1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÁC CHUYÊN ĐỀ KÈM THEO DANH MỤC TÀI LIỆU ÔN THI THĂNG HẠNG VIÊNCHỨC TỪ CHUYÊN VIÊN LÊN CHUYÊN VIÊN CHÍNH

157 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 841,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI NIỆM HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Theo nghĩa rộng, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng để chỉ toàn bộ lĩnh vực chính trị củ

Trang 1

NỘI DUNG CÁC CHUYÊN ĐỀ KÈM THEO DANH MỤC TÀI LIỆU ÔN THI THĂNG HẠNG VIÊN CHỨC TỪ CHUYÊN VIÊN LÊN CHUYÊN VIÊN CHÍNH

Chuyên đề 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

I KHÁI NIỆM HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN

TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ

Theo nghĩa rộng, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng để chỉ toàn

bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống hoànchỉnh bao gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệchính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực chính trị

Theo nghĩa hẹp, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng để chỉ hệ

thống các cơ quan, tổ chức, cá nhânthực hiện các hoạt động mang tính chínhtrị trong xã hội gồm nhân dân, các tổ chức chính trị, các cơ quan nhà nước,các tổ chức chính trị - xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyềnlực chính trị Trong đó, nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị và là nềntảng của hệ thống chính trị

Trang 2

Trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, hệ thống chính trịhình thành và phát triển cùng với quá trình vận động của mâu thuẫn đốikháng giữa các giai cấp gắn với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và cáclực lượng tiến bộ chống lại chế độ xã hội đó, làm thay đổi các hệ thốngchính trị theo hướng tiến bộ, hoặc thủ tiêu và thay thế nó bằng một hệ thốngchính trị dân chủ, tiến bộ hơn.

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ thể thực sự của quyền lựcchính trị, tự mình định đoạt quyền chính trị của mình Điều căn bản nhất của

hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đảng cộng sản

Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên được Đảng ta sửdụng trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá

VI (tháng 3-1989) thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản” Hệthống chính trị đó bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Hệthống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản

lý, nhân dân làm chủ Đây không chỉ đơn giản là sự thay đổi tên gọi mà làmột bước đổi mới quan trọng trong tư duy chính trị của Đảng ta Hệ thốngchính trị xã hội chủ nghĩa là sự kế thừa và phát triển các thành tựu về tổ chức

và hoạt động của hệ thống chuyên chính vô sản trong các giai đoạn trước “đổimới”, đồng thời phản ánh một hiện thực mới về chính trị và dân chủ trongđiều kiện đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay

1.2 Vai trò của nhân dân trong việc thực hiện quyền lực chính trị

Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là lực lượng quyết định quá trìnhcải biến xã hội Vai trò quyết định của nhân dân thể hiện trên các mặt chủ yếusau:

- Nhân dân là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất và của cảitinh thần, góp phần quyết định vào sự tồn tại và phát triển của xã hội

- Nhân dân là chủ thể của mọi quá trình cải biến xã hội

Trang 3

- Lợi ích của nhân dân là động lực cơ bản của cách mạng xã hội, củanhững quá trình cải biến xã hội.

Trên phương diện quyền lực chính trị, nhân dân vừa là chủ thể, vừa làkhách thể của quyền lực chính trị Tương quan chủ thể, khách thể quyền lựcchính trị của nhân dân trong các xã hội cũng rất khác nhau

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, nhân dân (chủ yếu là người laođộng) chỉ là khách thể của quyền lực chính trị - quyền lực nhà nước Trong xãhội hiện đại, do sự phát triển dân chủ, vai trò chính trị của nhân dân tăng lên.Nhân dân không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của quyền lực chính trị

Sự tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị vừa với tư cách từng cánhân, vừa có tính nhóm cộng đồng, vừa thông qua những tổ chức, cơ quan mà

họ là những thành viên.Với nhiều phương thức khác nhau, nhân dân trực tiếphoặc gián tiếp tác động vào cơ cấu chính trị và cơ cấu quyền lực chính trị của

xã hội Nhân dân tham gia vào các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội và thông qua hoạt động của các

tổ chức này chi phối quyền lực nhà nước ở các mức độ khác nhau, nhằm bảođảm quyền và lợi ích của tổ chức, cộng đồng và bản thân Nhân dân tham giavào đời sống chính trị với nhiều hình thức như: thông qua hoạt động bầu cửđại biểu vào các cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động trưng cầu ý kiến cửtri vào những chính sách, quyết định của nhà nước, hoạt động kiểm tra, giámsát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước và cán bộ, côngchức, viên chức…

Hệ thống chính trị là một hệ thống các thiết chế và thể chế gắn liền vớiquyền lực chính trị của nhân dân và để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn donhân dân giao phó và uỷ quyền Như vậy, về thực chất hệ thống chính trịkhông phải là một hệ thống tổ chức có quyền lực tự thân, quyền lực của hệthống chính trị bắt nguồn từ quyền lực của nhân dân, phát sinh từ sự ủy quyềncủa nhân dân

Ở chế độ ta, nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử và chính họ

là chủ thể duy nhất, tối cao của quyền lực chính trị Do đó, toàn bộ hoạt độngcủa hệ thống chính trị phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của

Trang 4

nhân dân Sức mạnh của các tổ chức trong hệ thống chính trị là ở sự gắn bó mậtthiết với nhân dân Đồng thời trong một chính thể dân chủ, việc thực hiệnquyền lực chính trị đòi hỏi phải bảo đảm tính thống nhất của quyền lực đồngthời loại bỏ mọi nguy cơ độc quyền quyền lực từ bất kỳ một tổ chức hay lựclượng chính trị nào Vì vậy, việc thực hiện quyền lực chính trị luôn cần đến sựphân công, phối hợp giữa các tổ chức trong việc thực hiện quyền quyết địnhđường lối chính trị, quyền thi hành đường lối chính trị và quyền kiểm tra, giámsát đối với việc quyết định đường lối chính trị và thực thi đường lối chính trị.Điều này có ý nghĩa quan trọng bảo đảm cho quyền lực chính trị luôn phục vụlợi ích và ý chí của nhân dân, ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền, tha hoá quyền lựclàm phương hại đến quyền lực của nhân dân

Tất cả quyền lực chính trị đều thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiệnquyền lực của mình chủ yếu thông qua Nhà nước Nhà nước quản lý xã hộichủ yếu bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.Ngoài Nhà nước, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị thông qua tổ chứcĐảng, các tổ chức chính trị - xã hội và thông qua tư cách cá nhân công dân,

cử tri tham gia vào việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vào việc xây dựng vàhoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì lợi ích xã hội,lợi ích tổ chức và cá nhân Qua đó phấn đấu thực hiện một mục đích: dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

II BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

2.1 Các tổ chức trong hệ thống chính trị ở Việt Nam

Hệ thống chính trị Việt Nam ra đời từ Cách mạng tháng Tám năm 1945,sau khi lật đổ nền thống trị của thực dân, phong kiến, thiết lập Nhà nước Cộnghòa dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á Các tổ chức hợp thành

hệ thống chính trị hiện nay ở nước ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cácđoàn thể nhân dân Mỗi một tổ chức đều có vị trí, vai trò và phương thức hoạtđộng khác nhau với những chức năng, nhiệm vụ khác nhau dưới sự lãnh đạo

Trang 5

của một Đảng duy nhất cầm quyền, sự quản lý của Nhà nước nhằm thực hiệnquyền lực chính trị của nhân dân vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”.

a) Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân,đồng

thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đạibiểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cảdân tộc Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống

ấy Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tưtưởng, kim chỉ nam cho hành động Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôntrọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xâydựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiếnpháp và pháp luật Điều 4 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Đảng Cộng sảnViệt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiênphong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thànhlợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủnghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lựclượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mậtthiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịutrách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình Các tổ chức củaĐảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổHiến pháp và pháp luật Như vậy, Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã bổ sungnội dung quan trọng về trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bómật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân,chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình Các tổ chứccủa Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổHiến pháp và pháp luật

Sự lãnh đạo của đảng cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều kiện cầnthiết và tất yếu để bảo đảm cho hệ thống chính trị giữ được bản chất giai cấpcông nhân, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân Bài học kinh nghiệmcủa cải tổ, cải cách ở Liên Xô (trước đây) và các nước xã hội chủ nghĩa ởĐông Âu cho thấy, khi đảng cộng sản không giữ được vai trò lãnh đạo hệthống chính trị, sẽ dẫn đến hậu quả làm rối loạn hệ thống chính trị và xã hội,

