Dựa vào kết cấu chủ vị, Diệp Quang Ban 1992, chia câu làmhai loại: câu hai thành phần và câu đặc biệt.Tác giả cho rằng “ câu đơnđặc biệt là kiến trúc có một trung tâm cú pháp chính có t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Câu là đơn vị ngôn ngữ được nghiên cứu từ rất sớm, từ thời
cổ đại Cho đến nay, câu tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ họcquan tâm trên nhiều bình diện: từ bình diện ngữ pháp đến bình diệnngữ nghĩa cũng như bình diện ngữ dụng Tuy nhiên, nghiên cứu về
“dạng đặc biệt” của nó trong sự hành chức ở các thể loại văn bản nhưvăn bản nghệ thuật vẫn chưa được quan tâm nhiều Có thể nói chưa cócông trình nào nghiên cứu đầy đủ giá trị câu đặc biệt trong tác phẩmvăn học
1.2 Nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc độ ngôn ngữ là xuhướng phổ biến hiện nay Đi vào tìm hiểu tác phẩm chúng ta lĩnh hộiđược phong cách tác giả, tính thẩm mỹ, tính cá thể, dấu ấn cá tính sángtạo của nhà văn thông qua phương tiện ngôn ngữ như: từ ngữ, câu,đoạn văn và cách tổ chức các đơn vị ngôn ngữ Hướng nghiên cứu nàylàm cho đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học ngày càng phong phú, đadạng hơn
1.3 Cùng với sự đổi mới của tình hình đất nước, mấy năm gầnđây văn học nước ta cũng có những bước tiến đáng kể, đặc biệt là ởthể loại truyện ngắn Nằm trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam,truyện ngắn sau 1975 đã có nhiều thành tựu nổi bật Thế hệ các nhàvăn từ sau 1975 đã tiếp nối xứng đáng thế hệ các nhà văn lớp trước
Trang 2Có thể kể ra đây các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Minh Châu,Nguyễn Khải, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị ThuHuệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư,… Các nhàvăn này đã có những cách tân táo bạo trong việc sử dụng các kiểu câu
và đã tạo nên phong cách riêng, ấn tượng Họ chính là những ngườilàm cho truyện ngắn trở nên muôn màu, muôn sắc, làm cho ngôn ngữtruyện ngắn biến đổi, cựa quậy không ngừng Đúng như D.Grônôpxki
đã từng nói: “Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi khôn cùng Nó là một vật biến hóa như quả chanh của Lọ Lem Biến hóa về khuôn khổ: ba dòng hoặc ba mươi trang Biến hóa về kiểu loại: tình cảm, trào phúng, kì ảo, hướng về biến cố thật hay tưởng tượng, hiện thực hoặc trào phúng Biến hóa về nội dung: thay đổi vô cùng tận Trong thế giới của truyện ngắn cái gì cũng thành biến cố Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hiệu quả vì nó làm cho
sự chờ bị hụt hẫng” [20, tr 13].
Có thể nói, trong truyện ngắn, các kiểu câu đặc biệt được các nhàvăn vận dụng một cách đa dạng, phóng khoáng mang nhiều giá trị biểuđạt Song tìm hiểu về dạng thức cấu tạo của câu đặc biệt cũng nhưchức năng của nó trong truyện ngắn Việt Nam nói chung, truyện ngắnViệt Nam sau 1975 nói riêng vẫn chưa được quan tâm thích đáng Vìthế câu đặc biệt cần phải được quan tâm nghiên cứu nhiều
1.4 Về mặt thực tiễn, hiện nay trong nhà trường phổ thông, ngay
từ chương trình Ngữ văn T.H.C.S học sinh đã được tiếp cận với các
Trang 3khái niệm như từ, cụm từ, câu, câu đặc biệt Tuy nhiên trên thực tế,nhiều học sinh còn mơ hồ và lúng túng trong việc xác định câu đặcbiệt, còn nhầm lẫn giữa câu đặc biệt với các kiểu câu khác như câutỉnh lược, câu rút gọn Bởi vậy, nghiên cứu câu đặc biệt trong truyệnngắn sẽ góp phần tích cực vào việc giảng dạy và học tập môn Ngữ văn
ở trường phổ thông, giúp các em xác định đúng kiểu câu đặc biệt cũngnhư ý nghĩa và chức năng của nó trong sự hành chức
Với tất cả những lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Khảo sát câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (qua
một số truyện ngắn tiêu biểu)” để nghiên cứu.
2 Lịch sử vấn đề
Câu đặc biệt là hiện tượng sử dụng ngôn ngữ nói chung, ngữpháp nói riêng trong thực tiễn giao tiếp, vượt qua giới hạn của nhữngcâu chuẩn mực thông thường Trong nghiên cứu ngôn ngữ học, nhữngbài viết, công trình nghiên cứu về câu đặc biệt ở nhiều mức độ khácnhau, với nhiều tên gọi khác nhau như: Câu đơn bộ cú, câu đơn phần,câu tồn tại, câu một từ,
a Hướng ý kiến gọi câu đặc biệt là câu đơn bộ cú
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các tác giả của “Giáotrình Việt ngữ” Hoàng Tuệ quan niệm câu tiếng Việt có kết cấu nềntảng là chủ ngữ và vị ngữ, tuy vậy, một số kết cấu câu không có chủ
ngữ cũng có thể là câu, gọi là câu đơn bộ cú Ví dụ: Đi đi! Mưa Nóng quá [41; tr 324].
