- Nghị quyết số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW đã xác định: “Tăng cường quản lý chất lượng đầu ra ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệ
Trang 1BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU
LỊCH _
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _
ĐỀ ÁN
“Tăng cường công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội
trong lĩnh vực du lịch đến năm 2025”
(Ban hành theo Quyết định số 844/QĐ-BVHTTDL ngày 11 tháng 3 năm 2016
của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
Chủ trương trên của Đảng và Nhà nước đã được khẳng định nhất quántrong trong nhiều Nghị quyết, Quyết định của Trung ương, Chính phủ và các Bộngành liên quan Cụ thể:
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ VIII BanChấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo, đáp ứng yêu cầu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
- Nghị quyết số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính
phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW đã xác định: “Tăng cường quản lý chất
lượng đầu ra ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực theo yêu cầu của thị trường lao động”.
- Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 về chính sáchkhuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạynghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày08/12/2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch ViệtNam trong thời kỳ mới
Trang 2- Quyết định số 4279/QĐ-BVHTTDL ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc ban hành Kế hoạch hành độngcủa ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai Chương trình hành động củaChính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điềukiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;
Như vậy, chủ trương tăng cường đào tạo đáp ứng với yêu cầu của bối cảnhthực tiễn trong giáo dục nói chung, giáo dục đào tạo trong lĩnh vực du lịch nóiriêng nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia đã đượckhẳng định
Thực tiễn phát triển ngành Du lịch trong bối cảnh mới, bối cảnh thực hiệnChiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
và Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng và ban hành Quy hoạchphát triển nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số 3066/QĐ-BVHTTDL ngày 29/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).Quy hoạch phát triển nhân lực ngành du lịch đã có mục tiêu, kế hoạch, lộ trìnhtriển khai các kế hoạch đặt ra, đảm bảo đến năm 2020 có đội ngũ nhân lực đạtchuẩn cao, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn ngành, doanh nghiệp và xã hội và đảmbảo các yêu cầu phát triển, đưa Ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Với những yêu cầu mới về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ nhânlực đòi hỏi có những bước đột phá nhằm giải quyết những vấn đề bất cập, hạnchế của nguồn nhân lực hiện nay, gồm: Thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu lao động
có kỹ năng nghề và trình độ chuyên môn cao, kỹ năng mềm và khả năng giaotiếp bằng ngoại ngữ còn nhiều hạn chế, trình độ quản lý còn yếu, vấn đề đào tạophát triển đội ngũ nhân lực chưa gắn với yêu cầu thực tiễn, hội nhập quốc tế…
đã và đang ảnh hưởng tới chất lượng phát triển của ngành Hoạt động đào tạo vàphát triển nhân lực du lịch đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, việc liên kếthợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo với các đối tác trong và ngoài nước đãđược triển khai tương đối mạnh ở một số cơ sở đào tạo tuy nhiên mới dừng ởmức độ tự phát, hiệu quả chưa cao, chưa có hệ thống, chưa đáp ứng yêu cầu đặt
ra Hiện trạng cho thấy, ở nhiều cơ sở đào tạo, việc nắm bắt nhu cầu xã hội, tổchức đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội còn thụ động, chưa có kếhoạch, lộ trình và tầm nhìn cụ thể về vấn đề này
Thời gian qua đã có những hội thảo khoa học liên quan đến vấn đề đào tạotheo nhu cầu xã hội, nhiều quan điểm, ý kiến đã được đề xuất, tuy nhiên, chođến nay chưa có Đề án tổng thể và chi tiết về tăng cường công tác đào tạo theonhu cầu xã hội trong lĩnh vực du lịch
Vì vậy, việc xây dựng Đề án Tăng cường công tác đào tạo theo nhu cầu xãhội trong lĩnh vực du lịch đến năm 2025 để đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch,đảm bảo phát triển bền vững trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước là một việc làm cần thiết, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và hội nhậpquốc tế
Trang 32 Mục đích, yêu cầu, phạm vi và đối tượng Đề án
2.1 Mục đích của Đề án
Đề án nhằm rà soát, đánh giá thực trạng công tác đào tạo theo nhu cầu xãhội trong lĩnh vực du lịch Trên cơ sở đó, đề xuất những nhiệm vụ, nội dung tăngcường công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội, đặc biệt chú trọng vào việc liên kếthợp tác với các đơn vị sử dụng nhân lực du lịch trong các khâu của quy trình đàotạo nhằm đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu thực tế Đềxuất giải pháp tăng cường các điều kiện đảm bảo công tác đào tạo nhân lực dulịch theo nhu cầu xã hội cũng như việc xây dựng, công bố và sử dụng chuẩn kỹnăng nghề trong kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo nhân lực du lịch
2.2 Yêu cầu của Đề án
Quán triệt những nội dung chủ yếu trong Kế hoạch hành động của ngànhVăn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai Chương trình hành động của Chính phủthực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;
Quán triệt Kế hoạch hành động của ngành Du lịch triển khai hiện Nghịquyết số 92/NQ-CP ngày 08/12/2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩymạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới;
Thực hiện, cụ thể hóa nội dung quan trọng của Quy hoạch phát triển nhânlực ngành du lịch giai đoạn 2011 - 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
Rà soát, đánh giá nhu cầu của xã hội về nhân lực du lịch, các điều kiệnđảm bảo và hiện trạng đào tạo theo nhu cầu xã hội trong lĩnh vực du lịch, xácđịnh rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của công tác đào tạo nhân lực du lịch
so với nhu cầu phát triển của thực tế; những biện pháp đã thực thi, rút ra bài họckinh nghiệm và đề xuất hướng khắc phục trong thời gian tới
Đề xuất định hướng giải pháp, nhất là giải pháp về liên kết hợp tác vớidoanh nghiệp du lịch trong tổ chức thực hiện tăng cường công tác đào tạo theonhu cầu xã hội trong lĩnh vực Du lịch đảm bảo hiện thực và khả thi
2.3 Phạm vi và đối tượng Đề án
- Đề án “Tăng cường công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội trong lĩnh vực
du lịch đến năm 2020” tiến hành trên phạm vi cả nước; phần phân tích và đánhgiá thực trạng từ năm 2010 đến nay; phần nhiệm vụ và giải pháp cho thời gian từ
2016 - 2025
- Đối tượng của Đề án: Công tác đào tạo nhân lực du lịch của các cơ sởđào tạo du lịch trên toàn quốc, trong đó tập trung vào đối tượng nhân lực đượcđào tạo để phục vụ tại các doanh nghiệp du lịch, khách sạn
3 Những căn cứ chủ yếu xây dựng Đề án
3.1 Căn cứ mang tính quan điểm
Trang 4Đề án được xây dựng dựa trên cơ sở quán triệt các quan điểm, chủ trương,đường lối của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết số 44/NQ-CP ban hành Chươngtrình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu cầu công nghiệp hóa,hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập quốc tế Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 08/12/2014 của Chính phủ vềmột số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới.
