ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA Y DƯỢC NGUYỄN THỊ HƯƠNG TRANG ĐỊNH LƯỢNG ACID CHLOROGENIC TRONG DƯỢC LIỆU KÉ ĐẦU NGỰA Fructus Xanthii strumarii THU HÁI TẠI VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP HPL
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN THỊ HƯƠNG TRANG
ĐỊNH LƯỢNG ACID CHLOROGENIC TRONG DƯỢC LIỆU KÉ ĐẦU NGỰA
(Fructus Xanthii strumarii) THU HÁI TẠI
VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP HPLC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ HƯƠNG TRANG
ĐỊNH LƯỢNG ACID CHLOROGENIC TRONG DƯỢC LIỆU KÉ ĐẦU NGỰA
(Fructus Xanthii strumarii) THU HÁI TẠI
VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP HPLC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
(NGÀNH DƯỢC HỌC)
Khóa: QH.2015.Y
TS NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khoá luận này được thực hiện và hoàn thành tại Khoa Hóa phân tích - Tiêu chuẩn, Viện Dược Liệu với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Phương và TS Nguyễn Thị Thanh Bình
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Phương (Khoa Hóa phân tích - Tiêu chuẩn, Viện Dược liệu) và TS Nguyễn Thị Thanh Bình (Bộ môn Hóa dược và kiểm nghiệm, Khoa Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội) là những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, chu đáo, luôn chỉ bảo, góp ý, đưa ra những ý kiến quý báu và động viên em hoàn thiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Viện Dược liệu, PGS.TS Phương Thiện Thương (Trưởng khoa Hóa phân tích – Tiêu chuẩn, Viện Dược liệu) cùng các anh chị, cán bộ nhân viên khoa Hóa phân tích – Tiêu chuẩn, Viện Dược liệu đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể thầy cô trong Khoa Y – Dược, những người thầy đã luôn tận tâm dạy dỗ, trang bị cho em những kiến thức quý giá trong những năm tháng theo học tại trường
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, ủng hộ và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Sau cùng, em xin kính chúc các thầy cô luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống
Hà Nội, ngày 09 tháng 06 năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Thị Hương Trang
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, CÁC KÝ HIỆU
Ký hiệu Tên tiếng Anh hoặc tên khoa học Tiếng Việt
Chemists
Hiệp hội các nhà Hóa phân tích
HPLC-DAD
High performance Liquid Chromatography-Diod array detector
Sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép nối đầu dò mảng diod
Chromatography-Ultraviolet
Sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép nối đầu dò tử ngoại
Chiết xuất methanol phần thân
cây Xanthium strumarium
RP-HPLC-DAD
Reversed phase High performance Liquid Chromatography-Diod array detector
Sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo ghép nối đầu dò mảng diod
Thể tích/Thể tích
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hình ảnh cây Ké đầu ngựa Xanthium strumarium L 3
Hình 1.2 Hợp chất axit caffeic (22) và xanthiumnolic A (23) 6
Hình 1.3 Các hợp chất coumarin được phân lập từ Xanthium strumarium L 8
Hình 1.4 Các hợp chất liganolid được phân lập từ Xanthium strumarium L 8
Hình 1.5 Cấu trúc hóa học của acid chlorogenic 15
Hình 2.1 Hình ảnh dược liệu Ké đầu ngựa lưu trữ tại Viện Dược liệu 20
Hình 3.1 Sắc ký đồ HPLC phân tích acid chlorogenic trong dược liệu Ké đầu ngựa 27
Hình 3.2 Sắc ký đồ đánh giá tính chọn lọc của phương pháp 28
Hình 3.3 Đường chuẩn biểu diễn mối quan hệ giữa nồng độ CGA và diện tích pic 30
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1 Cấu trúc của các hợp chất sesquiterpenoid phân lập từ Xanthium
strumarium L 4
Bảng 1.2 Cấu trúc các dẫn xuất của axit caffeoylquinic được phân lập từ Xanthium strumarium L 7
Bảng 1.3 Cấu trúc của các hợp chất steroid và glycosid đã được phân lập từ Xanthium strumarium L 9
Bảng 1.4 Một số phương pháp xác định acid chlorogenic 17
Bảng 2.1 Danh sách các mẫu dược liệu Ké đầu ngựa thu thập 20
Bảng 3.1 Các thông số đánh giá đối với acid chlorogenic 27
Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính thích hợp hệ thống 29
Bảng 3.3 Quan hệ tuyến tính giữa nồng độ và diện tích của pic CGA 29
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá độ lặp lại 31