Trang 4b Hướng ý kiến gọi câu đặc biệt là câu một từ
Năm 1979, Nguyễn Lân đã khẳng định: “có thể có những câu chỉ
có một từ, nhưng từ ấy phải là một vị ngữ Ví dụ khi ta bảo một em bé
đương trèo lên cây: Xuống, hoặc khi ta bảo một em bé đương khóc:
Nín…”, còn những trường hợp khác thì “chỉ hoặc là những trạng từ,
hoặc thán từ, hoặc là những hô ngữ, hoặc nữa là cách viết đặc biệt của một số nhà văn vì một ngụ ý riêng không muốn theo quy tắc ngữ pháp…, không thể coi những từ hoặc nhóm từ ấy là câu, vì nếu tách chúng ra khỏi đoạn văn thì chúng không thể biểu thị được ý của người viết hay nói” [23; tr 46] Với nhận định này, tác giả đã thừa nhận có
những câu chỉ có một từ nhưng từ đó phải là vị ngữ của câu
Cũng dựa vào kết cấu chủ - vị, Hoàng Trọng Phiến đã nhìn nhậnvấn đề một cách linh hoạt và uyển chuyển hơn Tác giả cho rằng:
“Câu đơn ngoài kết cấu chủ - vị là hạt nhân, còn được xây dựng bằng những đơn vị khác, bằng các kết cấu khác Đó là câu đơn một tiếng:
Mưa, câu đơn một từ đa tiết: Hải đảo, câu đơn một đoản ngữ: Một
buổi sáng mùa xuân, câu đơn một kết cấu cố định: Ý chí kiên cường
và phẩm chất cao cả, hoặc quán ngữ: Có trời mà biết” [31; tr
Trang 5một từ có thể do một danh từ, một động từ đơn tiết hoặc đa tiết đảm nhận Nhưng danh từ, động từ này không ở trong chức năng chủ ngữ hay vị ngữ của câu Loại câu này có khi đứng một mình, có khi đứng đầu một câu khác” [31; tr 222]
Ví dụ:
- Ối chà! Khổ thật!
- Oàng! Oàng! Tiếng đại bác vang rền
Dựa vào kết cấu chủ vị, Diệp Quang Ban (1992), chia câu làmhai loại: câu hai thành phần và câu đặc biệt.Tác giả cho rằng “ câu đơnđặc biệt là kiến trúc có một trung tâm cú pháp chính ( có thể thêm mộttrung tâm cú pháp phụ) không chứa hoặc không hàm ẩn một trung tâm
cú pháp thứ hai, có quan hệ với nó như là quan hệ giữa chủ ngữ với vịngữ” “ Câu đặc biệt khác câu hai thành phần ở chỗ: nó là một kiếntrúc kín tự thân chứa một trung tâm cú pháp chính… không cần vàkhông thể xác định đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ”
c Hướng ý kiến gọi câu đặc biệt là câu đơn phần
Đi theo hướng nghiên cứu này có các tác giả như Nguyễn ThiệnGiáp, Phan Mậu Cảnh Trong “Cơ sở ngôn ngữ học” Nguyễn Thiện
Giáp cho rằng “Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc câu, người ta thường phân biệt câu đơn phần (câu đặc biệt) với câu song phần, câu đơn và câu phức” Ông còn nói rõ hơn: “Câu chỉ có một thành tố chính là câu đơn phần” [14; tr 206] Còn Phan Mậu Cảnh chia: “Câu được chia thành hai loại: câu song phần và câu đơn phần” [8; tr 8].
Trang 6d Hướng ý kiến gọi là câu đặc biệt
Khái niệm câu đặc biệt được dùng trong các công trình nghiên
cứu của Đái Xuân Ninh (2008) trong “Câu chuẩn mực tiếng Việt”, Đinh Trọng Lạc (1995) trong “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, Nguyễn Thị Lương (2009) có “Câu tiếng Việt”, Nguyễn Thị Thìn (2003) viết trong “Câu tiếng Việt và nội dung dạy học câu ở trường phổ thông” hay Đỗ Thị Kim Liên (1999) trong “Ngữ pháp tiếng Việt” Tuyệt đại bộ phận các nhà nghiên cứu về ngữ pháp tiếng
Việt đều thừa nhận tên gọi câu đặc biệt Tuy nhiên, cách xử lý của họkhông phải hoàn toàn giống nhau
Một số tác giả xem câu đặc biệt là một kiểu độc lập, riêng biệt,không có liên hệ với kiểu câu bình thường (tức là câu có hai thànhphần chủ ngữ và vị ngữ) về mặt cấu trúc Tiêu biểu cho hướng nghiêncứu này là Đái Xuân Ninh Ông căn cứ vào định nghĩa và thực tiễn nóinăng chia câu ra làm hai loại: câu bình thường và câu đặc biệt Ông
nói rõ: “Câu đặc biệt là câu chỉ có nòng cốt thông báo gắn liền với một hoàn cảnh phát ngôn nhất định Nói “đặc biệt” tức là nói đến hoàn cảnh đặc biệt (nghi vấn, trả lời, mệnh lệnh, cảm thán) mà câu
“bình thường” ngoài mọi hoàn cảnh loại trừ, chứ không phải nói đến
sự đối lập về mặt cấu trúc”, [30; tr 122]
Cao Xuân Hạo cho rằng: câu đặc biệt là “những phát ngôn khôngthể phân tích như sự thể hiện ngôn ngữ học của mệnh đề, nghĩa là như
Trang 7một nhận định về một sự tình hay một hình thức phái sinh của mộtnhận định như thế Ví dụ: Ê! Này!; Tạp chí Văn học [8; tr.15]
Ngoài ra, có những tác giả cũng đồng quan điểm với Đái XuânNinh như Lê Xuân Thại khi phát biểu quan điểm cụm từ trong việcnghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, Hồ Lê khi bàn vấn đề phân loại câu…cũng đều cô lập câu đặc biệt với câu bình thường, xem câu bìnhthường và câu đặc biệt tách rời nhau, không có liên hệ với nhau về mặtcấu trúc
Một số nhà nghiên cứu khác thì lại xem câu đặc biệt, về mặt cấutrúc, có liên hệ mật thiết với câu bình thường Có nghĩa các tác giả nàyphân biệt, nhận diện câu đặc biệt trên phương diện cấu trúc cú pháp
Họ coi câu đặc biệt là một tiểu thể loại của câu đơn Có thể kể ranhững tác giả theo hướng nghiên cứu này như Diệp Quang Ban, ĐinhTrọng Lạc, Nguyễn Thị Lương, Đỗ Thị Kim Liên…
Như vậy, vấn đề câu đặc biệt vẫn đang là một vấn đề còn nhiều
bàn luận Đúng như Hồng Dân đã viết trong bài “Trở lại vấn đề “câu
đặc biệt” trong tiếng Việt”:
Thừa nhận sự tồn tại khách quan của câu đặc biệt trong tiếng Việt, đó là một thái độ “thực sực cầu thị” Nhưng bản chất về mặt cấu trúc của câu đặc biệt là gì, thì đó là vấn đề không đơn giản Không thể giản đơn coi tất cả mọi câu đặc biệt
