1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn việt nam

197 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 7,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phân tán rủi ro…; và cũng đã đưa ra được một số vấn đề liên quan đến các nhân tố nhânkhẩu học ảnh hưởng đến dân trí tài chính của người dân như nghề nghiệp, tuổi, trình độ họcvấn của cha

Trang 1

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi camkết bằng danh dự cá nhân rằng bài luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêucầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nghiên cứu sinh

Khúc Thế Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án tiến sĩ này, ngoài sự nỗ lực không ngừng của bản thân,NCS còn nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Viện Ngânhàng Tài chính, các nhà khoa học trong và ngoài nhà trường

Trước hết, xin dành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Phan Thị Thu Hà, người hướng dẫn khoa học, đồng thời cũng là giảng viên hướng dẫn NCS

từ những ngày tốt nghiệp đại học và ở lại trường Cô là một tấm gương phấn đấu khôngngừng trong học thuật cũng như tạo điều kiện cho các giảng viên, nghiên cứu viên trẻtừng bước “đặt chân” vào con đường nghiên cứu một cách nghiêm túc và vững vàng

Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học trong và ngoài trường đã tạo cơ hội choNCS được phỏng vấn, trao đổi một cách cởi mở về vấn đề mà NCS theo đuổi khi hoànthiện luận án, cũng như phát triển luận án sau này Các gợi ý mà các nhà khoa học đưa

ra đóng một phần quan trọng trong việc củng cố lý thuyết, giải thích thực tiễn Việt Namcũng như đưa ra những hàm ý chính sách phù hợp đối với Việt Nam

Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, các bạn nghiên cứu sinh và sinhviên đã đồng hành, đã động viên, đã hỗ trợ NCS trong những lúc khó khăn, bế tắc tưởngnhư phải dừng lại Những lời động viên, chia sẻ thẳng thắn của các anh chị, các bạn, các

em cũng như hỗ trợ trong quá trình thực địa điền dã đã giúp NCS rất nhiều trong việcthu thập và xử lý dữ liệu cũng như có thêm động lực để hoàn thiện công trình này cũngnhư các nghiên cứu có thể phát triển trong tương lai

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Lãnhđạo Viện Ngân hàng - Tài chính, Lãnh đạo và các chuyên viên của Viện Đào tạo Sau đạihọc, Viện Quản lý Châu Á Thái Bình Dương (nay là Viện Phát triển Bền vững) qua cácthời kỳ đã hỗ trợ NCS có được một môi trường học tập và nghiên cứu chuyên nghiệp,năng động, giúp NCS tiếp cận được các phương pháp mới cũng như các lý thuyết gốc cóliên quan

Xin chân thành cảm ơn tất cả!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nghiên cứu sinh

Khúc Thế Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH x

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH 7

1.1 Các nghiên cứu về tài chính hành vi 7

1.2 Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô 10

1.3 Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính 15

1.3.1 Nhóm nghiên cứu về nhân tố tác động đến dân trí tài chính 15

1.3.2 Nhóm quan điểm về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 19

1.4 Khoảng trống nghiên cứu 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN 23

2.1 Khái quát về người nghèo khu vực nông thôn 23

2.1.1 Khái quát về khu vực nông thôn 23

2.1.2 Người nghèo khu vực nông thôn 24

2.2 Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn 25

2.2.1 Khái niệm Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn 25

2.2.2 Nội dung dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn 29

2.2.3 Các phương pháp đo lường dân trí tài chính 33

2.3 Vai trò của dân trí tài chính 38

2.3.1 Đối với tổng thể nền kinh tế 38

2.3.2 Đối với các đối tượng của nền kinh tế 40

2.3.3 Đối với thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn 41

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến dân trí tài chính 46

2.4.1 Trình độ học vấn 47

2.4.2 Thu nhập 47

2.4.3 Việc làm 49

2.4.4 Tuổi tác 49

2.4.5 Giới tính 51

2.4.6 Chủng tộc và tôn giáo 52

Trang 6

3.1 Quy trình nghiên cứu 56

3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 58

3.2.1 Đo lường Dân trí tài chính 58

3.2.2Các nhân tố tác động lên dân trí tài chính 60

3.2.3 Tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 63

3.3 Nghiên cứu sơ bộ 64

3.3.1 Nghiên cứu định tính sơ bộ 65

3.3.2 Nghiên cứu định lượng thử nghiệm 68

3.4 Nghiên cứu chính thức 79

3.4.1 Nghiên cứu định tính chính thức 79

3.4.2 Nghiên cứu định lượng chính thức 81

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 88

4.1 Thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam 88

4.1.1 Thực trạng dân trí tài chính theo các nhân tố phản ánh 90

4.1.2 Thực trạng các nhân tố tác động tới dân trí tài chính 91

4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các nhân tố phản ánh 95

4.2.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha 95

4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 96

4.2.3 Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 98

4.3 Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng 102

4.4 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 107

4.4.1 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 107

4.4.2 Đánh giá tác động của kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính lên thu nhập 109

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý MỘT SỐ CHÍNH SÁCH 112

5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 112

5.1.1 Kết quả về thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam 113

5.1.2 Nhóm kết quả về nhân tố nhân khẩu học 113

5.1.3 Nhóm kết quả về các yếu tố nội hàm dân trí tài chính 117

5.1.4 Nhóm kết quả về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 118

5.2 Một số hàm ý chính sách 119

5.2.1 Nhóm hàm ý về kiến thức tài chính 119

5.2.2 Nhóm hàm ý về thái độ tài chính 123

5.2.3 Nhóm hàm ý về hành vi tài chính 124

Trang 7

5.3 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo 125

5.3.1 Hạn chế của đề tài 125

5.3.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo 126

KẾT LUẬN 127

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 128

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

PHỤ LỤC 146

Trang 8

STT Ký hiệu Ý nghĩa

1 ADB Asian Development Bank - Ngân hàng Phát triển châu Á

2 ADBI Asian Development Bank Institute - Viện Ngân hàng Phát

triển châu Á

3 APR Annual Percentage Rate - Lãi suất phần trăm bình quân

4 ATM Automated Teller Machine – Máy giao dịch ngân hàng tự động

5 CFA Confirmatory Factor Analysis - Phân tích nhân tố khẳng định

6 CFI Comparative Fix Index - Chỉ số thích hợp so sánh

7 CMIN Chi bình phương - tiêu chuẩn để phân tích CFA

13 EFA Exploratory Factor Analysis - Phân tích nhân tố khám phá

14 FILS Financial Literacy Study - Nghiên cứu Dân trí tài chính

15 FSA Financial Services Authority - Ủy ban dịch vụ tài chính

16 GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

17 GFI Goodness of Fix Index - Chỉ số kiểm định sự phù hợp của mô

hình hồi quy trong CFA

19 HRS Health and Retirement Study - Nghiên cứu về Sức khỏe và

Hưu trí của Hoa Kỳ

21 INFE International Network on Financial Education - Hệ thống giáo

dục tài chính quốc tế của OECD

22 ISCED Internatinal Standard Classification of Education - Bảng phân

loại tiêu chuẩn giáo dục quốc tế

23 KMO Kaiser – Meyer – Olkin - Hệ số thể hiện mức độ thích hợp của

tương quan nội tại các biến quan sát

Trang 9

24 NFES National Financial Education Strategy - Chiến lược giáo dục

tài chính quốc gia

25 OECD Organization for Economic Cooperatin and Development - Tổ

chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

27 RMSEA Root Mean Square Error of Approximation - Chỉ số RMSEA

28 SEM Structural Equation Modeling - Mô hình cấu trúc tuyến tính

32 TIAA The Teachers Insurance and Annuity Association - Hiệp hội

bảo hiểm hàng năm cho giáo viên của Hoa Kỳ

33 TLA Truth in Lending Act - Đạo luật Trung thực trong cho vay

34 TLI Tucker – Lewis Index - Chỉ số Tucker - Lewis phân tích CFA

35 TNS Doanh nghiệp nghiên cứu thị trường TNS

36 TPB Theory of Planned Behavior - Mô hình lý thuyết hành vi dự

định

37 TRA Theory of Reasoned Action - Mô hình lý thuyết hành động

hợp lý

39 UBGSTC Ủy ban Giám sát Tài chính

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2000-2020 25

Bảng 2.2 Tổng hợp các khái niệm DTTC trong các nghiên cứu đã công bố 28

Bảng 2.3 Bộ công cụ đo lường DTTC 36

Bảng 2.4 Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu sử dụng bảng hỏi 37

Bảng 2.5 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC 53

Bảng 3.1 Thang đo Kiến thức tài chính 69

Bảng 3.2 Thang đo Thái độ tài chính 70

Bảng 3.3 Thang đo Hành vi tài chính 70

Bảng 3.4 Kết quả độ tin cậy thang đo Kiến thức tài chính 72

Bảng 3.5 Kết quả độ tin cậy thang đo Kiến thức tài chính sau khi xóa K4 72

Bảng 3.6 Kết quả độ tin cậy thang đo Thái độ tài chính 73

Bảng 3.7 Kết quả độ tin cậy thang đo Hành vi tài chính 73

Bảng 3.8 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 74

Bảng 3.9 Tổng hợp các nhân tố sau khi phân tích EFA 75

Bảng 3.10 Bảng độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích sơ bộ 76

Bảng 3.11 Ngưỡng chấp nhận của các chỉ số phù hợp mô hình 78

Bảng 3.12 Biến được sử dụng để lọc quan sát 81

Bảng 3.13 Ý nghĩa hệ số Cronbach’s Alpha 85

Bảng 3.14 Ý nghĩa giá trị Factor loading 86

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các nhân tố phản ánh DTTC 90

Bảng 4.2 Điểm số dân trí tài chính trung bình phân loại theo nhân tố giới tính 91

Bảng 4.3 Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố tuổi tác 92

Bảng 4.4 Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố trình độ học vấn 92

Bảng 4.5 Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố thu nhập 93

Bảng 4.6 Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố việc làm 94

Bảng 4.7 Phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo chính thức với hệ số Cronbach’s Alpha 95

Bảng 4.8 Kiểm định giá trị của thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA 97

Bảng 4.9 Bảng kiểm định KMO và Bartlett 98

Bảng 4.10 Kết quả kiểm định thang đo các nhân tố phản ánh 99

Bảng 4.11 Tóm tắt mô hình định lượng chính thức 102

Bảng 4.12 Kiểm định ANOVA định lượng chính thức 102

Bảng 4.13 Coefficients định lượng chính thức 103

Trang 11

Bảng 4.14 Ý nghĩa kết quả hệ số hồi quy của các nhân tố tác động DTTC 104

Bảng 4.15 Hệ số mô hình cấu trúc 106

Bảng 4.16 Kết quả ước lượng mô hình qua Bootstrap với n= 1000 106

Bảng 4.17 Tóm tắt mô hình tác động của DTTC lên thu nhập 107

Bảng 4.18 Kiểm định ANOVA phân tích tác động của DTTC lên thu nhập 108

Bảng 4.19 Kết quả Coefficients phân tích tác động của DTTC lên thu nhập 108

Bảng 4.20 Tóm tắt mô hình tác động của các nhân tố phản ánh lên thu nhập 109

Bảng 4.21 Kiểm định ANOVA 110

Bảng 4.22 Kết quả Coefficients phân tích tác động của các nhân tố phản ánh lên thu nhập 110

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mối quan hệ giữa các nhân tố nội hàm của DTTC 30

Hình 2.2 Lý thuyết hành động hợp lý 31

Hình 2.3 Lý thuyết hành vi dự định 32

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 57

Hình 3.2 Hình biểu diễn mối quan hệ giữa DTTC và GDP/người 60

Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu sơ bộ 63

Hình 3.4 Mô hình CFA định lượng sơ bộ 77

Hình 3.5 Mô hình nghiên cứu chính thức 82

Hình 3.6 Quy tắc kiểm định d của Durbin-Watson 84

Hình 4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 88

Hình 4.2 Điểm số DTTC trung bình của 512 đối tượng khảo sát 89

Hình 4.3 Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 1 100

Hình 4.4 Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 2 101

Hình 4.5 Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 105

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian gần đây, tài chính toàn diện được coi là trụ cột quan trọng của tăngtrưởng kinh tế, thúc đẩy tài chính và giảm nghèo bền vững, vì thế tài chính toàn diện làtrọng tâm ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới (World Bank, 2015) Theo Grohmann

và cộng sự (2018), dân trí tài chính (DTTC) là một trong những mắt xích quan trọng vàảnh hưởng tích cực lên tài chính toàn diện Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính

2008 đã chỉ ra khả năng đưa ra những quyết định tài chính rất quan trọng đối với việcphát triển tài chính cá nhân, từ đó tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế Demirguc-Kunt vàcộng sự (2015) cho rằng DTTC là một trong những yếu tố tác động lên thu nhập của cánhân thông qua việc lên kế hoạch tài chính, đưa ra những quyết định tài chính tích cực

và nhận diện rủi ro Có thể thấy rằng, DTTC có tác động tích cực đến giảm nghèo thôngqua tăng thu nhập của người dân – đặc biệt tại nhóm nước đang phát triển hoặc có nềnkinh tế đang chuyển đổi (Atkinson và Messy, 2012, OECD, 2013, OECD, 2015)

Các nghiên cứu về DTTC đã được thực hiện tại nhiều quốc gia, nhưng vẫn cònnhiều điểm chưa thống nhất trong vấn đề về lí thuyết cũng như chưa giúp giải quyết cácvấn đề về thực tiễn Kết quả nghiên cứu của Research (2008), Lusardi (2008), Dew(2008), Servon và Kaestner (2008), Calamato (2010), OECD (2013), Mottola (2013),Brown và Graf (2013), Scheresberg (2013), OECD (2015)… đã đưa ra một cách kháiquát nhất các quan điểm về dân trí tài chính theo cách hiểu của từng nước, từng vùng;song lại chưa có sự thống nhất về nội hàm Một vài khái niệm dân trí về tài chính đượcchấp nhận rộng rãi như “ khả năng đánh giá một cách có hiểu biết và đưa ra các hànhđộng hiệu quả đối với việc sử dụng và quản lý tiền trong hiện tại và tương lai” (Basu,2005); hay “khả năng đánh giá và đưa ra quyết định một cách có hiểu biết trong việc sửdụng và quản lý tiền” (Noctor và cộng sự, 1992); hay “bao hàm việc hiểu biết về tàichính, thái độ tài chính và hành vi tài chính” (Atkinson và Messy, 2012) Về sau, quanđiểm của Atkinson và Messy (2012) được OECD chấp nhận và phát triển thành các kháiniệm để đo lường dân trí tài chính

Về vấn đề đo lường, trong phạm vi nghiên cứu là các nước OECD hoặc chỉ cácnước như Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu đã cho thấy, các tác giả đã đề xuất ramột số quan điểm để đo lường dân trí tài chính, như (1) dựa vào lãi suất và phí suất củacác loại thẻ tín dụng mà khách hàng sử dụng; (2) câu hỏi đúng/sai liên quan đến nhiềukhía cạnh tín dụng (9 câu), tiết kiệm (5 câu), đầu tư (6 câu), thế chấp (4 câu), và lĩnhvực khác (4 câu); (3) Các câu hỏi liên quan đến tỷ lệ lãi suất, lạm phát, rủi ro đầu tư, và

Trang 14

phân tán rủi ro…; và cũng đã đưa ra được một số vấn đề liên quan đến các nhân tố nhânkhẩu học ảnh hưởng đến dân trí tài chính của người dân như nghề nghiệp, tuổi, trình độ họcvấn của cha mẹ…, từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách lớn, trong đó nhấn mạnh vào việcxây dựng thói quen tiết kiệm đối với người dân có thu nhập thấp tại các vùng được điều trakhảo sát (Atkinson và Messy, 2012, OECD, 2013, OECD, 2015) Đây là nền tảng để cácnhà nghiên cứu và người làm thực tiễn về sau có thể áp dụng Tuy nhiên, các nghiên cứunày đa phần lại bỏ qua các nền kinh tế ở khu vực Đông Á và Đông Nam

Á (trừ Nhật Bản và Singapore), vốn có nền văn hóa khác biệt so với các nước phươngTây, thể hiện ở (1) chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo và Phật giáo (dẫn lại theo NguyễnThừa Hỷ (2000)) nên mối quan hệ của từng thành viên trong gia đình rất bền chặt, vàhướng chi tiêu (thể hiện 1 phần của dân trí tài chính) phụ thuộc nhiều vào ý kiến củangười xung quanh (Mai và Tambyah, 2011, Nguyễn Thu Thủy, 2016); (2) Vốn có thóiquen tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng (Lê Thanh Tâm, 2015) Những đặc điểm nhân khẩuhọc hoàn toàn khác biệt này đã dẫn đến vấn đề (1) sự thất bại trong việc hiểu các bảnghỏi của người dân khu vực Đông Á và Đông Nam Á so với các nước phương Tây(OECD, 2015), từ đó không thể đánh giá được chính xác về DTTC, và cũng không xácđịnh được cụ thể các nhân tố ảnh hưởng (2) những hàm ý chính sách liên quan đến pháttriển DTTC không thể thực hiện được như đào tạo về việc tiết kiệm tiền tại các khu vực

có thu nhập thấp – vì tỉ lệ tiết kiệm của người dân tại đây (so với thu nhập) rất cao!Tại Việt Nam, DTTC được đề cập trong một số ít các nghiên cứu, và thường tậptrung vào “đào tạo về tài chính” chứ không phải DTTC (Đinh Thị Thanh Vân vàNguyễn Đăng Tuệ, 2018), hoặc đánh giá tác động của DTTC lên thu nhập của nhóm đốitượng được khảo sát (Morgan và Trinh, 2017) Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy: tại cácvùng nghèo thì kể cả người dân có kiến thức tài chính tốt nhưng thu nhập vẫn thấp, bởithái độ và hành vi về tài chính của nhóm đối tượng này không cao (Nguyễn Kim Anh vàcộng sự, 2017) Đối với các vấn đề liên quan đến người nghèo và xóa đói giảm nghèo,tại Việt Nam đã tiếp cận trên khá nhiều các góc độ: theo chính sách (Nguyễn Thị Hoa,

2009, World Bank, 2019), theo góc độ tiếp cận tài chính vi mô (Lê Thanh Tâm, 2013,Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017), theo góc độ tài chính toàn diện… Các nghiên cứunày đã làm được khía cạnh là dần phổ biến kiến thức đến người dân về các dịch vụ tàichính, sử dụng các dịch vụ tài chính và góp phần thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ vềxóa đói và giảm nghèo Tuy nhiên, người nghèo tại khu vực nông thôn tiếp cận rất hạnchế các dịch vụ này, và thái độ ứng xử cũng như hành vi sử dụng với các dịch vụ nàymang tính chất mơ hồ rất cao Cụ thể, các chính sách của Nhà nước đã hỗ trợ ngườinghèo tại khu vực nông thôn rất nhiều về mặt đào tạo kiến thức tài chính, song do thái

độ và hành vi về tài chính (cùng những lí do khác về mặt thể chế, địa lí…) làm cho các

Trang 15

chính sách chưa phát huy được tác dụng như mong muốn Đồng thời, người nghèo tạikhu vực nông thôn khó khăn hơn trong việc tiếp cận sinh kế so với người dân tại khuvực thành thị nên cần phải trang bị những kĩ năng cần thiết để có thể hỗ trợ họ pháttriển Mặt khác, mặc dù đa phần các nghiên cứu phát triển của Fishbein và Ajzen (1975)đều cho rằng từ ý định đến hành vi là gần nhất, song điều này lại chưa phù hợp vớingười nghèo – đặc biệt tại các nước có nền văn hóa chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo vàPhật giáo như Việt Nam, và đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóatập trung sang cơ chế thị trường (Mai và cộng sự, 2009) Do vậy, đây vẫn là 1 khoảngtrống còn cần tiếp tục nghiên cứu.

Luận án này sẽ tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của ngườinghèo khu vực nông thôn Việt Nam (trong đó có các nhân tố phản ánh – là những nộidung cấu thành nên DTTC), cũng như đánh giá ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập.Đồng thời, luận án đưa ra những hàm ý chính sách để phát triển DTTC đối với ngườinghèo khu vực nông thôn để hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Để thựchiện mục tiêu trên, luận án sẽ sử dụng một khái niệm DTTC thống nhất và hiệu chỉnhcách đo lường cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu Do đó, đây sẽ là nguồn bổ sung

về cả lí thuyết lẫn thực tiễn cho nhánh nghiên cứu về DTTC tại Việt Nam cũng như trênthế giới

Vì những lí do trên, đề tài “Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực

nông thôn Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu.

2.Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ những nhân tố tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm phát triển DTTC của đối tượng này

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả sẽ tập trung vàocác vấn đề sau đây:

• Tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến DTTC đối với người nghèo khu vựcnông thôn tại Việt Nam, trong đó có các nhân tố phản ánh, bao gồm kiến thức tài chính,thái độ tài chính và hành vi tài chính

• Đo lường ảnh hưởng của trình độ DTTC đến thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam

• Đưa ra các hàm ý chính sách sau khi đối chiếu các cấu phần và nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam

Trang 16

3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này trả lời cho những câu hỏi sau:

• Có những nhân tố nào ngoài nhân tố nhân khẩu học tác động đến DTTC của ngườinghèo khu vực nông thôn Việt Nam? Bản thân từng cấu phần trong DTTC (bao gồm thái độtài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính) có tác động gì đến DTTC?

•DTTC có tác động thế nào đến thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam (thông qua chỉ tiêu thu nhập của cá nhân, hộ gia đình)?

•Những hàm ý chính sách nào cần được đưa ra để nâng cao DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn

Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: tập trung vào khu vực nông thôn Việt Nam

Nghị định số 55/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về khái niệm nông thôn là phần lãnhthổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấphành chính cơ sở là UBND xã (Chính phủ, 2015) Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽnghiên cứu về những đối tượng có hộ khẩu và thường trú tại vùng nông thôn Các cánhân này phải đáp ứng được cả 2 điều kiện về thời gian: (1) có ít nhất 1 nửa thời giansinh sống đến hiện tại ở vùng nông thôn; (2) trong 1 năm, phải có ít nhất 6 tháng sinhsống ở vùng nông thôn

Người nghèo khu vực nông thôn: được xác định theo quyết định 59/2015/QĐ-TTg

về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 (Thủ tướng Chínhphủ, 2015); tức là người dân sống ở vùng nông thôn có thu nhập thấp hơn 700.000đồng/tháng đối với bình quân một người, và không quá 1.000.000 nếu thiếu hụt từ 3 chỉ

số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Về thời gian: Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2019 Thời gian khảo sát tiếnhành 2 lần: khảo sát sơ bộ trong vòng 1 tuần, từ ngày 07/03/2019 – 14/03/2019 tại tỉnhThái Bình Lần khảo sát chính thức trong vòng 3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 năm

2019 Nghiên cứu chính thức được tiến hành trên phạm vi cả nước

5 Cách tiếp cận

Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, tác giả dựa trên các học thuyết ban đầu về kinh tếhọc Trong giai đoạn những năm 1980 – 1990, nhóm học giả thuộc trường phái

Trang 17

Washington Concencus (Đồng thuận Washington) đã phát triển quan điểm về tiếp cậncác dịch vụ tài chính và tài chính toàn diện, giúp các cá nhân có thể đầu tư hoặc sử dụngtốt hơn các dịch vụ trên thị trường, từ đó giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế tự do.Quan điểm này đã đưa ra cách thức thúc đẩy tài chính từ cả hai phía: bên cung và bêncầu Đối với bên cung, ngoài việc chủ yếu phát triển các tổ chức tài chính, còn có quátrình phát triển các dịch vụ tài chính, và tự đào tạo trong quá trình phát triển tài chínhđối với con người (như sử dụng dịch vụ mới hoặc đưa chương trình đào tạo vào nhàtrường) – nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho chính các tổ chức này Đối với bên cầu, để

có thể thực hiện được các nghiêp vụ trên thị trường tài chính, điều tất yếu là phải làmtăng thu nhập của cá nhân, tăng khả năng tiếp xúc với công nghệ thông tin và tăng cáckhía cạnh liên quan đến hiểu biết về các dịch vụ tài chính, tiếp cận dịch vụ tài chính, từ

đó đưa ra thái độ và hành vi ứng xử đối với tài chính cho phù hợp Như vậy, tác giả sẽtiếp cận hướng nghiên cứu từ phía bên cầu của các dịch vụ tài chính

Ngoài ra, luận án này cũng tiếp cận theo khía cạnh sinh kế bền vững và vốn conngười, do sinh kế bền vững được phát triển dựa trên các lý thuyết về xóa đói giảmnghèo, và lấy con người làm trung tâm của vấn đề phát triển bền vững Ngoài nhữngvấn đề liên quan đến hỗ trợ người nghèo có cuộc sống tốt hơn – như sử dụng cácchương trình trợ cấp của chính phủ - thì các nghiên cứu trên thế giới đều đưa ra hướng:

để người dân tự phát triển bằng cách hỗ trợ các nguồn lực để đối tượng này có thể tự đốiphó với sự thay đổi của môi trường tự nhiên cũng như về kinh tế, xã hội (Chambers vàConway, 1992, Scoones, 1998, Ashley và Carney, 1999, Solesbury, 2003) Thậm chí,nhóm lý thuyết về vốn con người cho rằng, nếu không phát triển được con người dựatrên trí thức thì rất khó có thể quản lý tốt được vốn vật chất (Schultz, 1961, Lucas, 1988,Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008)

Đối với các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tài chính, hiện tại có hai nhóm ngườiđang ít được các ngân hàng thương mại quan tâm đến là người nghèo (vì khả năng vayvốn nhỏ lẻ, và thường không có hoặc ít có tài sản đảm bảo); người sắp về hưu (vì nguồnthu nhập giảm sút, không đủ sức khỏe để sản xuất, kinh doanh…) Tuy nhiên, các đốitượng này lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ ở vùng nông thôn, và vẫn có nhu cầu sử dụng– ít nhất để đảm bảo cuộc sống (với người nghèo) và tiếp tục sử dụng các dịch vụ hàngngày (với nhóm sắp về hưu) Nếu đẩy mạnh hoạt động liên quan đến dân trí tài chính sẽgiúp nền kinh tế giảm các chi phí liên quan đến giao dịch và tiếp cận dịch vụ tài chínhtốt hơn, từ đó, có được hành vi phù hợp liên quan đến sử dụng tiền và phát triển kinh tế

Từ hai góc độ trên, tác giả sẽ tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ phía cầu dịch vụ tàichính nhằm đưa ra những hàm ý chính sách vừa giúp nền kinh tế giảm chi phí giao dịch,vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với xóa đói giảm nghèo

Trang 18

6 Những đóng góp mới của luận án

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

Dựa trên cách tiếp cận từ phía cầu của tài chính toàn diện theo trường pháiWashington Concencus (đồng thuận Washington), luận án đã có những đóng góp mới vềmặt lý luận như sau:

Thứ nhất, luận án xác định Dân trí tài chính bao hàm 3 khái niệm là kiến thức tàichính, thái độ tài chính và hành vi tài chính Đồng thời, luận án cũng đề xuất đánh giátác động của dân trí tài chính lên thu nhập của đối tượng khảo sát dựa trên vốn conngười Đây là một bổ sung cho cách tiếp cận liên ngành về Dân trí tài chính

Thứ hai, dựa trên cách tiếp cận của đồng thuận Washington, cách tiếp cận của sinh kếbền vững, tác giả đưa ra kiểm định về các nhân tố phản ánh (refelective factors) đến dân trítài chính của người nghèo khu vực nông thôn Đây là một trong những gợi ý nhằm đánh giátác động của các nhân tố cấu thành lên nhân tố tổng, từ đó đưa ra những hàm ý chính sáchnhằm nâng cao Dân trí tài chính của nhóm đối tượng được nghiên cứu

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

Thứ nhất, đánh giá được các nhân tố phản ánh của dân trí tài chính (bao gồm thái

độ tài chính, kiến thức tài chính và hành vi tài chính) đều có tác động đến dân trí tàichính Trong các nhân tố này, đáng chú ý là kiến thức tài chính của người nghèo tại khuvực nông thôn Việt Nam được chia thành 2 nhóm chính: kiến thức về tiết kiệm và kiếnthức về sử dụng tiền Nhóm nhân tố phản ánh thuộc về kiến thức tài chính đóng vai tròlớn nhất, sau đó là hành vi tài chính và cuối cùng là thái độ tài chính

Thứ hai, dựa trên kết quả của phỏng vấn sâu các chuyên gia, luận án đã đưa ra kếtquả rằng giới tính, dân tộc và tôn giáo không ảnh hưởng đến dân trí tài chính của ngườinghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam; trong khi đó, tuổi tác và thu nhập có ảnh hưởng

rõ ràng Học vấn của nhóm người dưới tiểu học lại cao hơn nhóm người có trình độtrung học phổ thông

Thứ ba, Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn bị ảnh hưởng bởithu nhập, và cũng ảnh hưởng đến thu nhập của họ Do vậy, muốn tăng dân trí tài chínhthì không nên tập trung vào hướng dẫn người dân cách tiết kiệm mà nên tập trung vàocách sử dụng tiền trong chi tiêu và đầu tư Hoạt động này nên thực hiện thông qua Hộiphụ nữ, Hội nông dân Các cơ quan chức năng có thể xem xét tăng dân trí tài chính dựatrên các ứng dụng điện tử và sự phát triển của công nghệ tài chính

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH

“Financial Literacy” là một khái niệm được công bố và sử dụng trên toàn thế giớivào năm 1997 bởi Jump$tart Coalition Từ đó đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu trênthế giới đề cập đến vấn đề này dưới góc độ nghiên cứu về tài chính hành vi, về tài chính

vi mô và một số nghiên cứu trực tiếp liên quan đến DTTC

1.1 Các nghiên cứu về tài chính hành vi

Vì DTTC bao gồm 3 khía cạnh: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tàichính nên nhóm nghiên cứu đầu tiên, có liên quan là các nghiên cứu về tài chính hành

vi – dùng để giải thích hành vi của các nhà đầu tư (sau khi đã có được kiến thức tàichính) trên thị trường, đặc biệt thị trường chứng khoán cũng như các khoản đầu tư trêncác thị trường khác Tài chính hành vi được phát triển bởi Tversky và Kahneman (1974)khi trình bày về phương pháp kinh nghiệm và những lệch lạc xảy ra khi đưa ra các quyếtđịnh về tài chính Sau đó, Tversky và Kahneman (1979), Kahneman và Tversky (1981)phát triển lí thuyết kì vọng và lí thuyết hữu dụng kì vọng Tài chính hành vi có 3 nhómnghiên cứu chính: về doanh nghiệp, về thị trường và về cá nhân (nhà đầu tư) Trongphạm vi luận án này chỉ trình bày tổng quan về tài chính hành vi của cá nhân

Các giả định của lí thuyết thị trường hiệu quả cho rằng thông tin được cung cấpchính xác, tin cậy và cân xứng cho các cá nhân và nhà đầu tư (North, 1994) Tuy nhiên,trên thực tế thì vấn đề thông tin bất cân xứng trên thị trường có ảnh hưởng rất lớn đếnhành vi tài chính của các cá nhân Do đó, tài chính hành vi xem xét con người như mộtchủ thể “bình thường”, không hoàn hảo, và do những hạn chế về khả năng xử lý thôngtin, con người thường đưa ra những xét đoán sai lệch trong quá trình ra quyết định Tàichính hành vi ghi nhận vai trò quan trọng của cảm xúc trong các quyết định tài chính, vàđiều này có khuynh hướng được tìm hiểu thông qua phương pháp kinh nghiệm dựa vàohiệu ứng – từ đó đưa ra các vấn đề liên quan đến thái độ tài chính và hành vi tài chính.Các nghiên cứu về tài chính hành vi đã chỉ ra rằng, các cá nhân khi đưa ra cácquyết định về tài chính thì thường:

Thứ nhất, có khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếmđược nhiều lợi nhuận (Levy, 2010) Trong trường hợp khoản đầu tư có khả năng manglại lợi nhuận, các cá nhân thích nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn việc cốgắng tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai Trong trường hợpngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ, họ lại cố gắng duy trì với hy vọng tìnhhình sẽ khá hơn và có thể sinh lời trong tương lai bất chấp rủi ro thua lỗ nhiều hơn rấtlớn Điều này cũng cho thấy rằng: các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường (đặc biệt là thị

Trang 20

trường chứng khoán) có xu hướng bán các tài sản tài chính đi sớm (trong trường hợp cólãi), và giữ lại lâu hơn (trong trường hợp bị lỗ).

Thứ hai, có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trongtrí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyếtđịnh này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng Cũng từ đó, họ đưa racác quyết định nhìn tưởng hợp lý, nhưng thật ra lại sai lầm – từ đây hình thành nênnhóm nghiên cứu về sự tự tin quá mức và vấn đề lệch lạc (Glaser và Weber, 2010) Hiệuứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng sự tự lừa dối, sợ rằng nếu bán

mà bị lỗ sẽ cảm thấy bản thân có quyết định đầu tư kém, hay sự tiếc nuối, tức lỡ bán rồi

mà giá lên thì sao? Hiệu ứng phân bổ tài khoản cũng giúp lý giải một phần vì sao trongnhững thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giátại các thị trường lớn

Đối với vấn đề tự tin thái quá, các cá nhân thường cho rằng, bản thân mình “giỏi”hơn những người khác, thường “phóng đại” những hiểu biết của mình nên sẽ giao dịchnhiều hơn Trạng thái quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó khiến các cánhân sẵn sàng bảo vệ quan điểm của họ mà bỏ qua việc tham khảo thêm ý kiến từ bênngoài

Lệch lạc do tình huống điển hình: các cá nhân có xu hướng phân loại các sự kiệnđiển hình hoặc tiêu biểu, được xem như khuôn mẫu tin cậy nên sẽ dự đoán về thị trườngtheo một khuôn mẫu mà quên đi rằng khả năng để thị trường phát tín hiệu giống nhaurất hiếm

Tính bảo thủ: Khi điều kiện kinh tế thay đổi mọi người có xu hướng chậm phảnứng với thay đổi đó, họ gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một thời kỳdài hạn trước đó Nghĩa là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng chỉ tạm thời, dàihạn nền kinh tế vẫn đi lên, mà không nhận thấy có thể tin đó là tín hiệu cho một chu kỳsuy thoái dài hạn đã bắt đầu Sau một khoảng thời gian nhận thấy tình hình vẫn chưa cảithiện thì mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu Kết quả, thị trường lại biến động bất thường.Vấn đề này cũng thường đi với vấn đề lệch lạc do quen thuộc

Tâm lý “bầy đàn”: Tâm lý “bầy đàn” luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định củacác cá nhân, bất kể việc họ có kinh nghiệm hay không Khi cá nhân đối đầu với ý kiếncủa nhóm, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của mình, vì họ nghĩ rằng, tất cảnhững người khác có thể không sai

Như vậy, thành công của nhóm nghiên cứu về tài chính hành vi đã giải thích đượcvấn đề về phản ứng của các cá nhân trên thị trường, trước hết về vấn đề sử dụng tài sản

Trang 21

tài chính ra sao Tuy nhiên, bản thân nhóm nghiên cứu này cũng có những vấn đề nhấtđịnh như:

Thứ nhất, các nghiên cứu về tài chính hành vi đều là những nghiên cứu giả định và

bị phê phán bởi các nghiên cứu theo lí thuyết thị trường hiệu quả (Fama, 1998) Phầnlớn các công trình đã công bố về tài chính hành vi đều là những nghiên cứu thực nghiệm

để chứng minh tính phổ biến của thị trường từ đó đưa ra các hàm ý chính sách về hành

vi của các cá nhân liên quan đến sử dụng các loại tài sản tài chính Như vậy, nếu trong một “tổng thể” lớn thì các nghiên cứu về tài chính hành vi khó có thể phát triển được.Thứ hai, mặc dù có liên quan đến hành vi tài chính của các cá nhân (và sâu xa hơn

là hành vi của doanh nghiệp và thị trường) thì nhánh nghiên cứu về tài chính hành vicũng chỉ tập trung vào cá nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, tức là nhóm các cánhân có kiến thức tài chính và thái độ tài chính tốt, đặc biệt là “không nghèo” Tức làcác quyết định liên quan đến tài chính của nhóm người này sẽ khác đối với nhóm ngườinghèo: trước hết phải đáp ứng các nhu cầu cơ bản về cuộc sống, sau đó mới tiến đến cáckhoản đầu tư – dù rằng nhóm người nghèo cũng có những đặc điểm tương tự mà tàichính hành vi nêu ra: tâm lí bầy đàn, sợ rủi ro, các vấn đề về lệch lạc

