Khi nghiên cứu về sựtạo phức của các ion kim loại, người ta nhận thấy các ion kim loại nhóm B có khảnăng tạo phức lớn hơn và có màu bền hơn nhiều so với các ion kim loại thuộc nhóm A.Nhậ
Trang 1NGHIÊN CỨU PHỨC CHẤT CỦA COBAN
VỚI AXIT OXALIC
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHỨC CHẤT
Trang 5MỞ ĐẦU
Nghiên cứu phức chất là một ngành quan trọng của hóa học hiện đại Việc nghiên cứuphức chất phát triển rất nhanh, vì chúng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vựcnhư khoa học kỹ thuật, y học và đời sống, nhất là trong công nghiệp… Sự phát triểncủa ngành hóa học phức chất đã có những đóng góp to lớn và quan trọng cho nhiềungành khoa học, kỹ thuật Trong những năm gần đây rất nhiều nhà khoa học trongnước và trên thế giới quan tâm rất nhiều đến hóa học phức chất Khi nghiên cứu về sựtạo phức của các ion kim loại, người ta nhận thấy các ion kim loại nhóm B có khảnăng tạo phức lớn hơn và có màu bền hơn nhiều so với các ion kim loại thuộc nhóm A.Nhận thấy được tầm quan trọng của hóa học phức chất trong thời đại công nghiệp ngàycàng phát triển như hiện nay, thầy cô Bộ môn Kỹ thuật Hoá học, Trường Đại học Thủylợi đã đưa môn Hóa học Phức chất vào để giúp chúng em có thể có những cái nhìn đầutiên, những bước đầu tiên để phát triển các loại phức chất điển hình của kim loạichuyển tiếp nhóm d (coban, crom, đồng, niken, sắt…) với phối tử là các axit hữu cơ(axit oxalic, axit xitric, axit tactric,…) Do phức chất của Co(II) và Co(III) với axitoxalic tuy đã được tổng hợp và nghiên cứu khá nhiều ở trong nước và trên thế giới,song vẫn còn tổn tại nhiều vấn đề và thiếu hệ thống Thành phần, tính chất, cấu tạo vàcác điều kiện để tạo phức còn nhiều chỗ vẫn chưa được thống nhất Vì vậy, thầy cô đã
chọn cho em bài tiểu luận là “Tổng hợp phức chất coban oxalat”.
Nhiệm vụ của bài tiểu luận:
1 Tổng quan tình hình điều chế phức coban oxalat
2 Tìm ra điều kiện tạo phức
3 Xác định thành phần cấu tạo của phức
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHỨC CHẤT CỦA Co VỚI AXIT OXALIC 1.1 Khả năng tạo phức của ion Co 2+ và Co 3+ [1]
Coban thuộc nhóm nguyên tố chuyển tiếp d, nằm ở ô 27, chu kì 4, nhóm VIIIB trong
bảng tuần hoàn hóa học Coban có nguyên tử khối là 58,93 đvC
Cấu hình của Co: 1s22s22p63s23p63d74s2
Coban là kim loại có ánh kim, màu trắng xám, có duy nhất một đồng vị bền là 59Co
Nóng chảy ở 1495oC, sôi ở 3100oC và có tỷ khối là 8,9
Là một kim loại điển hình nhóm VIIIB, coban có đầy đủ tính chất của các kim loại
chuyển tiếp, đặc biệt là khả năng tạo phức Do coban có các obitan phân lớp d nên có
khả năng tạo phức với các phối tử vô cơ cũng như các phối tử hữu cơ
Coban có các obitan trống ở phân lớp 4p nên dễ dàng nhận các electron của các phối
tử để tạo thành phức chất, trong môi trường oxi hóa yếu coban dễ bị mất 2 electron
trên phân lớp 4s tạo thành Co2+ Trạng thái oxy hóa phổ biến nhất là +2 và mất thêm 3
electron trên phân lớp 4s và 3d tạo thành Co3+ Vì vậy, ion Co2+ và Co3+ rất dễ tạo nên
nhiều phức bền
Trong tự nhiên, nó thường kết hợp với niken và cả hai đều là những thành phần đặc
trưng nhỏ của thiên thạch sắt Coban là trung tâm hoạt động của coenzyme gọi là
cobalamins, ví dụ phổ biến nhất trong đó là vitamin B12 là một khoáng chất thiết yếu