3.2 Căn cứ pháp lý
- Luật du lịch 2005, Luật giáo dục đại học, Luật giáo dục nghề nghiệp,Luật việc làm và các nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành các luật nêu trên;
- Nghị định số 76/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2013 của Chính phủquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch; Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 2014của Thủ tướng Chính phủ về danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch;
-Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 về chính sáchkhuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạynghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường;
- Quyết định số 4279/QĐ-BVHTTDL ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc ban hành Kế hoạch hành độngcủa ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai Chương trình hành động củaChính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điềukiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;
- Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011, Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìnđến năm 2030";
- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030”;
- Quyết định số 3066/QĐ-BVHTTDL ngày 29/9/2011 của Bộ trưởng BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch về việc Ban hành “Quy hoạch phát triển nhân lựcngành du lịch giai đoạn 2011- 2020”;
3.3 Căn cứ thực tiễn
- Các chiến lược phát triển ngành Du lịch; quy hoạch nhân lực du lịch;
- Những kết quả nghiên cứu, điều tra, khảo sát… về công tác đào tạo theonhu cầu xã hội trong lĩnh vực du lịch
Trang 54 Kết cấu của Đề án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, nội dung chính của Đề
án “Tăng cường công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội trong lĩnh vực du lịch đến
năm 2025” chia thành 2 phần chính: Phần thứ Nhất trình bày về thực trạng nhân
lực và công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội trong lĩnh vực du lịch từ năm 2010
đến nay; Phần thứ Hai đề cập phương hướng, mục tiêu và giải pháp chủ yếu
nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội trong lĩnh vực du lịch đếnnăm 2025
Trang 6Phần thứ Nhất THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY
1.1 Thực trạng nhu cầu xã hội về nhân lực du lịch
1.1.1 Quy mô (số lượng)
Nhân lực ngành Du lịch hiện khoảng 1.931.550 người (trong đó có603.600 lao động trực tiếp và trên 1.327.950 lao động gián tiếp), chiếm khoảng3,6% tổng số lao động cả nước Ước năm 2020, tổng nhân lực của ngành Du lịch
là 2,3 triệu người, trong đó có trên 800.000 lao động trực tiếp
1.1.2 Chất lượng
Nhân lực du lịch trực tiếp có trình độ đào tạo sơ cấp, trung cấp và caođẳng du lịch chiếm 47,3% nhân lực được đào tạo, bằng 19,8% nhân lực toànNgành Nhân lực được đào tạo đại học và sau đại học về du lịch chiếm 7,4% sốnhân lực có chuyên môn du lịch, chiếm 3,2% tổng nhân lực Nhân lực trình độdưới sơ cấp (đào tạo truyền nghề, dưới 3 tháng) chiếm 45,3% nhân lực cóchuyên môn, bằng 19,4% nhân lực toàn Ngành Nếu chỉ tính nhân lực có trình
độ sơ cấp trở lên thì nhân lực được đào tạo chiếm khoảng 23% tổng nhân lựctoàn Ngành Nếu tính thêm số nhân lực được đào tạo truyền nghề, dưới 3 thángthì nhân lực được đào tạo của ngành Du lịch đạt khoảng 42% tổng nhân lực toànNgành Nhân lực là hướng dẫn viên du lịch tốt nghiệp đại học chiếm khoảng65,5% tổng số hướng dẫn viên; tỷ lệ này trong marketing du lịch là 84,2% và lễtân là 65,3% Trong lĩnh vực phục vụ buồng, bar, bàn, bếp lao động có trình độtrung cấp và sơ cấp lại chiếm tỷ lệ lớn: Nhân viên bếp là 85,61%; bàn, buồng,bar tương ứng là: 72,4%, 70,7%, 75,5%
Nhân lực du lịch gián tiếp chưa thống kê được đầy đủ, năm 2015 cókhoảng 1.327.950 người, trong đó trình độ dưới sơ cấp là 725.060 người, chiếmkhoảng 54,6%; sơ cấp 236.375 người, chiếm khoảng 17,8%; trung cấp 201.848người, chiếm khoảng 15,2%; đại học và cao đẳng 162.010 người, chiếm khoảng12,2%; và trên đại học là 2.656 người, chiếm khoảng 0,2% tổng nhân lực giántiếp Năm 2020 ước nhân lực gián tiếp khoảng trên 1,5 triệu người
Về trình độ ngoại ngữ: Nhân lực sử dụng được ngoại ngữ khá cao, chiếm
60% tổng nhân lực; tuy nhiên đặc thù của Ngành đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa.Nhân lực biết ngoại ngữ nhiều nhất là tiếng Anh, chiếm khoảng 42% tổng sốnhân lực toàn Ngành Nhân lực sử dụng tiếng Trung, tiếng Pháp và các tiếng
khác là 5%, 4% và 9% nhân lực toàn Ngành Riêng về số nhân lực biết sử dụng
tiếng Anh thì 85% nhân lực có trình độ tiếng Anh ở mức cơ sở, có thể giao tiếpbình thường và có 15% số nhân lực có trình độ đại học, đọc, nói và giao tiếpthông thạo Số này chủ yếu nằm vào nhóm nhân lực làm hướng dẫn du lịch, lễtân khách sạn
Phân tích theo nghề thì hướng dẫn du lịch, lữ hành, lễ tân, phục vụ nhà
Trang 7hàng có tỷ lệ sử dụng ngoại ngữ tương đối cao, đạt khoảng 88,6% Song, sốnhân lực sử dụng thành thạo từ hai ngoại ngữ trở lên còn thấp, chiếm khoảng3,8% Nhóm nhân lực làm nghề hướng dẫn viên du lịch có số người tốt nghiệpđại học ngoại ngữ chiếm tỷ lệ cao nhất là (49,6%), sau đó là nhóm marketing dulịch (46,8%), lễ tân khách sạn khoảng 40%, trong khi đó nhóm nhân viên chếbiến món ăn hầu như không có người nghiệp đại học ngoại ngữ.
Về trình độ tin học: Toàn ngành Du lịch hiện có 434.854 người biết sử
dụng máy tính phục vụ được yêu cầu công việc, chiếm khoảng 72,04% tổng sốnhân lực là lao động trực tiếp thống kê được của Ngành; có 168.746 ngườikhông biết sử dụng máy tính phục vụ yêu cầu công việc
Về tính chuyên nghiệp: Để xác định mức độ đánh giá về tính chuyên
nghiệp của đội ngũ lao động hiện nay theo các cấp bậc trình độ được đào tạotrong nhà trường, điều tra bảng hỏi đã được triển khai với các đối tượng là cơquan quản lý nhà nước về du lịch (các Sở VHTTDL/ Sở Du lịch) và các doanhnghiệp du lịch Kết quả cho thấy, mức độ đánh giá đối với đội ngũ nhân lực cótrình độ đại học và sau đại học được đánh giá tương đối cao, đạt 3,4130 theođánh giá của sở quản lý nhà nước và 3,0811 theo đánh giá của doanh nghiệp.Đội ngũ lao động ở mức cấp độ đào tạo cao đẳng và trung cấp đạt mức điểm3,2174 theo đánh giá của sở quản lý nhà nước và đạt 3,0541 theo đánh giá củadoanh nghiệp Với cấp độ đào tạo sơ cấp nghề và ngắn hạn, cả 2 chủ thể đềuđánh giá thấp dưới mức độ bình thường với mức điểm của Sở quản lý nhà nước
là 2,9565 và mức điểm đánh giá của doanh nghiệp 2,4595 Mức độ đánh giáthấp nhất: Hoàn toàn không đáp ứng yêu cầu và Đáp ứng một phần vẫn xuấthiện trong các đánh giá Mặt khác, mức độ đánh giá Đáp ứng ở mức độ khá cònthấp, chưa cao, tỉ lệ đánh giá Đáp ứng rất tốt rất thấp (Tham khảo Bảng 1, Bảng
2 và Phụ lục 1, Phụ lục 2)
Như vậy, đánh giá chung, mức điểm đánh giá về tính chuyên nghiệp củađội ngũ lao động hiện nay của cả hai chủ thể là người sử dụng lao động chưađược cao Đây là một vấn đề cần quan tâm đối với vấn đề đào tạo nguồn nhânlực hiện nay
Bảng 1 Đánh giá của các sở quản lý nhà nước
về du lịch về tính chuyên nghiệp sau khi ra trường của nhân lực
du lịch
Các chỉ tiêu Đầu ra ĐH và SDH Đầu ra TC và CĐ Đầu ra SCN và NH
- Ghi chú: Mức điểm đánh giá từ 1 đến 5, cụ thể: Đáp ứng rất tốt (5 điểm), Đáp ứng ở mức độ khá (4
điểm), Bình thường (3 điểm), Đáp ứng được một phần (2 điểm) và Hoàn toàn không đáp ứng (1 điểm); SĐH (sau đại học), ĐH (đại học), CĐ (cao đẳng), SCN (sơ cấp nghề), NH (ngắn hạn).
Trang 8- Nguồn: Kết quả điều tra năm 2015.
Bảng 2 Đánh giá của các doanh nghiệp du lịch
về tính chuyên nghiệp của nhân lực sau khi ra trường
- Ghi chú: Mức điểm đánh giá từ 1 đến 5, cụ thể: Rất tốt (5 điểm), Đáp ứng ở mức độ khá (4 điểm),
Bình thường (3 điểm), Đáp ứng được một phần (2 điểm) và Hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu (1 điểm).
- Nguồn: Kết quả điều tra năm 2015
1.2 Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội
1.2.1 Thực trạng các điều kiện phục vụ công tác đào tạo theo nhu cầu
xã hội
1.2.1.1 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đào tạo du lịch
Những năm qua công tác quản lý nhà nước về đào tạo nhân lực du lịchdần được củng cố: tập trung vào kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng và thựchiện văn bản quy phạm pháp luật, chuẩn hóa chuyên môn đào tạo du lịch Thànhlập và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đào tạo và một số tổ chứcliên quan đến đào tạo nhân lực ngành Du lịch theo nhu cầu xã hội Ở Trungương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trực tiếp là Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Đàotạo và Tổng cục Du lịch) đã phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục - Đào tạo và
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nước vềphát triển nguồn nhân lực du lịch toàn quốc Ở địa phương, các Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Giáo dục - Đào tạo và Sở Lao động
- Thương binh và Xã hội tham mưu cho UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhànước về đào tạo, phát triển nhân lực du lịch trên địa bàn
1.2.1.2 Hệ thống các văn bản QPPL trong giáo dục, đào tạo và dạy nghề
Các luật liên quan đến đào tạo du lịch là Luật giáo dục 2005, Luật dạynghề 2006 (đã hết hiệu lực từ 1/7/2015, tuy nhiên vẫn còn một số nội dung liênquan vẫn đang được quy định bởi luật này), Luật du lịch 2005; Luật giáo dục đạihọc 2013, Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Nghị định số 75/2006/NĐ-CPcủa Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giáo dục, đặc biệt Nghị định16/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệpcông lập Đây là những văn bản pháp quy quan trọng tạo điều kiện cho các cơ sởđào tạo nói chung, cơ sở đào tạo du lịch nói riêng được mở rộng quyền chủ động
Trang 9trong hoạt động và là tiền đề thúc đẩy hoạt động đào tạo.
