1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING VỚI VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở NHNoPTNTHN

23 150 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hoạt động marketing với việc nâng cao năng lực cạnh tranh ở NHNoPTNTHN
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 50,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngân hàng phát triển nông nghiệp Hà Nộisớm phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh với các Ngân hàng đã có bề dày hoạtđộng kinh doanh và có nhiều lợi thế hơn hẳn, không những thế còn

Trang 1

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING VỚI VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC

CẠNH TRANH Ở NHNoPTNTHN

2.1 Sự cạnh tranh trên thị trường NHVN

Ngành ngân hàng trong năm 2008 đã trãi qua nhiều biến động khó khăn

Lạm phát:

Đầu năm phải đối mặt với lạm phát tăng cao (theo tính tóan sơ bộ lạm phát nămnay của Việt Nam là 24%) do đó việc thắt chặt tiền tệ đã gây khó khăn không nhỏ chongân hàng Thứ nhất: họ phải tăng lãi suất vay vì thế cho nên phải tăng lãi suất cho vay.Lãi suất cho vay quá cao khiến càng ít doanh nghiệp vay vốn, làm cản trở đến việc kinhdoanh của ngân hàng Thứ hai: Do lãi suất cao nên khả năng hoàn trả của các con nợ bịgiảm sút, việc thu hồi nợ khó khăn hơn, các khoản nợ xấu gia tăng, làm tăng khả năngrủi ro của các ngân hàng Thứ ba: Do lý do thứ hai nên các ngân hàng trở nên dè dặttrong việc cho vay vốn, tiền không được mang ra sử dụng lưu thông trở thành nhữngkhoản tiền vô ích, làm tăng chí phí cho ngân hàng

Cơn bão tài chính Mỹ:

Gần cuối năm, ngành tài chính ngân hàng phải đón nhận tin cơn bão tài chính ở

Mỹ Nhưng có lẽ nó có ít tác động đến ngành ngân hàng Việt Nam mà nhiều khi còn làtin tốt Tin tốt là vì: Khi nhìn thấy sự khủng hoảng của ngành ngân hàng tại Mỹ, cácngân hàng Việt Nam sẽ suy xét và nhìn nhận lại cách làm ăn của mình Họ sẽ thận trọnghơn với các khoản cho vay của mình; họ sẽ tìm cách giảm rủi ro trong quá trình chovay; họ sẽ đề phòng và miễn dịch với các dự án đầu tư hay cho vay mà ở đó các khoản

nợ xấu, khó đòi là cao; họ sẽ tập trung vào các khoản mục sinh lợi tốt, khả năng hoànvốn cao và có sự phát triển trong tương lai

Cạnh tranh giữa các ngân hàng:

Hai năm sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sự xuất hiệncủa các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng nước ngoài vàđặc biệt của ba ngân hàng 100% vốn nước ngoài trong năm 2008 cho thấy sức hấp dẫn của thịtrường vốn Việt Nam Sức nóng cạnh tranh trên lĩnh vực tài chính-ngân hàng dự báo sẽ ngàycàng tăng lên trong năm 2009

Đầu tiên là sự cạnh tranh các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nướcngoài Càng ngày càng có nhiều ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam Lợi thế của họ là

có nhiều vốn, có tiềm lực tài chính và quản lý Hiện đã có 5 ngân hàng 100% vốn nướcngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, được đối xử bình đẳng như ngân hàngtrong nước theo cam kết WTO.Trong 5 ngân hàng này, thì ngân hàng TNHH một thànhviên Shinhan Việt Nam (Hàn Quốc) và Hong Leong Bank Việt Nam (Malaysia) còn khámới lạ với người dân Việt Nam, còn ba cái tên HSBC, ANZ và Standard Chartered đãđược khá nhiều người biết tới

HSBC là ngân hàng nước ngoài tích cực nhất hiện nay HSBC vừa được Ngânhàng Nhà nước chính thức cho phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tạiViệt Nam Việc thành lập ngân hàng con sẽ cho phép HSBC mở rộng mạng lưới phânphối rộng hơn, tới các khách hàng hiện tại cũng như khách hàng mới HSBC trở thànhngân hàng nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam sở hữu 20% cổ phần tại một ngân hàngtrong nước sau khi nâng cổ phần sở hữu tại Techcombank từ 14,4% lên 20% Điều nàycho phép HSBC mở rộng sức ảnh hưởng và gia tăng tầm hoạt động của mình Sức épcạnh tranh ngày càng gia tăng đối với các ngân hàng nội

Trang 2

Theo Ngân hàng Nhà nước, trong năm 2008, tỷ lệ nợ xấu nói chung của cả khối ngânhàng ngoại tăng so với năm 2007, tuy nhiên mức tăng không đáng kể Về tổng thu nhập trướcthuế, mặc dù có một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài và công ty tài chính bị lỗ nhưng lợinhuận trước thuế của cả khối là 1.418 tỷ đồng.

