1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LIÊN TỪ THÌ TRONG NGÔN NGỮ HỘI THOẠISBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT

55 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 463,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ, Ở đề tài này,chúng tôi tập trung nghiên cứu “Liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại Khảo sátqua tác phẩm “SBC là săn bắt chu

Trang 1

LIÊN TỪ THÌ TRONG NGÔN NGỮ HỘI THOẠI

SBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT

Người viết: Trần Lê Minh Trang Đại học khoa học Huế, 2017

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 1

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: Các VẤN ĐỀ LÝ LUẬN chung 5

1.1 Khái lược về liên từ trong tiếng Việt 5

1.1.1 Khái niệm liên từ tiếng Việt 5

1.1.2 Phân biệt liên từ với các loại hư từ khác trong tiếng Việt 5

1.2 Liên từ “thì” 6

1.2.1 Liên từ “thì” theo quan niệm ngữ pháp truyền thống 7

1.2.2 Liên từ “thì” theo quan niệm ngữ pháp chức năng (Theo quan điểm của GS Cao Xuân Hạo) 8

1.3 Khái lược về tác phẩm và hội thoại trong tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái 12

1.3.1 Tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” 12

1.3.2 Hội thoại trong tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái 14

Chương 2: 17

KHẢO SÁT LIÊN TỪ “THÌ” TRONG NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TÁC PHẨM “SBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT” 17

CỦA HỒ ANH THÁI 17

2.1 Về tần suất xuất hiện của liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái 17

2.2 Thống kê, phân loại các trường hợp sử dụng liên từ “thì” theo đặc điểm ngữ pháp trong ngôn ngữ hội thoại qua tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái 19

Trang 2

2.3 Thống kê, phân loại các trường hợp sử dụng liên từ “thì” theo đặc điểm ngữ nghĩa trong ngôn ngữ hội thoại tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

24

CHƯƠNG 3 28

ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA LIÊN TỪ “THÌ” TRONG NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TÁC PHẨM “SBS LÀ SĂN BẮT CHUỘT” 28

3.1 Đặc điểm ngữ pháp của liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái 28

3.1.1 Các trường hợp xuất hiện của liên từ “thì” 32

3.1.2 Vị trí xuất hiện của liên từ “thì” trong ngôn ngữ đối thoại 33

3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái 35

3.2.1 Ý nghĩa đối chiếu (còn thì ; thì… thì) 36

3.2.2 Ý nghĩa thời gian 36

3.2.3 Ý nghĩa điều kiện - kết quả hay nhượng bộ (Nếu… thì ; Hễ… thì ; Giá… thì…; Ví… thì…) 37

KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 42

PHỤ LỤC 44

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử nghiên cứu tiếng Việt, liên từ chiếm một vai trò rất quan trọng.Mặc dù không trực tiếp tham gia vào bộ phận nòng cốt câu nhưng liên từ lại gópphần bổ sung và làm rõ nghĩa cho các bộ phận khác Xuyên suốt tiến trình pháttriển ngôn ngữ, liên từ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứucác phân ngành ngôn ngữ học, mà phải kể đến ở đây là hướng nghiên cứu theo ngữpháp chức năng Tuy nhiên, vấn đề liên từ vẫn chưa được các tác giả chú ý lý giảimột cách trọn vẹn Việc nghiên cứu liên từ tiếng Việt cho đến nay vẫn còn nhiềuđiểm bất đồng

Trên bình diện ngữ pháp, liên từ đã được nghiên cứu khá kỹ, chúng thườngđược xếp vào nhóm từ là công cụ ngữ pháp, có thể được dùng để nối kết các từ, cácngữ, các câu, và các đoạn văn Nhưng trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng thìnhiều vấn đề về liên từ vẫn chưa được tập trung nghiên cứu Trong ý nghĩa củanhiều liên từ, ngoài cái lõi quan hệ lôgic, còn có những nội dung tình thái đánh giákhiến cho chúng không chỉ là phương tiện nối kết đơn thuần hình thức

Liên từ “thì” là một trong số những liên từ cốt lõi trong quá trình phát triểnngữ pháp chức năng Với hiện thân là ranh giới phân định đề-thuyết, liên từ “thì”lại càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của tiếng Việt nói riêng vàngôn ngữ nói chung Việc nghiên cứu liên từ “thì” chỉ mới dừng ở việc nghiên cứutrong các thể loại như ca dao, dân ca, tục ngữ,… mà chưa được nghiên cứu trongcác tác phẩm văn học cụ thể

Nhận thức được tầm quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ, Ở đề tài này,chúng tôi tập trung nghiên cứu “Liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại (Khảo sátqua tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái), nhằm bổ sung một cáinhìn mới đối với liên từ trong tiếng Việt và đặc biệt là vai trò của liên từ “thì” trongnghiên cứu ngôn ngữ học

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

2.1 Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Điều kiện xã hội mới sau 1975 cộng với sự thức tỉnh sâu sắc của ý thức cánhân người sáng tác đem đến cho văn học dân tộc một bước phát triển quan trọng,đặc biệt ở mảng văn xuôi – lĩnh vực chiếm địa vị thống trị trên văn đàn đương đại

Sự phát triển của văn xuôi Việt Nam sau 1986 đã tạo ra nhiều gương mặt mới,nhiều hiện tượng mới lạ Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn chiếm đượcnhiều thiện cảm của công chúng Bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn cũng đem lạidanh tiếng rực rỡ cho nhà văn này Với truyện ngắn, Hồ Anh Thái đã bộc lộ cáchnhìn mới về cuộc sống và con người hiện đại, những trăn trở, suy tư của nhà văn vềthân phận người trong những khoảnh khắc, tình huống khôn lường Ông là nhà văn

Trang 4

không phụ thuộc gì văn chương tả thực hay văn chương lãng mạn mà các tên tuổilớn như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Thạch Lam… đã tạo nênđầu thế kỷ XX Có thể nói, ông là người chuẩn bị tương đối đầy đủ về mặt văn hóa,trong đó có cả những giá trị văn chương (không chỉ văn chương nước ta mà cả vănchương của nhiều nước trên thế giới) đã trở thành văn hóa Hồ Anh Thái là nhà văncủa cuộc sống đang cuồn cuộn trước mắt Ông khám phá những vỉa, những tầngcủa nó và viết về những vấn đề của nó Lúc mới cầm bút viết văn Hồ Anh Thái đãvậy Sau này, có dịp sống trong thực tế cuộc sống Ấn Độ và thấu hiểu nền văn hóacủa đất nước này, ông cũng như vậy.

Khía cạnh ngôn ngữ hội thoại của Hồ Anh Thái đã được rất nhiều nhà nghiên

cứu đề cập đến Lê Quang Toản trong bài viết Che giấu sự cô đơn, đã có nhiều

nhận xét khá thú vị: “Có lẽ cái ông tác giả tinh quái kia đang nấp đâu đó trongtruyện để vừa dẫn dắt nhân vật vừa chằm chằm quan sát độc giả” Nguyễn Đăng

Điệp trong bài viết: Hồ Anh Thái - người mê chơi cấu trúc cho rằng, chính quan

niệm coi cuộc đời như trăm ngàn mảnh vỡ đã tạo nên tính đa cấu trúc trong các tácphẩm của ông Cấu trúc ngôn ngữ của Hồ Anh Thái cũng không bằng phẳng mà

“lổn nhổn” một cách cố ý Anh Chi cho rằng văn chương trong các tập Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười, Sắp đặt và diễn là thứ văn chương trào lộng sâu sắc.

Sự đa dạng trong phong cách, giọng điệu là cái “tạng” và cũng là thế mạnh của nhàvăn này Nhà văn Lê Minh Khuê cũng nhận xét: “Cách hành văn trong sáng, mỗicâu đều chứa đựng những tình tiết mới mẻ và tràn đầy chi tiết vừa xác thực vừa ẩn

dụ cả tập truyện thoát ra một phong cách mới mẻ, cốt truyện hay cộng với cáchdựng truyện độc đáo, ngôn ngữ truyện ngắn giản dị nên đã tạo ra sức lôi cuốn

mạnh mẽ” và gọi đó là “một vẻ đẹp cổ điển” Về tập Tự sự 265 ngày, Vân Long trong bài viết Một giọng văn khác đã nhận xét: “Ở tập truyện ngắn này, nhà văn

hình thành một giọng văn hoàn toàn khác thời kỳ đầu: trào lộng, châm biếm hómhỉnh và sắc sảo những câu truyện, những thói tật đáng cười trong xã hội”, “nhiều

chỗ phải bật cười thành tiếng như đọc Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, truyện ngắn

Nguyễn Công Hoan hay Aziz Nesin của Thổ Nhĩ Kỳ” Đánh giá về nghệ thuật xâydựng nhân vật trong tập truyện, nhà văn Vũ Bão đưa ra nhận định: “Anh không vẽtruyền thần mà dùng ngòi bút sắc sảo dựng những chân dung công chức với đầy đủmảng sáng tối” Nguyễn Chí Hoan cho rằng: “Một điều dễ nhận thấy là hầu hết các

nhân vật trong những truyện của Tự sự 265 ngày đều mang một cái tên thậm xưng chẳng hạn, truyện Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu và Bóng Rổ mang tên cả bốn

nhân vật mà rốt cục chẳng ai có tên” Trong một bài viết khác, nhà văn Lê MinhKhuê đã phát hiện ra cái duyên kể chuyện cũng như sự làm việc nghiêm túc của Hồ