là câu chỉ có vị ngữ hay thuyết ngữ, càng không thể giản đơn cho câu đặc biệt là câu không xác định được thành phần, là
Trang 8câu có cấu trúc riêng biệt, cô lập, không có liên hệ gì với câu bình thường Loại câu này, sở dĩ được gọi là câu đặc biệt là vì được xem xét trong mối liên hệ với câu bình thường, nó là kết quả của sự vận dụng cấu trúc bình thường (…) Vấn đề câu đặc biệt tuy không phải là một vấn đề lớn, nhưng nó lại là một trong những vấn đề có giá trị thử nghiệm đối với các quan niệm về cú pháp học Trở lại vấn đề đó thực chất là gợi lên một
sự thảo luận trong quan niệm tổng thể về câu, khi nghiên cứu
về ngữ pháp tiếng Việt [ 10 ]
Từ việc điểm qua các xu hướng nghiên cứu ngữ pháp câu khi đềcập đến loại câu đặc biệt từ trước đến nay, chúng tôi nhận thấy rằng,câu đặc biệt là một hiện tượng ngôn ngữ đáng chú ý Mặc dù quanđiểm nhìn nhận có những chỗ khác nhau và các ý kiến, quan niệm mớichỉ dừng lại ở những nét phác thảo gợi ý ban đầu nhưng điều quantrọng là, những tiền đề lí thuyết mà họ đưa ra có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với ngôn ngữ học và ngữ pháp học
Nhìn một cách tổng quát, phần lớn các ý kiến, các bài báo, bàiviết, công trình nghiên cứu khoa học mới chỉ dừng lại xem xét câu đặcbiệt ở phương diện lí luận chứ chưa chú ý nhiều đến phương diện hànhchức của nó trong các thể loại văn bản như văn bản nghệ thuật
Luận văn này tiếp thu tất cả các ý kiến đánh giá của giới nghiêncứu, phê bình, xem đây là những nguồn tư liệu quý báu định hướngcho đề tài Với việc nghiên cứu cách sử dụng câu đặc biệt trong sáng
Trang 9tác truyện ngắn qua việc khảo sát “Câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975”, chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu để thấy rõ
hơn các đặc điểm cũng như giá trị của câu đặc biệt khi được “hiện thựchóa” trong tác phẩm văn học Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần minhchứng cho tính đa dạng cũng như giá trị biểu đạt của các kiểu câu tiếngViệt trong tác phẩm văn học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là miêu tả, phân tích đặc điểm của câuđặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trên các mặt: cấu tạo, vịtrí, hướng liên kết, chức năng từ đó giúp bạn đọc hiểu một cách sâusắc hơn về giá trị của câu đặc biệt trong truyện ngắn
Để thực hiện mục đích này, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Thống kê, phân loại câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Namsau 1975
- Chỉ ra các đặc điểm của câu đặc biệt trong truyện ngắn ViệtNam sau 1975
- Chỉ ra chức năng của câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Namsau 1975
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là câu đặc biệt trong truyệnngắn Việt Nam sau 1975
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát, nghiêncứu câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của các tác giảtiêu biểu sau: Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị ThuHuệ, Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Tư
Đây là những tác giả đã có những cách tân táo bạo trong việc sửdụng ngôn ngữ truyện ngắn Họ là thế hệ những nhà văn đã tiếp nốixứng đáng các thế hệ nhà văn lớp trước, đã được vinh danh trong cácgiải thưởng văn học nghệ thuật trong nước cũng như khu vực và đãđược tuyển chọn vào dạy trong chương trình phổ thông
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sửdụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Đây là phương pháp chủ yếu được áp dụng để tiến hành thống kêcác câu đặc biệt trong truyện ngắn và phân loại chúng
Trang 11giữa các kiểu câu đặc biệt với nhau, giữa các câu đặc biệt trong cáctác giả khác nhau, từ đó rút ra những nhận xét về cách sử dụng câuđặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
6 Dự kiến đóng góp của đề tài
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ
về “Câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975”, chỉ ra những
đặc điểm nổi bật nhất về mặt cấu tạo, cách tổ chức câu văn đặc biệtcũng như giá trị, chức năng do cấu trúc nó truyền tải Qua đó chứngminh được nét đặc sắc, sức sáng tạo của thế hệ các nhà văn trẻ vớinhững đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của nền văn xuôiViệt Nam sau năm 1975 trên phương diện ngôn ngữ
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung của luận văn gồm 3chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung của đề tài
Chương 2: Đặc điểm của câu đặc biệt trong truyện ngắn ViệtNam sau 1975
Chương 3 Chức năng của câu đặc biệt trong truyện ngắn ViệtNam sau 1975
Trang 12NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Câu tiếng Việt
1.1.1 Quan niệm về câu
Trong lịch sử ngôn ngữ học, so với các đơn vị ngôn ngữ khácnhư: âm vị, hình vị, từ, cụm từ, thì câu là đơn vị được nghiên cứu sớmnhất Tuy nhiên, cho đến nay dù đã có rất nhiều định nghĩa về câuđược đưa ra nhưng vẫn chưa có sự thống nhất
Ngay từ thế kỷ III - II TCN, Alêchxandria đã nêu định nghĩa như
sau: “Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn”.