Trang 6

quyền lực chính trị sẽ không còn trong tay nhân dân và chế độ chính trị sẽ

thay đổi Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau:

Một là, Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, các định

hướng về chính sách và chủ trương lớn phát triển kinh tế - xã hội để Nhà nướcthể chế hoá thành pháp luật; đồng thời Đảng là lực lượng lãnh đạo và tổ chứcthực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng

Hai là, Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và xã hội chủ yếu thông qua Nhà

nước và các đoàn thể quần chúng Đường lối, chủ trương, quan điểm củaĐảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá bằng pháp luật và những chủtrương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể Vì vậy, Đảng luôn quantâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểmtra việc Nhà nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng

Ba là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán

bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạtđộng trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị

Bốn là, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động,

tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên.Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổchức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất làngười đứng đầu

Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy.Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát củanhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật Đảng thườngxuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực cầm quyền

và hiệu quả lãnh đạo

Để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, Đảng phải vững mạnh về chínhtrị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng caotrình độ trí tuệ; giữ vững truyền thống đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tăngcường dân chủ và kỷ luật trong hoạt động của Đảng; thường xuyên tự phê

Trang 7

bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệquan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ, bè phái.

Đảng phải phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơquan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, khắc phục tệ quan liêu độc đoán,chuyên quyền, bao biện làm thay; mặt khác, Đảng không được buông lỏng sựlãnh đạo, mất cảnh giác trước những luận điệu cơ hội, mị dân đòi Đảng phảitrả quyền lực cho Nhà nước và nhân dân Thực chất của những đòi hỏi đó chỉnhằm chia rẽ Đảng với nhân dân, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và làmthay đổi chế độ ở một vài nước xã hội chủ nghĩa, trong những điều kiện lịch

sử cụ thể, đã hình thành hệ thống chính trị đa đảng Đó là các đảng liên minhvới đảng cộng sản, thừa nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản chứ không phải

là đảng đối lập Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, thành lập đảng đối lập là nguy

cơ trực tiếp để mất chính quyền vào tay các lực lượng thù địch với chủ nghĩa

xã hội Các thế lực thù địch, phản động hiện nay cũng đang lợi dụng chiêu bài

đa đảng, đa nguyên chính trị, dân chủ nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩabằng “diễn biến hoà bình”

b) Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namlà tổ chức quyền lực thể

hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịutrách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội.Mặt khác, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạocủa giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của giai cấp công nhân,thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam

Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chứcthực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu tráchnhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Đóchính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhà nước quản

lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụđiều tiết trên cơ sở tôn trọng quy luật khách quan của thị trường.Đảng lãnh đạoNhà nước thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân Như vậy,Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị,hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân

Trang 8

Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soátgiữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệtquan trọng trong hệ thống chính trị Chức năng và nhiệm vụ của Nhà nướctrong hệ thống chính trị, trong đời sống xã hội được thể hiện bằng mối quan

hệ giữa Nhà nước với Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội Nhà nước thểchế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật và chínhsách làm công cụ để thực hiện quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đờisống xã hội

Việc xác định đúng vị trí, vai trò và nhiệm vụ của Nhà nước trong hệthống chính trị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới hệthống chính trị, khắc phục sự chồng chéo, lấn sân giữa các thành tố trong hệthống chính trị, nhất là trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong điềukiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế Kế thừa và phát triển các Hiến pháp trước, Hiến phápnăm 2013 tiếp tục thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ,pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân NướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lựcnhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức (Điều 2 Hiến pháp năm 2013) Đồngthời, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước

là “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soátgiữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp” Theo đó, “kiểm soát quyền lực” là một nguyên tắc của Nhànước pháp quyền, là một vấn đề mới trong tổ chức quyền lực của Nhà nướcta.Nguyên tắc này đã được thể hiện trong các Chương V, VI, VII, VIII và IXcủa Hiến pháp năm 2013.Đây là cơ sở hiến định để tiếp tục thể chế hóa trongcác quy định của các luật có liên quan Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 cònquy định cụ thể hơn các phương thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhànước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội

Trang 9

đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước (Điều 6) màkhông chỉ thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân như Hiến pháp năm1992.

Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhândân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, là cơ quan duy nhất

có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản

về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, những nguyên tắcchủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về các quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao vớitoàn bộ hoạt động của Nhà nước Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơquan lập pháp

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhấtcủa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chịu trách nhiệm trước Quốchội và phải báo cáo công tác với Quốc hội, Với ý nghĩa đó, chính phủ được gọi

là cơ quan hành pháp Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm

vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhànước

Cơ quan tư pháp gồm Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các cơquan điều tra Đây là những cơ quan được lập ra để xử lý những tổ chức và cánhân vi phạm pháp luật, bảo đảm việc thực thi pháp luật một cách nghiêmminh, chính xác

Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chícủa Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuân theopháp luật Toà án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự,không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội củaToà án đã có hiệu lực pháp luật

Để bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, bảo đảm việc xét xửđúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tậptrung thống nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ

Trang 10

quan khác của Nhà nước Viện kiểm sát nhân dân thực hiện các quyền khởi tố,kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố

Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọnggiáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân Vì vậy, cần tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đó là tổ chứctrung tâm thực hiện quyền lực chính trị, là trụ cột của hệ thống chính trị, là bộmáy thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực kinh tế, văn hoá,

xã hội theo quy định của pháp luật; thay mặt nhân dân thực hiện chức năngđối nội và đối ngoại Để Nhà nước hoàn thành nhiệm vụ quản lý xã hội bằngpháp luật, thực hiện quyền lực nhân dân giao phó, phải thường xuyên chăm lokiện toàn các cơ quan nhà nước, với cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực,hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất chínhtrị vững vàng, năng lực chuyên môn giỏi; thường xuyên giáo dục pháp luật,nâng cao ý thức sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; có cơ chế vàbiện pháp ngăn ngừa tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm ;nghiêm trị những hành động gây rối, thù địch; phát huy vai trò làm chủ củanhân dân, của các tổ chức xã hội, xây dựng và tham gia quản lý nhà nước Nhận thức về vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước xã hộichủ nghĩa, cần thấy rằng:

Một là, toàn bộ hoạt động của cả hệ thống chính trị, kể cả sự lãnh đạo của

Đảng cũng phải trong khuôn khổ pháp luật, chống mọi hành động lộng quyền,lạm quyền, coi thường và vi phạm pháp luật;

Hai là, duy trì mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ giữa Nhà nước và

nhân dân, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát củanhân dân, quản lý đất nước vì lợi ích của quảng đại nhân dân, vì lợi ích củaquốc gia, dân tộc chứ không phải vì quyền lợi hoặc lợi ích của thiểu số;

Ba là, không có sự đối lập giữa nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng với

tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước Phải luôn luôn bảo đảm

Trang 11

sự thống nhất để tăng cường sức mạnh của Nhà nước Tính hiệu lực và sứcmạnh của Nhà nước chính là thể hiện hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng.

c) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dâncó vai trò rất quan

trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lolợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lànhmạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cáchmạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân vớiĐảng, Nhà nước

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tựnguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cánhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo vàngười Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tựnguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thànhviên Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặttrận

Các đoàn thể nhân dân vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, vừa có vaitrò, vị trí, chức năng và nhiệm vụ nhất định do Hiến pháp, pháp luật quy định

và được bảo đảm có hiệu lực thực sự trong thực tế Tùy theo tính chất, tôn chỉ

và mục đích đã được xác định, các đoàn thể nhân dân vận động, giáo dụcđoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp, chính sách; chăm lo, bảo vệ cácquyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên; giúp đoànviên, hội viên nâng cao trình độ về mọi mặt và xây dựng cuộc sống mới; thamgia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; giữ vững và tăng cường mối liên hệ mậtthiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thúc đẩy quá trình dân chủhoá và thực hiện có hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhândân làm chủ

Trong điều kiện mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhândân cần tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắcphục tình trạng hành chính hóa, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của đoànviên, hội viên và nhân dân; vận động các tầng lớp nhân dân phát huy sức

Trang 12

sáng tạo và mọi tiềm năng trong việc thực hiện đường lối, chủ trương củaĐảng, luật pháp và chính sách của Nhà nước; thực hiện tốt chức năng đạidiện, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân.