Anh Thái trong tập Tự sự 265 ngày: “Tập truyện Tự sự 265 ngày là một phong

cách như trình bày sự hóm hỉnh, có duyên, cười vào thói hư tật xấu thời hiện đạicủa người Việt, và những trang viết là sự nhào nặn tiếng Việt, trân trọng tiếng Việt.Đối với tác giả, một dấu phẩy cũng đáng để nhà văn phải trăn trở” Lê Hồng Lâm

thì nhận thấy sự chuyển biến rất rõ rệt về giọng điệu của Tự sự 265 ngày so với

những tác phẩm trước đó, tác giả cho rằng: “Hồ Anh Thái rất dụng công để tạo ragiọng điệu mới Câu cú đã vượt qua cấu trúc ngữ pháp thông thường, những dấu

phẩy, dấu chấm được đặt vào vị trí mới một cách sáng tạo” Đọc tập truyện Bốn lối

Trang 5

vào nhà cười, các ý kiến gần như thống nhất và đều cho rằng: giọng điệu hài hước đang trở thành căn tính viết của Hồ Anh Thái và nó rất nhất quán với Tự sự 265 ngày Khi được phỏng vấn, Hồ Anh Thái cũng xác nhận: “Tôi thích nhại giọng thị

dân, đúng hơn là giọng tiểu thị dân bởi vì hầu như người ta đang bê nguyên lốisống kiểu thị dân và quê mùa vào đô thị Đáo để, chua chát, ác khẩu, kiểu tiểu thịdân đang trở thành giọng điệu lấn át”

2.2 Lịch sử nghiên cứu liên từ “thì” trong tiếng Việt

Những năm gần đây, khi mà nghĩa học đi sâu vào tìm hiểu nội dung biểu đạtcủa các đơn vị từ vựng và các đơn vị cú pháp, đặc biệt là nghĩa của hư từ, còn dụnghọc tỏ ra là một địa hạt đầy hiệu quả trong việc giải thích các hiện tượng ngôn ngữtrong hoạt động tương tác ngôn từ, thì các nhà nghiên cứu mới chú ý nhiều đếnkhía cạnh ngữ nghĩa ngữ pháp và ngữ nghĩa ngữ dụng của liên từ Nhưng nhìnchung, đó chỉ là những nghiên cứu riêng lẻ chưa bao quát Có thể kể đến những

nghiên cứu sau: Trong Giáo trình Việt Ngữ (1962), Hoàng Tuệ đưa ra mô hình Nếu

–M1 + Thì – M2, cho nếu và thì là những từ công cụ có tác dụng cụ thể hóa mốiquan hệ giữa M1 và M2 Ở trang sau, tác giả nói thêm: Thì là một tín hiệu mở đầucho M2 Về ngữ âm, “thì” giúp cho sự thể hiện ngữ điệu, (…) Về mặt hình thức thì

có thể có những nhận xét như sau: không bắt buộc phải dùng “thì”… Trương Văn

Chình và Nguyễn Hiến Lê viết trong Khảo luận ngữ pháp Việt Nam (1963): “Trợ

từ thì để phân tích bổ từ với ý chính Hai cú chỉ có quan hệ sai đẳng về ý tứ, mà cútrên diễn tả ý giả thiết hay điều kiện của cú sau, ta cũng dùng trợ từ để phân cáchhai cú”; “Lô-gich và sắc thái liên từ tiếng Việt (về các liên từ và, hay, hoặc, nếu …

thì…)” (1976); Nguyễn Kim Thản trong cuốn Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt

(1977) cho rằng “Thì biểu thị kết quả, nối liền đoạn câu chỉ kết quả với đoạn câuchỉ điều kiện (giả thiết)” Ngoài ra, ông còn nhắc đến thì với tư cách là một liên từ

ở bộ phận thứ hai của câu điều kiện Trong Hư từ trong tiếng Việt hiện đại (1983)

Nguyễn Anh Quế cũng nhận xét là: “Thì nối hai yếu tố mà yếu tố sau là kết quả tấtyếu xảy ra do yếu tố trước gây nên Xét về mặt ý nghĩa, trước yếu tố đầu (vế điềukiện) có thể thêm hễ, nếu và lúc đó câu có sự tương ứng điều kiện - kết quả” Ôngcũng nhắc lại đến thì với tư cách là liên từ hai sau các liên từ một như nếu, hễ, giá;

“Ngữ nghĩa các từ hư: định hướng nghĩa của từ” (1984), “Ngữ nghĩa các từ hư:nghĩa của cặp từ” (1984), “Phương thức liên kết của từ nối” (1985); Hoàng Trọng

Phiến trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1990) cho rằng khi nối liền hai vế để tạo

thành tổng thể câu, có thể dùng hay không dùng từ nối; và trong những từ nối

“thường dùng”, thì không được liệt kê Trong khi đánh khá nhiều trang bàn về câu

điều kiện - hệ quả, tác giả Hồ Lê (Ngữ pháp tiếng Việt 1992) cũng luôn ghép thì đi

sóng đôi với nếu, hễ, dù… tạo thành các cặp nếu… thì, hễ… thì, giá… mà… thì…

và không phân tích riêng vai trò của thì Liên từ “thì” cũng được nghiên cứu kỹ

trong các tác phẩm: Lôgích và hàm ý trong câu trỏ quan hệ nhân quả (1990), Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm - ngữ pháp - ngữ nghĩa của Cao Xuân Hạo (1998), Lôgích và tiếng Việt (1999), Ngữ dụng học (1999), tập 1, Nguyễn Đức Dân Ngữ nghĩa - ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: ý nghĩa đánh giá của các hư từ (1991), Ngữ nghĩa - ngữ dụng của hư từ: siêu ngôn ngữ và hư từ tiếng Việt (1992) của Lê Đông Nghĩa ngữ dụng của cặp liên từ lôgic nếu… thì… (1999), Phạm Văn Tình Tiếng

Trang 6

Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991) của Cao Xuân Hạo Đại cương ngôn ngữ học (2001), tập 2 (Ngữ dụng học), Đỗ Hữu Châu Logic - ngôn ngữ học (2003), Hoàng Phê, Nỗi oan Thì, Là, Mà của Nguyễn Đức Dân (2011); hay trong cácnghiên cứu của Lê Thị Minh Hằng, Dư Ngọc Ngân, Phạm Hùng Việt, Phạm VănTình,…

3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài Liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại (Khảo sát qua tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái) là ngôn ngữ hội thoại trong tác phẩm SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái.

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung tìm hiểu những vấn đề sau:

- Tần suất xuất hiện của liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại tác phẩm

“SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

- Các trường hợp sử dụng liên từ “thì” theo đặc điểm ngữ pháp trong ngônngữ hội thoại qua tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

- Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoạitác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để thực hiện luận văn này chúng tôi đã sử dụng phương pháp miêu tả vớinhững thủ pháp sau:

- Các thủ pháp phân loại và hệ thống hóa: chúng tôi thống kê tất cả các từ thì

có trong tiểu thuyết “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái và phân chia theo cácnhóm ý nghĩa

- Thủ pháp xã hội học: để nghiên cứu sự phân bố của liên từ “thì” mang nétđặc trưng trong ngôn ngữ hội thoại qua tiểu thuyết “SBC là săn bắt chuột” của HồAnh Thái

- Thủ pháp phân tích ngôn cảnh: để nghiên cứu môi trường của diễn ngôn,nhằm tìm ra thời điểm mà ở đó người ta sử dụng ngôn ngữ và xác định ý nghĩa ngônngữ Mà ở đề tài này tập trung chú ý tới môi trường xuất hiện của liên từ “thì”

- Thủ pháp trường nghĩa: nhằm xác định mối quan hệ ngữ nghĩa giữa liên từ

“thì” với ngôn cảnh trong tác phẩm mà tác giả sử dụng Từ đó xác định được phongcách của tác giả

- Thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp: để phân tích cấu tạo từ và ngữ khi kếthợp với liên từ “thì”

6 Bố cục

Ngoài phần mở đầu, tài liệu thảm khảo, bài khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Các vấn đề lý luận chung

Chương 2: Khảo sát về liên từ “thì” trong ngôn ngữ đối thoại tác phẩm “SBC

là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

Chương 3: Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa liên từ “thì” trong ngôn ngữ hộithoại tác phẩm “SBS là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Khái lược về liên từ trong tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm liên từ tiếng Việt

Trên thế giới, những vấn đề từ loại nói chung và liên từ nói riêng đã được đềcập từ một số triết gia và một số trường phái triết học, ngữ văn học thời Cổ đại HyLạp

Aristotle, một triết gia Hy Lạp vào thế kỷ IV trước Công nguyên, đã xác định

từ nối (sindesmos), trong đó có liên từ là một bộ phận của những đơn vị trần thuậtbằng ngôn ngữ bên cạnh các yếu tố khác như yếu tố âm tiết, danh từ (ónóma), động

từ (réma), từ trỏ (arthran)… Trường phái triết học và ngữ văn học Alexandria HyLạp (thế kỷ II, III trước Công nguyên) cũng có nhiều đóng góp về việc phân định từloại của từ tiếng Hy Lạp Dionysius Thrax, một nhà ngữ pháp học thuộc trường phái

này, trong công trình Ngữ pháp tiếng Hy Lạp, đã phân từ tiếng Hy Lạp ra thành tám

từ loại, trong đó có liên từ Theo Nguyễn Kim Thản, liên từ là “từ nối liền các tưtưởng theo một trật tự nhất định và chỉ ra sự ngắt đoạn trong sự biểu thị tư tưởng,

“từ loại liên kết văn bản và chêm vào các khoảng trống trong khi giải thích nó” ỞViệt Nam, giới Việt ngữ học có nêu khái niệm về liên từ trong những công trình

nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt: theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học,

NXB Giáo dục: “Liên từ là hư từ có chức năng cú pháp để nối các thực từ với nhauhoặc để liên kết các câu, các thành phần cùng loại của câu cũng như các vế của câughép” Hay theo Nguyễn Văn Thành: “Liên từ là những từ dùng để liên kết các từcùng vai trò cú pháp trong câu đơn, các mệnh đề (hay các vế câu) trong câu phức vàliên kết các câu hay các đoạn văn với nhau, nhằm diễn đạt những ý nghĩa ngữ phápnhư: liên kết, chống đối, tường giải, điều kiện, thực thi, nguyên nhân, kết quả,v.v…”

Tóm lại, liên từ là những từ có chức năng liên kết các từ ngữ có cùng vai trò

cú pháp trong câu hoặc liên kết các thành phần câu đồng chức, các vế câu, các câu,các đoạn văn, qua đó liên từ thể hiện những chức năng ngữ nghĩa nhất định Chứcnăng liên kết của liên từ được thể hiện trong phạm vi rất rộng, có liên quan đếnnhiều đơn vị ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau như từ, ngữ, câu, đoạn văn, vănbản

1.1.2 Phân biệt liên từ với các loại hư từ khác trong tiếng Việt

Trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểmtruyền thống, khi phân chia từ ra các từ loại thì bước đầu tiên các nhà ngữ pháp phân

ra thực từ và hư từ Hầu hết các nhà ngữ pháp đều thừa nhận thực từ có ý nghĩa chânthực, còn hư từ thì không có ý nghĩa từ vựng chân thật mà chỉ làm công cụ ngữ pháp

để biểu hiện các quan hệ ngữ pháp khác nhau Về nghĩa: hư từ là những từ có “nghĩa

Trang 8

hư”, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với sự vật, hiện tượng Ví dụ:rất, với, thì, mà.