[dẫn theo 26; tr 8] Đây là khái niệm thể hiện về mặt chức năng và ýnghĩa của câu Mặt khác, định nghĩa này có tính chất đơn giản, dễ hiểu
và khá hoàn chỉnh Chính vì điều đó mà cho đến ngày nay định nghĩanày vẫn được sử dụng một cách khá phổ biến
Ở Việt Nam, thời kỳ đầu của ngữ pháp tiếng Việt, những vấn đề
về “văn phạm Việt Nam” nói chung và câu nói riêng mới được nghiêncứu ở mức “sơ khai”, phần lớn mô phỏng sách ngữ pháp của tiếngPháp do đó vấn đề định nghĩa về câu thực sự chưa có gì thay đổi Tác
giả Trần Trọng Kim viết: “Câu lập thành do một mệnh đề có ý nghĩa lọn hẳn hoặc hai hay nhiều mệnh đề” [dẫn theo 26; tr 15] Còn Nguyễn Lân thì cho rằng: “Nhiều từ hợp lại mà biểu thị một ý dứt
Trang 13khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự vật thì gọi là một câu” [23; tr 19]
Những năm gần đây, khi nghiên cứu về câu các nhà ngữ pháphọc Việt Nam đã nhìn nhận với xu hướng mới đó là đồng thời dựa vào
cả hai bình diện cấu trúc và ý nghĩa của câu Tiêu biểu là định nghĩa về
câu của Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (2007): “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [5; tr 107].
Như vậy, theo quan điểm của Diệp Quang Ban, câu được nhậndiện đầy đủ cả về tiêu chí hình thức lẫn nội dung ý nghĩa
Trong: “Câu chuẩn mực tiếng Việt”, Đái Xuân Ninh (2008) đã
đưa ra định nghĩa về câu như sau: “Câu là một cụm từ (có một hay trên một yếu tố) kết hợp chặt chẽ với nhau lập thành một nòng cốt thông báo duy nhất hay nhiều nòng cốt thông báo đẳng lập đã diễn đạt một điều gì mới trong một hoàn cảnh nhất định” [30; tr 120].
Với quan niệm trên, tác giả quan tâm nhiều đến chức năng thôngbáo của câu Ngoài ra, tác giả còn chú ý đến hoàn cảnh mà câu xuấthiện
Trang 14Còn tác giả Hoàng Trọng Phiến cũng đưa ra định nghĩa về câu
tương tự nhưng cụ thể hơn: “Với tư cách là đơn vị bậc cao của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là một ngữ tuyến được hoàn thành về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo quy tắc của một ngôn ngữ nhất định, là phương diện để biểu đạt tư tưởng, thái độ của người nói với hiện thực” [31; tr 27].
Theo Hoàng Trọng Phiến, câu phải đảm bảo cả về mặt ngữ pháplẫn ngữ nghĩa Dấu hiệu để nhận biết câu đó là ngữ điệu khi sử dụng
Và trong “Nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ”, tác giả Đỗ Việt Hùng
(2011) có nêu: “Câu là đơn vị ngôn ngữ do các từ ngữ kết hợp với nhau theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, biểu thị một nội dung tương đối trọn vẹn, có chức năng thực hiện một hành động ngôn ngữ”
[19; tr 27]
Từ những định nghĩa trên ta thấy: các nhà ngôn ngữ học đã chú ýđến cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng khi nghiên cứu
về câu Hướng nghiên cứu này đã trở nên phổ biến, chúng ta có thể kể
ra đây những quan niệm về câu theo hướng này như:
Đỗ Thị Kim Liên định nghĩa: “Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc” [24; tr 107].
Nguyễn Thị Lương trong “câu tiếng Việt” cũng định nghĩa: “Câu
là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để biểu thị sự tình, được tạo
Trang 15nên từ các đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực biện một hành động nói” [26; tr 17]
Như vậy, các định nghĩa về câu trên đây đã đáp ứng nhu cầu đầy
đủ cả hai mặt nội dung và hình thức cấu tạo nên câu Các quan niệm,định nghĩa về câu của các tác giả là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu mộtdạng bất thường của câu xét về mặt ngữ pháp, đó là câu đặc biệt
1.1.2 Đặc điểm của câu
Mỗi đơn vị ngôn ngữ đều mang trong mình những đặc điểmriêng, với tư cách là đơn vị cấu trúc lớn nhất trong tổ chức ngữ phápcủa một ngôn ngữ, câu có những đặc điểm cơ bản sau:
1.1.2.1 Về phương diện hình thức
- Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập: Câu là một đơn vị ngôn ngữkhông có sẵn Muốn có được nó người sử dụng phải kết hợp từ cácđơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn như từ, cụm từ với nhau theo những quy tắcnhất định của ngôn ngữ Câu là sản phẩm được tạo ra mỗi khi conngười dùng ngôn ngữ để giao tiếp Do đó số lượng câu là vô hạn
Cấu tạo ngữ pháp cơ bản của câu bình thường đó là cấu trúc C –
V Ngoài ra câu còn có những cấu trúc đặc biệt, đó là những câu chỉ cómột thành phần
- Câu có ngữ điệu kết thúc: Là sản phẩm được tạo ra trong hoạtđộng giao tiếp nên câu luôn luôn có một ngữ điệu nhất định Ngữ điệu
là những đặc điểm của giọng nói như lên cao hay xuống thấp, nhanh
Trang 16hay chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng,… Ngữ điệu giúpcho người nghe có thể phân biệt được đó là loại câu gì (tường thuật,hỏi, nghi vấn hay cảm thán), thậm chí có thể cảm nhận được tâm trạngcủa người nói
Ví dụ:
- Nó đã đến Ngữ điệu bình thường câu tường thuật.
- Nó đã đến? Ngữ điệu lên cao câu hỏi.
- Nó đã đến! Ngữ điệu đi xuống câu cảm thán
Trong tiếng Việt, người nói thường sử dụng các tiểu từ tình tháicuối câu như: à, ư, nhỉ, nhé, hả, a, với, chứ,… Khi viết, câu được nhậndiện nhờ vào hình thức: chữ cái đầu của âm tiết đầu câu được viết hoa,cuối câu sử dụng các dấu tương ứng như dấu chấm (.), dấu chấm hỏi(?), dấu chấm than (!) Ví dụ:
Má già trong túp lều tranh Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô
Một mình má, một nồi to Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười…
Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt?
Má già run, trán toát mồ hôi Chạy đâu! Thôi hết, chết rồi!
Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành.