Bảng 3.5 Kết quả đánh giá độ đúng của phương pháp 32
Bảng 3.6 Hàm lượng acid chlorogenic trong mẫu dược liệu Ké đầu ngựa thu hái tại Việt Nam 32
Trang 7MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2
1.1.Tổng quan về cây Ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.) 2
1.1.1. Vị trí phân loại 2
1.1.2. Đặc điểm thực vật và phân bố 2
1.1.3. Bộ phận dùng 3
1.1.4. Thành phần hóa học 3
1.1.5. Một số tác dụng dược lý của cây Ké đầu ngựa 11
1.2.Tổng quan về acid chlorogenic 15
1.2.1. Công thức hóa học 15
1.2.2. Tính chất vật lý 15
1.2.3. Tác dụng dược lý 15
1.2.4. Một số phương pháp xác định acid chlorogenic 16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Chất chuẩn, hóa chất và thiết bị 21
2.2.1 Chất chuẩn 21
2.2.2 Hóa chất 21
2.2.3 Thiết bị 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Chuẩn bị dung dịch thử 21
2.3.2 Chuẩn bị dung dịch chuẩn 22
2.3.3 Xây dựng phương pháp định lượng acid cholorogenic trong Ké đầu ngựa
22
2.3.4 Áp dụng trên một số mẫu dược liệu Ké đầu ngựa 25
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 25
Trang 8CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 26
3.1 Khảo sát điều kiện phân tích và quy trình xử lý mẫu 26
3.2 Thẩm định phương pháp phân tích 28
3.2.1 Tính chọn lọc của phương pháp 28
3.2.2 Tính thích hợp của hệ thống 28
3.2.3 Xác định khoảng tuyến tính và xây dựng đường chuẩn 29
3.2.4 Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) 30
3.2.5 Độ lặp lại 30
3.2.6 Độ đúng 31
3.3 Áp dụng phương pháp đánh giá hàm lượng acid chlorogenic trong các mẫu dược liệu Ké đầu ngựa 32
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 34
4.1 Về thu thập mẫu dược liệu 34
4.2 Về xây dựng phương pháp định lượng 34
4.3 Về thẩm định phương pháp định lượng 35
4.4 Về kết quả áp dụng phương pháp HPLC định lượng acid chlorogenic trong dược liệu Ké đầu ngựa thu hái tại Việt Nam 35
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự tiến bộ của nền cách mạng khoa học – kỹ thuật, con người dần
có xu hướng “trở về với thiên nhiên”, nền Y học cổ truyền ngày càng được quan tâm, nghiên cứu và phát triển Trong đó, việc tập trung tìm kiếm, phân lập các hoạt chất chữa bệnh từ các loài dược liệu tự nhiên đã mang lại giá trị to lớn và có ý nghĩa
vô cùng thiết thực cho công cuộc chăm sóc sức khỏe con người
Ké đầu ngựa có tên khoa học Xanthium strumarium L., thuộc họ Cúc
Asteraceae, là một trong những vị thuốc quý được sử dụng rộng rãi trong nền Y học truyền thống Việt Nam và Trung Quốc với nhiều công dụng như tiêu độc, sát trùng, tán phong, trừ thấp Ké đầu ngựa thường được dùng để chữa phong hàn đau đầu, tay chân đau co rút, phong tê thấp, đau khớp, bướu cổ, mày đay, lở ngứa, mụn nhọt [3] Bên cạnh đó, đây còn là loại dược liệu có nhiều tác dụng dược lý quan trọng như ức chế khối u, kháng viêm, kháng khuẩn, chống oxy hóa và chống đái tháo đường
Trong Ké đầu ngựa có chứa các nhóm chất mang hoạt tính sinh học, trong đó phải kể đến acid chlorogenic – một hợp chất hóa học thuộc nhóm axit phenolic, có công dụng chống oxy hóa, chống đột biến gen, ngăn chặn sự phát triển tế bào ung thư, chống vi rút và kháng khuẩn Acid chlorogenic là hoạt chất được yêu cầu định lượng trong nhiều loài dược liệu như Kim ngân hoa theo Dược điển Trung Quốc
2015 [51]; các chuyên luận trong Dược điển Mỹ 38 [54] Tuy nhiên, Dược điển Việt Nam V chưa đề cập tới định lượng acid chlorogenic trong dược liệu Ké đầu ngựa, mới chỉ có các công trình nghiên cứu định lượng acid chlorogenic trong dược liệu bằng các phương pháp HPLC tại Việt Nam [2]
Từ thực tiễn trên, để góp phần xây dựng một phương pháp kiểm nghiệm dược liệu chính xác, đơn giản và có thể ứng dụng rộng rãi, tôi đã tiến hành đề tài
“Định lượng acid chlorogenic trong dược liệu Ké đầu ngựa (Fructus Xanthii
strumarii) thu hái tại Việt Nam bằng phương pháp HPLC” với 2 mục tiêu:
- Xây dựng và thẩm định phương pháp định lượng acid chlorogenic trong dược liệu Ké đầu ngựa bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
- Ứng dụng phương pháp HPLC đã xây dựng để định lượng acid chlorogenic trong một số mẫu dược liệu Ké đầu ngựa thu hái tại các vùng khác nhau của Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về cây Ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.)