Trong các nghiên cứu về hành vi, mặc dù không thuộc lí thuyết về tài chính hành

vi, song vẫn cần đề cập đến lí thuyết hành động hợp lí (Theory of Reasoned Action –TRA) của Fishbein và Ajzen (1975) Nhóm lí thuyết này trả lời các vấn đề liên quan đếnhành vi của con người nói chung – trong đó có hành vi tài chính Theo lý thuyết này, ýđịnh hành vi có thể được giải thích bằng thái độ đối với hành vi và mức quy chuẩn chủquan Thái độ đối với hành vi được định nghĩa là: cảm xúc tích cực hay tiêu cực của một

cá nhân về thực hiện các hành vi mục tiêu, còn quy chuẩn chủ quan được đề cập là:người khác cảm thấy thế nào khi bạn làm một việc nào đó Hạn chế lớn nhất của môhình này là cho rằng toàn bộ hành vi của một cá nhân đều do lí trí của chính mình Đểkhắc phục những nhược điểm của mô hình TRA, Ajzen và Fishbein (1980) đã đưa ra môhình lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) Mô hình TPBcho rằng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định của con người làthái độ Sự mở rộng của lý thuyết TPB khi nghiên cứu cho rằng thái độ, hành

vi kiểm soát cảm nhận và mức quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định hành vi vàhành vi của cá nhân (Ajzen, 1991) Nhân tố hành vi kiểm soát cảm nhận (PerceivedBehavioral Control) được thêm vào để thể hiện sự khó khăn hay dễ dàng khi thực hiệnmột hành vi cụ thể và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay không Lý thuyếtnày được một số nghiên cứu cho rằng tối ưu hơn trong việc giải thích và dự đoán hành

vi của người tiêu dùng trong một nội dung và hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên, các nghiên

Trang 22

cứu của nhóm lí thuyết này đi về vấn đề giải thích hành vi của cá nhân nói chung hơncác hành vi về vấn đề tài chính – đặc biệt lại không có nghiên cứu nào về hành vi củangười nghèo Do vậy, đây sẽ là một trong những nền tảng của tác giả khi phát triển cơ

sở lí thuyết, cùng với lí thuyết về tài chính hành vi

1.2 Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô

Đối với nhánh nghiên cứu về nghèo đói cũng như các biện pháp để xóa đói giảmnghèo bằng cách hỗ trợ tài chính, đây là một nhánh nghiên cứu quan trọng Tuy nhiên,tài chính vi mô không có nền tảng lí thuyết gốc rõ rệt, mà phải dựa vào 1 số các nhánhnghiên cứu sau đây:

Đầu tiên, là nhánh nghiên cứu về đào tạo kiến thức cho con người (trong đó có đào tạo tài chính để hình thành nên kiến thức tài chính) và minh chứng rằng đây là nền tảng của phát triển bền vững Nhánh nghiên cứu về vốn con người cho rằng nếu không

phát triển con người thì khó có thể phát triển kinh tế bền vững, bởi nếu không có nhân

tố con người thì không thể sử dụng hiệu quả vốn vật chất: ví dụ như đất đai, máy móc…thì vẫn phải “vận hành” bởi con người (Schultz, 1961) Từ vấn đề vốn con người, cácnghiên cứu về dân trí tài chính hay sinh kế bền vững có nền tảng để phát triển Có thểthấy rằng, nếu ứng dụng nhánh nghiên cứu này vào phát triển DTTC thì có thể phát triểnkiến thức tài chính của các cá nhân

Trong nghiên cứu về vốn con người, có thể chia thành 2 mảng nhỏ hơn

Nhóm nghiên cứu cho rằng một trong các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế(và tất nhiên, kéo theo tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của thu nhập của các cá nhân)

là sự tích lũy kiến thức (hoặc các ý tưởng mới), từ đó tập trung vào đánh giá tác độngcủa vốn con người lên tăng trưởng thông qua các mô hình kinh tế (mô hình tăng trưởngnội sinh) Nhóm nghiên cứu này được đặc trưng bởi Arrow (1969), Romer (1990),Audretsch và Feldman (1996) Nhóm nghiên cứu này đã đưa ra những quan điểm khácnhau về kiến thức và vốn con người: vốn con người là tổng thể các kiến thức, kỹ năng,thái độ, hành vi… của một cá nhân và thậm chí là cả một tập thể trong quá trình tích lũylâu dài Các nghiên cứu trên có mối quan hệ mật thiết với ý tưởng cho rằng, trong pháttriển kinh tế - đặc biệt là kinh tế tại các nước đang phát triển – cần chú trọng đến vấn đềnghiên cứu và triển khai các hoạt động hình thành nên vốn con người, bởi có phát triểnđược hoạt động này thì mới có thể tạo ra mức tăng trưởng nhanh và bền vững (Romer,1990) Tuy nhiên, đưa ra hàm ý chính sách và đánh giá tác động của tác giả này thườngdành cho các nước phát triển, bởi để đạt đến khả năng có thể nghiên cứu và triển khaithì phải có được mức vốn con người – tức là phải tạo ra được một ngưỡng nhất định –

Trang 23

và từ ngưỡng này mới có thể nghiên cứu và triển khai các sản phẩm mới Nhóm nghiên cứu

đã chứng minh được rằng, khi đầu tư vào vốn con người thì sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tếtrong một thời kỳ nhất định, từ đó tác động đến mức thu nhập của một nhóm đối tượngtrong một thời kỳ cụ thể Nhưng hạn chế là khó có thể áp dụng vào khu vực nông thôn tạicác nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, bởi khu vực này thiếu cả nguồn lực vật chất lẫnnguồn lực con người nhất là nhóm đối tượng liên quan đến nghèo đói như người nghèo,vùng nghèo (OECD, 2015, Nguyễn Thị Hoa, 2009, Thái Phúc Thành, 2014) Nếu cho rằngnghiên cứu của Romer (1990) là lý thuyết gốc về vốn con người thì lại có rất nhiều các giảthuyết ràng buộc – tức là khó có thể áp dụng vào những khu vực hẹp – điển hình là khu vựcnông thôn của các nước đang phát triển hoặc các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi; hoặcđối tượng là người nghèo (tất nhiên, tùy theo từng chuẩn nghèo của các quốc gia) Ngoài ra,nhóm nghiên cứu này vấp phải một quan điểm: trong mối tương quan giữa vốn con người

và tăng trưởng kinh tế thì đâu là biến độc lập và đâu là biến phụ thuộc? Nếu coi vốn conngười là biến độc lập thì đương nhiên có tác động đến tăng trưởng kinh tế (Romer, 1990).Tuy nhiên, nếu theo chiều ngược lại thì tăng trưởng kinh tế cũng có những tác động nhấtđịnh đến vốn con người bởi khi có tăng trưởng kinh tế thì mỗi quốc gia sẽ có nhiều nguồnlực hơn để phát triển con người, và bản thân việc di cư giữa các vùng hoàn toàn có thể ảnhhưởng đến tăng trưởng kinh tế (Lau và cộng sự, 1993)

Ứng dụng hướng nghiên cứu này tại các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi nhưViệt Nam, có thể kể đến nghiên cứu của Moock và cộng sự (2003), Nguyen (2004), TrầnThọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008), Thái Phúc Thành (2014), Patrinos và cộng sự (2018)

Đa phần các nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận vi mô, tức là đánh giá tác động của vốncon người lên thu nhập của các đối tượng khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định,thường kéo dài trong khoảng giai đoạn 1993 – 2006; và không tập trung vào nhóm đốitượng là người nghèo hoặc đối tượng sinh sống ở khu vực nông thôn Thậm chí, các nghiêncứu này lại đưa ra những kết quả khác nhau về cùng một vấn đề nghiên cứu Ví dụ: theonguyên tắc thì vốn con người cao hơn thì phải tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) caohơn, nhưng những bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam lại cho thấy vùng đồng bằng sôngHồng có số năm đi học cao nhất Việt Nam nhưng lại có GDP ở mức thấp; trong khi vùngđồng bằng sông Cửu Long thì tỷ lệ đi học không cao, nhưng GDP lại đứng thứ 3 trong cácvùng kinh tế (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008, Patrinos và cộng sự, 2018) Mộtnghịch lí là nếu như càng đầu tư vào vốn con người (ví dụ như tỷ lệ giáo viên trên học sinh,hay tỉ lệ biết đọc biết viết) thì lại không đưa ra được những bằng chứng về tăng trưởng kinh

tế và thu nhập, đặc biệt tại khu vực nông thôn Nghiên cứu của Thái Phúc Thành (2014) cònđánh giá, việc đầu tư

Trang 24

vào vốn con người (như trình độ giáo dục, trình độ chuyên môn) cho khu vực nông thônkhông mang lại kết quả, tức là ngược với một số nghiên cứu trước và kể cả sau này.Hướng nghiên cứu cho rằng vốn con người là sự tích lũy kiến thức, kỹ năng,chuyên môn… theo thời gian Nhánh này được đặc trưng bởi các nghiên cứu nền tảngcủa Lucas (1988), sau đó được phát triển bởi Rebelo (1991), Mankiw và cộng sự (1992).Hướng nghiên cứu của Lucas đơn thuần là một dạng mô hình tích hợp kiến thức của các

cá nhân trong quá trình sinh sống, nhưng đơn giản hơn so với hướng nghiên cứu thứnhất (vì ít ràng buộc), nên nhánh này được phát triển nhiều (Trần Thọ Đạt và Đỗ TuyếtNhung, 2008) Nhánh này đã thúc đẩy sự phát triển các nghiên cứu về tài chính vi mô,

và cũng chứng minh vấn đề: nếu người nghèo không được hỗ trợ để có thể tiếp cận vốntrên thị trường thì sẽ lại rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói Bị giới hạn trong khảnăng vay vốn, người nghèo khó có thể có khả năng sử dụng các dịch vụ khác nhau trongnền kinh tế (do không có tiền!), nên không thể đầu tư vào học hành hoặc kinh doanh(Morduch, 1999, Ledgerwood, 1998, Ledgerwood và cộng sự, 2013) Các nghiên cứu đã

đề cao được vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tếthông qua việc đầu tư trực tiếp hay gián tiếp vào giáo dục, đặc biệt là mảng tài chính vi

mô và tài chính dành cho người nghèo Vì vậy, điều cần thiết là cần phải miễn phí giáodục (tiểu học và trung học) hoặc để có thể tăng trưởng kinh tế bền vững thì có thể tạo racác chương trình tín dụng công để làm gia tăng phúc lợi xã hội Các hàm ý chính sáchđược đưa ra đã tạo tiền đề để xây dựng các tổ chức tài chính vi mô tại các nước đangphát triển và kém phát triển trên thế giới Tuy vậy, các nghiên cứu trên vẫn vấp phải một

số phê phán từ các bằng chứng thực nghiệm Điển hình trong các nhóm phê phán có thể

đề cập đến như đã quá đề cao vai trò của vốn con người, và một số chính sách (nhưchính sách liên quan đến hỗ trợ con người học tập) dường như đang rơi vào ý tưởng trựcquan của người viết Minh chứng cho việc này là nếu chính phủ trợ cấp cho khu vực tưnhân trong giáo dục thì lại làm giảm tăng trưởng (Zhang, 1996), bởi việc này làm chokhu vực tư nhân sẽ tận dụng các khoản thuế để phát triển các hoạt động khác; hoặc sẽtạo ra quá nhiều giáo dục dẫn đến sự thay thế không hiệu quả giữa lao động có trình độchuyên môn cao và lao động phổ thông trong thời gian đủ dài (Upadhyay, 1994) Kếtquả của Jones và Williams (2000) còn cho thấy, việc đầu tư vào vốn con người dườngnhư không có hiệu quả khi tăng trưởng kinh tế không theo kịp với tốc độ đầu tư củachính phủ Nguyên nhân của tình trạng này là mỗi nước khác nhau có một đặc điểmkinh tế khác biệt về mặt thể chế, các chính sách thương mại, pháp luật… làm cho dữliệu thu thập bị sai khác (Tallman và Wang, 1994, Li và cộng sự, 1998, Gujarati vàPorter, 2003), nên đưa ra kết quả của mô hình cũng khác nhau

Trang 25

Tại Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cũng đi theo hướng này, trong đó chủ yếudựa vào các dữ liệu mảng để phân tích tác động của vốn con người tới tăng trưởng kinh

tế tại từng tỉnh và từng vùng (Scott và Chuyen, 2004, Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung,

2008, Klump và Bonschab, 2004) Các hàm ý chính sách đưa ra từ các nghiên cứu về cơbản đều đi theo hướng đề xuất của nhóm nghiên cứu thứ nhất, tức là cũng đầu tư vàocon người như giáo dục, y tế, hoặc khuyến khích đầu tư thêm vào cơ sở vật chất Nhưngmột trong những hạn chế lớn nhất là vẫn không chứng minh được việc đầu tư như thếnào sẽ có hiệu quả cao