Nếu nhìn vào con số lãi hơn 1.400 tỷ đồng so với số lượng các tổ chức tín dụng nướcngoài có mặt tại Việt Nam thì không có gì đáng nói, nhưng điều đáng nói ở đây là hầu hết các

tổ chức tín dụng này đều mới có mặt ở Việt Nam sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTOvào ngày 11/1/2007

Thông thường, một ngân hàng mới thành lập phải bỏ chi phí lớn đầu tư, mở rộng mạnglưới kinh doanh, quảng bá hình ảnh mà đã có lãi ngay như các ngân hàng ngoại là điều đángchú ý

Cạnh tranh với ngân hàng trong nước: Điều này là hiển nhiên nhưng có xu thếmới đó là việc hợp tác của các ngân hàng nội Việc rõ ràng nhất là “liên minh ATM”.Cầm thẻ ATM của ngân hàng Techcombank nhưng khi đến trạm rút tiền của ngân hàngVietcombank bạn vẫn có thể rút tiền được Điều này làm gia tăng tầm hoạt động, khảnăng cạnh tranh, sức thu hút khách hàng hơn là những ngân hàng không nằm trong liênminh

Nhưng sự cạnh tranh dù là giữa nội – ngoại hay nội – nội vẫn là cần thiết Vì như thếcác ngân hàng sẽ không ngừng cải thiện, không ngừng gia tăng chất lượng dịch vụ, luônluôn sáng tạo để làm thỏa mãn những đòi hỏi của đất nước, của người dân và các doanhnghiệp

Cạnh tranh với thị trường chứng khoán:

Càng ngày chứng khoán càng trở nên lộ diện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp vớicác ngân hàng về mặt huy động vốn trong dân Trước kia chưa có chứng khoán thìngười dân sẽ gửi tiền nhàn rỗi của mình vào các ngân hàng nhằm kiếm các khoản lợitức Nhưng nay, chứng khoán đã làm giảm lượng huy động vốn nhàn rỗi của các ngânhàng Những người dân có tiền nhàn rỗi họ sẵn sàng lao vào đầu tư chứng khoán với hivọng kiếm lời cao hơn là gửi tiền vào ngân hàng (tuy có rủi ro cao hơn) Bên cạnh đó,các doanh ngiệp ngoài kênh huy động vốn là vay mượn các ngân hàng họ còn có cách làphát hành cổ phiếu ra thị trường Đấy cũng là một cách tốt để huy động vốn

2.2 Khái quát về NHNo &PTNTHN

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của NHNN&PTNTHN

Được thành lập theo quyết định số 51-QĐ/NH/QĐ ngày 27/6/1988 của TổngGiám đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam Với 1.182 lao động, 18 tỷ nguồn vốn, chủyếu là tiền gửi Ngân sách huyện và 16 tỷ dư nợ mà hầu hết là nợ cho vay các xí nghiệpQuốc doanh, các hợp tác xã đã trở thành nợ tồn động Trụ sở, phương tiện, kho tàngkhông đáp ứng được yêu cầu kinh doanh Ngân hàng phát triển nông nghiệp Hà Nộisớm phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh với các Ngân hàng đã có bề dày hoạtđộng kinh doanh và có nhiều lợi thế hơn hẳn, không những thế còn luôn trong tình trạngthiếu vốn, thiếu tiền mặt, những năm đầu cùng với sự hỗ trợ nguồn vốn của Ngân hàngphát triển Nông nghiệp Trung ương cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vay vốncủa Liên hiệp các Công ty Lương thực Hà Nội để mua gạo cho nhân dân nội thành, mộtphần nhu cầu tiền mặt chỉ lương cho các doanh nghiệp

Nhận rõ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước,

mà trọng tâm là phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần đổi mới Nông thôn ngoạithành Hà Nội, Ngân hàng phát triển Nông nghiệp Hà Nội đã nhanh chóng khai thác

Trang 3

nguồn vốn để đầu tư cho các Thành phần kinh tế mà trước hết là đầu tư cho NôngNghiệp Nhờ có những quyết sách táo bạo, đổi mới nhận thức kiên quyết khắc phụcđiểm yếu nhất là thiếu vốn, thiếu tiền mặt, nhờ vậy chi sau hơn hai năm hoạt động, từnăm 1990 trở đi Ngân hàng NHNo Hà Nội đã có đủ nguồn vốn và tiền mặt thỏa mãn cơbản các nhu cầu tín dụng và tiền mặt cho khách hàng

Thực hiện chủ trương cho vay hộ sản xuất theo quyết định 499A của Tổng giámđốc NHNo&PTNT Việt Nam, NHNo&PTNT Hà nội đã phối hợp với Hội Nông đân,Hội liên hiệp phụ nữ thành phố đã đẩy mạnh cho vay phát triển các sản phẩm NôngNghiệp như trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi bò sữa, gia súc, gia cầm, phát triển vùngchuyên canh rau, hoa cây cảnh nhờ vậy thu nhập và đời sống nông dân ngoại thành đãđược cải thiện đáng kể, tỷ lệ hộ khá và gia tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống đáng

kể

Tháng 9 năm 1991, 7 Ngân hàng huyện thị: Mê Linh, Hoài Đức, Đan Phượng,Thạch Thất, Ba Vì, Phúc Thọ, thị xã Sơn Tây được bàn giao về Vĩnh Phúc và Hà Tây Tiếp theo đó thực hiện mô hình hai cấp từ tháng 10/1995 NHNo&PTNT Hà Nội