1.1.1 Vị trí phân loại
Ké đầu ngựa có tên khoa học là Xanthium strumarium L., thuộc họ Cúc
Asteraceae, hay còn gọi là Thương nhĩ (tên Trung Quốc), Phát ma (tên Thổ) Ở
Trung Quốc, gọi quả ké là Thương nhĩ tử (Fructus Xanthii strumarii) [4]
Vị trí phân loại của Xanthium strumarium L.:
cm, có lông cứng [3]
Cụm hoa mọc ở đầu cành hoặc kẽ lá, màu lục nhạt, gồm hai loại đầu, cùng gốc, nhưng đầu trên nhỏ mang hoa lưỡng tính, đầu khác mang hoa cái Lá bắc xếp thành hai hàng, có lông Hoa lưỡng tính hình ống, không có mào lông, tràng có 5 thùy, nhị 5, hoa cái không có tràng và mào lông Quả bế đôi, hình trứng, có hai sừng nhọn ở đầu và phủ dày gai móc, dài 12 - 15 mm, rộng 7 mm [3]
Chi Xanthium L chỉ có một loài Ké đầu ngựa ở Việt Nam Cây có nguồn gốc
ở châu Mỹ, sau lan ra khắp các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới châu Á, châu Phi và
cả ở châu Âu Ở Việt Nam, Ké đầu ngựa có ở hầu hết các tỉnh miền núi, trung du và
Trang 11Ké đầu ngựa ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc tương đối tập trung thành đám lớn ở các bãi trống, ven đường đi hoặc trên các ruộng trồng hoa màu mới, bỏ hoang Cây mọc từ hạt vào khoảng tháng 4 - 5, sinh trưởng nhanh trong mùa hè, mùa hoa quả tháng 5 - 8, sau khi có quả sẽ tàn lụi vào khoảng giữa mùa thu [3]
Hình 1.1 Hình ảnh cây Ké đầu ngựa Xanthium strumarium L [64]
vi khuẩn, chống vi rút, chống khối u và chống viêm [45, 55]
Năm 2015, 8 sesquiterpene đã được phân lập từ quả của X strumarium, bao
gồm sibirolid A (1), sibirolid B (2) và norxanthantolid A – F (3 - 8) [46] Năm
2008, Han Ting và các cộng sự cũng phân lập được
1β-hydroxyl-5α-chloro-8-pei-xanthatin (9) và 11α,13-dihydro-8-epi-1β-hydroxyl-5α-chloro-8-pei-xanthatin (10) từ phần trên mặt đất của X
strumarium [13] Hai xanthanolid mới là 6β,9β-dihydroxy-8-epi-xanthatin (11) và
2-hydroxytomentosin-1β,5β-epoxid (12) sau đó cũng được tìm thấy trong chiết xuất
từ lá cây Xanthium strumarium L [35]
Bên cạnh đó, dịch chiết lá X strumarium cũng cho thấy sự có mặt của các
hợp chất xanthinin (13), xanthumin (14), xanthanol (15), xanthatin (16), xanthinosin
(17) [36, 59] Ngoài ra, vào năm 1998, Ahmed A Mahmoud đã phân lập được 3
loại xanthanolid mới từ phần trên mặt đất của X strumarium bằng phương pháp phổ
1D, 2D NMR độ phân giải cao là 11α,13-dihydroxanthatin (18),
Trang 124β,5β-epoxyxanthatin-1α,4α-endoperoxid (19) và axit
Trang 141.1.4.2 Các Phenylpropenoid
Phenylpropenoid là một trong những nhóm chất quan trọng được tìm thấy
trong X strumarium, tính đến hiện nay, có khoảng 45 loại phenylpropenoid đã được
tìm thấy trong loại cây này Trong đó, các phenolic axit, đặc biệt là axit clorogenic
(21) phân lập được từ quả X strumarium được xem là chất mang tác dụng chống
viêm, giảm đau chính của cây [15]
Năm 2012, D P Pandey và M A Rather đã phân lập được trong dịch chiết
methanol cây X strumarium hợp chất axit caffeic (22) bằng các phương pháp phổ
[39] Năm 2017, từ chiết xuất quả X strumarium đã xác định được năm hợp chất
