Để đánh giá một cách toàn diện về tác động của BTA đối với môi trường đầu tưtại Việt Nam, năm 2006, Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch- Đầu tư đã gửi4.000 phiếu điều tra tới các nhà
Trang 1ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT FDI TỪ HOA KỲ VÀO TỈNH HÀ TÂY TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ3.1 CÁC CAM KẾT ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC CỦA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ VÊ ĐẦU TƯ
3.1.1 Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA)
3.1.1.1 Đánh giá chung về tác động của BTA với Việt Nam
Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA) đã được ký kết vào ngày13/7/2000 tại Washington và có hiệu lực vào tháng 12/2001 đã tạo cơ sở pháp lý quantrọng cho việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế- thương mại và đầu tư Kim ngạch buônbán hai chiều năm 2005 đạt 8,7 tỉ USD, tăng gấp 5 lần năm 2001 và năm 2006 kimngạch đã đạt 9,7 tỉ USD, đưa Hoa Kỳ trở thành bạn hàng lớn của Việt Nam
Hiện Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và có hơn 1.000doanh nghiệp Hoa Kỳ đang hoạt động tại Việt Nam Cho tới cuối năm 2007, FDI củaHoa Kỳ vào Việt Nam đạt 9 tỉ USD đứng thứ 6 trong 75 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu
tư vào Việt Nam
BTA chính thức có hiệu lực ngày 10 tháng 12 năm 2001 đã đưa quan hệ hợp tácViệt Nam- Hoa Kỳ lên một bước mới Tại sao BTA sẽ có lợi đối với Việt Nam Chúng
ta sẽ làm rõ ở những điểm sau:
Về tăng trưởng kinh tế: Các ngành công nghiệp mới sẽ phát triển nhảy vọt để
đáp ứng nhu cầu của thị trường Hoa Kỳ khổng lồ Các dự báo trình lên Ngân hàng thếgiới cho rằng Việt Nam có thể tăng số lượng hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ lên gần támtrăm triệu USD
Ngoài ra còn có các tác động tích cực khác đối với nền kinh tế Việt Nam Bằngcách khuyến khích cạnh tranh và các cải cách trong nước kèm theo, BTA sẽ giảm chiphí và khuyến khích hiện đại hoá
Khi BTA có hiệu lực, Hoa Kỳ áp dụng quy chế MFN đối với Việt Nam Sau khiđược hưởng quy chế này, thuế suất cho hàng xuất khẩu từViệt Nam sang Hoa Kỳ giảmtrung bình từ 40% xuống còn 4% Điều này cũng có nghĩa là Hiệp định đã mở cửa thị
Trang 2trường khổng lồ Hoa Kỳ cho các nhà xuất khẩu Việt Nam trên cơ sở cạnh tranh bìnhđẳng với các nước khác.
Về việc làm: Các ngành công nghiệp mới sẽ tạo ra hàng ngàn việc làm Hàng sản
xuất xuất khẩu củaViệt Nam hiện vẫn là một phần nhỏ trong nền kinh tế (chỉ chiếm
$30/đầu người so với $660/đầu người ở Thái Lan) Do đó, tiềm năng phát triển quả làrất lớn
Về giáo dục và đào tạo: Người lao động Việt Nam sẽ được tiếp xúc với công
nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến Họ sẽ có nhiều cơ hội hơn về đào tạo nghề cũngnhư phát triển nghề nghiệp
Về đầu tư nước ngoài: Việc ký kết BTA sẽ thu hút sự quan tâm của toàn thế giới
và nó sẽ được coi là cam kết hội nhập kinh tế của Việt Nam Việt Nam sẽ giành đượcthêm cơ hội tiếp cận với nguồn tài chính, phương thức quản lý hiện đại, thông tin thịtrường và công nghệ tiên tiến BTA sẽ giúp tạo lập một sân chơi công bằng cho tất cảcác doanh nghiệp BTA cũng mở ra cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp tận dụng thịtrường ASEAN rộng lớn
Về công nghệ: Ðầu tư nước ngoài và sự cải thiện về bảo vệ sở hữu trí tuệ được
tăng cường sẽ khuyến khích công nghệ đổ vào Việt Nam Các doanh nghiệpViệt Nam
sẽ sử dụng công nghệ hiện đại hơn trong các quy trình sản xuất
Về phát triển nông thôn: BTA sẽ khuyến khích nông nghiệp và tăng thu nhập
nghề nông Ví dụ: hạ thấp mức thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất thức ăn giasúc sẽ tăng cường sản xuất và hạ giá thành sản phẩm gia súc Xuất khẩu nông sản củaViệt Nam sẽ tăng
3.1.1.2 Tác động của BTA tới hoạt động FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam
Đánh giá toàn diện về tác động của BTA tới FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam
Với BTA Hoa Kỳ hoàn tất quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hainước.BTA đã thúc đẩy thương mại hai nước phát triển vượt bậc, thúc đẩy luồng vốnFDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam và là cơ sở để ký kết TIFA giữa hai nước
Hoa Kỳ có vai trò nòng cốt, chi phối hoạt động của các định chế tài chính vàthương mại quốc tế như IMF, WTO, WB, ADB… cho nên ký hiệp định thương mại vớiHoa Kỳ tạo ra khả năng tăng cường sự ảnh hưởng thuận lợi của các tổ chức trên với nền
Trang 3kinh tế của Việt Nam và giúp đẩy nhanh tiến trình hội nhập của Việt Nam với khu vực
và thế giới Hoa Kỳ là đối tác có tác động mạnh mẽ nhất tới sự thay đổi của luật phápViệt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
BTA được soạn thảo dựa vào các tiêu chuẩn nội dung của WTO dành cho cácnước kém phát triển, cho nên ký được hiệp định thương mại với Hoa Kỳ là một bướctiến quan trọng giúp choViệt Nam sớm gia nhập WTO.Theo BTA,Việt Nam cam kếtthực hiện theo lộ trình trong vòng 10 năm các thay đổi về luật pháp, chính sách, quyđịnh và cải cách hành chính, chủ yếu theo các tiêu chuẩn của WTO và các thông lệ quốc
tế Các cam kết toàn diện trong Hiệp định thương mại của hai quốc gia sẽ không chỉthúc đẩy thương mại hai chiều giữa hai nước mà còn tăng thêm tính hấp dẫn của môitrường đầu tư tạiViệt Nam đối với các nhà đầu tư Hoa Kỳ
Dưới sự ảnh hưởng của BTA, hệ thống pháp luật điều tiết nền kinh tế và thươngmại củaViệt Nam sẽ thay đổi theo hướng: đầy đủ, minh bạch, tiếp cận với các chuẩnmực chung của quốc tế để tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi cho cácdoanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế phát triển Môi trường đầu tư Việt Nam hấpdẫn hơn, vì tính bình đẳng, rõ ràng, không phân biệt đối xử và hàng hóa của các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất tại Việt Nam đưa vào thị trường Hoa Kỳcũng được hưởng Quy chế Tối huệ quốc
Chương 4 của BTA là các điều khoản liên quan tới đầu tư giữa Việt Nam và Hoa
Kỳ Các điều khoản này tạo ra một hành lang pháp lý để các doanh nghiệp Hoa Kỳ hoạtđộng đầu tư ở Việt Nam được dễ dàng hơn
Dưới đây là một số điều khoản liên quan tới đầu tư của BTA:
Bảng 3.1: Chương 4.Điều 1.Khoản7 của BTA
Chương 4.Điều 1.Khoản7 của BTA ghi: “thỏa thuận đầu tư” là sự thỏa thuậnbằng văn bản giữa các cơ quan quản lý nhà nước của một Bên với khoản đầu tư theoHiệp định này hoặc với công dân hay công ty của Bên kia để: (i) trao các quyền liênquan đến tài nguyên thiên nhiên hoặc tài sản khác do các cơ quan nhà nước quản lý và(ii) làm cơ sở để khoản đầu tư, công dân hoặc công ty thành lập hoặc mua lại đầu tưtheo Hiệp định này
Nguồn: Bộ công thương
Bảng 3.2: Điều 11 của BTA “Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại”
Trang 4Khoản1 Phù hợp với các quy định tại khoản 2, không Bên nào được áp dụng bất
kỳ biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại nào (sau đây gọi là TRIMs) không phùhợp với Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại của WTO Danhmục minh họa các TRIMs được quy định tại Hiệp định WTO về TRIMs (sau đây gọi làDanh mục) được nêu tại Phụ lục I của Hiệp định này TRIMs trong Danh mục được coi