(Tố Hữu - Bà má Hậu
Giang)
Trang 171.1.2.2 Về phương diện nghĩa
Câu được tách ra làm hai thành tố nghĩa cơ bản là: nghĩa miêu tả
và nghĩa tình thái
Nghĩa miêu tả “là thành tố nghĩa phản ánh vật, việc, hiện tượng được nói đến trong câu Sự phản ánh này không phải theo kiểu hình chiếu qua gương soi mà phản ánh qua nhận thức của con người” [3;
- Ngày mai, các em được nghỉ học Hành vi thông báo.
- Trời sáng rồi, tắt điện đi Hành vi nhận xét / yêu cầu.
- Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe, anh đừng hút nữa Hành
vi đánh giá/ khuyên nhủ
Trang 18Qua các ví dụ trên ta thấy: thực hiện hành động nói là chức năng
cơ bản của câu Chức năng này không có được ở các đơn vị bậc dướinhư hình vị, từ, cụm từ Song, muốn xác định đúng hành động nói củacâu cần đặt câu vào trong ngữ cảnh nhất định
Như vậy, để nhận biết câu trong một bài viết, chúng ta sẽ thấy là
nó bắt đầu bằng một chữ cái viết hoa, và kết thúc bằng một dấu chấmcâu, có thể là chấm, là chấm hỏi, chấm than v.v… Về mặt âm thanh,câu nằm giữa hai khoảng im lặng tương đối dài Về mặt nghĩa, câu baogiờ cũng diễn đạt một ý trọn vẹn
1.1.3 Phân loại câu
Câu là đơn vị có nhiều mặt nên việc phân loại câu trong ngônngữ học hiện nay khá phức tạp, dựa vào những tiêu chuẩn khác nhau
Đi theo hướng nghiên cứu ngữ pháp của câu, các nhà ngữ pháp họcthường phân loại câu dựa trên hai phương diện sau:
- Phân loại câu dựa vào cấu tạo ngữ pháp
- Phân loại câu dựa vào mục đích sử dụng
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ bàn đến việc phân loại câu vềmặt cấu tạo ngữ pháp Nghĩa là sự phân loại dựa vào cấu trúc ngữpháp, các mô hình để làm tiền đề cho việc nghiên cứu các kiểu câu đặcbiệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Tuy nhiên, cách phân loạicâu dựa vào cấu trúc ngữ pháp cũng chưa có sự thống nhất
Đái Xuân Ninh (2008) chia câu ra làm hai loại: Câu bình thường
và câu đặc biệt Theo ông, câu bình thường là câu “ngoài mọi hoàn
Trang 19cảnh”, còn câu đặc biệt là câu: “chỉ có nòng cốt thông báo gắn liền với một hoàn cảnh phát ngôn nhất định” [30; tr 120]
Diệp Quang Ban cho rằng : “Cấu tạo ngữ pháp của câu được xem xét trên cơ sở câu đơn hai thành phần Trên cơ sở đó, câu được phân loại thành câu đơn, câu ghép và câu phức” [3; tr 89] Tiếp đó,
tác giả phân loại bước thứ hai chia câu đơn thành câu đơn bình thường
và câu đơn đặc biệt
Nguyễn Thiện Giáp (2008), Phan Mậu Cảnh (2006) dùng tên gọicâu đơn phần và câu song phần để phân loại câu: “Câu được chiathành hai loại: câu song phần và câu đơn phần” [8; tr 8]
Tác giả Nguyễn Thị Thìn (2003) cũng chia câu thành hai loạinhưng không phải chia thành câu bình thường với câu đặc biệt hay câuđơn phần với câu song phần mà “căn cứ vào nòng cốt câu có thể phânchia thành hai loại câu: câu đơn, câu ghép” [35; tr 111]
Rõ ràng việc phân loại câu cũng đang tồn tại nhiều kiểu khácnhau Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất chia câu thành hai loại:câu bình thường và câu đặc biệt
1.1.4 Các thành phần câu
Thành phần câu là chức vụ cú pháp của các yếu tố ngôn ngữ làmthành cấu trúc cú pháp của câu Vấn đề phân định thành phần câu làmột vấn đề phức tạp Mặc dù có lịch sử phát triển từ lâu đời nhưng chođến nay việc xác định thành phần câu vẫn chưa có sự thống nhất
Trang 20Các tác giả “Giáo trình Việt ngữ” phân chia thành hai thànhphần: thành phần chính và thành phần thứ Trong đó: thành phần chínhgồm chủ ngữ và vị ngữ, thành phần thứ gồm bổ ngữ và định ngữ Cácloại bổ ngữ lại có thể chia ra thành các phạm trù nhỏ hơn
Đồng tình với cách chia câu tiếng Việt thành hai thành phần còn
có các tác giả Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Hiệp Nhưng các tác giảnày không gọi là thành phần thứ mà gọi là thành phần chính và thànhphần phụ
Tồn tại một quan điểm phân chia thứ ba đó là của các tác giả:Lưu Vân Lăng, Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Trọng Phiến, Bùi MinhToán, Diệp Quang Ban,… phân chia câu thành ba thành phần: thànhphần chính, thành phần phụ và thành phần biệt lập Nhưng khi đi sâuvào từng thành phần thì các tác giả lại đưa ra những tên gọi khác nhau.Tuy vậy, tất cả các ý kiến trên đều thống nhất về thành phần chính củacâu gồm chủ ngữ và vị ngữ (hay vị tố)
Gần đây, tác giả Cao Xuân Hạo nghiên cứu dưới lí thuyết củangữ pháp chức năng đã chia thành hai bộ phận chính là Đề - Thuyết
Để đi đến một sự thống nhất trong cách hiểu, ở luận văn này,chúng tôi lựa chọn cách phân chia thành phần câu của tác giả DiệpQuang Ban Ngoài các thành phần chính và phụ làm thành cấu trúc cúpháp của câu (cấu trúc cơ sở) thì “trong câu – phát ngôn hiện thực cònchứa những bộ phận khác nữa như phần tình thái, phần cảm thán, phầngọi – đáp, phần phụ chú, phần nối kết” [2; tr 89] Các thành phần này
Trang 21được gọi là phần biệt lập (hay biệt tố) và nó là thành phần nằm ngoàicấu trúc cú pháp của câu Tuy nhiên, nó vẫn có quan hệ nghĩa vớinghĩa của toàn bộ câu.