đã bàn giao 5 Ngân hàng Sóc Sơn, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, từ tháng

11 năm 2004 đến nay tiếp tục bàn giao các chi nhánh Chương Dương và Tây hồ, CầuGiấy, Thanh Xuân về Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, lúc này NHNo&PTNT HàNội lại đứng trước một thử thách mới đó là mang tên Ngân hàng nông nghiệp nhưng lạiphục vụ các thành nghiệp kinh tế không mang dáng dấp cả sản xuất nông nghiệp giữanội đô Thành phố Hà Nội

Để đứng vững, tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường NHNo&PTNT HàNội đã chủ động mở rộng màng lưới để huy động vốn và đáp ứng nhu cầu vốn tín dụngcủa các thành phân kinh tế trên địa bàn nội thành

Những khó khăn tương chừng đã với dần đi, những cơ chế thị trường đã làmnhiều doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp Nhà nước làm ăm thua lỗ mất vốn, có vay

mà không có trả, nhiều doanh nghiệp được khoanh, giãn nợ từ các năm 1995 đến naykhông có khả năng trả nợ dồn lại, khó khăn trong những năm sau này còn nặng nề,phức tạp gấp nhiều lần khi thiếu vốn, thiếu tiền mặt của thời kỳ mới thành lập songđược NHNo&PTNT Việt Nam, NHNN Việt Nam, Thành Uỷ, UBND thành phố Hà Nội

và các ban ngành từ Trung ương đến địa phương giúp sức cùng với sự kiên trì, năngđộng, sáng tạo của Đảng Uỷ, Ban Giám Đốc, của Đảng bộ với 156 Đảng viên cùng vớitập thể viên chức đã lao động cần cù miệt mài đã từng bước vượt qua những trở ngạithách thức

Sau 20 năm phấn đấu, xây dựng và từng bước trưởng thành, NHNo&PTNT HàNội đã đi những bước vững chắc với sự phát triển toàn diện trên các mặt huy độngnguồn vốn, tăng trưởng đầu tư và nâng cao chất lượng tín dụng, thu chi tiền mặt, mởrộng quan hệ kinh tế đối ngoại, phát triển đa dạng hoá dịch vụ đặc biệt chi trảlương ngân sách qua thẻ ATM và các hoạt động khác

Bên cạnh việc tích cực tìm mọi giải phát để huy động vốn nhất là tiền gửi từ dân

cư và đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, từnăm 1995, NHNo&PTNT Hà Nội triển khai nghiệp vu thanh toán quốc, chỉ sau 10 năm

đã có thể giao dịch với gần 800 Ngân hàng và đại lý các tổ chức tín dụng Quốc Tế vớidoanh số thanh toán xuất nhập khẩu hàng năm từ 150 đến 250 triệu USD, đồng thờihàng năm đã khai thác được hàng trăm triệu USD, JPY, EURO, DM và nhiều loại ngoại

tệ khác để đáp ứng nhu cầu thanh toán nhập khẩu của các doanh nghiệp Hoạt động

Trang 4

thanh toán quốc tế đã nhanh chóng tạo được sự tín nhiệm của nhiều khách hàng trongnước và nước ngoài, đến nay NHNo&PTNT Hà Nội đã mở rộng thanh toán biên mậuvới các nước láng giếng, nhất là Trung Quốc, thực hiện các dịch vụ thu đổi ngoại tệ,mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hổi

Tự chỗ luôn thiếu tiền mặt để chi cho các nhu cầu lĩnh tiền mặt, đến nay luônbội thu tiền mặt, tất cả các nhu cầu nộp lĩnh tiền mặt của các đơn vị và cá nhận có quan

hệ tiền mặt với NHNo&PTNT Hà Nội đều được đáp ứng kịp thời, đầy đủ, chính xácgóp phần tích cực vào sự ổn định tiền tệ và giá cả trên địa bàn Hà Nội

Ngoài những nhiệm vụ chính NHNo&PTNT Hà Nội đã quan tâm mở rộng cácloại hình dịch vụ tiện ích như chuyển tiền, bảo lãnh dự thầu, bào lãnh thực hiện hợpđồng, mở LC nhập khẩu, Phonebanking, thẻ ATM, thẻ tín dụng nội địa, thẻ ghi nợ, tựvấn trong thanh toán Quốc tế, thu tiền tại nhà mở mang nhiều tiện lợi cho khách hàng

và tăng thu dịch vụ cho Ngân hàng, bình quân thu dịch vụ chiếm 12-15% trên tổngthu