Việc xây dựng và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục
và đào tạo được cụ thể hóa thành quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở đàotạo du lịch; các tiêu chuẩn, quy định của ngành
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng “Chiến lược phát triển nhânlực ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030”; Quyhoạch phát triển nhân lực du lịch đến năm 2020 Xây dựng và ban hành hệ thốngtiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia trong lĩnh vực du lịch để trên cơ sở đó ngườilao động phấn đấu nâng cao trình độ về kiến thức và kỹ năng, tích lũy kinhnghiệm tìm kiếm cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp; người sử dụng lao động
có cơ sở để tuyển chọn lao động, bố trí công việc và trả lương cho người laođộng; cơ sở đào tạo có căn cứ để xây dựng chương trình đào tạo tiếp cận chuẩn
kỹ năng, đáp ứng nhu cầu của xã hội; đồng thời cơ quan có thẩm quyền có căn
cứ để đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động
Hiện nay, lĩnh vực du lịch đang có các hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghềđang song song tồn tại như sau:
- Hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia bao gồm 08 nghề1 thuộcnhóm nghề du lịch được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hànhtại Thông tư số 01/2014/TT-BVHTTDL ngày 15/01/2014 trên cơ sở thỏa thuậnnhất trí của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và quy định của Luật dạynghề
- Hệ thống Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch bao gồm 10 nghề (VTOS)2
(Phiên bản mới 2013) do Dự án EU hỗ trợ xây dựng Những tiêu chuẩn này làm
cơ sở cho người sử dụng lao động và cơ sở đào tạo gắn kết với nhu cầu xã hội;người có nhu cầu có thể tự học, góp phần nâng cao và công nhận tiêu chuẩnphục vụ cho đội ngũ lao động nghề ở trình độ cơ bản; quy định về tiêu chuẩnhướng dẫn viên du lịch quốc tế, tiêu chuẩn giám đốc và nhân viên khách sạn
- Hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề ASEAN bao gồm 06 nghề3 đã được
Bộ trưởng du lịch các nước ASEAN ký và cam kết thực hiện Thỏa thuận thừanhận lẫn nhau đối với lĩnh vực du lịch (MRA-TP) Thời gian thực hiện từ31/12/2015
- Các bộ tiêu chuẩn của Malaysia do Tổng cục Dạy nghề tiếp nhận khithực hiện chuyển giao đào tạo nghề trong đó có một số nghề thuộc lĩnh vực dulịch
Như vậy, hiện có rất nhiều hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề trong lĩnhvực du lịch, có hệ thống tiêu chuẩn được xây dựng theo hướng tiếp cận các bước
1 Gồm: Nghề Quản trị Khách sạn, nghề Kỹ thuật chế biến món ăn, nghề Quản trị Lữ hành, nghề Hướng dẫn Du
lịch, nghề Dịch vụ nhà hàng, nghề Quản trị Du lịch MICE, nghề Quản trị Khu Resort và nghề Quản trị dịch vụ thể thao giải trí.
2 Nghiệp vụ phục vụ buồng, lễ tân, nhà hàng, chế biến món ăn Âu, chế biến món ăn Việt Nam, làm bánh Âu, đặt
giữ chỗ buồng khách sạn, quản lý khách sạn vừa và nhỏ, an ninh khách sạn, đại lý lữ hành, điều hành tour, hướng dẫn du lịch, đặt giữ chỗ trong lữ hành) và chuẩn tiếng Anh TOEIC trong du lịch.
3 Gồm: Nghề Lễ tân, Phục vụ Buồng, Phục vụ Nhà hàng, Chế biến món ăn, Đại lý Lữ hành và Điều hành Du lịch
Trang 10công việc trong khi đó các hệ thống tiêu chuẩn khác lại được xây dựng theohướng tiếp cận năng lực của người lao động Việc tồn tại cùng lúc nhiều hệthống tiêu chuẩn kỹ năng nghề nêu trên gây khó khăn, lúng túng cho việc quản
lý của cơ quan quản lý nhà nước lẫn việc áp dụng thực hiện của các doanhnghiệp, cơ sở đào tạo du lịch Do đó cần có sự thống nhất quy định một hệ thốngtiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia trong lĩnh vực du lịch để triển khai thực hiệnnhất quán trên cả nước
Ngoài ra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đề xuất với Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội danh mục 24 nghề và vị trí làm việc thuộc lĩnh vựcKhách sạn và Lữ hành phải sử dụng lao động đã qua đào tạo4
1.2.1.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo
Cơ sở vật chất kỹ thuật: Các cơ sở đào tạo du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch đã được hoặc đang xây dựng mới, nâng cấp; cơ sở vật chất
-kỹ thuật được tăng cường, từng bước đổi mới, hiện đại hóa Một số cơ sở đàotạo chuyên về du lịch được xây dựng, mở rộng khá khang trang, nhất là cáctrường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, đặc biệt là chín trường được thụhưởng dự án do Luxembourg tài trợ5 Trong khuôn khổ Dự án đào tạo phát triểnnhân lực ngành Du lịch do EU tài trợ, cơ sở vật chất kỹ thuật của 14 trường thụhưởng Dự án được tăng cường và các trung tâm thẩm định kỹ năng nghề du lịchđược trang thiết bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn EU Trong khuôn khổ Dự án Nângcao kỹ năng nghề vốn vay ân hạn của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) củaTổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ sở vật chất kỹthuật đào tạo, dạy nghề du lịch của Trường Cao đẳng nghề Du lịch Vũng Tàu,Trường Cao đẳng nghề Du lịch-Thương mại Nghệ An và Trường Cao đẳng nghềPhú Yên cũng được tăng cường Công tác đầu tư nâng cấp và xây dựng mới cơ
sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo ở một số cơ sở đào tạo du lịch khácđược các Bộ, ngành, địa phương và các cơ sở đào tạo quan tâm Cơ sở đào tạođược mở rộng, nâng cấp, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, thí nghiệm và thựchành được nâng cấp, từng bước đồng bộ hóa và hiện đại hóa Một số cơ sở đàotạo đã đầu tư xây dựng cơ sở thực hành (xưởng trường, khách sạn trường )tương đối hiện đại, đồng bộ Một số trường đã có trung tâm thực hành nghề Tuynhiên hiện vẫn còn một số cơ sở đào tạo cơ sở vật chất, thiết bị còn thiếu hoặcchưa được trang bị đồng bộ, nhiều cơ sở chưa có xưởng thực hành, khách sạnthực hành đặc biệt là các khoa đào tạo du lịch thuộc các trường đại học, cáctrường không chuyên về du lịch nhưng vẫn được phép đào tạo du lịch
4 Đối với ngành Khách sạn có 8 nghề, vị trí công việc: Lễ tân; Phục vụ buồng; Phục vụ nhà hàng; Phục vụ bar; Chế biến món ăn; Đặt giữ buồng; An ninh khách sạn; Quản lý khách sạn nhỏ và vừa Đối với ngành Lữ hành có
16 nghề, vị trí công việc: Hướng dẫn viên du lịch quốc tế; Hướng dẫn viên du lịch nội địa; Thuyết minh viên du lịch; Điều hành tour du lịch; Điều hành phương tiện vận chuyển du lịch; Xúc tiến du lịch và phát triển thị trường; Phát triển sản phẩm du lịch; Bán sản phẩm du lịch; Quản lý khu, tuyến, điểm, đô thị du lịch; Quản lý, phát triển tài nguyên du lịch; Đại lý lữ hành; Đặt giữ chỗ lữ hành; Quản trị lữ hành; Quản trị du lịch MICE; Quản trị dịch
vụ giải trí, thể thao và dịch vụ du lịch khác.
5 Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch Hải Phòng, Trường Cao đẳng nghề
Du lịch Huế, Trường Cao đẳng nghề Du lịch Đà Nẵng, Trường Cao đẳng nghề Du lịch Nha Trang, Trường Cao đẳng nghề Du lịch Đà Lạt, Trường Trung cấp nghiệp vụ Du lịch Khách sạn Saigontourist (Tổng công ty Du lịch Sài Gòn ) và Trường cao đẳng nghề Du lịch Vũng Tàu.