trong chế độ ăn uống cho tất cả các loài động vật Ngoài ra, coban còn là nguyên tố vi
lượng trong thực vật, coban ở dạng vô cơ cũng là một chất dinh dưỡng hoạt động cho
vi khuẩn, tảo và nấm
Khả năng tạo phức của Co 2+ :
Cấu hình electron của Co2+: 1s22s22p63s23p63d7
Trong các kim loại chuyển tiếp, Co2+ tạo nên số phức chất bát diện với số phối trí là 6
và tứ diện với số phối trí là 4, nhưng tạo nên số phức chất tứ diện là nhiều nhất
Đối với những phối tử vô cơ, coban octacacbonyl [Co2(CO)8] là chất dạng tinh thể
trong suốt, màu đỏ-da cam Nóng chảy ở 51oC Phân tử của cacbonyl hai nhân này có
tính nghịch từ, trong đó mỗi nguyên tử Co tạo nên 6 liên kết với phối tử CO
Ion phức chất bát diện spin cao như [Co(NH3)6]2+ dễ tác dụng với oxi không khí tạo
thành [Co(NH3)6]3+ Phối tử tạo phức NH3 đã làm bền cho trạng thái oxy hóa +3 kém
bền của coban
Trang 7Ion phức bát diện với phối tử trường mạnh [Co(CN)6]4- có spin thấp Phức này có màu
đỏ và kém bền, tác dụng với oxy không khí tạo thành [Co(CN)6]3+ Ion CN- có ảnhhưởng mạnh đến thế oxy hóa-khử của ion kim loại trong dung dịch, có cấu hình kémbền dễ mất đi một electron để tạo thành cấu hình bền của ion phức bát diện spin thấp[Co(CN)6]3-
Những ion phức tứ diện [CoCl4]2-, [CoBr4]2-, [CoI4]2-, [Co(OH)4]2-, [Co(SCN)4không tùy thuộc vào lực trường của phối tử đều có spin cao Khi nhiệt phân tinh thểhidrat CoX2.6H2O (X là Cl, Br, I) cũng như muối hidrat khác của Co(II) xảy ra hiệntượng mất nước dần kèm theo sự đổi màu từ đỏ hồng đến xanh lam
Kết tủa Co(OH)2 tan trong dung dịch đặc của muối amoni hoặc dung dịch NH3 tạothành phức chất [Co(NH3)6](OH)2 Bởi vậy, các muối của Co2+ dễ tác dụng với dungdịch NH3 tạo nên những phức chất amonicat
Với phối tử hữu cơ cũng dễ dàng kết hợp với Co(II) tạo thành phức chất nhưCo(C5H5)2 màu đỏ thắm nhưng phức chất này kém bền với oxi
Theo tác giả Lê Phi Thúy, Duval đã thu được phức [Co(NH3)6](HCOO)3 có màu cambằng cách oxi hóa hỗn hợp các dung dịch coban(II) fomat, amoni fomat, amoniac bằngluồng không khí với bioxit chì Bên cạnh đó, Yatimirski, Linhard và Rau cũng đã tìmđược phức [Co(NH3)5(HCOO)]2+ từ kali fomat hay natri fomat [4]
Ngoài ra, Densan và Boguslawa khi cho Co(NO3)2 tác dụng với H2C4H4O6 trong môitrường kiềm với những tỷ lệ NaOH khác nhau đã thu được các phức chất khác nhaunhư: CoC4H4O6, Na[CoC4H3O6], Na2[CoC4H2O6] Sebtrenco chỉ ra rằng phứcCoC4H4O6 được hình thành ở môi trường pH = 3 và Na[Co(C4H3O6)] ở pH = 6,9; còn
Trang 8Grigoreva và Simbler lại cho rằng ion phức [Co(C4H2O6)]2- được hình thành ở môitrường pH = 12,5.
Trang 9Trong môi trường etanol, ngoài những phức trên còn tìm được một số phức như
Na6[Co(C4H2O6)2] và Na8[Co2(C4H2O6)3] [4]
Bobtelsky và Simchen đã cho thấy được sự hình thành [Co(C6H5O7)]- bằng cách sửdụng phương pháp đo độ dẫn điện để nghiên cứu phức coban xitrat Cùng với đó,Simbler và đồng nghiệp cũng đã chứng minh được sự tạo thành phức coban xitrat có 4
độ bazo của axit xitric chỉ xảy ra trong môi trường kiềm Bằng phương pháp trao đổiion, nghiên cứu phổ hấp thụ hồng ngoại và dùng axeton để kết tủa phức đã thu đượccoban xitrat có công thức [Co(C6H7O7)]+, [Co(C6H6O7)]-, [Co(C6H5O7)]- ở pH = 2÷5;phức [Co(C6H6O7)2]2-