Mặc dù còn nhiều khó khăn trở ngại, song NHNo&PTNT Hà Nội kiên quyếtthực hiện đổi mới trong cách nghĩ, cách làm, đặc biệt trong chỉ đạo điều hành, từ chỗquen với cơ chế bao cấp, ỷ lại và câp trên, không chú trọng đến chất lượng kinh doanh,đến nay trọng tâm hàng đầu mà mọi thành viên của NHNo&PTNT Hà Nội đều thực sựquan tâm là hiệu quả kinh doanh cuối cùng, đặc biệt là chất lượng tín dụng

Để chuẩn bị cho hội nhập trong khu vực và quốc tế NHNo&PTNT Hà Nội đãtừng bước hiện đại hóa hoạt động Ngân hàng mà trọng tâm là công tác thanh toán,chuyển tiền điện tử cho khách hàng, đến nay mọi nhu cầu chuyển tiền cho khách hàngtrong và ngoài hệ thống được thực hiện ngay trong ngày làm việc, thậm chí chỉ trongthời gian rất ngắn với độ an toàn và chính xác cao

Trong quá trình xây dựng và trưởng thành NHNo&PTNT Hà Nội luôn luôn lấyđoàn kết nội bộ làm trọng tâm, phát huy sức mạnh của các tổ chức quần chúng nhưCông đoàn cơ sở, Đoàn Thanh niên Công sản Hồ Chí Minh, Ban nữ công vừa mở rộnghoạt động kinh doanh, cán bộ viên chức NHNo&PTNT Hà Nội đã tích cực hưởng ứngcác công tác xã hội nhu ủng hộ đồng bào bị thiên tai, bão lụt, ủng hộ người nghèo, xâydựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, tổ chức thăm hỏi và tặng quà các gia đình thương binh, liệt

sỹ với trên 300 triệu, nuôi dưỡng 1 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, ủng hộ xây nhà tìnhnghĩa cho các gia đình chính sách với 152 triệu đồng

Với những công hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triên kinh tế Thủ đô cũngnhư với sự phát triển của ngành Ngân hàng, từ ngày thành lập đến nay Đảng BộNHNo&PTNT Hà Nội luôn đạt danh hiệu Đảng Bộ trong sạch vững mạnh, được Nhànước tặng thưởng 1 Huân chương Lao động hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng

Ba, 2 Bằng khen của Thủ tướng Chính phụ, 37 Bằng khen của Thống đôc s NHNN ViệtNam, 33 bằng khen của Chủ tích UBND thành phố Hà Nội, 39 Chiến sỹ thi đua, 1266lượt lao động giỏi cấp cơ sở

Phát huy truyền thống 20 năm xây dựng và trưởng thành, trước yêu cầu đổi mớicủa nền kinh tế trong quá trình hội nhập, NHNo&PTNT Hà Nội sẽ phát huy nhữngthành quả và bài học kinh nghiệm bước đầu trong quản lý điều hành kinh doanh đồngthời được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực, đoàn kết phấn đấu củatập thể cán bộ, viên chức NHNo&PTNT Hà Nội sẽ phát triển bền vững và giành đượcnhiều thành tích to lớn hơn nữa

Trang 5

2.2.2 Kết quả kinh doanh của NHNo & PTNT

Năm 2008, mặc dự gặp nhiều khú khăn do tỏc động của cuộc khủng hoảng tiền

tệ thế giới kộo theo sự suy thoỏi của nền kinh tế trong nước, giá cả một số mặt hàngthiết yếu biến động tăng cao, thiên tai dịch bệnh phát sinh đã ảnh hởng xấu đếnphát triển kinh tế Thành phố Hà Nội núi riờng và cả nước núi chung, nhưng với sự cốgắng của tập thể cỏn bộ nhõn viờn, Ngõn hàng No&PTNT Hà Nội đó đạt được nhữngkết quả kinh doanh toàn diện, xứng đỏng với danh hiệu lỏ cờ đầu của toàn hệ thốngAgribank

Ngõn hàng No&PTNT Hà Nội khụng chỉ là chi nhỏnh hoàn thành tốt kế hoạch kinhdoanh mà cũn là chi nhỏnh cung cấp nguồn nhõn lực lónh đạo chủ chốt cho Agribank

