Trong các thuốc mới phát triển, nhiều hoạt chất được tìm thấy thông qua quá trình thiết kế và sàng lọc hợp lý với sự hỗ trợ của các mô hình máy tính in silico, đặc biệt là các mô hình l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2Tôi cũng xin được cảm ơn cô Lê Thị Thu Hường đã dẫn dắt tôi trong những bước đi đầu tiên thực hiện khóa luận của mình
Tôi xin c ảm ơn người bạn trong nhóm nghiên cứu của mình, em Lại Đức Anh
đã hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi cũng vô cùng biết ơn và xin được chân thành cảm ơn, các thầy cô ở bộ môn Dược liệu và dược học cổ truyền, các thầy cô ở Phòng đào tạo & CTHSSV, cũng như các thầy cô trong Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp đã hết sức nhiệt tình, t ạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Cu ối cùng, tôi xin dành sự biết ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ tôi và tất cả những người thân trong gia đình đã luôn ở bên yêu thương, ủng hộ để tôi có được ngày hôm nay!
Hà Nội, ngày 10, tháng 5, năm 2020 Phạm Thị Thu Uyên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3Tôi cũng xin được cảm ơn cô Lê Thị Thu Hường đã dẫn dắt tôi trong những bước đi đầu tiên thực hiện khóa luận của mình
Tôi xin c ảm ơn người bạn trong nhóm nghiên cứu của mình, em Lại Đức Anh
đã hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi cũng vô cùng biết ơn và xin được chân thành cảm ơn, các thầy cô ở bộ môn Dược liệu và dược học cổ truyền, các thầy cô ở Phòng đào tạo & CTHSSV, cũng như các thầy cô trong Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp đã hết sức nhiệt tình, t ạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Cu ối cùng, tôi xin dành sự biết ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ tôi và tất cả những người thân trong gia đình đã luôn ở bên yêu thương, ủng hộ để tôi có được ngày hôm nay!
Hà Nội, ngày 10, tháng 6, năm 2020 Phạm Thị Thu Uyên
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
IDF Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới
GIP Peptide insulinotropic phụ thuộc glucose
GLP-1 Peptide giống glucagon 1
GLUT2 Vận chuyển glucose loại 2
HbA1c Huyết sắc tố glycosyl hóa
LADA Latent Autoimmune Diabetes of Adulthood
PPARγ Thụ thể kích hoạt peroxisome proliferator γ (Peroxisome
proliferator-activated receptors gamma)
QSAR Mô hình liên quan giữa cấu trúc và tác dụng
RMSD Root mean square deviation (Độ lệch căn quân phương)
ROS Loại oxy phản ứng
Trang 5SGLT2 Protein đồng vận chuyển glucose 2 ( Sodium-glucose cotransporter-2)
SMILES Simplified Molecular Input Line Entry Specification
STZ Streptozotocin
TrS Tập huấn luyện (Training set)
TS Tập kiểm tra (Test set)
TSPT Tham số phân tử
TZD Thiazolidinedione
Trang 6M ỤC LỤC
DANH M ỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT ii
DANH M ỤC CÁC BẢNG vi
DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ viii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1
1.1 Tổng quan về bệnh đái tháo đường 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Phân loại 1
1.1.3 Các liệu pháp hiện tại cho ĐTĐ tuýp 2 4
1.2 Mô hình in silico trong nghiên cứu phát triển thuốc mới 8
1.3 Đại cương về QSAR 10
1.4 Kỹ thuật Protein docking 12
CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C ỨU 14
2.1 Nguyên liệu 14
2.1.1 Dữ liệu các chất có hoạt tính dùng để xây dựng mô hình QSAR 14
2.1.2 Dữ liệu các chất có hoạt tính dùng để xây dựng mô hình phân biệt 15
2.1.3 Cơ sở dữ liệu dùng để sàng lọc hoạt tính 15
2.1.4 Cấu trúc tinh thể của các protein dùng trong nghiên cứu Docking 15
2.2 Thiết bị, phần mềm 16
2.3 Nội dung nghiên cứu 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
2.4.1 Xây dựng mô hình QSAR dự đoán hoạt tính trên các đích ĐTĐ tuýp 2 đã chọn 18
2.4.2 Sàng lọc in silico các hợp chất thiên nhiên hướng tác dụng trên đích ĐTĐ tuýp 2: PPARγ và SGLT2 22
2.4.3 Mô phỏng protein docking 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 25
3.1 Kết quả nghiên cứu 25
3.1.1 Kết quả xây dựng hai mô hình QSAR trên phần mềm MobyDigs cho phép tìm kiếm các hợp chất có tác dụng sinh học trên từng đích phân tử là PPARγ và SGLT2 hướng điều trị ĐTĐ tuýp 2 25 3.1.2 Kết quả sàng lọc được một số hợp chất thiên nhiên có tác dụng điều trị tiểu
Trang 73.1.3 Kết quả kiểm tra tác dụng của các hợp chất đã sàng lọc qua mô hình in vivo 27
3.2 Bàn luận 28
3.2.1 Đánh giá kết quả xây dựng hai mô hình QSAR trên phần mềm MobyDigs cho phép tìm kiếm các hợp chất có tác dụng sinh học trên từng đích phân tử là PPARγ và SGLT2 hướng điều trị ĐTĐ tuýp 2 28
3.2.2 Về các hợp chất đã sàng lọc theo hai mô hình QSAR đã xây dựng 33
3.2.3 Đánh giá lại tác dụng của các hợp chất đã sàng lọc qua mô hình máy tính in vivo 35
KẾT LUẬN 39
KIẾN NGHỊ 39
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 40
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các liệu pháp điều trị ĐTĐ hiện đang được phép sử dụng 5
