1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay

176 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Pháp luật bầu cử là một bộ phận quan trọng của của chế độ chính trị dân chủ, là cơ sở để xác lập và bảo đảm các quyền chính trị của Nhân dân lao động

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO ĐOAN HÙNG

PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN

DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 9.38.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Thị Hồng Hà

Hà Nội, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu và

số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và tôi xin chịutrách nhiệm về tất cả những tư liệu và số liệu đó Những kết luận khoa học của luận

án này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 10 năm 2018

Tác giả luận án

Đào Đoan Hùng

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

GEMB Governmental Electoral Management Body

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

AIPO/AIPA Tổ chức Liên nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đôn Nam

UBMTTQVN Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

UBTVQH Ủy ban thường vụ Quốc hội

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

UNDP Chương trình phát triên Liên hiệp quốc

IPU Liên minh Nghị viện Thế giới

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 7

1.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 10

1.3 Đánh giá về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 11

1.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 13

1.5 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 14

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 17

2.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của bầu cử và chế độ bầu cử 17

2.2 Pháp luật về bầu cử và mô hình bầu cử một số nước trên thế giới 39

2.3 Khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân 32

2.4 Tiêu chí hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân 70 Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘỊ ĐỒNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM 75

3.1 Pháp luật thực định về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân 75

3.2 Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân 100

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 111

4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay 111

4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở nước ta hiện nay 122

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Pháp luật bầu cử là một bộ phận quan trọng của của chế độ chính trị dân chủ,

là cơ sở để xác lập và bảo đảm các quyền chính trị của Nhân dân lao động, có tầmquan trọng đặc biệt trong tổ chức quyền lực Nhà nước, là phương thức cơ bản đểthành lập nên hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước trong xã hội hiện đại Bầu cử làđặc trưng của chế độ chính trị dân chủ, gắn liền với chế độ dân chủ đại diện, nên vaitrò của nó được đề cao trong các nền dân chủ đương đại Trong cơ chế chính trị cạnhtranh, bầu cử được ví như “trái tim của dân chủ” Pháp luật bầu cử có vị trí, vai tròhết sức quan trọng trong việc thực hiện chủ quyền Nhân dân đối với Nhà nước.Thông qua bầu cử, công dân bày tỏ ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mìnhvới tư cách là chủ thể quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước để trao quyền, ủyquyền cho những người mình tín nhiệm tham gia vào cơ quan đại diện Bầu cử cómối quan hệ bản chất với thể chế chính trị, với tổ chức, phân công và kiểm soátquyền lực Nhà nước, về dân chủ trong xã hội, là chất keo kết dính tạo nên sự đồngthuận và niềm tin trong xã hội; đồng thời là yếu tố cơ bản đảm bảo ổn định chính trị ởmỗi quốc gia Lịch sử phát triển của các thể chế chính trị và Nhà nước trên thế giới đãtrải qua nhiều cách thức tổ chức quyền lực khác nhau, trong đó có cách thức tổ chứcchính quyền thông qua bầu cử và cũng có cách thức tổ chức chính quyền mà khôngqua bầu cử Chế độ bầu cử và pháp luật về bầu cử luôn gắn liền với một Nhà nướcnhất định, không có chế độ bầu cử mang tính chung chung Ở nước ta, dưới sự lãnhđạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trải qua cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, với thắnglợi của Cách mạng tháng tám năm 1945, Nhân dân ta đã lật đổ sự thống trị của chế độthực dân, phong kiến lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, xác lập quyềnlực chính trị của Nhân dân lao động Quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và pháttriển đất nước hơn 73 năm qua chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọngtrong trên các lĩnh vực, từng bước đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và trởthành nước phát triển năng động ở khu vực Đông Nam á và có uy tín, vị thế ngàycàng cao trên trường quốc tế Một trong những đóng góp quan trọng vào thành tựu ấy

là sự hình thành, phát triển và hoạt động hiệu quả của hệ thống cơ quan dân cử ởnước ta (Quốc hội và Hội đồng Nhân dân) - Một thiết chế dân chủ đại diện quan trọngđược thiết lập thông qua bầu cử để thực hiện quyền lực của Nhân dân lao động Kháiniệm và bản chất của bầu cử có nội hàm và ngoại diên phong phú; Vì vậy, trên diễnđàn quốc tế và trong nước nó được xem xét trong những phạm vi và mức độ khácnhau, với những quan niệm khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh

tế, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia

Quá trình xây dựng Nhà nước và pháp luật ở nước ta vừa phản ánh quy luật

Trang 6

chung của sự ra đời và phát triển của Nhà nước và pháp luật, của nền dân chủ xã hộichủ nghĩa, vừa phản ánh những nét đặc thù của lịch sử, văn hóa, chính trị và đặc điểmcủa cách mạng Việt Nam Theo quy định của Hiến pháp, bộ máy nhà nước Việt Namgồm ba hệ thống cơ quan nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp, được tổ chứctheo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp vàkiểm soát việc thực hiện ba quyền Nguyên tắc tập trung dân chủ được xem là nguyêntắc đặc thù của mô hình bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) nói chung vàViệt Nam nói riêng Nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của các thiết chếquyền lực nhà nước nói chung và thiết chế Quốc hội và Hội đồng nhân dân nói riêngcho thấy, sự kết hợp giữa dân chủ và tập trung vừa tạo nên sự tương đồng, vừa thểhiện các đặc thù trong cấu trúc của mô hình thiết chế quyền lực ở nước ta Quốc hội

và Hội đồng nhân dân (sau đây viết tắt là QH&HĐND) với mô hình hoạt động theo

chế độ dân chủ nghị trường, đòi hỏi phải tạo lập mô hình tổ chức bộ máy có tính tổchức, thống nhất cao, vừa không quá tập trung quá nhiều quyền lực vào bất kỳ cơquan nào, vừa tạo cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của các thiết chế quyền lựctrong quá trình thực hiện quyền lực Nhân dân theo quy định của Hiến pháp.QH&HĐND được thành lập thông qua hình thức bầu cử, là cơ quan quyền lực nhànước đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, việc xây dựngQH&HĐND có thực quyền để đảm đương vai trò trách nhiệm của mình là một yêucầu khách quan của quá trình đổi mới Vấn đề cơ bản của bầu cử là làm thế nào đểngười dân biết lựa chọn đúng người để ủy quyền, và cơ chế nào để người dân có thểthuận lợi trong việc bỏ phiếu bất tín nhiệm, bãi miễn, yêu cầu từ chức đối với ngườiđại diện khi họ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân Đây là nhữngvấn đề trọng yếu không chỉ liên quan đến ứng cử viên, đại biểu, các tổ chức chínhtrị mà còn liên quan đến toàn thể Nhân dân, đến sự ổn định và phát triển của đấtnước Bầu cử còn là cơ hội để lựa chọn, sàng lọc và xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức nhằm đáp ứng mục tiêu chính trị Song song với việc đổi mới hệ thống chínhtrị, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của QH&HĐND thì việc nghiên cứu,hoàn thiện pháp luật về bầu cử QH&HĐND là yêu cầu quan trọng, và đòi hỏi cấpbách đặt ra trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở ViệtNam Nghiên cứu pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND nhằm đề xuất xây dựng

cơ chế pháp lý khoa học, xác lập những mối quan hệ hợp lý, chặt chẽ và mật thiếtgiữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, đặc biệt là trong điều kiện thể chế chính trị

“nhất nguyên” ở Việt Nam

Vì vậy, Đề tài “Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân

ở Việt Nam hiện nay ” là vấn đề có tính cấp thiết trên phương diện lý luận và thực

tiễn, là một trong những hướng nghiên cứu quan trọng của khoa học pháp lý, rất cầnđược nghiên cứu một cách cơ bản ở nước ta hiện nay Với lý do đó, nghiên cứu sinh

Trang 7

quyết định lựa chọn vấn đề này để làm luận án Tiến sĩ luật học.

2.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp

luật bầu cử đại biểu QH&HĐND, đánh giá đúng thực trạng pháp luật và mức độ hoànthiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam, góp phần hình thànhnhững tri thức lý luận và những luận cứ khoa học để đề xuất quan điểm, giải phápcho việc hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam

Để hoàn thành được mục đích đề ra, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bầu cử đại biểu

QH&HĐND trên các phương diện khái niệm, đặc điểm, bản chất, nguyên tắc của chế

độ bầu cử; khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật bầu cử đại biểu QH&HĐND.Nghiên cứu làm rõ nội dung các chế định, quy định, tiêu chí hoàn thiện pháp luật vềbầu cử, mối tương quan giữa pháp luật bầu cử của Việt Nam với pháp luật bầu cử củacác nước trên thế giới Phân tích làm rõ mối quan hệ giữa Đảng chính trị cầm quyền -Nhà nước - Nhân dân thông qua bầu cử; cơ chế kiểm soát quyền lực và mối quan hệgiữa pháp luật bầu cử và thực hành dân chủ Thực hiện nhiệm vụ này, luận án gópphần xây dựng hệ thống tư duy lý luận đầy đủ, vững chắc về pháp luật bầu cử đạibiểu QH&HĐND ở Việt Nam

- Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về bầu cử đại

biểu QH&HĐND ở Việt Nam, tìm ra những hạn chế, bất cập, chỉ ra nguyên nhân ưuđiểm, hạn chế của pháp luật bầu cử đại biểu QH&HĐND và yêu cầu hoàn thiện phápluật bầu cử QH&HĐND ở Việt Nam

- Thứ ba, Đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại

biểu QH&HĐND phù hợp với tiến trình đổi mới hệ thống cơ quan dân cử, góp phầnxây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội

và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ Luật Hiến pháp và LuậtHành chính, bao gồm: những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về bầu cử đạibiểu QH&HĐND; các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bầu cử đạibiểu QH&HĐND ở Việt Nam hiện nay

-Phạm vi nghiên cứu của luận án:

Về nội dung, nghiên cứu pháp luật bầu cử và những nội dung của nó là nhữngvấn đề mang tính chính trị, pháp lý, xã hội Đây đối tượng nghiên cứu của nhiều khoahọc như chính trị học, xã hội học, sử học, triết học, khoa học quản lý, Tâm lý họcv.v Song, Luận án chỉ xem xét pháp luật bầu cử dưới góc độ của khoa học pháp lý.Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của Luận án, để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu Luận

án có thể được tiếp cận dưới góc độ liên ngành và đa ngành của khoa học xã hội,

Trang 8

chính trị và một số khoa học khác như: triết học, xã hội học, dân tộc học, tâm lý học,

Về không gian nghiên cứu: Trên phạm vi toàn quốc

4.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận

biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước vàpháp luật; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới đất nước, về pháthuy dân chủ, về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân; về đổi mới và hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hộiđồng nhân dân theo tinh thần Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt namnăm 2013 Luận án thuộc mã ngành luật Hiến pháp và luật Hành chính nên quá trìnhnghiên cứu, hoàn thiện, luận án phải dựa trên nền tảng lý luận của luật Hiến pháp vàluật Hành chính

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án: Trong quá trình thực hiện đề tài

luận án chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

-Phương pháp phân tích, được sử dụng đề đánh giá, bình luận các quy định của

pháp luật về bầu cử, các tình huống thực tiễn làm cơ sở cho các kết luận khoa học.Phương pháp này sử dụng trong tất cả các chương và xuyên suốt quá trình thực hiện đềtài luận án

- Phương pháp tổng hợp, được sử dụng khi đánh giá nhằm rút ra kết luận tổng

quan trong các tiểu mục, các mục, các chương và khi đưa ra quan điểm, đề xuất cácphương hướng, giải pháp ở nội dung chương 4

-Phương pháp tổng kết thực tiễn, dùng để nghiên cứu tổng kết đánh giá những

kết quả, tài liệu thu thập được từ thực tiễn thực hiện pháp luật về bầu cử Quốc hội vàHội đồng nhân dân ở Việt Nam

- Phương pháp so sánh luật học, được sử dụng ở chương 2 và chương 3 để so

sánh, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật bầu cử của Việt Nam trong mốitương quan với quy định của pháp luật bầu cử các nước, nhằm làm sáng tỏ nhữngđiểm chung và điểm khác biệt, so sánh giữa các giai đoạn lịch sử ở Việt Nam vớinhau Phương pháp này còn được sử dụng khi làm sáng tỏ những vấn đề tổng quan

về mô hình bầu cử và nội dung pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND

-Phương pháp thống kê, được sử dụng ở chương 2 và chương 3 Thực trạng

pháp luật bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, nhằm tiến hành thu thập, đánh giá

số liệu, sự phát triển của pháp luật bầu cử, sự tác động của bầu cử đối với đời sống

Trang 9

chính trị, xã hội, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

- Phương pháp phân tích lo gíc quy phạm, được sử dụng khi đánh giá thực

trạng pháp luật, xem xét tính thống nhất hoặc phát hiện những bất cập, mâu thuẫn còntồn tại đối với pháp luật bầu cử ở nội dung chương 3

Ngoài các phương pháp cơ bản nêu trên, đề tài còn sử dụng phương pháp Tiếp cận đa ngành, liên ngành trong nghiên cứu khoa học xã hội để giải quyết những vấn

đề đặt ra trong Luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của Luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách cơbản, toàn diện, có hệ thống về pháp luật bầu cử pháp luật bầu cử đại biểu

QH&HĐND ở Việt Nam dưới góc độ Khoa học pháp lý Những kết quả cần đạt được

của luận án là:

- Thứ nhất, Luận án làm rõ khái niệm, đặc điểm, bản chất của bầu cử, chế độ

bầu cử và pháp luật về bầu cử; vai trò, tầm quan trọng của pháp luật bầu cử đại biểuQH&HĐND đối với tổ chức quyền lực Nhà nước Đặc biệt đã đóng góp vào kho tàng

lý luận về dân chủ đại diện được hình thành thông qua bầu cử trên cơ sở pháp luật vềbầu cử đại biểu QH&HĐND