Đồng thời, Nhà nước có cơ chế phối hợp và bảo đảm các điều kiện cần thiết

để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh trung thực tâm tư nguyện vọngcủa các tầng lớp nhân dân; tích cực tham gia xây dựng chủ trương, chính sách,pháp luật; tập hợp, động viên nhân dân đồng tâm hiệp lực thực hiện thắng lợinhững chủ trương, nhiệm vụ của Nhà nước; đồng thời, làm tốt vai trò giám sátđối với cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, góp phần xâydựng và bảo vệ chính quyền trong sạch vững mạnh

Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức thành một một hệ thống từTrung ương đến cơ sở Cơ sở phân cấp theo quản lý hành chính gồm có xã,phường, thị trấn Hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm: tổ chức cơ sở đảng, Hộiđồng nhân dânvà Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Mặt trận Tổ quốcViệt Nam xã, phường, thị trấn và các tổ chức chính trị - xã hội khác như:Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam xã, phường, thịtrấn… Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức

và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làmchủ của nhân dân đưa Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn vàocuộc sống; huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộcsống của cộng đồng dân cư

2.2 Bản chất của hệ thống chính trị ở nước ta

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giaicấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dântộc Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lựcnhà nước và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình Do đó, nhân dân thựchiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chínhtrị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện

Trang 13

Bản chất của hệ thống chính trị nước ta được quy định bởi các cơ sở nềntảng sau:

- Cơ sở chính trị của hệ thống chính trị nước ta là chế độ nhất nguyênchính trị với một Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội trênnền tảng dân chủ xã hội chủ nghĩa

- Cơ sở kinh tế của hệ thống chính trị là nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuấttiến bộ, phù hợp Đồng thời, cơ sở kinh tế này tạo ra các xung lực để đổi mới,hoàn thiện hệ thống chính trị, nâng cao khả năng tác động tích cực vào quátrình phát triển kinh tế

- Cơ sở xã hội của hệ thống chính trị là dựa trên nền tảng liên minh giai cấpgiữa công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức và khối đại đoàn kết toàn dântộc.Với cơ sở xã hội là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hệ thống chính trị nước

ta không chỉ là hình thức tổ chức của chính trị nhằm thực hiện quyền lực củanhân dân mà còn là hình thức tổ chức đại diện cho ý chí, nguyện vọng vàquyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân, là biểu tượng của đại đoàn kết toàn dântộc

- Cơ sở tư tưởng của hệ thống chính trị là chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh Các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh là các căn cứ lý luận để xây dựng hệ thống chính trị với chế độ nhấtnguyên chính trị và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Sự nhất quán về cơ sở chính trị, kinh tế, xã hội và tư tưởng là nhân tố vừabảo đảm tính định hướng chính trị vừa bảo đảm tính năng động và khả năngthích ứng của hệ thống chính trị trước sự vận động phát triển của đất nước vàthế giới

Hệ thống chính trị ở nước ta là một hệ thống các thiết chế và thể chế gắnliền với quyền lực chính trị của nhân dân và để thực hiện các nhiệm vụ, quyềnhạn do nhân dân giao phó và uỷ quyền Về thực chất, hệ thống chính trị khôngphải là một hệ thống tổ chức có quyền lực tự thân, quyền lực của hệ thốngchính trị bắt nguồn từ quyền lực của nhân dân, phát sinh từ sự uỷ quyền củanhân dân, thể hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mọi quyền hành và

Trang 14

lực lượng đều ở nơi dân” Trong chế độ do nhân dân là chủ thể duy nhất và tốicao của quyền lực chính trị, nhân dân uỷ quyền cho một hệ thống các tổ chứcbao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam vàcác đoàn thể nhân dân.

Hệ thống chính trị ở nước ta là một hình thức tổ chức thực hành dân chủ;mỗi một tổ chức trong hệ thống chính trị đều là những hình thức để thựchiện dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp của nhân dân.Các tổ chức nàyđược tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc dân chủ và vì các mụctiêu dân chủ.Điều đó bắt nguồn từ bản chất của chế độ chính trị xã hội chủnghĩa.“Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu,vừa là động lực của sự phát triển đất nước”1 Mỗi một tổ chức trong hệ thốngchính trị vừa là một hình thức thực hành dân chủ, tổ chức các quá trình dânchủ vừa là công cụ bảo đảm dân chủ trong xã hội, một trường học dân chủ

để giáo dục ý thức dân chủ, nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân

2.3 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay

Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau:

a) Tính nhất nguyên chính trị của hệ thống chính trị

Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầmquyền, mặc dù trong những giai đoạn lịch sử nhất định, trong chế độ chính trịViệt Nam ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xãhội Tuy nhiên hai Đảng này được tổ chức và hoạt động như những đồngminh chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và

vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Do vậy, về thực chấtchế độ chính trị không tồn tại các đảng chính trị đối lập

Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam Mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị đều

do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập vừa đóng vai trò là hình thức tổ chứcquyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổ chức tập hợp đoàn kết quần chúng, đạidiện ý chí và nguyện vọng của quần chúng (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

Trang 15

các đoàn thể nhân dân)vừa là tổ chức đóng vai trò là phương tiện để ĐảngCộng sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị của mình.

Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động trên nền tảng tưtưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.Điều đó quy địnhtính nhất nguyên tư tưởng, nhất nguyên ý thức hệ chính trị của toàn bộ hệthống và của từng thành viên trong hệ thống chính trị

b) Tính thống nhất của hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vaitrò, chức năng khác nhau nhưng lại quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau tạothành một thể thống nhất Sự đa dạng, phong phú về tổ chức và phương thứchoạt động của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị tạo điều kiện đểphát huy “tính hợp trội” của hệ thống, tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh trongtoàn bộ hệ thống để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của mỗi tổchức thành viên và của toàn bộ hệ thống chính trị

Nhân tố quyết định tính thống nhất của hệ thống chính trị nước ta là sựlãnh đạo thống nhất của một Đảng duy nhất cầm quyền là Đảng Cộng sảnViệt Nam theo nguyên tắc tập trung dân chủ Việc quán triệt và thực hiệnnguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động là nhân tố cơ bản bảođảm cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành độngnhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổchức trong hệ thống chính trị Đồng thời, tính thống nhất của hệ thống chínhtrị còn thể hiện ở mục tiêu chính trị là xây dựng xã hội chủ nghĩa Việt Namvới nội dung: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Hệ thốngchính trị được tổ chức như một chỉnh thể thống nhất từ Trung ương đến địaphương và cấp cơ sở

Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh đều được các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi

rõ trong Điều lệ của từng tổ chức

c) Hệ thống chính trị gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân

Trang 16

Hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống không chỉ gắn với chính trị,quyền lực chính trị mà còn gắn với xã hội Do vậy trong cấu trúc của hệ thốngchính trị bao gồm các tổ chức chính trị như Đảng, Nhà nước và các tổ chứcvừa có tính chính trị vừa có tính xã hội như Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân.

Hệ thống chính trị không đứng trên xã hội, tách khỏi xã hội như những lựclượng chính trị áp bức xã hội như trong các xã hội bóc lột mà là một bộ phậncủa xã hội, gắn bó với xã hội Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị vớinhân dân được thể hiện ngay trong bản chất của các bộ phận cấu thành hệthống chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích củagiai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc; Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân là hình thức tập hợp, tổ chứccủa chính các tầng lớp nhân dân

Sự gắn bó giữa hệ thống chính trị với nhân dân còn được xác định bởi ýnghĩa: hệ thống chính trị là trường học dân chủ của nhân dân; mỗi tổ chứctrong hệ thống chính trị là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhândân

d) Hệ thống chính trị có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính giai cấp và dân tộc

Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng ViệtNam, cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp gắn liền với cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc.Giai cấp và dân tộc hoà đồng, các giai cấp, tầng lớp xã hộiđoàn kết, hợp tác để cùng phát triển.Trong mọi giai đoạn xây dựng và pháttriển của hệ thống chính trị (kể cả thời kỳ còn mang tên hệ thống chuyênchính vô sản) vấn đề dân tộc, quốc gia luôn là cơ sở đoàn kết mọi lực lượngchính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng ViệtNam.Vấn đề đặt ra đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị làđoàn kết giai cấp, tập hợp lực lượng trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dântộc

Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội quy định hệ thống chính trị mang bảnchất giai cấp công nhân, đại diện trung thành lợi ích của giai cấp công nhân

Trang 17

và nhân dân lao động Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã gắnkết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp Do vậy trong thực tiễn cách mạng ViệtNam, sự phân biệt giữa dân tộc và giai cấp đều mang tính tương đối và không

có ranh giới rõ ràng, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chínhtrị Nhờ vậy hệ thống chính trị luôn là đại biểu cho dân tộc, là yếu tố đoàn kếtdân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân và là hệ thống của dân, do dân, vì dân

III ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊỞ NƯỚC TA

3.1 Sự cần thiết phải đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta

Hệ thống chính trị chỉ phát huy tác dụng khi sự vận hành các yếu tố của nóphù hợp với những quy luật khách quan Từ khi thực hiện đường lối của Đảngđến nay, hệ thống chính trị ở nước ta đã có những đổi mới đáng kể: Đảng đãđược củng cố cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; vai trò lãnh đạo của Đảngtrong xã hội ngày càng tăng; Nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiệntheo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vìdân; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước đổi mới nộidung và phương thức hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực; quyền làm chủcủa nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởngđược phát huy

Tuy nhiên bên cạnh những thành công quan trọng đó, hệ thống chính trị ởnước ta cũng còn bộc lộ nhiều nhược điểm: tổ chức bộ máy vẫn còn cồngkềnh, nhiều tầng nấc trung gian; chức năng, nhiệm vụ của một số tổ chức trênmột số lĩnh vực còn chồng chéo; thẩm quyền, trách nhiệm của cán bộ, côngchức, nhất là người đứng đầu chưa rõ Phương thức lãnh đạo của Đảng đốivới Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chậm đổimới Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và hiệu lực, hiệuquả quản lý của nhà nước ở nhiều nơi còn hạn chế Chưa đổi mới mạnh mẽ tổchức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công Chưa phân định rạch ròi tổchức chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn Việc đổi mới tổ chức, nộidung, phương thức hoạt động, vận động quần chúng của Mặt trận Tổ quốc,các đoàn thể chưa đáp ứng được yêu cầu Đổi mới tổ chức bộ máy chưa gắnvới việc tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Trang 18

Số lượng cán bộ, công chức, nhất là viên chức ở các đơn vị sự nghiệpcông lập và cán bộ công chức xã, phường, thị trấn tăng nhanh Một bộ phậncán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ2 Những biểu hiệnchủ yếu là:

- Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị

vi phạm Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợidụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đếntrật tự, an toàn xã hội Việc tuyên truyền, vận động, tập hợp, thu hút nhân dântham gia các phong trào, cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thểnhân dân còn hạn chế Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhândân chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầuphát triển kinh tế và quản lý đất nước Năng lực xây dựng thể chế, quản lý,điều hành, tổ chức thực thi pháp luật còn yếu Tổ chức bộ máy ở nhiều cơquan còn chưa hợp lý, biên chế cán bộ, công chức tăng thêm; chức năng,nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo Cải cách hànhchính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức

và công dân Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêucầu đề ra Quan liêu, tham nhũng, nhũng nhiễu, lãng phí vẫn còn nghiêmtrọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi,gây bức xúc xã hội

- Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ đượcmột số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta Tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả củacông tác tư tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu,thủ đoạn “diễn biến hoà bình”

- Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một

bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí,quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà

2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI): Kết luận số 64-KL/TW ngày 28-05-2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung

Trang 19

còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hoá giàu nghèo ngày càngtăng và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành, ngàycàng làm tăng thêm bức xúc trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dânđối với Đảng và Nhà nước, đe doạ sự ổn định, phát triển của đất nước

- Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm Tình trạng chạy chức, chạyquyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục Côngtác cán bộ thiếu tầm nhìn xa Môi trường làm việc, chính sách cán bộchưa tạo được động lực để khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sựcống hiến của cán bộ; chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó, tậntuỵ của cán bộ đối với công việc

- Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp;công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, nộidung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê bình và phê bình yếu Việc xây dựng tổchức cơ sở đảng trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài còn chậm, vai trò của tổ chức đảng ở đây mờ nhạt

- Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát vàthi hành kỷ luật đảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao;chưa coi trọng việc kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chủ trương, chỉ thị,nghị quyết, thi hành Điều lệ Đảng, kiểm tra, giám sát phòng ngừa tiêu cực vàphát huy nhân tố tích cực Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp uỷ chưa tốt

- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể nhân dân trên một số nội dung chưa rõ, chậm đổi mới Phongcách, lề lối làm việc đổi mới chậm; hội họp vẫn nhiều Nguyên tắc tập trungdân chủ còn bị vi phạm, ảnh hưởng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi một hệ thống chính trịtương thích Đất nước đang cần một hệ thống chính trị được tổ chức và hoạtđộng không chỉ phù hợp với các yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế thị trường,của chế độ pháp quyền và hội nhập quốc tế mà còn phải thật sự trở thành mộtnhân tố thúc đẩy tích cực sự phát triển kinh tế thị trường, tăng cường dân chủ

và đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đủ năng lực để giải quyết mọi khó khăn, các

Trang 20

diễn biến phức tạp về chính trị, kinh tế, xã hội trong tiến trình phát triển Dovậy, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị đang và luôn là đòi hỏi cótính cấp thiết, là một trong những nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược

to lớn đối với sự phát triển bền vững của đất nước

Bối cảnh mới của đất nước và thế giới ngày nay đang tạo ra nhiều cơ hội

và thách thức đối với sự phát triển bền vững của đất nước Để tranh thủ tối đacác thời cơ phát triển và vượt qua các thách thức của thời đại, Đảng ta chủtrương tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện, trong đó đổimới hệ thống chính trị là một trong những nhiệm vụ quan trọng đáp ứng yêucầu, đòi hỏi có tính khách quan đối với sự phát triển tiếp theo của đất nước

Do đó, cần nhận thức rõ đổi mới kinh tế phải gắn liền với đổi mới hệ thốngchính trị và sự tương đồng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị

là điều kiện tiên quyết để tiếp tục phát triểnđất nước, vượt qua thách thức, tiếnkịp thời đại Tuy nhiên, tiếp tục đổi mới kinh tế và tiếp tục đổi mới hệ thốngchính trị chỉ có thể được xác lập bền vững trên cơ sở một đường lối đổi mớinhất quán với các mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc đổi mới được xác địnhmột cách khoa học và rõ ràng với những lộ trình và bước đi thích hợp

3.2 Quan điểm đổi mới hệ thống chính trị

a) Đổi mới hệ thống chính trị nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc, ổn định chính trị và sự phát triển bền vững của đất nước theo định hướng

do dân, vì dân và chủ động hội nhập quốc tế Đổi mới hệ thống chính trị, đoànkết các giai cấp, tầng lớp nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân

Trang 21

tộc, góp phần củng cố nền tảng xã hội của hệ thống chính trị, nhằm giữ vững

ổn định chính trị, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chống lại mọi âm mưu

“diễn biến hoà bình” đồng thời khắc phục sự bảo thủ, trì trệ, tâm lý ngại đổimới, sợ đổi mới

Đổi mới hệ thống chính trị gắn liền với mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, tăngcường và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với yêu cầu của kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân trong điều kiện một Đảng duy nhất cầmquyền.Tăng cường và phát huy dân chủ theo hướng hoàn thiện các hình thức

và phương thức dân chủ của người dân thông qua Nhà nước và các tổ chứccấu thành hệ thống chính trị; mặt khác đa dạng hoá các hình thức thực hànhdân chủ để các tầng lớp nhân dân có nhiều cơ hội tham gia tích cực vào cácquá trình dân chủ trong đời sống xã hội

Dân chủ trong hệ thống chính trị chỉ thật sự được bảo đảm khi xây dựng vàthực hiện được cơ chế kiểm tra, giám sát ngay trong từng tổ chức trong hệthống chính trị và trong toàn bộ hệ thống chính trị cùng với sự kiểm tra, giámsát của chính nhân dân Dân chủ gắn liền với trách nhiệm, kỷ cương, kỷ luật

Do vậy, phát huy dân chủ phải đồng thời tăng cường củng cố kỷ cương, trật tự

kỷ luật trong từng tổ chức của hệ thống chính trị và trong thực tiễn xã hội

b) Đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống văn hoá, lịch sử của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới

Quán triệt các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc xây dựng

cơ sở lý luận và triển khai thực tiễn các giải pháp đổi mới hệ thống chính trịđòi hỏi một mặt đấu tranh chống lối vận dụng giáo điều, rập khuôn máy móc

hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam Mặtkhác, phải vận dụngsángtạovàkhông ngừng phát triển các quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin trong các điều kiện cụ thể của Việt Nam ở từng giai đoạnphát triển

Trang 22

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền, về Nhà nước của dân, do dân,

vì dân, về dân chủ, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về xây dựng, rèn luyện,đào tạo đội ngũcán bộ của hệ thống chính trị là những cơ sở lý luận và tưtưởng trực tiếp đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Việcnghiên cứu tổng kết tư tưởng Hồ Chí Minh, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục

và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một hoạt động cơ bản để tổng kết lý luận

về hệ thống chính trị, xây dựng luận cứ để đổi mới hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị của nước ta kế thừa truyền thống lịch sử chính trị vàbản sắc văn hoá Việt Nam được chắt lọc trong lịch sử xây dựng và trưởngthành của dân tộc Việt Nam Do vậy, các giá trị lịch sử truyền thống về chínhtrị, văn hoá, các kinh nghiệm lịch sử của các thế hệ người Việt Nam được đúckết từ lịch sử hàng nghìn năm cần được quán triệt và vận dụng trong đổi mới

hệ thống chính trị Đồng thời, đổi mới hệ thống chính trị vừa phải giữ vữngbản chất và đặc điểm của chế độ chính trị nước ta, vừa phải tiếp thu có chọnlọc các giá trị tư tưởng chính trị tiến bộ của văn minh nhân loại, các kinhnghiệm tốt của nền chính trị ở các nước trên thế giới

c) Đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, là lực lượng lãnhđạo Nhà nước và toàn xã hội nên trong đổi mới hệ thống chính trị, vấn đề có ýnghĩa quyết định nhất là xây dựng được một Đảng Cộng sản cầm quyền trongsạch, vững mạnh, kết tinh được tinh hoa, trí tuệ, đạo đức của dân tộc, đượcnhân dân tin tưởng, ủng hộ, bảo vệ; nhờ đó chính quyền được giữ vững, địa vịcầm quyền của Đảng được khẳng định

Đổi mới hệ thống chính trị nhằm nâng cao năng lực cầm quyền và hiệuquả lãnh đạo của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vìdân, phát huy mạnh mẽ dân chủ, đòi hỏi phải đổi mới toàn diện công tácxây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ Đổi mới tổ chức

và hoạt động của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối vớiNhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là tiền đề để đổi mới

Trang 23

Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị Phát huy dân chủtrong Đảng là cơ sở để phát huy dân chủ trong toàn bộ hệ thống chính trị và

xã hội Do vậy, đổi mới hệ thống chính trị phải được bắt đầu từ chính quátrình đổi mới và chỉnh đốn Đảng

Đổi mới hệ thống chính trị vừa củng cố vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảngđối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, vừa bảo đảmtính độc lập của các tổ chức này trên cơ sở xử lý hài hoà các quan hệ lãnh đạo

và quan hệ đối thoại dân chủ của Đảng với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc vàcác tổ chức chính trị - xã hội trong tư cách Đảng là hạt nhân lãnh đạo chínhtrị, đồng thời là thành viên của hệ thống chính trị

d) Đổi mới hệ thống chính trị bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là trụ cột của hệ thống chính trị, tập trung xây dựng bộ máy tinh gọn, năng động, trong sạch và hiệu quả

Nhà nước là tổ chức trụ cột của hệ thống chính trị, do đó việc đổi mới,hoàn thiện nhà nước có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả tổ chức và hoạt độngcủa toàn bộ hệ thống chính trị Các giải pháp đổi mới nhà nước nhằm hướngtới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân

và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Do vậy, Nhà nướctrong hệ thống chính trị đổi mới phải thể hiện được các giá trị phổ biến đặctrưng cho nhà nước pháp quyền nói chung và các giá trị đặc thù của nhà nướcpháp quyền Việt Nam

Nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải xây dựng và thựchiện được một hệ thống các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước một cáchthật sự dân chủ và khoa học; cơ cấu lại chức năng, nhiệm vụ của nhà nướctrong các điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước bảo đảm quyền lực nhà nước làthống nhất, có sự phân công, phân nhiệm và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơquan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp

Bộ máy nhà nước phải được đổi mới đồng bộ cả ở trung ương và địa phương

để tạo ra một nền hành chính hiệu quả và thông suốt, bảo đảm sự quản lý, điềuhành thống nhất của trung ương và quyền tự chủ của các cấp chính quyền địa

Trang 24

phương Do vậy việc đổi mới, kiện toàn các cấp chính quyền địa phương cầnphải được nhận thức đầy đủ tính cấp thiết trước các yêu cầu phát triển hiện naycủa đất nước.

Tăng cường vai trò, hiệu lực của Nhà nước trong hệ thống chính trị làtăng cường năng lực, trách nhiệm phục vụ nhân dân của bộ máy công quyền

Do vậy, mọi giải pháp cải cách bộ máy nhà nước đều nhằm mục tiêu bảo đảm

để nhân dân thật sự là chủ thể duy nhất của quyền lực nhà nước, tham gia tíchcực vào quá trình thực hiện quyền lực nhà nước

Để bảo đảm yêu cầu này, bộ máy nhà nước phải được cơ cấu gọn nhẹ,năng động, trong sạch và hiệu quả Mọi hoạt động nhà nước đều công khai,minh bạch, thật sự dân chủ Có như vậy mới thật sự khắc phục được tìnhtrạng tha hoá quyền lực, quan liêu hoá và tham nhũng trong bộ máy côngquyền

e) Đổi mới hệ thống chính trị bảo đảm Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thật sự là các tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

và thực hiện chức năng phản biện, giám sát xã hội đối với hoạt động của các

cơ quan Đảng, Nhà nước, của cán bộ, đảng viên, công chức.

Đổi mới Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong hệ thống chínhtrị cần được tiến hành trên cơ sở tôn trọng và phát huy vị trí, vai trò của Mặttrận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân là các tổ chức quần chúng gắn bó với Đảng, có vai trò tập hợp quầnchúng, là các hình thức dân vận của Đảng, có chức năng tổ chức thực hiệnđường lối chính trị của Đảng trong các tầng lớp nhân dân Do vậy, tổ chức vàhoạt động của các tổ chức này đều chịu sự lãnh đạo của Đảng Mặt khác, Mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là tổ chức tự nguyện của quần chúng,

là hình thức tập hợp của chính quần chúng, thể hiện ý chí, nguyện vọng củaquần chúng, bảo vệ lợi ích của quần chúng, là phương thức hỗ trợ, giúp đỡ lẫnnhau giữa các hội viên Trong ý nghĩa này, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

xã hội là các đối tác dân chủ của Đảng, Nhà nước; độc lập với Nhà nước để

Trang 25

thực hiện quyền của nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chứcĐảng và Nhà nước vì các mục tiêu dân chủ.

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh một số quan điểm chỉ đạo

về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sởnhư sau3:

Một là, đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị phải bám sát, cụ thể hóa, thểchế hóa các quan điểm của Cương lĩnh, Điều lệ, vănkiện Đại hội XI củaĐảng, đồng bộ với nội dung sửa đổi Hiến pháp 1992; bảo đảm tăng cường vaitrò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huyquyền làm chủ của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, xã hội, đáp ứng yêucầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới

Hai là, đổi mới, hoàn thiện đồng bộ giữa các tổ chức trong hệ thống chínhtrị, đồng bộ với đổi mới thể chế kinh tế, phù hợp với đổi mới nội dung vàphương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền,xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộmáy phải gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhânphụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của ngườiđứng đầu

Ba là, về tổ chức bộ máy, không nhất thiết ở Trung ương có tổ chức nàothì ở địa phương cũng có tổ chức đó Căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí và quyđịnh khung của Trung ương, địa phương có thể lập (hoặc không lập) tổ chứcsau khi được sự đồng ý của cấp trên có thẩm quyền, về biên chế, cần tăngcường kiêm nhiệm một số chức danh trong các tổ chức của hệ thống chính trị.Đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệpcông

Bốn là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị cần thực hiện mạnh

mẽ với quyết tâm chính trị cao Những vấn đề thực tiễn đòi hỏi, đã đủ rõ, chín

3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI): Kết luận số 64-KL/TW ngày 28-05-2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”.