Trang 111.2.1.4 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên giáo viên
Đội ngũ giảng viên, giáo viên, đào tạo viên và cán bộ quản lý: Theo thống
kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện cả nước có khoảng 5.000 ngườitham gia đào tạo mới về du lịch, trong đó có 2.000 giáo viên, giảng viên du lịch(cả cơ hữu và thỉnh giảng), 540 cán bộ quản lý, phục vụ đào tạo các cấp và2.579 đào tạo viên du lịch (có chứng chỉ đào tạo của Hội đồng cấp chứng chỉ Dulịch Việt Nam)
Giảng viên, giáo viên cơ hữu là 1.460 người, chiếm khoảng 28% tổng sốnhân lực tham gia đào tạo mới về du lịch; giảng viên thỉnh giảng là 600 lượtngười, chiếm 11,6% (Thực tế con số này cao hơn nhiều, có khoa đào tạo du lịchgiảng viên thỉnh giảng chiếm đến 73% tổng số giáo viên: 82 giảng viên thỉnhgiảng/29 giảng viên cơ hữu); cán bộ quản lý, phục vụ đào tạo khoảng 500 người,chiếm 10%; đào tạo viên du lịch khoảng 2.600 người, chiếm 49% Giáo viên,giảng viên ở độ tuổi dưới 30 tuổi chiếm khoảng 29%, từ 31-50 tuổi chiếm 60%,trên 50 tuổi chiến 11% Hầu hết giảng viên, giáo viên đều biết ngoại ngữ(khoảng 100 người biết 2 ngoại ngữ trở lên) và tin học phục vụ nghiên cứu,giảng dạy Trong số giảng viên, giáo viên du lịch có 2 giáo sư, 11 phó giáo sư, 1tiến sĩ khoa học, 36 tiến sĩ, 210 thạc sĩ và 5 chuyên gia, nghệ nhân Các khoa, bộmôn đào tạo đại học du lịch đã huy động được các chuyên gia ngành Du lịchlàm giáo viên kiêm nhiệm, thỉnh giảng
Thông qua các dự án do Luxembourg và EU tài trợ, dự án Tăng cường vàphát triển dạy nghề thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về Dạy nghề và Việclàm và các chương trình dự án khác, nhiều giảng viên, giáo viên du lịch đã đượcđào tạo nghiệp vụ tại Luxembourg, Singapore, Malaysia, Áo, Úc, New Zealand,đào tạo bồi dưỡng trong nước đang phát huy tốt kiến thức đã học Nhiều giảngviên đã và đang được học tập, nghiên cứu du lịch, đào tạo du lịch tại các nước cóngành du lịch phát triển Đội ngũ giảng viên, giáo viên du lịch đang được trẻhóa, chính quy và hiện đại hóa để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, đội ngũ giảng viên, giáo viên các cơ sở đào tạo du lịch vẫncòn bộc lộ nhiều hạn chế về cả số lượng, chất lượng và cơ cấu, đặc biệt thiếugiáo viên giàu kinh nghiệm thực tế Kiến thức chuyên sâu về du lịch củagiảng viên, giáo viên tích lũy chủ yếu qua các lớp bồi dưỡng và tự học; sốgiảng viên giáo viên sử dụng thành thạo ngoại ngữ không nhiều
Trong số giảng viên lâu năm, đội ngũ giảng viên, giáo viên được đàotạo chính quy chuyên ngành du lịch có trình độ, chuyên môn vững về du lịchchiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 30%), phần lớn còn lại có chuyên môn khôngphải là du lịch Đội ngũ giảng viên có học hàm, học vị cao chiếm tỉ lệ thấp,năng lực ngoại ngữ, kỹ năng tin học, kiến thức hội nhập quốc tế vẫn còn hạnchế Giảng viên, giáo viên mới được đào tạo cơ bản hơn nhưng kinh nghiệmgiảng dạy và kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều Những hạn chế này là khó
Trang 12khăn rất lớn cho công tác hội nhập của các cơ sở đào tạo chuyên ngành, hạn
chế sức cạnh tranh.
1.2.1.5 Chương trình đào tạo, giáo trình
Đã ban hành chương trình khung trung học chuyên nghiệp ngành Du lịch
Đã xây dựng và ban hành 14 Chương trình khung đào tạo nghề trình độ caođẳng nghề và trung cấp nghề Các chương trình khung đào tạo nghề và 14chương trình đào tạo chuyên nghiệp được biên soạn trước đây trong khuôn khổChương trình hành động quốc gia về du lịch6 được phổ biến và tổ chức thựchiện, tạo cơ sở tốt cho các cơ sở đào tạo du lịch trong toàn quốc Biên soạn 51giáo trình môn học cấp Bộ, 15 giáo trình chuyên ngành thuộc Dự án VIE/031
Đã ban hành tạm thời chương trình khung đào tạo ngắn hạn nghiệp vụ hướngdẫn du lịch và ngoại ngữ du lịch
Chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo từng bước được đổi mới,gắn với yêu cầu của thực tế Chương trình, giáo trình của các cơ sở đào tạo dulịch thể hiện tính liên thông cao Công nghệ thông tin đã được sử dụng trong đàotạo Một số chương trình đào tạo bước đầu tiếp cận và hội nhập trình độ quốc tế.Bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế như nội dung chương trình, phương pháp
giảng dạy chưa theo kịp yêu cầu của thực tế và trình độ quốc tế Việc gắn kết nội
dung giảng dạy với thực tiễn ở một số cơ sở đào tạo còn hạn chế, kiến thứcchương trình, nội dung đào tạo chậm bổ sung, đổi mới, kết quả đào tạo chưa phùhợp với nhu cầu của thực tiễn, còn thấp so với yêu cầu; việc áp dụng các phươngpháp đào tạo tiên tiến, hiện đại và công nghệ thông tin trong đào tạo còn chưathực sự phát huy hiệu quả
1.2.1.6 Đánh giá về các điều kiện phục vụ đào tạo của các cơ sở đào tạo
du lịch hiện nay
Để có cái nhìn khách quan hơn về các điều kiện phục vụ đào tạo của các
cơ sở đào tạo chuyên ngành du lịch hiện nay, ý kiến đánh giá của người lao động
và cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước về dulịch được kiểm chứng Kết quả đánh giá của các đối tượng này về các điều kiệnphục vụ đào tạo của các cơ sở đào tạo tương đối tốt, mức điểm đánh giá đều đạttrên 4 điểm, mức độ Khá Cụ thể, mức độ đánh giá về chất lượng đội ngũ giáoviên đạt 4,3333/5 điểm, mức độ đánh giá về chương trình, giáo trình đào tạo đạtmức điểm 4,2650/5 điểm, mức độ đánh giá về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụđào tạo đạt mức 4,1453 điểm/5 điểm và mức độ đánh giá về các cơ sở thực tậprèn luyện kỹ năng do nhà trường đã chuẩn bị đạt mức 4,4274 điểm/5 điểm Tuyvậy, mức độ đánh giá đáp ứng được một phần vẫn tồn tại và có tần xuất cao, vẫncần quan tâm để cải thiện trong thời gian tới đây (Tham khảo Bảng 3)
6 6 chương trình trung cấp, 2 chương trình cao đẳng, 2 chương trình đại học, 2 chương trình liên thông trung cấp lên cao đẳng và 2 chương trình cao đẳng lên đại học.