- Thứ hai, nghiên cứu làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật bầu cử ở

Việt Nam; mối tương quan giữa pháp luật bầu cử của Việt Nam với pháp luật bầu cửcủa các nước trong khu vực và thế giới Phân tích làm rõ mối quan hệ giữa Đảngchính trị cầm quyền trong Nhà nước pháp quyền và phương thức thực hiện quyền lựcchính trị của Nhân dân thông qua bầu cử; cơ chế kiểm soát quyền lực và mối quan hệgiữa pháp luật bầu cử và thực hành dân chủ ở Việt Nam

-Thứ ba, Luận án làm rõ thực trạng pháp luật bầu cử pháp luật bầu cử đại biểu

QH&HĐND qua các thời kỳ; sự phát triển của các nguyên tắc, quy định của Luật bầu

cử, chế định Hội đồng bầu cử quốc gia, chế định lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tínnhiệm, quy định về từ chức

- Thứ tư, phân tích và chỉ rõ một số hạn chế, bất cập và nguyên nhân hạn chế

của pháp luật bầu cử pháp luật bầu cử đại biểu QH&HĐND Những phát hiện vàđánh giá của Luận án về thành tựu và hạn chế của pháp luật bầu cử đại biểuQH&HĐND chưa được thực hiện và công bố trước đó

- Thứ năm, qua nghiên cứu lý luận, thực trạng pháp luật bầu cử đại biểu

QH&HĐND, Luận án đề xuất 03 quan điểm, và 05 giải pháp hoàn thiện pháp luật vềbầu cử đại biểu QH&HĐND theo những tiêu chí khoa học, công bằng, tự do, dân chủ,hiện đại phù hợp với điều kiện nước ta và theo lộ trình hợp lý Kiến nghị sửa đổi, bổsung một số điều của Hiến pháp năm 2013, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội

đồng nhân dân 2015 những vấn đề về: khôi phục quy định “từ chức” của đại biểu QH&HĐND; đổi mới “quy trình hiệp thương, ứng cử, vận động bầu cử, đơn vị bầu

Trang 10

cử, xác định kết quả bầu cử, vai trò của Tòa án ”; đề xuất nghiên cứu ban hành Luật

về Hội đồng bầu cử Quốc gia, thành lập “Viện nghiên cứu về bầu cử” trực thuộc Hội đồng bầu cử quốc gia, đề xuất cơ chế “kiểm soát quyền lực Nhà nước” bằng bầu cử

dân chủ ,là những điểm mới của luận án Những đề xuất này là kết quả của nhữngnghiên cứu trong công trình này, chưa được công bố ở những nghiên cứu khoa họcpháp lý khác

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Những kết quả nghiên cứu được nêu trong Luận án góp phần bổ sung tri thức

lý luận về pháp luật bầu cử đại biểu QH&HĐND, tạo cơ sở cho việc tiếp tục xâydựng, phát triển và hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam,nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu QH&HĐND, đáp ứng được yêu cầu đổimới đất nước và hội nhập quốc tế Những kết luận trong Luận án góp phần tích cựcvào việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 2013, luật bầu cử đại biểuQH&HĐND năm 2015 trong thời gian tới

Luận án là tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy về nhà nước

và pháp luật, về dân chủ nói chung và dân chủ đại diện nói riêng, nhất là về cơ sở,nền tảng của cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện chủ quyền nhân dân, vềnhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đặc biệt là

trong điều kiện thể chế chính trị “nhất nguyên” ở nước ta.

7.Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của

Đề tài Luận án gồm 04 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu.

Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay.

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Tình hình nghiên cứu liên quan đến chế độ, mô hình bầu cử: Ở Việt Nam,

các nghiên cứu liên quan đến chế độ, mô hình bầu cử, có những công trình như: TS

Đặng Đình Tân (Chủ biên), “Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2006); Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp “Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.02, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật” (1993); PGS.TS Nguyễn Đăng Dung “Sự hạn chế quyền lực nhà nước” (Nhà xuất bản Đại

học Quốc gia, Hà Nội -2006); Sách chuyên khảo do GS.TS Đào Trí Úc (Chủ biên)

“Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” (Nhà xuất bản chính trị Quốc

gia, Hà Nội-2005); Sách Chuyên khảo do GS.TS Đào Trí Úc (Chủ biên) cùng tập thểtác giả Võ Khánh Vinh, PGS TS Trần Đình Hảo, PGS TS Phạm Hồng Hải, PGS

TS Hà Thị Mai Hiên, PGS TS Đinh Ngọc Vượng, TS Nguyễn Thị Việt Hương

“Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

” (Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội- 2006); Luận án Tiến sĩ Luật học “Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật”(Hà Nội -2007) của tác giả Đỗ Minh Khôi Sách chuyên khảo do PGS TS Bùi Xuân Đức (Chủ biên ) “ Đổi mới, hoàn thiện Bộ máy Nhà nước trong gia đoạn hiện nay ” (Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội- 2007 ); GS TS Võ Khánh Vinh (Chủ biên) “ Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học

xã hội ” ( Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội- 2009 ); GS TS Võ Khánh Vinh (Chủ biên) “ Quyền con người” Giáo trình giảng dạy sau đại học (Nhà xuất bản

khoa học xã hội, Hà Nội- 2011); Ban Công tác đại biểu Trung tâm bồi dưỡng đại

biểu dân cử “Vai trò của Hội đồng nhân dân trong phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương” (Nhà xuất bản Chính trị- Hành chính, Hà Nội 2009 ) Tạp chí Dân chủ và

pháp luật số chuyên đề- Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Nhà xuất bản Tưpháp, Hà Nội- 2014 GS.TS Phùng Hữu Phú, GS.TS Lê Hữu Nghĩa, GS.TS Vũ Văn

Hiền, PGS.TS Nguyễn Viết Thông, đồng chủ biên: Một số vấn đề lý luận – Thực tiễn

về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, Mã số 3.32, CTQG- 2016 – Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà nội – 2016, với các đề tài nghiên cứu: “Sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”, mã số KX.04.01/11- 15 Chủ nghiệm: GS.TS Mạch Quang Thắng.

“Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và

Trang 12

các tổ chức chính trị- xã hội trong điểu kiện mới”, mã số KX.04.02/11- 15 Chủ nghiệm: PGS.TS Trần Khắc Việt “Thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, mã số KX.04.03/11- 15 Chủ nhiệm: PGS.TS Phạm Văn Đức “Đổi mới bộ máy của Đảng, bộ máy của Nhà nước trong điều kiện mới”, mã số KX.04.04/11- 15 Chủ nghiệm: GS.TS Nguyễn Đăng Thành “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”, mã số KX.04.08/11- 15 Chủ nghiệm: TS Võ Thành Khối “Quyền con người trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế - lý luận và thực tiễn”, mã

số KX.04.27/11- 15 Chủ nhiệm: PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn PGS.TS Nguyễn

Văn Động (Chủ biên) “Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam”, NXB Chính trị quốc

gia- Sự thật, Hà nội- 2016

Tình hình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội

và Hội đồng nhân dân: Các công trình, bài viết trực tiếp liên quan pháp luật bầu cử

QH&HĐND, cụ thể: Văn phòng Quốc hội-Vụ Công tác đại biểu, với đề tài nghiên

cứu “Đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Quốc hội” (TS Phan Trung Lý- chủ

nhiệm đề tài -2004), Đề tài đã làm rõ vai trò của đại biểu Quốc hội và những yêu cầu

về đổi mới pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội, những nội dung đề cập đã được tiếpthu trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992 và ban hành Hiến pháp năm 2013, Luậtbầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 PTS Vũ Hồng Anh với

sách chuyên khảo “Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội-1997); TS Vũ Thị Loan, với sách chuyên khảo “Một số vấn đề về hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2010), tác giả đã làm rõ chế độ bầu

cử đại biểu HĐND ở Việt Nam trong điều kiện một Đảng cầm quyền, thực trạng phápluật bầu cử và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bầu cử HĐND, những đề xuất đã đượcxem xét trong quá trình xây dựng và ban hành Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội

đồng nhân dân năm 2015 TS Thái Vĩnh Thắng có bài viết “Một số ý kiến về đổi mới

tổ chức và hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay”(Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5 (157)/2001; TS Bùi Xuân Đức có bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6, tháng 7/2001 “Pháp luật bầu cử: một số vấn

đề cần hoàn thiện”; PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Chu Khắc Hoài Dương “Bầu cử

và vấn đề dân chủ” (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5/2002); TS Trương Đắc Linh

có bài viết “Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 - Một mốc son lịch sử của thể chế dân chủ Việt Nam” (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1(32)/2006); TS Bùi Ngọc Thanh

“Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII- Những vấn đề từ thực tiễn” (Tạp chí

Trang 13

Nghiên cứu lập pháp, số 7(103), tháng 7/2007) Lưu Đức Quang “ Tự do, công bằng trong bầu cử và những liên hệ với bầu cử ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp

số 01 (91) tháng 1 /2007 PGS, TSKH Phan Xuân Sơn “ Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử ở nước ta ” Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 04 (97) tháng 4/2007 Trần Thanh Hương “ Hiệp thương và tác động của hiệp thương đến phát huy tính tích cực của công dân trong thực hiện quyền bầu cử” Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 04 (97) tháng 4/2007 Nguyễn Thị Phượng “ Có nên bằng cấp hoá tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội” Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 02 (163) tháng 01/2010 TS Vũ Đức Khiển “Quyền lực nhà nước của nhân dân và việc bảo đảm để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước” Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 19 (180) tháng 10/2010.

TS Vũ Văn Nhiêm “ Chế độ bầu cử- Nhìn từ góc độ đồng thuận xã hội và bảo vệ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương ” Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20 (181) tháng 10/2010 PGS TS Nguyễn Minh Đoan “Hoàn thiện hơn nữa chế độ bầu cử đại biểu dân cử ở nước ta” Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7 (192) tháng 4/2011 Tác giả: Đào Đoan Hùng “ Khắc phục những hạn chế của hoạt động chất vấn ” Báo Người đại biểu nhân dân số 40 (432) Ngày 11/03/2005 Tác giả: Đào Đoan Hùng “ Giải pháp cho những hạn chế về hiệu quả hoạt động của HĐND ” Báo đại biểu nhân dân

số 164 ( 2643) Ngày 13/6/2011; Thạc sĩ: Đào Đoan Hùng “Pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay” Luận văn Thạc sĩ Luật học, bảo vệ ngày

19/5/2013 tại Học viện khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Những bài viết, công trình nghiên cứu của nhóm tác giả trên đã chỉ rõ nhữnghạn chế, bất cập của pháp luật bầu cử ở nước ta như: thực hành dân chủ, cơ chế thựchiện quyền lực, quy trình hiệp thương, sự công bằng, đồng thuận xã hội trong bầucử , các nghiên cứu đã cung cấp những luận cứ quan trọng và có những đóng gópnhất định về mặt khoa học giúp cho việc xây dựng và ban hành Hiến pháp năm 2013,Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 và những vấn đề cầntiếp tục nghiên cứu, làm rõ Tuy nhiên, trước yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bầu cửhiện nay thì những đóng góp đó chỉ có giá trị tham khảo ở những khía cạnh nhất định

Những bài viết nghiên cứu sau khi có Bản Hiến pháp năm 2013 và Luật bầu

cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 mà tác giả tiếp cận, nghiên

cứu: Xây dựng Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân ( Kỷ yếu Hội thảo ) Nhà xuất bản Lao động, Hà nội 2014 Viện nghiên cứu lập pháp - Hiến

pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nền tảng chính trị, pháp lý chocuộc đổi mới toàn diện đất nước trong thời kỳ mới - Ủy ban thường vụ Quốc hội-

(Nhà xuất bản lao động xã hội năm 2014) Thạc sĩ: Đào Đoan Hùng “Thi hành Hiến pháp và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bầu cử cơ quan đại diện dân cử ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề- Triển khai thi hành Hiến pháp

Trang 14

năm 2013, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội- 2014 GS TS Hoàng Chí Bảo “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân”, Tạp chí Mặt trận số 162 + 162, tháng 1+ 2/2017 GS.TS Trần Ngọc Đường, Bàn về Hội đồng bầu cử Quốc gia trong

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Báo Đại biểu nhân dân, ngày 18/9/2013…

Ngoài ra, các Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam hoặc Luật Hiến pháp nướcngoài trong Chương trình đào tạo Cử nhân Luật đều có chương (mục) “Chế độ bầucử”, đề cập về pháp luật bầu cử ở mức độ giới thiệu pháp luật thực định về bầu cửcho sinh viên Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử ở nước ta đã đượcĐảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây Trong lĩnh vực khoahọc pháp lý vấn đề này đã được đề cập nhiều trên sách báo, tạp chí, các diễn đàn khoahọc nhưng chủ yếu mới chỉ quan tâm đến chức năng giám sát hoặc chức năng quyếtđịnh của QH&HĐND, vai trò của đại biểu dân cử hoặc nghiên cứu dưới góc độ kiệntoàn hệ thống tổ chức, xây dựng đội ngũ đại biểu QH&HĐND Những nội dungnghiên cứu trên đã bàn trực tiếp đến vấn đề tổ chức và hoạt động của cơ quan đạidiện dân cử; những vấn đề này có liên quan đến đề tài nghiên cứu, song chưa đềcập một cách toàn diện đến Pháp luật về bầu cử QH&HĐND với những đặc điểmriêng có của nó và những ưu thế cũng như hạn chế có tính đặc thù của hệ thống cơquan dân cử ở Việt Nam