là không phù hợp với Điều này cho dù chúng được áp đặt trong các luật, quy định hoặcnhư là điều kiện đối với các hợp đồng hay giấy phép đầu tư cụ thể
Nguồn: Bộ công thương
Trên thực tế sau hơn 4 năm thực thi BTA, cho tới 30/6/2006 tổng vốn đầu tư củaHoa Kỳ vào Việt Nam (kể cả qua nước thứ 3) mới chỉ là 4,042 tỷ USD Khoản đầu tưnày còn quá nhỏ, chỉ chiếm gần 0,72% tổng đầu tư của Hoa Kỳ vào Đông Nam Á.Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này xuất phát từ quy mô thị trường của Việt Namcòn nhỏ, chưa đáp ứng được đòi hỏi của các nhà đầu tư Hoa Kỳ Các nhà đầu tư cònchờ thị trường Việt Nam mở cửa khu vực dịch vụ và một số lĩnh vực khác theo lộ trìnhgia nhập WTO, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính- tiền tệ và ngân hàng Mặt khác môitrường kinh doanh ở Việt Nam là điều khiến các nhà đầu tư Hoa Kỳ còn ngần ngại, bởi
họ rất quan tâm đến các chính sách đầu tư của Việt Nam có minh bạch và nhất quán haykhông Tuy nhiên, cho dù vì lý do gì đi nữa thì thực tế đầu tư không cao lắm của Hoa
Kỳ ở Việt Nam cũng khiến cho cả hai nước đều chịu thiệt thòi, bởi Hoa Kỳ là nước cócông nghệ nguồn, có tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều tập đoàn kinh tế xuyên quốc giahàng đầu thế giới Các dự án đầu tư của họ thường lớn gấp nhiều lần so với các đối tác
từ các nước khác và thường tập trung vào mảng công nghệ cao- là li ̃nh vực mà ViệtNam đang có nhu cầu lớn
Để đánh giá một cách toàn diện về tác động của BTA đối với môi trường đầu tưtại Việt Nam, năm 2006, Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch- Đầu tư đã gửi4.000 phiếu điều tra tới các nhà đầu tư nước ngoài trong đó có Hoa Kỳ Kết quả có hơnmột nửa DN khẳng định, BTA đã tác động quan trọng tới quyết định đầu tư của họtạiViệt Nam, với lý do BTA là bước đệm cho, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn
Các nhà đầu tư nước ngoài đều ghi nhận tầm quan trọng của các cam kết trongBTA, đặc biệt là các DN có vốn đầu tư nước ngoài của Hoa Kỳ Hầu hết các DN có vốnđầu tư nước ngoài đều xuất hàng hóa sang Hoa Kỳ Khoảng một nửa số DN có vốn đầu
Trang 5tư nước ngoài đều cho rằng, BTA có tác động quan trọng đối với các quyết định đầu tưcủa họ vàoViệt Nam Theo đánh giá của những DN này thì các cam kết của BTA có tácdụng thu hút nhiều nhất đầu tư nước ngoài bao gồm: đối xử công bằng giữa các nhà đầu
tư trong và ngoài nước, mở cửa nhiều ngành dịch vụ hơn cho các nhà đầu tư nướcngoài, quy trình đăng ký đơn giản hơn cho nhà đầu tư nước ngoài, minh bạch hơn, bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được củng cố, các yêu cầu với nhà đầu tư nước ngoài khôngphù hợp với quy định WTO đã được xóa bỏ
Nhiều chuyên gia cho rằng, việc thực hiện thành công BTA đã mở đường choviệc gia nhập WTO của Việt Nam hiệu quả và nhanh chóng hơn Việt Nam đã sử dụngcác hiệp định thương mại như một bước tiến trong công cuộc đổi mới có hệ thống các
cơ chế pháp luật và tư pháp của mình, khiến môi trường kinh doanh trong nước đượccải thiện Tuy nhiên, các chuyên gia cũng chỉ ra vẫn còn những thách thức chủ yếu nhưcủng cố cơ cấu tổ chức, động lực làm việc và các thủ tục áp dụng của các cơ quan quản
lý nhà nước, phát triển nguồn nhân lực là những yếu tố cần thiết để thực hiện và thựcthi có hiệu quả các luật và quy định mới ban hành Trong 3 năm từ năm 2005 đến năm
2007, các chuyên gia đã đánh giá rất cao nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện BTA
và cải thiện môi trường đầu tư về xây dựng Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp chung;xoá bỏ chính sách hai giá, xoá bỏ hạn chế về chuyển giao công nghệ; thực hiện các camkết mở cửa thị trường nhằm tạo ra một môi trườn kinh doanh bình đẳng giữa doanhnghiệp và ngoài nước
Bên cạnh đó, các biện pháp nâng cao năng lực bộ máy quản lý, minh bách hoáchính sách và luật pháp, thực hiện bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng như các giải pháp làmtrong sạch môi trường đầu tư, giảm chi phí kinh doanh đang củng cố niềm tin của cácnhà đầu tư vào Việt Nam, trong đó có các nhà đầu tư Hoa Kỳ
BTA dẫn lối cho dòng chảy FDI vào Việt Nam
Trung bình 3 năm trước BTA (1999- 2001), mỗi năm lượng vốn FDI đăng kýhiện thời của Hoa Kỳ vào Việt Nam không kể qua nước thứ 3 là 111 triệu USD/năm.Sau BTA (2002- 6/2006) con số này đã tăng lên 2 lần, lên 218 triệu USD Vốn đầu tưđăng ký của Hoa Kỳ thông qua nước thứ 3 còn tăng cao hơn, tăng gần 3 lần, từ 158triệu USD/năm trong 3 năm trước BTA lên 442,6 triệu USD sau BTA Có thể thấy đầu
tư của Hoa Kỳ tăng đáng kể sau khi Hiệp định có hiệu lực, đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt
Trang 6Nam tăng mạnh đặc biệt từ năm 2003 và đến nay Trong khoảng thời gian trước khiHiệp định có hiệu lực (từ năm 1996-2001), vốn thực hiện của Hoa Kỳ là rất nhỏ Nhưng
từ năm 2001 đến năm 2008, FDI thực hiện của Hoa Kỳ bắt đầu tăng nhanh
Có nhiều yếu tố góp phần làm choViệt Nam trở thành một điểm đến ngày cànghấp dẫn để thu hút vốn FDI, đó là các cam kết sâu rộng và có tính ràng buộc của ViệtNam theo BTA và các hiệp định khác của WTO Cụ thể, BTA đòi hỏi phải thực hiệncăn bản về chính sách và thủ tục đầu tư Khái niệm đầu tư đã được mổ rộng để bao quáthết mọi hình thức đầu tư của BTA, dỡ bỏ cơ chế định giá kép và các biện pháp có tínhphân biệt đối xử… Năm 2006, Việt Nam đã thu hút tổng vốn FDI tới 12 tỷ USD, tăng375%, trong năm 2007, FDI tăng lên tới gần 20 tỷ USD Theo đó nhiều dự án “tỷ USD”của Hoa Kỳ đã được đăng ký tại Việt Nam
BTA không chỉ có ý nghĩa đối với nhà đầu tư Hoa Kỳ trong quyết định đầu tưvào Việt Nam mà còn đối với các nhà đầu tư khác Hơn một nửa số công ty được điềutra cho biết, BTA có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và mở rộng đầu tư của các doanhnghiệp tại Việt Nam
Chính điều đó đã giúp bức tranh thu hút FDI của Việt Nam trở nên rất sáng sủa
và đầy khả quan, đặc biệt là khi xem xét trong bối cảnh quốc tế BTA đã góp phần đáng
kể trong việc giúp Việt Nam thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Mặc dù nằm trong khuvực năng động nhưng vốn FDI vào khu vực Đông Á và Đông Nam Á giảm gần 1/3trong giai đoạn 2000-2003 Trừ Trung Quốc, Việt Nam là một trong số ít các nước trênthế giới có sự tăng trưởng về đầu tư trực tiếp trong giai đoạn này Đáng chú ý là saunăm 2000, luồng vốn FDI đổ vào ngành dệt may, đồ gỗ và thuỷ sản của Việt Nam tăngrất mạnh Tỷ trọng của các ngành này trong tổng vốn đăng ký FDI tăng từ 3% năm
1998 lên 25% năm 2001, sau đó ổn định ở mức 16% giai đoạn 2003-2004
BTA làm tăng FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam qua nước thứ 3
FDI thực hiện của Hoa Kỳ kể cả qua nước thứ 3 tăng trưởng cao và đều sauBTA, tăng 6,5% năm 2002 lên 20% trong năm 2005 và nửa đầu năm 2006 Tỷ trọngvốn đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ kể cả qua nước thứ 3 tăng từ 9,3%/năm trước BTA lên16,4% sau BTA Trong khi đó vốn đầu tư thực hiện của Hoa Kỳ không kể qua nước thứ
3 giảm trong năm 2004 và tăng trong năm 2004 và đầu năm 2006 Và đặc biệt trong 6tháng đầu năm 2006, vốn FDI của Hoa Kỳ vàoViệt Nam thông qua nước thứ 3 tăng