Như vậy, về cơ bản, nhóm nghiên cứu này cho rằng đầu tư vào con người sẽ manglại lợi ích trong tương lai, đặc biệt là đầu tư về kiến thức tài chính Tuy nhiên, vì nhữngđặc điểm khác nhau về nhân khẩu học, địa lý, chính sách… nên các bằng chứng thựcnghiệm vẫn đưa ra những kết quả mâu thuẫn Một số hàm ý chính sách liên quan đếnkhu vực nông nghiệp và nông thôn; hoặc về đối tượng là người nghèo vẫn không đạtđược kết quả khả quan như cách thức đào tạo về kiến thức, kỹ năng ra sao; hoặc xácđịnh mức vốn con người ở thời điểm hiện tại như thế nào để đưa ra các chương trìnhđịnh hướng về thái độ, hành vi, kiến thức, nhất là trong mảng tài chính vẫn chưa đượcphát triển Do vậy, việc mở rộng các vấn đề liên quan đến vốn con người (trong đó cómột cấu phần của nó là Dân trí tài chính) cần được bổ sung nhằm đưa ra các bằng chứngthực nghiệm để phát triển kinh tế bền vững

Nhánh nghiên cứu thứ hai mà tài chính vi mô dựa vào nền tảng là nhánh nghiên cứu về sinh kế bền vững Nhóm nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát triển trên nền

tảng của các nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo Trong các nghiên cứu thuộc nhóm này,

đa phần các tác giả đều đồng thuận: các luận điểm chính của sinh kế bền vững bao gồm:(1) các cá nhân, hộ gia đình sử dụng các nguồn lực hiện tại (con người, tài chính, tựnhiên, vật chất và các yếu tố xã hội) nhằm ứng phó với những thay đổi của thiên nhiên

và thị trường nhằm đạt được sinh kế bền vững (2) Con người là yếu tố cốt lõi trongkhung sinh kế bền vững, do vậy, để có được một khung sinh kế thì chính phủ phải đưa

ra các chương trình trợ cấp liên quan đến việc tạo lập cho người nghèo một khả năng để

có thể tự phát triển được hoạt động sản xuất kinh doanh trong lâu dài Nhóm nghiên cứunày là nền tảng chính về tài chính vi mô (3) Vì con người là vấn đề trung tâm trong sinh

kế, nên việc xóa đói giảm nghèo phải hướng đến việc tạo lập cho các cá thể trong nềnkinh tế một nền tảng vững chắc về thể chế, môi trường, xã hội và kinh tế, trong đó phải

có yếu tố giáo dục về tài chính và cách thức sinh hoạt (Chambers và Conway, 1992,Scoones, 1998, Ashley và Carney, 1999, Solesbury, 2003)

Trang 26

Thành tựu lớn nhất của nhóm nghiên cứu về sinh kế bền vững là đã đưa ra đượcmột khung nghiên cứu nhóm lại trong 5 yếu tố chính: (1) nguồn lực sinh kế; (2) hoạtđộng sinh kế; (3) kết quả sinh kế; (4) thể chế và chính sách; (5) các tác động bên ngoài(Solesbury, 2003) Trong 5 nhóm yếu tố này thì nguồn lực sinh kế là yếu tố quan trọngnhất, bao gồm nguồn lực tài chính và nguồn lực con người và một số nguồn lực khác.Việc ứng phó với sự thay đổi của môi trường, đặc biệt là biến đổi khí hậu và việc di cưnông thôn đã đặt vấn đề tài chính và giáo dục về cách làm ăn, sinh sống của các cá nhânlên làm trọng tâm (Dey và Prein, 2004, DfID, 1999) Khi đó mới có thể thay đổi đượcthái độ và hành vi của người nghèo tại khu vực nông thôn, nhất là các vấn đề liên quanđến tài chính.

Do nghiên cứu về sinh kế bền vững thường tiến hành với đối tượng là người nghèocủa khu vực nông thôn nên đây cũng là nền tảng của tài chính vi mô (Scoones, 1998,Ledgerwood và cộng sự, 2013) Việc đưa ra một khung chương trình nhằm hướng đếnviệc giảm nghèo cần thiết đối với khu vực này Chính vì thế, khi đưa ra được hướnggiảm nghèo trên cơ sở kết hợp được nhiều chương trình, dự án của chính phủ, ví dụ nhưcác chương trình hỗ trợ tài chính cho người nghèo tại khu vực nông thôn, giáo dục tàichính cá nhân hay hướng dẫn việc sử dụng các sản phẩm tài chính qua hệ thống ngânhàng (trên góc độ tài chính – nằm trong tính bền vững về xã hội); hoặc tạo ra sản phẩmmới hoặc có cơ chế riêng để giúp người nghèo tại vùng nông thôn có thể tự thích ứngđược trong dài hạn (Armitage và cộng sự, 2009, Smit và Wandel, 2006) Tuy nhiên, bảnthân nhóm nghiên cứu này cũng có một số vấn đề về mặt thực tiễn liên quan đến vấn đềcon người, trong đó có người nghèo ở khu vực nông thôn như:

Thứ nhất, mục tiêu của tác giả là vấn đề làm sao người nghèo có thể tồn tại và cóthể phát triển được Đây là vấn đề ưu tiên hàng đầu của cả các nhà nghiên cứu và cácnhà làm luật (Vũ Thị Hoài Thu, 2013) Nhưng khi đã có được một khung sinh kế bềnvững (dựa trên các hỗ trợ của chính phủ hoặc các tổ chức khác), và các đối tượng hưởnglợi đã thoát nghèo thì nhóm lý thuyết này lại không đưa ra được các hàm ý chính sáchtiếp theo bởi khi đã thoát nghèo thì nhóm người này lại hướng đến các mục tiêu khácnhư bình đẳng giới, hoặc sự cân bằng giữa mục tiêu vật chất và phi vật chất

Thứ hai, trong việc phát triển sinh kế bền vững cho khu vực nông thôn (thườnghướng tới đối tượng là người nghèo) thì thể chế và chính sách đóng vai trò quan trọng(Scoones, 1998) Chính vì thế, các hàm ý về thể chế và chính sách nhằm tạo ra khungsinh kế bền vững cho người nghèo đều liên quan đến việc giáo dục chính sách tài chínhnhằm tạo ra khả năng tiết kiệm, hoặc có thể sử dụng đồng vốn một cách phù hợp Trongkhung sinh kế này, việc hướng dẫn người nghèo biết đọc, biết viết, biết tính toán cũng

Trang 27

là một phần quan trọng về mặt thể chế (Ledgerwood và cộng sự, 2013) Sau khi đã biếtđọc và biết viết mới hướng dẫn người nghèo các kiến thức về tài chính Nhưng việc điềutra thực tiễn cho thấy, người nghèo có được kiến thức tài chính tốt (liên quan đến vấn đềhiểu biết – thuộc phạm trù con người trong sinh kế bền vững) thì vẫn không thể thoátnghèo do những vấn đề liên quan đến thái độ và hành vi tài chính còn “lệch lạc”(Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017).

Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát triển dựatrên lý thuyết về giảm nghèo và có mối liên hệ mật thiết với các nghiên cứu về tài chính

vi mô Trong giới hạn phạm vi của mình, các nghiên cứu này đã giải quyết được vấn đề

về khung sinh kế bền vững, đưa ra được các hàm ý chính sách khác nhau liên quan đếnmặt thể chế dành cho người nghèo khu vực nông thôn Một trong những hàm ý quantrọng (theo hướng tiếp cận các dịch vụ tài chính) là việc cung cấp cho người dân mộtnguồn lực sinh kế dựa trên việc có thể cho vay vốn và hình thành thói quen tiết kiệm.Tuy nhiên, nếu chỉ có dịch vụ tài chính và giáo dục tài chính mà không đánh giá tìnhtrạng dân trí tài chính đang ở mức độ nào thì khó có thể đưa ra một hàm ý chính sáchbền vững – đặc biệt là đối với nhóm đối tượng cận nghèo

1.3 Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính

Do chưa có sự thống nhất trong nội hàm của DTTC nên các nghiên cứu về DTTCthường không phân thành các trường phái, nhưng về cơ bản có thể chia thành các nhómnhỏ: (1) nghiên cứu về yếu tố tác động đến DTTC; (2) nghiên cứu về phương pháp đolường DTTC; (3) nghiên cứu về hàm ý chính sách Trong phạm vi phần này của luận án,chỉ trình bày về nhân tố tác động đến DTTC và ảnh hưởng của DTTC đến thu nhập

1.3.1 Nhóm nghiên cứu về nhân tố tác động đến dân trí tài chính

● Yếu tố về trình độ học vấn

Các quan điểm về tác động của trình độ học vấn theo cách tiếp cận này cũng cónhiều điểm tương đồng do dựa trên kết luận về vốn con người Brown và Graf (2013)chỉ ra mối quan hệ tương quan chặt chẽ giữa DTTC và trình độ học vấn Cùng quanđiểm trên, Atkinson và Messy (2012) cho thấy ở Đức, Malaysia và Ba Lan thì các cánhân có học vấn cao hơn có điểm số DTTC cao hơn Tùy từng phạm vi nghiên cứu màcác tác giả đánh giá trình độ học vấn của các cá nhân, ví dụ như học vấn của bố mẹ cótác động đến DTTC của con cái hay không Tuy nhiên, đối với người nghèo hoặc ngườilớn tuổi thì việc xác định trình độ học vấn lại khó khăn, khi mà thế hệ trước của họkhông có điều kiện học tập hoặc đã qua đời

Trang 28

Ở mỗi quốc gia đều có cách đo lường trình độ học vấn riêng biệt, nên kết luận cụthể về tác động của trình độ học vấn lên DTTC vẫn chưa đồng nhất tạo ra khoảng trốngcủa những nghiên cứu này Một đặc điểm đặc trưng của Việt Nam là tuy trình độ họcvấn cao, nhưng thu nhập lại thấp (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008) – thể hiệnqua thu nhập bình quân đầu người hoặc GDP Đặc biệt, khu vực đồng bằng sông Hồng

là nơi có trình độ học vấn cao nhất cả nước, nhưng tính bình quân GDP lại thấp gầnnhất Vì vậy, việc đánh giá học vấn tác động lên DTTC trong bối cảnh Việt Nam là mộtkhe hở có thể tiếp tục khai thác

● Yếu tố về thu nhập

Jonubi và Abad (2013) đã chỉ ra rằng thu nhập đóng một vai trò quan trọng tronghành vi tiết kiệm của con người: khi thu nhập tăng thì tiết kiệm tăng Các nghiên cứu ởEstonia, Na Uy, Cộng hòa Séc, Hungary, Ireland, Malaysia và Nam Phi cho thấy rằngthu nhập càng cao thì điểm DTTC càng tốt (Monticone (2010); Lusardi và Mitchell(2011b), Bhushan và Medury (2013); Potrich và cộng sự (2015)) Tuy nhiên, ở Armenia

và Ireland, người tiêu dùng thu nhập trung bình có hiểu biết về tài chính tốt nhất và ở Na

Uy có rất ít sự khác biệt giữa người tiêu dùng trung bình và người có thu nhập cao.Quan điểm này cũng được ủng hộ trong các nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2007),Lusardi và cộng sự (2011b)

Đa phần, các nghiên cứu trên đều đo lường thu nhập thông qua việc trả qua thẻngân hàng, tuy nhiên, tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, việc sử dụng tiềnmặt rất nhiều (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2014, Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017,World Bank, 2014) nên việc đánh giá thu nhập không phù hợp Thêm vào đó, một trongnhững đặc trưng của vùng nông thôn Việt Nam là việc “đổi công” trong quá trình sảnxuất và thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp – và hoạt động này thường không đượchạch toán vào thu nhập Vì vậy, việc tính toán và đánh giá lại thu nhập cũng như tácđộng của nó lên DTTC là một yêu cầu cần thiết

● Yếu tố việc làm

Banks và Oldfield (2007) chỉ ra những người có việc làm ổn định sau khi nghỉ hưu

có DTTC cao hơn nhóm người có việc làm không ổn định sau khi nghỉ hưu Bhushan vàMedury (2013) dựa trên cơ sở tính chất của việc làm, đã chia đối tượng nghiên cứuthành hai loại là nhân viên chính phủ và phi chính phủ Kết quả cho thấy cho thấy cácnhân viên phi chính phủ có trình độ hiểu biết về tài chính cao hơn so với nhân viênchính phủ Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng kết luận rằng bản chất của việc làm ảnhhưởng đến trình độ DTTC Kết luận này cũng được ủng hộ bởi Baker và Ricciardi(2014); Albeerdy và Gharleghi (2015); Nanziri và Leibbrandt (2018)

Trang 29

Cách tiếp cận theo việc làm phù hợp về mặt đánh giá DTTC, nhưng vẫn để lại mộtkhoảng trống: đa phần phạm vi nghiên cứu của các nước thuộc các nghiên cứu trên lànước phát triển, thu nhập từ việc làm (cũng như từ trợ cấp xã hội rất cao), trong khi đócác nước phát triển lại không như thế Và nếu như đối tượng nghiên cứu là người nghèolại hiếm khi có một việc làm mang tính chất hành chính hoặc đều đặn nên việc kiểm tratác động của việc làm mang tính chất thời vụ của nhóm đối tượng này tại khu vực nôngthôn vẫn còn bỏ ngỏ.