2.2.2.1 Cụng tỏc nguồn vốn

Tổng nguồn vốn đạt 15.322 tỷ VNĐ, tăng 1.500 tỷ so 2007 Trong đú,

* Phừn loại theo tiền

- Nguồn vốn nội tệ đạt 14.233 tỷ tăng 1.286 tỷ so với năm 2007

- Nguồn vốn ngoại tệ đạt 1.088 tỷ đồng tăng 214 tỷ đồng so với năm 2007

- Nguồn vốn từ dõn cư: 5.587 tỷ chiếm 36,5%, tăng 2.965 tỷ so năm 2007

- Nguồn vốn từ tổ chức kinh tế: 6.064 tỷ chiếm 39,6%, tăng 909 tỷ so năm2007

- Nguồn vốn từ TCTD: 1.144 tỷ chiếm 7,5%, giảm 457 tỷ so năm 2007

- Tiền gửi khỏc: 2.575 tỷ chiếm 16,4% giảm 1.917 tỷ so năm 2007

* Đạt được kết quả trờn là do Chi nhỏnh NHNoHN đó thực hiện nhiều hỡnh thứchuy động vốn tại Hội sở và 17 điểm giao dịch trực thuộc với nhiều sản phẩm dịch vụtiện ớch đối với khỏch hàng gửi tiền như huy động tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dựthưởng bằng vàng cú khuyến mại (NHNoViệt Nam phỏt hành) với nhiều hỡnh thức trảlói thỏng, quý, năm, lói trước, lói sau, đồng thời Chi nhỏnh đó chủ động điều chỉnh lóisuất huy động vốn một cỏch linh hoạt, phự hợp lói suất của cỏc TCTD trờn địa bàn, đógúp phần nõng cao chất lượng, số lượng huy động vốn từ dõn cư Đặc biệt thụng quaviệc trả lương qua tài khoản cũng đó tạo thờm nguồn vốn cho ngõn hàng Khụng nhữngthế cơ sở vật chất, trang thiết bị từ Hội sở đến cỏc PGD đó được chỉnh sửa và thay thế

Trang 6

bổ xung toàn diện, phong cách giao dịch ngày một tốt hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi

tối đa trong giao dịch phục vụ khách hàng

2.2.2.2 Tình hình sử dụng vốn

* Dư nợ

Tổng dư nợ đạt 3.438 tỷ tăng trên 701 tỷ so năm 2007 Dư nợ ngắn hạn: 1.323 tỷchiếm 38 % Dư nợ trung dài hạn : 2.215 tỷ chiếm 62 % tổng dư nợ

+ Phân tích dư nợ theo thời gian cho vay:

- Dư nợ ngắn hạn: 1.323 tỷ giảm 126 tỷ chiếm 38,5 % trong tổng dư nợ

- Dư nợ trung hạn : 343 tỷ giảm 4 tỷ chiếm 10,0 % trong tổng dư nợ

- Dư nợ dài hạn : 1.772 tỷ tăng 831 tỷ chiếm 51,5 % trong tổng dư nợ

+ Phân tích dư nợ theo thành phần kinh tế:

- DN nhà nước: 659 tỷ chiếm 19% tổng dư nợ giảm 5,0%so 2007

- DN ngoài QD : 2.481 tỷ chiếm 72% tổng dư nợ tăng 6,5% so 2007

- Hợp tác xã các loại: 12 tỷ chiếm 0,4% tổng dư nợ so giảm 0,1 % 2007

- Hộ gia đình… 286 tỷ chiếm 8,3% tổng dư nợ giảm 2% so 2008

+ Năm 2008, mặc dù có nhiều biến động phức tạp về kinh tế, lãi suất biến độngtăng song NHNo Hà Nội đã tích cực tìm kiếm và lựa chọn các dự án thực sự cóhiệu quả không phân biệt thành phần kinh tế đảm bảo hiệu quả kinh doanh Nhờđổi mới phong cách giao dịch ,với mức lãi suất cho vay hợp lý nên nhiều kháchhàng vẫn quan hệ vay vốn với NHNo&PTNT Hà Nội Mặt khác thực hiệnnghiêm túc các văn bản quy định về đầu tư tín dụng của NHNN và NHNo Việtnam và QĐ 493 QĐ 18 của NHNN Việt Nam và Quyết định 165 về việc phânloại chất lượng tín dụng, phân loại nợ và xử lý rủi ro của Tổng giám đốc NHNoVN

Đặc biệt ngay từ đầu năm 2008 Đảng uỷ, Ban giám đốc đã chỉ đạo nhữngnhiệm vụ và mục tiêu chính trong hoạt động kinh doanh trong đó: Không ngừngnâng cao chất lượng tín dụng Tập trung khai thác và tiếp cận những thành phầnkinh tế chú trọng đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các thành phần kinh tế tưnhân cá thể làm ăn có hiệu quả, tình hình tài chính minh bạch rõ ràng, đáp ứng

đủ các điều kiện theo quy định do vậy trong năm chi nhánh đã đầu tư vốn tíndụng tăng trên 700 tỷ só năm 2007.Mặt khác tích cực thu hồi nợ quá hạn, nợ đã

xử lý rủi ro Tập trung rà soát và xác định chính xác nợ xấu từ nhóm 3 đếnnhóm 5

Để tiếp tục phát triển NHNo Hà Nội tiếp tục phải thay đổi phong cách giao dịch, xử lýnhững yêu cầu tín dụng của khách hàng nhanh, an toàn đúng theo quy định của NHNN

và NHNo Việt Nam, đảm bảo đáp ứng các nhu cầu của khách hàng

* Nợ xấu

Năm 2008 chi nhánh đã tiếp tục quan tâm đến chất lượng tín dụng từngbước lành mạnh hoá công tác tín dụng nhằm ổn định và phát triển, do vậy công

Trang 7

tác thẩm định dự án, kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay được thực hiệnnghiêm túc, chặt chẽ Đồng thời đẩy mạnh thu nợ đã xử lý rủi ro, nợ xấu, kiênquyết phân loại nợ theo Quyết định 493, QĐ 18 của NHNN để thực hiện tríchrủi ro triệt để Do vậy, tỷ lệ thu lãi đạt trên 98%, nợ xấu chỉ còn dưới 1% Nhìnchung các doanh nghiệp đầu tư đã phát huy hiệu quả đồng vốn đảm bảo trả nợtốt cho ngân hàng.