Bảng 2.1 Các phần mềm tính tham số phân tử thông dụng 19
Bảng 3.1 Các hợp chất có tác dựng đồng thời trên 2 đích phân tử là PPARγ và SGLT2 26
Bảng 3.2 Các hợp chất được dự đoán là có hoạt tính in vivo 28
B ảng 3.3 Kết quả đánh giá nội và đánh ngoại mô hình QSAR 30
Bảng 3.4: Bảng ý nghĩa các của các tham số phân tử trong mô hình QSAR trên đích PPARγ 31
Bảng 3.5: Bảng ý nghĩa các của các tham số phân tử trong mô hình QSAR trên đích SGLT2 32
Bảng 3.6 Giá trị Score của các hợp chất trong Docking trên 2 đích phân tử 33
Bảng 3.7 Kết quả Docking của 4 hợp chất đã sàng lọc được trên đích PPARγ 35
Bảng 3.8 Kết quả Docking của 4 hợp chất đã sàng lọc được trên đích SGLT2 36
Bảng 3.9 Một số thông tin về các hợp chất thu được sau quá trình sàng lọc 37
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Quá trình nghiên cứu phát triển thuốc 9
Hình 2.1 Cấu trúc khung các chất chủ vận PPARγ trong cơ sở dữ liệu 14
Hình 2.2 Cấu trúc 3D của thụ thể kích hoạt peroxisome proliferator-γ 15
Hình 2.3 Cấu trúc 3D của Protein đồng vận chuyển natri - glucose 2 16
Hình 2.4 Quá trình nghiên cứu đề tài tìm kiếm hợp chất hợp chất thiên nhiên có tác dụng trên các đích điều trị ĐTĐ tuýp 2 (PPARγ và SGLT2) theo mô hình in silico và in vivo 18
Hình 3.1 Khả năng kích thích thực tế so với số liệu tính toán của tập dữ liệu các chất kích hoạt PPARγ 29
Hình 3.2 Khả năng ức chế thực tế so với số liệu tính toán của tập dữ liệu các chất ức chế SGLT2 29
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Thống kê từ liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (International Diabetes
Federation) năm 2015 cho thấy, ước tính có khoảng 415 triệu người (nằm trong độ tuổi từ 20-79) mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và hơn 5 triệu ca tử vong trên tổng
số 111 nước được nghiên cứu [38] Khoảng 75% những người mắc và chết do tiểu đường đến từ các nước có thu nhập thấp và trung bình Trong đó bệnh đái tháo đường tuýp 2 chiếm hơn 90% các trường hợp mắc Số ca mắc và tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường đều tăng đều đặn trong vài thập kỷ qua Các liệu pháp ngăn ngừa và điều trị hiện tại mặc dù có hiệu quả, tuy nhiên cũng còn nhiều hạn chế như: sử dụng
Biguanide sẽ gây ra các vấn đề về tiêu hóa, Sulfonylureas gây hạ đường huyết, tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch Mặt khác chi phí trực tiếp cần thiết cho việc theo dõi lâu dài bệnh tiểu đường và các biến chứng của nó là một gánh nặng đáng kể đối với các nền kinh tế quốc gia Người ta ước tính rằng 12% chi phí chăm sóc sức khỏe toàn cầu được chi cho bệnh tiểu đường và tỷ lệ mắc trên toàn thế giới dự kiến sẽ tăng từ 8.8% trong năm 2015 lên 10,4% vào năm 2040 Gánh nặng kinh tế toàn cầu của căn bệnh này có thể được dự kiến sẽ tăng vọt [38] Do đó, cần phải đầu tư vào nghiên cứu các liệu pháp mới trong điều trị và quản lý bệnh tiểu đường
Nhiều nhóm thuốc hướng điều trị ĐTĐ tuýp 2 đã được phát triển và được đưa vào sử dụng rộng rãi như: insulin, nhóm thuốc biguanid, thiazolidinedione (TZD), sulfonylurea, meglitinide, chất ức chế α-glucosidase hay dipeptidyl peptidase-4 (DPP4), các chất đồng vận thụ thể GLP-1 và các chất tương tự amylin Chúng hoạt động chủ yếu theo 2 cơ chế là giảm hấp thu glucose đường ruột và kích thích tế bào
β đảo tuỵ Trong các thuốc mới phát triển, nhiều hoạt chất được tìm thấy thông qua
quá trình thiết kế và sàng lọc hợp lý với sự hỗ trợ của các mô hình máy tính (in
silico), đặc biệt là các mô hình liên quan định lượng giữa cấu trúc và tác dụng
(QSAR) Các mô hình in silico có lợi thế so với các mô hình thực nghiệm truyền
thống về thời gian và chi phí vận hành Hiện nay các mô hình in silico đã trở thành một phần không thể tách rời trong các dự án nghiên cứu và phát triển thuốc mới, chúng được sử dụng trong giai đoạn sàng lọc các thư viện hoá học lớn nhằm tìm kiếm hợp chất tiềm năng cho các nghiên cứu thực nghiệm [29]
Nghiên cứu khoa học về thực vật là một chiến lược thay thế hiệu quả để tìm
ra các tác nhân trị liệu mới Ví dụ, 1,1-dimethylbiguanide, hoạt chất trong thuốc metformin trị đái tháo đường nổi tiếng, có nguồn gốc từ guanidine - một hợp chất
hạ huyết áp được phát hiện từ cây lilac của Pháp, Galega officinalis [5] Một số loại
Trang 11thuốc thông thường được kê đơn cũng được phát hiện từ thực vật Các ví dụ phổ biến bao gồm morphine giảm đau từ Papaver somniferum (thuốc phiện), thuốc chống viêm aspirin từ Salix alba (cây liễu trắng) và thuốc chống sốt rét, quinine từ
Cinchona succirubra [17] Vì vậy nghiên cứu khoa học về cây thuốc dựa trên bằng
chứng để khám phá các sản phẩm tự nhiên hoạt tính sinh học với các ứng dụng điều trị là một con đường đầy hứa hẹn để thiết lập các liệu pháp mới cho bệnh này
Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên dược liệu vô cùng dồi dào và phong phú, đây là một nguồn quan trọng và đầy hứa hẹn để xác định các hợp chất chống đái tháo đường mới Hàng ngàn hoạt chất đã được xác định và phân lập từ các cây dược liệu là nguyên liệu vô cùng quý giá cho các nghiên cứu sàng lọc tìm kiếm các hợp chất dẫn đường có tác dụng tốt trong kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2
Từ những phân tích nêu trên, nhằm góp phần tìm kiếm các chất có hoạt tính tốt phù hợp phát triển thành thuốc điều trị ĐTĐ tuýp 2, tôi tiến hành đề tài “Tìm kiếm
m ột số hợp chất thiên nhiên có tác dụng hạ đường huyết hướng điều trị tiểu đường tuýp 2 s ử dụng phương pháp in silico” với mục tiêu chính như sau:
1 Xây dựng hai mô hình QSAR cho phép tìm kiếm các hợp chất có tác dụng sinh
học trên từng đích phân tử là PPARγ và SGLT2 hướng điều trị ĐTĐ tuýp 2
2 Sàng lọc được một số hợp chất thiên nhiên có tác dụng điều trị tiểu đường tuýp
2 sử dụng hai mô hình QSAR đã xây dựng
3 Kiểm tra hoạt tính sinh học của các hợp chất đã sàng lọc qua mô hình in vivo
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh đái tháo đường
1.1.1 Khái niệm
Theo Bộ Y tế Việt Nam năm 2017, Đái tháo đường (ĐTĐ) được định nghĩa là
“bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khi ếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính trong th ời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây t ổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu,
th ận, mắt, thần kinh”[1]
Theo số liệu của Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF-International Diabetes Federation), năm 2015, trong 111 nước được điều tra có đến 415 triệu người (20-79 tuổi) mắc ĐTĐ, và ước tính đến năm 2040 con số này sẽ tăng lên 642 triệu, tức là
cứ 10 người có 1 người bị ĐTĐ Mặt khác, cùng với việc sử dụng thực phẩm không khoa học, an toàn, thiếu vận động ở trẻ nhỏ, bệnh ĐTĐ tuýp 2 đang có xu hướng tăng ở cả trẻ em, trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng Bệnh ĐTĐ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, điển hình như các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, xơ vữa động mạch,…), mắt (đục thủy tinh thể), thận (suy
thận), và cắt cụt chi [1]
Tại Việt Nam, năm 2012, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5.42%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63.6% Theo
kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ
Y tế thực hiện năm 2015 ở nhóm từ 18-69 tuổi cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6% [1]
1.1.2 Phân loại
a) Đái tháo đường tuýp 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối) [1]
Đái tháo đường tuýp 1 chiếm 5 - 10% của tất cả các trường hợp đái tháo đường
do tế bào beta bị tàn phá nên bệnh nhân không còn hoặc còn rất ít insulin Trong đó, 95% là do cơ chế tự miễn (tuýp 1A), 5% vô căn (tuýp 1B) Bệnh nhân bị giảm lượng insulin, tăng glucagon trong máu, nếu không điều trị sẽ bị nhiễm toan ceton
Bệnh ĐTĐ tuýp 1 có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu xuất hiện từ sớm (trẻ
ếu niên) Bệnh nhân cần bổ sung insulin để ổn định đường huyết Người lớn
Trang 13tuổi có thể bị ĐTĐ tự miễn diễn tiến chậm (LADA - Latent Autoimmune Diabetes
of Adulthood), ban đầu bệnh nhân còn đủ insulin nên chưa bị nhiễm toan ceton và
có thể điều trị bằng thuốc viên nhưng tình trạng thiếu insulin sẽ nặng dần theo thời gian [1]
Dấu ấn di truyền của ĐTĐ tuýp 1: Mẹ bị ĐTĐ tuýp 1 nguy cơ con bị là 3%, nguy cơ tăng đến 6% nếu cha bị ĐTĐ Tỉ lệ cùng mắc ĐTĐ tuýp 1 ở hai trẻ sinh đôi cùng trứng là 25-50% [1]
Yếu tố môi trường của ĐTĐ tuýp 1: rubella bẩm sinh, virus quai bị, thuốc diệt chuột Vacor, hydrogen cyanide ở rễ cây sắn có liên quan đến ĐTĐ tuýp 1 [1]
b) Đái tháo đường tuýp 2 (do giảm chức năng của tế bào β tuyến tụy tiến triển
trên nền tảng đề kháng insulin) [1]
Đái tháo đường tuýp 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, là dạng phổ biến nhất của bệnh ĐTĐ (chiếm 90-95% trong tất cả các trường hợp) và do đó là trọng tâm chính của nghiên cứu bệnh tiểu đường Kháng insulin và sự suy giảm liên tục của tế bào β đảo tụy là trung tâm của căn nguyên của ĐTĐ tuýp 2 [22] Tuy nhiên thường ở giai đoạn đầu hoặc có khi suốt cuộc sống bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 không cần bổ sung insulin để sống sót Bệnh nhân không có sự phá hủy tế bào β do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu Do tình trạng kháng insulin, trong giai đoạn đầu tế bào β sẽ bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng này kéo dài hoặc nặng dần, tế bào β sẽ không tiết
đủ insulin và ĐTĐ tuýp 2 lâm sàng sẽ xuất hiện Sự kháng insulin cũng có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường [1]
Tăng đường huyết (mức đường huyết lúc đói ≥ 7,0 mmol/L, hoặc mức đường huyết ngẫu nhiên ≥ 11,1 mmol / L) là đặc điểm bất thường về sinh lý của bệnh tiểu đường Do đó, việc đo mức đường huyết được sử dụng để sàng lọc, chẩn đoán và theo dõi bệnh tiểu đường [1],[7] Có bốn loại xét nghiệm có sẵn: (1) đường huyết lúc đói; (2) xét nghiệm dung nạp glucose đường uống; (3) xét nghiệm glucose ngẫu nhiên; và (4) HbA1c, hoặc xét nghiệm hemoglobin glycated