Khi xem xét hư từ trong tiếng Việt, các nhà ngữ pháp còn bộc lộ nhiều quanđiểm, nhiều kiến giải khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Và cho đến nay vấn đềnhận diện hư từ vẫn chưa được thống nhất Theo Hoàng Trọng Phiến: “Hư từ là mộtlớp từ làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp ngữ nghĩa khác nhau giữacác thực từ Hư từ không có ý nghĩa từ vựng” Lê Cận, Phan Thiều cho rằng: “Hư từ

là những từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa quan hệ trong nội bộ ngôn ngữ”,…

Những đặc điểm ngữ pháp của liên từ:

1 Hư từ cùng với thực từ cấu tạo ngữ, trong đó các thực từ được bổ sungcác nghĩa ngữ pháp Ví dụ: nghĩa thời gian (xe đã chạy); nghĩa mức độ (lúa rất tốt)

2 Hư từ biểu thị quan hệ cú pháp Ví dụ: quan hệ liên hợp (lúa mùa và lúachiêm đều rất tốt); quan hệ hạn định (lúa của hợp tác xã rất tốt)

Hầu hết các hư từ trong tiếng Việt có nguồn gốc từ thực từ Trong những cấutrúc nhất định, trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định, những thực từ này bị hưhóa dần ý nghĩa từ vựng chân thật để trở thành một từ công cụ nhằm biểu hiện ýnghĩa ngữ pháp hoặc ý nghĩa quan hệ nào đó Theo Hoàng Huy Lập “… Hoàn toànkhông nên coi hư từ là những từ có ý nghĩa ngữ pháp đơn thuần, nghĩa là hoàn toànmất ý nghĩa từ vựng Rõ ràng ở đây có vấn đề các chức năng khác nhau của một từloại, trong quá trình biến chuyển ngữ nghĩa từ thực đến hư của một từ Cho nên, trừmột số ít hư từ tạm coi là những hư từ thần túy, tức là những từ vốn xuất hiện từ đầunhư một công cụ ngữ pháp, còn nói chung những hư từ đều có một ý nghĩa từ vựngnhất định Có như vậy chúng ta mới phản ánh được diện mạo chung của hư từ, mới

có thể tiến hành mô tả những nét nghĩa mạnh, yếu khác nhau, từ nghĩa hiện đếnnghĩa ẩn của hư từ

Ranh giới giữa liên từ và các từ loại khác không phải lúc nào cũng được xáclập rõ ràng Do tính chất đơn lập không biến hình, tiếng Việt có hiện tượng cùng một

từ nhưng có khả năng giữ nhiều chức vụ cú pháp khác nhau Do vậy, việc vạch ranhgiới giữa chức năng liên từ và các chức năng cú pháp khác nhau của hư từ, nhìnchung, không phải dễ dàng Các nhà nghiên cứu thường dựa vào những đặc điểm về

ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa từ vựng, khả năng đảm nhiệm các chức vụ cú pháp,nhược hóa về ngữ âm, dựa vào tổ chức đoản ngữ và tổ chức câu để phân định hư từ

1.2 Liên từ “thì”

Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên, (2001) đã

định nghĩa:

Thì I k 1 (thường dùng kết hợp với nếu, hễ, giá, mà ở vế trước của câu) Từ

biểu thị điều sắp nêu ra là điều sẽ, có thể hoặc tất yếu xảy ra với giả thiết hay điều

kiện đã nói đến Nếu mưa thì ở nhà Nó mà biết thì sinh chuyện Bây giờ mới đi thì muộn mất Tham thì thâm (tng) 2 Từ dùng phối hợp với nếu ở vế trước của câu để

biểu thị quan hệ tương ứng giữa hai sự việc có thật, có việc này thì mặt khác cũng có

việc kia Nếu nó dại, thì em nó lại rất khôn 3 (thường dùng phối hợp với vừa ở vế

trước của câu) 4 Từ biểu thị điều sắp nói có tính chất thuyết minh cho điều vừa nêu

ra Có ba người con thì đều ở xa cả Công việc thì nhiều mà thời gian thì ít Của mình thì giữ bo bo, Của người thì thả cho bò nó ăn (cd.) 5 (kng) Từ biểu thị ý

Trang 9

nghĩa phủ định - mỉa mai đối với điều sắp nêu ra ở người đối thoại, dưới hình thứctựa như thừa nhận điều đó, đem so sánh với điều ngược lại mà người đối thoại vừa

nhận định ở một người khác, nhằm tỏ ý không đồng tình với người đối thoại Vâng, con tôi hư, còn con chị thì ngoan! Mày thì giỏi!

II tr (kng) Từ biểu thị nhấn mạnh về điều sắp nêu ra Thì ai chẳng biết vậy? Tôi thì tôi không ngại Thì cũng được chứ sao?

Liên từ “thì” thường được biết đến như là một hư từ, không có ý nghĩa từvựng mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa quan hệ trong nội bộ ngôn ngữ Ý nghĩangữ pháp là ý nghĩa quan hệ không phải bằng từng từ riêng biệt, mà bằng các yếu tốkhông độc lập, bổ sung cho bộ phận cơ bản của từ Nó còn là sự phản ánh kết quảcủa nhận thức và tư duy vào ngôn ngữ nhằm để tổ chức câu (và tổ chức những đơn

vị giao tiếp nói chung) Theo Đỗ Hữu Châu: “Một từ nào đó khi chưa tham gia vàokết cấu ngữ pháp thì chưa có loại ý nghĩa này, nhưng khi đã nằm trong một kết cấungữ pháp thì ngoài các ý nghĩa ngữ pháp khác nó có thêm ý nghĩa quan hệ” Ý nghĩaquan hệ là loại ý nghĩa thể hiện quan hệ của các từ với các từ khác, cũng có nghĩa làthể hiện vị trí và chức năng của từ ngữ trong các kết cấu ngữ pháp nên còn được gọi

là ý nghĩa cú pháp Một trong những phương tiện biểu hiện ý nghĩa quan hệ là hư từ

Hư từ biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp và làm dấu hiệu cho các quan hệ ngữ pháp củacác thực từ ở trong câu Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hóa hình thái nên vai tròcủa hư từ trong việc biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp và ý nghĩa quan hệ càng nổi rõ

Liên từ tiếng Việt là những từ không có ý nghĩa từ vựng, nhưng có ý nghĩangữ pháp nên liên từ có vai trò quan trọng nhất định trong việc tạo ra nội dung ýnghĩa của quan hệ ngữ pháp mà nó là phương tiện biểu hiện Như vậy, ý nghĩa ngữpháp của liên từ tiếng Việt chính là ý nghĩa quan hệ Ý nghĩa quan hệ của liên từtiếng Việt phong phú và đa dạng Các ý nghĩa ngữ pháp của liên từ “thì” trong tiếngViệt:

- Ý nghĩa thời gian: Ba năm nữa (thì) những người sinh năm 1990 sẽ ba mươi tuổi.

- Ý nghĩa đối chiếu: Tham thì thâm

- Ý nghĩa điều kiện - kết quả hay nhượng bộ:

+ Nếu trời không mưa thì tôi sẽ đi học.

+ Hễ trời mưa thì ở nhà.

+ Giá trời mà mưa thì tôi được ở nhà.

+ Ví anh ta học chăm thì đã đỗ đại học.

- Ý nghĩa mục đích: Để thi đỗ đại học thì anh ta phải học hành chăm chỉ.

1.2.1 Liên từ “thì” theo quan niệm ngữ pháp truyền thống

Trong nghiên cứu ngữ pháp truyền thống, “thì” được nói đến với hai ý nghĩa

từ loại là ý nghĩa quan hệ từ và ý nghĩa trợ từ

- Thứ nhất, “thì” mang ý nghĩa quan hệ từ, được coi là một liên từ kéo theo,

chuyên dùng trong quan hệ điều kiện (giả thiết) - hệ quả Vị trí của “thì” ở đâyđược đặt trong vế chỉ hệ quả, cùng với các liên từ khác (nếu, giá, mà, nếu mà, nếu

Trang 10

như, giá mà, giá như, miễn là, giả thử, giả sử, giả dụ, như, hễ,…) ở vế chỉ điều kiệnlàm thành những cặp ổn định trong quan hệ điều kiện (giả thiết) - hệ quả.

Khi vế sau của khuôn chỉ hệ quả được chuyển lên trước (trước vế chỉ điềukiện, giả thiết) thì liên từ “thì” sẽ bị xóa đi

Chẳng hạn:

Nếu anh không đi thì tôi cũng không đi.

Tôi cũng không đi nếu anh không đi.

- Thứ hai, “thì” mang ý nghĩa là một trợ từ dùng để nhấn mạnh “Thì” ở đây

không có ý nghĩa riêng của mình “Thì” chỉ có tác dụng nhấn mạnh hay đánh dấumột ranh giới nào đó vì có thể trút bỏ ra khỏi câu, và không gợi lên một kết từ tươngứng hay thay được bằng một kết từ tương ứng

Chẳng hạn:

- Trời hôm nay khi thì mưa, khi thì nắng.