ở pH = 6 và phức [Co(C6H4O7)]2- ở pH = 12,5 Phức Na2[Co(C6H4O7)] bền trongnước cũng thu được khi thêm một lượng dư hỗn hợp dung dịch Na3C6H5O7 và NaOHvới tỷ lệ là 4:1÷3:1 vào dung dịch muối coban Còn khi cho dung dịch natri xitrat tácdụng với muối của coban với tỷ lệ 4:1 sẽ thu được phức Na4[Co(C6H5O7)2] [4]
Khả năng tạo phức của Co 3+ :
Cấu hình electron của Co3+: 1s22s22p63s23p63d6
Nhiều tác giả cũng đã chứng minh được phức chất của Co(III) rất bền Chính vì nhữngphức chất bền này dễ được tạo nên và tham gia tương đối chậm vào những phản ứngtrao đổi phối tử cho nên đã được nghiên cứu rất kĩ lưỡng từ thời Vecne và Jogenxen,phần lớn những quan niệm về đồng phân, những kiểu phản ứng và tính chất của phứcchất bát diện đã ra đời trên cơ sở nghiên cứu những phức chất của Co(III) Hầu hếtphức chất của Co(III) có cấu hình bát diện còn phức chất tứ diện rất hiếm
Tất cả những ion bát diện như [Co(NH3)6]3+, [Co(CN)6]3-, [Co(NO2)6]3- đều nghịch
từ trừ một ngoại lệ duy nhất là ion thuận từ [CoF6]3- với 4 electron độc thân
Phương pháp chung để điều chế phức chất của Co(III) là oxi hóa muối Co(II) trongdung dịch bằng O2 hay H2O2 khi có mặt chất xúc tác có hoạt tính bề mặt và phối tử
Trang 10[Co(NH3)6]Cl2 + 2H2O ⇌ Co(OH)2 + 4NH3 + 2NH4Cl[Co(NH3)6]2+ dễ bị thủy phân nên chỉ tồn tại trong nước khi dung dịch có dư NH3 và
NH4Cl trong khi [Co(NH3)6]3+ không những bền trong nước mà cả trong dung dịchHCl đặc và chỉ phân hủy khi tác dụng với dung dịch H2S Hằng số bền của[Co(NH3)6]2+ là 2,45.104 và của [Co(NH3)6]3+ là 1035 Nguyên nhân của tính bềnnhiệt động khác nhau nhiều như vậy không phải chỉ ở chỗ Co3+ đóng góp phần tĩnhđiện lớn hơn trong liên kết hóa học ở trong phức chất mà còn vì ion đó có cấu hìnhelectron 3d6 góp phần cộng hóa trị lớn hơn so với Co2+ có cấu hình electron 3d7 Sự kếthợp những phần tĩnh điện và cộng hóa trị trong phức chất Co(III) làm cho độ bền củaCo(III) vượt gấp bội độ bền của phức chất Co(II)
Những muối đơn giản như CoF3 và Co2(SO4)3 của Co(III) đều không bền đối với nước
Sự tồn tại của các hidrat CoF3.3,5H2O và Co2(SO4)3.18H2O cho thấy trong đó Co3+được phối trí không phải bằng những phân tử H2O mà là những anion như F- hay SO42-
(liên kết qua nguyên tử O) Những phối tử này chắn giữa ion Co3+ và những phân tử
H2O và đã làm bền hợp chất ở dạng hidrat
Carolyn W Van Saun và Bodie E Douglas đã điều chế phức chất K[Co(EDDA)CO3].4H2O và trans-K[Co(EDDA)mal].3H2O thu được tinh thể có màutím Dung dịch được đun nóng trong khoảng 50-60oC [5]
trans-Như vậy, coban có khả năng tạo phức rất tốt với các phối tử vô cơ và hữu cơ như:halogen, NH3, SCN, EDTA, DTPA, axit cacboxylic,…và độ bền của các phức chất đótăng lên theo chiều giảm dần bán kính ion Ion Co2+ thường tạo nên số phức chất bátdiện là 6 và phức chất tứ diện là 4, nhưng tạo nên số phức chất tứ diện là 4 nhiều nhất.Còn ion Co3+ thường tạo nên số phức chất bát diện có số phối trí là 6 Các phức chấtcủa Co(III) bền hơn Co(II) Phức của Co(II) còn được ứng dụng làm chất chỉ thị đổ ẩmtrong thực tế (silicagel)
1.2 Khả năng tạo phức của axit oxalic, muối oxalat
1.2.1 Axit oxalic và muối oxalat
Công thức phân tử axit oxalic: H2C2O4
Công thức cấu tạo dạng đơn giản: HOOC-COOH
Trang 11hằng số pKa = 1,27 và có tỷ khối là 1,9 Axit oxalic dễ tan trong nước nóng tạo dungdịch không màu [6].