Hầu đa bệnh nhân có triệu chứng béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to Nồng độ đường huyết cao kéo dài (như trong trường hợp bệnh tiểu đường) gây tổn hại cho nhiều hệ thống cơ quan Do đó, ĐTĐ tuýp 2 có liên quan đến các biến chứng nặng nề lâu dài góp phần gây ra tỷ lệ mắc bệnh và tử vong
Trang 14cao Ví dụ, tổn thương mạch máu và thần kinh do tăng đường huyết mãn tính thúc đẩy sự tiến triển của bệnh tim mạch (CVD), và có thể dẫn đến mất thị lực và suy thận [52] Bệnh võng mạc do tiểu đường là nguyên nhân chính gây mù có thể phòng ngừa được, trong khi bệnh thận do tiểu đường là nguyên nhân chính gây ra bệnh thận [60] Do đó, việc kiểm soát tăng đường huyết ở mức thích hợp là mục tiêu chính của điều trị bệnh tiểu đường và nhằm mục đích giảm thiểu sự phát triển của các biến chứng mãn tính
Nguy cơ ĐTĐ tuýp 2 gia tăng với tuổi, béo phì và ít vận động ĐTĐ tuýp 2 cũng thường xuất hiện ở phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ, những người có tăng huyết
áp, rối loạn lipid máu và ở một số sắc tộc nhạy cảm như Mỹ da đen, Mỹ bản địa, người Mỹ gốc La tinh, Mỹ gốc Á, dân châu Mỹ La tinh, người gốc Nam Á, một số đảo vùng Thái Bình Dương
Yếu tố di truyền cũng ảnh hưởng mạnh trong bệnh ĐTĐ tuýp 2, tỉ lệ cùng bị ĐTĐ của hai người sinh đôi cùng trứng là 90%, hầu hết người ĐTĐ típ 2 đều có thân nhân bị ĐTĐ Có thể bệnh do ảnh hưởng của nhiều gen chi phối Nếu phát hiện một gen cụ thể gây tăng glucose huyết, bệnh nhân sẽ được xếp vào thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ [1]
Yếu tố môi trường: Bệnh tiểu đường tuýp 2 là kết quả của sự tương tác giữa khuynh hướng di truyền và các yếu tố rủi ro môi trường có thể thay đổi và không thể sửa đổi như béo phì, chế độ ăn uống kém và ít vận động [1]
c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ tuýp 1, tuýp 2 trước đó) [1]
ĐTĐ thai kỳ là tình trạng rối loạn đường huyết ở bất kỳ mức độ nào được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thời kỳ mang thai và không có bằng chứng về ĐTĐ tuýp 1 hay tuýp 2 trước đó Sau thời gian sinh phần lớn glucose máu trở về bình thường, chỉ có một số ít tiến triển thành ĐTĐ tuýp 2
Thai phụ sẽ được chẩn đoán là ĐTĐ chưa được chẩn đoán hoặc chưa được phát hiện nếu có thai 3 tháng đầu được phát hiện tăng glucose huyết và dùng tiêu chí chẩn đoán như ở người không có thai ĐTĐ thai kỳ có xu hướng gặp ở phụ nữ thừa cân, béo phì, nhiều tuổi hay phụ nữ sinh đẻ nhiều lần
d) Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như [1]:
Trang 15- Sự khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể thường, di truyền theo gen trội tại tế bào beta (ĐTĐ đơn gen thể MODY)
- Khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể thường, di truyền theo gen lặn tại tế bào beta
- Khiếm khuyết gen liên quan đến hoạt tính insulin
1.1.3 Các liệu pháp hiện tại cho ĐTĐ tuýp 2
Một số liệu pháp dược phẩm hiện đang có sẵn để điều trị ĐTĐ tuýp 2 (Bảng 1.1) với các phương thức hoạt động khác nhau Ví dụ, sulfonylureas và meglitinide là các chất tiết insulin; tức là chúng kích thích tiết insulin bằng cách
kích tích tế bào β của tuyến tụy [30] Biguanide và thiazolidinediones là thuốc gây nhạy cảm với insulin (còn được gọi là insulinomimetic) [32] Acarbose ức chế α -
glucosidase trong lòng của ruột non và làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thu carbohydrate trong chế độ ăn uống, do đó làm giảm chứng tăng đường huyết sau ăn [14]
Một loại liệu pháp chống đái tháo đường mới hơn dựa trên hoạt tính hạ đường huyết của hormone incretin peptide giống glucagon-1 (GLP-1) và peptide ức chế phụ thuộc glucose (GIP) GLP-1 và GIP điều chỉnh sự thèm ăn và cảm giác no, ức chế bài tiết glucagon và thúc đẩy sản xuất insulin Chúng được sản xuất bởi các tế bào enteroendocrine trong đường tiêu hóa và bị thoái hóa nhanh chóng bởi dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4) Do đó các chất tương tự và chất chủ vận thụ thể của GLP-1 và GIP, và các chất ức chế DPP-4 có tác dụng điều trị chống lại ĐTĐ tuýp 2 [10, 15, 47]
Các chất ức chế đồng vận chuyển glucose (SGLT) là một nhóm thuốc uống mới khác để điều trị bệnh tiểu đường [23] Các protein SGLT-2 trong ống lượn gần thận chịu trách nhiệm cho sự tái hấp thu glucose từ dịch lọc của cầu thận vào dòng máu [23] Ức chế chọn lọc SGLT-2 tạo điều kiện cho glucose loại bỏ trong nước tiểu bằng cách ức chế tái hấp thu glucose ở thận [23, 44, 59] Protein SGLT-1 là chất
Trang 16vận chuyển glucose liên quan đến sự hấp thụ glucose ở ruột non và ức chế protein SGLT-1 làm chậm sự hấp thu glucose ở ruột và làm giảm mức đường huyết sau
ăn Các chất ức chế SGLT-1 vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu, tuy nhiên, một chất ức chế SGLT-1/2 kép, sotagliflozin, ức chế cả SGLT-1 và SGLT-2 đã cho thấy hiệu quả trong việc kiểm soát nồng độ glucose trong máu và thể hiện một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn cho cả ĐTĐ tuýp 1 và ĐTĐ tuýp 2 [12, 36]