phenylpropanoid mới là xanthiumnolic A (23) và xanthiumnolic B-E [23]
(22) (23)
Hình 1.2 Hợp chất axit caffeic (22) và xanthiumnolic A (23)
Trong khoảng thời gian từ năm 1993 - 2016, 10 dẫn xuất của axit
caffeoylquinic (CQA) cũng được tìm thấy trong các bộ phận của X strumarium,
bao gồm: Axit 1,tri-O-CQA (24), axit di-O-CQA (25) [7], axit dimethyl-CQA (26), axit 1,5-di-O-CQA (27), axit 1,3-di-O-CQA (28) [20], axit 5-
3,5-O-CQA (29), axit 1,4-di-3,5-O-CQA (30), axit 4,5-di-3,5-O-CQA (31) [14], axit 4-3,5-O-CQA
methyl este (32), axit chlorogenic (21) [9]
Trang 15Bảng 1.2 Cấu trúc các dẫn xuất của axit caffeoylquinic được phân lập từ
Trang 161.1.4.3 Các Coumarin và Lignanoid
Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu đã phân lập được các hợp chất
lignanoid và coumarin trong X strumarium Cụ thể, năm 2011, Suqin Kan và những cộng sự đã tách chiết được từ rễ cây X strumarium 4 loại coumarin là scopoletin
(33), jatrocin B (34), cleomiscosin A (35) và cleomiscosin C (36) bằng phương
pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR và phương pháp khối phổ MS [26]
(33) (34)
(35) (36)
Hình 1.3 Các hợp chất coumarin được phân lập từ Xanthium strumarium L
Năm 2018, trong một nghiên cứu về nhóm chất lignan trong quả khô Ké đầu
ngựa (Fructus Xanthii strumarii) của H Jiang và cộng sự đã phân lập được nhiều
Trang 171.1.4.4 Các hợp chất khác
Ngoài những nhóm chất chính nêu trên, trong cây X strumarium còn chứa
rất nhiều nhóm chất hóa học khác Trong nghiên cứu về các thành phần hóa học từ
rễ cây Xanthium sibiricum của Suqin Kan và cộng sự năm 2011 không chỉ phân lập
được 4 coumarin nêu trên mà còn phân lập được năm hợp chất steroid, bao gồm:
β-sitostenon (41), β-sitosterol (42), daucosterol (43), stigmast-4-en-β-ol-3-on (44) và
5α,8α-epidioxy-22E-ergosta-6,22-dien-3β-ol (45) [26]
Các nhóm chất glycosid cũng được chứng minh sự có mặt của chúng trong
X strumarium, năm 1975, JC Craig và các cộng sự đã xác định được tác nhân hạ
đường huyết – carboxyatractylosid (46) từ X strumarium [10]
Năm 2013, 4 hợp chất glycosid mới đã được phân lập từ chiết xuất ethanol
của Fructus Xanthii là
3β-norpinan-2-on-3-O-β-D-apiofuranosyl-(1→6)-β-D-glucopyranosid (47), glucopyranosid (48), (6E)-3-hydroxymethyl-7-methylocta-1,6-dien-3-ol-8-O-β-D-
Trang 18Ngoài ra, tại Việt Nam, trong hai năm 1969 và 1970, Đỗ Tất Lợi, Phạm Kim Loan và Nguyễn Văn Cát (Trường Đại học Dược Hà Nội) cũng đã định tính và định lượng iod trong cây Ké đầu ngựa Việt Nam Kết quả cho thấy rằng, dù cây ké mọc
ở miền núi hay đồng bằng, gần biển hay xa biển đều có chứa iod với hàm lượng khá cao, 1 gam lá hoặc thân chứa trung bình 200 μg, 1g quả chứa 220 - 230 μg, nước
thiazin-3,5-dion
Trang 191.1.5 Một số tác dụng dược lý của cây Ké đầu ngựa
1.1.5.1 Tác dụng chống khối u
Tác dụng chống khối u được xem là tác dụng dược lý chính của X
strumarium và đã được nghiên cứu rộng rãi qua nhiều công trình khoa học, bao gồm
ung thư phổi, ung thư vú, ung thư gan, ung thư ruột kết và một số dòng tế bào ung thư khác