● Yếu tố tuổi tác

Agarwal và cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng hiệu suất tài chính cao nhất ở trung niênvào khoảng 53 tuổi khi họ có những quyết định tài chính ít sai lầm hơn so với nhữngngười trẻ tuổi hơn hay là những người lớn tuổi hơn Tuy nhiên, Brown và Graf (2013)chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa tuổi tác và DTTC: những người trả lời có độ tuổi

từ 36 - 50 tuổi có trình độ DTTC cao, trong khi đó nhóm tuổi dưới 35 tuổi và trên 65tuổi chỉ có 45% số người trả lời trả lời tất cả các câu hỏi một cách chính xác Kết quảnày cũng được chỉ ra trong một số nghiên cứu của Alessie và cộng sự (2008), Lusardi vàTufano (2015), Agarwal và cộng sự (2009), Lusardi và cộng sự (2010), Atkinson vàMessy (2012), Lusardi và cộng sự (2017) Các nghiên cứu của Bhushan và Medury(2013); Nanziri và Leibbrandt (2018) lại chỉ ra rằng tuổi tác không thật sự có ý nghĩathống kê khi đo lường DTTC Một trong những nguyên nhân của sự khác biệt này là cácnghiên cứu này tiến hành trong những môi trường khác nhau (đa phần thuộc khu vựcthành thị, và với những nhóm đối tượng không phải người nghèo), bỏ qua các nước chịuảnh hưởng của nền văn hóa Đông Á – khi mà mức độ tiêu dùng hay thái độ tài chínhchịu ảnh hưởng lớn từ những người xung quanh, hoặc nhóm người già (Mai vàTambyah, 2011) Như vậy, các nghiên cứu trên vẫn có sự khác biệt và chưa đưa ra đượcmột kết luận thống nhất về ảnh hưởng của yếu tố tuổi tác lên DTTC – đặc biệt là trongnhững nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam

● Yếu tố giới tính

DTTC cũng có sự khác biệt lớn về giới tính, ví dụ, tại Hoa Kỳ, Thụy Điển, Ý, Nga

và New Zealand, cũng như các nước có nền kinh tế phát triển (Atkinson và Messy,

2011, Atkinson và Messy, 2012) cho thấy nam có DTTC tốt hơn nữ Tuy nhiên, Koenen và Lusardi (2011) đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt quá rõ ràng giữa nam và

Bucher-nữ khi cùng đo lường về DTTC Kết quả nghiên cứu này dường như đi ngược lại vớihầu như các nghiên cứu hiện nay đang có ở trên thế giới về DTTC Đây cũng là kết quảcủa các nghiên cứu Bhushan và Medury (2013); Nanziri và Leibbrandt (2018)

Trang 30

Một trong những vấn đề mà các nghiên cứu trên đã tiến hành là đa phần mẫunghiên cứu đều tại các nước có nền kinh tế phát triển, hoặc vấn đề bình đẳng giới đãđược đề ra và giải quyết trong thời gian khá dài Trong khi đó, tại các vùng nông thôncủa các nước Đông Á và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, bấtbình đẳng giới vẫn là một trong những thách thức đối với việc giáo dục về DTTC hoặctiếp cận các dịch vụ tài chính cơ bản (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017, Ledgerwood

và cộng sự, 2013) Nhưng do sự phát triển của các tổ chức tài chính tài chính vi mô, sự

hỗ trợ của chính phủ Việt Nam và các tổ chức khác, nhóm đối tượng phụ nữ nghèo ởvùng nông thôn đã có khả năng nâng cao DTTC và dần làm chủ cuộc sống của mình(Shakya và Rankin, 2008, Nghiem và cộng sự, 2012) Như vậy, quan điểm về ảnhhưởng của yếu tố giới tính lên DTTC ở trên thế giới vẫn chưa thật sự thống nhất hoàntoàn và vẫn có những khoảng trống nghiên cứu cần được phát triển thêm, nhất là tại cácvùng có sự hỗ trợ của chính phủ về xóa đói giảm nghèo cũng như sự phát triển của tổchức tài chính vi mô

● Yếu tố chủng tộc và tôn giáo

Ảnh hưởng của chủng tộc tới DTTC đã được nghiên cứu bằng nhiều công trìnhkhác nhau như Bumcrot và cộng sự (2011) tại Hoa Kỳ, Crossan và cộng sự (2011) ởNew Zealand; Alessie và cộng sự (2008) ở Hà Lan; Bagić (2011) ở Bosnia vàHerzegovina; Trong nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2011b), Lusardi và cộng sự(2011a) cũng chỉ ra rằng chủng tộc cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đếnDTTC Kết quả nhóm tác giả thu lại được là đã có một sự khác biệt nhất định trong việcnhận thức về DTTC giữa các nhóm chủng tộc Kết quả được ủng hộ trong nghiên cứucủa Zhan (2006) tại Tây Ban Nha Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã chỉ ra rằng,những người tham gia có gốc Tây Ban Nha thường có điểm về kiến thức tài chính thấphơn so với những dân tộc khác

Alessie và cộng sự (2008) nghiên cứu đối với hơn 2.000 hộ gia đình bằng phươngpháp điền bảng hỏi đã đưa ra kết quả rằng yếu tố tôn giáo ảnh hưởng tới DTTC Trongnghiên cứu này chia tôn giáo thành 4 nhóm chính là không có tôn giáo, đạo Tin Lành,Công giáo và các nhóm tôn giáo khác Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm ngườithuộc đạo Tin lành có kiểm soát về tài chính tốt hơn những người thuộc đạo Công giáo

và các tôn giáo khác trong khi những người không có tôn giáo lại là những người có xuhướng đầu tư vào chứng khoán và bất động sản nhiều hơn những nhóm còn lại Kết quảnày cũng được ủng hộ trong nghiên cứu của Nanziri và Leibbrandt (2018)

Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu trên được tiến hành tại các nước chịu ảnh hưởngcủa đạo Thiên Chúa, trong khi đó, tại các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi như

Trang 31

khu vực Đông Nam Á hay Đông Á, Nho giáo và Phật giáo lại là những tư tưởng có ảnhhưởng lớn nhất Tran và cộng sự (2017) chỉ ra rằng, tại các nước thuộc khu vực này,người dân có tư tưởng tôn giáo không nặng nề, và cũng thường ít đến các cơ sở thờ tự.Thậm chí, tư tưởng “vô vi” còn cho thấy, việc tìm hiểu kiến thức tài chính cũng khôngquá nặng nề Như vậy, các nghiên cứu từ những khu vực khác nhau trên thế giới chỉ rađược rằng chủng tộc và tôn giáo là một yếu tố ảnh hưởng đến việc nhận thức và kiếnthức tài chính nên ảnh hưởng của nó tới DTTC, nhưng lại chưa tìm hiểu tại các nướcnhư Việt Nam – đặc biệt là của người nghèo khu vực nông thôn.

1.3.2 Nhóm quan điểm về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

Nếu như ảnh hưởng của thu nhập lên DTTC đã nghiên cứu và chứng minh ở trongcác nghiên cứu khác nhau (trong tác giả về vốn con người), thì ảnh hưởng của DTTClên việc nâng cao thu nhập của cá nhân vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng và cụ thể.Trong trường hợp coi DTTC là sự kết hợp của kiến thức, thái độ và hành vi tài chính để

có thể ra quyết định tài chính và nâng cao mức độ tài chính của một cá nhân, thì thunhập là một trong những chỉ tiêu đo lường mức độ tài chính của cá nhân Nói cách khác,DTTC có ảnh hưởng lên thu nhập

Các nghiên cứu của Stango và Zinman (2009), Lusardi và Mitchell (2007) cũngủng hộ quan điểm: việc cải thiện DTTC sẽ giúp một cá nhân đưa ra những quyết định tàichính tốt hơn, cho phép lên kế hoạch tốt hơn trong việc quản lý tài chính và sử dụng tiềnbạc, vì thế ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của một cá nhân

Ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập còn được chứng minh qua các việc nghiên cứucác hành vi nợ Agarwal và cộng sự (2009) đã thực hiện một nghiên cứu và đưa ra kếtluận rằng những cá nhân có kiến thức về thẻ tín dụng sẽ thường đưa ra những sự lựachọn khoản nợ tốt hơn Kết quả này cũng được ủng hộ bởi Lusardi và Tufano (2015) khicho rằng việc điểm số DTTC thấp có liên quan tới việc chi phí nợ cao Courchane vàZorn (2005) đã đưa ra kết luận rằng nhân tố chính ảnh hưởng đến việc lựa chọn khoảnvay hay kết quả của việc chi trả nợ chính là hành vi tài chính, một trong những nhân tốphản ánh nên mức độ DTTC của một cá nhân Việc lựa chọn khoản vay hay chi trả nợ làmột trong những yếu tố được sử dụng để tính toán thu nhập khả dụng của một cá nhân,chính vì vậy, thông qua việc nghiên cứu hành vi nợ cũng có thể thấy rằng DTTC ảnhhưởng lên thu nhập

Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào trên thế giới đưa ra một khẳng định rõràng về ảnh hưởng và xu hướng tác động của DTTC lên thu nhập của một cá nhân, đặcbiệt là người nghèo khu vực nông thôn

Trang 32

1.4 Khoảng trống nghiên cứu

Lusardi và Mitchell (2014) và rất nhiều các nghiên cứu khác trên thế giới đã chỉ rarằng DTTC có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Thông qua các kếtquả của các nghiên cứu đã được nêu ở phần trên, DTTC có tác động tới việc chi tiêu,đầu tư và tiết kiệm của từng cá nhân trong nền kinh tế biểu hiện qua lý thuyết, thái độ vàhành vi của các chủ thể trong nền kinh tế Song, các kết quả của các tác giả còn nhiềuđiểm bất tương đồng; qua đó, bộc lộ ra một số vấn đề có thể được phát triển tiếp trongcác nghiên cứu sau này Đây chính là khoảng trống của các nghiên cứu đã công bố, cụthể:

Thứ nhất, về nội hàm của DTTC chưa thống nhất trong các nghiên cứu Khoảng

trống giữa các nhân tố phản ánh DTTC – tức là bản thân DTTC được bao gồm 3 yếu tố

là Thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính – và 3 nhân tố này phản ánh

ra sao lên DTTC Cũng chính vì thế, nên đã xuất hiện khoảng trống về phương pháp tiếpcận để đánh giá về dân trí tài chính

Thứ hai, việc phân tích và trình bày các kết quả đánh giá của các nghiên cứu tập trung nhiều đến phân tích định tính.

Nguyên nhân của các điểm bất đồng này có thể do sự khác biệt giữa quan điểmcủa các nhà nghiên cứu, đặc điểm riêng của từng vị trí địa lý, khác biệt về mẫu nghiêncứu và phương pháp nghiên cứu Cụ thể:

- Do các phương pháp đo lường chưa thống nhất, các bảng hỏi sử dụng cần đượcđiều chỉnh cho phù hợp với thực tế tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như ViệtNam

- Đối tượng nghiên cứu của các nghiên cứu trên chỉ tập trung vào nhóm người cóthu nhập trung bình trở lên, sinh viên và người sống ở khu vực thành thị Vậy, đối tượngngười nghèo và người sống ở khu vực nông thôn chưa được đề cập đến

- Các nghiên cứu đang tập trung vào hướng các nước phát triển như các nước OECD, Mỹ, Nhật… mà bỏ qua các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam

- Về đặc điểm nhân khẩu học, các nghiên cứu này đang tập trung vào các nước cómảng văn hóa mang tính chất tiêu dùng cao, nhưng lại bỏ qua các nước có tính chấtcộng đồng lớn như Việt Nam, hoặc có ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và Phật giáo(Mai và Tambyah, 2011, Nghiem và cộng sự, 2012, Tran và cộng sự, 2017)

Thứ ba, những đặc trưng riêng của Việt Nam có ảnh hưởng đến DTTC chưa được

đề cập đến trong các nghiên cứu đã công bố.