Trang 13Bảng 3 Đánh giá của người lao động và cán bộ quản lý
về các điều kiện phục vụ đào tạo của các nhà trường
Đánh giá
Đội ngũ giáo viên
Chương trình, giáo trình
Cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ đào tạo
Cơ sở thực tập (doanh nghiệp) rèn luyện kỹ năng
- Ghi chú: Mức điểm đánh giá từ 1 đến 5, cụ thể: Đáp ứng rất tốt (5 điểm), Đáp ứng ở mức độ khá (4
điểm), Bình thường (3 điểm), Đáp ứng một phần (2 điểm) và Hoàn toàn không đáp ứng (1 điểm);
- Nguồn: Kết quả điều tra năm 2015
1.2.2 Thực trạng đào tạo theo nhu cầu xã hội từ năm 2010 đến nay
1.2.2.1 Hệ thống các cơ sở đào tạo du lịch trên cả nước
Cả nước hiện có 156 cơ sở tham gia đào tạo du lịch ở trình độ đại học, caođẳng, trung cấp và đào tạo ngắn hạn, gồm: 48 trường đại học; 43 trường caođẳng (trong đó có 10 trường cao đẳng nghề); 40 trường trung cấp (trong đó có
04 trường trung cấp nghề); 02 công ty đào tạo và 23 trung tâm, lớp đào tạo nghề.Trường duy nhất trực thuộc doanh nghiệp là Trường Trung cấp Du lịch - Kháchsạn Saigontourist của Tổng Công ty Du lịch Saigontourist Theo quy định, các
cơ sở đào tạo có thể đào tạo các bậc đào tạo thấp hơn; cơ sở đào tạo du lịchchuyên nghiệp có thể tham gia đào tạo nghề, vì thế hiện nay cả nước có 169 lượt
cơ sở đào tạo tham gia đào tạo du lịch các cấp đào tạo từ công nhân bán lànhnghề đến sau đại học Như vậy so với số liệu thống kê năm 2010 của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch, các cơ sở tham gia đào tạo du lịch giảm khoảng 49,7%
do một số nguyên nhân chính: Một là chưa thống kê đầy đủ cơ sở đào tạo dulịch; hai là một số cơ sở được sáp nhập lại; ba là một số cơ sở giải thể hoặc dừngtuyển sinh
1.2.2.2 Kết quả đào tạo
a) Đào tạo mới
Hiện nay, mỗi năm cả nước tuyển sinh khoảng 22.000 học sinh, sinh viên
du lịch, trong đó giáo dục đại học là 3.870 sinh viên (1.770 sinh viên đại học,cao đẳng chuyên nghiệp và 2.100 sinh viên cao đẳng nghề du lịch); trung cấp là18.190 học sinh (tăng gần 30% so với năm 2007; gồm 14.495 học sinh trung họcchuyên nghiệp và 3.695 học sinh trung cấp nghề du lịch); sơ cấp nghề và đào tạo
du lịch dưới 3 tháng chưa có số liệu thống kê đầy đủ, ước khoảng 5.000 người
Trang 14học Số lượng học sinh, sinh viên tốt nghiệp hàng năm khoảng 20.000 Đào tạonghề sơ cấp, ngắn hạn có xu hướng tăng Từ năm 2003, một số trường đại học
đã bắt đầu đào tạo thạc sỹ, nhưng quy mô còn hạn chế Hiện nay chưa có cơ sởđào tạo sau đại học bậc thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Du lịch với mã số riêng.Tuyển sinh thạc sỹ và tiến sĩ với các đề tài về du lịch tăng nhưng quy mô cònhạn chế Nhìn chung, quy mô tuyển sinh các chuyên ngành du lịch ở tất cả cácbậc đào tạo ngày càng tăng, trong đó tốc độ tăng ở bậc đại học, cao đẳng nhanhhơn so với bậc đào tạo trung học và dạy nghề do nhiều trường mới được mởngành đào tạo du lịch
Chất lượng đào tạo có những bước tiến bộ Ước khoảng 70% sinh viên tốt
nghiệp đại học, cao đẳng du lịch và 80% học sinh tốt nghiệp trung cấp du lịchtìm được việc làm, cơ bản đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công việc và làmviệc có hiệu quả, có khả năng tiếp tục tự đào tạo, hòa nhập với tập thể lao động
và cộng đồng Một số trường, chủ yếu là các trường du lịch trực thuộc Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch, có học sinh, sinh viên đạt giải quốc gia và quốc tếtrong các cuộc thi quốc gia về du lịch, thi tay nghề quốc gia, thi tay nghềASEAN và thế giới Trong điều kiện còn khó khăn, các cơ sở đào tạo du lịch đã
có cố gắng đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo Đào tạo lý thuyết gắn vớithực hành được quan tâm hơn, khắc phục cơ bản tình trạng dạy “chay” Hầu hếtcác trường trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và các khoa, tổ bộ môn du lịchcủa các trường đại học, cao đẳng đã tổ chức cho học sinh, sinh viên thực hành,kiến tập, thực tập, tham gia các hoạt động du lịch và các hoạt động xã hội theođịnh hướng nghề nghiệp Hiện nay các cơ sở đào tạo về du lịch của cả nước đàotạo 55 ngành, 123 chuyên ngành, nghề du lịch và liên quan đến du lịch
b) Đào tạo lại, bồi dưỡng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo Trường Cán bộ quản lý văn hóa,thể thao và du lịch phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ và các địa phương tổ chứccác lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về du lịch trong toàn quốc Côngchức hành chính của Tổng cục Du lịch được bồi dưỡng kiến thức quản lý hànhchính nhà nước tiền công vụ và ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyênviên cao cấp tương ứng với cơ cấu, cương vị công tác; cập nhật kiến thức tinhọc, ngoại ngữ và quản lý nhà nước về du lịch Bồi dưỡng ngoại ngữ, tin họcchuyển hướng mạnh từ đại trà, phong trào sang chiều sâu, nâng cao theo yêu cầucông vụ
Dự án Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam do EU tài trợ xây dựng
và đưa vào vận hành hệ thống thẩm định và cấp chứng chỉ nghề theo hệ thốngTiêu chuẩn kỹ năng 10 nghề du lịch Việt Nam (VTOS) Tổ chức nhiều khóa đàotạo Đào tạo viên cho cán bộ nghiệp vụ của các khách sạn tại các trung tâm dulịch lớn; tổ chức các khóa bồi dưỡng cho cán bộ quản lý nhà nước về du lịch;nâng cao nhận thức về du lịch cho cán bộ của ngành Hải quan và Công an về tạođiều kiện thuận lợi cho khách du lịch quốc tế đến Việt Nam; các khóa đào tạocán bộ quản lý doanh nghiệp cấp phòng trở lên; các khóa tiếng Anh và đào tạophương pháp giảng dạy hiện đại cho giảng viên giáo viên du lịch Gửi 15 giáo
Trang 15viên và 5 cán bộ quản lý nhà nước đi học 3 tháng ở Malaysia; 10 giáo viên họcchế biến món ăn Âu 1 tháng ở Áo.
Công tác đào tạo lại, bồi dưỡng viên chức quản lý, giảng viên, giáo viên
và người lao động trong các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp du lịch cũng có tiến
bộ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trực tiếp là Tổng cục Du lịch và Hiệp hội
Du lịch quan tâm định hướng, hỗ trợ tổ chức các khóa bồi dưỡng, ưu tiên nộidung quản trị kinh doanh lữ hành, nhà hàng, lễ tân, phục vụ ăn uống, quản trịlưu trú, tiếp thị sản phẩm du lịch, tin học Nhiều khóa bồi dưỡng chuyên đề về
du lịch được tổ chức cho giám đốc, phó giám đốc khách sạn, công ty lữ hành;hướng dẫn viên; nhân viên lễ tân; nhân viên bếp Các khách sạn, khu du lịch liêndoanh với nước ngoài, rất chú trọng đào tạo lại và bồi dưỡng người lao động, cótrung tâm đào tạo, bồi dưỡng lao động Các doanh nghiệp du lịch đã quan tâmbồi dưỡng cán bộ, nhân viên, liên kết với các cơ sở đào tạo để bồi dưỡng, huấnluyện đội ngũ lao động; tổ chức các phòng hoặc trung tâm đào tạo của doanhnghiệp, đầu tư nhiều cho đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học và chuyên mônnghiệp vụ Một số doanh nghiệp đã xây dựng chiến lược phát triển nhân lực, tậptrung đầu tư đào tạo bộ máy khung bằng cách gửi đi học nước ngoài, mờichuyên gia của các chuỗi khách sạn quốc tế lớn đến huấn luyện hoặc gửi đi học
ở các cơ sở đào tạo du lịch ở trong nước Nhiều doanh nghiệp tập trung đào tạođội ngũ giám sát, sử dụng các đào tạo viên đã được VTCB cấp chứng chỉ để đàotạo lại, huấn luyện nhân viên tại chỗ
1.2.2.3 Kết quả liên kết, hợp tác trong đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu
xã hội
a) Liên kết, hợp tác quốc tế
Trong lĩnh vực du lịch đã ký kết 44 Hiệp định song phương và văn bảnhợp tác cấp chính phủ với các nước, Hiệp định hợp tác du lịch 10 nước ASEAN,Thoả thuận thừa nhân lẫn nhau trong nghề du lịch (MRA-TP), tham gia các tổchức quốc tế liên quan đến du lịch, các chương trình và dự án hợp tác khu vực,liên khu vực Trong các cam kết quốc tế đó hợp tác phát triển nhân lực du lịchluôn là nội dung được ưu tiên Bộ Văn hóa, Thể thào và Du lịch (Tổng cục Dulịch) đã tham gia xây dựng và ký tiêu chuẩn nghề du lịch ASEAN và cơ chế thừanhận lẫn nhau Đây là cơ sở quan trọng để các nước ASEAN thống nhất ký hiệpđịnh chung về hợp tác đào tạo và sử dụng lao động du lịch
