Thuốc bảo vệ thực vật là một danh từ không còn xa lạ gì, nhất là đối với những người trong ngành nông nghiệp. Thuốc bảo vệ thực vật là một công cụ có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn, khống chế sự phát sinh, phát triển của các đối tượng gây hại, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Bên cạnh vai trò bảo vệ cây trồng thì thuốc bảo vệ thực vật còn gây ra nhiều tác hại như: làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gia súc, tăng chi phí sản xuất và nhất là để lại tồn dư trong nông sản gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nông sản và sức khỏe của người tiêu dùng. Vấn đề tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản không phải là một vấn đề mới khi nền nông nghiệp của Việt Nam đang là một mũi nhọn kinh tế chính của đất nước. Điều này ảnh hưởng ngày càng tiêu cực khi con người sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách và quá lạm dụng vào thuốc. Đặc biệt đối với các sản phẩm rau thì đây là một loại cây ngắn ngày thường xuyên bị tấn công bởi các loại sâu bệnh hại nên việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là điều không thể tránh khỏi. Nhưng sử dụng như thế nào, liều lượng ra sao và đâu là thời điểm thích hợp thu hoạch mà không để lại tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật thì hầu như chưa có khảo sát cụ thể. Mặt khác vì lợi ích kinh tế nên dù có khuyến cáo trên chai thuốc thì con người vẫn cố tình thu hoạch trước thời điểm an toàn. Nhận thấy các vụ ngộ độc ngày càng tăng và nguyên nhân do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Xác định dư lượng hoạt chất chlorpyrifos và fipronil trên ớt Đà Lạt bằng phương pháp GCMSMS” nhằm khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cho phép trên ớt.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN LONG HỒ
XÁC ĐỊNH DƯ LƯỢNG HOẠT CHẤT CHLORPYRIFOS
VÀ FIPRONIL TRÊN ỚT ĐÀ LẠT BẰNG PHƯƠNG PHÁP GC/MS/MS
Chuyên ngành :
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN
Trang 2THÔNG TIN CHUNG
Họ và tên sinh viên: TRẦN LONG HỒ MSHV:
Lớp : Khóa:
Chuyên ngành : Mã chuyên ngành:
Email :
Địa chỉ liên hệ :
Tên đề tài : Xác định dư lượng hoạt chất chlorpyrifos và fipronil trên ớt Đà Lạt bằng phương pháp GC/MS/MS
Người hướng dẫn : TS
SĐT :
Email :
Cơ quan công tác : Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM
Địa chỉ liên hệ :12 Nguyễn Văn Bảo, Phường 4, Quận Gò Vấp
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020
TS NGUYỄN VĂN TRỌNG TRẦN LONG HỒ
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 4
1.1 Đặt vấn đề 4
1 2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Ý nghĩa 5
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 6
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 6
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 8
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
3.1 Đối tượng nghiên cứu 9
3.2 Phạm vi nghiên cứu 9
3.3 Nội dung nghiên cứu 9
3.4 Phương pháp nghiên cứu 12
CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN 14
4.1 Dự kiến kết quả đạt được của đề tài 14
4.2 Tiến độ thực hiện 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Thuốc bảo vệ thực vật là một danh từ không còn xa lạ gì, nhất là đối với những người trong ngành nông nghiệp Thuốc bảo vệ thực vật là một công cụ có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn, khống chế sự phát sinh, phát triển của các đối tượng gây hại, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nông sản Bên cạnh vai trò bảo vệ cây trồng thì thuốc bảo vệ thực vật còn gây ra nhiều tác hại như: làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gia súc, tăng chi phí sản xuất và nhất là để lại tồn dư trong nông sản gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nông sản và sức khỏe của người tiêu dùng
Vấn đề tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản không phải là một vấn đề mới khi nền nông nghiệp của Việt Nam đang là một mũi nhọn kinh tế chính của đất nước Điều này ảnh hưởng ngày càng tiêu cực khi con người sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách và quá lạm dụng vào thuốc Đặc biệt đối với các sản phẩm rau thì đây là một loại cây ngắn ngày thường xuyên bị tấn công bởi các loại sâu bệnh hại nên việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là điều không thể tránh khỏi Nhưng sử dụng như thế nào, liều lượng ra sao và đâu là thời điểm thích hợp thu hoạch mà không
để lại tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật thì hầu như chưa có khảo sát cụ thể Mặt khác
vì lợi ích kinh tế nên dù có khuyến cáo trên chai thuốc thì con người vẫn cố tình thu hoạch trước thời điểm an toàn
Nhận thấy các vụ ngộ độc ngày càng tăng và nguyên nhân do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Xác định dư lượng hoạt chất chlorpyrifos và fipronil trên ớt Đà Lạt bằng phương pháp GC/MS/MS” nhằm khảo sát
dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cho phép trên ớt
1 2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát thông số của thiết bị phân tích GC/MS
Trang 5- Thẩm định các thông số của phương pháp phân tích.