Trang 33

Nền kinh tế Việt Nam có giai đoạn phát triển khác biệt so với kinh tế thế giới Sauquá trình đổi mới từ năm 1986, Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thịtrường có định hướng của nhà nước Hiện tại, Việt Nam đang tạo điều kiện cho chínhsách khởi nghiệp bao gồm: khung pháp lý để tạo thuận lợi cho khởi nghiệp; cơ chế vốn

và đầu tư riêng cho khởi nghiệp; doanh nghiệp lớn đầu tư, hỗ trợ khởi nghiệp (Tang vàTan, 2015) Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, đồng thời Việt Namđang cải thiện rất nhiều trong việc nâng cao đời sống của cư dân tại khu vực nông thôn(Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017) nhưng việc tiếp cận các dịch vụ tài chính tại khuvực này vẫn rất thấp, đặc biệt là về kiến thức tài chính (Dinh và Nguyen, 2017) hay sửdụng các dịch vụ liên quan đến ngân hàng số (Phạm Bích Liên, 2016) Do vậy, việcđánh giá hiện trạng DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam vẫn còn bỏngỏ Thêm vào đó, trình độ tri thức của người dân còn kém Mặc dù World Bank (2014)cho rằng Việt Nam luôn nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ phổ cập giáo dục, xóa

mù chữ nhanh nhất trên thế giới nhưng đối với một số khu vực nông thôn, vùng sâuvùng xa, vấn đề về tài chính hầu như còn nguyên sơ, chưa được phát triển, khả năng tiếpcận tài chính còn kém Vì vậy, việc đưa ra các bằng chứng thực nghiệm cũng như cáchàm ý chính sách phù hợp để thúc đẩy DTTC cho người nghèo khu vực nông thôn cũngcần được xem xét

Đến hiện tại, chỉ có một số ít các nghiên cứu về DTTC tại Việt Nam Các số liệuDTTC trong các nghiên cứu của Việt Nam thường được đưa ra bởi các tổ chức tài chínhquốc tế như World Bank (2015), Klapper và cộng sự (2015) Những số liệu này thường cónhững điểm hạn chế như số liệu đưa ra phục vụ cho mục đích so sánh các khu vực với nhautrên toàn thế giới chứ không phải để phục vụ mục đích nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam;

số liệu không chuyên sâu cho một nhóm đối tượng ở một vùng miền hay một độ tuổi nhấtđịnh; Chính vì thế các giải pháp các nhà hoạch định chính sách xây dựng nên trên thế giớivẫn chưa thật sự phù hợp với thực tiễn Việt Nam và có thể áp dụng tại Việt Nam Một số cácnghiên cứu khác của Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ (2018) tập trung vào vấn đềkhởi nghiệp chứ không tập trung vào người nghèo

Theo tìm hiểu của tác giả thì hầu như các nghiên cứu chưa đề cập tới mối quan hệgiữa thu nhập của người dân Việt Nam với DTTC Ở Việt Nam, với mức thu nhập ởmức trung bình thấp so với thế giới Đây là sự khác biệt rất lớn ở tầng lớp thu nhậptrung bình - thấp của Việt Nam so với cùng tầng lớp thu nhập trung bình - thấp ở cácnước trên thế giới Do vậy việc không đi sâu vào nghiên cứu thu nhập có thể gây nênnhững lỗ hổng lớn trong nghiên cứu về DTTC

Trang 34

Những tác động của vấn đề này có thể ảnh hưởng trực tiếp tạo ra sai lệch trong kếtquả nghiên cứu từ đó gây ra những sai lầm trong vận hành chính sách tại Việt Nam Vớimục tiêu có thể đưa ra những nhân tố tác động, xây dựng nên một khung nghiên cứuDTTC cụ thể, chính xác; phân tích sự ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập tại nông thônViệt Nam Phát triển từ những kinh nghiệm của các nghiên cứu trước, đưa ra một sốbiện pháp có thể áp dụng phù hợp và dành riêng vào việc nâng cao và cải thiện DTTC

tại Việt Nam, đề tài “Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn

Việt Nam” đã được lựa chọn để nghiên cứu.

Trang 35

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI

NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN 2.1 Khái quát về người nghèo khu vực nông thôn

2.1.1 Khái quát về khu vực nông thôn

Khu vực nông thôn là một khu vực rộng lớn, xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trênthế giới Nhìn chung, các quan điểm của các nghiên cứu đều cho rằng: “khu vực nôngthôn là khu vực địa lý không bao gồm thị trấn và thành phố” Cụ thể hơn về quan điểmnày, thì khu vực nông thôn bao gồm toàn bộ các cá nhân, hộ gia đình, vùng lãnh thổkhông nằm trong khu vực đô thị

Về đặc điểm của khu vực nông thôn, có thể kể đến như sau:

Đây là khu vực người sinh sống, hoạt động kinh tế chủ yếu dưới dạng nôngnghiệp Dân số tại đây thường tập trung dưới dạng nhóm nhỏ Đối với các nước đangphát triển, đời sống của người dân tại khu vực nông thôn phụ thuộc vào sản xuất nông –lâm – thủy sản; và thường không cao so với khu vực thành thị - tập trung nhiều ngànhsản xuất công nghiệp và dịch vụ

Do mức sống của người dân tại khu vực nông thôn thấp hơn khu vực thành thị nênkhu vực nông thôn thường là nơi tập trung nhiều người nghèo, và cũng xảy ra hai hiệntượng chính: (1) đô thị hóa khu vực nông thôn, do những tác động về mặt chính sách,kinh tế cũng như đầu tư làm cho khu vực này dần trở thành khu vực thành thị do cóthêm các nhà máy, khu công nghiệp cũng như đông dân cư hơn; (2) di cư từ khu vựcnông thôn ra khu vực thành thị Nguyên nhân của việc này là người dân tại khu vựcnông thôn muốn tìm một cuộc sống mới với thu nhập cao hơn ở khu vực thành thị Hậuquả làm cho khu vực nông thôn trở nên ít người sinh sống hơn, người còn ở lại phầnnhiều là người già và trẻ em

Phương thức sản xuất tại khu vực nông thôn của các nước đang phát triển phụthuộc nhiều vào thời tiết, địa hình, chưa ứng dụng nhiều khoa học kỹ thuật Cũng vì thế,nên các sản phẩm đặc trưng của khu vực này chưa được biết đến nhiều thông qua cácchỉ dẫn địa lý hay bảo hộ sản phẩm

Đa phần các quan điểm về khu vực nông thôn trên thế giới được pháp điển hóathông qua luật – tức là xác định khu vực nào là khu vực thành thị, phần còn lại sẽ là khuvực nông thôn Trong luận án này, khu vực nông thôn được hiểu theo quan điểm củanghị định 55/2015/NĐ-CP: “Nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm

Trang 36

địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố” Trong luận án này, khi nghiên cứu

về khu vực nông thôn, tác giả sẽ tìm các xã thuộc các huyện sau khi đã điều chỉnh địagiới hành chính nhằm tránh tình trạng có các cá nhân thuộc khu vực thành thị

Cá nhân thuộc khu vực nông thôn trong luận án này được hiểu là những người có

hộ khẩu thường trú tại khu vực nông thôn (theo nghị định 55/2015/NĐ-CP) và có thờigian thực trú tại địa bàn ít nhất 6 tháng/năm; đồng thời có tổng thời gian cư trú (từ lúcsinh ra đến thời điểm hiện tại) ít nhất 50% Việc này nhằm tránh tình trạng các cá nhân

đi học xa (trường hợp học sinh – sinh viên tham gia học tập tại các cơ sở giáo dục); hoặc

có mức thu nhập không mang lại từ khu vực nông thôn

2.1.2 Người nghèo khu vực nông thôn

Quan điểm về nghèo đói được nghiên cứu tại một số nước và khu vực trên thếgiới, và cũng phát triển theo từng thời kỳ - do thu nhập của người dân tăng lên Có một

số quan điểm về nghèo đói như Watts (1968) cho rằng: “nghèo được hiểu là thiếu khảnăng thỏa mãn đối với các loại hàng hóa thông thường”; còn theo Sen (1976): “nghèo làthiếu khả năng hoạt động và kém phát triển, nghèo đói là vấn đề đa chiều”; theo ADB(1999): “nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi người cóquyền được hưởng” Một số cách tiếp cận khác có thể đề cập đến nghèo đói thông quangưỡng nghèo như (1) xác định ngưỡng nghèo dựa vào thu nhập; (2) xác định ngưỡngnghèo dựa vào lượng calo đảm bảo cho 1 ngày làm việc; (3) xác định ngưỡng nghèo căn

cứ vào các nhu cầu đời sống hàng ngày (Nguyễn Thị Hoa, 2009)

Nghèo có thể được xem xét với nghĩa là nghèo tuyệt đối hay tương đối Trần XuânCầu (2013) cho rằng: “Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khảnăng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản rất tối thiểu để duy trì cuộc sống như ăn, mặc, ở,nước sạch, vệ sinh môi trường và chăm sóc y tế, giáo dục, đi lại Nghèo tương đối, haynghèo so sánh là sự nghèo khổ thể hiện sự bất bình đẳng trong quan hệ phân phối củacải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư và vùng địa lý”

Để đo lường nghèo hay xác định được người nghèo, về lý thuyết, phải đo lườngđược tất cả các khía cạnh thiếu hụt hay sự không thỏa mãn tất cả các nhu cầu cơ bản Ví

dụ, thiếu hụt về nhu cầu ăn (dinh dưỡng, lương thực, thực phẩm,…), nhu cầu về mặc(đẹp, ấm,…), nhu cầu về ở (diện tích, chất lượng nhà ở),… Trên thực tế, do có sự tươngquan khá chặt chẽ giữa mức thu nhập với mức độ tiêu dùng hay thỏa mãn những nhucầu của con người; với xu hướng chung là mức thu nhập càng cao thì mức tiêu dùngcàng cao và mức tiêu dùng này được hiểu là mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản càng

Trang 37

cao Chính vì vậy, chuẩn nghèo (tuyệt đối) thường được xác định trên cơ sở một mứcthu nhập hay chi tiêu, mà với mức thu nhập hay chi tiêu đó có thể đảm bảo thoả mãnđược những nhu cầu cơ bản phù hợp trình độ phát triển kinh tế xã hội Đây là cách xácđịnh chuẩn nghèo phổ biến ở các nước trên thế giới trong những năm gần đây.