1.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Bầu cử được các học giả tư sản nghiên cứu rất công phu và đa dạng, và có khánhiều các tác giả có các công trình nghiên cứu về bầu cử và pháp luật bầu cử Cụ thể

như: Giáo sư Guy S Goodwin-Gill với cuốn sách “Free and Fair Elections-New expanded edition” (2006), do Liên minh Nghị viện thế giới xuất bản Tập thể các nhà

nghiên cứu Mark Anstey, Christopher Bennett, David Bloomfield, K M de Silva,Nomboniso Gasa, Yash Ghai, Peter Harris, Luc Huyse, Rasma Karklins, MichaelLund, Charles Nupen, David M Olson, Anthony J Regan, Ben Reilly, Andrew

Reynolds, Carlos Santiso and Timothy D Sisk với ấn phẩm “Democracy and Rooted Conflict: Options for Negotiators”(1998) do IDEA xuất bản; Alan Wall,

Deep-Andrew Ellis, Ayman Ayoub, Carl W Dundas, Joram Rukambe, Sara Staino với

công trình “Electoral Management Design: The International IDEA Handbook”; Các tác giả Judith Large and Timothy D Sisk, có công trình “Democracy, Conflict and Human Security: Pursuing Peace in the 21st Century”(2006); Ấn phẩm do Liên hợp quốc xuất bản “Women and Elections: Guide to promoting the participation of Women in elections”(2005); David Beetham với“Parliament and Democracy in The twenty-first century a guide to good practice”(2006); Huntington, Samuel P.“The Third

Wave: Democratization in the Late Twentieth Century”(1991) Madison Jay với

Trang 15

cuốn: Từ điển về quyền và chính trị Hoa kỳ, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội, 2002…

Ngoài ra có rất nhiều các bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến bầu cử được

đề cập ở các khía cạnh khác nhau, song đều có điểm chung đó là: theo cơ chế chínhtrị và chế độ bầu cử của các quốc gia theo chế độ đa đảng, có bề dày lịch sử về thựchành dân chủ ở Nhà nước tư bản

1.3 Đánh giá về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Đánh giá về các công trình nghiên cứu đã được tham khảo nêu trên có thể rút

ra một số nhận xét khái quát sau:

- Thứ nhất, Phần tài liệu khoa học nước ngoài là những nghiên cứu, đề xuất,

khuyến nghị của các học giả và tổ chức quốc tế về chế độ bầu cử và pháp luật bầu

cử Trong đó nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những nguyên lý, giá trị phổ quát có ýnghĩa về bầu cử trong xã hội dân chủ đã được nhân loại thừa nhận và áp dụng rộngrãi trên thế giới; bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng thể hiện rõ nét đặc điểm củacác hệ thống pháp luật (Dân luật Civillow, Châu âu lục địa), và cơ chế bầu cửtrong các thể chế chính trị cạnh tranh “đa Đảng” được áp dụng ở nhiều quốc gia;

là cơ sở tham khảo trong quá trình nghiên cứu lý luận pháp luật về bầu cử đại biểuQH&HĐND, đặc biệt khi đối chiếu, so sánh với các chuẩn mực quốc tế và kinhnghiệm bầu cử của các nước

-Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến chế độ, mô hình về bầu cử

cho thấy: bầu cử là yếu tố thiết yếu của một Nhà nước dân chủ hiện đại, là phươngthức quan trọng để khẳng định vai trò của Đảng chính trị cầm quyền trong tổ chức,thực hiện quyền lực Nhà nước và thực hiện chủ quyền nhân dân, là đáp ứng yêu cầuxây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy của các Nhà nước trên thế giới và của ViệtNam Những công trình nghiên cứu này đã có những phân tích, tổng hợp nhất định vềbầu cử cũng như quá trình triển khai thực hiện tại Việt Nam, đánh giá vai trò của thiếtchế đại diện dân cử trong điều kiện, đặc điểm lịch sử, chính trị của mỗi quốc gia,trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Đây là các công trình khoa học có giátrị tham khảo cao trong quá trình xác định cơ sở lý luận của pháp luật về bầu cử đạibiểu QH&HĐND, một số vấn đề trong thực trạng triển khai, tiến hành bầu cửQH&HĐND ở Việt Nam

- Thứ ba, nhóm nghiên cứu liên quan đến pháp luật về bầu cử đại biểu

QH&HĐND đã có những đánh giá từ góc độ của khoa học pháp lý các vấn đề về:nguyên tắc bầu cử, quy trình bầu cử, quyền ứng cử, tính cạnh tranh trong bầu cử, môhình đơn vị bầu cử, các tổ chức phụ trách, quản trị bầu cử, việc bầu cử thêm, bầu cửlại; quy định lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm những người giữ chức vụ doQH&HĐND bầu hoặc phê chuẩn ,trong đó pháp luật về bầu cử đại biểuQH&HĐND đã được đề cập ở những cấp độ và khía cạnh khác nhau; đồng thời là

Trang 16

một nội dung mới cần được hoàn thiện phù hợp với quy định của Hiến pháp và phápluật bầu cử, đảm bảo công bằng, khách quan, minh bạch, thống nhất, hiện đại Cáccông trình nghiên cứu này có giá trị tham khảo cho luận án trong việc triển khainhững nội dung căn bản của lý luận pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND và quátrình thực hiện cũng như một số vấn đề còn hạn chế cần được bổ sung, hoàn thiện đápứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

- Thứ tư, qua phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho

thấy, mặc có những đóng góp nhất định và có ý nghĩa tham khảo cho luận án, tuynhiên nhìn chung các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án còn một số hạn chế vàcòn nhiều vấn đề chưa được đề cập, cụ thể là:

Một là, phần lớn các công trình nghiên cứu tiếp cận pháp luật về bầu cử đại

biểu QH&HĐND dưới góc độ Chế độ bầu cử, mô hình bầu cử Công trình nghiên cứupháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND dưới góc độ khoa học pháp lý còn hạn chế

về số lượng và phạm vi nghiên cứu Đa phần các công trình nghiên cứu ở cấp luận ántiến sĩ đều là các luận án nghiên cứu chuyên biệt về chế độ bầu cử, về các chế địnhluật cụ thể: quyền bầu cử, ứng cử, vận động bầu cử, bầu cử đại biểu QH&HĐND;một số nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của QH&HĐND, Hội đồng bầu cử quốcgia, vai trò lãnh đạo của Đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc trong bầu cử…chưa có côngtrình nào đề cập toàn diện đến khái niệm pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND,đặc điểm, vai trò của pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND, vấn đề kiểm soátquyền lực nhà nước bằng bầu cử dân chủ và mối quan hệ của pháp luật bầu cử và thểchế chính trị…, do đó chưa đưa ra được các yêu cầu và tiêu chí hoàn thiện pháp luật

về bầu cử đại biểu QH&HĐND Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rõ rằng, để hoạt độngbầu cử hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, xây dựng và hoànthiện Nhà nước pháp quyền thì cần thiết phải có khung pháp lý đảm bảo cho việctriển khai bầu cử theo đúng tinh thần tự do, dân chủ, công bằng, khách quan phù hợpvới đặc điểm chính trị của Việt Nam và chuẩn mực quốc tế

Hai là, các nghiên cứu tuy ít nhiều đã có đề cập đến pháp luật về bầu cử đại

biểu QH&HĐND như là cơ sở pháp lý cho hoạt động bầu cử trên thực tiễn, nhưngchưa có đánh giá tổng thể pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND hiện hành ở góc

độ pháp luật thực định để chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Trong nghiêncứu khoa học luật còn thiếu các công trình mang tính lý luận về pháp luật bầu cử đạibiểu QH&HĐND cũng như phân tích thực trạng của pháp luật về bầu cử đại biểuQH&HĐND Đây là một trong những nguyên nhân làm cho pháp luật về bầu cử đạibiểu QH&HĐND thiếu một hệ thống lý luận vững chắc làm cơ sở nền tảng cho việchoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND

Ba là, đa phần các công trình đều được nghiên cứu trong điều kiện thi hành

Trang 17

các bản Hiến pháp từ 1946 đến nay và các văn bản pháp luật về bầu cử qua các thời

kỳ, với nền tảng lịch sử, kinh tế - xã hội có nhiều biến động, thay đổi Nhà nước phápquyền đang hoàn thiện việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng về dân chủ chưa kịpthời Điều đó gây khó khăn cho việc thực hành dân chủ trong bầu cử và hoàn thiệnpháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND Một số tài liệu, công trình nghiên cứu phục

vụ trực tiếp cho việc sửa đổi Hiến pháp 1992, xây dựng và ban hành Hiến pháp năm

2013 và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 Do vậy, cácvấn đề được nêu về cơ sở pháp lý, thực trạng, bất cập, hạn chế và các giải pháp đềxuất trong các công trình này chưa thể hiện được các vấn đề của pháp luật hiện nay

về bầu cử đại biểu QH&HĐND, cần nghiên cứu, hoàn thiện

Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang khẩn trương triển khai thi hành Hiếnpháp mới - Hiến pháp năm 2013, và hoàn thiện hệ thống pháp luật; việc lựa chọn vàxác định đề tài nghiên cứu Pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam hiệnnay là cần thiết và đúng hướng, kết quả nghiên cứu sẽ giúp tạo thêm những điều kiệnnhận thức cho tiến trình đổi mới xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trịtinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang được xúc tiến mạnh mẽ và khẩn trươnghiện nay Thực tế trên đặt ra yêu cầu cần phải có thêm nhiều công trình khoa họcnghiên cứu về dân chủ đại diện hình thành thông qua bầu cử và trên cơ sở pháp luậtbầu cử đại biểu QH&HĐND, đặc biệt là quy mô luận án tiến sĩ với cách tiếp cận từ

cơ sở lý luận đến thực trạng để từ đó luận giải được các quan điểm, phương hướng vàgiải pháp hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam phù hợpvới yêu cầu đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

1.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Từ tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, tác giả xác định những vấn đề

cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển đó là:

Về lý luận, Bầu cử và pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam là

một vấn đề không mới, nhưng khá phức tạp do đặc điểm lịch sử đấu tranh cách mạngdành độc lập dân tộc thống nhất đất nước, xây dựng CNXH và đặc điểm riêng có củathể chế chính trị Việt Nam nên có nhiều vấn đề lý luận cần được làm rõ là:

Thứ nhất, dựa trên khái niệm pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND, tiếp

tục nghiên cứu sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểuQH&HĐND phù hợp với yêu cầu đổi mới đất nước, xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Thứ hai, xác định các tiêu chí để hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu

QH&HĐND làm cơ sở cho việc đánh giá quá trình phát triển và hoàn thiện pháp luật

Trang 18

về bầu cử đại biểu QH&HĐND.

Thứ ba, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật, xây dựng

và hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND

Thứ tư, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật bầu cử đại biểu QH&HĐND theo

chuẩn mực pháp lý quốc tế, pháp luật bầu cử một số nước trên thế giới để tìm hiểu vàkhai thác các giá trị tham khảo giúp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bầu

cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam Với các vấn đề cần làm rõ nêu trên, luận án sẽtrả lời các câu hỏi sau:

- Cơ sở lý luận về chế độ bầu cử, pháp luật về bầu cử? Khái niệm, đặc điểmcủa pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam là gì?

- Các nguyên tắc bầu cử đương đại phổ biến hiện nay là gì? Các nguyên tắcbầu cử nào đã và đang được áp dụng ở Việt Nam?

- Bầu cử có vai trò như thế nào trong việc tổ chức quyền lực nhà nước và thựcthi dân chủ? Cơ chế hình thành cơ quan đại diện dân cử; Vai trò của các đảng pháichính trị và người dân trong bầu cử như thế nào?

- Pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam quy định về cách thứcbầu cử, phương pháp xác định người trúng cử như thế nào? Mối tương quan giữapháp luật bầu cử của Việt Nam với pháp luật bầu cử của các nước trong khu vực vàthế giới? để hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở Việt Nam cần phải dựa trên những tiêuchí nào?

Về thực tiễn, luận án tiếp tục nghiên cứu là rõ các vấn đề:

Một là, quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bầu cử đại biểu

QH&HĐND ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử để thấy sự vận động, phát triển vàmức độ hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND

Hai là, pháp luật thực định về bầu cử QH&HĐND, những ưu điểm, nhược

điểm của pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND hiện hành và những hạn chế, bấtcập của luật thực định thể hiện trong quá trình thực thi và nguyên nhân của nhữnghạn chế, bất cập này Những câu hỏi được trả lời trong phần này là:

- Thực trạng về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bầu cử đạibiểu QH&HĐND ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay như thế nào? để đáp ứng nhữngyêu cầu nào? mức độ hoàn thiện đến đâu? còn có những nội dung nào chưa phù hợp?

- Pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam thời gian qua đã đạtđược những kết quả gì? nguyên nhân gì dẫn đến thành công cũng như hạn chế củapháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam?

1.5 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.5.1 Giả thuyết nghiên cứu

Bầu cử là chế định quan trọng của Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Việc

Trang 19

nghiên cứu chế định bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cho phép chúng

ta thấy cần phải hoàn thiện chế định này trong bối cảnh xây dựng Nhà nước phápquyền và tăng cường dân chủ, hội nhập quốc tế Nhiều vấn đề của bầu cử cơ quan đạidiện dân cử cần phải nghiên cứu để hoàn thiện: đề cử, ứng cử, hiệp thương, công bốkết quả, công nhận tư cách đại biểu, quản trị bầu cử, miễn nhiệm đại biểu, từ chức vàvấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật bầu cử

1.5.2 Câu hỏi nghiên cứu

Với các vấn đề này, luận án sẽ trả lời các câu hỏi:

- Trước yêu cầu đổi mới đất nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước phápquyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quan điểm hoànthiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam là gì?

- Để hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND cần những giải pháp

cụ thể nào?