Việc huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển nhân lực ngành Du lịchtrong những năm qua đã thu được những kết quả đáng kể Dự án Phát triểnnguồn nhân lực du lịch Việt Nam do EU tài trợ (Dự án EU) với vốn tài trợkhông hoàn lại 12 triệu EURO kết thúc, đạt được tất cả các mục tiêu đặt ra Giaiđoạn 2 tài trợ 11 triệu EURO tập trung phát triển du lịch có trách nhiệm với môitrường trong đó có hợp phần dành cho đào tạo nhân lực du lịch Đã tiếp nhận vàtriển khai thực hiện Dự án “Tăng cường năng lực nguồn nhân lực ngành Du lịch
và Khách sạn Việt Nam - VIE031” 3,384 triệu Euro do Luxembourg tài trợ Đầunăm 2013 Luxembourg đã quyết định kéo dài Dự án đến 30/6/2015 và tăng thêm
1 triệu EURO, hiện Dự án đã hoàn thành và đạt được kết quả tốt hỗ trợ tích cực
Trang 16cho các cơ sở đào tạo du lịch trực thuộc Bộ và trường Trung cấp Khách sạn và
Du lịch Saigontourist trực thuộc Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn trong việc tăngcường cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên, biên soạngiáo trình Dự án ADB “Phát triển Du lịch bền vững Tiểu vùng Sông Mekong
mở rộng” triển khai Hợp phần “Phát triển nhân lực Du lịch Việt Nam” với kinhphí 2,5 triệu USD (đào tạo cán bộ quản lý nhà nước về du lịch và liên quan đến
du lịch; đào tạo lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong du lịch) Bên cạnh
đó còn có dự án Đổi mới và phát triển dạy nghề do Tổng cục Dạy nghề thuộc
Bộ LĐ-TBXH chủ trì và các dự án hỗ trợ kỹ thuật của Pháp, Tây Ban Nha,Singapore, Bỉ, Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO), Cơ quanhợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) ; nhiều chương trình nghiên cứu, khảo sát, tưvấn và các khóa đào tạo về phát triển nhân lực ngành Du lịch với sự hợp tác củachuyên gia nước ngoài được tổ chức
b) Liên kết trong nước
Nhiều cơ sở đào tạo du lịch liên kết với nhau, với doanh nghiệp, Hiệp hội
Du lịch và với các Sở quản lý nhà nước để xây dựng chương trình đào tạo, cấpchứng chỉ các trình độ, ngành nghề do đối tác đặt hàng, tham gia đóng góp xâydựng và đánh giá chương trình đào tạo, tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo tiếpcận tốt hơn với nhu cầu đào tạo, khảo sát doanh nghiệp để đánh giá chất lượngđào tạo và hoàn thiện, đổi mới chương trình đào tạo cho phù hợp thực tiễn
Các cơ sở đào tạo du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đãthành lập Hội đồng Hiệu trưởng các trường du lịch để giao lưu, học tập chia sẻkinh nghiệm trong quản lý đào tạo, trao đổi chương trình, giáo trình, giảng viên,giáo viên, sinh viên, hợp tác hỗ trợ nhau đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợptác quốc tế, liên kết đào tạo chặt chẽ hơn
Doanh nghiệp du lịch đã tạo điều kiện cho cán bộ quản lý cao cấp vàchuyên gia giỏi tham gia giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, làm giáo viên thỉnhgiảng hoặc báo cáo chuyên đề; hỗ trợ trang thiết bị dạy, học và tài liệu học tập;
tư vấn thiết kế các phòng thực hành (buồng, bar, bếp) và mua sắm trang thiết bị,tài liệu học tập chuyên ngành cho cơ sở đào tạo Đã tạo điều kiện để sinh viên,người học cao học, nghiên cứu sinh thực tập, nghiên cứu thực hiện các đề tàikhóa luận, luận văn và luận án liên quan đến hoạt động doanh nghiệp Doanhnghiệp đối tác đã tài trợ hàng tỷ đồng, hàng trăm nghìn đô la cho cơ sở đào tạo
du lịch; tạo điều kiện cho giảng viên, giáo viên kiến tập tại doanh nghiệp, xétcấp học bổng cho sinh viên đạt kết quả cao trong học tập; tài trợ cho sinh viênxuất sắc
Việc các cơ sở đào tạo đạo tạo, bồi dưỡng người lao động theo đơn đặthàng của các doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đãphổ biến hơn Quan hệ phối hợp giữa cơ sở đào tạo và các đối tác được tăngcường trong thẩm định đề tài, dự án mang tính chuyên môn và khả năng ứngdụng trong ngành Du lịch; tổ chức hội thảo khoa học, giới thiệu việc làm; hỗ trợ
cơ sở đào tạo luyện kỹ năng “mềm” cho học sinh, sinh viên, gắn đào tạo trongtrường với hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp
Trang 17Một số cơ sở đào tạo du lịch đã thành lập Ban Hướng nghiệp và Tư vấnviệc làm để tư vấn, giới thiệu ngành nghề, chuyên ngành đào tạo, cơ hội việclàm sau khi tốt nghiệp cho đối tượng tuyển sinh của trường; tư vấn phương pháphọc tập, nội dung, đặc điểm ngành, nghề và trình độ đang được đào tạo; chínhsách, pháp luật Nhà nước liên quan đến ngành, nghề cho người học; tham giavới địa phương về công tác hướng nghiệp và tư vấn việc làm, đào tạo theo yêucầu xã hội; thiết lập hệ thống thông tin về việc làm, thông tin hai chiều giữa nhàtrường và đơn vị sử dụng lao động; về học sinh, sinh viên tốt nghiệp theo từngnăm học để cung cấp cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng lao động.
1.2.3 Mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay
1.2.3.1 Về kiến thức chuyên môn
Về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo của đội ngũ nhân lực
du lịch hiện nay, kết quả điều tra xã hội học cho thấy, mức độ đánh giá của bảnthân người lao động và cán bộ quản lý đặt mức độ tương đối cao với mức điểm4,3077/5 điểm Tuy nhiên, mức độ đánh giá của các sở VHTTDL/Sở DL và cácdoanh nghiệp chỉ đạt mức trên trung bình tương ứng với 3,4130/5 điểm và3,1351/5 điểm Với kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, mức độ đánh giá thấp nhấtdừng ở mức độ: Chưa đầy đủ, tần suất xuất hiện đánh giá này vẫn còn tương đốinhiều, đây cũng là một vấn đề đặt ra đối với hoạt động đào tạo nguồn nhân lựchiện nay (Tham khảo Bảng 4, Bảng 5, Bảng 6 và các Phụ lục 1, 2 và 3)
1.2.3.2 Về kỹ năng nghề nghiệp
Về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo của đội ngũ nhân lực
du lịch hiện nay, kết quả điều tra xã hội học cho thấy, mức độ đánh giá của bảnthân người lao động và cán bộ quản lý đặt mức độ tương đối cao với mức điểm4,2479/5 điểm khá cao so với mức độ đánh giá của các sở VHTTDL/Sở DL vàcác doanh nghiệp chỉ đạt mức trên trung bình tương ứng với 3,4565/5 điểm và3,08211/5 điểm Như vậy, theo đánh giá của các chủ thể sử dụng nguồn nhânlực, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ chưa được cao, mới đáp ứng phần nào yêucầu của thực tế Mặt khác, mức độ đánh giá thấp nhất dừng ở mức độ: Hoàn toànkhông phù hợp có xuất hiện trong đánh giá của doanh nghiệp và người lao động
và cán bộ quản lý Ngoài ra, mức độ đánh giá Chưa đầy đủ có tần suất xuất hiệnvẫn còn tương đối nhiều, đây cũng là một vấn đề đặt ra đôi với hoạt động đàotạo nguồn nhân lực hiện nay (Tham khảo Bảng 4, Bảng 5, Bảng 6 và các Phụ lục
1, 2 và 3)
1.2.3.3 Về thái độ, đạo đức nghề nghiệp
Về thái độ, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân lực du lịch hiện nay,kết quả điều tra xã hội học cho thấy, mức độ đánh giá của bản thân người laođộng và cán bộ quản lý đặt mức độ tương đối cao với mức điểm 4,3077/5 điểm,tương đồng với đánh giá về kỹ năng nghề nghiệp Tuy nhiên, mức độ đánh giácủa các sở VHTTDL/Sở DL và các doanh nghiệp chỉ đạt mức trên trung bìnhtương ứng với 3,6087/5 điểm và 3,3243/5 điểm Mức độ đánh giá này có cao
Trang 18hơn so với mức độ đánh giá về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năngnghiệp vụ Tuy nhiên vẫn chưa được cao so với mong muốn
Với thái độ và đạo đức nghề nghiệp, mức độ đánh giá thấp nhất xuất hiện ởmức độ: Hoàn toàn không phù hợp, theo đánh giá cả Người lao động và cán bộquản lý Bên cạnh đó, mức độ đánh giá: Chưa đầy đủ, có tần suất xuất hiện còntương đối nhiều, đây cũng là một vấn đề đặt ra đối với hoạt động đào tạo nguồnnhân lực hiện nay (Tham khảo Bảng 4, Bảng 5, Bảng 6 và các Phụ lục 1,2 và 3)
Bảng 4 Đánh giá của các sở quản lý nhà nước
về du lịch về kiến thức, kỹ năng và thái độ được đào tạo trong
nhà trường
Các chỉ tiêu
Kiến thức được đào tạo
Kỹ năng được đào tạo
Thái độ được đào tạo
- Ghi chú: Mức điểm đánh giá từ 1 đến 5, cụ thể: Rất tốt (5 điểm), Khá (4 điểm), Bình thường
(3 điểm), Chưa đầy đủ (2 điểm) và Hoàn toàn không phù hợp (1 điểm).