Năm 1995, Ahn và cộng sự báo cáo rằng xanthatin và 8-epi-xanthatin phân
lập được từ lá của X strumarium có hoạt tính gây độc tế bào đáng kể đối với dòng
và 0,1 μg/mL [60]
Năm 2013, một nghiên cứu về tác dụng ức chế glycogen synthase kinase 3β
(GSK3β) của xanthatin - một sesquiterpen lacton được phân lập từ X strumarium
đã được tiến hành bởi Tao và những người cộng sự Nghiên cứu cho thấy, xanthatin
ức chế sự tăng sinh của các tế bào ung thư phổi NSCLC (non-small cell lung cacer) dòng tế bào A549, H1975, H1299, H1650 và HCC827 của con người Các nghiên cứu khác của Tao và cộng sự sau đó cũng phát hiện ra rằng xanthatin có khả năng
ức chế STAT3, GSK3β và β-catenin Ngoài ra, xanthatin còn có thể kích hoạt phản ứng phá hủy ADN qua trung gian Chk1 và làm mất ổn định gen Cdc25C thông qua
sự thoái hóa lysosomal trong các tế bào ung thư phổi [48, 49, 50]
Năm 2007, bằng phương pháp xét nghiệm CellTiter 96 in vitro,
Ramı'rez-Erosa và các cộng sự phát hiện ra rằng xanthatin và xanthinosin, hai loại
sesquiterpen lacton có trong X strumarium cho thấy hoạt động gây độc tế bào in
vitro với các dòng tế bào ung thư ở người, bao gồm tế bào ung thư đại tràng WiDr
ATCC, tế bào ung thư vú MDA-MB-231 và tế bào ung thư phổi NCl-417 Các chiết
xuất chloroform phần trên mặt đất của X strumarium cho thấy độc tính cao nhất với
thu được từ những thử nghiệm đa liều nằm trong khoảng 0,1 – 6,2 μg/mL [43]
Năm 2016, trong một nghiên cứu về các hợp chất gây độc tế bào từ phần trên
mặt đất của X strumarium của Janet và cộng sự đã cho thấy hợp chất (-) spathulenol có trong X strumarium mang hoạt tính chống khối u với một số dòng tế
bào ung thư như CACO-2 (ung thư đại trực tràng), Hep-G2 (ung thư gan tế bào gan nguyên phát), HeLa và A2780 (ung thư biểu mô buồng trứng) [12]
Trang 20Tác dụng chống khối u của X strumarium đối với bệnh ung thư gan cũng đã
được báo cáo trong những năm gần đây Liu và cộng sự đã chứng minh rằng xanthatin (5 – 40 μM) có thể gây ra sự chết tế bào Hep-G2 và HeLa bằng cách ức chế thioredoxin reductase và gây căng thẳng oxy hóa [33]
1.1.5.2 Tác dụng chống viêm mũi dị ứng
X strumarium là một loại thuốc truyền thống được sử dụng rộng rãi trong
điều trị các bệnh về mũi, đặc biệt là viêm mũi dị ứng (AR) Trong nghiên cứu
dược lý hiện đại, cơ chế của X strumarium trong điều trị AR đã được nghiên cứu
rộng rãi
Năm 2008, Zhao và cộng sự phát hiện ra rằng chiết xuất methanol từ quả của
X strumarium (MEX) (0,251 mg/mL) có thể điều chỉnh các tế bào mast trung gian
(HMC-mediated), tế bào đơn nhân máu ngoại vi trung gian (PBMNC-mediated) dễ
bị viêm và các phản ứng miễn dịch được gây ra bởi các cytokin tiền viêm, bao gồm: Interleukin (IL)-4, IL-6, IL-8, GM-CSF và TNF-α [63]
Năm 2010, một nghiên cứu của G.H Yang và cộng sự đã cho thấy tác dụng
ức chế đáng kể của MEX trên hợp chất 40/80 gây ra sự hoạt hóa tế bào mast và sự giảm 2+ cAMP (cyclic adenosine monophosphate) trong tế bào mast ở màng bụng chuột RPMCs (rat peritoneal mast cell) Cơ chế chống dị ứng của MEX có thể liên