Dung dịch axit làm đổi màu chất chỉ thị (quỳ tím chuyển màu đỏ ) và phản ứng đượcvới các chất: bazơ, oxit bazơ, kim loại, muối Ngoài ra, axit oxalic tham gia phản ứngeste hóa với rượu, bị oxi hóa hoàn toàn trong phản ứng đốt cháy Đặc biệt khả năngkết hợp của axit oxalic với ion kim loại tạo muối oxalat [6]
H2C2O4 + Ca2+ → CaC2O4 + 2H+
Ái lực của các ion kim loại đôi khi được thể hiện trong xu hướng tạo thành các chấtkết tủa Vì vậy, axit oxalic cũng dễ dàng kết hợp với các kim loại như canxi, sắt, natri,magiê và kali để tạo thành các tinh thể của các muối oxalat tương ứng Các muối códạng M2(C2O4)x các muối phổ biến như Na2C2O4, K2C2O4, CaC2O4,…có nhiều trongthận và thực phẩm Các muối này tương đối bền trong tự nhiên [7]
1.2.2 Khả năng tạo phức của C 2 O 4 2- với các kim loại chuyển tiếp
Trong dung dịch, muối oxalat và axit oxalic phân li ra gốc anion C2O42- có tính khử
Ni, Co,…
Oxalat là một phối tử tuyệt vời với các ion kim loại, nó thường liên kết dưới dạng phốithể kiểu hai răng, tạo thành một vòng 5 cạnh dạng MO2C2 Ion C2O42- có khả năng liênkết phối tử với kim loại càng mạnh, tuy nhiên kích thước của C2O42- khá cồng kềnhnên lực đẩy nhau giữa các phối tử trong phức lớn làm cho phức kém bền [6]
H.G.M Edwards và P.H Hardman đã nghiên cứu phức chất kali bis-oxalatocoban(II)được điều chế bằng cách thêm CoC2O4.2H2O vào dung dịch K2C2O4, khuấy trong 6giờ ở 80°C Thu được các tinh thể màu hồng [13]
Phối tử oxalat còn dễ dàng kết hợp với các ion kim loại hóa trị 3 tạo thành các phứcchất với phối trí 6 dạng bát diện như Fe3+, Cr3+, Co3+,…
Phức Na2[Co(C2O4)2(H2O)2].6H2O có màu xanh được S Aleti điều chế bằng cáchthêm K2C2O4.H2O, Na2C2O4 và CoSO4.7H2O được hòa tan trong nước cất theo tỷ lệ vàđược đun nóng ở 90oC [9]
Trang 12Phức K3[Fe(C2O4)3].3H2O được điều chế bằng cách cho K2C2O4.H2O tác dụng vớiFeCl3 ở 70oC Hỗn hợp được làm lạnh và rửa bằng AgNO3 để loại bỏ Cl- Tinh thểmàu xanh lá thu được được sấy ở nhiệt độ 50oC [11].
Phức K3[Cr(C2O4)3] dạng bát diện lai hóa d2sp3, phức này vừa có tính oxi hóa vừa cótính khử, được đều chế bằng cách dùng axit oxalic khử Cr6+ về Cr3+ trong môi trường
có sẵn K2C2O4 [4]
Sự kết hợp của phối tử oxalat với các ion kim loại nhóm IB như Ag+, Cu+,… tạo ra cáchợp chất phức có lai hóa sp trong đó phải kể đến phức bạc oxalat được điều chế bằngcách cho AgNO3 tác dụng với H2C2O4 Ethylene diamin được hòa tan trong nước cấtsau đó thêm Bạc oxalat và isopropyl vào Phức chất bạc kết tủa được lọc và rửa sạchvới isopropyl Tinh thể thu được được sấy khô trong 4 giờ và tránh ánh sáng ở 4°C [8].[CoC2O4(C10H8N2)2]I.H2O đã được J A Broomhead và đồng nghiệp nghiên cứu cótinh thể màu vàng cam được điều chế bằng cách hòa tan 2,2'-bipyridine trong nướcnóng, dung dịch kali tris-oxalatocobanat(III) trihydrat trong nước sau đó được thêmetanol vào Hỗn hợp phản ứng được đun nóng Màu xanh của dung dịch thay đổi thànhmàu đỏ đậm, một số chất rắn màu cam kết tủa Thêm KI vào dịch lọc để kết tủa tinhthể màu vàng cam Làm lạnh hỗn hợp, lọc lấy tinh thể Rửa sạch bằng nước đá, etanol
và axeton I- có thể chuyển thành Cl- bằng cách trao đổi với clorua bạc [19]
Như vậy, do C2O42- có hai cặp electron tự do nên nó sẽ tấn công vào các obitan d trốngcủa các ion kim loại để tạo phức có màu khác nhau Các phức oxalat của các kim loạichuyển tiếp có rất nhiều công thức khác nhau và được tổng hợp từ các hợp chất khácnhau của ion trung tâm như là muối hay oxit của chúng cũng như các điều kiện khácnhau
1.3 Tình hình tổng quan thế giới