- Nó thì hay ăn chơi lắm.

- Tôi thì xin chịu.

- Thì tôi đã bảo mà

- Học thì học cũng được, nhưng vẫn dốt đó thôi.

1.2.2 Liên từ “thì” theo quan niệm ngữ pháp chức năng (Theo quan điểm của GS Cao Xuân Hạo)

Theo GS Cao Xuân Hạo: hư từ (hiểu theo một nghĩa rất hẹp và rất ước địnhnào đó) chẳng phải là “rỗng nghĩa”, vì nó chỉ không có nghĩa sự vật mà thôi Cònngoài ra, trong nhiều ngữ đoạn, nếu không có sự tồn tại của nó, thì rất khó có thểphân định được ý nghĩa của những ngữ đoạn lớn Vì vậy, nó hay được gọi là tác tử,nghĩa là những từ mà chức năng là tác động vào những từ và ngữ trong câu làmcho những từ ngữ đó và cả câu biến nghĩa hay có thêm những nghĩa mà nó vốnkhông có”

Trong cuốn Tiếng Việt - mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa (2003),

GS Cao Xuân Hạo đã chỉ rõ: liên từ “thì” (cùng với là, mà) được xem là yếu tốphân định ranh giới đề - thuyết Đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích cúpháp

Cấu trúc đề - thuyết là đại diện của bình diện ngữ pháp chức năng Chứcnăng chính của cấu trúc này chính là truyền tải thông điệp (biểu thị một phán đoánhay nhận định) Thành phần nòng cốt trong cấu trúc này chính là đề và thuyết:

+ Phần đề: chỉ ra cái được nói đến trong câu Cái được nói đến thường là cái

đã biết trong quá trình diễn ra hoạt động giao tiếp giữa hai người Nó là cơ sở, làđiểm xuất phát cho hoạt động thông báo trong câu

+ Phần thuyết: chứa đựng nội dung nói về phần đề Do đó nó thường là phầnmang thông tin mới, là trọng tâm thông báo của câu Cũng vì thế, một câu có thểkhông cần có phần đề, nhưng phần thuyết thì bắt buộc phải có

Việc phân định ranh giới giữa đề và thuyết dựa trên năm tiêu chí: tiêu chí vềphương tiện, tiêu chí về ý nghĩa chức năng, tiêu chí về vị trí, tiêu chí về từ loại, tiêuchí về khả năng lược bỏ Trong đó tiêu chí về phương tiện là dấu hiệu rõ ràng nhất

Trang 11

giúp ta đánh dấu biên giới giữa phần đề và phần thuyết Ba chỉ tố đánh dấu sự phânchia đề - thuyết là THÌ, LÀ, MÀ.

Căn cứ để xác định cấu trúc đề - thuyết là dựa vào các tác tử THÌ, LÀ, MÀ:chỗ nào xen được các tác tử này thì chỗ đó là ranh giới phân chia đề - thuyết.Trong một câu nếu có cả động từ THÌ, MÀ hoặc LÀ, thì có lúc dựa vào từ THÌ, cólúc dựa vào LÀ, cũng có lúc dựa vào MÀ Ngoài ra trong nhiều trường hợp, “là” và

-Theo quan điểm của giáo sư Cao Xuân Hạo:

- Gạt ra ngoài tiêu chuẩn phân loại câu theo cấu trúc cú pháp hiện tượng cácđịnh ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ trong câu có sự thay đổi về cấu trúc từ ngữ thành tiểu

- Từ câu hai bậc trở lên, có thể gọi là câu nhiều bậc hoặc câu phức, nếu

muốn

Liên từ “thì” trong tiếng Việt xuất hiện bắt buộc ở những vị trí sau:

Trang 12

BẢNG TỔNG HỢP VỊ TRÍ BẮT BUỘC CÓ MẶT CỦA LIÊN TỪ “THÌ” TRONG TIẾNG VIỆT

khó khăn khi phân định Đ-T

Không làm không ăn./ Không làm thì

thần cho cuộc kháng chiến thì đối với Kiên, chiến

tranh với bộ mặt gớm guốc của nó, với sự trần trụi bất nhân nhất của nó sẽ chỉ đơn thuần có nghĩa là một thời buổi và một quãng đời bất kỳ ai đã phải trải qua, đều mãi mãi bị ám ảnh, mãi mãi mất khả năng sống bình thường, mãi mãi không thể tự tha thứ cho mình”.

4 Không bắt buộc để nhấn

mạnh phần Đề

Trời thì mưa lâm thâm…

5 Đứng đầu câu hoặc cuối câu

khi tinh lược phần Đề hoặc

bỏ lửng phần Thuyết

Thì chắc là mệt lắm.

Liên từ “thì” là một liên từ đặc biệt, đóng vai trò quan trọng trong nhiều cấu

trúc ngôn ngữ Trong cuốn Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991) của

Cao Xuân Hạo, ông đã chủ trương phân tích cú pháp bằng cách lấy “thì” làm tiêuchí phân đoạn câu Khi nào câu không được dùng để truyền đạt “thông báo gộp”,

nó đều chứa đựng hoặc có thể chứa đựng một chữ “thì” ở vị trí nhất định

Trang 13

BẢNG TỔNG HỢP VỀ VỊ TRÍ CỦA LIÊN TỪ “THÌ” TRONG CÂU

1 Thì được đặt hoặc

có thể đặt SAU

(nghĩa là ta có thể

thêm vào sau mà

không làm cho câu

sai ngữ pháp hoặc

làm thay đổi nghĩa

biểu hiện của nó)

những ngữ đoạn

đứng đầu câu (hay

gần sát vị trí đầu

câu, sau những yếu

tố liên kết câu với

văn bản hay những

yếu tố tình thái, )

a Những danh ngữ xác địnhchỉ sự vật được nói đến trongphần sau của câu, sự vật màđều được nói ra trong câu cóthể ứng dụng cho nó (nhiềukhi trong thế tương phản vớinhững sự vật);

Không phải chim thì

con gì?

2 b Những giới ngữ (những

danh ngữ có chuyển tố (giớitừ) đi trước), chỉ cái điềukiện thời gian, không gianhay cảnh huống trong đóđiều nói ra trong câu có hiệulực, có giá trị chân lý;

Tháng bảy thì nước

nhảy lên bờ.

những tiểu cú (những “cấutrúc chủ-vị”) chỉ cái sự tìnhtrong đó điều nói ra trongphần sau của câu có hiệu lực

ở phần đề ấy;

Hiểu thì tốt

b Một tiểu cú chỉ một sự tìnhđược nhận định là có giá trịchân lý trong khuôn khổ haytrong chừng mực có thể nóivề) sự vật được nêu ra ở phần

đi trước;

… cẩn thận không thì

mẹ cũng theo chân ông ấy luôn.

5 c Một danh ngữ hay giới

ngữ chỉ một sự vật đượcthống nhất hóa với sự vật

Thì chính trị đấy.

Trang 14

được biểu thị bằng danh ngữ

đi trước hoặc nêu rõ tínhcách của nó;

6 d Một cấu trúc định lượng

(lượng từ + danh ngữ) chỉmột tính chất (có liên quanđến số lượng) của sự vậtđược nêu ở phần đi trước

Thêm cả anh nữa thì là

ba người.

1.3 Khái lược về tác phẩm và hội thoại trong tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

1.3.1 Tác phẩm “SBC là săn bắt chuột”

SBC là săn bắt chuột (2011) là một trong số các tiểu thuyết nổi tiếng của Hồ

Anh Thái Tác phẩm này đã giúp Hồ Anh Thái đoạt giải thưởng (hạng mục vănxuôi) của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2012 Tiểu thuyết mở đầu bằng trận lụt kinhhoàng, kết thúc bằng trận hạn hán trên bãi cát sông Hồng Lấy bối cảnh là mộtthành phố lớn với mười một chương giữa mang nội dung chính xoay quanh chuyệntiêu diệt chuột

Toàn bộ nội dung của cuốn tiểu thuyết xoay quanh cuộc đấu giữa người vàchuột Hồ Anh Thái đã dùng thủ pháp tượng trưng để tạo hiệu ứng mạnh, làm mờnhòe ranh giới giữa người và vật, làm cho thế giới chuột trở nên sống động như thếgiới người, khiến ta có cảm giác, chuột cũng như người Chuột cũng có một thếgiới ngầm như con người, cũng giết chóc, dằn mặt, phân chia quyền lực, lãnh thổ.Một thế giới của tội ác, ghê gớm đến mức làm người ta có cảm giác bất an thường

trực Nhà cứ xây lên lại bị phá đổ Hai cô gái hóa điên Một cô suốt ngày gặm nhấm cắn chắt Một cô hễ mở mồm ra là chin chít, sợ mèo đến tái xanh tái xám Đôi cá La Hán trong cơn cuồng hứng vật đẻ và phối giống rồi bị giết chết… Hay

thế giới của yêu thương, hy sinh, khảng khái Đó là cuộc đối thoại yêu đương tronglồng sắt giữa Chuột Trùm và Chuột Phó tướng, hay là sự tuẫn tiết tập thể đàn chuột

theo thủ lĩnh, làm “cả một mảng sông như dòng nham thạch đỏ trôi về phía biển”…

Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đều là hình tượng điển hình cho những conngười điển hình trong xã hội Đại Gia là một tay buôn ma túy, quen biết và đi lạinhư người nhà với các ông Cốp Nhân vật này được xây dựng bởi nhiều thủ pháp,nghệ thuật trần thuật đa điểm nhìn, motif lời đồn, và chi tiết thích gái già trai trẻ.Giáo Sư được miêu tả vừa dâm vừa bạo ngược, chim to không lo chết đói Chândung biếm họa của Giáo Sư còn khủng khiếp hơn khi ông ta chết vì bị si đa do tìnhdục với hàng trăm phụ nữ Không kể là sinh viên, học viên cao học, nữ tiến sĩ mà

cả người phụ nữ xa lạ trong vườn chuối khi ông trên đường đi thỉnh giảng Theothang giá trị truyền thống, giáo sư là người đức độ, phẩm chất thanh cao, như câytùng cây bách, hiểu biết sâu rộng Nhưng trong tiểu thuyết này, Giáo Sư lại làngười vô đạo đức Phát ngôn sặc mùi háo danh, rỗng tuếch Hai đứa con trai của