Trang 7một cách đột biến, đó là do khoản đầu tư với số vốn 605 triệu USD của Intel vào ViệtNam để xây dựng nhà máy sản xuất vi mạch tại TP Hồ Chí Minh Dự án này được ghinhận là từ Hồng Kông vì đây là dự án do chi nhánh Intel ở Hồng Kông thực hiện Dự ánđầu tư của Intel vàoViệt Nam là một ví dụ điển hình về việc một dự án lớn của Hoa Kỳ
có thể thay đổi tình hình đầu tư tại Việt Nam Như vậy, các số liệu thống kê về đầu tưcủa Hoa Kỳ vào Việt Nam qua các năm kể từ khi BTA được ký kết giữa hai nước cóhiệu lực đã đưa ra một bức tranh sáng sủa về lươ ̣ng vốn đầu tư của các nhà đầu tư Hoa
Kỳ vào Việt Nam và rõ ràng là các nhà đầu tư Hoa Kỳ đã có phản ứng rất tích cực đốivới BTA
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, từ năm 1988 đến cuối tháng 12-2004tổng vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam là 1,3 tỉ USD, trong đó sốvốn thực hiện là 730 triệu USD với 215 dự án thuộc các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp,lâm nghiệp và dịch vụ, Hoa Kỳ đứng thứ 11 trong tổng số 75 nước có đầu tư vào ViệtNam
Điều này cho thấy đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam có tăng trưởng nhưng tốc
độ tăng trưởng không thể hiện rõ như trong thương mại Mặc dù vậy, theo các chuyêngia kinh tế thì con số trên không phản ánh đúng tiềm năng của các nhà đầu tư Hoa Kỳ.Riêng đầu tư từ Hoa Kỳ ở Việt Nam kể cả qua nước thứ 3 tới năm 2005 đạt khoảng 4 tỷUSD đối với các dự án đã đăng ký và 3,3 tỷ USD đối với các dự án đã thực hiện Con
số này đã đặt Hoa Kỳ vào hàng các nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam
Lý giải cho điều này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam cho rằng, trên thực tếcác công ty Hoa Kỳ đã tăng cường đầu tư vào Việt Nam qua các công ty con của họ ởnước ngoài mạnh mẽ hơn rất nhiều so với đầu tư trực tiếp từ công ty mẹ Nếu kể cả đầu
tư qua nước thứ 3, tổng vốn đầu tư đăng ký của các nhà đầu tư Hoa Kỳ từ năm 1988đến 2004 là 2,602 tỉ USD Đặc biệt, từ khi BTA có hiệu lực, FDI từ Hoa Kỳ tăng mạnh,trung bình 27% năm từ 2002 đến 2004 so với khoảng 3% năm từ 1996 đến 2001 Trongnăm 2004 với số vốn thực hiện là 531 triệu USD, tính cả đầu tư qua nước thứ 3, Hoa
Kỳ trở thành nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam
Mặc dù vậy, đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ, kể cả đầu tư qua nước thứ 3 vào ViệtNam chỉ chiếm khoảng gần 1% tổng đầu tư của Hoa Kỳ trong khu vực và chỉ bằng 28%đầu tư vào Thái Lan, 20% vào Inđônêxia trong năm 2003 Đánh giá về tác động của
Trang 8BTA tới thương mại song phương, sau khi ký Hiệp định thương mại song phương, Hoa
Kỳ đã trở thành bạn hàng số 1 củaViệt Nam về thương mại nhưng đầu tư của Hoa Kỳvào Việt Nam thì còn khiêm tốn dù tiềm năng đầu tư còn rất lớn
BTA quy định không chỉ đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp từ Hoa Kỳ mà cả cáccông ty con ở các nước thứ 3 cũng được hưởng ưu đãi Bên cạnh đó, pháp luật thuế củaHoa Kỳ khuyến khích đầu tư từ các công ty con ở nước ngoài Hơn nữa, về mặt quản lý
và điều hành thì việc thông qua các công ty con, nhất là các công ty ở Châu Á sẽ thuậnlợi hơn nhờ gần gũi và hiểu biết về thị trường và luật phápViệt Nam
Sở dĩ các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư vàoViệt Nam thông qua các công ty con
ở Châu Á là vì BTA quy định không chỉ FDI của doanh nghiệp từ Hoa Kỳ mà cả cáccông ty con ở các nước thứ 3 cũng được hưởng ưu đãi của hiệp định, bên cạnh đó luậtpháp Hoa Kỳ khuyến khích đầu tư từ các công ty con ở nước ngoài Hơn nữa, về mặtquản lý và điều hành thì việc thông qua các công ty con, nhất là các công ty ở Châu Á
mà chủ yếu là ở Hồng Kông, Singapore sẽ thuận lợi hơn nhờ gần gũi và hiểu biết về thịtrường và Luật pháp Việt Nam
3.1.2 Cam kết WTO của Việt Nam liên quan đến đầu tư
Những thuận lợi và thách thức sau khi tham gia WTO đòi hỏi Chính phủ vànhân dân Việt Nam phải nỗ lực hơn nữa để xây dựng mới và hoàn thiện hệ thống phápluật, thể chế, chính sách, đẩy nhanh tiến trình cải cách toàn diện về tài chính, ngânhàng, doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính, cải thiện năng lực cạnh tranh đểtheo kịp với yêu cầu hội nhập kinh tế toàn diện và sâu rộng hiện nay
Vấn đề quan trọng hàng đầu không chỉ phát huy tiềm năng trong nước, mà cònthu hút mạnh đầu tư nước ngoài, cả trực tiếp và gián tiếp, duy trì ổn định cân đối vĩ mô,bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, thu hút FDI được hiệu quả hơn trong thờigian tới
3.1.2.1 Danh mục hạn chế đầu tư theo cam kết WTO của Việt Nam
Danh mục hạn chế đầu tư nước ngoài đã được khống chế ngay tại Nghị định108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 Những lĩnh vực này gọi là lĩnh vực đầu tư có điềukiện Có 14 lĩnh vực trong đó có ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, các dịch vụ liên quanđến tài chính, hàng hải, quảng cáo, kinh doanh bất động sản được quy định hạn chế
Trang 9đối với nhà đầu tư nước ngoài Những lĩnh vực này hoàn toàn phù hợp với cam kết củaWTO cũng như trong các hiệp định song phương.
Trong hạn chế đầu tư nước ngoài có hai mảng Một là những danh mục đó được
mô tả những điều kiện cụ thể Ví dụ như lĩnh vực hàng hải khống chế nhà đầu tư nướcngoài không được sở hữu quá 49% Còn lĩnh vực bảo hiểm, Việt Nam chỉ quy định đốivới đầu tư 100% vốn nước ngoài và khống chế bằng định lượng, tức là Việt Nam choquota về hình thức đó Hoặc ở ngành viễn thông, mức khống chế liên quan đến lĩnh vựckinh doanh về đường trục, trong đó nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu không quá51% Như vậy, Việt Nam kiểm soát và bảo hộ cho các nhà đầu tư trong nước đối vớinhững ngành đó
Mảng thứ hai trong danh mục đó lại không mô tả điều kiện cụ thể Điều đó cónghĩa là Nhà nước dựa vào chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội để có thểcho mở hoặc không mở cho nhà đầu tư nước ngoài Ví dụ như lĩnh vực dầu khí và khaikhoáng Việt Nam không đưa ra một điều kiện gì Cho nên những lĩnh vực đó Việt Namchỉ cam kết nền chung, trọn gói và không bị trói bởi cam kết quốc tế
3.1.2.2 Lĩnh vực dịch vụ
Khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, các nhà cung cấp dịch
vụ của Hoa Kỳ sẽ tiếp thị trường Việt Nam một cách dễ dàng hơn và sẽ được hưởngquy chế đãi ngộ quốc gia trên nhiều lĩnh vực như bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán,viễn thông, năng lượng, chuyển phát nhanh, xây dựng Ngoài ra, Việt Nam cũng đãđồng ý xem xét việc mở cửa thị trường một cách rộng hơn so với những gì đã đượcthỏa thuận
Ngân hàng và chứng khoán
Hiện tại, Việt Nam cho phép các ngân hàng nước ngoài nắm giữ mức cổ phầntối đa là 49% Các ngân hàng nước ngoài được phép thành lập chi nhánh tại Việt Namnhưng các công ty chứng khoán nước ngoài chỉ được phép thành lập văn phòng đại diệntại đây Thỏa thuận giữa Việt Nam và Hoa Kỳ bao gồm:
Kể từ ngày 1/4/2007, các ngân hàng Hoa Kỳ và các ngân hàng nước ngoài khác
sẽ được phép thành lập các chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Cũng nhưcác pháp nhân Việt Nam, các chi nhánh và văn phòng đại diện này sẽ được hưởng chế
độ đối xử không phân biệt (đãi ngộ quốc gia) ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Trang 10Các ngân hàng của Hoa Kỳ sẽ được phép thành lập chi nhánh 100% vốn nước ngoài,nhận tiền gửi bằng VND không giới hạn từ các pháp nhân đồng thời phát hành thẻ tíndụng.
Kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO, các công ty chứng khoán nước ngoài trong
đó có Hoa Kỳ có thể tham gia thành lập liên doanh với số cổ phần tối đa là 49% 5 nămsau đó, số cổ phần tối đa của phía nước ngoài tại các liên doanh này có thể được tănglên tới 100% và các công ty chứng khoán này có thể đưa vào Việt Nam một số hoạtđộng chứng khoán của mình như quản lý tài sản, tư vấn…Các công ty đầu tư nướcngoài sẽ được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia trong lĩnh vực tài chính Các quy chế vềtiếp cận thị trường nước ngoài sẽ tương tự hoặc cao hơn so với các quy chế này của cácnước OECD
Bảo hiểm
Hiện tại, các công ty bảo hiểm nước ngoài được phép hoạt động ở Việt Namdưới dạng liên doanh với một công ty Việt Nam Hoạt động của các công ty này cũng bịgiới hạn trong một số lĩnh vực Việc thành lập chi nhánh trực tiếp không được chấpnhận Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các công ty bảo hiểm nước ngoài sẽ được phéphoạt động tại đây theo những quy tắc như sau:
Việt Nam sẽ cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài thành lập chi nhánh100% vốn nước ngoài và 5 năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các công ty này sẽđược phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ Các giới hạn đối với hoạt động củacác công ty bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam sẽ ở mức thấp nhất Chẳng hạn, trongvòng 1 năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các công ty bảo hiểm nước ngoài sẽkhông được phép cung cấp một số loại bảo hiểm bắt buộc nhưng sau đó sẽ không còngiới hạn nào nữa
Việt Nam sẽ cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài hưởng chế độ đãi ngộquốc gia một cách đầy đủ Hơn nữa, Việt Nam sẽ thực thi cam kết của mình về chinhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài theo cách phù hợp với các tiêu chuẩn đượccông nhận quốc tế của Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm quốc tế
Viễn thông
Việt Nam sẽ mở cửa thị trường viễn thông của mình và cho phép các công ty mà
cổ phần nước ngoài chiếm đa số cung cấp trong 4 lĩnh vực phản ánh những ưu tiên
Trang 11thương mại chính của Hoa Kỳ, đó là: các dịch vụ viễn thông công cộng cơ bản mà phíanhà cung cấp không có cơ sở hạ tầng (cung cấp dịch vụ điện thoại cố định và di độngnhờ đường truyền thuê của một công ty Việt Nam); mạng dữ liệu nội bộ (trước hết đểphục vụ các nhà đầu tư nước ngoài; cung cấp các dịch vụ dựa trên mạng Internet); dịch
vụ vệ tinh và dịch vụ cáp ngầm đường biển
Việt Nam cũng đã chấp nhận những quy định tham chiếu cơ bản về viễn thôngcủa WTO, thiết lập một cơ quan giám sát độc lập và các quy chế bắt buộc nhằm phòngngừa các hành vi hạn chế cạnh tranh của các nhà cung cấp chính trên thị trường Tàiliệu này quy định một cách rõ ràng các quy chế bắt buộc cũng như những yêu cầu cóquan hệ qua lại chặt chẽ
Năng lượng
Việt Nam đã đưa ra hàng loạt các cam kết về mở cửa thị trường năng lượng củamình theo từng giai đoạn Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ năng lượng củaHoa Kỳ tham gia vào các dự án năng lượng liên quan đến khảo sát và phát triển dầu khí,
tư vấn quản lý, phân tích và kiểm định kỹ thuật, sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị
Sau khi gia nhập, Việt Nam sẽ cho phép các công ty nước ngoài trong lĩnh vựcnày thành lập liên doanh với một công ty Việt Nam trong thời hạn 3 hoặc 5 năm tùythuộc vào lĩnh vực hoạt động Sau thời gian đó, các công ty dịch vụ năng lượng nướcngoài sẽ được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Việt Nam cũng đãcam kết sẽ cho phép các công ty dịch vụ năng lượng nước ngoài hưởng chế độ đãi ngộquốc gia một cách đầy đủ
Dịch vụ chuyển phát nhanh
Ngay sau khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty cung cấp dịch
vụ chuyển phát nhanh nước ngoài thành lập liên doanh với các công ty Việt Nam trong
đó phía nước ngoài nắm đa số cổ phần 5 năm sau đó, các nhà cung cấp nước ngoài cóthể thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Địa vị thành viên WTO của Việt Nam sẽ cho phép dịch vụ chuyển phát khônghạn chế đối với các loại tài liệu, bao gói, hàng hóa… theo mọi phương thức Đồng thời,các nhà cung cấp nước ngoài cũng sẽ được đối xử như các nhà cung cấp của Việt Nam
Dịch vụ vận tải
Trang 12Việt Nam sẽ mở cửa thị trường trong các lĩnh vực sửa chữa và bảo dưỡng máybay, cho phép các công ty nước ngoài thành lập liên doanh với phía Việt Nam ngay saukhi gia nhập và 5 năm sau đó, các nhà cung cấp nước ngoài có thể thành lập 100% vốnnước ngoài.
Dịch vụ kinh doanh
Việt Nam sẽ mở cửa thị trường rộng hơn nữa cho các nhà cung cấp dịch vụ kinhdoanh như tư vấn luật, kế toán, kiến trúc, quảng cáo, thị trường, thú y… Doanh nghiệpnước ngoài trong phần lớn các lĩnh vực này được phép thành lập công ty 100% vốnnước ngoài ngay sau thời điểm gia nhập hoặc một thời gian ngắn sau đó
Việt Nam cũng sẽ mở cửa thị trường rộng hơn cho dịch vụ máy tính và các dịch
vụ liên quan khác, cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong lĩnhvực đang tăng trưởng rất nhanh chóng mà các công ty Hoa Kỳ có khả năng cạnh tranhtoàn cầu này
Dịch vụ phân phối
Việt Nam sẽ tự do hóa lĩnh vực bán buôn, bán lẻ và nhượng quyền kinh doanh.Sau thời điểm gia nhập WTO, các doanh nghiệp Hoa Kỳ trong lĩnh vực này được phépthành lập liên doanh với phía Việt Nam và từ 1/1/2009, các doanh nghiệp Hoa Kỳ đượcphép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài Các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu
tư nước ngoài sẽ được cung cấp cả các hàng hóa nhập khẩu và sản xuất trong nước
Dịch vụ môi trường
Việt Nam sẽ tự do hóa thị trường dịch vụ môi trường, cho phép các công ty củaHoa Kỳ cung cấp nhiều loại dịch vụ từ thoát nước đến hạn chế tiếng ồn, với tư cách làliên doanh với phía Việt Nam ngay sau thời điểm gia nhập và doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài 5 năm sau thời điểm gia nhập Việt Nam cũng đã cam kết sẽ cho phép cácdoanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực này được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia mộtcách đầy đủ
Khách sạn- Nhà hàng
Việt Nam sẽ mở cửa thị trường rộng hơn nữa cho đầu tư của các doanh nghiệpHoa Kỳ vào ngành công nghiệp này ở Việt Nam đồng thời tạo cơ hội cho các công tyquản lý khách sạn của Hoa Kỳ
Trang 133.1.3 Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư- TIFA
Ngày 21.6.2007, Việt Nam và Hoa Kỳ đã chính thức ký Hiệp định khungThương mại và Đầu tư (TIFA) tại Washington DC, Hoa Kỳ Trước sự chứng kiến củaChủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ CarlosGuitierez, Thứ trưởng thương mại Việt Nam và Phó đại diện thương mại Hoa Kỳ đã kýthỏa thuận này
Hiệp định này được đánh giá là cột mốc mới trong hợp tác song phương giữaViệt Nam và Hoa Kỳ Theo Hiệp định TIFA hai bên sẽ thành lập một Hội đồng hợp tácsong phương mà đứng đầu hai bên đã được nâng lên lãnh đạo cấp Bộ trưởng để cónhững thẩm quyền và trách nhiệm lớn hơn trong việc bàn những định hướng và chínhsách lớn, những sáng kiến hợp tác mới thúc đẩy quan hệ song phương cũng như cácbiện pháp giải quyết vướng mắc trong quan hệ hợp tác kinh tế thương mại hai bên baogồm cả những khó khăn, kiến nghị hiện nay của doanh nghiệp hai nước
Hai nước đã bắt đầu thảo luận về TIFA kể từ đầu năm 2007, sau khi Việt Namtrở thành thành viên chính thức của WTO TIFA tạo dựng một nền tảng để hai nước cóthể phát triển quan hệ đầu tư sâu rộng hơn qua WTO và BTA, và giải quyết những tranhchấp song phương TIFA sẽ trở thành một diễn đàn để hai nước đánh giá việc thi hànhquy chế WTO và BTA, đặc biệt việc thực hiện những cam kết về việc bảo vệ quyền sởhữu trí tuệ, mở rộng thị trường dịch vụ, minh bạch về hành chính và luật pháp Trong 2ngày, 18 và 19/6/2007, phiên họp hàng năm Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam- Hoa kỳ về pháttriển kinh tế thương mại song phương trong khuôn khổ BTA đã được tổ chức, cả haibên cùng nhận định rằng BTA là một hiệp định thành công của cả hai quốc gia ViệtNam- Hoa Kỳ Trong quan hệ hai nước, hợp tác kinh tế, thương mại luôn là lĩnh vựctrọng tâm và cũng là lĩnh vực đạt nhiều kết quả tích cực nhất… Kết quả phiên họp Uỷban hỗn hợp Việt Nam- Hoa Kỳ và ký hiệp định TIFA đã chứng minh một thực tế làhợp tác kinh tế sẽ luôn là động lực chính thúc đẩy sự phát triển quan hệ đối tác giữaViệt Nam- Hoa Kỳ trong thời kỳ mới
TIFA cũng là bước phát triển mới trong quan hệ giữa Việt Nam- Hoa Kỳ, sẽgiúp hai bên hiểu biết và có sự đồng thuận sâu sắc hơn trong những vấn đề kinh tếthương mại mà hai nước cùng quan tâm Thông qua TIFA, quan hệ thương mại đầu tưViệt Nam- Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phát triển mạnh như trong năm năm vừa qua TIFA được
Trang 14xem là bước phát triển tiếp theo trong quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ, nâng mối quan hệthương mại, đầu tư giữa 2 nước lên một tầm cao mới để tiến tới những quan hệ thươngmại và đầu tư sâu sắc và ổn định hơn Cùng với sự phát triển kinh tế năng động, sự ổnđịnh chính trị và an toàn ở Việt Nam, việc Việt Nam trở thành thành viên chính thứccủa WTO, Chính phủ Hoa Kỳ áp dụng qui chế quan hệ thương mại bình thường vĩnhviễn với Việt Nam và Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị APEC 14 đã góp phầnnâng cao hơn nữa vị thế, uy tín của Việt Nam, làm cho thị trường Việt Nam càng hấpdẫn hơn đối với giới kinh doanh các nước đặc biệt đối với các nhà đầu tư Hoa Kỳ.
