào một nhân tố với các hệ số tải lần lượt từ 0.592 đến 0.766 chứng tỏ
các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với nhân tố
Kết quả EFA về Thái độ tài chính cho thấy 5 tiêu chí đo lường từ A1 đến A5
được tải vào một nhân tố với các hệ số tải lần lượt từ 0.658 đến 0.838 chứng tỏ
các tuyên bố
Kết quả EFA về Kiến thức tài chính cho thấy 6 tiêu chí đo lường từ K1 đến K6
được tải vào hai nhân tố riêng biệt:
Nhân tố 1 (Nhân tố về lãi suất và lạm phát): bao gồm K2, K3, K1, K5 với hệ
số tải lần lượt từ 0.625 đến 0.844 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa
với các nhân tố
Nhân tố 2 (Nhân tố về rủi ro và chi phí cơ hội): bao gồm K7, K6 với hệ số tải
lần lượt là 0.883 và 0.855 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với các
nhân tố
4.2.2 Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
• Mô hình CFA bậc 1 đo lường các nhân tố phản ánh DTTC
Sau phân tích CFA thang đo DTTC bao gồm 4 thành phần nhân tố (Behavior,
Attitude, Knowledge_1, Knowledge_2) Kết quả phân tích CFA cho thấy các
thành phần của thang đo đều đạt được yêu cầu về giá trị cũng như độ tin cậy
• Mô hình CFA bậc 2 đo lường DTTC
Kết quả phân tích CFA các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp của mô hình cho thấy, giá trị Chi-square/df = <3, TLI=, CFI=, NFI= đều lớn hơn 0.9, hệ số RMSEA=
<0.08, vì thế mô hình có sự phù hợp với thị trường Kết quả các giá trị P-value của các biến quan sát biểu diễn các nhân tố đều có giá trị bằng 0.000 Hệ số độ tin cậy tổng hợp của thang đo đạt giá trị cao hơn 0.5, và hệ số phương sai trích nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận Có thể khẳng định thang đo đạt được giá trị hội
tụ và tính đơn hướng Như vậy, thang đo nghiên cứu đối với DTTC đã đảm bảo các yêu cầu phân tích
4.3 Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng
a Ước lượng mô hình hồi quy OLS
Tóm tắt mô hình định lượng chính thức
Mẫu R R bình
phương
R bình phương hiệu chỉnh
Sai số chuẩn của ước lượng
Durbin-Watson
Bộ dự báo: (hằng số), giáo dục, giới tính, tuổi, thu nhập
Biến phụ thuộc: Financial Literacy
Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20
Từ bảng Model Summary b, ta thu thập được những kết quả sau:
- Giá trị Adjusted R Square đạt 32% Điều này nghĩa là các biến bao gồm giáo dục, giới tính, tuổi, thu nhập.ảnh hưởng 32% sự thay đổi của biến phụ thuộc DTTC, còn lại 68% là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên
- Giá trị Durbin - Watson của mô hình đạt 1.705 nằm trong khoảng từ 1 đến
3 đồng nghĩa với mô hình hồi quy tuyến tính đơn tốt
Bảng 4.12 Kiểm định ANOVA định lượng chính thức
Hàm hồi quy tuyến tính 60.980 000b
a Biến phụ thuộc:Financial Literacy
b Bộ dự báo: Hằng số, Trình độ giáo dục, Giới tính, Tuổi tác, Thu nhập
Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20
Trang 10Coefficients định lượng chính thức
Mẫu
Hệ số chưa chuẩn
hóa Hệ số Beta
chuẩn hóa
Giá trị
t
Giá trị Sig
Giá trị VIF Beta Độ lệch
chuẩn
Giới tính 0.019 0.036 0.020 0.537 0.591 1.007
Tuổi 0.021 0.001 0.515 13.874 0.000 1.036
Thu nhập 0.038 0.012 0.118 3.138 0.001 1.065
Trình độ
học vấn 0.036 0.013 0.099 2.647 0.008 1.055
(Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20
a Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)
Hình 4.4 Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM
Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20
Hệ số hồi quy đã chuẩn hóa của các biến độc lập cho thấy, mức độ tác động
của Tuổi tác lên DTTC là 1.182, lớn nhất trong tất cả yếu tố Mức độ ảnh hưởng
của trình độ học vấn và tuổi tác lần lượt là 0.321 và 0.133 Các chỉ tiêu đo lường
độ phù hợp của mô hình cho thấy, giá trị Chi-square/df= 2.861<3, GFI= 0.904, CFI=0.906 đều lớn hơn 0.9, TLI nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận được, hệ số RMSEA= 0.060<0.08, vì thế mô hình đạt được sự phù hợp dữ liệu thị trường Kết quả của các giá trị P-value của các biến độc lập đều có giá trị thấp hơn giá trị 0.05,
do đó các biến độc lập đều thể hiện sự ảnh hưởng tới biến phụ thuộc là DTTC
b Kiểm định độ tin cậy của mô hình với phương pháp Bootstrap
Kết quả ước lượng mô hình qua Bootstrap với n= 1000
SE-Bias
Critical Ratios
Financial_Literacy
< - Age .148 .003 1.105 .027 .005 0.54 Financial_Literacy
< - Income .082 .002 .291 .002 .003 0.67 Financial Literacy
< - Education .066 .001 .131 .003 .002 1.5
Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20
Kiểm định này giúp đánh giá lại độ tin cậy của các ước lượng trong mô hình với mẫu lặp lại N=1000 Qua bảng trên, các hệ số CR đều bé hơn 1.96 từ đó có thể kết luận từ kết quả ước lượng mô hình, sự chênh lệch của nhóm hệ số trong
mô hình với 1000 quan sát rất nhỏ Suy ra, mô hình DTTC vẫn có ý nghĩa đối với
cỡ mẫu lớn
4.4 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập
4.4.1 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập
Tóm tắt mô hình tác động của DTTC lên thu nhập
phương
R bình phương hiệu chỉnh
Sai số chuẩn của ước lượng
Bộ dự đoán: Hằng số, Financial Literacy Biến phụ thuộc: Thu nhập
Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20