Trang 15

Giáo Sư lại là tướng cướp Nòi nào giống ấy Bức chân dung biếm họa của Giáo Sưlột tả tận cùng sự đảo lộn mọi giá trị Bên cạnh chân dung Giáo Sư, Hồ Anh Tháicòn khắc họa chân dung Luật Sư Luật Sư thì thích tốc độ, tuổi thơ thích chơi xử

trảm búp bê, chặt đầu đem chôn Và “đặc biệt có ấn tượng với những đám tang, nghe nói đi đám tang ai là lòng bỗng rạo rực, ai rủ đi sinh nhật bạn bè, đi đám cưới cũng không hào hứng thế Nhưng nghe nói có người chết là linh hoạt hẳn, năng động hẳn, tâm lý phấn chấn hẳn” Chơi với những đám tang búp bê và trạng

thái tâm lý dạt dào hưng phấn khi chứng kiến đám tang là một kiểu nghịch dị rấtmới tạo nên bức tranh biếm họa về nhân vật Nếu Luật Sư thích đám tang, thì bứcchân dung nghịch dị của ông Cốp là thích ăn đất, môi tô đỏ trước khi diễn thuyếthay xuất hiện trước đám đông, còn Thư Ký có sở thích làm rào làm giậu, khônggiống tất cả trẻ nhỏ khác thích leo trèo Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Anh Thái đãkhông gọi tên nhân vật mình mà viết hoa: Chàng, Nàng, Cốp, Đại Gia, Thư Ký,Giáo Sư, Luật Sư, Tướng Bà, Chuột Quang, Chuột Trùm… Hiệu quả nghệ thuậtcủa mờ hóa là làm cho hình tượng trở nên huyền thoại và khái quát hơn Có biếtbao nhiêu người ngoài đời sẽ tìm thấy mình qua nhân vật Đông đúc lắm Hỗn loạnlắm Đồng thời, Hồ Anh Thái còn xây dựng nhân vật hồn ma chú bộ đội Hồn manày luôn sóng đôi với nhân vật Luật Sư - chủ nhân ngôi biệt thự đã bán để xây tòa

nhà cao tầng Hồn ma xuất hiện khắp nơi: “Có một anh bộ đội đến tất cả các công

ty, văn phòng đại diện, các hộ gia đình Triệu tập đi họp” Hồn ma là quá khứ tươi

đẹp ám ảnh những nhân vật thời hậu chiến Ta thấy chú bộ đội trở nên lạc lõng vớithời cuộc đảo điên này Trên mảnh đất mà ngày xưa trung đoàn chú hy sinh để bảo

vệ, hậu sinh các cháu đối xử tàn nhẫn mất hết tính người Chúng chỉ biết có tiền

“SBC là săn bắt chuột” ám ảnh chúng ta vì một thế giới chuột Chuột Trùm, dòngsông chuột, Chuột Quang… Chuột Trùm trả thù thế giới con người không bằngtruyền dịch hạch mà bằng cách làm cho con người mất hết trọng lượng Trôi lơ

lửng Chênh vênh Đây là một sáng tạo của Hồ Anh Thái Nếu Dịch hạch của

Albert Camus miêu tả bi kịch con người chống lại trận dịch hạch, thì ở đây Hồ AnhThái đặc tả bi kịch mất trọng lượng của con người Sự tha hóa của con người thậtkinh khủng Con người tham lam chiếm đoạt tất cả, tay Đại Gia đầu cơ đất, kinhdoanh trên lãnh địa của Chuột Trùm Một cuộc trả thù đã diễn ra giữa người -chuột Hồ Anh Thái khắc họa sự tha hóa của con người và sự đổ vỡ của những giátrị truyền thống

Ở “SBC là săn bắt chuột”, nghịch ngữ giọng nhại là một trong phương diệntạo nên sự hấp dẫn người đọc:

“Hà Nội mùa này, phố cũng như sông

Cái rét đầu đông, chân em thâm vì ngâm nước lạnh

Hoa sữa thôi rơi, em tôi bơi cả chiều trên phố

Đường Cổ Ngư xưa ngập tràn nước sông Hồng

Hà Nội mùa này chiều không có nắng

Phố vắng nước lên thành con sông

Quán cóc nước dâng ngập qua mông

Hồ Tây giờ không thấy bờ…”

Trang 16

Nhạc chế, thành ngữ chế, thơ chế, ngôn ngữ phố phường thân thuộc và bìnhdân của thời đương đại nhan nhản trong tác phẩm, góp phần tạo ra diễn ngôn mới,

mà linh hồn của nó là sự khai tử những khuôn sáo ngôn ngữ Điều đó cũng đồngnghĩa với sự thừa nhận cái nhìn tự do, bình đẳng Qua đó, hiện thực trở nên thựchơn, nghiệt ngã hơn Hà Nội không chỉ lãng mạn, đẹp, linh thiêng Hà Nội còn láonháo, lẫn lộn vàng thau Hà Nội như mê cung mà các nhân vật lạc lối trong cuộcmưu sinh bon chen, mua bán Vật chất lên ngôi và thiếu vắng những giá trị vĩnhcửu muôn đời Ai mua bằng, mua chức, mua danh, ai buôn bán hàng quốc cấm…Tất thảy đều có ở đây Nếu Vũ Trọng Phụng trong đám tang cụ cố Hồng tạo ra mộtkết hợp những yếu tố tưởng chừng không thể kết hợp được: cái chết, sự đau thương

và tiếng cười niềm vui hân hoan của những người thân đi đưa tiễn thì Hồ Anh Tháicũng đã vẽ một bức biếm họa đám tang mẹ của Luật Sư: “Đám ma to thật là to, ò e

í e ò Cán sự sáu bằng gỗ loại tốt Com lê đỏ phủ vải điều thêu chim công Đội kènthuê từ Sài Gòn ra Mẹ già như chuối chín cây Bọn hàng xóm xuyên tạc bài hát

Mẹ già như chuối chín cây Gió lay mẹ rụng lăn quay ra vườn” Một đám tanghoành tráng cũng là một đám tang không niềm thương xót Luật Sư đã dối gạt mẹmình để bán ngôi biệt thự, đã làm trái với ước nguyện của bà Cái chết của bà hóagiải được mọi xung đột giữa hai người Sự gian dối đó còn ở bức tranh biếm họabuổi triển lãm tranh về mẹ của Luật Sư Những bức tranh do Luật Sư vẽ, mẹ trongvườn xưa, nhà xưa Cõi người đã tận thế khi tình mẫu tử thiêng liêng được thaybằng công nghệ làm giàu một cách có văn hóa Với trái tim chưa từng dùng đến,Luật Sư là một chân dung biếm họa sâu sắc về sự tán tận lương tâm của con người

Hồ Anh Thái đã kiến tạo một hiện thực mà ở đó sự kết hợp những yếu tố không thểkết hợp cái xấu - cái đẹp, cái thiện và cái ác, cái thiêng liêng và cái thấp hèn, trangnghiêm và hài hước… thông qua hệ thống hình tượng nhân vật nghịch dị vàphương thức nghịch ngữ, giễu nhại Tất cả tạo nên bước phát triển về phương thứcphản ánh hiện thực, đó không chỉ là hiện thực của những gì được nói ra mà còn làhiện thực của những điều không thể nói ra Họ phản ánh những cái quái đản, kỳ dịnhưng lại rất hiện thực với đời sống con người

1.3.2 Hội thoại trong tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

Hội thoại là cách giao tiếp xảy ra khi có hai người nói trở lên trao đổi vớinhau một vấn đề gì đó, người này nói, người kia nghe và phản hồi trở lại bằng lờinói

Trong hội thoại, vai của người tham gia hội thoại rất linh hoạt, đa dạng tùytheo quan hệ tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp mà chọn từ ngữ xưng hô cho phùhợp Khi tham gia hội thoại, người tham gia hội thoại cần có sự hiểu biết về ngườiđối thoại Điều đó không chỉ xác định được vai của mình trong khi xưng hô mà cònthể hiện bản thân mình là người có văn hóa, có trình độ, lịch thiệp, tôn trọng ngườinghe, qua đó góp phần đạt hiệu quả cao trong giao tiếp Trong một cuộc thoại, nếuchỉ có hai bên trao đáp gọi là song thoại, nếu có ba bên trở lên giao tiếp với nhaugọi là đa thoại

“SBC là săn bắt chuột” là tác phẩm kể về hành trình tìm và diệt Chuột Trùm,thủ phạm đã gây nên căn bệnh lơ lửng, mất trọng lượng của 7 nhân vật: Chàng, cô

Trang 17

Báo, chú Thơ, ông Cốp, Luật sư, Thư ký, Giáo sư Người thì trực tiếp, người thìgián tiếp bị ánh mắt của Chuột Trùm làm họ trở nên lơ lửng Theo những mạch dẫn

từ Chuột Trùm, người viết kể về đời sống, tính cách, những chuyện “thâm cung, bísử” của từng người, qua đó, bức tranh cuộc sống hiện lên đầy đủ với buôn đất, làmsân golf, phá biệt thự cổ, ma túy, đại gia - chân dài, nữ doanh nhân ham việc quênlấy chồng…