- Phân tích mẫu thực
- Nhận xét về mức độ tồn dư của hai hoạt chất chlorpyrifos và fipronil dựa trên kết quả phân tích mẫu thực
1.3 Ý nghĩa
Thông qua đề tài này chúng ta thu được những kết quả sau:
- Đưa ra được qui trình tối ưu để xác định hai hoạt chất chlorpyrifos và fipronil trên ớt Đà Lạt
- Giới hạn phát hiện (MDL) ở dưới ngưỡng MRL của thông tư 50/2016 BYT
- Nhận xét về các mức độ tồn dư của hai hoạt chất chlorpyrifos và fipronil trên
ớt Đà Lạt
Trang 6CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới có các công trình nghiên cứu về mức độ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên rau cải như sau:
Năm 2011 Pakistan Qaisar Mahmood với đề tài “ Đánh giá dư lượng thuốc trừ
sâu trên các loại rau được lựa chọn của Pakistan” Nội dung là nghiên cứu này được thực hiện để xác định dư lượng thuốc trừ sâu trên các loại rau trong mùa hè Năm loại rau được trồng với phun thuốc ba lần lặp lại Thuốc trừ sâu đã được phun lên ba lần rau trong khoảng thời gian đều đặn sau mỗi 15 ngày Khi trưởng thành, dư lượng thuốc trừ sâu được chiết xuất từ các phần ăn được và lá bằng cách sử dụng natri sulfat khan
và ethyl acetate trong khi kỹ thuật sắc ký hấp phụ được sử dụng để làm sạch Các chất chiết xuất được phân tích bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) để phân tách và phân tích các hợp chất Sự khác biệt đáng kể (p <0,05) đã được tìm thấy trong dư lượng thuốc trừ sâu trên các phần ăn được trong khi sự khác biệt đáng kể (p <0,001) đã được quan sát cho các phần lá Mức độ còn lại của cypermethrin là cao nhất (16,2 mg/kg) trong phần ăn được của quả đắng, trong khi dư lượng Lambdacyhalothrin và Mancozeb được phát hiện cao (4,50 mg/kg và 6,26 mg/kg) trong ăn được phần mướp ắng và dưa chuột tương ứng Dư lượng Cypermethrin cao (1,86 mg/kg) trong lá Okra Mức dư của Mancozeb và Lambdacyhalothrin khá cao (1,23mg/kg và 0,0002 mg/kg) trong lá ớt và cà chua Dư lượng Cypermethrin đã được phát hiện dễ dàng trong phần
ăn được và phần lá của các loại rau được chọn
Năm 2013 Brasil, Jonas da Silva Sousa với đề tài “ Đánh giá một phương pháp
phân tích sử dụng QuEChERS và GC-SQ/MS để điều tra mức độ dư lượng thuốc trừ sâu trong dưa Brazil” Nội dung là phương pháp multiresidue dựa trên việc chuẩn bị mẫu bằng QuEChERS đã được sửa đổi và phát hiện bằng sắc ký khí kết hợp với máy quang phổ khối tứ cực (GC-SQ/MS) được sử dụng để phân tích 35 loại thuốc trừ sâu trong dưa hấu (Cucumis melo inodorus) được sản xuất tại Ceara-Brazil Tỷ lệ thu hồi thuốc trừ sâu được nghiên cứu là thích hợp (trừ etridiazole) với hệ số thu hồi dao động
Trang 7từ 85% đến 117% với độ lệch chuẩn tương đối (RSD) dưới 15%, ở nồng độ từ 0,05 đến 0,20 mg/kg Giới hạn định lượng (LOQ) cho hầu hết các hợp chất nằm dưới MRL được thiết lập ở Brazil Độ không đảm bảo tương đối kết hợp (Uc) và độ không đảm bảo mở rộng (Ue) được xác định bằng cách sử dụng dữ liệu lặp lại, thu hồi và hiệu chuẩn đường cong cho mỗi loại thuốc trừ sâu Phân tích mẫu dưa thương mại cho thấy
sự hiện diện của thuốc trừ sâu bifenthrin và imazalil ở mức dưới MRL được thành lập bởi ANVISA, EU và USEPA
Năm 2018 Tanzania, P A Kiwango với đề tài “ Dư lượng thuốc trừ sâu trong rau: Các can thiệp thiết thực để giảm thiểu rủi ro phơi nhiễm trên người ở Tanzania” Nội dung là các sơ suất trong việc sử dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất rau đã được báo cáo trong lĩnh vực trồng trọt ở các nước đang phát triển Điều này có thể dẫn đến việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và sau đó, ở mức độ không thể chấp nhận của dư lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm có nguồn gốc làm vườn Tiêu thụ rau quả có chứa