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Klisourski đã thu được các tinh thể CoC2O4.2H2O được tổng hợp khi choCo(NO3)2.6H2O tinh khiết tác dụng với H2C2O4 khuấy liên tục trong 1 giờ ở 160oC.Còn Wojtowicz đã cho Co kim loại thô tác dụng với dung dịch HNO3 1,65%, đun ở90oC, khuấy đều, nhỏ từng giọt KMnO4, sau đó nhỏ dung dịch NH4OH 12%, lọc rửakết tủa bằng nước Kết tủa CoC2O4 được tách ra bằng cách thêm từng giọt dung dịch
H2C2O4 50% ở 80oC, lọc rửa kết tủa bằng nước nóng đến hết axit, làm khô ở 100oC.Các tinh thể này bắt đầu phân hủy ở 250oC Paul Pascal cho rằng phức coban có côngthức [Co(H2O)(OH)(C2O4)2]2- dựa trên kết quả đo độ dẫn điện và phương pháp trắcquang [4]
Jawher Abdelhak đã thu được phức chất [Co(C2O4)2(phen)2](NO3).4H2O bằng phản
Trang 13ứng của Co(NO3)2.6H2O, 1,10-orthophenanthroline monohydrat C12H8N2.H2O,
H3PO4 và
Trang 14H2C2O4.2H2O tương ứng theo tỷ lệ 1:2:1:1 trong etanol/nước (1:1) Hỗn hợp thu đượcđược đun nóng và khuấy trong 2 giờ Kết tủa màu hồng hình thành ngay lập tức Sau 2ngày tinh thể màu hồng duy nhất thu được bằng cách làm bay hơi chậm ở nhiệt độphòng Sử dụng phương pháp phân tích phổ X-quang, IR, UV-VIS và phân tích nhiệt
mô tả hợp chất phân lớp chứa cả phối tử cầu nối phen và oxalat Ngoài tương tác π-πgiữa các vòng của nhóm phen, các cation và các phân tử nước không liên kết được kếtnối thông qua liên kết hydro thành một khung siêu phân tử 3D [10]
S Aleti và đồng nghiệp đã nghiên cứu một vật liệu phát quang màu xanh lam
Na2[Co(C2O4)2(H2O)2].6H2O bằng cách thêm K2C2O4.H2O, Na2C2O4 và CoSO4.7H2Otrong 250ml nước cất theo tỷ lệ đẳng và đun nóng ở 90oC trong 1 giờ Lọc ở điều kiệnlạnh Sau khi lọc dung dịch màu hồng được cho bay hơi chậm ở nhiệt độ phòng trong
6 ngày để có tinh thể Sử dụng phương pháp phân tích X-quang và phương pháp quangphổ hấp thụ electron thu được một phát quang màu xanh mạnh quan sát được ở nhiệt
độ phòng khi kích thích ở 355nm và trạng thái phản kháng từ cực kỳ yếu của phức [9].Reginald Graham Durrant và M A đã nghiên cứu về hợp chất xanh của coban Tinhthể [K2Co(C2O4)2.2H2O]O được điều chế bằng cách thêm CoC2O4 vào dung dịch
K2C2O4 bão hòa, đun và khuấy liên tục cho đến khi bột tan hết Lọc lấy dung dịch rồithêm K2C2O4 bão hòa vào, nhiệt độ ở 65oC, cho từ từ H2O2 vào khuấy, kết tủa xanhxuất hiện, vi tinh thể sớm bắt đầu hình thành [2]
A W Adamson đã nghiên cứu K2[Co(C2O4)3] bằng cách sử dụng phương pháp phổhấp thụ để xác định cấu trúc phân tử Khi cho K2C2O4.H2O hòa tan trong nước, thêmCoC2O4 và đun sôi nhẹ trong 30 phút, lọc bỏ CoC2O4 dư, thêm dần H2O2 30% để kếtquả lọc đỏ đậm hơn và duy trì nhiệt độ từ 40oC ÷ 50oC Tinh thể phát triển, làm mát
và lọc thu được sản phẩm xanh đậm [14]
F Kehrmann đã thu được K6[Co2(C2O4)6].6H2O bởi quá trình oxy hóa chậm trongkhông khí của Co(OH)2 trộn với tỷ lệ nhất định của K2C2O4 và H2C2O4 Chất này thểhiện tính lưỡng sắc màu xanh đen và xanh lục đậm [2]
H Marshall và Kalrmann đã thu được kali coban oxalat bằng cách điện phân, và tương
tự như hợp chất amoni Co2(NH4)6(C2O4)6.6H2O ở dạng lăng kính lưỡng sắc rất đậmhòa tan dễ dàng trong nước, tạo ra một dung dịch xanh [2]
Carolyn W Van Saun và Bodie E Douglas đã nghiên cứu cũng đã điều chế được phứctrans-K[Co(EDDA)C2O4].2H2O bằng cách cho CoCO3 và EDDA được khuấy cùngnhau trong nước ở 60oC khoảng 20 phút Hòa tan K2C2O4 và H2C2O4.2H2O trongnước, thêm than hoạt tính vào và sục không khí qua hỗn hợp trong 17 giờ Loại bỏthan và dịch lọc
Trang 15màu đỏ-tím được cho bay hơi Làm lạnh dung dịch trong 2 giờ Thu được tinh thể màutím, dịch lọc được để trong tủ lạnh vài ngày và thêm một ít cồn thu được chất rắn màu đỏ[5].