Ngay từ chương mở đầu Hồ Anh Thái đã dùng tiếng lóng đường phố, giễunhại dân gian và cười cợt chữ nghĩa cùng lúc để khái lược về tác phẩm của mình.Lối viết này được mở rộng một cách khoái hoạt ở các chương kế tiếp, tạo nên néthài rất riêng của cuốn tiểu thuyết Trong đó, tất cả câu hát, lời nói, tiếng lóng, khẩuhiệu, quảng cáo, bình dân hay bác học, ngoài đường hay trong nhà, trên báo đài,truyền hình hay internet, mới hay cũ khi chúng đứng cạnh nhau, pha trộn vào nhau,chúng bỗng hấp háy, cười cợt, mỉa mai, chế giễu, chúng bỗng có một sắc thái mới.Ông cũng chủ trương sử dụng các câu thành ngữ, tục ngữ, ví von, hay mới toanhnhư một câu cửa miệng thời nay để kết hợp nhuần nhuyễn trong ngôn ngữ tiểuthuyết, khiến cho văn phong của tác phẩm phong phú, giàu hình ảnh, thấm đẫm hơithở và khẩu ngữ dân gian Nội hàm của cách kết hợp ấy được sử dụng như nhữngchữ cái để tạo thành từ, thành câu, thành đoạn văn Chúng nối vào nhau, nương vàonhau, cùng ùa vào một tình huống cụ thể, co kéo, xô đẩy, dệt thành bức tranh ghépnhiều màu nhiều tầng

Hồ Anh Thái đã sử dụng phong cách kể chuyện độc đáo của mình để diễn tảmột cách chân thật nhất ngôn ngữ của người và chuột Ngôn ngữ người kể chuyện

và nhân vật bị trộn lẫn, khó tách biệt Kể cả những dòng độc thoại nội tâm củanhân vật cũng hòa vào ngôn ngữ trần thuật, tạo nên sự phức hợp của các hệ lời vàtính phức điệu cho lời văn Tác giả không cần tách bạch lời nhân vật và lời củangười kể chuyện, mà đặt liền nhau, xen kẽ lời kể - tả - bình luận khiến mạch kểchuyện trở nên nhanh hơn, gợi cảm giác về nhịp sống đô thị hiện đại gấp gáp vàthực dụng, xô bồ, ngổn ngang

Ngôn ngữ nghệ thuật có cả sự trong sáng ngọt ngào, có được lối mô tả sắcnét, có khi câu văn thâm trầm, thương cảm sâu xa, có nhiều hình ảnh tượng trưng,

và siêu thực, nhiều khi trào lộng chua cay, đôi khi hài hước mà buồn thấm thía…Ông đã sử dụng một cách hài hòa câu chữ để pha tiếng cười cho tác phẩm nhưtiếng lóng đường phố, nhạc chế, thành ngữ chế, thơ chế Lối viết này tạo nên néthài rất riêng của cuốn tiểu thuyết

“Ngôn ngữ bình dân gọi có ết có hát”.

“Công thức bình dân đúc kết triệu chứng: người nở hoa, miệng thì la, đít thì

ấy, đôi khi là những trầm tư triết học kín đáo, và có thể cả giọt nước mắt rơi thầm.Ngay cả tên chương của tiểu thuyết cũng được Hồ Anh Thái đặt tên cho rất đong

Trang 18

đưa, rất lả lướt, trêu người: Ai quá lứa lỡ thì đừng đọc chương này - Ai sợ chuột đừng đọc chương này - Ai báo chí văn thơ đừng đọc chương này - Ai giàu xổi đừng đọc chương này - Ai rào giậu đừng đọc chương này - Ai ăn đất đừng đọc chương này - Ai ngại chiến trận đừng đọc chương này - Ai làm luật đừng đọc chương này - Ai quá sốt ruột đừng đọc chương này - Ai giáo sư đừng đọc chương này - Ai sợ bãi tha ma đừng đọc chương này.

Ở “SBC là săn bắt chuột”, Hồ Anh Thái đã xây dựng những chân dung biếm

họa tuyệt vời, nó là sản phẩm của sự kết hợp những yếu tố, những hiện tượng lệch

pha cao độ Điều này khiến cho SBC là săn bắt chuột là một trong những cuốn tiểu

thuyết hay nhất của Hồ Anh Thái

Trang 19

CHƯƠNG 2:

KHẢO SÁT LIÊN TỪ “THÌ” TRONG NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TÁC

PHẨM “SBC LÀ SĂN BẮT CHUỘT”

CỦA HỒ ANH THÁI

Trong tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái, ngôn ngữ người kểchuyện và nhân vật bị trộn lẫn, khó tách biệt Kể cả những dòng độc thoại nội tâmcủa nhân vật cũng hòa vào ngôn ngữ trần thuật, tạo nên sự phức hợp của các hệ lời

và tính phức điệu cho lời văn Tác giả không cần tách bạch lời nhân vật và lời củangười kể chuyện, mà đặt liền nhau, xen kẽ lời kể - tả - bình luận Do vậy, đây cũng

là một điểm khó khăn cho chúng tôi khi đi thống kê, phân tích

Ở chương này, chúng tôi phân tích chủ yếu từ góc nhìn định lượng, để có cáinhìn rõ nét về tần số của liên từ “thì” xét về đặc điểm ngữ pháp Dựa vào hình thứcvăn bản, chúng tôi đã xác định được 54 lần xuất hiện của liên từ “thì” trong hội thoạigiữa các nhân vật, phân tích tần suất xuất hiện của liên từ “thì” trong các cuộc thoại

và lượt lời cùng tần suất biểu hiện chức năng và ý nghĩa ngữ pháp của liên từ “thì”trong các cuộc thoại

2.1 Về tần suất xuất hiện của liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

Trong tác phẩm “SBC là săn bắt chuột”, ngôn ngữ hội thoại sử dụng chủ yếu

là qua lời kể chuyện của tác giả, chứ không có dấu hiệu phân tách (dấu gạch đầudòng) như các tác phẩm khác Qua dấu hiệu hình thức văn bản vẫn có thể tìm rađược các phát ngôn tương tác qua lại giữa các nhân vật trong tác phẩm Khảo sáttrên các lượt lời và cuộc hội thoại, chúng tôi nhận thấy được rằng sự xuất hiện củaliên từ “thì” trong các lượt lời và cuộc hội thoại chiếm một tần suất khá đáng kể Sựxuất hiện của “thì” vừa biểu hiện những đặc điểm về ngữ pháp, vừa thể hiện đượcvai trò chức năng ở trong câu

Trong quá trình lọc các đoạn thoại trong tác phẩm, chúng tôi đã thống kê được

số lượng các cuộc thoại và lượt lời như sau:

- Tổng số cuộc thoại: 131 cuộc thoại

- Tổng số lượt lời: 332 lượt lời (211 lượt lời nam/ 121 lượt lời nữ)

- Số cuộc thoại xuất hiện liên từ “thì”: 38 cuộc thoại

- Số lượt lời xuất hiện liên từ “thì”: 48 lượt lời (27 lượt lời nam/ 21 lượt lờinữ)

- Số lần xuất hiện của liên từ “thì”: 54 lần

Tần suất của liên từ “thì” trong hội thoại như sau:

Trang 20

Bảng 2.1 Thống kê tần suất xuất hiện của liên từ “thì” trong hội thoại tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

Cuộc thoại có

“thì”

Lượt lời có

“thì”

“Thì”/

cuộc thoại

“Thì”/ lượtlời

“Thì”/

Cuộc thoại có

“thì”

“Thì”/ Lượt lời

có “thì”

Trong “SBC là săn bắt chuột”, số lượng liên từ “thì” xuất hiện với tần suấtkhá đáng kể trong các lượt lời và cuộc hội thoại Hiếm có một liên từ nào lại có thểxuất hiện với một tần suất đáng kể như thế ở trong câu Trong 332 lượt lời hội thoại,tần số xuất hiện của liên từ “thì” là 16,27%, còn tần số xuất hiện của liên từ “thì”trong cuộc thoại lại càng cao hơn, chiếm tới 41,22% Khả năng xuất hiện của liên từ

“thì” trong câu thực sự rất đáng quan tâm Ngay trong các lượt lời, liên từ “thì”ngoài các lượt lời không có từ “thì” trong tác phẩm, thì có nhiều lượt, “thì” xuất hiện

nhiều hơn hai lần (Thôi bà ơi, bây giờ không còn là thời ngăn sông cấm chợ, cái gì

Sài Gòn có thì Hà Nội có, cái gì Hà Nội có thì Sài gòn có, có cái gì không có nào, không chứ gì, không tức là ở đâu cũng có, cái gì cũng có, thế thì không cần phải

nhờ vả tiện thể phải không, đúng không…) Liên từ “thì” trong một tác phẩm cụ thể

chưa được nhà nghiên cứu nào nghiên cứu rõ, nhưng đi sâu vào nghiên cứu đề tài,chúng tôi càng nhìn thấy rõ được sự xuất hiện dày đặc của nó trong tác phẩm Hầunhư tất cả các nhân vật trong tác phẩm đều có sử dụng liên từ “thì” trong phát ngôncủa mình Trong 211 lượt thoại của nhân vật nam, thì có đến 27 lượt thoại có chứaliên từ “thì” Còn đối với 121 lượt thoại của nhân vật nữ, thì có 21 lượt thoại có chứaliên từ “thì” Mức độ sử dụng lượt lời của nam và nữ là không như nhau, khôngđồng đều cho từng phát ngôn Tỉ lệ sử dụng liên từ “thì” của nam cao hơn so với tỉ lệ

sử dụng liên từ “thì” của nữ Một phần cũng là vì số lượng nhân vật nữ trong tácphẩm cũng ít hơn so với nhân vật nam Do vậy, khả năng dùng liên từ “thì” trongcác phát ngôn của nam rõ ràng hơn các phát ngôn của nữ rất nhiều

Xét trong từng phát ngôn và từng cuộc thoại, liên từ “thì” lại chiếm một tỉ lệkhông hề ít Tần suất xuất hiện của liên từ “thì” trong các lượt lời có “thì” chiếmđến 112,5%, và chiếm tới con số 142,1% trong các cuộc thoại có “thì” Liên từ

“thì” có mặt trong từng lượt lời và trong từng cuộc thoại với một tần suất khá đáng

kể Không phải ngẫu nhiên mà lại có một liên từ chiếm vị trí đáng kể như thế trongcác phát ngôn Theo quan niệm từ xưa đến nay, liên từ vốn chỉ là một từ mangnghĩa rỗng, đưa chúng vào trong câu chẳng qua chỉ là để bổ sung nghĩa cho các bộphận khác mà thôi Liên từ “thì” tự thân nó không mang nghĩa nhưng lại có tần sốxuất hiện dày đặc đến vậy trong phát ngôn đã phần nào chứng tỏ được khả năngđặc biệt của nó trong việc giúp ích cho quá trình giao tiếp

Trang 21

Khảo sát trong 332 lượt thoại, có đến 48 lượt thoại có chứa liên từ “thì”,chiếm 14,46% tổng số lượt thoại Liên từ “thì” xuất hiện nhiều trong các lượt lờicủa nhân vật nam Cụ thể là trong 48 lượt lời có chứa liên từ “thì”, thì có đến 27lượt lời của nam mà chỉ có 21 lượt lời của nữ Số lượng lượt lời của nam gấp đến1,28 lần lượt lời của nữ Phải chăng việc sử dụng liên từ “thì” vào trong phát ngôncủa nam lại được dùng thường xuyên hơn của nữ, khi mà lượt lời của nữ thườngmang tính dài dòng hơn tính chất ngắn gọn và tiết kiệm của nam.