Trang 26

muồi thì kiên quyết thực hiện Những vấn đề chưa đủ rõ thì khẩn trươngnghiên cứu, làm thí điểm và tổng kết thực tiễn để làm rõ, có bước đi thíchhợp, không nóng vội, chủ quan, duy ý chí Những chủ trương đã thực hiện,nhưng thực tiễn khẳng định là không phù hợp thì điều chỉnh, sửa đổi ngay.Đảng ta nhấn mạnh mục tiêu của việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệthống chính trị từ Trung ương đến cơ sở nhằm xây dựng tổ chức bộ máy đồng

bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; xây dựng độingũ cán bộ, công chức có số lượng hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức,trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng được yêucầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và có tiền lương, thu nhập bảo đảm cuộcsống

3.3 Một số giải pháp đổi mới hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn hiện nay

Đổi mới hệ thống chính trị không chỉ là đổi mới tổ chức, hoạt động củatừng tổ chức trên cơ sở tiếp tục xác định rõ chức năng, nhiệm và mô hình tổchức của các tổ chức trong hệ thống chính trị mà còn đổi mới mối quan hệgiữa các tổ chức, trong đó đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo củaĐảng đối với Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân có ýnghĩa quyết định

a) Những giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Tổng kết từ thực tiễn đổi mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIcủa Đảng, một số nội dung xây dựng và chỉnh đốn Đảng được đặc biệt chú ýnhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối Nhà nước và xã hội

Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị Kiên định chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp vớithực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ,đảng viên, trước hết của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; không dao độngtrong bất cứ tình huống nào Kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều,bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc

Trang 27

Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận, làm sáng tỏmột số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổimới, không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương đáp ứngyêu cầu phát triển đất nước; khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém củacông tác nghiên cứu lý luận

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiếnđấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền, học tậpchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, cổ vũ động viên cácnhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, giáo dục truyềnthống yêu nước, cách mạng Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu

và hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch Chủ động phòngngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên

- Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân Mỗicán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực

sự là một tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống Cán bộ cấp trên phảigương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân Cán bộ, đảng viênphải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân,hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Các tổ chức đảng tạođiều kiện để đảng viên công tác, lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả,đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước Đẩy mạnh tự phê bình và phêbình trong sinh hoạt đảng Triển khai thực hiện tốt Quy chế dân vận trong hệthống chính trị; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác vận động nhân dân.Định kỳ lấy ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ,đảng viên Xử lý nghiêm mọi cán bộ, đảng viên vi phạm về trách nhiệm,phẩm chất đạo đức, lối sống

- Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng Kiện toàn, nângcao chất lượng các cơ quan tham mưu, đội ngũ cán bộ làm công tác tham

Trang 28

mưu, nhất là ở cấp chiến lược; củng cố và đổi mới mô hình tổ chức, phươngthức hoạt động của các tổ chức đảng, nhất là của đảng đoàn, ban cán sự đảng.Tập trung chỉ đạo, củng cố những tổ chức đảng yếu kém;kịp thời kiện toàncấp uỷ và tăng cường cán bộ ở nơi có nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn kết.Coi trọng đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng, chấtlượng tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt đảng Thật sự phát huy dân chủtrong sinh hoạt đảng từ sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy ở cơ sở đến sinhhoạt Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương; thực hiện đúngnguyên tắc tập trung dân chủ, chống quan liêu, bè phái, cục bộ, địa phương,độc đoán, vi phạm dân chủ, dân chủ hình thức.

- Kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên Củng cốnâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo chuyểnbiến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình cơ sở đảng, nhất là tổchức đảng trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế Đổi mới, tăng cường công tác quản lý, phát triển đảng viên, bảo đảmchất lượng đảng viên theo yêu cầu của Điều lệ Đảng Xây dựng các tiêu chí,yêu cầu cụ thể về tư tưởng chính trị, trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức, lốisống của đảng viên đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới; phát huy tínhtiên phong, gương mẫu, chủ động, sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong thựchiện nhiệm vụ được giao

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ Thực hiện tốt Chiếnlược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đổi mới tư duy,cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ.Xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn,đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài Nâng caochất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; khắc phục tình trạng chạy theobằng cấp Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ,

nữ, dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộcấp chiến lược Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuẩn,quy trình đã được bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tínnhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu

Trang 29

- Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát Các cấp uỷ, tổchức đảng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt hơn nhiệm vụkiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộvàhoạt động của hệ thống uỷ ban kiểm tra các cấp Hoàn thiện quy chế phốihợp giữa uỷ ban kiểm tra đảng với các tổ chức đảng và các cơ quan bảo vệpháp luật trong việc xem xét khiếu nại, tố cáo và xử lý kỷ luật cán bộ, đảngviên.

- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Tập trung rà soát, bổsung, điều chỉnh, ban hành mới, xây dựng đồng bộ hệ thống các quy chế,quy định, quy trình công tác để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo củaĐảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị Khắc phục tình trạng Đảngbao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước.Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổchức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đổi mới phong cách, lềlối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến địaphương, cơ sở

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(bổ sung, phát triển năm 2011) cũng xác định một số nhiệm vụ trọng tâm đốivới công tác xây dựng Đảng: Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phảivững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tựchỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạođức và năng lực lãnh đạo Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trongĐảng, tăng cường dân chủ và kỷ luật trong hoạt động của Đảng Thường xuyên

tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội,

tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ, bè phái Đảngchăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, nănglực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, quan tâm bồidưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc

Để tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng trong thời giantới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã

Trang 30

nhấn mạnh: ngoài việc cần tiếp tục thực hiện tốt tám nhiệm vụ trong công tácxây dựng Đảng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra,coi đó là những nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài và phải thực hiện thườngxuyên, có hiệu quả, đồng thời tập trung cao độ để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiệntốt ba vấn đề cấp bách sau đây:

“Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư

tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảngviên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnhđạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dânđối với Đảng

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp

trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàhội nhập quốc tế

Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính

quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mớiphương thức lãnh đạo của Đảng”4

Trong ba vấn đề nêu trên, vấn đề thứ nhất được Đảng ta xác định là trọngtâm, xuyên suốt và cấp bách nhất

Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) đã xác định rõ các giải pháp đặt ra đốivới cơ quan lãnh đạo của Đảng là: Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thứclãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trungương 5 (khóa X); bổ sung, hoàn thiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hànhTrung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng đoàn,ban cán sự đảng và cấp ủy đảng các cấp theo hướng tăng thẩm quyền, tráchnhiệm, mở rộng dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương Quy hoạchBan Chấphành Trung ương, các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng và cấp ủy cáccấp có chất lượng Bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện các quy chế, quy định vềquy trình công tác của các cấp ủy, tổ chức đảng, về quan hệ lãnh đạo của cấp

ủy, tổ chức đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị Tiếp tục đổi mới

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị

Trang 31

cách ra nghị quyết, tập trung vào lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểmtra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của Đảng Điều chỉnhchức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn cho phùhợp với thực tế và yêu cầu, nhiệm vụ mới; sơ kết việc thành lập chi bộ cơquan xã, phường, thị trấn; thống nhất mô hình tổ chức đảng ở cơ sở phù hợpvới tổ chức dân cư dưới cấp xã Tiếp tục nghiên cứu tổ chức, chức năng,nhiệm vụ của các đảng ủy khối ở Trung ương, địa phương, Đảng ủy ngoàinước; mô hình tổ chức đảng ở các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước.Các giải pháp đặt ra đối với các cơ quan tham mưu giúp việc, đơn vị sựnghiệp của Đảng ở Trung ương là cơ bản giữ ổn định về tổ chức Chuyển Họcviện Hành chính từ Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh về

Bộ Nội vụ và tổ chức lại cho hợp lý; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và cơchế hoạt động của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh để phù hợp với

vị trí, chức năng là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Thực hiệnchủ trương không nhất thiết ở Trung ương có ban đảng, đảng bộ nào thì ở địaphương cũng phải có ban đảng, đảng bộ đó; căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí

và quy định khung của Trung ương, cấp ủy địa phương có thể lập (hoặckhông lập) tổ chức sau khi được sự đồng ý của cấp ủy cấp trên cóthẩm quyền Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy, biên chế các cơ quan tham mưu giúp việc, đơn vị sựnghiệp của cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện Xem xét việc thành lập ban kinh tế ởmột số tỉnh ủy, thành ủy5

b) Những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước

Để có được một chính quyền mạnh mẽ, bộ máy nhà nước phải được tổ chức

và vận hành một cách khoa học, dân chủ phù hợp với các yêu cầu của nền kinh

tế thị trường vừa thể hiện được các giá trị chính trị, văn hoá, xã hội truyềnthống của dân tộc, vừa tiên tiến và hiện đại tương thích với các yêu cầu của thếgiới ngày nay Theo đó, quyền lực nhà nước phải được chế định chặt chẽ bởi

5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI): Kết luận số 64-KL/TW ngày 28-05-2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”.