Có thể hình dung các thành phần câu theo mô hình 1.1:
Mô hình 1.1: Khung câu
1.2 Khái quát ba bình diện của câu
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu quan trọng nhất trong các hệthống tín hiệu mà con người sử dụng Xu hướng hiện nay, các nhà
Trang 22ngôn ngữ học không chỉ nghiên cứu ngôn ngữ ở mặt hình thức mà cònchú ý đến cả mặt chức năng Với ngữ pháp chức năng, các hiện tượngngôn ngữ đã được xem xét trên cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa
và ngữ dụng
Sự phân biệt ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng củacâu là rất cần thiết để giúp ta hình dung được rõ ràng hơn về đối tượngnghiên cứu và đi vào nghiên cứu tỉ mỉ từng mặt, từng bộ phận của đốitượng Tuy nhiên, không phải lúc nào câu cũng được chia tách rạch ròithành ba bình diện mà câu trong hoạt động giao tiếp là một thể thốngnhất của cả ba bình diện trên Cho nên không thể hiểu một cách đầy
đủ, đúng đắn một bình diện nào nếu không đặt nó trong mối quan hệvới những bình diện còn lại Mối quan hệ này là mối quan hệ giữa hìnhthức với nội dung, giữa phương tiện với mục đích
Khi nghiên cứu về vấn đề này tác giả Bùi Minh Toán đã lí giải
như sau: Có những trường hợp cấu trúc cú pháp, cấu trúc nghĩa và cấu trúc thông báo của một câu trùng với nhau Nghĩa là chủ ngữ (ở bình diện ngữ pháp), chủ thể (ở bình diện ngữ nghĩa) và phần đề (ở bình diện ngữ dụng) trùng với nhau, còn vị ngữ, sự kiện (hoạt động) và phần thuyết ở các bình diện tương ứng trùng nhau Nhưng cũng có nhiều trường hợp, các bình diện này của câu không trùng với nhau Rõ rệt nhất là trường hợp cùng một sự kiện trong hiện thực (cùng một nghĩa sự vật) nhưng được phản ánh vào câu theo những cách khác nhau, do đó
Trang 23tạo nên những câu với kết cấu ngữ pháp và kết cấu đề - thuyết khác
nhau [theo 1; tr 23]
Như vậy, theo hướng của Ngữ pháp chức năng, câu được nghiêncứu trên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Việc chỉ rađặc điểm sử dụng và giá trị của câu tiếng Việt trong tác phẩm văn họctrên cả ba bình diện là điều không thể Do đó, trong khuôn khổ của luậnvăn, chúng tôi chỉ quan tâm đến bình diện ngữ pháp và đi sâu vào tìmhiểu về câu đặc biệt
1.3 Câu đặc biệt
1.3.1 Khái niệm
Trên thực thế sử dụng ngôn ngữ không phải lúc nào người tacũng nói những câu đầy đủ, hoàn chỉnh cả chủ ngữ và vị ngữ; trênngôn bản có những câu mà chỉ do một từ, một cụm từ hay một ngữ cốđịnh tạo thành
Ví dụ : - Cháy.
- Mưa.
Những phát ngôn này rõ ràng không phải là câu bình thường bởichúng ta không thể xác định được đâu là thành phần chủ ngữ, đâu là vịngữ Trong sự liên hệ với câu bình thường “Mưa rơi”, ta có thể nhậnthấy “mưa” đảm nhận chức vụ chủ ngữ Nhưng trong sự liên hệ vớicâu bình thường “Trời mưa”, thì “mưa” lại đảm nhận chức vụ vị ngữ
Như vậy, mưa vừa có thể đảm nhận chức vụ vị ngữ lại vừa có thể đảm
nhận chức vụ chủ ngữ trong câu tùy thuộc vào hoàn cảnh sử dụng Do
Trang 24đó, nếu mưa được cấu tạo chỉ đứng một mình thì không thể xác định
được chủ ngữ hay vị ngữ Hiện tượng ngôn ngữ ấy được các nhà ngôn
ngữ học thừa nhận là những câu và thường gọi những câu ấy là câu
đặc biệt.
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về câu đặc biệt.Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng câu đặc biệt là cấu trúckín tự thân, trong nó không cần và cũng không thể xác định đâu là chủngữ, đâu là vị ngữ Câu đặc biệt tồn tại trong hoàn cảnh sử dụng củamình, tự nó đủ cho người ta hiểu nghĩa của nó không cần viện đến yếu
tố nào khác bên ngoài nó
Nguyễn Kim Thản trong “Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt” đã nêu rõ:
Câu đơn đặc biệt là câu có một nòng cốt không thể phân ra làm hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ Nòng cốt này có thể do một cụm từ, một nhóm từ, thậm chí một từ tạo thành” [33; tr 37]
Ví dụ: - Có khách.
- Toàn những sách
Trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” (2001), Diệp Quang Ban
định nghĩa: Câu đơn đặc biệt là câu trong đó không phân biệt được đâu là chủ ngũ, đâu là vị ngữ Câu đơn đặc biệt được làm thành từ một từ hoặc một cụm chính phụ hay cụm từ đẳng lập với tư cách là một trung tâm cú pháp không chứa hay không hàm ẩn một trung tâm
cú pháp thứ hai có quan hệ chủ ngữ - vị ngữ với trung tâm cú pháp nói trên Trong câu đơn đặc biệt có thể có trạng ngữ và đề ngữ [3; tr
Trang 25Các tác giả “ Ngữ pháp tiếng Việt” (UBKHXH) thừa nhận câuđặc biệt và căn cứ vào ý nghĩa của câu, phân chia câu đặc biệt thànhcác loại khác nhau: 1) câu xác định tồn tại của sự vật 2) câu đánh giá
về sự vật 3) Câu xác định thời gian nơi chốn, cảnh tượng sự kiện 4)Câu liệt kê sự vật
Nguyễn Thị Thìn khi viết về “Câu tiếng Việt và nội dung dạy
-học câu ở trường phổ thông” quan niệm: “Câu đơn đặc biệt là câu chỉ
có một nòng cốt câu, nòng cốt câu chỉ có một thành phần chính không phân biệt chủ ngữ - vị ngữ” [34; tr 116]
Với công trình nghiên cứu “Câu tiếng Việt” (2009), Nguyễn Thị
Lương đã đưa ra khái niệm về câu đặc biệt như sau: “Câu đặc biệt là câu không cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ, mà chỉ được tạo thành bởi một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay cụm từ đẳng lập nhưng vẫn là một cấu trúc cú pháp độc lập, có chức năng biểu đạt một hành động ngôn ngữ như những câu bình thường” [26; tr 105]
Ví dụ:
- Đêm Thành phố lên đèn như sao sa.