Số lượng liên từ “thì” xuất hiện trong ngôn ngữ hội thoại của tác phẩmchiếm một tỉ lệ không hề nhỏ đã cho thấy được khả năng đặc biệt của liên từ “thì”

về việc có mặt thường xuyên trong các lượt lời hội thoại Sự có mặt thường xuyên

đó của “thì” phải chăng là đánh dấu cho vai trò của nó trong việc cấu tạo các phátngôn và là yếu tố giúp cho quá trình giao tiếp trở nên thuận lợi

Đi sâu vào thực tế từng phát ngôn, tỉ lệ xuất hiện của “thì” lại càng chiếm tỉ

lệ cao hơn trong các cuộc thoại và các lượt lời Nó không thể hiện được rõ vai tròcủa mình trong cả một chỉnh thể lớn, mà sẽ phát huy dần vai trò trong các phátngôn cụ thể Đây là điểm đặc biệt mà trước đây các nhà nghiên cứu chưa tập trungchú ý đến Bởi tự thân một liên từ vốn không mang nghĩa mà chỉ mang bên mìnhnhững đặc điểm về ngữ pháp, ý nghĩa quan hệ ở nội bộ ngôn ngữ

Với tần suất xuất hiện như vậy của liên từ “thì”, chúng tôi càng thêm khẳngđịnh được tầm quan trọng của nó khi xuất hiện trong các phát ngôn Sự có mặt củaliên từ “thì” đôi khi chỉ mang danh nghĩa của liên từ, nhưng đi sâu thực tế vào cácphát ngôn trong ngôn ngữ hội thoại, sẽ thấy được khả năng đặc biệt quan trọng của

nó như thế nào Qua nghiên cứu trong một tác phẩm văn học cụ thể, chúng tôi nhậnthấy rất rõ tần suất xuất hiện dày đặc đó của liên từ “thì”

2.2 Thống kê, phân loại các trường hợp sử dụng liên từ “thì” theo đặc điểm ngữ pháp trong ngôn ngữ hội thoại qua tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

Dựa trên những lý luận về vai trò của liên từ “thì” theo quan điểm của GSCao Xuân Hạo, chúng tôi đã thống kê tất cả số lượng của liên từ “thì” khi kết hợpvới các từ hoặc ngữ xuất hiện trong ngôn ngữ đối thoại qua tác phẩm “SBC là sănbắt chuột” của Hồ Anh Thái Sự kết hợp này của liên từ “thì” thể hiện những đặcđiểm về mặt ngữ pháp Dưới góc nhìn định lượng khi nghiên cứu tác phẩm, chúngtôi đã lập ra bảng thống kê các trường hợp xuất hiện của liên từ “thì” có trong ngônngữ hội thoại của tác phẩm:

Trang 22

Bảng 2.2: Thống kê các trường hợp xuất hiện của liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại tác phẩm “SBC là săn bắt chuột”

STT CÁC TRƯỜNG HỢP XUẤT HIỆN CỦALIÊN TỪ “THÌ” SỐ LƯỢNG(LẦN) TỈ LỆ (%)

1 Khi có thể lẫn lộn cấu trúc Đ-T với một

Vị trí của liên từ “thì” trong tiếng Việt vốn được biết đến là một tác tử đánhdấu ranh giới Đề - Thuyết Do vậy ở mỗi vị trí mà liên từ “thì” xuất hiện hầu nhưđều đảm nhận nhiệm vụ là phân định ranh giới giữa Đề và Thuyết Bởi vậy mà liên

từ “thì” gần như bắt buộc xuất hiện trong câu để tránh khó khăn khi phân định Đ-T.Đây cũng là trường hợp chiếm tỉ lệ cao nhất trong tất cả các trường hợp xuất hiệncủa liên từ “thì” trong phát ngôn Việc nó vừa làm nhiệm vụ phân định đề - thuyết,vừa kết hợp với việc nó xuất hiện khi Đề quá dài hoặc việc nó tránh hiểu câu theonghĩa khác… đã thể hiện được khả năng đặc biệt của liên từ “thì” trong việc bổsung ý nghĩa cho câu một cách trọn vẹn Ở các vị trí đặc biệt khác, mặc dù mức độxuất hiện của liên từ “thì” không cao nhưng cũng đủ để đóng góp vào việc hoànthiện cấu trúc

Vị trí bắt buộc của liên từ “thì” khi có thể lẫn lộn cấu trúc Đ-T với một cấutrúc khác, một nghĩa khác tuy chỉ xuất hiện với tần suất rất thấp, nhưng vẫn thểhiện được các ý nghĩa khác đi kèm Việc liên từ “thì” giúp phân định ranh giới đề -thuyết đã một phần giúp cho cấu trúc Đ-T không lẫn lộn với một cấu trúc khác,một nghĩa khác Vai trò đó của liên từ “thì” đã đi kèm theo những vai trò khác,khiến cho việc liên từ “thì” xuất hiện trong câu như một thực tế khách quan Bởivậy mà khi nghiên cứu ngữ pháp chức năng, liên từ “thì” mới được nghiên cứu mộtcách kỹ lưỡng và đầy đủ đến như vậy

Trang 23

Theo như khảo sát, trong nhiều trường hợp, liên từ “thì” thể hiện sự phứchợp các chức năng Mỗi một trường hợp, ngoài thể hiện chức năng nổi bật thì liên

từ “thì” còn thể hiện những chức năng khác, bổ sung cho việc phân tích cú pháp.Trong trường hợp liên từ “thì” xuất hiện trong phát ngôn: gần như bắt buộc đểtránh khó khăn khi phân định Đ-T, thì nó còn có khả năng làm rõ đề trong trường

hợp Đề quá dài, phức tạp Chẳng hạn: “Thôi bà ơi, bây giờ không còn là thời ngăn

sông cấm chợ, cái gì Sài Gòn có thì Hà Nội có, cái gì Hà Nội có thì Sài gòn có, có

cái gì không có nào, không chứ gì, không tức là ở đâu cũng có, cái gì cũng có, thế

thì không cần phải nhờ vả tiện thể phải không, đúng không” (trang 203), khả năng

này xuất hiện đến 11 lần, chiếm 20,37% tổng số trường hợp xuất hiện của liên từ

“thì” trong tác phẩm, giúp cho việc xác định Đề được dễ dàng hơn Hay là trong

một số trường hợp, liên từ “thì” vừa đóng vai trò là ranh giới phân định Đề Thuyết, vừa giúp xác định khi Đề quá dài, quá phức tạp, lại còn tránh khả năng cóthể lẫn lộn cấu trúc Đ-T với một cấu trúc khác, một nghĩa khác, khả năng này cũngxuất hiện với tần suất đến 10 lần, chiếm 18,52% tổng số liên từ “thì” Việc phứchợp chức năng của liên từ “thì” biểu hiện vai trò quan trọng của “thì” trong cácphát ngôn Mà dù ở bất kỳ trường hợp nào, liên từ “thì” cũng đều mang lại nhữngđặc điểm giúp ích cho quá trình nghiên cứu ngôn ngữ

-Qua các trường hợp xuất hiện của liên từ “thì”, chúng ta càng có thể phântích rõ cú pháp câu theo quan điểm ngữ pháp học chức năng Sự hiện thân đó giúpcho quá trình phân định đề - thuyết ngày càng gần hơn với việc phân tích cú phápcâu, khi mà từ lâu cấu trúc chủ - vị mới là cấu trúc phân tích cú pháp phổ biến nhấttrong tiếng Việt

Liên từ “thì” không tự thân mang nghĩa mà nó là liên từ giúp nối các bộphận, các sự tình khác trong câu Sự kết hợp giữa “thì” và các yếu tố từ, ngữ tạonên một chỉnh thể cấu trúc hoàn thiện, vững chắc Làm tiền đề cho việc xây dựngmột văn bản hoàn chỉnh Theo những nghiên cứu của GS Cao Xuân Hạo, ông chorằng: khi nào câu không được dùng để truyền đạt “thông báo gộp”, nó đều có chứađựng hoặc có thể chứa đựng một chữ “thì” ở vị trí nhất định Liên từ “thì” có thểđặt hoặc có thể đặt SAU (hoặc TRƯỚC) các yếu tố từ, ngữ Để làm rõ các trườnghợp xuất hiện đó của liên từ “thì”, chúng tôi đã lọc tất cả những lượt lời có trongđoạn hội thoại chứa liên từ “thì”, để nhận biết các trường hợp xuất hiện của liên từ

“thì” trong tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

Trang 24

Bảng 2.3: Các trường hợp xuất hiện của liên từ “thì” (xét về vị trí xuất

hiện) trong tác phẩm “SBC là săn bắt chuột”

(LẦN)

TỈ LỆ (%)

hay “tính từ”) chỉ một quá trình hay một trạng thái của sự vật được nêu lên ở phần đề hoặc có hiệu lực trong khuôn khổ của sự vật hay hoàn cảnh được nêu lên ở phần đề ấy;

là có giá trị chân lý trong khuôn khổ (hay trong chừng mực

có thể nói về) sự vật được nêu

ra ở phần

đi trước;

Trang 25

trúc định lượng (lượng từ + danh ngữ) chỉ một tính chất (có liên quan đến

số lượng) của sự vật được nêu ở phần đi trước.