Bảng 1.1 Các liệu pháp điều trị ĐTĐ hiện đang được phép sử dụng
Nhóm thu ốc Đích tác
d ụng Cơ chế tác d ụng
Tác d ụng không mong mu ốn
nhạy cảm insulin
Hạ đường huyết, tăng cân, dị ứng
Insulin glargine, Insulin lispro
[34, 45]
Sulfonylurea Kênh K+
nhạy cảm ATP
Kích thích tăng tiết insulin tuyến tụy
Hạ đường huyết, tăng cân, tăng nguy cơ mắc
bệnh CVD
Tolbutamide, glipizide, glyburide, glimepiride
[30]
Meglitinide Kênh K
nhậy cảm ATP
Kích thích tăng tiết insulin tuyến tụy
Hạ đường huyết, tăng cân
Repaglinide, nateglinide
[30]
Biguanide Tăng độ nhạy
insulin Giảm sản lượng glucose của gan
Giảm sản xuất glucose tại gan
Rối loạn tiêu hóa, nhiễm toan lactic, nguy cơ hạ đường huyết trong liệu pháp phối hợp,…
Metformin [30]
Trang 17Pioglitazone, rosiglitazone
[30,
39, 46]
Viêm dạ dày, suy nhược, sốt
Saroglitazar
Ức chế α-
glucosidase
α- glucosidase
Giảm hấp thu carbohydrat
Rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, đau bụng, sụt cân
Exenatide, liraglutide
[16, 37]
Chất ức chế
Dipeptidyl
peptidase-IV
Dipeptidyl peptidase-IV (DPP4)
Tăng nồng
độ incretin GLP-1 trong máu
Tăng nguy
cơ nhiễm trùng, đau đầu
Vildagliptin, sitagliptin, saxagliptin
[16, 37]
Nhiễm toan ceton
Canagliflozi, dapagliflozin, empagliflozin
[23,
44, 59]
Trang 18Hiện nay, các chất tiết insulin và metformin là nhóm thuốc được kê đơn rộng rãi nhất trong các liệu pháp chống tiểu đường Metformin là thuốc ĐTĐ tuýp 2 phổ biến nhất và được kê đơn là liệu pháp đầu tay cho bệnh nhân tiểu đường thừa cân hoặc béo phì [9, 20] Metformin làm tăng độ nhạy insulin bằng cách tăng cường sự hấp thu và sử dụng glucose của cơ bắp và cũng ngăn chặn sự phát sinh glucone ở gan [20, 33]
Ở những bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ tuýp 2 tiến triển, thuốc uống có thể không kiểm soát đầy đủ các triệu chứng tăng đường huyết và tiểu đường Những bệnh nhân như vậy được cho sử dụng liệu pháp thay thế insulin Sử dụng insulin thường thông qua dụng cụ tiêm bút insulin Bơm insulin cũng là một lựa chọn; tuy nhiên, theo truyền thống nó chỉ được sử dụng bởi các bệnh nhân ĐTĐ tuýp 1 [20] Điều trị bằng insulin được khuyến nghị khi 2 tháng 3 tháng điều trị bằng miệng với thuốc chống tiểu đường không đạt được mức HbA1c ≤ 7% [51]
Mặc dù các liệu pháp thông thường cho ĐTĐ tuýp 2 có thể hỗ trợ điều chỉnh lượng đường trong máu và kiểm soát các triệu chứng của bệnh tiểu đường, nhưng chúng không phải không có tác dụng phụ không mong muốn Ví dụ, liệu pháp insulin và các chất tiết insulin có thể làm giảm mức đường huyết dẫn đến hạ đường huyết [30] Sulfonylureas và thiazolidinediones có thể thúc đẩy tăng cân, trong khi biguanide và thuốc ức chế α -glucosidase thường gây ra tác dụng bất lợi cho đường tiêu hóa (Bảng 1.1) Do đó, việc tìm kiếm các liệu pháp thay thế hiệu quả với các tác dụng phụ ít gây hại hơn ngày càng là yêu cầu cấp thiết
1.1.3.1 Thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển Natriglucose 2 (SGLT2
-Sodium Glucose Transporter 2)
Sự phát minh ra thuốc ức chế kênh SGLT2 vào năm 2012, đã được nhìn nhận là một trong “10 bước tiến của y học năm 2012” do 1700 nhà khoa học đến từ các các lĩnh vực khác nhau bầu chọn, được tổ chức bởi viện trường danh tiếng Cleveland Clinic của Hoa Kỳ
Glucose được lọc qua cầu thận sau đó được tái hấp thu chủ yếu ở ống thận gần dưới tác dụng của các kênh đồng vận chuyển Natri-glucose (Sodium Glucose coTransporters - SGLT) Bình thường tại thận có hai kênh tái hấp thu glucose: SGLT1 và SGLT2 SGLT2 có ái lực thấp, khả năng vận chuyển cao, biểu lộ chính tại ống lượn gần, chiếm 90% khả năng tái hấp thu glucose tại ống thận Do đó ức chế tác dụng kênh này ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 sẽ làm tăng thải glucose qua đường tiểu và giúp giảm đường huyết [1]
Trang 19Vì cơ chế tác động trên ống thận không cần có sự hiện diện của insulin, do đó thuốc tác dụng trên SGLT2 có nguy cơ hạ đường huyết thấp và có hiệu quả giảm đường huyết trên các bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 cả ở giai đoạn sớm và mắc bệnh lâu năm
Hiện nay tại Việt Nam chỉ lưu hành thuốc Dapagliflozin Thuốc ức chế kênh SGLT2, ức chế sự hấp thu glucose tại ống thận, giảm đường huyết, giảm cân, và giảm huyết áp Hiện tại thuốc ức chế kênh SGLT2 (Dapagliflozin, Empagliflozin, Canagliflozin) đã được chấp thuận bởi FDA và được lưu hành tại Hoa Kì Các nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, giả dược, có đối chứng trên những bệnh nhân đái tháo đường típ 2 cho thấy tính hiệu quả và an toàn của thuốc ức chế kênh SGLT2 ở bệnh nhân Đông Á
Vì vậy đây là một đích phân tử đầy tiềm năng để thiết kế các thuốc điều trị ĐTĐ tuýp 2
1.1.3.2 Kích hoạt thụ thể Peroxisome proliferator gamma (PPARγ)