- Thanh bước xuống giàn thiên lí Có tiếng người đi lại.
Từ quan niệm trên, chúng ta thấy câu đặc biệt chỉ có một trungtâm cú pháp chính Nó là một cấu trúc độc lập do đó không thể khôiphục thành phần cho đầy đủ hơn Cấu trúc nòng cốt đặc biệt này có thể
là một từ hay một cụm từ
Trang 26Trên đây, chúng tôi đã nêu lên một số quan niệm về câu đặc biệt.
Có tác giả gọi là câu đơn đặc biệt, có tác giả lại gọi là câu đặc biệt.Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất gọi là câu đặc biệt và quan
niệm: Câu đặc biệt là câu chỉ có một nòng cốt, không phân biệt đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ Câu đặc biệt được cấu tạo bởi một từ, một cụm từ hay một ngữ cố định.
Như vậy, câu đặc biệt là một kiểu câu riêng, phổ biến trong hoạtđộng giao tiếp Các kiểu câu đặc biệt rất đa dạng, phong phú, liên quanđến hoàn cảnh, điều kiện sử dụng cụ thể Điều nổi bật là trong ý thứccủa người nói, người nghe vẫn có thể nhận ra được các nội dung mộtcách bình thường khi đặt trong hoàn cảnh sử dụng của nó
Tồn tại trong hoàn cảnh sử dụng của mình, câu đặc biệt tự nó đủcho người ta hiểu nghĩa của nó, không cần viện đến những yếu tố nàokhác bên ngoài nó Đặc điểm này làm nên nét khác biệt giữa câu đặcbiệt với câu tỉnh lược hay câu tách biệt
1.3.2 Cấu tạo câu đặc biệt
Nếu như cấu trúc cú pháp nòng cốt của câu đơn bình thườngđược tạo nên bởi hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ thì cấu trúc
cú pháp nòng cốt của câu đơn đặc biệt chỉ có một thành phần chính.Nòng cốt đặc biệt này có thể là một từ, một cụm từ hay một ngữ cốđịnh
1.3.2.1 Nòng cốt đặc biệt là từ
Về cơ bản, nòng cốt đặc biệt là một từ; xét về từ loại có thể là
Trang 27một danh từ, động từ, tính từ Trong một số trường hợp có thể là một
số từ, một tình thái từ
Ví dụ:
- Nó gật đầu, mạnh bạo Rồi đắc chí, nó lắc túi Bà ấy múc cho
nó một bát đầy Nó ăn Phù phù! Nóng! Xuỵt xoạt! Cay! Ngon quá.
(Nguyễn Công Hoan – Thằng ăn cắp)
- Từ chiều lại bắt đầu trở rét.
mênh mông Họ nhìn không chớp mắt Yên lặng rợn người.
(Võ Thị Hảo – Trận gió màu xanh rêu)
- Buổi hầu sáng hôm ấy.
Con mẹ nuôi, tay cầm lá đơn, đứng ở sân công đường Nó hớt
hơ hớt hải qua cổng chòi, rồi sợ sệt, bỡ ngỡ, không biết quan ngồi ởbuồng nào
(Nguyễn Công Hoan – Đồng hào có ma)
Trang 281.3.2.3 Nòng cốt đặc biệt là ngữ cố định:
Ví dụ:
- Bà đoán rằng họ khảnh ăn No dồn đói góp Người đói mãi, vớ
được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp Nhưng người no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu Vậy thì bà cứ ăn đi Ăn đến kỳ no.
(Nam Cao – Một bữa no)
- Lạy trời lạy đất Nó cũng là thằng khá, nó thấy bố nói thế thì
nó thôi ngay, nó không đả động đến việc cưới xin nữa.
(Nam Cao – Lão Hạc)
- À, nhưng Thanh! Tao bảo Một công đôi ba việc.
(Nguyễn Công Hoan – Thanh! Dạ!)
* Câu đặc biệt còn có thể có các thành phần phụ khác đi kèm
như: trạng ngữ, đề ngữ
- Ví dụ câu đặc biệt có thành phần phụ là trạng ngữ:
Không thể liều Hắn liều được, nhưng thị không liều được Thị bây giờ những bốn đứa con thơ Hắn đi rồi, thị không làm gì nuôi
chúng được Ở làng này khổ lắm Không có người đàn ông ở nhà, làm
một miếng chúng nó cũng chẳng để cho mà ăn đâu.
(Nam Cao – Mua danh)
- Ví dụ câu đặc biệt có thành phần phụ là đề ngữ:
Giàu con út Khó con út.
Trang 29(Nguyễn Thị Thu Huệ - Hoa nở trên trời)
Như vậy, câu đặc biệt được cấu tạo bởi một từ, một từ hay mộtngữ cố định Ngoài ra, nó còn có thể có thành phần phụ như trạng ngữ,
đề ngữ
1.3.3 Phân loại câu đặc biệt
Căn cứ vào bản tính từ loại của từ - thành tố chính, câu đặc biệtđược phân loại thành câu đặc biệt danh từ và câu đặc biệt vị từ (vị từbao gồm động từ, tính từ)
1.3.3.1 Câu đặc biệt danh từ
Câu đặc biệt danh từ có trung tâm cú pháp chính là danh từ haycụm danh từ (chính phụ hoặc đẳng lập) Ví dụ:
- Mẹ.
Tô ấp úng và vội vàng nhổm dậy Mẹ tôi đứng sát đầu giường, nhìn tôi bằng đôi mắt loang loáng ướt, miệng cười âu yếm phô ra những chiếc răng đen bóng.