Trang 32

luật pháp, bảo đảm vừa có sự phân công, phối hợp vừa có sự kiểm soátgiữa các

cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp

Trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước không thể ôm đồm nhiệm vụ,công việc như trước đây, mà phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mìnhtheo hướng phân định rành mạch quyền hạn và trách nhiệm giữa hệ thống kinh

tế, Nhà nước và hệ thống xã hội Đây chính là cơ sở để tinh gọn bộ máy vànâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của bộ máy nhà nước theo đúng các yêucầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

- Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là

cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội Nâng cao năng lực của đại biểuQuốc hội theo hướng vừa bảo đảm cơ cấu đại diện vừa bảo đảm tiêu chuẩn chấtlượng, có cơ chế để đại biểu gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri; tănghợp lý số lượng đại biểu chuyên trách Cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt độngcủa Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội Nghị quyết Hội nghị Trungương 7 (khóa XI) nêu rõ: Trước mắt, giữ ổn định Hội đồng dân tộc và các Ủyban của Quốc hội Nghiên cứu bổ sung một số thẩm quyền cho Ủy ban Thường

vụ Quốc hội để thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực giữa 2 kỳ họp Quốchội; bổ sung thêm thẩm quyền, trách nhiệm của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban,điều chỉnh số lượng lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng cơquan Kiện toàn bộ máy giúp việc của Văn phòng Quốc hội theo các khối côngviệc bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, gắn với hoạt động của Hội đồng dân tộc, các

Ủy ban của Quốc hội Nghiên cứu việc chuyển một số ban của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội thành ban của Quốc hội và việc lập chức danh Tổng thư ký củaQuốc hội Từng bước tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách trên

cơ sở bảo đảm tính đại diện, tính chuyên nghiệp, nâng cao tiêu chuẩn, chấtlượng đại biểu; tăng đại biểu chuyên trách làm việc ở Hội đồng dân tộc và các

Ủy ban là các chuyên gia, am hiểu sâu các lĩnh vực chuyên môn Xây dựng cơchế gắn trách nhiệm của đại biểu với cử tri, trước hết là cử tri tại nơi bầu cử.Tiếp tục đổi mới quy trình và nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, giám sát

và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

Trang 33

- Hoàn thiện chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp và pháp luật nhằmxác định rõ và cụ thể hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước làngười đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại, thốnglĩnh các lực lượng vũ trang; quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan lậppháp, hành pháp và tư pháp Nghiên cứu làm rõ quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của

Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Chủ tịch nước

- Tiếp tục đổi mới hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nềnhành chính trong sạch, vững mạnh, quản lý thống nhất, thông suốt, tinh gọn,hợp lý; nâng cao hiệu lực, hiệu quả các cơ quan nhà nước, khắc phục tìnhtrạng buông lỏng trên một số lĩnh vực Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hànhchính, chế độ công vụ, công chức.Trước mắt, giữ cơ bản ổn định tổ chức củaChính phủ, tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với thực tiễn đấtnước Phát huy vai trò, trách nhiệm của tập thể Chính phủ, đồng thời đề caotrách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ.Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành tậptrung vào quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, khắc phục những chồng chéohoặc bỏ trống về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý; làm rõmối quan hệ phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ; bảo đảm nguyên tắcmột việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệmchính Hoàn thiện cơ chế phân cấp theo hướng tăng tính tự chủ, tự chịu tráchnhiệm của chính quyền địa phương, đồng thời bảo đảm sự quản lý thống nhấtcủa Trung ương Chuyển những nhiệm vụmà các cơ quan nhà nước không cầnthiết phải thực hiện để giao cho các tổ chức xã hội đảm nhận

Xem xét, điều chỉnh một số tổ chức không cần thiết, chưa phù hợp bêntrong một số bộ, việc thành lập một số tổng cục; khắc phục những hạn chế khi

tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; nghiên cứu việc thành lập tổ chứcthực hiện chức năng chủ sở hữu, quản lý, giám sát hoạt động của các doanhnghiệp nhà nước

Nghiên cứu phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của một số bộ, việcthành lập cơ quan quản lý chuyên ngành về năng lượng và tài nguyên

Trang 34

nước phù hợp với trình độ, năng lực quản lý và đáp ứng yêu cầu phát triển củađất nước.

Đổi mới mạnh mẽ tổ chức và cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệpcông để cung ứng tốt hơn các dịch vụ cơ bản thiết yếu cho người dân, nhất làcác đối tượng chính sách xã hội, người nghèo Nhà nước tăng cường đầu tưcho các đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn khó khăn.Tiếp tục đẩy mạnh giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sựnghiệp công lập gắn với tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước Đẩymạnh xã hội hóa, khuyến khích thành lập các tổ chức cung ứng dịch vụ côngthuộc các thành phần ngoài Nhà nước trên cơ sở các định mức, tiêu chuẩn,các quy định của pháp luật và sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước

và nhân dân

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh vàbãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân.Nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế,chính sách Đẩy mạnh xã hội hoá các loại dịch vụ công phù hợp với cơ chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhândân các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyếtđịnh và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp.Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.Tiếp tục thực hiện thí điểm chủ trương không tổ chức hội đồng nhân dân huyện,quận, phường

- Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xâydựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng vàbảo vệ quyền con người Tập trung cải cách hệ thống toà án, bảo đảm cho toà

án thật sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử Toà áncần được tổ chức theo cấp xét xử và tích cực cải cách thủ tục tư pháp theohướng tranh tụng, bảo đảm quyền bình đẳng thật sự giữa các bên khi tham giacác quá trình xét xử của toà án

Trang 35

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêucầu trong tình hình mới Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ,công chức; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền củamỗi cán bộ, công chức; tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm củahoạt động công vụ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bảnlĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản

lý nhà nước Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, côngchức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người khônghoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân

c) Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và củatừng đoàn thể nhân dân vừa tránh được trùng chéo trong tổ chức, vận động, tậphợp quần chúng nhân dân, vừa khắc phục tình trạng hành chính hóa, phát huyvai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chínhquyền nhân dân; thực hiện dân chủ Trong điều kiện hiện nay, vai trò chính trịMặt trận Tổ quốc Việt Nam và của từng đoàn thể nhân dân cần được thể hiệntrong các hoạt động: tập hợp và phản ảnh trung thực tâm tư, nguyện vọng củađoàn viên, hội viên và bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đoàn viên,hội viên; tham gia thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; tham gia xây dựngchủ trương, chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước; góp phần xây dựngĐảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; giám sát hoạt động của các cơ quannhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức và phản biện xã hội đối với các chủtrương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; xây dựng lực lượngcốt cán chính trị - xã hội quần chúng tích cực trong tổ chức, giới thiệu quầnchúng tiên tiến cho Đảng đào tạo cán bộ…

Đổi mới tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thểnhân dân theo hướng đa dạng, linh hoạt sát với tính chất, chức năng, nhu cầuhoạt động của từng loại tổ chức, phù hợp với tính chất của một tổ chức quầnchúng Do vậy, bộ máy của các tổ chức này cần được tổ chức gọn nhẹ, có khảnăng thích ứng linh hoạt với những biến đổi của đời sống xã hội và dân chủ

Trang 36

Đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng, đồng thời củng cố, kiệntoàn tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng thugọn các “tổ chức cứng”, tinh gọn biên chế chuyên trách, hướng mạnh về cơ

sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, nhất là đối với vùng có đôngđồng bào dân tộc thiểu số, nhiều người theo tôn giáo, khu vực kinh tế ngoàinhà nước…; xây dựng cơ sở vững mạnh, thu hẹp số lượng tổ chức yếu kém,khắc phục tình trạng ”trắng” về tổ chức và hoạt động ở cơ sở

Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách hoạtđộng trong các tổ chức Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể quần chúng để họ trởthành những người hoạt động xã hội có tính chuyên nghiệp, gắn bó mật thiếtvới các phong trào quần chúng, có phương pháp hoạt động xã hội và phongcách công tác quần chúng, được chính quần chúng tín nhiệm và suy tôn

Tạo chủ động trong việc sử dụng kinh phí được cấp và cơ chế tự chủ tàichính cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân thông qua việc

tổ chức các hoạt động kinh doanh (được ưu đãi hoặc miễn thuế) và thu hút cácnguồn tài trợ, ủng hộ từ các nguồn tài chính hợp pháp trong xã hội để phục vụmục tiêu của tổ chức

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, nhằm phát huy tính độc lập, tựchủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức này theo quy định của Hiến pháp vàpháp luật

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) chỉ rõ cần tiếp tục rà soát,kiện toàn tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xãhội theo hướng tinh gọn, rõ chức năng, nhiệm vụ, không chồng chéo Đổi mớiphương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước, đổi mới cơ chế tài chínhđối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, tạo điều kiện đểMặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tăng thêm tính tự chủ, chủđộng hơn trong hoạt động; không “hành chính hóa” để gần dân, sát dân hơn.Thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp, quy định về giám sát, phản biện xãhội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, cơ chế để nhân dântham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền Quy định chặt chẽ về tổ chức và

Trang 37

hoạt động của các hội theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phíhoạt động và tuân thủ pháp luật Sửa đổi, bổ sung các quy định của Nhà nước

về quản lý tổ chức và hoạt động hội phù hợp với tình hình mới

Tóm lại, tiếp tụcđổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước

ta nhằm làm cho hệ thống chính trị trở nên mạnh hơn, hiệu quả hơn, dân chủ

xã hội chủ nghĩa được tăng cường, kỷ cương, kỷ luật và pháp chế được củng

cố, chính trị được giữ vững, kinh tế tiếp tục phát triển vì mục tiêu xây dựngnước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh

Chuyên đề 1 đề nghị Anh/Chị nắm vững các vấn đề cơ bản sau:

1 Hiểu rõ khái niệm “hệ thống chính trị” và vấn đề căn bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

2 Hiểu và phân tích được nguyên lý: Nhân dân là người sáng tạo ra lịch

sử, là lực lượng quyết định quá trình cải biến xã hội

3 Bản chất hệ thống chính trị ở nước ta và nắm được: Các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị hiện nay ở nước ta hoạt động dưới sự lãnh đạo của mộtĐảng như thế nào?

4 Quan điểm và các giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay

5 Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

Trang 38

Chuyên đề 2

HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

I KHÁI QUÁT VỀ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

1.1 Khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Khái niệm

Cơ quan nhà nước là một tổ chức tương đối độc lập trong bộ máy nhànước do chủ thể có thẩm quyền thành lập theo quy định của pháp luật Mỗi cơquan nhà nước có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứcxác định nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước

1.1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, cơ quan nhà nước là một tổ chức tương đối độc lập trong bộ máy

nhà nước và do cơ quan có thẩm quyền thành lập Thẩm quyền thành lập cơquan nhà nước được quy định cụ thể trong Luật.Cơ quan nhà nước chỉ hoạtđộng trong phạm vi thẩm quyền của mình và trong phạm vi đó, nó hoạt độngđộc lập, chủ động và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình Thẩm quyềncủa cơ quan nhà nước phụ thuộc vào địa vị pháp lý của nó trong bộ máy nhànước Tuy nhiên, thẩm quyền của các cơquan nhà nước có những giới hạn vềkhông gian (lãnh thổ), về thời gian có hiệu lực, về đối tượng chịu sự tác động.Giới hạn thẩm quyền của các cơ quan nhà nước là giới hạn mang tính pháp lý

vì được pháp luật quy định

Thứ hai, mỗi cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền xác

định và có mối quan hệ với nhau tạo thành hệ thống cơ quan nhà nước Mỗi

cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền do pháp luật quy định - đó là tổng thểnhững quyền và nghĩa vụ mang tính quyền lực - pháp lý mà nhà nước trao cho

để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Yếu tố cơ bản của thẩmquyền là quyền ban hành những văn bản pháp luật có tính bắt buộc chung,văn bản áp dụng pháp luật phải thực hiện đối với các chủ thể có liên quan (cóthể là cơ quan, tổ chức nhà nước khác, công chức, viên chức, các tổ chức xãhội, tổ chức kinh tế và công dân) Cơ quan nhà nước có tính độc lập tương đối

Trang 39

với các tổ chức khác trong việc thực hiện thẩm quyền mà pháp luật trao Bảnthân nó cũng bao gồm các bộ phận khác nhau bảo đảm tính chuyên nghiệptrong việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ nhưng hợp thành thể thống nhấtnhằm thực hiện mục tiêu chung.

Thứ ba,cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước trong thực thi

nhiệm vụ Đây làđặc điểm cơ bản của cơ quan nhà nước làm cho nó khác với

các tổ chức khác Các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực được nhân dângiao cho Tính quyền lực thể hiện ở chỗ các cơ quan nhà nước đều có thẩmquyền được pháp luật quy định chặt chẽ, đượcquyền ban hành các quyết địnhpháp luật mang tính chất chung, tính quy phạm có hiệu lực bắt buộc thi hànhđối với mọi cơ quan, tổ chức khác hoặc công dân trong phạm vi lãnh thổ hoặcngành lĩnh vực mà nó phụ trách; cũng nh được quyền ban hành các quyết định

cá biệt có hiệu lực thi hành đối với từng cơ quan, tổ chức, người có chức vụhoặc từng công dân cụ thể

Thứ tư, các hoạt động thực thi công vụ của cơ quan nhà nước được đảm

bảo bằng ngân sách nhà nước

1.2 Hệ thống các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước

Hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nhữngnguyên tắc chung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện cácchức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Theo Hiến pháp năm 2013, nước ta có các loại cơ quan nhà nước sau đây:

Một là, các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân); Hai là, các cơ quan hành chính nhà nước gồm: Chính phủ, các bộ, cơ quan

ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và các cơ quan chuyênmôn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

Ba là, các cơ quan xét xử: Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự, các

Toà án nhân dân địa phương, Toà án đặc biệt và các Toà án khác do luật định;

Bốn là, các cơ quan kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm

sát quân sự, Viện kiểm sát nhân dân địa phương

Trang 40

Chủ tịch nước là một thiết chế nhà nước, thể hiện sự thống nhất của quyềnlực, thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nên tồn tại tương đốiđộc lập với các cơ quan nhà nước khác.

Tất cả các cơ quan nhà nước tạo thành bộ máy nhà nước Tuy nhiên, bộmáy nhà nước không phải là một tập hợp đơn giản các cơ quan nhà nước mà

là một thể thống nhất, các cơ quan có mối liên hệ qua lại với nhau và vậnhành theo một cơ chế đồng bộ

Từ giác độ hệ thống cho thấy,mỗi cơ quan nhà nước là một khâu (mắt xích)không thể thiếu của bộ máy nhà nước Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nướctuỳ thuộc vào hiệu lực, hiệu quả hoạt động của từng cơ quan nhà nước

1.3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Về nguyên tắc, quyền lực nhà nước bao gồm ba nhóm yếu tố cấu thành làquyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Tuy nhiên, mối quan hệgiữa các tổ chức trong việc thực thi ba nhóm quyền lực này không giống nhaugiữa các nước tùy thuộc vào thể chế chính trị, hình thức chính thể mà có thể

ra đời các mô hình phân chia quyền lực nhà nước theo: cứng nhắc, mềm dẻohay thống nhất tập trung Trên phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn,nguyên tắc chi phối mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành bộ máy nhànước dựa trên việc phân bổ quyền lực nhà nước theo các hướng khác nhau:thứ nhất quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhóm quyền (lập pháp,hành pháp, tư pháp), giao cho ba cơ quan nhà nước khác nhau độc lập nắmgiữ, thứ hai quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia

Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo nguyêntắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công chức năng,phân định thẩm quyền rành mạch và có sự phối hợp giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” Đồng thờitrong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng tạo ra một cơ chế kiểm tra,giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm pháp chế và kỷluật trong quản lý nhà nước

II CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

Ngày đăng: 11/09/2020, 13:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w