PPARγ (thụ thể gamma hoạt hóa bởi chất tăng sinh peroxisom) thuộc nhóm các yếu tố dịch mã, đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa nồng độ glucose và lipid Nó tồn tại ở 3 thể : PPAR-γ1, PPAR-γ2, và PPAR-γ3 [68]
Hoạt hóa PPARγ cải thiện tình trạng kháng insulin thông qua phân tử nhận dạng dẫn xuất từ mô mỡ hoặc cytokine của mô mỡ [69] Giảm nồng độ cytokine mô mỡ bao gồm : TNF-α, IL-6, leptin, rexixtin và adiponectin liên quan tác dụng của thiazolinedion (TZD) Về cơ chế, chất liên kết TZD của PPARγ tạo sự biệt hóa tận cùng vả thúc đẩy biểu hiện PPARγ lạc chỗ trong các fibroblasts tân sinh tế bào mỡ khi có sự hiện hiện các chất đồng vận PPARγ
Một số mô hình QSAR đã được phát triển và ứng dụng hiệu quả trong sàng lọc tìm kiếm chất hoạt hóa PPARγ Ví dụ như Khanna và cộng sự công bố nghiên cứu
về sàng lọc hợp chất hoạt hóa đồng thời PPARα và PPARγ [66] Hay Gee và nhóm nghiên cứu kết hợp QSAR và docking trong sàng lọc thư viện ZINC tìm kiếm chất hoạt hóa PPARγ [65],… Tuy nhiên số lượng hợp chất sàng lọc còn khá hạn chế, các hợp chất tự nhiên hầu như chưa được nghiên cứu bằng các mô hình in silico đã phát triển
1.2 Mô hình in silico trong nghiên cứu phát triển thuốc mới
Phát triển thuốc mới là một quá trình rất phức tạp, tốn nhiều thời gian và tiền bạc (hàng tỷ đô la cho một loại thuốc mới) mà tỷ lệ thành công trong việc có được
Trang 20từ một hợp chất dẫn đường ban đầu để thương mại hóa là rất thấp (< 2% của hợp chất mới đc nghiên cứu có thể có đặc tính sinh học phù hợp để làm thuốc) Theo nghiên cứu năm 2016 của DiMasi và cộng sự - Trung tâm nghiên cứu và phát triển thuốc, Đại học Tufts Hoa Kỳ, trung bình cần hơn 2,5 tỷ đô với thời gian từ 10-15 năm cho mỗi dự án (nếu thành công) đưa một thuốc ra ngoài thị trường
Quá trình nghiên cứu và phát triển thuốc bao gồm nhiều khâu (Hình 1.1): xác định bệnh, xác định đích tác dụng của thuốc, thiết lập quy trình thử nghiệm, tìm kiếm hợp chất dẫn đường, xây dựng mối qua hệ giữa hợp chất và tác dụng, xác định pharmacophore, tối ưu hóa dược lực học và dược động học, sàng lọc in vitro (cơ
quan phân lập, tế bào), nghiên cứu in vivo (nghiên cứu dược lý của hợp chất, mô
hình hiệu quả điều trị bệnh, nghiên cứu sớm về độ an toàn và độc tính), các nghiên cứu tiền lâm sàng (độc tính), tiến hành bào chế, phát triển sản xuất, đăng kí giấy tờ pháp lí và thử nghiệm lâm sàng
Hình 1.1 Quá trình nghiên cứu phát triển thuốc
Trong các nghiên cứu hiện nay, vấn đề thiết kế thuốc hiệu quả nhất đã được giải quyết bằng cách sử dụng kỹ thuật thiết kế thuốc dựa trên sự hỗ trợ của máy tính [8] Trong quá trình đó máy tính được ứng dụng vào nhiều khâu, từ việc tìm kiếm các hợp chất hóa học có tác dụng sinh học, đến tối ưu hóa cấu trúc các hợp chất này nhằm tăng hoạt tính sinh học, giảm độc tính, tăng các tính chất dược động học của thuốc, đến các khâu nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng Chúng được gọi chung
Trang 21vivo, in situ và in vitro So với các phương pháp thực nghiệm truyền thống các phương pháp in silico có ưu thế giúp thiết kế những phân tử thuốc mới với những
ưu thế vượt trội như giải thích bản chất phân tử của các tương tác thuốc, rút ngắn thời gian thực hiện
Ngoài ra chúng cho phép dự đoán hoạt tính sinh học sử dụng các mô hình toán học, nghiên cứu dự đoán cơ chế tác dụng, cơ chế gây độc của các hợp chất Các phương pháp này giúp tiết kiệm đáng kể cả thời gian và tiền bạc trong việc phát triển một thuốc mới Các phương pháp in silico đã giúp ích nhiều cho việc phát hiện các hợp chất mới có hoạt tính sinh học ngay cả trước khi chúng được tổng hợp hay phân lập thông qua quá trình sàng lọc ảo (virtual screening) [8]
1.3 Đại cương về QSAR
Các mô hình liên quan định lượng cấu trúc và tác dụng (Quantitative Structure Activity Relationships), viết tắt là QSAR, là một kỹ thuật dự đoán hoạt
động, độ phản ứng và tính chất của một tập hợp phân tử chưa biết dựa trên phân tích phương trình kết nối các cấu trúc của phân tử với hoạt động và tính chất đo được tương ứng của chúng QSAR được xây dựng trên nguyên lý cơ bản là cấu trúc của mỗi phân tử chứa các yếu tố quyết định đặc tính sinh học, vật lý, hóa lý của nó Các hợp chất có cấu trúc giống nhau thường có hoạt tính tương tự nhau [3, 42] Những đặc điểm hóa học này có thể là các thông số được xác định theo lý thuyết hoặc từ thực nghiệm (ví dụ: các loại đặc tính lý hóa của hợp chất như nhiệt độ bay hơi, khối lượng mol phân tử…) Do đó, bất kỳ yếu tố nào có chứa thông tin hóa học quan trọng đều có thể được sử dụng với vai trò là các biến dự báo hay các tham số mô tả
Như vậy, các đặc tính lý hóa như là nhiệt độ nóng chảy, thời gian bán hủy, sức căng bề mặt,… đặc trưng cho một hợp chất đều chứa đựng thông tin liên quan
có thể dùng để giải thích các đáp ứng liên quan đến hợp chất đó Nói một cách toán học, mô hình QSAR có thể biểu diễn mối tương quan định lượng giữa cấu trúc phân
tử và hoạt tính sinh học của chúng thông qua hàm số:
)
(x f
Y Trong đó:
- Y là biến đáp ứng sinh học hoặc hóa học thường xác định được từ thực nghiệm
và thể hiện bằng các giá trị như nồng độ ức chế 50% đối tượng đích (IC50), nồng độ phần trăm ức chế (I%), nồng độ 50% tác dụng tối đa (EC50) …
Trang 22- Các biến X1, X2,…Xn là các đại lượng được sử dụng để mô tả cấu trúc phân tử
hợp chất gọi là các tham số phân tử (molecular descriptor, TSPT).[3]
Để xây dựng được hàm f(x), cần sử dụng các kỹ thuật thống kê (statistical)
hoặc/và học máy (machine learning) Một số kỹ thuật thường được dùng trong xây dựng mô hình QSAR như phân tích hồi quy đa biến tuyến tính (Multiple Linear Regression), bình phương tối thiểu từng phần (Partial Least Squares), phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis) [7] Kỹ thuật học máy là một lĩnh vực của trí tuệ nhân tạo, liên quan đến việc nghiên cứu và xây dựng các kĩ thuật cho phép các hệ thống "học" tự động từ dữ liệu để giải quyết những vấn đề cụ thể Trong thiết kế mô hình QSAR, phương pháp học máy thường được dùng là: mạng nơron nhân tạo (Artificial Neural Network), cây quyết định (Decision Tree),… [6] Các bước để xây dựng mô hình QSAR [55] gồm:
1) Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL);
2) Tính toán TSPT đặc trưng cho cấu trúc bằng sử dụng các phần mềm giúp biểu diễn và tính toán;
3) Xây dựng mô hình QSAR: Sử dụng các phương pháp xác suất thống kê và các kỹ thuật của trí tuệ nhân tạo để xây dựng mối liên hệ giữa các tham số phân tử (TSPT) và các giá trị đại lượng biểu diễn hoạt tính;
Tính toán tham s ố mô tả phân tử đặc trưng cho cấu trúc: Đây là quá trình
chuyển đổi toán học và lôgic chuyển đổi thông tin cấu trúc hóa học mã hóa thành dạng số giúp máy tính có thể “hiểu” được
Thi ết kế tập huấn luyện và tập kiểm tra: CSDL được chia thành tập huấn luyện (TS-Training set) chiếm khoảng 70-80 %, được sử dụng để xây dựng mô hình và
Trang 23tập kiểm tra (PS-Prediction set) để đánh giá khả năng dự đoán của các mô hình đã xây dựng được
Xây d ựng mô hình QSAR: Sử dụng các phương pháp xác suất thống kê và các
kỹ thuật của trí tuệ nhân tạo để xây dựng mối liên hệ giữa các tham số phân tử và giá trị đại lượng biểu diễn hoạt tính
Đánh giá mô hình: Đánh giá mô hình là giai đoạn quan trọng liên quan đến
khả năng ứng dụng của mô hình Mô hình cần có độ khớp, độ ổn định thông qua đánh giá nội trên tập TS và khả năng dự đoán tốt thông qua đánh giá ngoại trên tập
PS dựa trên các thông số thống kê Để đánh giá mô hình QSAR, các kĩ thuật hay được sử dụng đó là: đánh giá nội hay đánh giá chéo; đánh giá ngẫu nhiên Y; đánh giá bằng cách chia tệp dữ liệu thành các hợp chất để huấn luyện hay kiểm tra và đánh giá ngoại bằng cách áp dụng mô hình trên tập dữ liệu ngoại [21]
1.4 Kỹ thuật Protein docking
Docking phân tử là một phương pháp mới để sàng lọc các chất ức chế enzyme
và chất chủ vận thụ thể trong nghiên cứu bệnh tiểu đường Phần mềm chuyên dụng
sử dụng các mô hình phân tử ba chiều, độ phân giải cao của protein mục tiêu (ví dụ như thụ thể hoặc enzyme) làm khuôn mẫu để dự đoán các phối tử mới có thể liên kết và có khả năng điều chỉnh hoạt động của nó [50] Cấu trúc khuôn mẫu có được thông qua mô hình tương đồng hoặc tinh thể học Trong docking phân tử, mục tiêu phân tử hoạt động theo các hướng khác nhau và mức độ tự do hình thành liên tiếp nhanh chóng cho phép phần mềm sàng lọc cơ sở dữ liệu hỗn hợp theo cách thông lượng cao Các chức năng chấm điểm tích hợp dự đoán hoạt động sinh học dựa trên
sự tương tác giữa phối tử và protein mục tiêu có tính đến các yếu tố như hình dạng phối tử, khả năng tương thích tĩnh điện với mục tiêu, hiệu ứng hòa tan, năng lượng liên kết và hiệu ứng entanpy và entropy; tất cả đều là những yếu tố quyết định quan trọng của sự tương tác phối tử - thụ thể thành công [27]
Docking thực chất là một bài toán tối ưu, dùng để tìm vị trí và cấu hình phù hợp nhất của một cơ chất gắn kết lên protein Về mặt nhiệt động lực học, mục tiêu chính của docking là tìm ra cấu hình mà năng lượng tự do của toàn hệ là thấp nhất, tương đương với cấu hình bền nhất sau khi tạo thành liên kết giữa phối tử và protein Để tìm cấu hình phù hợp nhất, cần liên hệ cấu hình không gian với các trị
số đánh giá được khả năng gắn kết của cơ chất lên protein và sau đó áp dụng thuật toán tìm kiếm
Quá trình docking bao gồm ba bước chính:
Trang 241) Chuẩn bị cấu tử ;
2) Chuẩn bị protein ;
3) Mô phỏng docking
Chu ẩn bị cấu tử: Cấu trúc các cấu tử có thể lấy từ các thư viện sẵn có như
Pubchem, Zinc,…cũng có thể được vẽ trên phần mềm ChemDraw, Chemsketch, Sau khi xây dựng được cấu trúc 3D, sử dụng phần mềm MOE để xử lí cấu tử theo các bước: chỉnh sửa điện tích cho phù hợp, tối giản hóa năng lượng, gắn trường lực cho phân tử, xây dựng file dbpqt
Chu ẩn bị protein: Thường sử dụng các cấu trúc 3D của protein đã có sẵn trên