-Liệu quy định của Hiến pháp 2013 về Hội đồng Bầu cử quốc gia đã được hiểunhất quán và áp dụng trong thực tiễn?

-Có cần ban hành Luật về Hội đồng bầu cử Quốc gia?

- Có cần phải thành lập Viện nghiên cứu về bầu cử? Viện này trực thuộc cơquan nào?

-Có cần hiến định quy định về từ chức hay không?

Kết luận Chương 1

Chương 1 luận án đã khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận

án “Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay” với hai nhóm vấn đề: nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến chế độ, mô

hình bầu cử, và nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về bầu cửđại biểu QH&HĐND

Đa số các công trình nghiên cứu kể cả trong nước và nước ngoài đều nhìnnhận pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND dưới góc độ chế độ, mô hình bầu cử

với đặc điểm thể chế chính trị khác nhau “Đa đảng” và “Nhất nguyên” Bên cạnh đó,

trong việc nghiên cứu pháp luật thực định vẫn có những quan điểm khác nhau trongcác vấn đề như: Vai trò lãnh đạo của Đảng trong các cuộc bầu cử; tiêu chuẩn và cơcấu đại biểu; việc thực hiện các nguyên tắc bầu cử; quyền bầu cử, quyền và độ tuổiứng cử; quy trình hiệp thương, phân chia đơn vị bầu cử; lấy phiếu, bỏ phiếu tínnhiệm, quy định từ chức; công tác quản trị bầu cử ,và có nên có Luật riêng về Hộiđồng bầu cử Quốc gia hay không? , và có cần hiến định nguyên tắc bầu cử tự do vào

Trang 20

Hiến pháp hay không, nghiên cứu khôi phục quy định từ chức, việc thành lập Việnnghiên cứu về bầu cử ,là những vấn đề chưa được nghiên cứu làm rõ về mặt lý luận

và thực tiễn pháp luật về bầu cử

Nhìn tổng thể, các nghiên cứu về chế độ, mô hình bầu cử và các nghiên cứupháp luật về bầu cử QH&HĐND chưa tập hợp, xây dựng được hệ thống tri thức lýluận đầy đủ và vững chắc về dân chủ đại diện để hoàn thiện pháp luật về bầu cử đạibiểu QH&HĐND, chưa phân tích đánh giá một cách tổng quát thực trạng xây dựng

và thực hiện pháp luật bầu cử để đưa ra các quan điểm và giải pháp phù hợp nhằmhoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND ở Việt Nam Hạn chế này làmảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của pháp luật về bầu cử nói riêng và hệ thốngpháp luật nói chung

Trên cơ sở đánh giá tình hình nghiên cứu, luận án đã xác định những vấn đềcần tiếp tục nghiên cứu trên cả 3 phương diện về lý luận, thực tiễn và quan điểm vàgiải pháp hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu QH&HĐND Ở mỗi phương diệnđều nêu các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, qua đó đặt ra các câu hỏi và giả thuyếtnghiên cứu mà luận án cần trả lời, làm rõ

Qua đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể nói, dưới góc độ khoahọc luật học chuyên ngành Luật Hiến Pháp và luật Hành chính thì ở Việt Nam chưa

có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về phápluật bầu cử đại biểu QH&HĐND trên cả hai cấp độ bầu cử cơ quan lập pháp ở Trung

ương- Quốc hội và bầu cử chính quyền địa phương - Hội đồng nhân dân các cấp Vì vậy, Luận án “Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở Việt

Nam hiện nay” là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện cả về cơ sở lý

luận và thực tiễn để đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểuQH&HĐND ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển của đấtnước, phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam

Trang 21

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU

QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

2.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của bầu cử và chế độ bầu cử

2.1.1 Khái niệm, bản chất của bầu cử

Bầu cử đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại Trong thời kỳ chiếmhữu nô lệ, ngoài hình thức chính thể quân chủ là phổ biến, thì cũng đã tồn tại chínhthể cộng hòa với Viện nguyên lão bao gồm đại diện của những chủ nô quý tộc

(Comita centuria) và đại diện của những người cầm vũ khí [130, tr 19] Giai đoạn

đầu của chế độ phong kiến, bên cạnh các chính thể quân chủ, còn tồn tại hình thức

cộng hòa quý tộc, ở đó những người có vị thế bầu ra Đại hội nhân dân Dưới chế độ

phong kiến chuyên chế, nói chung bầu cử không được áp dụng [21, tr 307] Cáchmạng dân chủ tư sản xác lập, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố chủ quyền nhân dân,cũng đồng thời khẳng định bầu cử là phương thức căn bản để ủy quyền, qua đó thànhlập ra các thiết chế đại diện Trong các nhà nước quân chủ chuyên chế, quyền lực

nằm trong tay Vua (hay Hoàng đế), người được coi là “thiên tử” Khái niệm quyền

lực nhân dân ra đời cùng với khái niệm dân chủ Người Hy lạp ngay từ thời cổ đại đãcho rằng dân chủ có nghĩa là chính quyền thuộc về nhân dân (dân chủ có nguồn gốc

từ tiếng Hy lạp demos có nghĩa là nhân dân và kratos có nghĩa là quyền lực [146.

Defining Democracy] Chủ quyền nhân dân (quyền lực nhân dân) là bản chất và làđặc trưng các Nhà nước và xã hội dân chủ Tuy nhiên, việc thực thi chủ quyền nhândân thì vấn đề lại không đơn giản trong các nhà nước và xã hội Có hai hình thức cơbản để thực hiện quyền lực nhân dân là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Dânchủ trực tiếp là việc người dân trực tiếp quyết định các vấn đề của họ, mà không cầnqua các đại biểu hoặc cơ quan trung gian Rousseau hay người Hy lạp cổ đại chorằng, chỉ có dân chủ trực tiếp mới thực sự là dân chủ, như nó đã được áp dụng tronghoạt động của chính quyền Athena thời cổ đại Vào thế kỷ XVIII, trong đời sống

chính trị thế giới đã xuất hiện lý thuyết đại diện gắn liền với tên tuổi của Locke,

Rousseau và Montesquieu Theo lý thuyết đại diện, quyền lực về nguyên tắc thuộc vềnhân dân, nhưng do những lý do thực tế, nhân dân không thể trực tiếp thực hiện toàn

bộ quyền lực của mình, mà phải uỷ thác cho những người đại diện để thay mặt nhândân thực hiện quyền lực của nhân dân Rousseau, mặc dù cho rằng dân chủ trực tiếpmới là dân chủ thực sự, nhưng cũng phải thừa nhận rằng đó là một hình thức lýtưởng; nhân dân phải uỷ quyền cho người đại diện, mà không thể trực tiếp thực hiện

Trang 22

quyền lực của mình Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, Lê nin khẳng định

sự cần thiết của chế độ đại diện trong chế độ XHCN: “Chúng ta không thể quan niệm một nền dân chủ, dầu là dân chủ vô sản, mà lại không có cơ quan đại diện” (Tuy

nhiên, Lê nin cho rằng cơ quan lập pháp của nhà nước tư bản không thể gọi là cơ

quan dân cử (chữ cử nghĩa là bầu cử ) [102, tr 51], vì nó đại diện cho các thành phần

tư sản, quí tộc thậm chí không qua bầu cử Nó chỉ có thể gọi là cơ quan đại diện màthôi [123, tr 370- 372] Theo Lênin, nội dung của sự ủy quyền là nguyên tắc ủyquyền mệnh lệnh (imperative mandate) Theo nguyên tắc này, cử tri thông qua bầu cửtrao cho các đại biểu ủy nhiệm thư, đồng thời có quyền bãi nhiệm đại biểu nếu họkhông thực hiện hoặc không thực hiện tốt ủy nhiệm thư Lênin cho rằng, bằng hìnhthức đó, chế độ dân chủ đại diện mới thực sự dân chủ và cơ quan đại diện mới thực

sự đại diện cho ý chí của Nhân dân Nhân dân ủy quyền cho đại biểu thực hiện quyềnlập pháp, đồng thời yêu cầu các đại biểu thực hiện quyền lập pháp phù hợp với ý chícủa Nhân dân [102, tr 63]

2.1.1.1 Khái niệm bầu cử: Xuất phát từ cách tiếp cận, các phương pháp và góc

độ nghiên cứu, các tác giả có thể đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về bầu cử Nhìnchung, bầu cử được hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp

Theo nghĩa rộng, bầu cử là hành vi của công dân lựa chọn người ( hoặc tổ

chức) để ủy quyền, trao quyền (bầu ra các cơ quan đại diện, các chức danh trong một

tổ chức Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội) hay bày tỏ ý chí, quan điểm của mình vềmột chính sách, vấn đề hệ trọng của quốc gia, sự bất tín nhiệm đối với đại biểu dochính họ bầu ra Không chỉ liên quan đến bộ máy nhà nước, bầu cử còn được sử dụngtrong tổ chức, hoạt động của các tổ chức Đảng phái, xã hội (ví dụ như bầu cử trongĐảng, tổ chức công đoàn…) Với cách tiếp cận như trên, theo các tác giả cuốn Từ

điển Tiếng Việt, “bầu cử là chọn bằng cách bỏ phiếu hoặc biểu quyết để giao cho làm đại biểu, giữ một chức vụ hoặc hưởng một vinh dự (bầu đại biểu Quốc hội, bầu đại biểu đi dự đại hội, hội nghị…”[132, tr 50].

Theo tác giả Vũ Hồng Anh, “bầu cử là thủ tục mà theo đó nhóm người xác định (Nhân dân, cử tri, tập thể, cá nhân) bầu ra một hay nhiều người để thực hiện chức năng xã hội nào đó ”[01, tr 10].

Theo tác giả Madison Jay, trong cuốn Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa

Kỳ định nghĩa “bầu cử là quá trình lựa chọn một hoặc nhiều người cho một chức vụ công hoặc tư, từ nhiều ứng cử viên khác nhau” …”[157, tr 315] Như vậy, theo nghĩa

rộng, bầu cử là hành vi lựa chọn của công dân (cá nhân) theo một cách thức nhất định(bỏ phiếu, biểu quyết) để xác định những người đại diện nhằm thực hiện một nhiệm

Trang 23

vụ cụ thể hay chức năng nào đó trong một cơ cấu xã hội nhất định Bầu cử là mộthiện tượng xã hội.

Theo nghĩa hẹp, xuất phát từ cách tiếp cận quyền lực chính trị mà biểu hiện tập

trung ở (quyền lực nhà nước), bầu cử là cách thức của công dân lựa chọn người đạidiện để ủy quyền (thay mặt mình ra quyết định) nhằm thành lập cơ quan nhà nướchoặc ( chức vụ quyền lực nhà nước) ở quốc gia hay một vùng lãnh thổ (địa phương)

Theo Madison Jay, định nghĩa theo nghĩa hẹp: “bầu cử là quá trình do chính phủ điều hành người dân lựa chọn ứng cử viên của một đảng chính trị cho các cơ quan quyền lực nhà nước dù họ phản đối hay tán thành” Nhóm tác giả khác là Harop và

Miller cho rằng, bầu cử là cách bày tỏ sự tín nhiệm của những người bị cai trị, sau đó

là sự bày tỏ này được tập hợp lại và chuyển thành một quyết định tập thể về vấn đề ai

sẽ là người cai trị ( người sẽ nắm giữa quyền lực), ai sẽ bị lật đổ, ai sẽ thay thế người

bị lật đổ Với cách định nghĩa này, các tác giả trên đã chỉ rõ bản chất của các cuộcbầu cử trong xã hội tư sản hiện đại, đồng thời đặt ra những vấn đề rộng lớn hơn tronglĩnh vực chính trị như: bản chất cơ chế bầu cử; các yếu tố cấu thành hệ thống bầu cử;kết quả và tác động của bầu cử [65, tr 14]

Ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Đăng Dung và Bùi Ngọc Sơn định nghĩa

“bầu cử là phương pháp lựa chon người đại diện chủ quyền của nhân dân để thay mặt họ quản lý và điều hành đất nước Bầu cử là một hình thức đặc trưng cho chế độ chính trị dân chủ”[65, tr 14] Nhóm tác giả cuốn Tổ chức và hoạt động của Quốc hội một số nước, dưới góc độ luật học đã đưa ra khái niệm “bầu cử là một trong những chế định pháp luật quan trọng của ngành luật Hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành các cơ quan đại diện- cơ quan quyền lực nhà nước Bầu cử là việc công dân của một nước lựa chọn những người đại diện để trao quyền cho họ thay mặt mình giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước”[65, tr 14, 15].