Sở dĩ có sự chênh lệch giữa tổng số giữa vị trí TRƯỚC VÀ SAU của liên từ

“thì” là bởi vì có nhiều trường hợp liên từ “thì” có thể tự mình đứng đầu câu, đó

là trong các trường hợp đề zero, liên từ “thì” đứng ở đây đóng vai trò là từ mở đầucho phát ngôn Nếu xét trong một chỉnh thể là cuộc hội thoại, thì liên từ “thì”đứng ở đầu câu thực ra là có liên hệ với phát ngôn hoặc sự kiện ở trước đó Chứnếu phát ngôn không có mối liên hệ nào, thì phát ngôn đó trở nên vô nghĩa

Có thể thấy, trong bảng thống kê vị trí của liên từ “thì”, việc liền trước hayliền sau một mệnh đề hoặc một tiểu cú là phổ biến hơn cả Chẳng hạn: về vị tríđặt TRƯỚC: số lượng liên từ “thì” đặt trước: một tiểu cú chỉ một sự tình đượcnhận định là có giá trị chân lý trong khuôn khổ (hay trong chừng mực có thể nóivề) sự vật được nêu ra ở phần đi trước có đến 29 liên từ; hay đặt trước: một ngữ

Trang 26

đoạn vị từ (“vị từ” hay “tính từ”) chỉ một quá trình hay một trạng thái của sự vậtđược nêu lên ở phần đề hoặc có hiệu lực trong khuôn khổ của sự vật hay hoàncảnh được nêu lên ở phần đề ấy có 21 liên từ Nhưng số lượng liên từ “thì” đặttrước: một danh ngữ hay giới ngữ chỉ một sự vật được thống nhất hóa với sự vậtđược biểu thị bằng danh ngữ đi trước hoặc nêu rõ tính cách của nó chỉ có 4 liêntừ; còn đặt trước một cấu trúc định lượng (lượng từ + danh ngữ) chỉ một tính chất(có liên quan đến số lượng) của sự vật được nêu ở phần đi trước thì lại không xuấthiện một từ nào Phải chăng, ảnh hưởng của đặc điểm ngôn ngữ không biến hìnhtiếng Việt đã chi phối khả năng đặt trước của liên từ “thì”, khi mà danh từ haygiới ngữ thường ít khi được đứng cuối câu, mà thường xuất hiện ở đầu câu, với tưcách là chủ thể của phát ngôn trong văn bản Do vậy khi thống kê về vị trí đứngtrước của liên từ “thì”, các danh ngữ, giới ngữ hay một vài cấu trúc định lượng lạitồn tại với tần suất xuất thấp như thế Còn các mệnh đề cụ thể hoặc các tiểu cútrong câu lại có thể kết hợp phía sau liên từ “thì” một cách dễ dàng với tần suấtcao như vậy.

Về vị trí đặt sau: số lượng liên từ “thì” được đặt hoặc có thể đặt SAU: Nhữngngữ đoạn vị từ hay những tiểu cú (những “cấu trúc chủ-vị”) chỉ cái sự tình trong đóđiều nói ra trong phần sau của câu có hiệu lực xuất hiện tới 20 lần, chiếm 39.2%;còn liên từ “thì” được đặt hoặc có thể đặt SAU: những giới ngữ (những danh ngữ

có chuyển tố (giới từ) đi trước), chỉ cái điều kiện thời gian, không gian hay cảnhhuống trong đó điều nói ra trong câu có hiệu lực, có giá trị chân lý có tới 26 liên từ,chiếm đến 51% số lượng liên từ “thì” đứng ở vị trí SAU Điều này cũng tương tựnhư việc liên từ “thì” đứng ở TRƯỚC, các từ và ngữ đi sau thường là các mệnh đềhoặc tiểu cú, chứ ít sự xuất hiện của các danh ngữ, giới ngữ Ở đây, những danhngữ xác định chỉ sự vật được nói đến trong phần sau của câu, sự vật mà đều đượcnói ra trong câu có thể ứng dụng cho nó (nhiều khi trong thế tương phản với những

sự vật) chỉ xuất hiện 5 lần, chiếm 9,8% (một tỉ lệ khá ít ỏi so với tỉ lệ ở các vị tríkhác)

Thực tế nghiên cứu trên cho thấy, liên từ “thì” thường được đặt hoặc có thểđược đặt liền TRƯỚC (hay SAU) các mệnh đề và tiểu cú, mà ít khi kết hợp với cácdanh ngữ, giới ngữ xác định Đây là điểm đặc biệt khiến cho vị trí của liên từ “thì”trong một tác phẩm văn học cụ thể khác hẳn so với các thể loại như ca dao, tụcngữ Cũng có thể một phần là do tính chất ngắn gọn, tiết kiệm trong ca dao, tụcngữ, nó đi ngược lại với khả năng phát triển câu mà không bị chi phối, ảnh hưởng

về độ dài trong ngôn ngữ hội thoại của tác phẩm văn học Tuy vậy, việc liên từ

“thì” xuất hiện trong các thể loại ấy, dù ở bất kỳ vị trí nào cũng đều mang lại một ýnghĩa nhất định cho ngôn ngữ

2.3 Thống kê, phân loại các trường hợp sử dụng liên từ “thì” theo đặc điểm ngữ nghĩa trong ngôn ngữ hội thoại tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” của Hồ Anh Thái

Liên từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng, mà chỉ có ý nghĩa ngữ phápnên liên từ có vai trò quan trọng nhất định trong việc tạo ra nội dung ý nghĩa củaquan hệ ngữ pháp mà nó là phương tiện biểu hiện Ý nghĩa ngữ pháp của liên từtiếng Việt chính là ý nghĩa quan hệ

Trang 27

Liên từ “thì” là liên từ dùng để liên kết các vế câu Ở đây là liên từ liên kếtcác vế câu có quan hệ phụ thuộc: hễ… thì; nếu… thì…; ví… thì…; giá mà… thì…Các cặp liên từ này có tác dụng làm cho mối quan hệ ngữ pháp giữa các vế câu đượcchặt chẽ và mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng được thể hiện rõ Trong câu khi chứacác liên từ loại này thì câu sẽ trở nên chặt chẽ, rõ ràng và không cho phép hiểu nhiềunghĩa khác nhau.

Chúng tôi đã thống kê các mối quan hệ ngữ nghĩa mà liên từ “thì” biểu hiệntrong tác phẩm qua bảng thống kê sau:

Bảng 2.4: Thống kê các ý nghĩa của liên từ “thì” biểu hiện trong tác phẩm

STT Ý NGHĨA CỦA LIÊN TỪ “THÌ” SỐ LƯỢNG TỈ LỆ (%)

1 Ý nghĩa đối chiếu (còn thì ; thì… thì) 17 31,48

sự tình kia Ý nghĩa đối chiếu của liên từ “thì” trong ngôn ngữ hội thoại phản ánhmột phần mô hình cấu trúc S1 thì S2, vốn là mô hình cấu trúc câu cơ bản của tiếngViệt Mà ngữ cảnh và sự tương hợp ngữ nghĩa giữa hai vế là hai yếu tố giúp cho

“thì” hoàn thành được khả năng đối chiếu của mình mà không cần đến yếu tố khác

Chẳng hạn trong cuộc hội thoại của tướng ông với tướng bà (trang 203): Thôi bà

ơi, bây giờ không còn là thời ngăn sông cấm chợ, cái gì Sài Gòn có thì Hà Nội có, cái gì Hà Nội có thì Sài gòn có, có cái gì không có nào, không chứ gì, không tức là

ở đâu cũng có, cái gì cũng có, thế thì không cần phải nhờ vả tiện thể phải không, đúng không (ở đây là sự đối chiếu giữa “Hà Nội” và “Sài Gòn”) Hay trong lượt

lời: Luật sư vẽ thì cũng như nhà văn bác sĩ vẽ Liên từ “thì” trong câu bây giờ trở

thành ranh giới để đối chiếu hai sự tình Luật sư vẽ với nhà văn bác sĩ vẽ, cho thấy

chỗ giống nhau và khác nhau mà biết được rõ hơn về đối tượng Liên từ “thì” giúpcho việc đối chiếu hai sự tình một cách rõ nét và dễ dàng hơn

Về ý nghĩa thời gian, liên từ “thì” dùng để biểu hiện ý nghĩa về thời giantrong ngôn ngữ đối thoại tác phẩm chiếm tỉ lệ ít, nhưng cũng đủ để thể hiện đượcvai trò của “thì” trong các phát ngôn Vốn dĩ liên từ là những từ không có khả năngmang nghĩa, mà trong ngôn ngữ hội thoại tác phẩm “SBC là săn bắt chuột” lại cóthể biểu hiện được ý nghĩa về thời gian đã cho thấy được khả năng đặc biệt của nókhi xuất hiện trong các phát ngôn Việc liên từ “thì” xuất hiện trong các phát ngônmang tính tất nhiên cho phù hợp với cú pháp câu và văn cảnh Những biểu hiện vềthời gian (ngày giờ, không gian, địa điểm,…) càng làm nổi bật lên được vai trò của

“thì” trong cấu tạo các phát ngôn và giúp ích cho quá trình giao tiếp, khi mà các

Ngày đăng: 11/09/2020, 13:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w