- Nguồn: Kết quả điều tra năm 2015
Bảng 5 Đánh giá của các doanh nghiệp du lịch
về kiến thức, kỹ năng và thái độ được đào tạo trong nhà trường
Các chỉ tiêu
Kiến thức được đào tạo
Kỹ năng được đào tạo
Thái độ được đào tạo
- Ghi chú: Mức điểm đánh giá từ 1 đến 5, cụ thể: Rất tốt (5 điểm), Khá (4 điểm), Bình thường
(3 điểm), Chưa đầy đủ (2 điểm) và Hoàn toàn không phù hợp (1 điểm).
- Nguồn: Kết quả điều tra năm 2015
Trang 19Bảng 6 Đánh giá cùa người lao động và cán bộ quản lý
về kiến thức, kỹ năng và thái độ sau khi ra trường
- Ghi chú: Mức điểm đánh giá từ 1 đến 5, cụ thể: Rất tốt (5 điểm), Khá (4 điểm), Bình thường
(3 điểm), Chưa đầy đủ (2 điểm) và Hoàn toàn không phù hợp (1 điểm).
- Nguồn: Kết quả điều tra năm 2015
1.3 Đánh giá thực trạng công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội
1.3.1 Ưu điểm và nguyên nhân
1.3.1.1 Ưu điểm
- Số cơ sở đào tạo, quy mô, ngành nghề, cơ cấu đào tạo du lịch được sắp
xếp bố trí lại theo hướng tiếp cận nhu cầu xã hội Cơ sở đào tạo du lịch phân bổ
theo 3 khu vực lớn trên phạm vi cả nước và tương đối hợp lý theo vùng miền, cơcấu ngành nghề đào tạo
- Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên, giáo viên dần được
nâng cao, chuẩn hóa Cán bộ, giáo viên, giảng viên được bồi dưỡng trình độ
chuyên môn, tỷ lệ có trình độ sau đại học tăng dần
- Chương trình, giáo trình dần được hoàn thiện: Hiện nay, công tác xây
dựng chương trình, giáo trình đang được các trường tích cực triển khai xâydựng, hoàn thiện dưới sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợpchặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Dạy nghề Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội nhằm đảm bảo xây dựng hệ thống chương trình đào tạo
du lịch áp dụng thống nhất trên toàn quốc
- Đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, phương tiện dạy và học ngày càng được
chú trọng, tăng cường: Ngoài nguồn ngân sách nhà nước cấp, các trường đều có
kế hoạch tự chủ về tài chính, tạo ra các nguồn tài chính hợp pháp, đáp ứng hoạtđộng đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của trường Công tácquản lý tài chính cũng đã từng bước chuẩn hóa theo đúng quy định của Nhànước, đảm bảo phân bổ, sử dụng tài chính hợp lý và hiệu quả cho các đơn vị vàcác hoạt động của trường
- Kết quả đào tạo và chất lượng sinh viên tốt nghiệp của các trường du
lịch trực thuộc Bộ có khả năng đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc: Học sinh,
sinh viên các trường du lịch sau khi tốt nghiệp ra trường phần lớn phát huy được
Trang 20khả năng tại lĩnh vực công tác của mình Sinh viên tự khẳng định mình tronghọc tập, giao tiếp, bộc lộ tư chất và phát huy được khả năng
1.3.1.2 Những nguyên nhân của ưu điểm:
Thứ nhất, sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước coi giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, được cụ thể hóa thành hệ thống văn bảnpháp quy của Chính phủ, các Bộ, ngành, từ định hướng và sự quản lý đúng đắn,kịp thời của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tạo hành lang pháp lý cho côngtác đào tạo đi vào nền nếp, bài bản, quy mô và ngày càng phát triển
Thứ hai, chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa - xã
hội, tạo điều kiện cho sự nghiệp đào tạo du lịch phát triển, tăng quy mô, đa dạng,phong phú về loại hình, ngành nghề đào tạo, huy động mọi nguồn lực, đầu tưcủa xã hội tham gia vào sự nghiệp đào tạo của ngành, đáp ứng nhu cầu đào tạongày càng cao trong xã hội
Thứ ba, các cơ sở đào tạo chủ động, nỗ lực cố gắng trong sự nghiệp đào
tạo Các Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch và các địa phương nơi các trường du lịch trựcthuộc Bộ có trụ sở chính hỗ trợ, tạo điều kiện để các trường phát triển đồng thờităng cường quản lý và sát sao trong tổ chức thực hiện
1.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
1.3.2.1 Hạn chế
- Quy mô đào tạo chưa đủ lớn, ngành nghề đào tạo thiếu, phân bố cơ sở đào
tạo du lịch chưa trải hết các vùng có nhu cầu lớn về đào tạo du lịch: Các cơ sở đào
tạo du lịch trực thuộc Bộ tuy đã phát triển nhưng năng lực đào tạo vẫn chưa đồngđều và chỉ phân bổ ở các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thừa Thiên -Huế, Đà Nẵng, Bà Rịa-Vũng Tàu
- Đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục còn thiếu về sốlượng, trình độ chuyên môn chưa cao, thiếu kinh nghiệm thực tế và phương phápgiảng dạy chưa thật sự cuốn hút: Hầu hết các trường chưa xây dựng được kế hoạchdài hạn phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý Đã xảy ra sự hụthẫng về cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên sâu Hiện nay, sốlượng cán bộ, giáo viên được gửi đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt
là đào tạo dài hạn tại nước ngoài gặp khó khăn vì khả năng ngoại ngữ, kinh phí đàotạo và tâm lý ngại đi học trong thời gian dài của cán bộ, giảng viên Bên cạnh đó làphương pháp giảng dạy theo cách truyền thống, ngại thay đổi giáo án, ít ứng dụngcông nghệ mới và kết hợp nhiều phương pháp trong giảng dạy và đào tạo du lịch,đặc biệt rất nhiều GVGV thiếu kinh nghiệm thực tế hoặc không cập nhật những kiếnthức, điều kiện phát triển thực tế của ngành Do đó, bài giảng đôi khi còn tẻ nhạt,thiếu thuyết phục và hấp dẫn
- Chương trình đào tạo còn chậm đổi mới, giáo trình một số nghề còn thiếuhoặc chưa hoàn chỉnh Nhiều giáo trình không còn phù hợp, chưa chỉnh sửa, cậpnhật, ảnh hưởng đến tính thống nhất, chuẩn mực trong hệ thống đào tạo Thư viện
Trang 21của các trường mới đang được quan tâm đầu tư, còn khó khăn trong kinh phí nhập
sách báo, giáo trình điện tử của các nước để GVGV, HSSV tham khảo
- Cơ sở vật chất, phương tiện dạy và học chưa đồng bộ, còn thiếu: Cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của các trường tuy đãđược đầu tư nhưng còn thiếu và chưa đồng bộ, còn lạc hậu Xét về mặt tỷ trọng, tổngmức đầu tư xây dựng cơ bản mới chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu thực tế củacác trường, nhất là các trường mới được thành lập
- Thiếu sự quan tâm đúng mức về đào tạo ngoại ngữ, các kỹ năng mềmcho học sinh, sinh viên Các cơ sở đào tạo du lịch đã nhận thức được tầm quantrọng của ngoại ngữ trong đào tạo du lịch và đã tăng thời lượng dạy ngoại ngữtrong chương trình đào tạo, tuy nhiên phương pháp dạy ngoại ngữ chưa thực sựhiệu quả và tích cực, đồng thời còn thiếu sự kết hợp rèn luyện, bồi dưỡng kỹnăng ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm khi đào tạo các môn học, mô-đun nghề
- Công tác phân loại và định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viêncòn yếu Chưa thực hiện, hoặc thực hiện chưa tốt việc phân loại và định hướngnghề nghiệp cho HSSV ngay trong quá trình đào tạo và lựa chọn hoặc tư vấn cơ
sở thực tập phù hợp với khả năng, thế mạnh của từng học sinh, sinh viên
- Thiếu sự liên kết, liên thông: Chưa có sự gắn kết và mối quan hệ thườngxuyên, chặt chẽ giữa đào tạo và cơ sở sử dụng nhân lực Chưa thu hút được các
tổ chức sử dụng nhân lực, trước hết và đặc biệt là các doanh nghiệp vào quátrình đào tạo nhân lực từ khâu tham gia hoạch định chính sách cho đến trực tiếpđào tạo và đóng góp, trợ giúp kinh phí, nơi thực tập, kiến tập cho đào tạo nhânlực Các cơ sở đào tạo cũng thiếu sự liên kết với nhau
1.3.2.2 Những nguyên nhân của hạn chế:
Thứ nhất, các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng giảng dạy và học tập như:
Cơ sở vật chất, phương pháp đào tạo hiện nay chưa thực sự đáp ứng yêu cầu.Chương trình đào tạo, nội dung giảng dạy chưa được đổi mới và cập nhậtthường xuyên Giáo trình, tài liệu học tập, xưởng thực hành còn bất cập so vớiyêu cầu thực tế Hoạt động đánh giá và kiểm định các điều kiện đảm bảo chấtlượng đào tạo theo lộ trình được các cơ sở đào tạo triển khai ở giai đoạn đầu còngặp nhiều khó khăn do thiếu đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm Công tác thanhtra, kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo thường chỉ chútrọng ở các đợt tuyển sinh đầu vào và tổ chức thi tốt nghiệp
Thứ hai, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn thiếu về số lượng,
hạn chế về trình độ và chưa đồng bộ về cơ cấu Tỷ lệ giảng viên, giáo viên có chứcdanh giáo sư, phó giáo sư, có trình độ tiến sĩ trong các trường còn thấp so với yêucầu và so với mặt bằng chung các ngành đào tạo đại trà Công tác đổi mới phươngpháp giảng dạy và học tập đã được triển khai song hiệu quả chưa cao Trong cáctrường vẫn còn tình trạng đọc-chép Nhiều giảng viên, giáo viên trong tình trạng quátải nên không có thời gian để đầu tư nghiên cứu và đổi mới nội dung giảng dạy
Thứ ba, cơ chế tài chính, đầu tư kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất và chế độ
học phí còn bất cập Ngân sách sự nghiệp cho lĩnh vực đào tạo du lịch có tăng nhưng
Trang 22vẫn ở mức rất nhỏ so với yêu cầu phát triển Việc cấp kinh phí đào tạo tính theo đầuhọc sinh, sinh viên hiện nay là quá thấp đối với cả các ngành/ nghề đào tạo Nhữngnguyên nhân này gây rất nhiều khó khăn cho các cơ sở đào tạo trong việc cân đối cácnguồn kinh phí, vừa để bảo đảm bù đắp chi phí, vừa đảm bảo nâng cao chất lượngđào tạo để từng bước theo kịp các nước trong khu vực.