Mặc dù với những cách tiếp cận khác nhau (rộng, hẹp) hay từ góc độ của khoahọc chính trị- pháp lý, các tác giả đều thống nhất nội dung cơ bản của khái niệm bầu

cử, đó là: “Cách thức người dân lựa chọn trong số các ứng cử viên để ủy quyền cho

họ thực thi quyền lực Đó là quá trình một nhóm người (cử tri) chọn ra một nhóm người hoặc một người (người được bầu) đại diện cho họ và đưa ra các quyết định nhân dân họ” Như vậy, Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của người dân để

lựa chọn ra một cá nhân nắm giữ chức vụ thuộc chính quyền Đây là một cơ chếthông thường mà các nền dân chủ dùng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp,

cơ chế này cũng được áp dụng ở bộ máy hành pháp, tư pháp, và ở chính quyền địaphương

Trang 24

Bầu cử là một trong những chế định quan trọng trong ngành Luật Hiến pháp,

Trang 25

là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhànước Việc bầu cử thành lập cơ quan hoặc một chức danh công quyền được điềuchỉnh bởi hiến pháp và pháp luật do nhà nước ban hành Thông thường Quốc hội(Nghị viện), các cơ quan đại diện của chính quyền địa phương được thành lập bằngcách tổ chức bầu cử Ở một số nước, các vị trí, cơ quan nhà nước khác như tổngthống, thống đốc tiểu bang, thị trưởng thành phố cũng phát từ Nhân dân và buộccác chính trị gia phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về hành vi của mình đượcthành lập thông qua bầu cử Các cuộc bầu cử định kỳ là phương tiện kiểm soát thiếtyếu của công chúng đối với chính quyền Bầu cử là để khẳng định quyền lực chính trịxuất Bầu cử là sự lựa chọn (từ gốc tiếng Latinh eligere- lựa chọn) Thông qua đó cáccông dân chọn người, chọn đảng phái để ủy quyền, chọn chính sách để giải quyết cácvấn đề của một xã hội, để mang lại hạnh phúc cho cá nhân và cộng đồng Bầu cử sẽmất đi ý nghĩa nếu không có sự tự do lựa chọn Trong Luật Hiến pháp thuật ngữ "bầucử" được hiểu là thủ tục tiến hành biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) vớiđiều kiện để bầu lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước, thủ tục này đượcthực hiện bởi sự một đại biểu (chức danh) phải có từ hai ứng cử viên trở lên Cầnphân biệt bầu cử với phương pháp khác thành lập cơ quan nhà nước như bổ nhiệm.Khác với cuộc bầu cử được sử dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức xãhội, cuộc bầu cử thành lập cơ quan nhà nước hay một chức danh nhà nước được điềuchỉnh bởi Hiến pháp và pháp luật do nhà nước ban hành Thông thường Nghị viện, cơquan đại diện của chính quyền địa phương được thành lập bằng con đường bầu cử Ởmột số nước, các cơ quan nhà nước khác như Tổng thống, Chính phủ, Tòa án cũngđược thành lập thông qua bầu cử Montesquieu chỉ ra trong Quyển II, Chương 2 củacuốn Del’esprit des lois (Tinh thần Pháp luật) của ông rằng trong việc bầu cử ở thểchế cộng hòa hay dân chủ, cử tri có khi là những người cầm quyền của quốc gia cókhi lại là người dân của nhà nước đó bằng việc bỏ phiếu Nó cho phép người dân cóquyền rất lớn để hành động như những "chủ nhân" chọn những "công bộc" chínhquyền cho chính họ Đặc điểm đặc biệt của các nền dân chủ và cộng hòa là sự nhậnthức rằng chỉ có quyền hợp pháp cho nhà nước "của dân, do dân và vì dân" là phải có

sự đồng thuận của người dân hay những người bị trị (consent of the governed) Việc

chấp nhận rộng rãi về bầu cử như là một công cụ để chọn ra các đại diện của Nhândân trong các nền dân chủ hiện đại tương phản với thực tiễn trong thời nguyên mẫudân chủ Athena, nơi bầu cử được xem là cơ quan của chính thể đầu não và ở đó hầuhết các chức vụ nhà nước được phân bổ theo kiểu bắt thăm, cũng như chỉ định Ở đâychúng ta cần phân biệt giữa bầu cử với chế độ bầu cử, theo đó, chế định bầu cử là một

Trang 26

tổng thể gồm: các nguyên tắc, các quy định của pháp luật về bầu cử cùng tất cả cácquan hệ được hình thành trong tất cả các quá trình tiến hành bầu cử từ lúc công dânghi tên trong danh sách bầu cử đến lúc các lá phiếu được bỏ vào hòm phiếu và xácđịnh kết quả bầu cử Đó là tổng thể các quan hệ xã hội hợp thành trình tự bầu cử Bêncạnh đó cũng cần phân biệt bầu cử với thuật ngữ quyền bầu cử, theo đó, quyền bầu cửđược hiểu là khả năng của công dân được nhà nước bảo đảm tham gia vào bầu cửthành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương Quyền bầu cử đượchiểu là tổng thể những quy định cụ thể cho công dân.

2.1.1.2 Bản chất của bầu cử: Bản chất của bầu cử là một vấn đề được sự quan

tâm của nhiều nhà khoa học và của nhiều ngành khoa học như chính trị, văn hoá, luậthọc…Có nhiều quan điểm khác nhau về bầu cử và bản chất của bầu cử, nhưng tựu

chung bầu cử có bản chất: Trước hết, bầu cử là sự lựa chọn mang tính phổ biến và đại

chúng của nhân dân Phổ biến hiện nay trong chế độ bầu cử ở các nước là lựa chọnngười đại biểu trong cơ quan lập pháp Các nước tư sản được tổ chức và hoạt độngtheo nguyên tắc phân chia quyền lực, vì vậy, bầu cử không những là phương thứcthành lập cơ quan lập pháp mà còn có thể được áp dụng để bầu các chức danh trongcác nhánh quyền lực khác Đối với các nước XHCN, quyền lực nhà nước thuộc vềNhân dân, bầu cử là phương thức để thành lập ra các cơ quan đại diện quyền lực nhànước Ở Việt nam, bầu cử là phương thức cử tri trực tiếp bầu ra QH&HĐND các cấp

Thứ hai, bầu cử mang tính quyền lực nhà nước, là phương thức để nhân dân trao

quyền lực cho nhà nước một cách đúng đắn nhất Bầu cử là việc trao quyền lực (ủythác quyền lực) của Nhân dân cho người được chọn Trong các nền dân chủ đươngđại thì vấn đề này thường được quy định trong Hiến pháp của mỗi nước Khi Nhândân bầu ra đại biểu QH&HĐND thì đại biểu được bầu ra có quyền lực (thẩm quyền)của người đại diện Như vậy, phạm vi thẩm quyền của người đại diện không phải do

cử tri trực tiếp quyết định trong kỳ bầu cử, mà do Hiến pháp quy định Có thể hiểurằng, hành vi bỏ phiếu của cử tri cùng một lúc thực hiện hai chức năng: vừa lựa chọn,vừa trao quyền lực Hành vi bầu cử của cử tri đồng nghĩa với việc cử tri trao quyềnlực của mình cho người mình chọn

Bầu cử có ý nghĩa quan trọng đối với nhà nước, xã hội và các thành viên của

cộng đồng, bởi vì: Thứ nhất, thông qua bầu cử để xác định tính chính đáng của các cơ

quan quyền lực nhà nước, cho thấy cơ quan nhà nước, vị trí lãnh đạo được người dân

ủng hộ Thứ hai, giúp người dân thực hiện sự ủy quyền và lựa chọn người cầm quyền,

Nhân dân, chủ thể của quyền lực trong chế độ dân chủ, ủy quyền cho người mà mình

tin tưởng sẽ hoạt động nhằm bảo vệ các lợi ích của mình và xã hội Thứ ba, giúp giới

Trang 27

tinh hoa, các chính trị gia củng cố quyền lực, người lãnh đạo hợp pháp hóa quyền lực

của mình Thứ tư, chống lại sự lộng hành của chính quyền, bảo đảm để người không

giữ đúng lời hứa, năng lực kém hoặc tham nhũng sẽ không thể tiếp tục duy trì quyền

lực và bị loại khỏi vị trí Thứ năm, tạo trái ngược nhau, được trình bày, thảo luận,

thông tin hai chiều giữa các ứng cử viên và công chúng, các cơ quan nhà nước hiểuthêm về các nhu cầu của cử tri, các vấn đề của xã hội, các giải pháp có thể xem xét

lựa chọn Thứ sáu, truyền thông chính trị là diễn đàn giữa các khuynh hướng chính

trị, các đường lối, chính sách khác nhau, thậm chí đối lập

2.1.2 Khái niệm, bản chất chế độ bầu cử

Chế độ bầu cử là một khái niệm có nội dung phong phú, trên diễn đàn trongnước cũng như quốc tế, nó được xem xét trong phạm vi và mức độ khác nhau Trêndiễn đàn trong nước, chế độ bầu cử được nhiều học giả nghiên cứu dưới các góc độ

và mức độ khác nhau: Dưới góc độ xã hội học “chế độ bầu cử được hiểu như là biểu

hiện của nền dân chủ, là tiêu chuẩn đánh giá mức độ dân chủ, nguyên tắc thực hiện

dân chủ của một nước” [43, tr 14] Dưới góc độ chính trị học “chế độ bầu cử được coi như bầu không khí chính trị” [43, tr 14] Dưới góc độ pháp lý, chế độ bầu cử cũng được tiếp cận từ nhiều phía: Dưới góc độ của Luật hiến pháp “chế độ bầu cử là một chế định bao gồm những quy định của nhà nước về nguyên tắc bầu cử, quyền bầu cử và ứng cử, tổ chức bầu cử và vận động bầu cử, trình tự bầu cử Chế độ bầu

cử là khái niệm gắn với nhà nước, quốc gia nhất định Nói đến chế độ bầu cử, cần xác định rõ là chế độ bầu cử của nhà nước nào, không có chế độ bầu cử mang tính chung chung” [67, tr 251, 252].

Có quan niệm cho rằng “Chế độ bầu cử là một tổng thể các nguyên tắc, các quy định của pháp luật bầu cử, cùng các mối quan hệ xã hội được hình thành trong tất cả các quá trình tiến hành bầu cử, từ lúc người công dân được ghi tên trong danh sách cử tri cho đến lúc bỏ lá phiếu vào thùng phiếu và xác định kết quả bầu cử Chế

độ bầu cử do nhiều yếu tố hợp thành, kết hợp hài hòa các yếu tố pháp luật thực định, yếu tố thực tế và tình cảm của nhân dân đối với vấn đề bầu cử Bầu cử là một trong những chế định pháp luật quan trọng của ngành luật Hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước Chế định này được hình thành từ những quy định có hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp cho đến quy định pháp luật khác của các cơ quan nhà nước Trong một chừng mực nhất định còn được điều chỉnh bằng các văn bản của các tổ chức xã hội Điều này được giải thích bằng việc bầu cử là giai đoạn đầu tiên của sự hình thành nên các cơ quan nhà nước, cho nên việc hình thành ra nó trước hết phải bằng các hoạt động phi nhà nước của

Trang 28

các tổ chức xã hội”[21, tr 308- 309] Quan niệm khác về chế độ bầu cử lại tiếp tục khẳng định: “Chế độ bầu cử là một tổng thể các nguyên tắc, các quy định của pháp luật thiết lập trật tự bầu ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước, điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình bầu cử Trật tự bầu cử được quy định bởi

một loạt các văn bản quy phạm pháp luật tạo thành pháp luật bầu cử của mỗi nước”[35, tr 258] Chế độ bầu cử có thể được xem xét theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo

nghĩa rộng, chế độ bầu cử là hệ thống quy định pháp luật của nhà nước về bầu cử, [67, tr 251- 252] Hoặc được định nghĩa: chế độ bầu cử là tổng thể các quan hệ xã hội gắn với cuộc bầu cử hợp thành trình tự bầu cử và nhấn mạnh rằng, chế độ bầu cử

là tổng thể các quan hệ pháp luật và những quan hệ xã hội khác được điều chỉnh bởiđiều lệ, quy định của các đảng phái chính trị, hoặc phong tục, tập quán hay bởi quy

phạm đạo đức… Bởi lẽ, không phải tất cả những quan hệ của chế độ bầu cử đều được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật [21, tr 54].

Theo nghĩa hẹp, chế độ bầu cử được hiểu là phương pháp phân ghế đại biểu giữa các ứng cử viên dựa trên kết quả biểu quyết của cử tri hay những cá nhân có thẩm quyền Nhìn chung, chế độ bầu cử theo nghĩa hẹp rất đa dạng, phức tạp [01, tr.

15- 16] Quan điểm này phù hợp với chế độ bầu cử theo cơ chế chính trị đa đảng

Theo nghĩa rộng, chế độ bầu cử được hiểu như sau: Chế độ bầu cử là tổng thể các nguyên tắc, tổ chức, trình tự bầu cử, xác định kết quả bầu cử được hiến pháp, luật bầu cử quy định, đồng thời chịu sự chi phối của các yếu tố, đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong quá trình cử tri lựa chọn đại biểu đại diện thành lập

cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương và địa phương Chế độ bầu cử là bộ phận hợp thành quan trọng của chế độ chính trị [65, tr 27] Chế độ bầu cử thể hiện ba nội

dung chính đó là: Quyền bầu cử và ứng cử; quá trình tổ chức bầu cử; cơ chế xác địnhkết quả bầu cử

Trên diễn đàn khoa học pháp lý quốc tế, thuật ngữ chế độ bầu cử (Election Mode) được nhiều học giả đề cập trong các sách chuyên khảo Tựu chung lại, Chế độ bầu cử bao gồm ba yếu tố quan trọng nhất: công thức tính phiếu (electoral formula), cấu trúc của các phiếu bầu (ballot structure) và số lượng đại biểu được ấn định cho mỗi đơn vị bầu cử (district magnitude) [143, pg 177] Một nhóm học giả khác định nghĩa Chế độ bầu cử “chuyển dịch” những phiếu bầu trong cuộc bầu cử thành

“ghế” trong cơ quan lập pháp Sự lựa chọn chế độ bầu cử mang tính quyết định ai được bầu chọn: đảng phái chính trị, lực lượng nào trong xã hội nhận được quyền lực; Chế độ bầu cử còn tác động rất lớn đến sự vận động, phát triển của hệ thống đảng phái chính trị: số lượng và mối mức độ mối quan hệ của các đảng phái

Trang 29

chính trị trong

Trang 30

Nghị viện/Quốc hội, và ảnh hưởng đến mức độ chặt chẽ hay lỏng lẻo trong điều lệ, kỷ luật của các đảng phái chính trị [156, pg 191- 193] Dưới cách nhìn của các học giả

nước ngoài thường nhấn mạnh cách thức “chuyển hóa” những lá phiếu của cử tritrong cuộc bầu cử thành các “ghế” trong cơ quan đại diện Theo chúng tôi, cách nhìnnhận của các học giả nước ngoài dựa theo bản chất hơn là theo hình thức bên ngoài.Không giống các học giả nước ngoài, các nhà nghiên cứu pháp lý Việt Nam địnhnghĩa về chế độ bầu cử thường mang tính mô tả hình thức bên ngoài hơn là nhìn trựcdiện vào bản chất của bầu cử

Bản chất của chế độ bầu cử được thể hiện ở ba vấn đề cơ bản: Thứ nhất, Sự

lựa chọn đó như thế nào: Ai có quyền bầu cử? Nhân dân là ai? Ai có thể được bầu?