K2[Co(C2O4)2(H2O)2].4H2O Phức K2[Co(C2O4)2(H2O)2].4H2O được điều chế bằngcách cho CoCl2.6H2O hòa tan trong nước cất (A) Hỗn hợp được khuấy ở 50°C trong
20 phút Thêm than hoạt tính vào dung dịch K2C2O4.H2O trong nước ấm (B) Trộndung dịch (A) và (B) với nhau và sục không khí qua hỗn hợp trong 17 giờ Lọc bỏ thanhoạt tính và dịch lọc màu đỏ-tím cho bay hơi nước Làm lạnh dung dịch bằng đá Thuđược tinh thể màu tím Dịch lọc để trong tủ lạnh vài ngày và thêm cồn vào thu đượcchất rắn màu hồng Cấu trúc phân tử được xác định bằng phương pháp phân tích nguyên
tố, nhiễu xạ tia X và phân hủy nhiệt [18]
J A Broomhead cùng đồng nghiệp đã nghiên cứu tổng hợp phức[CoC2O4(C12H8N2)2]I.H2O bằng cách sử dụng phương pháp quang phổ và phươngpháp đo độ dẫn điện khi hòa tan 1,10-Phenanthroline trong etanol-nước 33% và thêmdung dịch kali tris-oxalato-cobanat(III) trihydrat trong nước Dung dịch xanh được đunnóng đến 95oC trong 6 phút và chuyển thành màu đỏ đậm Thêm nước vào, hỗn hợpphản ứng được lọc để loại bỏ chất rắn màu hồng cam Với cách tiến hành tương tự,ông cũng đã thu được phức hòa tan hơn có công thức [CoC2O4(C12H8N2)2]Cl.4H2Obằng cách thay I- bằng Cl- Các phức chất trên đều tránh tiếp xúc trực tiếp ánh sángmặt trời nên được thực hiện trong ánh sáng nhân tạo khuếch tán [18]
Khi cho Cr2O3 tác dụng với dung dịch H2C2O4, Lapraik đã thu được một oxalat hydrat
vô định hình màu đỏ, tan trong nước lạnh, rượu và ete có công thức Cr2(C2O4)3.nH2O.Khi sấy ở nhiệt độ thường, nó bị mất bớt nước và tạo thành Cr2(C2O4)3.6H2O Đunnóng đến 120oC thì mất hoàn toàn nước và chuyển thành màu lục Tương tự, Babcocũng thu được phức trên khi đi từ Cr(OH)3 hoặc muối crôm(III) với H2C2O4 hoặc
K2C2O4 [4]
Werner thấy rằng trong quá trình oxy hóa H2C2O4 bằng K2Cr2O7, khi tỷ lệ
K2Cr2O7:H2C2O4 biến đổi từ 1:1 đến 1:9 thì tạo ra cùng một sản phẩm làK[Cr(C2O4)2(H2O)2] Đun sôi dung dịch chất đó với oxalat kim loại kiềm thì thu đượcion trioxalato cromat(III) [4]
Khi cho Na2Cr2O7 tác dụng với dung dịch H2C2O4.2H2O, sau đó thêm xút và đun nóng,Gustavson thấy rằng tinh thể Na[Cr(C2O4)2(H2O)2] thay đổi từ từ, lúc đầu nó tạo thành
Na2[Cr(OH)(H2O)(C2O4)2], tiếp theo chuyển thành phức bền màu tím
Na4[(C2O4)2Cr(OH)2Cr(C2O4)2] Rosen và Werner thu được phức kali màu xanh lá câykhi thay Na2Cr2O7 bằng K2Cr2O7 [4]
Trang 16Mayer đã hòa tan hydrat mangan sesquioxit trong H2C2O4 đậm đặc, sau khi làm lạnhthu được dung dịch đỏ tím, dung dịch này bị mất màu rất nhanh ngoài ánh sáng và ít
ổn định
Trang 17kể cả trong bóng tối Họ cho rằng dung dịch này có khả năng là axit H3[Mn(C2O4)3].Muối của axit này là K3[Mn(C2O4)3] và K3[Mn(C2O4)3].3H2O đã tìm được ra từ lâu,chúng là những tinh thể đỏ tím hình kim, rất dễ bị hóa trắng khi có một tia sáng chiếuvào [4].
Mayer và Schramm chỉ ra rằng những dung dịch loãng của mangan trioxalat và cảmuối dạng rắn khi có mặt vết nước đều nhanh chóng bị phân hủy bởi ánh sáng Tuynhiên, muối tinh và khô không bị phân hủy bởi ánh sáng Như vậy chắc chắn muối docác tác giả trước đó điều chế ra chưa đủ khô và còn chứa tạp chất Tác giả cũng đãđiều chế muối tinh khiết bằng cách trộn MnO2 trong nước đá với KHC2O4 dưới ánhsáng đỏ, dung dịch màu đỏ thẫm được hình thành, cho rượu vào thu đc kết tủa oxalatkhông tinh khiết với những tinh thể lẫn lộn màu đỏ, tím và không màu Các tinh thểnày đều hòa tan trong nước lạnh và người ta có thể kết tinh lại bằng cách xử lý nước đá[4,22]
Tinh thể K3[Fe(C2O4)3].nH2O màu lục nhạt đã được Jeager tổng hợp từ hỗn hợp
Fe2(SO4)3, BaC2O4 và K2C2O4 hoặc bằng cách đun nóng hỗn hợp gồm K2C2O4, FeCl3
đậm đặc, chúng có dạng lăng trụ đơn tà và kích thước a:b:c = 0.9923:1:0.3925,
β = 85o40’ Bằng phương pháp phân hủy nhiệt và nghiên cứu cấu trúc tinh thể,Gillard và đồng nghiệp đã xác định được n = 3 ứng với Fe, Cr và đưa ra công thức
K3[Fe(C2O4)3].3H2O [4]
Bằng thực nghiệm, Eder cho thấy rằng K[Fe(C2O4)2].2,5H2O hayK[Fe(C2O4)2(H2O)2].0,5H2O là những tinh thể màu xanh oliu được tách ra từ dungdịch của phản ứng khi cho KH3(C2O4)2 tác dụng với Fe(OH)3 [4]