Thứ tư, chưa có cơ chế, chính sách phù hợp thúc đẩy mối quan hệ hợp tác
giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng nhân lực du lịch Trên thực tế chưa có nhữngràng buộc về mặt pháp lý nhằm tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp sử dụnglao động đối với sự nghiệp đào tạo nhân lực ban đầu của ngành tại các cơ sở đào tạo
Thứ năm, hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đối với các nghề trong
lĩnh vực du lịch chưa thống nhất để các cơ sở đào tạo căn cứ vào đó xây dựngchương trình, kế hoạch đào tạo sát với yêu cầu thực tế Bên cạnh đó, các doanhnghiệp căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia để tuyển dụng, đánhgiá và trả lương nhân viên
Thứ sáu, chế độ chính sách đối với giảng viên, giáo viên và học sinh, sinh
viên các trường chưa hợp lý Hệ thống các văn bản chế độ chính sách về chế độ
ưu đãi phụ cấp cho giảng viên, giáo viên và học sinh, sinh viên còn ở mức thấp,chưa phù hợp, chưa có tác dụng khích lệ động viên, khuyến khích đội ngũ giảngviên, giáo viên và học sinh sinh viên tài năng toàn tâm toàn ý cống hiến cho sựnghiệp đào tạo du lịch Chưa có chính sách thu hút các tài năng nhằm tạo nguồnđội ngũ kế cận sự nghiệp đào tạo du lịch trong tương lai
Trang 23Phần thứ Hai PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU XÃ HỘI
TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH ĐẾN NĂM 2025
2.1 Phương hướng, nhu cầu đào tạo nhân lực du lịch đến năm 2025
2.1.1 Phương hướng đào tạo nhân lực du lịch đến năm 2025
Công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội trong lĩnh vực du lịch cần bám sátđịnh hướng phát triển du lịch mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
đã xác định và tư tưởng chính về phát triển du lịch nêu trong dự thảo văn kiệnĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII Quán triệt thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu cầucông nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đồng thời phải tiếp tục thực hiện các quanđiểm, tư tưởng chỉ đạo và giải pháp về đổi mới công tác giáo dục, đào tạo, dạynghề, chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam của Đảng và Nhà nước; các vănbản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và của Bộ Nội vụ, Bộ Giáodục-Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Nỗ lực huy động mọi nguồnlực tập trung đẩy mạnh đào tạo phát triển nhân lực ngành Du lịch theo nhu cầu
xã hội khẩn trương, hiệu quả hơn, tạo được chuyển biến mạnh mẽ cả về sốlượng và chất lượng
2.1.2 Nhu cầu đào tạo nhân lực du lịch đến năm 2025
Theo Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30 tháng
12 năm 2011 xác định nhu cầu nhân lực du lịch đến năm 2020 cụ thể như sau:
a) Về số lượng lao động: Đến năm 2020, lao động du lịch sẽ cần 870.000
lao động trực tiếp, giai đoạn 2021 - 2025 nhân lực du lịch tăng bình quân mỗinăm khoảng 6%, lao động du lịch gián tiếp theo nhu cầu xã hội sẽ cần khoảng2,2 - 2,5 triệu người
b) Về chất lượng lao động: Được trang bị đúng, đủ kiến thức, kỹ năng
(quy trình kỹ thuật nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng giao tiếp); có tinh thần thái
độ phục vụ chu đáo tận tuỵ, sẵn sàng phục vụ khách; và có năng lực ngoại ngữ,tin học đảm bảo yêu cầu của từng nghiệp vụ cụ thể
c) Về cơ cấu lao động: Đảm bảo hợp lý giữa các trình độ đào tạo (đại học,
cao đẳng, trung học và nghề); giữa các loại công việc (quản lý và lao động trựctiếp); giữa các vùng, miền, địa phương tương ứng với tốc độ phát triển du lịch;
và giữa các ngành nghề (khách sạn, nhà hàng, lữ hành, các dịch vụ khác)
d) Về chuyên môn nghiệp vụ: Trong thời gian tới, bên cạnh đào tạo tiếng
Anh vẫn có nhu cầu lớn, nhu cầu đào tạo các ngoại ngữ khác cũng cao Các kỹnăng nghiệp vụ hoặc các năng lực chuyên sâu như kiến thức quản lý, lãnh đạo;hoạch định chính sách; quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch; phát triển và
Trang 24quản trị thương hiệu; khai thác phát triển sản phẩm du lịch có nhu cầu đào tạo
rất lớn Yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ phải đảm bảo thực
thi được các công việc ở vị trí làm việc và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
đ) Về chuẩn hóa chức danh và nội dung đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội: Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu, toàn diện
đặt ra yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch phải chuẩn hóa(chuẩn hóa chức danh lao động; cơ sở vật chất trường lớp; giảng viên, giáo viên;
và chương trình) Trước hết các chuyên ngành đào tạo (cả về kiến thức, kỹ năng,phong cách) của từng chức danh nghề nghiệp du lịch phải được chuẩn hóa,thống nhất, thể chế hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật và áp dụng trongphạm vi cả nước Đồng thời cần thừa nhận và áp dụng các tiêu chuẩn nghề dulịch khu vực ASEAN và tiếp thu chọn lọc chuẩn của các khu vực khác để có thể
áp dụng phù hợp với Việt Nam Sự thừa nhận lẫn nhau (về chương trình, nộidung kiến thức, kỹ năng chuyên ngành đào tạo và văn bằng, chứng chỉ ứng vớicác trình độ đào tạo) là điều kiện để thúc đẩy quá trình tham gia thị trường laođộng du lịch trong khu vực và thế giới Hướng tới lao động du lịch được đào tạocủa Việt Nam có thể di chuyển thuận lợi, đủ năng lực tham gia thực hiện cáccông đoạn trong phân công lao động quốc tế trong du lịch
2.2 Mục tiêu đào tạo theo nhu cầu xã hội trong lĩnh vực du lịch đến năm 2025
2.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo về du lịch của xã hội, trước mắt là đảmbảo thực hiện mục tiêu đáp ứng 60 - 80% nhu cầu đào tạo nhân lực trực tiếp củangành Du lịch Phấn đấu xây dựng được đội ngũ lao động ngành Du lịch đủ về
số lượng, cân đối về cơ cấu, cao về chất lượng, đảm bảo đáp ứng yêu cầu pháttriển du lịch nhanh và bền vững, phát huy được vai trò một ngành kinh tế mũinhọn, đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu và toàndiện, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo; đồng thời đáp ứngnhu cầu của nhân dân về học tập các ngành nghề liên quan đến du lịch để cảithiện và nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, cộng đồng
2.2.2 Mục tiêu cụ thể
2.2.2.1 Đối với khối giáo dục đại học
- 100% các cơ sở giáo dục đại học trong lĩnh vực du lịch áp dụng khungtrình độ quốc gia, các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia để xây dựng chươngtrình, giáo trình và xác định chuẩn đầu ra trong đó 80% nhân lực được đào tạo
có khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội
- 100% các cơ sở giáo dục đại học trong lĩnh vực du lịch đào tạo, bồidưỡng năng lực ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu và tuân thủ đúng quy định của BộGiáo dục và Đào tạo về năng lực ngoại ngữ theo Khung năng lực Châu Âu đốivới cử nhân tốt nghiệp đại học