dư lượng thuốc trừ sâu không được chấp nhận là mối quan tâm của cộng đồng do ảnh hưởng có hại của nó đối với sức khỏe con người Trong công việc này, chúng tôi đã xem xét hiện trạng ứng dụng thuốc trừ sâu, sự xuất hiện và phơi nhiễm của dư lượng thuốc trừ sâu trong rau cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề phơi nhiễm thuốc trừ sâu ở Tanzania Đánh giá đã nhận ra rằng thuốc trừ sâu hiếm khi được áp dụng cho rau theo các thực hành nông nghiệp tốt Hơn nữa, dư lượng thuốc trừ sâu trong rau không được theo dõi và các nghiên cứu tiếp xúc bị hạn chế Các nghiên cứu về ảnh hưởng của chế biến rau đến dư lượng thuốc trừ sâu ở cấp hộ gia đình đã được thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm Tuy nhiên, ảnh hưởng của các quá trình này đến dư lượng ở cấp cộng đồng là không rõ Tổng quan cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu rộng hơn về thực hành ứng dụng thuốc trừ sâu để thiết lập các thực hành quan trọng có liên quan đáng kể đến sự xuất hiện của dư lượng thuốc trừ sâu trong rau Kết quả từ nghiên cứu này sẽ cho phép phân bổ các nguồn lực để cải thiện, giám sát và kiểm soát các thực hành này để giảm thiểu nguy cơ tồn dư thuốc trừ sâu không mong muốn trong rau Cần theo dõi liên tục dư lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm, cũng như phơi nhiễm chế độ ăn uống của con người, để thông báo cho các nhà hoạch định chính sách
và quản lý rủi ro về tình trạng nguy cơ tiếp xúc với dư lượng thuốc trừ sâu
Trang 82.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong nước có các công trình nghiên cứu về dư lượng thuốc trừ sâu trên cây rau như sau:
Năm 2011 Phạm Ngọc Thuật với luận văn thạc sĩ “Xác định hợp chất thuốc trừ sâu cơ phốt pho (OP’s) trong rau quả bằng phương pháp sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC/MS)” Nội dung là xây dựng phương pháp xác định thuốc trừ sâu cơ phốt pho trong rau quả Sau đó áp dụng phương pháp để khảo sát, xác định dư lượng thuốc trừ sâu cơ phốt pho trên một số mẫu rau, quả trên địa bàn Hà Nội
Năm 2012 ThS Phan Thanh Nghiệm với đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu, phân tích
và đánh giá dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật trong sản phẩm rau, củ, quả Trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” Nội dung đề tài là nghiên cứu phân tích và đánh giá tình hình ô nhiễm dư lượng thuốc BVTV trong sản phẩm rau trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế ô nhiễm dư lượng thuốc BVTV trong rau trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Năm 2016 Hoàng Minh Quang với đề tài thạc sĩ “ Phân tích dư lượng một số hóa chất bảo vệ thực vật trên rau xanh bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC/MS)” Nội dung luận văn là xây dựng qui trình phân tích sau đo đi phân tích mẫu thực tế trước và sau khi rữa rau để so sánh
Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra các mức độ tồn dư của hai hoạt chất chlorpyrifos, carbosulfan trên cây rau dựa vào mô hình toán học Và đưa ra phương trình hồi qui về mức độ tồn dư của hai hoạt chất chlorpyrifos, carbosulfan theo nồng độ và thời gian