ứng cử viên hay đảng phái chính trị, lực lượng xã hội? Thứ hai, Bầu như thế nào?

Trình tự, thủ tục và cơ chế đảm bảo thực hiện ra sao? Làm sao để đảm bảo đúng ý chí

của Nhân dân khi bầu cử? Thứ ba, việc trao quyền lực của Nhân dân cho người đại

diện ra sao: cách thiết kế đơn vị bầu cử? Theo tiêu chí lãnh thổ hay theo đảng pháichính trị? Phương thức xác định kết quả bầu cử như thế nào: Đa số hay tỉ lệ?, Ủy tháccho các cá nhân hay đảng phái? Công thức hay kỹ thuật nào để quá trình chuyển hóakết quả bầu cử thành đại biểu trong cơ quan đại diện phản ánh trung thực sự traoquyền lực của Nhân dân của các cử tri vào các đại biểu hay các đảng phái trong cơquan đại diện

2.1.3 Vai trò của bầu cử và pháp luật bầu cử

2.1.3.1 Bầu cử là hoạt động hợp pháp hóa (Legitimacy) chính quyền: Tuyên

ngôn quốc tế về quyền con người 1948 của Liên hợp quốc đã khẳng định :“ Nền tảng

uy quyền của các quyền lực công cộng là ý chí của nhân dân; ý chí này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử thường kỳ và chân thực, được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương” (Điều 21) [43, tr.17] Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị trịnh trọng tuyên bố “Mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào… và không

có sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và cơ hội để: a) Tham gia vào việc điều hành các công việc nhà nước một cách trực tiếp hoặc thông qua những người đại diện được họ tự do lựa chọn; b) Bầu cử và ứng cử trong các cưộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho

cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình…” (Điều 25) [43, tr 17] Bằng bầu cử, Nhân

dân lựa chọn, thành lập ra cơ quan đại diện và ủy thác quyền lực cho họ Như vậy, ýchí của Nhân dân là nền tảng của quyền lực nhà nước Chính vì lẽ đó, chính quyềnđược thành lập thông qua các cuộc bầu cử hợp pháp được cộng đồng quốc tế công

Trang 31

nhận Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu (CSCE) khẳng định “ý chí của nhân dân thông qua bầu cử định kỳ và chân thực là nền tảng cho thẩm quyền và tính hợp pháp của quyền lực nhà nước” [143, 5 June-29 July, 1990] Lịch sử phát triển của nhà

nước trên thế giới đã trải qua nhiều cách thức tổ chức chính quyền mà không qua bầu

cử Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: Trong thể chế chính trị dân chủ, không gì

có thay thế được những cuộc bầu cử đại chúng có vai trò hợp pháp hóa quyền uy củangười đại diện Chức năng thiết yếu của các cuộc bầu cử là hợp pháp hóa uy quyềncông cộng và cung cấp những đại biểu dân cử với một sự uỷ nhiệm quyền lực đặc

biệt [161, pg 115] Bầu cử được coi là “Phương thức chính thống thay đổi quyền lực nhà nước” [20, tr 347] J.Locke cho rằng chính quyền được tạo dựng trên cơ sở sự bằng lòng của dân chúng; hành động của chính quyền không được sự đồng lòng của dân chúng là không có giá trị hay không được uỷ quyền Sự ủng hộ của cử tri càng

lớn, việc thực hiện quyền lực của cơ quan dân cử sẽ càng thuận lợi [43, tr 17, 18]

Những cơ quan, chức danh do nhân dân trực tiếp bầu ra, bao giờ tính “chính danh”

cũng cao hơn, vì sự tín nhiệm của nhân dân tạo vị thế vững chắc cho họ Như vậy,các cơ quan được thành lập từ cơ quan đại diện thường được gọi là những cơ quanphái sinh từ nhân dân Ở Việt Nam, ngay sau khi mới được thành lập chính quyềncách mạng phải đối phó với một tình thế hết sức khó khăn Chính phủ lâm thời longtrọng tuyên bố với thế giới: nước Việt Nam đã trở thành một nước tự do, độc lập.Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra đời, song chưa được một quốc gianào trên thế giới công nhận [81, tr 27] Mặc dù trong điều kiện thù trong, giặc ngoài,tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hết sức khó khăn, tại phiên họp đầu tiên của Chính

phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “…Tôi đề nghị Chính phủ

tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất

cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống,v.v…”[49, tr.16] Vì theo Người: “Do Tổng tuyển

cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân” [43, tr 18] Thắng lợi Tổng tuyển cử đánh dấu bước trưởng

thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra triển vọng của một thời kỳ mới, thời

kỳ đất nước ta có một Quốc hội mới, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháptiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý đểđại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại Nhà nước Việt Nam dân chủcộng hòa có tính chất hợp pháp, dân chủ - Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đượcquốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến vàkiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế Sau chiến thắng

Trang 32

30/4/1975 đất nước thống nhất, để thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước,Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc (từ 15-21/11/1975) đã quyết định

tổ chức Tổng tuyển cử trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung cho

cả nước Quốc hội sẽ xác nhận thể chế nhà nước, bầu ra các cơ quan lãnh đạo củaNhà nước và quy định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất Do vậy, Quốchội khóa VI do nhân dân do cả hai miền Nam, Bắc bầu ra (vào ngày 25/4/1976) là

người đại diện hợp pháp cho toàn thể nhân dân Việt Nam Như vậy, có thể nói bầu cử

là biểu hiện rõ nét nhất kết quả của “sự đồng thuận của những giai tầng trong xã hội”.Bởi vậy, những cuộc bầu cử theo những chuẩn mực hiện đại: tự do, tiến bộ và côngbằng tạo tính hợp pháp và chính đáng nhất cho cơ quan đại diện và cho cả bộ máynhà nước

2.1.3.2 Bầu cử là yếu tố quan trọng tác động đến cơ chế chính trị, cơ chế hoạt động của cơ quan đại diện: Bầu cử là một trong những yếu tố quan trọng tác động

đến cơ chế chính trị Trong cơ chế chính trị đa đảng, bầu cử thậm chí được coi làcông cụ tác động mạnh mẽ nhất đối với chính trị, vì nó không những quyết định cáchthức “chuyển hóa” từ những lá phiếu của cử tri thành các đại biểu trong cơ quan lậppháp, quyết định ai, đảng phái nào sẽ được bầu chọn, mà còn quyết định quyền uy,

sức mạnh của các đảng phái chính trị Chẳng hạn, hệ thống bầu cử theo đa số, nhất là

áp dụng đơn vị bầu cử một đại diện thì hệ thống chính trị thường có hai đảng chính trịlớn chi phối đời sống chính trị ở quốc gia đó Anh quốc và Hoa kỳ là những ví dụđiển hình cho nhận định này Chính vì vậy, John F Bibby, một nhà khoa học chính trị

hàng đầu ở Mỹ cho rằng: hệ thống bầu cử một đại diện tạo ra động cơ để hình thành hai đảng với cơ sở rộng, có khả năng giành đa số phiếu ở khu vực bầu cử, trong khi làm cho các đảng nhỏ hơn và đảng thứ ba hầu như phải chịu thất bại liên tục, trừ khi

họ có thể kết hợp với một chính đảng [6, tr 4] Đây là một đặc điểm rất quan trọng

của hệ thống chính trị Anh, Mỹ, vì cạnh tranh giữa hai đảng là một trong những đặcđiểm nổi bật và bền vững nhất trong hệ thống chính trị Hoa Kỳ Hệ thống bầu cử áp

dụng phương pháp tỉ lệ không giống hệ thống bầu cử áp dụng phương pháp đa số,

thường tạo ra một Nghị viện cũng như thể chế chính trị nhiều đảng, các đảng nhỏcũng có thể có đại diện, thậm chí các ứng cử viên tự do cũng có thể có mặt trongNghị viện [165, pg 115] Lijphart A, một trong những nhà nghiên cứu nổi tiếng, tác

giả của nhiều cuốn sách về chính trị và bầu cử đã viết rằng “Lựa chọn chế độ bầu cử, đặc biệt giữa việc lựa chọn bầu cử đa số hay bầu cử theo đại diện tỉ lệ là vấn đề quan trọng trong tất cả các định chế tạo thành nền dân chủ” [160, pg 208] Hay theo Giovanni Sartori “Bầu cử là công cụ điều khiển mạnh mẽ nhất của chính trị” Giáo sư

Trang 33

Guy Goodwin- Gill cho rằng “Bầu cử tự do và công bằng là trái tim của dân chủ”

[163, pg 208] Như vậy, nhiều học giả và nhiều chính khách nổi tiếng trên thế giới đã

thống nhất rằng: trong cơ chế chính trị, bầu cử là định chế quan trọng, mang tính nền tảng trong việc kiến tạo cơ chế chính trị của mỗi quốc gia [43, tr 20] Việt Nam là

thể chế chính trị nhất nguyên do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Do vậy, cơ chếchính trị cũng có tính đặc thù: không có sự cạnh tranh mang tính đối kháng về chínhtrị như thể chính trị tư sản Tuy nhiên, sự đa dạng trong kết cấu xã hội ở các nướcXHCN và ở Việt Nam không hề bị loại trừ Về mặt hình thức, nó được thể hiện thôngqua sự đa dạng về giai cấp, tầng lớp, dân tộc, địa phương, tín ngưỡng, tôn giáo, cộngđồng Pháp luật bầu cử phải được thiết kế phải phù hợp với kết cấu của xã hội mà nó

tồn tại, bởi vì bầu cử có vai trò là sự “chuyển hóa” những lá phiếu của cử tri thành các “đại biểu” trong cơ quan đại diện, là “bức tranh hội tụ” tổng thể hình ảnh của các

giai tầng, dân tộc, hoặc Nhân dân trong từng địa phương Đối với Việt Nam vai trò

của bầu cử còn mang tính đặc thù: Thứ nhất, Đối với các nước tư sản, bộ máy nhà

nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân quyền, do đó Nhân dân khôngnhững bầu ra Quốc hội, mà ở nhiều nước Nhân dân còn trực tiếp bầu ra Tổng thống,

do vậy, bản thân pháp luật bầu cử là công cụ nhằm kiểm soát, đối trọng giữa cácnhánh quyền lực và tạo ra cơ chế sửa sai cho Nhân dân Khác với các nước tư bản, ởnước ta, khi Nhân dân bầu ra Quốc hội và HĐND thì cũng có nghĩa trao toàn bộ

“Niềm tin” cho các cơ quan này, mà chậm có cơ chế sửa sai như ở các nước tư sản

Về mặt nguyên tắc, cử tri có quyền bãi nhiệm các đại biểu dân cử khi họ không cònđược sự tín nhiệm của Nhân dân Việc bãi nhiệm đã được quy định ở các điều khoảncủa Hiến pháp, tuy nhiên trong một thời gian dài chưa có cơ chế cụ thể để áp dụng

vào thực tiễn Thứ hai, do vai trò quan trọng của QH&HĐND ở Việt Nam là cơ quan

đại diện quyền lực Nhà nước, cho nên, có thể hình dung rằng thông qua bầu cử, Nhândân trao những thẩm quyền quan trọng, như quyết định các vấn đề quan trọng nhấtcủa đất nước và địa phương cho cơ quan đại diện; do vậy, chỉ cần thông qua một cuộcbầu cử, nhưng Nhân dân ủy thác rất nhiều quyền lực cho cơ quan đại diện Điều đócàng đặt ra các tiêu chí về tính chính xác, công bằng của bầu cử, để kết quả bầu cửthực sự thể hiện ý chí lựa chọn và trao quyền “ủy thác quyền lực”của Nhân dân

2.1.3.3 Bầu cử là phương thức cạnh tranh để Nhân dân chọn lựa đường lối hợp lòng dân: Bầu cử thực chất là một “cuộc sát hạch” chính trị trong việc hướng đến

quyền lực Nhà nước Nhân dân, thông qua những lá phiếu, là trọng tài quyết địnhthắng, thua trong cuộc sát hạch đó Pháp luật bầu cử chỉ là công cụ để Nhân dânquyết định ai thắng ai thua và không thể coi bầu cử là “bình phong” nhằm hợp thức

Trang 34

hóa chính quyền Muốn thuyết phục cử tri, các đảng phái, các lực lượng xã hội, cácứng cử viên trước hết cần xây dựng được một đường lối chính trị vì dân, phù hợp vớicàng đông đảo cử tri sẽ có cơ hội lớn để trúng cử Nhìn nhận dưới tiêu chí này, nhiềunhà nghiên cứu coi bầu cử như một cuộc trưng cầu ý dân về quan điểm, chủ trương,

về năng lực của các đảng phái chính trị và của các ứng cử viên tranh cử Do vậy, bầu

cử tiến bộ công bằng không những tạo ra một sự cạnh tranh lành mạnh trong việc thuphục niềm tin của cử tri, tức là tạo ra một cơ chế ganh đua giữa các đảng phái, các lựclượng, các ứng cử viên để tìm ra một đường lối chính trị là kết quả của lựa chọn củaNhân dân, và nó cần phải có sự cân lượng đúng, chuyển hóa đúng ý chí của Nhân dânthành kết quả bầu cử

2.1.3.4 Bầu cử là công cụ quan trọng để Nhân dân giám sát, kiểm soát hạn chế sự tha hóa của quyền lực Nhà nước: Dân chủ đại diện là cần thiết Thực chất, đó

là sự chuyển giao quyền lực “ủy quyền” của Nhân dân sang nhà nước Tuy nhiên,cũng chính trong việc chuyển giao quyền lực ấy lại phát sinh một hệ lụy mà Nhân dânkhông mong muốn, rằng tuy thoát thai từ xã hội, nhưng quyền lực nhà nước tại có xuhướng tách ra khỏi xã hội và “tựa hồ như đứng trên xã hội” Do vậy, quyền lực nhànước cần phải được kiểm soát và giới hạn nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lựcnhà nước của Nhân dân nhưng nó lại đe dọa chính Nhân dân [63, tr 47], cho nên phảikiểm soát và chế ngự sự lạm quyền và tha hóa của nó Do vậy, việc đặt vấn đề Nhândân giám sát và hạn chế sự tha hóa quyền lực nhà nước là đúng đắn và rất cần thiết.Bầu cử là một trong những phương thức nhằm thực hiện mục đích đó Sẽ không sai

khi cho rằng: Không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn người đại diện, mà bầu cử đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước [63, tr 83- 88], hay: Nhà nước và ngay cả những thiết chế được hình thành bởi bầu cử tự do, công bằng không thể và không được phép có thẩm quyền quyết định không giới hạn [71, tr.