Tóm lại, TIFA là hiệp định quan trọng thứ hai của Việt Nam và Hoa Kỳ đưaquan hệ đầu tư hai nước dặc biệt là FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng nhanh cả về sốlượng và chất lượng, khẳng định Hoa Kỳ ngày càng trở thành đối tác đầu tư chiến lượcquan trọng của Việt Nam
3.1.4 Định hướng thu hút FDI của Việt Nam
Dưới đây là mục tiêu và định hướng thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2010:
2006-3.1.4.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006- 2010 là:
Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển Cải thiện rõ rệt đời sống vật
chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Giữ vững ổn định chính trị và trật tự,
an toàn xã hội Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5 năm 2006- 2010 là đưa tổng sản phẩm trong nước(GDP) lên gấp 2,1 lần so với năm 2000; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạtkhoảng 1.050- 1.100 USD; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 5 năm2006- 2010 đạt 7,5- 8%, phấn đấu đạt trên 8% Ước tính nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hộitrong 5 năm 2006-2010 là 140 tỷ USD (giá năm 2005), chiếm 40% GDP, trong đó,nguồn vốn huy động từ bên ngoài chiếm khoảng 35%
3.1.4.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 15Những kết quả tích cực đạt được trong năm 2006 và 2007, nhất là kinh tế tăngtrưởng nhanh, môi trường đầu tư được cải thiện, việc chính thức gia nhập WTO và việcHoa Kỳ thông qua “Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn” đối với Việt Nam, uytín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, sẽ tạo đà cho sự gia tăng dòng vốnđầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm tiếp theo.
Trên cơ sở đánh giá tiềm năng của đất nước cũng như những nhân tố mới có tácđộng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài, có thể dự báo rằng, nếu giải quyết tốt những vấn
đề kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, thủ tục hành chính, thì dòng vốn đầu tưnước ngoài vào Việt Nam sẽ tiếp tục xu hướng gia tăng Một số chỉ tiêu chủ yếu củaFDI giai đoạn 2006- 2010:
Vốn FDI thực hiện: đạt khoảng 24- 25 tỷ USD (tăng 70- 75% so với giai
đoạn 2001- 2005) chiếm khoảng 17,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Vốn đăng ký: Tổng vốn FDI đăng ký cấp mới và tăng vốn trong 5 năm
2006-2010 đạt khoảng 38- 40 tỷ USD (tăng khoảng hơn 80% so với giai đoạn 2001–2005), trong đó vốn đăng ký cấp mới đạt khoảng 28 tỷ USD, vốn tăng thêm đạt khoảng10- 12 tỷ USD
Doanh thu: khoảng 216 tỷ USD.
Xuất - nhập khẩu: xuất khẩu đạt khoảng 106,5 tỷ USD (không kể dầu
thô); nhập khẩu đạt 131,3 tỷ USD
Nộp ngân sách nhà nước: khoảng 8,7 tỷ USD.
Cơ cấu vốn thực hiện theo ngành: vốn FDI thực hiện trong ngành công
nghiệp chiếm khoảng 60%, nông- lâm- ngư nghiệp khoảng 5% và dịch vụ khoảng 35%
3.1.4.3 Định hướng thu hút FDI theo ngành, đối tác và vùng lãnh thổ
Định hướng ngành:
Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước đến năm 2010 vàđịnh hướng trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Việt Nam cần ưu tiên thu hútFDI vào các ngành có tác động lớn trên các phương diện như: thúc đẩy chuyển giaocông nghệ nhất là công nghệ cao, công nghệ nguồn; gia tăng xuất khẩu; tạo việc làm;phát triển công nghiệp phụ trợ; các dự án sản xuất các sản phẩm, dịch vụ có sức cạnhtranh; các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng Dưới đây là một số định hướng cụ thể:
Trang 16 Ngành Công nghiệp- Xây dựng:
- Các ngành đặc biệt khuyến khích đầu tư gồm công nghệ thông tin, điện tử, vi
điện tử, công nghệ sinh học…; chú trọng công nghệ nguồn từ các nước công nghiệpphát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; hết sức coi trọng thu hút FDI gắn với nghiên cứuphát triển và chuyển giao công nghệ
- Công nghiệp phụ trợ: Khuyến khích thu hút FDI vào ngành công nghiệp phụ
trợ nhằm giảm chi phí đầu vào về nguyên- phụ liệu của các ngành công nghiệp, gópphần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước Để thúc đẩy pháttriển ngành công nghiệp phụ trợ, cần tạo điều kiện để các dự án sản xuất lắp ráp các sản
phẩm công nghiệp nhanh chóng mở rộng quy mô và thị trường tiêu thụ
Ngành Dịch vụ:
- Ngành dịch vụ còn dư địa lớn để đầu tư phát triển góp phần quan trọng trongnâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế Từng bước mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo cáccam kết quốc tế, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như dịch vụngân hàng, tài chính; dịch vụ vận tải, bưu chính- viễn thông, y tế, văn hoá, giáo dục,đào tạo và các lĩnh vực dịch vụ khác
Với định hướng trên, tiến hành xem xét, giảm bớt các lĩnh vực, ngành nghề kinhdoanh có điều kiện đối với FDI có tính tới các yếu tố hội nhập và toàn cầu hóa theo lộtrình “mở cửa”; tạo bước đột phá trong thu hút FDI bằng việc xem xét đẩy sớm lộ trình
mở cửa đối với một số lĩnh vực dịch vụ, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhânvào phát triển hạ tầng Cụ thể là:
- Khuyến khích mạnh vốn FDI vào các ngành du lịch, y tế, giáo dục- đào tạo
Mở cửa theo lộ trình các lĩnh vực dịch vụ “nhạy cảm” như ngân hàng, tài chính, vận tải,viễn thông, bán buôn và bán lẻ và văn hoá
- Khuyến khích FDI tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật bằng các phươngthức thích hợp gồm BOT, BT để xây dựng cảng biển, cảng hàng không, đường cao tốc,đường sắt, viễn thông, cấp nước, thoát nước… nhằm góp phần nâng cấp hệ thống kếtcấu hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng nhanh của nền kinh tế
Ngành Nông- Lâm- Ngư nghiệp:
Trang 17- Khuyến khích các dự án đầu tư về công nghệ sinh học để tạo ra các giống cây,con có năng suất, chất lượng cao đưa vào sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước và xuấtkhẩu
- Khuyến khích dự án đầu tư cho công nghệ chế biến thực phẩm, bảo quản sauthu hoạch để nâng giá trị sản phẩm, tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản ổn định, đặc biệtxuất khẩu
- Khuyến khích FDI tham gia đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụnông, lâm nghiệp như các công trình thủy lợi, sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,
hệ thống giao thông nội đồng
hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, điện, nước ở các vùng kinh tế khó khăn bằng nguồnvốn nhà nước, vốn ODA và nguồn vốn tư nhân Tập trung thu hút đầu tư vào các khukinh tế, Khu Công nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt (như Chu Lai, Nhơn Hội…)góp phần đẩy nhanh việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng
Định hướng đối tác:
Chú trọng thu hút FDI từ các TNCs:
FDI trên thế giới chủ yếu là vốn của TNCs, hoạt động của các công ty này có tácđộng quan trọng đối với những nước tiếp nhận vốn FDI Do đó việc thu hút các TNCsđược khuyến khích cả hai hướng: thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vàoxuất khẩu; tạo điều kiện để một số TNCs xây dựng các Trung tâm nghiên cứu, pháttriển, vườn ươm công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực
Định hướng đối tác Hoa Kỳ:
Hoa Kỳ là nước xuất khẩu tư bản lớn nhất thế giới Việt Nam và Hoa Kỳ đã kýkết và đang thực hiện BTA Mới đây Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Quy chế thương mạibình thường vĩnh viễn với Việt Nam Hai nước cũng đã thành lập Hội đồng Tư vấn cấp
Trang 18cao Việt Nam- Hoa Kỳ Năm 2006, Hoa Kỳ đã có một số dự án đầu tư lớn tại ViệtNam, trong đó có dự án trị giá 1 tỷ USD của Tập đoàn Intel Dự báo trong các năm tới,đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam sẽ tăng nhanh hơn các năm trước và Hoa Kỳ có thểvươn lên đứng hàng thứ hai sau Nhật Bản về vốn đầu tư vào Việt Nam.