RPMCs [61]
Ngoài ra, vào năm 2014, W Peng và cộng sự đã chứng minh rằng
caffeoylxanthiazonosid được phân lập từ quả của X strumarium có tác dụng cải
thiện các triệu chứng của AR trên chuột thí nghiệm thông qua các đặc tính chống dị ứng, chống viêm và giảm đau hiệu quả [42]
1.1.5.3 Tác dụng chống viêm và giảm đau
Vào năm 2005, Kim và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác
dụng chống viêm từ chiết xuất methanol phần thân cây X strumarium (MEXS) trong cả in vitro và in vivo Kết quả nghiên cứu cho thấy MEXS nồng độ 30, 60 và
yếu tố hoại tử u TNF-α Ngoài ra, MEXS còn ức chế hoạt động gắn kết ADN của yếu tố nhân kappa B (NF-kB), ngăn cản quá trình sao mã sớm bằng cách ngăn chặn
Trang 21Năm 2016, Hossen và cộng sự đã thực hiện các phương pháp phân tích miễn dịch toàn diện, phân tích mARN để nghiên cứu hoạt động chống viêm của MEXS
và cho ra kết luận: Vai trò chống viêm mạnh mẽ của MEXS trong bệnh viêm gan và một số bệnh lý viêm khác có thể là do cơ chế ức chế tín hiệu viêm của MAPK (mitogen-activated protein kinase) và AP-1 (activator protein-1) [17]
Trong một nghiên cứu khác, Hossen và cộng sự cũng nhận thấy hoạt tính chống viêm tiềm tàng của MEXS trên các đại thực bào được điều trị bằng LPS (lipopolysaccharide) và mô hình chuột viêm dạ dày do HCl/Etanol gây ra bằng cách
(phosphoinositide dependent kinase 1) [16]
1.1.5.4 Tác dụng chống oxy hóa
Năm 2011, Huang và các cộng sự đánh giá hoạt tính chống oxy hóa từ chiết
xuất quả X strumarium cho thấy khả năng loại gốc 2,2′-azino-bis
(3-ethylbenzothiazoline-6-sulphonic axit (ABTS) và 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH) ở nồng độ 0,05 mg/mL một cách đáng kể [19]
Năm 2015, ba hợp chất là axit hexadecanoic, α-amyrin và
14-methyl-12,13-dehydro-sitosterol-heptadeconat đã được phân lập từ lá của X strumarium và tiềm
năng chống oxy hóa của chúng cũng được đánh giá Ba thành phần hóa học cho thấy hoạt động chống oxy hóa một cách đáng kể phụ thuộc vào liều [28]
Ngoài ra, Kamboj và cộng sự đã báo cáo rằng, trong số tất cả các bộ phận
của X strumarium thì chiết xuất từ lá có hàm lượng phenolic và flavonoid cao nhất,
cho thấy hoạt động chống oxy hóa mạnh nhất, đó là một công dụng tiềm năng trong phòng ngừa và điều trị các bệnh liên quan đến stress oxy hóa [25]
pneumoniae , Pseudomonas aeruginosa và Salmonella fyphi [44]
Sau đó, A Devkota và RK Das đã tiến hành một nghiên cứu về hoạt tính
kháng khuẩn của X strumarium trong phòng thí nghiệm Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chiết xuất methanol của lá cây X strumarium (MEXL) có khả năng kháng sáu
Trang 22Escherichia coli và ba gram dương: Bacillus subtilis, Enterococcus faecalis, Staphylococcus aureus ở các nồng độ khác nhau (50 mg/ml, 100 mg/ml, 150
mg/ml, 200 mg/ml, 250 mg/ml) Những phát hiện này cho thấy MEXL có tiềm năng phát triển thành thuốc kháng khuẩn [11]
Tương tự như tiềm năng kháng khuẩn, tác dụng chống nấm của X
strumarium cũng đã được các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu chuyên sâu Năm