292] Bản thân Nhà nước không có quyền mà chỉ được Nhân dân ủy quyền Quyềnlực của người cầm quyền có thể bị tước bỏ Quyền lực của Nhân dân thì không ai cóthể tước bỏ Chủ quyền tối cao là sự thể hiện ý chí chung nên không thể tự nó bỏ điđược [113, tr 28] Vì vậy, để giám sát, chế ngự quyền lực nhà nước có hiệu quả, thìcác cơ chế khác, như kiểm tra, hoặc phân công và phối hợp lẫn nhau…phải đồng bộvới cơ chế Nhân dân tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật bầu cử

Về bản chất, bầu cử không những là con đường kiến thiết chế độ đại diện mà nó cũngchính là phương thức để nhân dân loại bỏ những người đại diện Do vậy, để Nhân dângiám sát, hạn chế sự tha hóa, lạm quyền của quyền lực nhà nước có hiệu quả nhất,đồng thời với bầu cử, Nhân dân phải có quyền phế truất đại biểu dân cử Bầu cử và

Trang 35

Bãi nhiệm là hai mặt “đối lập” của một vấn đề Cần chú ý rằng, các bản Hiến phápnước ta đều quy định việc nhân dân bãi nhiệm cùng điều với bầu cử hoặc bên cạnhđiều quy định về bầu cử Điều đó làm giảm hiệu quả giám sát, Nhân dân không thểphế truất khi đại biểu tha hóa, biến chất, hoặc không còn sự tín nhiệm của Nhân dân.

2.1.3.5 Bầu cử là chìa khóa xây dựng niềm tin và tạo sự đồng thuận xã hội:

Niềm tin và đồng thuận xã hội - nền tảng của bầu cử dân chủ trong nhà nước pháp

quyền Jean Jacques Rouseau, nhà khai sáng kiệt xuất đã viết rằng: “Lập pháp là đỉnh cao nhất của sự hoàn thiện mà sức mạnh tập thể có thể đạt tới”[140, tr 72] Montesquieu cũng cho rằng “Trong một nước lớn thì không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp, trong một nước nhỏ việc này cũng rất khó khăn, cho nên dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm các việc mà các cá nhân không thể tự mình làm lấy” [168, tr 104] Cách mạng tư sản với

việc ra đời Hiến pháp tư sản, tạo ra thiết chế Nghị viện Công bằng mà nói thì chế độđại nghị là một bước tiến lớn của nhân loại trong cơ chế thực hiện quyền lực nhândân Một trong những tư tưởng cơ bản của chế độ đại nghị là tư tưởng đại diện nhândân, cơ quan đại biểu nhân dân trở thành cơ quan đại diện với chức năng lập pháp.Việc ủy quyền này được thực hiện thông qua các cuộc bầu cử và được ghi nhận trongHiến pháp [123, tr 370- 372] Ở các nước XHCN, nhân dân ủy quyền cho các đạibiểu dân cử thực hiện quyền lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đấtnước và ở địa phương, đồng thời các đại biểu thực hiện các quyền đó phải phù hợpvới ý chí nhân dân, có thể bị nhân dân bãi nhiệm nếu không còn sự tín nhiệm củanhân dân Với tính đại diện đa dạng cho những bộ phận trong xã hội, là những cơquan nhà nước có sứ mệnh hoà giải những nhóm và những cộng đồng khác nhauthông qua bàn luận, đối thoại, thậm chí thỏa hiệp [161, pg 1] Cơ quan đại diện - sảnphẩm của bầu cử, là hình ảnh thu nhỏ của cơ cấu xã hội trong phạm vi quốc gia, hoặctừng địa phương Do vậy, có thể nói rằng: QH&HĐND - Cơ quan đại diện của Nhândân là bức tranh hội tụ hình ảnh Nhân dân cả nước và ở địa phương Những quyếtđịnh của cơ quan đại diện là sự đồng thuận của những giai tầng trong xã hội, là sựthừa nhận tuyệt đối của Nhân dân đối với cơ quan đại diện Khi đề cập đến dân chủnói chung hoặc các định chế cấu thành chế độ chính trị nói chung, pháp luật bầu cửnói riêng, một vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm hiện nay là niềm tin xã hội(trust) Có thể nói rằng niềm tin, sự đồng thuận xã hội là trái tim của các nền dân chủ,

đó là niềm tin mà các cá nhân đặt vào nhà nước và hệ thống chính trị Nó còn đượcgọi là vốn xã hội (social capital) [163, pg.115- 117] Niềm tin, sự đồng thuận xã hộiđược hình thành, phát triển trên cơ sở mối quan hệ qua lại giữa hệ thống chính trị,

Trang 36

thông qua các thiết chế của nó với người dân Đây là yếu tố rất quan trọng, mang tínhgốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một cuộc bầu cử Trong bầu cử, thông qua

lá phiếu cử tri trao quyền và đặt niềm tin vào người đại diện để họ thay mặt mìnhthực hiện quyền lực nhà nước Chính vì vậy, bầu cử như là một cuộc trưng cầu dân ý

về quan điểm, đường lối chính trị, năng lực chính trị của các ứng cử viên, các đảngphái và các lực lượng tranh cử Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 ở nước ta là mộtđiển hình; kết quả của cuộc Tổng tuyển cử là một bức tranh sinh động về một cuộcbầu cử thực sự tự do, dân chủ Đó thực sự là cuộc Tổng tuyển cử của lòng dân và nó

“đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam”

[81, tr 53] Ngày nay, niềm tin và sự đồng thuận xã hội đã thành chủ đề của bất cứnhà nước nào, nhất là đối với các nước có kết cấu xã hội hay cơ cấu chính trị phứctạp, như sự đa dạng về sắc tộc, về các giai tầng xã hội, các nhóm xã hội, các đảngphái chính trị, hoặc các quốc gia đang trên con đường phát triển Niềm tin tưởng lẫnnhau giữa Nhà nước, các thiết chế quyền lực với Nhân dân để cùng nhau gánh vác, sẻchia và cộng đồng trách nhiệm, sự đồng thuận sẽ đoàn kết các lực lượng trong xã hộitạo nên tính bền vững, ổn định, tạo nên giá trị xã hội của pháp luật bầu cử và tínhnhân văn của pháp luật về bầu cử QH&HĐND

2.1.3.6 Bầu cử là phương thức quan trọng để giải quyết mâu thuẫn, xung đột

xã hội trong điều kiện hòa bình: Không chỉ có xã hội tư bản, xã hội XHCN cũng luôn

tồn tại những mâu thuẫn, sự khác biệt về địa vị kinh tế, chính kiến, tư tưởng, nhậnthức, về ý thức hệ…Đối với Việt Nam, nhất là thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tếhiện nay, khi nền kinh tế theo vận hành theo cơ chế thị trường thì những xung đột,tranh chấp về lợi ích kinh tế giữa những giai tầng, những bộ phận xã hội biểu hiệnngày càng rõ nét và đó cũng là vấn đề mang tính tất yếu Mâu thuẫn xã hội ở cácnước XHCN nói chung và ở nước ta nói riêng, về cơ bản không mang tính đối khángnhư trong xã hội tư sản Lý luận và thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra

rằng: có hai phương thức cơ bản để giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã hội: phương pháp bạo lực và phương pháp hòa bình Bầu cử là một trong những cách thức giải quyết xung đột, mâu thuẫn xã hội trong điều kiện hòa bình [43, tr 23] Bầu cử là

phương thức tốt nhất để hòa hợp dân tộc, giải quyết xung đột đẳng cấp, dân tộc, phephái, những bất ổn xã hội, vì kết quả bầu cử thể hiện “ tổng hòa lợi ích” giữa các phephái, các lực lượng, các bộ phận xã hội Do đó, bất luận trong xã hội nào và nhà nướcnào, không những bầu cử phải dựa trên các nền tảng của bầu cử tự do, tiến bộ và côngbằng, mà nó cần được thiết kế phù hợp với điều kiện, đặc điểm của mỗi thể chế chínhtrị, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và đó là chìa khóa trong việc kiến tạo nền tảng cho việc

Trang 37

xây dựng và thực thi dân chủ trong xã hội Việc thiết lập một chế độ bầu cử và hệthống pháp luật bầu cử hợp lý đã trở thành một yếu tố trung tâm của chính trị Ở ViệtNam, những ngày đầu sau khi giành độc lập, tình thế hết sức khó khăn, thù trong,giặc ngoài, nhiều đảng phái chính trị như Việt Quốc, Việt Cách ra sức chống pháchính quyền cách mạng Chưa bao giờ trên đất nước ta có nhiều kẻ thù đến thế![81,

tr 27] Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương Tổng tuyển cử vàsau đó, áp dụng một số biện pháp mềm dẻo, áp dụng hài hòa cơ cấu đại biểu (có 70đại biểu Việt Quốc, Việt Cách) Cuộc Tổng tuyển cử là cơ sở pháp lý, xác định tính

“chính danh” của quyền lực Nhà nước và chính quyền non trẻ, mà nó còn là giải phápmang tính căn bản, nền tảng để giải quyết những mâu thuẫn, những xung đột giai cấp,đảng phái…trong điều kiện hòa bình Đây là cuộc Tổng tuyển cử vĩ đại đầy ý nghĩa

ấy cùng với sách lược ứng phó khôn khéo: giương cao ngọn cờ đoàn kết, tất cả vìmục tiêu độc lập dân tộc với những giải pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đầy nghệthuật, trí tuệ mang tầm vóc thời đại

2.1.3.7 Bầu cử phản ánh nhãn quan chính trị và sự quan tâm của Nhân dân về chính quyền và thể chế chính trị: Các cuộc bầu cử phản ánh sự quan tâm của dân

chúng đối với đời sống chính trị Sự tham gia của nhân dân, xã hội vào bầu cử khôngchỉ đơn giản và đơn thuần chỉ là việc bỏ phiếu Sự tham gia chính trị bắt nguồn từ tự

do ngôn luận, hội họp, lập hội; khả năng nắm bắt thông tin trong sự hướng dẫn củacông chúng; và cơ hội để đăng ký như một ứng cử viên, để tham gia chiến dịch bầu

cử, được bầu chọn và để nắm giữ một chức vụ trong chính phủ [166, pg 33] Sựquan tâm của cử tri đối với bầu cử: do nhận thức về lợi ích, thông qua bầu cử, có thểthấy được trách nhiệm, ý thức chính trị của người dân đối với nhà nước, đây là yếu tốrất quan trọng, mang tính gốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một chế độ bầu

cử và cả hệ thống chính trị -xã hội Bầu cử là hoạt động thể hiện nhu cầu tự bộc lộ, tựthể hiện về nhãn quan chính trị và hành vi chính trị của người dân Bầu cử được coi là

cơ chế tham gia dân chủ có tính hiện thực trong các Nhà nước hiện đại Trong cácnền chính trị đa nguyên, đa đảng, bầu cử là dịp các đảng phái, các lực lượng giám sát,công khai tuyên bố các kết quả giám sát đối với các đảng phái, các lực lượng đối lập.Bầu cử là dịp các chính đảng xây dựng đường lối, hoạch định chính sách, xác địnhcác mục tiêu của đảng phái mình Bầu cử là thời điểm bản thân các đảng phái chínhtrị chọn lựa những người có uy tín của đảng mình để tranh cử với các đảng phái chínhtrị hoặc các lực lượng xã hội khác Các cuộc bầu cử phản ánh tình hình trong nội bộcác đảng phái chính trị, các lực lượng xã hội Bầu cử như là một cuộc trưng cầu dân ý

về quan điểm, đường lối chính trị, năng lực chính trị của các ứng cử viên, các đảng

Trang 38

phái và các lực lượng tranh cử Chính vì vậy, bầu cử được coi là Biện pháp xác định chương trình, chính sách hoạt động hay sự thay đổi chính sách khác nhau của nhà nước [20, tr 347] Trong báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1997, Ngân hàng thế

giới đã đưa ra thông điệp chung cho nhiều nước, đưa nhà nước gần gũi với dân hơn,

cho người dân có tiếng nói trong quá trình hoạch định và họ khuyến khích: “Cơ chế

dễ nhất và tốt nhất để người dân có tiếng nói đó chính là hòm phiếu”[43, tr 24] Như

vậy, đối với bất cứ quốc gia dân chủ nào, pháp luật bầu cử chỉ là phương tiện, làthước đo để chuyển tải ý chí của Nhân dân và tin tưởng bỏ phiếu giao quyền củamình cho người đại diện trong cơ quan quyền lực Nhà nước Sự chuyển tải đó đồng

thời thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản: Một là, nó phải có khả năng tạo điều kiện, cơ hội cho Nhân dân chọn đúng người cần chọn Hai là, pháp luật bầu cử phải chuyển tải