Weiland đã tổng hợp phức sắt oxalat bằng cách cho Fe(NO3)3 tác dụng với H2C2O4
trong môi trường HNO3 ở nhiệt độ dưới 25oC Làm bay hơi nước của dung dịch thuđược bằng H2SO4 đậm đặc Sau vài ngày, từ dung dịch tách ra tinh thể ứng với côngthức [Fe2(C2O4)3].5H2O [4]
Khi cho dung dịch kali oxalat đậm đặc phản ứng với dung dịch lạnh crôm(III) nitrat,sunfat hoặc clorua Wyoubroff đã điều chế được tinh thể Cr2(C2O4)3.25H2O Đó là cáctinh thể tím, đơn tà, các kích thước tinh thể a:b:c = 1,3772:1:1,4844 và γ = 110o17’.Chất này để trong không khí khô hoặc rửa bằng etanol, sẽ mất một phần nước cho cáctinh thể xanh lục bạc có công thức Cr2(C2O4)3.12H2O hoặc Cr2(C2O4)3.6H2O [20].Các tinh thể ngậm 25, 16, 12 phân tử nước đều không tan trong nước Khi cho vàonước nhất là nước sôi thì chúng chuyển sang dạng vô định hình rồi tan vào dung dịch,Rosenheim và Cohn cho rằng các tinh thể ngậm nước trên là phức chất, chẳng hạn[Cr(H2O)6]2(C2O4)3.13H2O nhưng chưa giải thích được vì sao chúng lại không tan.Crôm(III) oxalat đã được ứng dụng làm chất cầm màu hoặc dùng để điều chế nhiều
Trang 18phức khác của crôm [20].
Trang 19Các đồng phân hình học của crôm(III) oxalat đã được nghiên cứu: phức
trans-K3[Cr(OH)2(C2O4)2] có màu xanh lam, trans-Ag3[Cr(OH)2(C2O4)2] có màu xanh xám,còn cis-Ag3[Cr(OH)2(C2O4)2] có màu lục [20]
Bussy điều chế được K3[Cr(C2O4)3] bằng cách đun hỗn hợp K2CO3, K2CrO4 và
H2C2O4 với tỷ lệ mol là 1:2:4 Phức K3[Cr(C2O4)3] có ý nghĩa quan trọng trong việcnghiên cứu hiện tượng đồng phân quang học ở phức chất Phức này cũng được Boothđiều chế từ hỗn hợp K2Cr2O7, K2C2O4 và H2C2O4 Axit crôm(III) oxalat có tiếng làkhông ổn định và rất khó điều chế Tuy nhiên, Mecutcheon và Schuele đã điều chếđược nó ở dạng ổn định bằng cách cho K3[Cr(C2O4)3] đi qua chầm chậm dung dịch có
pH = 1 ÷ 2 trên nhựa Amberlite IR-100 [20]
Khi hòa tan sesquioxyt hydrat mangan trong H2C2O4 đậm đặc, làm lạnh thu được dungdịch đỏ tím, dung dịch này bị mất màu rất nhanh ngoài ánh sáng và ít ổn định kể cảtrong bóng tối Theo Mayer và Schramm có khả năng dung dịch này là axit
H3[Mn(C2O4)3] Thực ra muối của axit H3[Mn(C2O4)3] đã được tìm ra từ lâu Sochay
và Lesen đã điều chế nó bằng cách trộn hỗn hợp MnO2, K2CO3 và H2C2O4 trong điềukiện lạnh và không có ánh sáng Họ đã thu được những tinh thể đỏ hình kim, nhữngtinh thể này chỉ cần một tia sáng cũng đủ làm nó hóa trắng Với cùng phương pháp nàyKehsmann thu được những tinh thể hình lăng trụ màu gân như đen [20]
Hợp tác với Pickersgill, Kehsmann điều chế mangan oxalat đỏ bằng cách điện phândung dịch mangan oxalat với sự có mặt của K2C2O4.H2O, màu biến mất trong vòng ítphút ngay sau khi cắt điện Cũng như vậy, bằng cách khử KMnO4 trong H2C2O4 ở điềukiện lạnh thì dung dịch loãng màu đỏ chỉ xuất hiện như một sản phẩm trung gian [20].Christense thu được một chất kết tinh màu tím bằng cách xử lý một dung dịch dạngloãng CH3COOK bởi một dung dịch rượu của H2C2O4 với sự có mặt của mangan axetat[20]
Cho H2C2O4 tác dụng với KMnO4, sau đó kết tủa bằng rượu, Carledge đã nhận đượccác tinh thể màu lục có công thức K[Mn(H2O)2(C2O4)2] Chất này xuất hiện dưới haidạng đồng phân: đồng phân cis màu vàng, đồng phân trans màu lục Tuy nhiên, cả haidạng ấy đều cho cùng một màu khi đã hòa tan hoàn thành dung dịch loãng Phươngpháp của Carledge và Ericks xuất hiện mang lại những kết quả tuyệt vời Các tác giảnày đã tiến hành thí nghiệm trong bóng tối bằng cách khử KMnO4 bằng một lượng axit
đã được tính toán từ trước Sau đó oxi hóa mangan oxalat đã được hình thành bằngmột lượng muối KMnO4 với sự có mặt của K2CO3 Họ đã thu đc những tinh thể đỏ tím,hình kim Theo hai tác giả này, chất thu được có công thức K3[Mn(C2O4)3].3H2O đồngdạng với phức của sắt(III) Người ta có thể giữ khá lâu ở nơi không có ánh sáng và
Trang 20nhiệt độ bình thường, có thể giữ mãi ở -6oC [20].