Trang 9CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Dư lượng hai hoạt chất chlorpyrifos và fipronil trên ớt Đà Lạt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phòng thí nghiệm trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM
- Trung tâm dịch vụ phân tích và thí nghiệm TP.HCM (CASE)
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đánh giá phương pháp phân tích
- Độ chọn lọc:
Tiến hành phân tích mẫu blank, mẫu thêm chuẩn và chuẩn Sau đó bơm vào máy GC/MS/MS ta thu được thời gian lưu của chuẩn
- Giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ):
Giới hạn phát hiện (LOD) là nồng độ thấp nhất của chất phân tích trong mẫu có thể phát hiện được nhưng chưa thể định lượng được
Giới hạn định lượng (LOQ) là nồng độ tối thiểu của một chất có trong mẫu mà
ta có thể định lượng bằng phương pháp khảo sát và cho kết quả có độ chụm mong muốn
Để xác định giới hạn phát hiện, dùng chuẩn 10 ppb pha trong ethylacetate rồi tiến hành pha loãng cho tới khi thu được chiều cao chất phân tích gấp 3 lần tín hiệu đường nền (S/N ≥ 3) Ghi nhận giá trị nồng độ nhỏ nhất đó (Cmin) Tiến hành lặp lại 6 lần
Trang 10Giới hạn phát hiện (LOD):
Giới hạn định lượng (LOQ):
- Khoảng tuyến tính và đường chuẩn:
Khoảng tuyến tính của một phương pháp phân tích là khoảng nồng độ ở đó có
sự phụ thuộc tuyến tính giữa đại lượng đo được và nồng độ chất phân tích
Tiến hành khảo sát sự phụ thuộc của diện tích peak sắc ký vào nồng độ của các hoạt chất để tìm giới hạn tuyến tính Từ dung dịch chuẩn gốc 100 ppm pha một dãy dung dịch chuẩn có nồng độ từ 10 ppb đến 400 ppb Các dung dịch chuẩn được pha trong acetonitril Tiến hành bơm dung dịch chuẩn vào hệ thống GC/MS/MS theo các điều kiện đã tối ưu
- Độ chụm (độ lặp lại, độ tái lặp):
Để đánh giá độ lặp lại, tiến hành bơm lặp lại 6 lần dung dịch chuẩn của các hoạt chất ở nồng độ trong khoảng tuyến tính là 100 ppb
Để đánh giá độ tái lập, tiến hành bơm lặp lại 6 lần dung dịch chuẩn của các hoạt chất ở nồng độ trong khoảng tuyến tính là 100 ppb ở 2 thời điểm khác nhau
Tính độ lệch chuẩn SD và độ lệch chuẩn tương đối RSD theo công thức sau:
Trong đó:
- SD: Độ lệch chuẩn
- n: Số lần thí nghiệm
Trang 11- x: Giá trị tính được của lần thử nghiệm thứ “I”.
- : Giá trị trung bình của các lần thử nghiệm
- RSD%: Độ lệch chuẩn tương đối
Tiêu chí đánh giá
Bảng 1 Độ lặp lại tối đa chấp nhận tại các nồng độ khác nhau (theo AOAC)
5 0,01 10-4 100 ppm 5,3
6 0,001 10-5 10 ppm 7,3
8 0,00001 10-7 100 ppb 15
9 0,000001 10-8 10 ppb 21
10 0,0000001 10-9 1 ppb 30
- Độ đúng – Hiệu suất thu hồi:
Việc xác định độ đúng có thể thực hiện thông qua xác định độ thu hồi của phương pháp
Tiến phân tích trên nền mẫu ớt, sử dụng phương pháp thêm chuẩn tại 3 nồng độ khác nhau Lặp lại 3 lần, tính hiệu suất thu hồi theo công thức sau:
Trong đó:
- R%: Hiệu suất thu hồi, %
Trang 12- Cm: Nồng độ chất phân tích trong mẫu thử.
- Cc: Nồng độ chuẩn thêm (lý thuyết)
Bảng 2 Độ thu hồi chấp nhận ở các nồng độ khác nhau (theo AOAC)
5 0,01 10-4 100 ppm 90 – 107
6 0,001 10-5 10 ppm 80 – 110
7 0,0001 10-6 1 ppm 80 – 110
8 0,00001 10-7 100 ppb 80 – 110
9 0,000001 10-8 10 ppb 60 – 115
10 0,0000001 10-9 1 ppb 40 – 120
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích mẫu: Xây dựng phương pháp phân tích dựa trên cơ sở tham khảo các phương pháp thử theo Tiêu chuẩn Việt Nam và phương pháp của AOAC (Mỹ)
- Xử lí mẫu bằng phương pháp QuEChERS
- Phân tích mẫu bằng thiết bị GC/MS
3.4.1 Hóa chất
Hóa chất và các thuốc thử được sử dụng phải loại tinh khiết sử dụng trong phân tích:
Trang 13- Acetonitril 99.9% của hãng Merck.