đúng quyền lực (ý chí) của Nhân dân cho đối tượng cần trao “ủy thác quyền lực”.Ngoài ra, với mỗi thể chế chính trị khác nhau, pháp luật bầu cử phải phù hợp và nhằmthực hiện các mục tiêu chính trị của nhà nước và xã hội

2.1.3.8 Bầu cử - phương thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động: Hầu hết các học giả Tư sản hiện đại đều kế thừa quan điểm của chủ nghĩa tự do

về nguồn gốc, bản chất của quyền lực nhà nước trong mối liên hệ với chủ quyềnNhân dân Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, quyền lực Nhân dân được hiểu và phântích với những nội dung mới, đa dạng và sâu sắc hơn Về mặt lý luận, quyền lựcNhân dân vẫn tồn tại một khái niệm khá chung chung, do chỗ thiếu sự thống nhấttrong cách nhận diện phạm trù “Nhân dân” Về cấu trúc và nội hàm, quyền lực Nhândân thể hiện trên các phương diện sau: Thiết lập lên một trật tự, thường là thông quamột chuẩn mực hoặc một tập tục nào đó Đưa ra các quyết định trực tiếp đối với cácvấn đề mà cộng đồng quan tâm nhất, thông qua các cơ chế như: “Trưng cầu dân ý”hay “quyền sáng kiến pháp luật”, và các hình thức dân chủ trực tiếp khác Bầu rangười thay mặt mình thực thi công việc chung, đây là khía cạnh được các học giả Tưsản nhìn nhận là vấn đề trung tâm, cơ bản nhất của “quyền lực nhân dân” trong các xãhội dân chủ đại diện Hình thành các tổ chức của công dân – là các tổ chức chính trị,

xã hội mang tính tự nguyện, tự chủ của công dân, tự giải quyết những vấn đề của cánhân, của nhóm hay cộng đồng dân cư nhất định Học thuyết Mác - Lê nin tiếp cậnvấn đề quyền lực nhà nước từ góc độ quyền lực chính trị Quyền lực Chính trị là ý chíchung của một tập đoàn xã hội (trước hết là một giai cấp, một dân tộc) thể hiện nănglực thực hiện những lợi ích của tập đoàn xã hội đó, trong khi tác động, chi phối cáctập đoàn xã hội khác Ph Ăngghen chỉ rõ: “Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của

nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác” [14, T4, tr.628] Như vậy, bản chất quyền lực chính trị là quan hệ giữa giai cấp với giai cấp

Trang 39

Quyền lực chính trị gắn với giai cấp, lấy chính sự tồn tại của giai cấp làm cơ sở.Quyền lực chính trị được thể hiện theo “Chế độ đại diện”: Điều đó có nghĩa, quyềnlực chính trị được “hiện thân hóa” ở những “Nhóm” hoặc “cá nhân” đại diện của tậpđoàn xã hội Lênin nói: “ Thông thường thì các chính đảng đều nằm dưới quyền củanhững nhóm ít nhiều có tính chất ổn định, gồm những người có uy tín nhất, có ảnhhưởng nhất, có kinh nghiệm nhất, được bầu ra giữ những trách nhiệm trọng yếu nhất,

và người ta gọi là các lãnh tụ Tất cả những điều đó là những điều sơ đẳng nhất Tất

cả những điều đó đều đơn giản và rõ ràng” [124, tr.30] Trong tác phẩm kinh điển vềkhoa học chính trị “Nguồn gốc trật tự chính trị”, học giả người Mỹ Francis Fukuyamacho rằng: “Các hệ thống dù vững chắc đến đâu cũng có nguy cơ bị tha hóa và trởthành bộ máy thân hữu, nắm quyền với những nhóm lợi ích thiểu số có quan hệ mậtthiết với nhau” Chế độ đại diện của quyền lực chính trị tạo ra khả năng “tha hóaquyền lực”: biến quyền lực chính trị vốn là quyền lực chung của một tập đoàn xã hộithành quyền lực của một nhóm, thậm chí cá nhân “đại diện” quyền lực Nhà nước làhình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chungcủa họ và là hình thức dưới đó toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểuhiện một cách tập trung, nên từ đó có thể rút ra kết luận là:“mọi thiết chế công cộngđều thông qua Nhà nước và mang một hình thức chính trị” [14, tr 90] Trong hệthống quyền lực chính trị của xã hội, quyền lực Nhà nước ở vị trí trung tâm, có vai tròtrọng yếu nhất Quyền lực Nhà nước là quyền lực của giai cấp cầm quyền, do vậy nó

là một quyền lực chính trị Nhân dân – theo quan niệm của Mác – mới chính là chủthể đích thực của Nhà nước Bởi vậy, xét về thực chất, Nhà nước không có chủ quyền

mà chỉ Nhân dân mới có chủ quyền Từ luận điểm cơ bản này, C Mác đi đến một kếtluận “Chế độ dân chủ là bản chất của bất kỳ nhà nước nào Chế độ dân chủ quan hệvới mọi hình thức khác nhau của Nhà nước”[59, tr.18] Như vậy, với việc kế thừanhững giá trị tư tưởng và kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đế tổ chức nhà nướctrong lịch sử, nguyên lý về chủ quyền Nhân dân được khẳng định như là bản chất vàtrụ cột của việc tổ chức và vận hành xã hội hiện đại Mặc dù, với những góc nhìn vàquan niệm hết sức đa dạng, nhưng nội dung cơ bản và chung nhất của nguyên lý nàylà: “quyền lực Nhân dân là quyền lực tối cao và là quyền lực gốc trong các xã hội dânchủ; quyền lực Nhân dân không được biểu hiện và thực thi liên tục bởi chính chủ thểcủa nó là Nhân dân, nhưng tư cách chủ thể của Nhân dân thể hiện ở việc trực tiếpthực hiện một phần quyền lực, ủy thác thực hiện quyền lực và kiểm tra, giám sát, kể

cả việc thay đổi, hủy bỏ quyền lực đã được ủy thác; quyền lực nhà nước là bộ phận

cơ bản của quyền lực Nhân dân được hình thành thông qua sự đồng thuận ủy quyềncủa Nhân dân mà bằng chứng hữu hình của sự đồng thuận đó là sự hiện diện của chủnghĩa lập hiến ” [59, tr 19]

Trang 40

2.1.3.9 Bầu cử - phương thức thực hiện quyền con người, quyền công dân và thực hành dân chủ ở mỗi quốc gia: Trong quá trình phát triển lịch sử lập hiến của

nhân loại, tư duy về chính trị và vấn đề quyền con người, quyền công dân luôn là nộidung cốt lõi của lịch sử lập hiến Các quốc gia đều coi quyền con người, quyền côngdân là nội dung cơ bản, trụ cột không thể thiếu của Hiến pháp Trong đó ghi nhận,bảo đảm, bảo vệ quyền con người là sứ mệnh thiêng liêng của Hiến pháp, là mục tiêu,nhiệm vụ của Hiến pháp của mỗi quốc gia Hiến pháp là “văn bản ủy quyền” củaNhân dân cho Nhà nước, trao cho Nhà nước hệ thống quyền lực thực chất của Nhândân, ấn định việc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực và các nguyên tắc vàphương pháp thực thi quyền lực Nhà nước cũng như ghi nhận và xác lập trách nhiệmcủa nhà nước trong việc đảm bảo thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân Như vậy, về nội dung, dù tồn tại ở bất kỳ chế độ dân chủ nào, Hiến

pháp cũng thể hiện và hiến định hai vấn đề chủ yếu: Một là, ghi nhận quyền của công dân, quyền con người Hai là, giới hạn phạm vi và cách thức tổ chức quyền lực Nhà

nước [129, tr 169] Các nhà lý luận về Hiến pháp hiện đại đều cho rằng, Hiến pháp là

hệ quả của bối cảnh khế ước xã hội, thể hiện chủ quyền Nhân dân Theo đó: Hiếnpháp “thường do Nhân dân thông qua theo các trình tự khác nhau” là văn bản ủyquyền của Nhân dân cho nhà nước, Nhân dân trao quyền và nghĩa vụ cho Nhà nước

“chủ quyền Nhân dân” Tư tưởng về chủ quyền Nhân dân theo đó phải được thể hiện

rõ trên hai phương diện: Thứ nhất, Nhân dân có quyền giới hạn về phạm vi và nội

dung của những quyền cơ bản mà mình sẽ ghi nhận trong Hiến pháp Đây chính làmức độ “cốt lõi” của chủ quyền Nhân dân và biểu hiện trạng thái tương quan giữa

“dân chủ đại diện” và “dân chủ trực tiếp”, mà phương thức đạt tới đó chính là bầu cử

[129, tr 170] Thứ hai, việc ghi nhận những quyền cơ bản trong Hiến pháp thực chất

là Nhân dân xác định nghĩa vụ của Nhà nước phải thực hiện những cam kết trongHiến pháp Trong một xã hội dân chủ, Nhân dân thông qua bầu cử thiết lập nên Nhànước và đồng thời họ cũng chính là người cung cấp các nguồn lực để đảm bảo sự tồntại và vận hành của bộ máy Nhà nước “đóng thuế…”[129, tr 171] Hiến pháp, phápluật về bầu cử là phản ánh tồn tại và tương quan lực lượng xã hội Vì thế, xuất phát từtinh thần khế ước xã hội, những nghĩa vụ của Nhà nước chỉ có thể ghi nhận trongHiến pháp khi hiện diện đầy đủ các điều kiện đảm bảo để Nhà nước có thể thực hiệnnghĩa vụ của mình Hiến pháp là văn bản pháp luật, đặc biệt là văn bản có giá trị pháp

lý cao nhất Vì vậy, mọi quy phạm của Hiến pháp, trước hết là các quy định về quyền

cơ bản có hiệu lực thi hành trực tiếp Có thể hiểu quyền con người theo cách địnhnghĩa của Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ 1776, được khẳng định lại trong Tuyên

Ngày đăng: 11/09/2020, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PTS Vũ Hồng Anh, sách chuyên khảo “Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội-1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử của một số nước trênthế giới
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
2. Ban tuyên giáo Trung ương ( 2011 ) Tài liệu học tập các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội- 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập các văn kiện Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia- Sự thật
3. Ban công tác đại biểu Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử. Vai trò của Hội đồng nhân dân trong phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương, Nxb Chính trị- Hành chính, Hà Nội- 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Hộiđồng nhân dân trong phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương
Nhà XB: Nxb Chính trị-Hành chính
4. Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ (1995) Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp. Phương thức hoạt động của người đại biểu Hội đồng nhân dân, Nxb Xí nghiệp văn hoá phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Hội đồngnhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp. Phương thức hoạt động của người đạibiểu Hội đồng nhân dân
Nhà XB: Nxb Xí nghiệp văn hoá phẩm
5. Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, Phần II, NXB Lao động, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, Phần II
Nhà XB: NXB Lao động
6. Bầu cử ở Mỹ năm 2004, Trung tâm thông tin tư liệu, Phòng văn hóa thông tin, Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bầu cử ở Mỹ năm 2004
7. Báo cáo số 454/BC- HĐBC ngày 18/7/2011 của Hội đồng bầu cử tổng kết cuộc bầu cử ĐBQH khoá XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 454/BC- HĐBC ngày 18/7/2011
9. Bộ Tư Pháp (2001), Chuyên đề về sửa đổi bổ sung một số điều Hiến pháp 1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề về sửa đổi bổ sung một số điều Hiến pháp1992
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Năm: 2001
10. Cuộc bầu cử đại biểu QH khóa XI thành công, http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20020520110815 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc bầu cử đại biểu QH khóa XI thành công
13. 13. Chính trị học đại cương và ứng dụng , Nxb Liên minh, M, 1997 ( Tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính trị học đại cương và ứng dụng
Nhà XB: Nxb Liên minh
14. C. Mác và Ph, Ăng ghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà nội, 1995, T.2, 3, 4, 21,22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph, Ăng ghen
Nhà XB: Nxb CTQG
15. GS.TS Hoàng Chí Bảo (2017) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, Tạp chí Mặt Trận số 161+162, tháng 1+2/2017, ISSN 1859- 0276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về đổi mớinội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoànthể nhân dân
16. Mai Thị Chung (2001) Nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân, trong sách 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu Hội đồngnhân dân, trong sách 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân -Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
17. Vũ Đức Đán (2005), "Vấn đề bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân", Tạp chí Quản lý nhà nước, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đạibiểu Hội đồng nhân dân
Tác giả: Vũ Đức Đán
Năm: 2005
18. Nguyễn Đăng Dung (1998), Hội đồng nhân dân trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng nhân dân trong hệ thống cơ quan quyềnlực nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1998
19. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung, Chu Khắc Hoài Dương “ Bầu cử và vấn đề dân chủ” (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5/2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bầu cử và vấn đề dânchủ
20. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (2002), Hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp và bộ máy nhà nước
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nhàxuất bản Giao thông vận tải
Năm: 2002
21. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung, Chế độ bầu cử, Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam (PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, TS. Vũ Hồng Anh chủ biên), Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử, Giáo trình Luật hiến pháp ViệtNam
Nhà XB: Nxb Tư pháp
22. GS.TS. Trần Ngọc Đường, Bàn về Hội đồng bầu cử Quốc gia trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Báo Đại biểu nhân dân, ngày 18/9/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Hội đồng bầu cử Quốc gia trong Dự thảosửa đổi Hiến pháp năm 1992
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hànhTrung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w