2002, Kim và cộng sự đã tìm thấy một thành phần chống nấm từ X strumarium, được đặt tên là deacetylxanthumin Đây là hoạt chất có thể ức chế sự phát triển của sợi nấm và sự nảy mầm của loài Phytophthora drechsleri với giá trị
MIC là 12,5 μg/mL [29]
Ngoài ra, vào năm 2016, Parveen và các cộng sự đã thực hiện phân tách các
thành phần từ lá X strumarium bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ và thu được các hợp chất có khả năng chống nấm như: β-caryophyllen (17.53%), α-cadinol
(6.66%), spathulenol (6.09%), limonen (5.66%) và 1,3,5-trimethyl-2[2-nitroallyl] benzen (3.29%) Các chất này cho thấy tác dụng ức chế tăng trưởng đáng chú ý với
một số chủng nấm như: A Niger, Aspergillus flavus, F oxysporum, Fusarium
solani, Alternaria alternata và Penicillium digitatum với giá trị nồng độ kiềm khuẩn
tối thiểu MIC và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu MBC là 8 μg/mL [41]
1.1.5.6 Tác dụng dược lý khác
Ngoài những tác dụng dược lý nêu trên, X strumarium còn có nhiều tác dụng
dược lý khác cũng đã được nghiên cứu rộng rãi Năm 2000, Hsu và cộng sự đã tiến hành đánh giá tác dụng hạ đường huyết của axit caffeic – một hợp chất phenolic có
trong quả X strumarium Kết quả cho thấy, sau khi tiêm tĩnh mạch axit caffeic liều
0,5 – 3,0 mg/kg vào hai mô hình chuột bị tiểu đường kháng streptozotocin và kháng insulin thì xuất hiện sự giảm glucose huyết tương phụ thuộc vào liều do tăng sử dụng glucose [18]
Năm 2015, một nghiên cứu khác cũng chứng minh được rằng thành phần hóa
học caffeoylxanthiazonosid (CYXD) được phân lập từ quả của X strumarium cho tác dụng bảo vệ chống nhiễm trùng trên mô hình chuột nhiễm trùng huyết in vitro
và in vivo bằng cách tiêm CYXD vào trong màng bụng chuột với các nồng độ lần
lượt là 10, 20 và 40 mg/kg/ngày [57]
Trang 23oxalat ở thận [40], tiềm năng chống loét, bảo vệ dạ dày nhờ sự sửa chữa ADN, chống gốc tự do, giảm stress [27], chống co giật, giảm thời gian trung bình của giai đoạn co thắt và khởi phát cơn co thắt tim [31]
1.2 Tổng quan về acid chlorogenic
1.2.1 Công thức hóa học
Hình 1.5 Cấu trúc hóa học của acid chlorogenic [66]
Trọng lượng phân tử: 354, 31 g/mol
Tên khoa học theo hệ thống IUPAC:
(1S,3R,4R,5R)-3-[(E)-3-(3,4-dihydroxyphenyl)prop-2-enoyl]oxy-1,4,5-trihydroxycyclohexane-1-carboxylic acid
3-(3,4-Dihydroxycinnamoyl) quinic acid 3-Caffeoylquinic acid
(E)-chlorogenic acid [66]
1.2.2 Tính chất vật lý
Acid chlorogenic (CGA) là chất rắn, dạng bột màu trắng hoặc hơi ngả vàng, tan được trong nước và trong dung môi hữu cơ như ethanol, methanol, dimethyl sulfoxyd, dimethylformamid Đây là một chất khá bền vững, điều kiện bảo quản tốt nhất là 4°C [6]
Nhiệt độ nóng chảy: 205 – 209°C; Độ hòa tan: 40 mg/mL ở 25°C [66]
1.2.3 Tác dụng dược lý
CGA là một trong những hợp chất axit phenolic có thể tìm thấy nhiều trong
tự nhiên, đặc biệt là chiết xuất cà phê và trà xanh Đây là một hợp chất hoá học mang hoạt tính sinh học quan trọng, đóng vai trò như chất chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống viêm, quét gốc tự do cũng như bảo vệ một số cơ quan của cơ thể