Trong năm 2008 chi nhánh đã trích lập dự phòng rủi ro 182.611 tỷ đạt102%, thu hồi nợ xấu đạt 104 tỷ tăng 2% so kế hoạch TW giao Tỷ lệ nợ xấuđạt dưới 1%

* Các hoạt động tín dụng

Tổng dư nợ đạt 3.438 tỷ tăng trên 701 tỷ so năm 2007 Dư nợ ngắn hạn:1.323 tỷ chiếm 38 % Dư nợ trung dài hạn : 2.215 tỷ chiếm 62 % tổng dư nợTrong năm 2008 mặc dù hệ thống ngân hàng đang khó khăn về vốn đầu tư tíndụng Song chi nhánh đã luôn có đủ nguồn vốn đáp ứng mọi nhu cầu tín dụng,chi nhánh đã tập trung cho các thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh có hiệuquả, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đặc biệt trong năm chi nhánh đã đầu

tư dây truyền thiết bị một số Hà Nội … để mở rộng thêm các nhà máy sản xuất

tại các tỉnh Hưng Yên, Vĩnh Phúc … với doanh số hàng trăm tỷ đồng ngoài rachi nhánh tổng công ty lớn như Tổng công ty Rượu Bia nước giải khát, Công ty

CP Cồn rượu tiếp tục đầu tư đối vơi các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tháo gỡkhó khăn trong hoạt động kinh doanh…

Trang 8

Để phát triển ổn định và vững chắc NHNo Hà Nội đã và đang tiếp tục thay đổiphong cách giao dịch, xử lý những yêu cầu tín dụng của khách hàng nhanh, antoàn đúng theo quy định, đảm bảo đáp ứng các nhu cầu của khách hàng kịp thời

* Dịch vụ và các tiện ích đó thực hiện

+ Dịch vụ thanh toán trong nước:

Với khối lượng vốn thanh toán lớn trong giao dịch của các thành phần kinh tếtrên địa bàn và trên phạm vi cả nước do vậy công tác thanh toán vốn năm 2008 ngàycàng phức tạp và khẩn trương hơn Tuy nhiên, Agribank Hanoi đã tổ chức tốt công tácthanh toán đặc biệt vào quý hai, quý ba và thời điểm cuối năm 2008 đối với các doanhnghiệp, không để chậm trễ hoặc sai sót, đảm bảo uy tín của Chi nhánh đối với kháchhàng Mặt khác, Agribank Hanoi tiếp tục nâng cao chất lượng giao dịch một cửa tại Hội

sở và các PGD trực thuộc nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động kinh doanh, quản

lý tài chính của ngân hàng nói riêng và đối với khách hàng nói chung được chuẩn xác,nhanh chóng, thuận lợi Tổng số phí thu được từ hoạt động thanh toán trong nước đạt4.230 tr đồng so với năm 2007 tăng 49.7% Tuy nhiên, tốc độ tăng thu phí không nhanhnhư tốc độ tăng của doanh số thanh toán trong nước nguyên nhân do chính sách kháchhàng của Agribank Hanoi đã giảm phí cho một số khách hàng có lượng thanh toán lớn

và số dư tiền gửi cao như Kho Bạc, Tổng công ty Bia-Rượư-Nước giải khát Hà Nội,Bảo hiểm,…

+ Dịch vụ Thanh toán quốc tế và Kinh doanh ngoại tệ:

Đạt 27.054 tr đồng (chiếm 67.2%)

Năm 2008 nền kinh tế có biến động phức tạp, lạm phát tăng cao đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến hoạt động kinh doanh ngoại hối Song công tác thanh toán quốc tế tiếp tục ổn địnhđảm bảo đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu thanh toán, vay vốn các loại ngoại tệ của các thànhphần kinh tế Trong năm đã mở hàng nghìn L/C nhập khẩu với giá trị hàng trăm triệu USD,hàng chục triệu EUR và các loại ngoại tệ khác tăng 23% so năm 2007, đồng thời mở rộngphục vụ các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu với kim ngạch hàng chục triệu USD tăng20% so năm 2007 Bên cạnh đó, để làm tốt công tác thanh toán quốc tế chi nhánh đã chủđộng khai thác được các loại ngoại tệ mạnh như USD, EUR, JPY…được gần 240 triệuUSD, trên 1.230 triệu JPY, gần 70 triệu EUR để phục vụ cho khách hàng,

+ Dịch vụ thu đổi Ngoại tệ:

Doanh số thu đổi năm 2008 là 7.743.714 USD, so với năm 2007 là 12.714.960USD (không tính 04 chi nhánh về trực thuộc TW) Số bàn đổi ngoại tệ là 30 bàn trong

đó có 18 bàn trực tiếp và 12 bàn đại lý Nhưng đến cuối tháng 12/2008, thực hiện quyếtđịnh 21 của Thống đốc NHNN Việt nam và công văn số 1011/NHNN-HAN10 ngày30/12/2008, NHNN Hà nội chưa cấp phép cho tất cả các đại lý đổi ngoại tệ củaAgribank Hanoi

+ Dịch vụ thẻ:

Trang 9

- Phát hành thẻ: năm 2008 phát hành 10.864 thẻ ghi nợ nội địa, tăng gần 1000

thẻ so với năm 2007 Số lũy kế từ đầu là 42.146 thẻ, với số dư tài khoản thẻ là 51.291 trđồng Từ tháng 9/2008, thực hiện chủ trương của Tổng giám đốc Agribank Vietnam,chi nhánh đã phát hành được 266 thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng quốc tế Visa (8 thẻ tíndụng) Ngoài hội sở phát hành là chủ yếu (5694 thẻ ATM), một số PGD cũng phát hànhđược nhiều thẻ, điển hình là PGD Ba Đình 1510 thẻ, Hai Bà Trưng 831 thẻ Một sốPGD thực sự chưa quan tâm đến việc phát hành thẻ nên kết quả đạt rất thấp như: PGD

12, 29, 52, 05, 06,…

- ATM: trong năm 2008, thực hiện kế hoạch của Agribank Vietnam chi nhánh

đã triển khai tìm thuê địa điểm và lắp đặt 04 máy ATM, nâng tổng số máy ATM của chinhánh lên 19 cái (trong đó hội sở trực tiếp quản lý 11 cái, các PGD là các chi nhánh cấp

II cũ quản lý 08 máy) Nhìn chung, chi nhánh đã thường xuyên theo dõi, giám sát máyATM, tiếp quỹ, kiểm tra tình trạng máy để thay giấy in nhật ký, hoá đơn, bảo dưỡngmáy hàng tháng,… đảm bảo máy hoạt động bình thường để phục vụ khách hàng

- EDC: Thực hiện chủ trương của Tổng giám đốc Agribank Vietnam, trong 6

tháng cuối năm 2008, Agribank Hanoi đã triển khai 10 EDC tại 10 Phòng giao dịchkhông có máy ATM Song do hệ thống hoạt động chưa tốt, thủ tục giao dịch tại EDCcòn phức tạp, công tác tiếp thị cũng chưa tốt và bản thân cán bộ làm nghiệp vụ tại cácphòng giao dịch chưa coi trọng dịch vụ này nên lượng các giao dịch còn rất thấp

- Đại lý chấp nhận thẻ POS: Hiện năm 2008 chi nhánh còn 11 Đại lý chấp

nhận thẻ Tuy nhiện, giao dịch tại các POS rất ít Nguyên nhân của tình trạng này là docác chủ thẻ còn chưa tin tưởng vào sản phẩm, các điểm đặt POS còn chưa hợp lý, chưa

có POS đặt tại các siêu thị Hầu hết các điểm chấp nhận thẻ nhân viên thu ngân chưathao tác thuần thục trên POS hoặc đã quen với việc thanh toán bằng tiền mặt, ngại sửdụng phương tiện thanh toán bằng thẻ…

+ Dịch vụ chuyển tiền kiều hối Western Union:

Năm 2008 đạt doanh số 1.441.076 USD, phí 11.126 USD so với năm 2007,doanh số đạt 3.795.873 USD, phí 13.290 USD (không tính 04 chi nhánh về trực thuộcTW)

+ Dịch vụ chi hộ lương: năm 2008 đạt 115 hợp đồng chi hộ lương so với năm

2007 là 81 hợp đồng (không tính 04 chi nhánh về trực thuộc TW)

+ Mobile Banking: là dịch vụ mới triển khai năm 2008 Đến hết năm 2008 đã có

gần 1.000 khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ cũng góp phần làm tăng thêm phídịch vụ Mobile Banking là một trong số các sản phẩm tiềm năng vì đáp ứng tốt nhucầu của khách hang, cần được chú trọng phát triển trong năm 2009

+ Gửi rút nhiều nơi: là dịch vụ mới triển khai từ nửa cuối năm 2008 trên nền tảng

công nghệ IPCAS, đáp ứng nhu cầu, tiện ích của khách hàng Song do, dịch vụ mới,công tác tiếp thị chưa tốt nên khách hàng sử dụng dịch vụ này còn ít

2.2.2.3 Kết quả tài chớnh

+ Thu nhập.