Để thúc đẩy hợp tác đầu tư Việt Nam- Hoa Kỳ cần tổ chức triển khai các hoạtđộng sau:
- Tập trung vận động đầu tư đối với từng lĩnh vực, dự án trọng điểm và đối táctiềm năng Mở rộng, nâng cao hiệu qủa hợp tác xúc tiến đầu tư với các công ty tư vấn,xúc tiến đầu tư, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ của Hoa Kỳ Thành lập tổ côngtác liên ngành để thúc đẩy đàm phán, chuẩn bị một số dự án quan trọng
- Hỗ trợ các dự án đầu tư của Hoa Kỳ đã được cấp giấy phép đầu tư hoặc đangđàm phán, chuẩn bị đầu tư bằng cách giải quyết sớm các vướng mắc trong hoạt độngcủa các dự án đầu tư đã được cấp giấy phép
- Tăng cường hợp tác nhằm nâng cao hiệu qủa thực hiện BTA giữa Việt Hoa Kỳ nhằm khai thác tối đa những lợi ích từ việc triển khai Hiệp định này, giảm thiểunhững tác động tiêu cực, đồng thời tăng cường thu hút đầu tư của Hoa Kỳ trên cơ sởđảm bảo sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động này
Nam Tiếp tục tận dụng hoạt động của Hội đồng tư vấn Việt NamNam Hoa Kỳ để nghiêncứu, đề xuất cơ chế hợp tác mới nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế- thương mại vàđầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và giữa các doanh nghiệp hai nước Nghiên cứu, đềxuất về các vấn đề tăng cường cạnh tranh và thúc đẩy quan hệ kinh tế song phương ViệtNam Hoa Kỳ, nhất là đẩy mạnh thu hút đầu tư của các công ty Hoa Kỳ và Việt Nam
- Hiện nay, có khoảng 1,5 triệu Việt kiều đang sinh sống, làm ăn tại Hoa Kỳ.Nhiều người Việt đã trở thành những nhà kinh doanh thành đạt có khả năng đầu tư vềnước; một số khác có trình độ kỹ thuật cao, đặc biệt trong các ngành khoa học tự nhiên,công nghệ Do vậy, cần đẩy mạnh thu hút đầu tư của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳtheo hướng: (i) tiếp tục tăng cường các ưu đãi khuyến khích Việt kiều đầu tư về nước,đặc biệt trong các ngành công nghệ thông tin, giáo dục, y tế, nghiên cứu phát triển, dulịch, kinh doanh bất động sản ; (ii) tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc nhậpcảnh, cư trú, đi lại và sinh hoạt của Việt kiều tại Việt Nam
3.2 Định hướng thu hút FDI của tỉnh Hà Tây
Trang 19Hà Tây nhấn mạnh quan điểm coi thu hút các dự án đầu tư là giải pháp có tầmquan trọng đặc biệt và có tính chiến lược lâu dài để phát triển kinh tế- xã hội Tỉnh camkết tiếp tục tập trung lãnh đạo, giám sát, chỉ đạo thực hiện đồng bộ , nhất quán, ổn địnhcác cơ chế, chính sách, giải pháp nhằm làm môi trường đầu tư hấp dẫn hơn, là “miềnđất hứa” cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
FDI vừa là thế mạnh vừa là nguồn lực ảnh hưởng tới sự phát triển hay đi xuốngcủa kinh tế tỉnh Hà Tây Do đó việc xác định chiến lược thu hút FDI, xác định rõ lĩnhvực đầu tư là điều mà các cơ quan chức năng của Hà Tây luôn quan tâm và thực hiệnthường xuyên Trong điều kiện hội nhập kinh tế của Việt Nam và của chính Hà Tây, tạocho mình một hướng đi riêng là điều cực kì quan trọng cho sự phát triên tương lai củatỉnh
3.2.1 Danh mục 125 dự án đầu tư các lĩnh vực từ năm 2006- 2010 của Hà Tây
Danh mục 125 dự án đầu tư các lĩnh vực từ năm 2006- 2010 với tổng vốn 2 tỷUSD chính là thể hiện hy vọng và đích phấn đấu của tỉnh Hà Tây trong giai đoạn tới
Cụ thể, trong 5 năm 2006- 2010 Hà Tây sẽ thu hút cho được 1,5 tỷ USD FDI, thông qua
ít nhất từ 80 đến 100 dự án khác nhau
Danh mục này thể hiện sự chuyển biến thêm một bước của lãnh đạo tỉnh Hà Tây trong nhận thức, tầm nhìn cho thu hút FDI của tỉnh,đáp ứng được yêu cầu cụ thể hoá,
rõ ràng minh bạch với các nhà đầu tư nói chung và Hoa Kỳ nói riêng
Dưới đây là bảng danh mục các dự án kêu gọi đầu tư của Hà Tây giai đoạn2006- 2010:
Bảng 3.4: Danh mục các dự án kêu gọi đầu tư của Hà Tây giai đoạn 2006- 2010
án
Qui mô (ha)
Vốn đầu
tư (triệu USD) 1.Đầu tư xây dựnh và kinh doanh hạ tầng
kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp
Trang 205 Các dự án đầu tư công nghiệp
Các dự án phục vụ ngành Công nghiệp ô tô,
Các dự án sản xuất, kinh doanh hàng thủ
Các dự án sản xuất vật liệu xây dựng 05 62.50
8 Các dự án đầu tư trong lĩnh vực nông
nghiệp
9 Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Tây
3.2.2 Về phát triển các khu công nghiệp
Tại hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Tây lần thứ I năm 2005, UBND tỉnh Hà Tây
đã công bố Quy định về các chính sách khuyến khích đầu tư trên địa bàn với danh mụccác lĩnh vực và 125 dự án kêu gọi đầu tư giai đoạn 2006- 2010 với tổng vốn đầu tư 35nghìn tỷ đồng, giới thiệu quy hoạch chi tiết và chính sách đầu tư vào khu công nghệ caoHoà Lạc, khu công nghiệp Bắc Phú Cát Sau khi kiểm điểm nghị quyết 14 và kế hoach
59 của Tỉnh uỷ đã tìm ra yếu kém, nguyên nhân chủ quan, khách quan từ đó đã banhành 9 quyết định nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh về môi trường đầu tư trong thờigian tới, trong đó quan trọng nhất là “Quy định một số chính sách khuyến khích đầu tư
số 15/2005/QĐ-UB” Theo đó, tỉnh chịu trách nhiệm về đền bù GPMB doanh nghiệpứng kinh phí trước sẽ được trừ vào phần kinh phí thuê đất, hỗ trợ đầu tư xây dựng hạtầng các khu, cụm, điểm công nghiệp, áp dụng mức thuê đất mềm dẻo, thậm chí miễn
Trang 21giảm tiền thuê đất; hỗ trợ đào tạo lao động; hỗ trợ xúc tiến đầu tư Điều đáng quan tâm
ở văn bản này là tại điều 7 quy định là sẽ xử lý nghiêm theo pháp luật bất cứ cá nhân, tổchức nào cố tình gây khó khăn, cản trở trong việc kêu gọi đầu tư vào Hà Tây Hằngtháng đích thân Chủ tịch UBND tỉnh sẽ dành một ngày tiếp kiến các doanh nghiệp, thiếtlập một đường dây nóng, đặt hòm thư góp ý ngay cổng trụ sở UBND tỉnh để các doanhnghiệp cũng như nhân dân kịp thời phản ánh với lãnh đạo tỉnh những vấn đề bức xúcliên quan tới đầu tư
Như vậy, Hà Tây đã quyết tâm làm tất cả những gì có thể làm được nhằm cảithiện hình ảnh mờ nhạt của mình, loại bỏ những tác nhân cản trở, trải thảm đỏ mời gọicác nhà đầu tư vào đầu tư tại tỉnh một cách chân thành
Về phát triển các khu công nghiệp khác, ngày 10/3/2005 UBND tỉnh có Quyếtđịnh số 225/2005/QĐ-UB về quy hoạch các khu công nghiệp, theo đó đến năm 2010tỉnh Hà Tây có thêm 8 khu công nghiệp, trước mắt trong năm 2006 sớm hoàn chỉnh thủtục trình Chính phủ phê duyệt 3 Khu công nghiệp đó là: Khu công nghiệp Nam Phú Cát
có diện tích khoảng 700 ha; Khu công nghiệp Châu Can có diện tích khoảng 200 ha vàKhu công nghiệp Miếu Môn- Xuân Mai có diện tích khoảng 500 ha
Với những lợi thể về tiềm năng, lao động vị trí địa lý, tỉnh Hà Tây quyết tâm xâydựng và phát triển khu công nghiệp để thu hút các nhà đầu tư thông qua các chủ trương,chính sách và được thể hiện bằng Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lầnthứ XIV: quyết định mục tiêu, nhiệm vụ trong 5 năm 2006- 2010 là tập trung phát triểnmạnh việc xây dựng và hoàn thiện một số Khu công nghiệp, trước mắt tập trung đầu tưvào Khu công nghiệp Bắc Phú Cát Phấn đấu đưa Hà Tây trở thành tỉnh có nền kinh tếphát triển vào loại tiên tiến trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Trong tương lai, KCNC Hòa Lạc sẽ hướng đến việc trở thành một đô thị khoahọc, có công nghiệp, dịch vụ, viện nghiên cứu, trường đại học, khu đô thị, sân golf 18lỗ… chứ không chỉ là một khu công nghiệp thuần túy Mục tiêu đặt ra của Khu côngnghệ cao Hoà Lạc theo Thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ, là đến năm 2010 sẽ lấpđầy 50-60% diện tích KCN và khu công viên phần mềm, phấn đấu có từ 8-10 phòng thínghiệm trọng điểm quốc gia và đến năm 2015 sẽ cơ bản lấp đầy các khu vui chơi giảitrí, khu nhà ở và khu trung tâm và trong kế hoạch dài hạn KCNC Hòa Lạc sẽ trở thành
Trang 22một thành phố công nghệ như quy mô thu nhỏ của Tân Trúc (Đài Loan), Silicon Valley(Hoa Kỳ ), Bangalor (Ấn Độ)
3.2.3 Quan điểm mục tiêu phát triển du lịch Hà Tây đến năm 2010 và những năm tiếp theo
3.2.3.1 Quan điểm phát triển du lịch Hà Tây
Phát triển du lịch phải hướng đến mục tiêu trở thành ngành kinh tế mũinhọn và bền vững Nhà nước xây dựng và quản lý quy hoạch tổng thể, đầu tư cơ sở hạtầng du lịch, tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nguồn lực, khai thác nhanh lợi thế
du lịch của một tỉnh ven đô, trước mắt ưu tiên phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng
và vui chơi giải trí
Phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xãhội của tỉnh và được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của các ngành kinh
tế trong tỉnh, nhất là các ngành thương mại, dịch vụ, đồng thời thúc đẩy và hỗ trợ cácngành cùng phát triển
Phát triển du lịch phải gắn với du lịch của các tỉnh và thành phố trong cảnước, các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội.Gắn với việc bảo đảm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phát huy bản sắcvăn hoá dân tộc, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái
Phát triển du lịch Hà Tây với tính chất là du lịch sinh thái, nghỉdưỡng; du lịch văn hoá lễ hội; du lịch làng nghề, trong đó du lịch sinh thái, nghỉdưỡng là chủ yếu; tập trung ở 3 cụm du lịch trọng điểm: Sơn Tây- Ba Vì, HươngSơn- Quan Sơn (Mỹ Đức), Hà Đông và phụ cận, trong đó Sơn Tây- Ba Vì làtrung tâm
Phát triển du lịch trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội
và phát huy những lợi thế của Tỉnh về tự nhiên gắn với thủ đô Hà Nội Nhà nước chủyếu tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng; các doanh nghiệp đầu
tư cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch
3.2.3.2 Mục tiêu chung và một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2010
Phát triển du lịch để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
• Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để xây dựng và phát triển sản phẩm dulịch, du lịch văn hoá, lễ hội, làng nghề truyền thống, đặc biệt là du lịch sinh thái, nghỉ
Trang 23dưỡng, vui chơi giải trí tại 3 cụm du lịch trọng điểm của tỉnh; trước mắt ưu tiên tậptrung vào khu du lịch hồ Suối Hai- núi Ba Vì… để thu hút ngày càng nhiều khách dulịch có khả năng chi tiêu cao nhằm tăng nhanh mức chỉ tiêu bình quân của lượt kháchtrên địa bàn, nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch.