- Chlorpyrifos 99.7% của hãng Sigma 45395
- Fipronil 99.4% của hãng Sigma
- NaCl 99% của hãng Merck
- Nước cất 2 lần loại ion
- Nội chuẩn Trifuralin-D14 98% Dr Ehrenstorfer GmbH, C17850100
- dSPE than hoạt tính của hãng CNW Technologies
- Bột QuEChERS của hãng CNW Technologies
3.4.2 Thiết bị và dụng cụ
- Hệ thống máy sắc ký khí Trace 1300 Thermo Scientific
- Đầu dò khối phổ 3 tứ cực TSQ 8000 Thermo Scientific
- Bộ tiêm mẫu tự động TriPlus RSH Thermo Scientific
- Hệ thống bơm chân không của ERWARD
- Cột DB – 5MS (30 m x 0,25 mm x 0,25 μm)
- Máy lắc
- Máy li tâm
- Cân phân tích (có độ chính xác 0,1mg và 0,01mg)
- Pipet: 1, 2, 5, 10, 20 ml Bình định mức: 5, 10, 50, 100 ml
- Ống li tâm 50 ml
- Vial loại 1,8 ml
- Màng lọc 0,45 μm
- Ống đong, phễu, giấy lọc
- Micropipet 20-200 μL
- Micropipet 100-1000 μL
CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ TIẾN
Trang 14ĐỘ THỰC HIỆN
4.1 Dự kiến kết quả đạt được của đề tài.
- Các thông số của thiết bị, các thông số thẩm định của phương pháp
- Kết quả phân tích mẫu thực nghiệm
- Mức độ tồn dư của hai hoạt chất chlorpyrifos và fipronil trên ớt Đà Lạt
- Đưa ra nhận xét và các khuyến cáo
Trang 154.2 Tiến độ thực hiện
03/2018- 11/2018
- Tìm tài liệu tham khảo
- Khảo sát các thông số máy GCMS
- Giới hạn phát hiện LOD, giới hạn định lượng LOD
- Khoảng tuyến tính
- Độ chụm (độ lặp lại)
- Độ đúng (độ chệch, độ thu hồi)
Đã thực hiện
12/2018- 04/2019 - Viết đề cương luận văn- Xét duyệt đề cương
- Bảo vệ đề cương
Đang thực hiện
05/2019- 09/2019 - Phân tích mẫu thực nghiệm.
- Đưa ra nhận xét và khuyến cáo Chưa thực hiện
10/2019-11/2019 - Viết luận văn.
- Bảo vệ luận văn Chưa thực hiện
Trang 16TÀI LIỆU THAM KHẢO
A Tiếng Việt
[1] Bản tin Tài nguyên và Môi trường, “Thuốc bảo vệ thực vật và những tác động của chúng”, Internet:
http://tnmtvinhphuc.gov.vn/index.php/vi/news/Khoa-hoc-Cong-nghe/Thuoc-bao-ve-thuc-vat-va-nhung-tac-dong-cua-chung-389/,
20/06/2008.
[2] Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phương pháp lấy mẫu kiểm định chất
lượng và dư lượng thuốc BVTV 10TCN 386-99, Hà Nội, 1999.
[3] Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Quyết định số 23/2007/QĐBNN của
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn về việc ban hành danh mục thuốc BVTV sử dụng trong nông nghiệp, Hà Nội, 2003.
[4] Bùi Sỹ Doanh et al, “Đánh giá đúng diễn biến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
trong cây trồng ở điều kiện Việt Nam nhằm bảo vệ sức khỏe con người”, Tạp chí
BVTV, 3 (141) , 42-45,1995.
[5] BioMedia Việt Nam, “Sắc ký khí ghép nối khối phổ (Phần 2)”, Internet:
http://biomedia.vn/review/sac-ky-khi-ghep-noi-khoi-pho-phan-2.html,
26/02/2014.
[6] Cổng thông tin điện tử Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, Dư lượng
thuốc trừ sâu ở rau quả Ấn Độ tăng cao, Internet: www.agroviet.gov.vn ,
06/04/2011
[7] Cục Bảo vệ thực vật, phòng quản lý thuốc, Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt
Nam và tồn dư thuốc BVTV trong đất, nước, nông sản, Hội thảo quản lý thuốc BVTV - Dự án SEMA, Hà Nội, 1998.
[8] Đào Văn Hoằng, Kỹ thuật tổng hợp các hóa chất bảo vệ thực vật, NXB Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội, 3–95, 2005
[9] Đỗ Hàm, Hóa chất dùng trong nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng, NXB Lao
động và Xã hội, Hà Nội, 32–95, 2007
[10] Hoàng Minh Quang, Phân tích dư lượng một số hóa chất bảo vệ thực vật trên
rau xanh bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC/MS), Luận văn thạc sĩ