ngân hàng dữ liệu protein (protein data bank) Trường hợp chưa có sẵn, chúng ta có thể xây dựng cấu trúc 3D theo phương pháp mô phỏng tính tương đồng (Homology modeling) Về cơ bản của phương pháp mô phỏng tương đồng là sắp xếp chuỗi amino acid của protein thu được bởi quá trình giải mã gen lên khung cấu trúc bậc 3 của protein có độ phân giải cao nhưng thiếu thông tin của toàn bộ amino acid
Sau khi có cấu trúc 3D, sử dùng các phần mềm để chuẩn bị protein cho chương trình mô phỏng docking Các bước chuẩn bị thường gồm: loại nước và các cấu tử (nếu có), thêm hydro, gắn trường lực, phân tích vùng có khả năng tương tác, xây dựng file dbqpt
Mô ph ỏng docking: Trước khi tiến hành mô phỏng, cần sử dụng phần mềm để
tìm kiếm túi tương tác trên protein để đánh giá khả năng liên kết của phối tử tại vị trí đó Vị trí của vùng tìm kiếm thông thường sẽ được đặt ở trung tâm hoạt động của protein Khi quá trình docking được tiến hành, phần mềm sẽ tự động tìm kiếm cấu dạng phù hợp nhất của phối tử, tương ứng với năng lượng của toàn hệ thấp nhất Cấu dạng này cùng với các tương tác sẽ được phân tích bởi các phần mềm chuyên dụng như: MOE, Discovery studio
Trang 25CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Nguyên liệu
2.1.1 D ữ liệu các chất có hoạt tính dùng để xây dựng mô hình QSAR
- Chất ức chế SGLT2
Gồm 110 hợp chất có hoạt tính ức chế SGLT2 được thu thập trực tiếp từ nghiên cứu
Hoạt tính in vitro được biểu thị bằng nồng độ ức chế 50% (IC50) chất chủ vận
- Chất hoạt hóa PPARγ
Cấu trúc hóa học cũng như hoạt tính hoạt hóa PPARγ của 88 hợp chất được thu thập trực tiếp từ nghiên cứu của Al-Najjar và cộng sự [64] (Phụ lục 2)
Cấu trúc khung của các hợp chất này được thể hiện ở Hình 2.1 Hoạt tính in vitro được biểu thị bằng nồng độ của chất thử có khả năng ức chế 50% lượng chất chủ vận được đánh dấu huỳnh quang ở trạng thái kích thích PPARγ
Các thành phần dữ liệu đều chia thành tập huấn luyện và tập kiểm tra: Trong đó tập kiểm tra chiếm 20% được chọn một cách ngẫu nhiên
Hình 2.1 Cấu trúc khung các chất chủ vận PPARγ trong cơ sở dữ liệu
Trang 262.1.2 D ữ liệu các chất có hoạt tính dùng để xây dựng mô hình phân biệt
CSDL bao gồm 82 hợp chất kèm thông tin liên quan đã được xác định cấu trúc và tác dụng được tổng hợp từ các bài báo trong nước và quốc tế cho thấy tác dụng điều trị bênh tiểu đường trên các mô hình động vật (Phụ lục 3)
2.1.3 Cơ sở dữ liệu dùng để sàng lọc hoạt tính
Cơ sở dữ liệu: Các hợp chất từ tự nhiên đã được phân lập và xác định cấu trúc trong các nghiên cứu trước đây được tổng hợp trên ngân hàng dữ liệu ChemBl Thư viện dữ liệu hóa học sử dụng trong nghiên cứu bao gồm 758 hợp chất thiên nhiên với các thông tin liên quan
2.1.4 C ấu trúc tinh thể của các protein dùng trong nghiên cứu Docking
Cấu trúc 3D của protein được tải về từ ngân hàng dữ liệu protein (protein data bank) đồng thời được xử lý trước khi ứng dụng trong sàng lọc (Hình 2.2 và Hình
2.3)
Hình 2.2 Cấu trúc 3D của thụ thể kích hoạt peroxisome proliferator-γ
Trang 27Hình 2.3 Cấu trúc 3D của Protein đồng vận chuyển Natri - glucose 2
2.2 Thiết bị, phần mềm
Thiết bị: Sử dụng các phần mềm trên máy tính Asus Vivobook S14 – Hệ điều hành
Windows 10
Phần mềm: Danh sách các phần mềm sử dụng bao gồm:
- Phần mềm lưu trữ, hiệu chỉnh số liệu: Microsoft Excel 2010
- Phần mềm xây dựng cấu trúc hóa học: ChemDraw Professional bản 16.0
- Phần mềm tính toán tham số phân tử: Dragon 6.0
- Phần mềm xây dựng và tối ưu hóa mô hình QSAR: Statistica 12.0.5, và
Trang 28- Phần mềm nghiên cứu đặc điểm hóa lý và dược động học và độc tính
(Absorption, Distribution, Metabolism, Excretion and Toxicity, ADMET):
Volsurf bản 1.0.4, Toxtree bản 3.1.0 các công cụ trực tuyến như AdmetSAR phiên bản 2.0 và SwissADME
2.3 Nội dung nghiên cứu
1 Xây dựng thư viện dữ liệu các hợp chất và tính toán các tham số phân tử
2 Xây dựng mô hình QSAR của các hợp chất có tác dụng ức chế SGLT2 và
mô hình QSAR của các hợp chất có tác dụng hoạt hóa PPARγ
3 Xây dựng mô hình QSAR thể hiện mối tương quan giữa cấu trúc và tác dụng
in vivo
4 Tiến hành sàng lọc tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
đồng thời trên cả hai đích SGLT2 và PPARγ
5 Nghiên cứu Docking để đánh giá mức độ tương tác với trung tâm hoạt động trên đích tác dụng của các chất đã sàng lọc
6 Kiểm tra các chất đã sàng lọc trên mô hình QSAR thể hiện mối tương quan
giữa cấu trúc và tác dụng in vivo để tìm kiếm được các hợp chất tự nhiên ở Việt
Nam có khả năng cao có tác dụng điều trị bệnh ĐTĐ tuýp 2 trên mô hình in vivo
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử sụng phương pháp sàng lọc ảo qua hệ thống phễu lọc được xây dựng dựa trên tác dụng sinh học của các hợp chất đối với từng đích phân
- Mô phỏng protein docking để đánh giá khả năng liên kết trong không gian
của các cấu tử với đích tác dụng
- Kiểm tra các chất đã sàng lọc trên mô hình QSAR xây dựng dựa trên các
chất có tác dụng in vivo nhằm phân biệt các chất có hoạt tính hoặc không có hoạt tính in vivo