• Đến năm 2010 đón từ 4 đến 4,5 triệu lượt khách du lịch trong đó kháchquốc tế từ 5 đến 10%, tốc độ tăng trưởng bình quân 10%/năm
• Doanh thu xã hội về du lịch đến năm 2010 đạt trên 600 tỷ đồng, tốc độtăng bình quân 15%/năm
• Xây dựng 06 khu du lịch tổng hợp với các sản phẩm du lịch sinh thái,nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí… có khoảng 2.400 phòng khách sạn; xây dựng một sốkhách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao trở lên tại các trọng điểm du lịch Xây dựng 01 Trungtâm dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống Hà Tây Đầu tư phát triển 3 làng nghề thànhcác điểm du lịch (Sơn Đồng, Phú Vinh, Chuyên Mỹ) Đẩy mạnh việc đầu tư khai thác
du lịch tại 6 điểm di tích lịch sử văn hoá, lễ hội trong tỉnh (khu di tích thắng cảnh dulịch Hương Sơn, Làng Việt cổ Đường Lâm, chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Đậu,đền Hữu Vĩnh)
3.3 GIẢI PHÁP THU HÚT FDI TỪ HOA KỲ VÀO HÀ TÂY TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
3.3.1 Phát huy và định hướng phát triển các KCN , KCNC
3.2.1.1 Phát triển khu công nghệ cao Láng- Hoà Lạc
Công nghệ cao là công nghệ vượt lên mức cao nhất của công nghệ hiện có nhờđưa vào các kết quả nghiên cứu khoa học tiên tiến Sản phẩm công nghệ cao là sảnphẩm được tạo ra nhờ áp dụng công nghệ cao thông qua quá trình thiết kế hoặc sản xuấtsản phẩm Đây là những sản phẩm luôn được đổi mới, cấu trúc khá phức tạp, sử dụng ítnăng lượng và ít tài nguyên Các nhà đầu tư Hoa Kỳ rất quan tâm tới công nghệ cao vàđây thực sự là thế mạnh của họ,vì thế khu Công nghệ cao Láng- Hoà Lạc của Hà Tây làđiểm đầu tư họ quan tâm nhiều nhất Để thu hút FDI từ Hoa Kỳ nhiều và hiệu quả hơnnữa, Hà Tây cần phát huy các thế mạnh của khu Công nghệ cao này, bên cạnh việc xâydựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao và nguồn nhân lực công nghệ cao một cách đồng
bộ, trong thời gian tới cần tập trung đầu tư phát triển ba lĩnh vực then chốt chính
Về lĩnh vực Công nghệ sinh học
Trang 24Khuyến khích Hoa Kỳ đầu tư vào ngành ứng dụng công nghệ sinh học vàonhững mặt hàng đang có thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam như lúa, gạo, cà phê, hạtđiều, thanh long, thuỷ hải sản… phải được chú trọng đẩy mạnh Dư lượng thuốc khángsinh và các loại vacxin trong sản phẩm phải được kiểm soát, không ảnh hưởng đến sứckhoẻ của người và động vật; tạo ra được những chế phẩm sinh học bảo về cây trồng,vật nuôi ở qui mô vừa và nhỏ Công nghệ sinh học phải hỗ trợ cho việc chế biến phục
vụ sản xuất hàng hoá tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, bảo đảm đầy đủ các chế phẩm
y tế dự phòng như vacxin, thuốc kháng sinh, sinh phẩm chẩn đoán, đảm bảo kiểm soát
an toàn về sinh thực phẩm Bên cạnh đó là việc thành lập cơ sở dữ liệu về gene quốc gia
và mạng liên kết hợp tác xây dựng và sử dụng cơ sở dữ liệu này Đây là thế mạnh củaKCNC Láng- Hoà Lạc trong thu hút FDI vào Hà Tây
Về công nghệ tự động hoá
Cần khuyến khích Hoa Kỳ đầu tư vào các ngành cho phép đưa nhanh những ứngdụng công nghệ thiết kế và chế tạo với sự trợ giúp của máy tính trong ngành sản xuấtphục vụ xuất khẩu Ứng dụng công nghệ tự động hoá tích hợp toàn diện cho quá trìnhsản xuất của doanh nghiệp Phổ cập công nghệ điều khiển số bằng máy tính CNC trongcác lĩnh vực máy móc cho các hệ thống gia công chế tạo, máy công cụ phục vụ nhu cầusản xuất trong nước và xuất khẩu Ứng dụng rộng rãi công nghệ tự động hoá đo lường
và xử lý thông tin phục vụ các ngành sản xuất, dự báo thời tiết và thiên tai, bảo vệ môitrường
Cần khuyến khích Hoa Kỳ đầu tư vào các ngành Sử dụng robot trong nhữngcông đoạn sản xuất không an toàn cho con người, trong môi trường độc hại hay một sốdây chuyền công nghiệp, quốc phòng, an ninh Đẩy mạnh ứng dụng tự động hoá trongcông nghiệp đóng tàu, lắp ráp ô tô, chế tạo máy chính xác và thiết bị cho năng lượnggió Đây là lĩnh vực đặc biệt mạnh của Hoa Kỳ, nên coi là lĩnh vực ưu tiên thu hút FDI
số 1 vào Hoà Lạc
Về công nghệ vật liệu
Khuyến khích Hoa Kỳ đầu tư nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả một số vật liệu
có khă năng chế tạo trong nước Đó là một số loại thép hợp kim chất lượng cao, các hợpkim có tính năng tổng hợp và hợp kim nhôm, vật liệu composit sử dụng nền kim loại sửdụng trong kỹ thuật điện, điện tử và y- sinh; vật liệu polime và composit trong các
Trang 25ngành giao thông vận tải, nông nghiệp, thuỷ sản và quốc phòng; vật liệu polimecomposit sử dụng cho kỹ thuật điện và điện tử trong điều kiện môi trương khắc nghiệt;vật liệu dùng trong y học để thay thế một số bộ phận trong cơ thể người và điều tiếtsinh lý, điều tiết tăng trưởng… Lĩnh vực này là điểm mà Hà Tây cần quan tâm để tránhbài học bỏ khu công nghệ cao Hoà Lạc để đến thành phố Hồ Chí Minh của Intel
Ba lĩnh vực trên rất cần được đầu tư nghiên cứu và ứng dụng tích cực nhằmnâng cao chất lượng công nghệ cao của Hà Tây, đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển,thu hút FDI của Hoa Kỳ
Về cơ sở hạ tầng của KCNC
Cơ sở hạ tầng phục vụ KCNC quyết định các nhà đầu tư trong đó có Hoa Kỳ cóthể hoạt động hiệu quả hay không Để phát triển cơ sở hạ tầng của KCNC Hoà Lạc đápứng được yêu cầu của Hoa Kỳ cần xem xét một số vấn đề sau:
Cần được làm rõ thêm về mối tương quan giữa quy hoạch KCNC Hòa Lạc vớichuỗi đô thị Sơn Tây- Hòa Lạc- Xuân Mai- Miếu Môn (chuỗi đô thị này phát triển dọctheo quốc lộ 21A nên còn gọi là “Hành lang 21”, với mục tiêu chuỗi đô thị này sẽ là cácthành phố vệ tinh của Hà Nội, quy mô 1 triệu dân) Hòa Lạc nằm trong vùng khô cằn,vài chục năm trước còn là khu cỏ tranh và là nơi cư trú của động vật hoang dã Nguồnnước ngầm ở vùng này không đủ cung cấp cho lượng lớn dân cư, càng không đủ đểphục vụ cho nhu cầu phát triển công nghiệp Theo dự kiến quy hoạch Hành lang 21,nước sông Đà sẽ được đưa theo đường dẫn, tới tháp phân phối trên đỉnh núi Mốc Songmột biện pháp quan trọng có thể làm ngay là tạo nguồn nước tự nhiên tại chỗ, cụ thể làtrồng rừng Có thể đề nghị Chính phủ cho kế hoạch ưu tiên trong Chương trình 5 triệu
ha rừng, Đại học Lâm nghiệp tại Xuân Mai cũng có thể đóng góp phần quan trọng cho
kế hoạch trồng rừng này Và nếu rừng phát triển thì nguồn nước ngầm sẽ gia tăng, lớpphủ thực vật dày lên cũng sẽ tác động đến cảnh quan khí hậu vùng Hòa Lạc, hồ Tân Xãcũng sẽ không bị khô cằn như ngày nay có thể các dự án ở phục vụ KCNC
Trong việc phân các khu chức năng, cần đặc biệt cần cẩn trọng khi tách biệt khunghiên cứu phát triển và khu giáo dục và đào tạo KCNC Hòa Lạc có thể và cần phải trởthành một hình mẫu về sự thống nhất giữa nghiên cứu và đào tạo Điều chỉnh về quy
mô các phân khu chức năng là một điểm nhấn trong điều chỉnh quy hoạch Tuy nhiêncần chỉ rõ khả năng thu hút đầu tư, năng lực quản lý, “đầu ra” của các phân khu này