Trang 21[CoC2O4(C10H8N2)2][Co(C2O4)2C10H8N2].4H2O và [CoC2O4(C12H8N2)2][Co(C2O4)2C12H8N2].3H2O
đã được J A Broomhead, M Dwyer và N Kane-Maguire nghiên cứu sự cô lập của
các hợp chất phức tạp đôi màu hoa cà này bằng cách hòa tan 2,2'-bipyridine trong
nước nóng, hòa tan dung dịch kali tris oxalato cobanat(III) trihydrat trong nước sau đó
trộn hai dung dịch lại với nhau và thêm etanol vào Hỗn hợp phản ứng được đun nóng
đến điểm sôi và hồi lưu trong 4 phút Màu xanh của dung dịch thay đổi thành màu đỏ
đậm, và một số chất rắn màu cam kết tủa và được lọc bỏ KI được thêm vào dịch lọc
để kết tủa Các dung dịch tím đỏ được làm lạnh và đều có màu hoa cà, tinh thể lắng
đọng, được lọc, rửa với nước lạnh và axeton [18]
Như vậy, tùy thuộc vào các phương pháp nghiên cứu khác nhau, các điều kiện và môi
trường khác nhau sẽ tổng hợp được các phức khác nhau, các tác giả cũng đã thu được
rất nhiều loại phức của dãy kim loại chuyển tiếp nhóm d đặc biệt là Co với phối tử
oxalat
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đặng Thị Thanh Lê đã điều chế và nghiên cứu tính chất một số phức chất của crôm,
mangan, sắt với các axit hữu cơ Phức K3[Cr(C2O4)3].2,5H2O được điều chế bằng cách
hòa tan K2Cr2O7 trong nước nóng, lọc lấy dung dịch sau đó cho từ từ H2C2O4.2H2O và
K2C2O4.H2O vào trong vòng 2 giờ Khuấy liên tục và giữ nhiệt độ ở 40 ÷ 50oC Dung
dịch thu được đem lọc, cô đặc đến ½ thể tích rồi làm lạnh thì thu được tinh thể Sau 6
giờ lọc lấy tinh thể rửa nhanh bằng nước cất, rượu và ete [20]
Phức K8[Mn2(C2O4)7].5H2O cũng đã được tác giả Đặng Thị Thanh Lê điều chế bằng
cách cho H2C2O4.2H2O vào nước nóng ở 70 ÷ 75oC, khi khuấy đều thêm vào đó từng
lượng nhỏ KMnO4 dạng bột Khi dung dịch mất màu, thêm K2CO3 Làm lạnh dung
dịch tới 4 ÷ 5oC rồi trộn với nước lạnh ở 1oC Thêm từ từ KMnO4 dạng bột vào dung
dịch vừa thu được và khuấy trong 10 phút ở nhiệt độ 0 ÷ 2oC Dung dịch màu đỏ thẫm
được lọc trên phễu lọc đã được làm lạnh từ trước Thêm vào đó một lượng rượu bằng
½ thể tích dung dịch rồi làm lạnh trong 2 giờ bằng hỗn hợp đá-muối ăn Lọc lấy tinh
thể đã được làm lạnh từ trước tới 0oC, rửa tinh thể bằng rượu và ete [20]
Phức sắt oxalat K3[Fe(C2O4)4H2].3H2O cũng đã được tác giả điều chế bằng cách cho
dung dịch K2C2O4.2H2O và H2C2O4.2H2O vào dung dịch FeCl3 trên bếp cách thủy
nhiệt độ 50 ÷ 60oC, khuấy liên tục Sau 4 ÷ 5 giờ, lọc lấy kết tủa, rửa bằng nước và
rượu cho hết ion Cl- (thử bằng AgNO3), đem làm khô trong bình hút ẩm thu được
phức [20]
Lê Phi Thúy đã tổng hợp phức của Cr, Mn, Fe, Co với một số axit hữu cơ Phức
[Fe(C2O4)3]3- được điều chế bằng cách cho từ từ dung dịch K2C2O4.2H2O vào dung
dịch FeCl3 để trên bếp cách thủy ở 50 ÷ 60oC, khuấy nhanh bằng nước, rồi rửa
Trang 22nhiều lần