Trang 24CGA có khả năng bảo vệ gan bằng cách bảo vệ cơ thể khỏi các tổn thương do hóa chất hoặc lipopolysacarid gây ra [37]
Năm 2017, Tajik và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tổng quan về tác dụng tiềm năng của CGA đối với các dấu ấn sinh học của bệnh lý mãn tính trên
động vật và người in vivo Nghiên cứu cho thấy CGA đóng vai trò quan trọng trong
việc điều hòa chuyển hóa chuyển hóa glucose và lipid cũng như các rối loạn liên quan khác CGA còn cho thấy tiềm năng trong việc chống tiểu đường, chống béo phì và chống ung thư [47]
Tác dụng chống oxy hóa của CGA đã được nghiên cứu bởi Zhang và cộng sự năm 2003, kết quả chứng minh rằng CGA có khả năng dọn gốc hydroxyl (·OH) phụ
ra, tác dụng bảo vệ của CGA trong tình trạng oxy hóa bệnh lý gây ra bởi paraquat
đã được kiểm chứng trên chuột Hoạt động của hồng cầu, glutathion peroxidase và catalase ở gan tăng lên khi sử dụng paraquat, trong khi đó CGA có tác dụng làm giảm những phản ứng này [53]
Năm 2013, Ong và cộng sự đã thực hiện đánh giá sự ảnh hưởng của CGA đến sự dung nạp glucose, độ nhạy insulin, quá trình chuyển hóa lipid và hấp thụ
hóa sự phosphoryl hóa AMPK gây tăng tổng hợp GLUT4, giảm sự hình thành G6Pase, dẫn tới sự ức chế tổng hợp axit béo và tân tạo đường, đồng thời tăng vận chuyển glucose ở cơ [38]
Một nghiên cứu khác cũng nhận định rằng CGA có khả năng kích thích bài tiết insulin từ dòng tế bào tiết insulin INS-1E và tăng hấp thu glucose trong tế bào
cơ L6 [52] CGA trong chiết xuất hạt cà phê còn được chứng minh mang lại tác dụng giảm huyết áp ở chuột và người bị tăng huyết áp một cách tự nhiên thông qua các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng [56]
1.2.4 Một số phương pháp xác định acid chlorogenic
CGA là thành phần hợp chất hóa học quan trọng được tiến hành định tính, định lượng trong nhiều mẫu dược liệu khác nhau, tại những đất nước khác nhau Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) để đánh giá hàm lượng CGA với những điều kiện sắc ký riêng,
Trang 25Bảng 1.4 Một số phương pháp xác định acid chlorogenic
1
Xác định protocatechuic,
syringin, axit chlorogenic,
axit caffeic, liriodendrin
+ Pha động: Axit phosphoric 0,05% : ACN (0,01 phút – tỷ lệ 94 : 6 tt/tt, 50 phút – tỷ lệ 65 : 35 tt/tt) + Nhiệt độ cột: 35°C
+ Tốc độ dòng: 0,9 ml/phút + Detector DAD: 200 – 370 nm + Kết quả: Thời gian lưu pic CGA khoảng 15,5 phút
[32]
một số dược liệu Thái
DAD
RP-HPLC-+ Cột sắc ký: Inertsil ODS-3 C18 (4,6 mm x 250 mm, 5 μm) + Cột bảo vệ: ReproSil-Pur ODS-3 C18 (4 mm x 10 mm) + Pha động: Nước chứa 0,2% axit phosphoric, pH 1,46 (dung môi A) và methanol (dung môi B)
+ Tốc độ dòng: 1,2 ml/phút + Thể tích tiêm: 5 μl
+ Nhiệt độ cột: 30°C + Bước sóng phát hiện: 325 nm + Kết quả: Hàm lượng CGA cao nhất được tìm thấy trong nụ
hoa Lonicera japonica, lá Melissa officinalisa và hạt Coffea
canephora ở nồng độ tương ứng là 9,900 ± 0,004; 19,88 ±
[8]