Trang 26Cần tránh nguy cơ từ chỗ không giải phóng được mặt bằng để xây dựng sang tình trạnggiải phóng được mặt bằng lớn lại để bỏ trống Trên cơ sở nghiên cứu và tập hợp ý kiến
từ các Bộ, ngành, Hà Tây nên đề nghị Chính phủ cho xúc tiến hoàn thành 2 tuyếnđường trọng yếu Hòa Lạc đi Nội Bài và Hòa Lạc đi Hải Phòng; phục hồi và nâng cấp 2sân bay Hòa Lạc và Miếu Môn; tập trung xây dựng một thành phố nhỏ nhưng hiện đại,kiến trúc đẹp gần trung tâm KCNC Hòa Lạc, quy mô đủ để gây niềm tin cho các nhàđầu tư Hoa Kỳ ngay từ lần đầu tiên đến Hòa Lạc
Tóm lại nên tập trung làm 6 việc sau:
Thứ nhất, giải phóng mặt bằng, dự kiến đến quý II năm 2009, phải giảiphóng xong diện tích 800 ha trong giai đoạn 1 của dự án ở Hoà Lạc
Thứ hai, điều chỉnh lại quy hoạch chung, vì quy hoạch trước đây đãkhông còn phù hợp do nhiều thông số đã thay đổi
Nên đề nghị Thủ tướng cho tổ chức JICA của Nhật Bản tiếp tục quyhoạch và khoảng trung tuần tháng 4/2008 JICA sẽ bắt tay vào việc Việc này sẽ hoàn tấtvào cuối năm 2008
Thứ ba, làm quy hoạch chi tiết 800 ha của giai đoạn 1, bao gồm các khucông nghiệp, công viên phần mềm, đô thị, dịch vụ, nghiên cứu triển khai, các trường đạihọc…
Thứ tư, là đẩy mạnh xây dựng hạ tầng bằng nguồn ngân sách của Nhànước, tập trung vào hạ tầng các khu công nghiệp, khu phần mềm để có thể kêu gọi đầu
tư và triển khai ngay các dự án
Thứ năm, kêu gọi xúc tiến đầu tư
Thứ sáu, tổ chức lại bộ máy và lề lối làm việc của Ban quản lý, tạo điềukiện cho cơ chế hành chính một cửa phát huy hiệu quả trong việc thu hút đầu tư từ Hoa
Kỳ cũng như các đối tác khác
Đây là 6 nhiệm vụ chính mà tỉnh Hà Tây cần đẩy mạnh để thu hút FDI củaHoa Kỳ vào địa bàn tỉnh một cách có hiệu quả trong thời gian tới
3.3.1.2 Tạo đà thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp khác
Hà Tây nằm liền kề Thủ đô Hà Nội, nơi có các trục đường giao thông quan trọngcủa Quốc gia nối liền với các tỉnh, thành Vì vậy, việc quy hoạch phát triển các KCN là
Trang 27giải pháp thu hút FDI của Hoa Kỳ có hiệu quả Hà Tây nên ban hành các nghị quyếtnâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư, công tác cải cách hànhchính, ban hành cơ chế “một cửa” quy định rõ trình tự thủ tục, quy trình tiếp nhận dự
án, quy định cơ quan tiếp nhận, giải quyết và thẩm định với mục tiêu nhanh, thời gianrút ngắn đã tạo điều kiện cho việc triển khai xây dựng các KCN, đáp ứng nhu cầu củacác nhà đầu tư lớn đang có nguyện vọng đến với Hà Tây Theo quy hoạch định hướngphát triển các KCN đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, toàn tỉnh sẽ triển khai xâydựng 1 Khu công nghệ cao Hòa Lạc, 11 KCN, bao gồm các KCN: Thạch Thất- QuốcOai (Thạch Thất và Quốc Oai), Phụng Hiệp, Bắc Thường Tín (Thường Tín), Phú Nghĩa(Chương Mỹ), KCN Bắc Phú Cát… Ban Quản lý các KCN tỉnh tập trung chỉ đạo đểhoàn thành các công trình xây dựng hạ tầng bên ngoài KCN tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp lưu thông, sản xuất, kinh doanh thuận lợi
Phối hợp với các huyện, thành phố rà soát lại quy hoạch phát triển mạng lướiđiện phục vụ sản xuất CN- TTCN Thành lập thêm một số câu lạc bộ doanh nghiệp,hiệp hội, liên kết các cụm làng nghề để từ đó nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhậpnền kinh tế toàn cầu Lựa chọn các sản phẩm có lợi thế so sánh để xác định sản phẩmmũi nhọn, có tỷ trọng lớn để ưu tiên phát triển Chú trọng đầu tư vào các ngành có thếmạnh ở các làng nghề Đồng thời, tập trung tuyên truyền các cơ chế, chính sách ưu đãicủa tỉnh, động viên các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đầu tư chiều sâu, đổi mới trangthiết bị, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất
3.3.2 Quy hoạch và hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng phục vụ đầu tư
Về công tác giải phóng mặt bằng
Đẩy nhanh tiến độ GPMB của các dự án, tạo quỹ đất sạch để phục vụ thu hútđầu tư là giải pháp quan trọng Nếu giải quyết được vấn đề này các nhà đầu tư Hoa Kỳ
sẽ sẵn sàng đầu tư nhiều dự án vào Hà Tây Các giải pháp cụ thể là:
Tiếp tục đôn đốc triển khai các dự án xây dựng khu công nghiệp, cụm côngnghiệp, dự án công nghiệp dịch vụ đã được cấp giấy phép, chấp nhận đầu tư Phát triển
đô thị phải hiện đại Rà soát các dự án đô thị để bảo đảm đúng QH, khớp nối hạ tầngvới các khu dân cư liền kề và bảo vệ tốt môi trường Không triển khai các dự án “Nhàvườn sinh thái” trên đất canh tác hai lúa Tăng cường quản lý sử dụng đất đai, sử dụng
có hiệu quả và tiết kiệm đất, đặc biệt là đất trồng lúa theo đúng QH và kế hoạch sử
Trang 28dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt để bảo đảm ổn định đời sống của nhân dântrong vùng GPMB.
Tập trung chỉ đạo hoàn thành công tác GPMB và đẩy mạnh việc xây dựng hạtầng kỹ thuật đồng bộ đối với các cụm công nghiệp như: CCN Phùng Xá, CCN thị trấnPhùng, CCN Quất Động, CCN Nam Phú Nghĩa, CCN Thanh Oai… để tiếp nhận các dự
án đầu tư Đối với khu công nghiệp Bắc Phú Cát, phải sớm hoàn thành việc kiểm đếm,đền bù giải phóng mặt bằng gần được 200 ha Các vấn đề bức xúc trong GPMB nên đặcbiệt quan tâm, linh hoạt vận dụng mọi quy định của pháp luật tạo điều kiện cho cả DN
và người dân có phương án giải phóng mặt bằng phù hợp nhất Nông dân bị mất đấtnông nghiệp được tạo điều kiện đất dịch vụ để ổn định cuộc sống Lãnh đạo tỉnh, các
Sở, ban, ngành và địa phương nên thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc với DN để tháo gỡnhững khó khăn bức xúc Bên cạnh đó, Hà Tây cũng nên chú trọng nâng cao chất lượng
cơ sở hạ tầng để thu hút nhà đầu tư như nâng cấp, sửa sang các đường liên huyện, liên
xã
Về chính sách GPMB, nên phát huy những chính sách cụ thể như: hỗ trợ đào tạonghề, tạo việc làm cho các đối tượng có đất bị thu hồi, đặc biệt với những hộ mất đấtnông nghiệp nhiều sẽ được Nhà nước cấp một diện tích đất nhất định để các hộ dân tổchức sản xuất, làm dịch vụ (tối đa là 50m2) Cụ thể sau khi hình thành các cụm, điểmcông nghiệp, chính quyền sẽ đền bù GPMB, đầu tư cơ sở hạ tầng và mời các nhà đầu tưvào đầu tư Hoặc cách thứ hai, sẽ có các nhà đầu tư hạ tầng trước, sau đó các nhà đầu tưvào sau Với cách này, tỉnh sẽ hỗ trợ lãi suất cho nhà đầu tư trong quá trình GPMB, xâydựng hạ tầng Cả hai cách này đều hướng đến mục tiêu, các doanh nghiệp đến đầu tưphải được thuê mặt bằng “sạch” và không phải lo nghĩ việc GPMB
Về hỗ trợ đầu tư
Khi tiến hành đầu tư vào khu công nghiệp, các nhà đầu tư phải được cung cấpthông tin đầy đủ về các dịch vụ tư vấn pháp lý, tư vấn đầu tư thiết kế, thi công xây lắpnhà xưởng và giới thiệu đối tác liên doanh, tiêu thụ sản phẩm, hướng dẫn, hỗ trợ nhàđầu tư thực hiện các thủ tục cần thiết theo yêu cầu của các cơ quan hữu quan như Giấychứng nhận đầu tư, thành lập doanh nghiệp, giấy phép xây dựng Đội ngũ cán bộ xúctiến đầu tư phải cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư trong quá trình