Năm 2008 Chi nhánh đã tập trung tận thu mọi nguồn thu như thu lãi cho vay đạttrên 98%, thu thừa vốn và các khoản thu khác: Tổng thu nhập đạt 40.285 tỷ tăng

Trang 10

1.458 tỷ, tăng 56% trong đó thu lãi đạt trên 370 tỷ, thu dịch vụ và thu bấtthường đạt 145 tỷ đồng trong đó thu dịch vụ đạt 40,3 tỷ tăng 61 % so năm2007.

Tổng số thu dịch vụ năm 2008: 40.285 tr đồng trong đó phí dịch vụ thu từ

Thanh toán quốc tế và Kinh doanh ngoại tệ: 27.054 tr đồng (chiếm 67.2%)

Thanh toán nội địa: 4.230 tr đồng (10.5%)

Bảo lãnh: 7.756 tr đồng (19.3%)

Dịch vụ Tín dụng: 763 tr đồng (2.0%)

Western Union: 11.126 USD ( 0.4%)

Thẻ: 218 tr đồng (0.6%)

Bảng 2.1 : Thu nhập năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007

Nghiệp vụ đơn Vỵ Năm 2008 Tỷ lệ % Năm 2007 (*) Tỷ lệ % % tăng/ giảm

1 Thanh toán quốc tế

và kinh doanh ngoại tệ Tr đồng 27.054 67.2 7.623 43.6 +254.9%

2 Thanh toán trong

tr đồng tương đương với mức tăng 289% so với năm 2007 Riêng Western Union và dịch

vụ thẻ có giảm so với năm 2007, Western Union giảm 16.2%, còn thẻ giảm 7.8% Nguyênnhân là do việc tách các chi nhánh Hoàn Kiếm, Thanh Xuân, Đống Đa, Tam Trinh vềAgribank Vietnam, trong đó Hòan Kiếm là chi nhánh phát triển tốt dịch vụ Western Union.Mặc dù số lượng thẻ phát hành năm 2008 đạt 11.130 thẻ (trong đó có 266 thẻ quốc tế), caohơn so với năm 2007 nhưng do thay đổi quy định về chia sẻ phí phát hành thẻ củaAgribank Vietnam (tỷ lệ chia sẻ phí giữa Trung tâm thẻ/Chi nhánh phát hành là 30/70thành 50/50) và số lượng thẻ phát hành năm 2008 có rất nhiều thẻ phát hành cho các đốitượng hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước, được Agribank Hanoi miễn, giảm phí pháthành thẻ nên phí phát hành thẻ năm 2008 giảm 7.8%

Trang 11

Bảng 2.2.Phớ dịch vụ năm 2008 tính theo các phòng giao dịch có cân đối như sau:

Đánh giá kết quả thu phí dịch vụ của các Phòng giao dịch

- Với những phòng giao dịch là các Chi nhánh cấp II cũ, mặc dù có sự chuyểnđổi mô hình tổ chức, vị thế kinh doanh có phần không được như cũ song phí dịch vụthu được từ các nghiệp vụ chuyển tiền trong nước, bảo lãnh, phát hành và thanh toánL/C chiếm tỷ trọng lớn; riêng PGD Chợ Hôm, phí chuyển tiền ra nước ngoài đạt 402trtrên tổng thu dịch vụ 1.587tr (tương đương 25.3%) do có một số đơn vị chuyển tiền điTrung Quốc vào những tháng cuối năm 2008

- Với các phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh cấp II cũ, do bộ phận tín dụngmới được thành lập, nhân sự còn thiếu, yếu; đồng thời do cơ chế của Agribank Vietnamquy định: các Phòng giao dịch không được phát hành bảo lãnh và mức phán quyết tíndụng thấp; mặt khác, bản thân nhiều Phòng giao dịch cũng còn thiếu năng động trongviệc tìm kiếm khách hàng, mở rộng nguồn thu dịch vụ từ các dịch vụ liên quan đến tíndụng và các dịch vụ mới như Chuyển tiền ra nước ngoài; Phát hành, thanh toán thẻ ghi

nợ nội địa, Chuyển tiền nhanh Western Union, dịch vụ Mobile Banking…do đó thudịch vụ của đa số các phòng này còn quá thấp Bên cạnh đó, một số phòng giao dịch

Các dịch vụ chính Chuyển

1 Hội sở (1500) 35.229 3177 6947 10175 14930 8288

2 Ba Đình (1501) 1.538 214 535 752 37 1510

3 Hai Bà Trưng (1503) 1.277 327 231 433 286 831

4 Tràng Tiền (1510) 2.241 512 43 1.558 128 501 Tổng số 40.285 4.230 7.756 12.918 15.381 11130

Ngày đăng: 18/10/2013, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 : Thu nhập năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007 - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING VỚI VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở NHNoPTNTHN
Bảng 2.1 Thu nhập năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007 (Trang 10)
Bảng 2.2.Phớ dịch vụ năm 2008 tính theo các phòng giao dịch có cân đối như sau: - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING VỚI VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở NHNoPTNTHN
Bảng 2.2. Phớ dịch vụ năm 2008 tính theo các phòng giao dịch có cân đối như sau: (Trang 11)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w