Tất cả các chuẩn nghèo ở Việt Nam được ban hành bởi các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền là chuẩn nghèo tuyệt đối Chuẩn nghèo quốc gia là chuẩn nghèo do Chínhphủ ban hành, quy định và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc Chuẩn nghèonày được dùng để xác định đối tượng nghèo để thực hiện các chính sách, chương trìnhgiảm nghèo của Chính phủ

Bảng 2.1 Chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2000-2020

2001 – 2005 – Nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng

– Nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng

Nguồn: Quyết định 1143/2000/QĐ-LĐTBXH, Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, Chỉ thị

số 1752/CT-TTg; Quyết định 09/2011/QĐ-TTg, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg

Như vậy, theo quan điểm của tác giả, người nghèo khu vực nông thôn là người có thunhập không quá 700.000 đồng/người/tháng hoặc 1.000.000 đồng/người/tháng khi thiếu hụt

3 trong 5 tiêu chí sau đây: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin

2.2 Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

2.2.1 Khái niệm Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

“Financial Literacy” là một thuật ngữ có được hiểu theo nhiều cách khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng cách hiểu “financial literacy” là DTTC

Trang 38

(Chi tiết xem Phụ lục 1) Việc hiểu “literacy” thành dân trí phản ánh tương đối đầy đủ

phương diện về hiểu biết và khả năng vận dụng các nguyên tắc, phương pháp về tàichính, kinh tế Nghiên cứu đầu tiên về DTTC được công bố vào năm 1992 (Noctor vàcộng sự, 1992), và đến bây giờ, đây là một thuật ngữ được quan tâm và sử dụng trêntoàn thế giới Cho đến nay đã rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa và cáchgiải thích, tuy nhiên thuật ngữ này vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau theo từngnghiên cứu cụ thể

DTTC được Noctor và cộng sự (1992) định nghĩa là khả năng đưa ra những phánđoán sáng suốt và đưa ra những quyết định hiệu quả liên quan đến việc sử dụng và quản

lý tiền Trong khi đó, Schagen và Lines (1996) cho rằng một cá nhân được cho là cóDTTC sẽ được hưởng lợi ích về thái độ và khả năng như hiểu biết về khái niệm quản lýtiền, kiến thức về các tổ chức tài chính và thái độ cho phép quản lý các vấn đề tài chínhhiệu quả và có trách nhiệm Như vậy, ngoài ủng hộ quan điểm của Noctor và cộng sự(1992), Schagen và Lines (1996) đã nghiên cứu và phát triển thêm khía cạnh thái độ củachủ thể

Vitt và Anderson (2000) cho rằng DTTC có thể được định nghĩa là một người có khảnăng hiểu, phân tích, quản lý và truyền đạt các vấn đề tài chính cá nhân DTTC là khả năng

và kỹ năng để có kiến thức đúng đắn về các vấn đề tài chính của một cá nhân Trình độDTTC thấp có thể dẫn đến việc ra quyết định tài chính không phù hợp và điều này có thểdẫn đến nhiều vấn đề như nợ hoặc phá sản Phát triển từ nghiên cứu của mình, Vitt (2004)đưa ra định nghĩa DTTC bao gồm khả năng nhận thức các lựa chọn tài chính, thảo luận vấn

đề về tiền và tài chính mà không có gặp trở ngại, dự định trong tương lai, và phản ứng lạithành thạo đến biến cố trong đời thực ảnh hưởng đến quyết định tài chính hàng ngày, trong

đó có sự kiện trong nền kinh tế tổng quát Quan điểm này cũng tương đồng với khái niệmđược đưa ra trong nghiên cứu của Mason và Wilson (2000)

Willis (2008) định nghĩa DTTC là khả năng có thể sử dụng kiến thức và kĩ năng

để quản lý những nguồn lực tài chính của một cá nhân một cách hiệu quả cho việc bảođảm tài chính trọn đời Quan điểm này cũng được ủng hộ trong các một số nghiên cứukhác trong đó nổi bật là của (Lusardi và Mitchell, 2011c, Lusardi và cộng sự, 2011a,Lusardi và cộng sự, 2017), khi định nghĩa DTTC là khả năng của cá nhân tiếp thu cácthông tin về kinh tế và đưa ra những quyết định về kế hoạch tài chính, tích lũy của cải,lên kế hoạch hưu trí và các khoản nợ

Ở một phương diện khác, Cutler và Devlin (1996) quan niệm về DTTC bao gồmcác khía cạnh của kiến thức và sự tự tin Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả tập trung chủyếu vào kiến thức tài chính xung quanh các vấn đề đối với hưu trí và người sắp về hưu

Trang 39

Ngoài ra, nghiên cứu không đề cập đến việc mọi người giải quyết vấn đề tài chính của

họ hiệu quả như thế nào, nhưng ngụ ý rằng DTTC về cơ bản là một chức năng của việctruy cập thông tin tài chính Tương tự, trong một số nghiên cứu về DTTC trên thế giớicũng định nghĩa DTTC như “các kiến thức liên quan đến vấn đề tài chính” (Hilgert vàcộng sự, 2003) Phát triển từ cách định nghĩa này, theo Moore (2003) DTTC lại đượcđịnh nghĩa như những kinh nghiệm thực tế và hội nhập một cách chủ động kiến thức vềvấn đề tài chính của những cá nhân

Hiểu theo một cách rộng hơn thì Holzmann (2010) chỉ ra DTTC tại một số quốcgia là việc “chuyển đổi” kiến thức và hiểu biết về tài chính sang kỹ năng và năng lực tàichính, thái độ và hành vi, tức là ứng dụng được vào cuộc sống (hiện tại, các nghiên cứunày đề cập đến khái niệm well-being financial) DTTC được coi là quá trình mà ngườitiêu dùng cải thiện hiểu biết về các khái niệm và sản phẩm tài chính thông qua thông tin,hướng dẫn hoặc nhà đầu tư tài chính mục tiêu tư vấn, phát triển các kỹ năng và sự tự tin

để nhận thức được các rủi ro và cơ hội tài chính, để thực hiện lựa chọn thông báo, đểbiết nơi cần giúp đỡ và thực hiện các hành động hiệu quả khác để cải thiện phúc lợi tàichính và bảo vệ người tham gia hoạt động OECD (2013) định nghĩa DTTC là việc kếthợp của nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ, và hành vi cần để ra quyết định tài chính

và cuối cùng đạt được sự “giàu có” tài chính cá nhân Kết hợp từ những nghiên cứu trên,những năm gần đây, định nghĩa về DTTC đã được phát triển hơn Sekar và Gowri(2015) định nghĩa DTTC là tổng hợp của sự nhận thức, thái độ và kỹ năng của cá nhân

về những vấn đề tài chính

Cho đến nay, định nghĩa về DTTC của OECD (2013), Lusardi và cộng sự (2011b),Lusardi và Mitchell (2017) được sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác trên thế giới TạiViệt Nam, những nghiên cứu về DTTC cũng thường sử dụng cách định nghĩa củaOECD, ví dụ như Khúc Thế Anh và Đặng Anh Tuấn (2017), Nguyen (2017), Đinh ThịThanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ (2018), Phùng Thanh Quang và Khúc Thế Anh (2018),Khúc Thế Anh và cộng sự (2020)

Như vậy, tuy là một khái niệm xuất hiện trong nhiều nghiên cứu trên thế giới tronglĩnh vực kinh tế - tài chính, nhưng DTTC vẫn chưa có một sự thống nhất về cách địnhnghĩa, mà còn phụ thuộc vào khía cạnh và chủ đề của nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu

về DTTC trong các nghiên cứu đã công bố, khái niệm về DTTC được tổng hợp trongbảng sau đây:

Trang 40

Bảng 2.2 Tổng hợp các khái niệm DTTC trong các nghiên cứu đã công bố

1 Noctor và cộng sự DTTC là khả năng đưa ra những phán quyết và quyết

(1992) định hiệu quả liên quan đến sử dụng và quản lý tiền

2 Servon và Kaestner DTTC được hiểu là khả năng đọc hiểu và sử dụng các

(2008) khái niệm tài chính của một cá nhân

3 Lusardi và Mitchell DTTC là khả năng xử lý thông tin kinh tế và đưa ra

(2011c) quyết định về hoạch định tài chính, tích lũy tài sản,

hưu trí và nợ

4 Huston (2010) Kiến thức tài chính và áp dụng kiến thức đó với tự tin

của áp dụng kiến thức bản thân để đưa ra các quyếtđịnh tài chính

5 Vitt và Anderson DTTC có thể là định nghĩa như khả năng đọc, phân

(2000) tích, quản lý tốt và viết về điều kiện tài chính cá nhân

mà ảnh hưởng đến sự sung túc về vật chất Nó baogồm khả năng nhận thức các lựa chọn tài chính, thảoluận vấn đề về tiền và tài chính mà không có gặp trởngại, dự định trong tương lai, và phản ứng lại thànhthạo đến biến cố trong đời

6 Miller và cộng sự DTTC là hiểu biết của khách hàng hoặc nhà đầu tư về

(2009) khái niệm hay sự thật tài chính, và khả năng của họ khi

biết tận dụng rủi ro và cơ hội để đưa ra quyết định hiệuquả để cải thiện mức độ giàu có của họ

7 Bumcrot và cộng sự DTTC là việc hiểu các khái niệm cơ bản về kinh tế và

(2011) tài chính gặp phải trong cuộc sống hàng ngày bao

gồm: các tính toán đơn giản về lãi suất và lạm phát,hoạt động phân tán rủi ro, mối quan hệ giữa giá tráiphiếu và lãi suất và mối quan hệ giữa thanh toán lãi vàđáo hạn trong các khoản thế chấp

8 Robb và cộng sự DTTC là khả năng hiểu được thông tin tài chính và

(2012) quyết định hiệu quả, bằng cách sử dụng các thông tin

9 OECD (2013), DTTC được định nghĩa như “sự nhận thức, hiểu biết

OECD (2015), và khả năng xử lý các thông tin về các lĩnh vực tàiLusardi và Mitchell chính khác nhau bao gồm các chủ đề liên quan đến(2017) quản lý tài chính cá nhân, tiền bạc và đầu tư.”

Nguồn: Tổng hợp của tác giả, 2020

Tóm lại, đa phần các nghiên cứu kể trên đều định nghĩa DTTC tương tự như cáchđịnh nghĩa kiến thức tài chính (Financial knowledge) hay khả năng hiểu biết các địnhnghĩa về tài chính như lãi suất, chiết khấu, và có khả năng đưa ra được quyết định của

Ngày đăng: 12/09/2020, 00:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. ADB, A. D. B. (1999), Fighting Poverty in Asia and the Pacific: The Poverty Reduction Strategy of the Asian Development Bank, Asian Development Bank, 5. Agarwal, S., D. John, G. Xavier và L. David (2009), 'The Age of Reason:Financial Decisions over the Life-Cycle and Implications for Regulation', Brookings Papers on Economic Activity Spring, Số 2009,Trang: 51-117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fighting Poverty in Asia and the Pacific: The Poverty Reduction Strategy of the Asian Development Bank", Asian Development Bank,5. Agarwal, S., D. John, G. Xavier và L. David (2009), 'The Age of Reason:Financial Decisions over the Life-Cycle and Implications for Regulation',"Brookings Papers on Economic Activity Spring
Tác giả: ADB, A. D. B. (1999), Fighting Poverty in Asia and the Pacific: The Poverty Reduction Strategy of the Asian Development Bank, Asian Development Bank, 5. Agarwal, S., D. John, G. Xavier và L. David
Năm: 2009
6. Ajzen, H. và M. Fishbein (1980), Understanding attitudes and predicting social behavior, Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding attitudes and predicting social behavior
Tác giả: Ajzen, H. và M. Fishbein
Năm: 1980
7. Ajzen, I. (1991), 'The theory of planned behavior', Organizational behavior human decision processes, Số 50(2),Trang: 179-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Organizational behavior human decision processes
Tác giả: Ajzen, I
Năm: 1991
8. Albeerdy, M. I. và B. Gharleghi (2015), 'Determinants of the financial literacy among college students in Malaysia', International Journal of Business Administration, Số 6(3),Trang: 15-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Business Administration
Tác giả: Albeerdy, M. I. và B. Gharleghi
Năm: 2015
9. Alessie, R., L. Annamaria và V. R. Maarten (2008), Financial Literacy, Retirement Planning, and Household Wealth, NBER Working Paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Literacy, Retirement Planning, and Household Wealth
Tác giả: Alessie, R., L. Annamaria và V. R. Maarten
Năm: 2008
10. Almenberg, J. và J. Sọve-Sửderbergh (2011), 'Financial literacy and retirement planning in Sweden', Journal of Pension Economics Finance, Số 10(4),Trang:585-598 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Pension Economics Finance
Tác giả: Almenberg, J. và J. Sọve-Sửderbergh
Năm: 2011
11. Ansong, A. và M. A. Gyensare (2012), 'Determinants of university working- students' financial literacy at the University of Cape Coast, Ghana', International Journal of Business Management, Số 7(9),Trang: 126-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: InternationalJournal of Business Management
Tác giả: Ansong, A. và M. A. Gyensare
Năm: 2012
12. Armitage, D. R., R. Plummer, F. Berkes, R. I. Arthur, A. T. Charles, I. J. Davidson-Hunt, A. P. Diduck, N. C. Doubleday, D. S. Johnson và M. Marschke (2009), 'Adaptive co‐management for social–ecological complexity', Frontiers in Ecology the Environment, Số 7(2),Trang: 95-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frontiers in Ecology the Environment
Tác giả: Armitage, D. R., R. Plummer, F. Berkes, R. I. Arthur, A. T. Charles, I. J. Davidson-Hunt, A. P. Diduck, N. C. Doubleday, D. S. Johnson và M. Marschke
Năm: 2009
13. Arrow, K. J. (1969), 'The organization of economic activity: issues pertinent to the choice of market versus nonmarket allocation', Economica, Số 1,Trang: 59-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economica
Tác giả: Arrow, K. J
Năm: 1969

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w