(Nam Cao - Truyện tình)
- Chị ôm chặt thằng bé vào sát ngực Hình ảnh Kiện tươi cười
hiện ra Ngày thắng lợi! Ngày độc lập! Chị như trông thấy thằng bé
lon ton chạy ra đón bố! Và Kiện reo lên: “A ha! Con đã lớn thế này rồi kia?”.
(Nam Cao – Đợi chờ)
- Tạp chí Chơi Chị nhà văn cung kính mời đến một nhà thơ lão
Trang 30luyện trong làng báo.
(Hồ Anh Thái - Báo) 1.3.3.2 Câu đặc biệt vị từ
Câu đặc biệt vị từ có trung tâm cú pháp chính là động từ, tính từhay cụm động từ, cụm tính từ (chính phụ hoặc đẳng lập)
Ví dụ về câu đặc biệt có trung tâm cú pháp chính là động từ, cụmđộng từ:
- Mất.
Vâng, em đen quá Em bỏ vào túi cái áo có cánh chỉ cởi ra treotrên bếp một lát để vào nhà tắm xong lại mặc ngay, thế mà lúc nãy sờđến tiền thì đã mất
(Nam Cao – Nhỏ nhen)
- Người đã chết được khai quật, mở ván, mông má, được soi
chiếu, giám định, xác định niên đại Lật sấp lật ngửa Dựng lên hạ
xuống Tua đi tua lại Quay nhanh quay chậm Cắt lát chồng hình
(Hồ Anh Thái - Phòng khách)
- Cái chết của bà sẽ là một cái chết cheo leo Ai sẽ đọc cho bà dăm ba kinh để cầu nguyện cho linh hồn bà phải giam nơi huyện
ngục? Buồn thay cho đời tàn!
(Nam Cao – Nửa đêm)
Ví dụ về câu đặc biệt có trung tâm cú pháp chính là tính từ, cụm
Trang 31tính từ:
- Các vị thấy thơ của em nào cũng giống em nào Mặt em nào cũng cô đồng như em nào Chỉ tiêu mỗi vị được bỏ phiếu cho năm em.
Rối Lẫn Nhầm Trong cuộc hỗn chiến ở cõi hỗn mang, các vị bỏ
phiếu Thế quái nào em dịch giả chỉ được có hai phiếu trên mười.
(Hồ Anh Thái - Lọt sàng xuống nia)
- Chị tập kích vào người cha để ông phải hứa sẽ đưa tay cứu vớt
gã nhân tình sẽ cưới chị Sau trận không tập, chị lao vút trở lại Paris Cặp tình nhân chờ đợi mỏi mòn để cuối cùng nhận được quyết định của ông bố Ông sẽ không cứu bất cứ kẻ nào dính líu vào vụ này.
a Trung gian giữa câu đặc biệt có ý nghĩa tồn tại với câu đảo vị ngữ
Trang 32Câu đặc biệt có ý nghĩa tồn tại là câu dùng để thông báo về sựxuất hiện, tồn tại hoặc tiêu biến của sự vật, nó luôn luôn chứa vị từ tồntại Còn câu đảo vị ngữ là câu “nghịch”: vị ngữ đứng trước, chủ ngữđứng sau Câu đảo vị ngữ thường xuất hiện do mục đích tu từ khi cầnnhấn mạnh, biểu cảm Do đó, hai câu này dễ gây nhầm lẫn với nhau.
So sánh các ví dụ sau:
(1) - Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng / mái đình, mái
chùa cổ kính (Thép Mới) VTTTBN
(2) - Dưới gốc tre, tua tủa / những mầm măng (Ngô Văn Phú)
Trang 33biểu cảm Do đó, theo chúng tôi (1), (2) là những câu đặc biệt còn (3),(4), (5) là câu đảo vị ngữ.
b Trung gian giữa câu đặc biệt với câu tỉnh lược
Câu đặc biệt là câu không phân định thành phần chủ ngữ hay vịngữ; trong khi đó câu tỉnh lược là câu có những thành phần lâm thời bịlược bớt đi trong ngữ cảnh (nói và viết), khi cần chúng ta vẫn có thểxác định được thành câu và khôi phục lại thành phần bị lược bớt đó.Diệp Quang Ban quan niệm câu tỉnh lược không thuộc loại câu đặcbiệt mà là “ những biến thể dưới bậc của câu, gọi tắt là câu dưới bậc”
Về cấu trúc: câu tỉnh lược là câu không đủ thành phần Trên lýthuyết, người ta có thể tỉnh lược bất cứ thành phần nào, kể cả chủ ngữ,
vị ngữ
Về chức năng thông báo: câu đặc biệt tự nó có chức năng thôngbáo hoàn chỉnh mà không cần và không thể thêm vào nó những thànhphần khác
Câu không đủ thành phần (câu tỉnh lược) chỉ trở thành đơn vịthông báo trọn vẹn khi dựa vào ngữ cảnh để khôi phục lại đầy đủthành phần chính
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh sử dụng đôi khi không cần khôi phụcthành phần bị lược bỏ mà người đọc, người nghe vẫn hiểu Vì thế, gây
ra sự nhầm lẫn giữa câu đặc biệt với câu tỉnh lược Xét các ví dụ sau:
(1) - Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê
không sao cự lại được với thế nước! Ø Lo thay! Ø Nguy thay! Khúc
Trang 34đê này hỏng mất.
(Phạm Duy Tốn - Sống chết mặc bay)
(2) - Ø Đứng lại! – Đông quát Quát ba tiếng liền Thằng giặc
quay lại nhìn ba lần mà vẫn chạy.
(Lê Minh Khuê – Bầu trời trong xanh) (3) Kía quay phắt lại lay chồng:
(Đỗ Bích Thúy – Gió không ngừng thổi)
Ở những ví dụ trên các câu đều thiếu thành phần chủ ngữ, ta cóthể thêm biểu thức ngôn từ vào làm chủ ngữ cho câu hoàn chỉnh Tuynhiên, trong hoàn cảnh sử dụng, điều đó là không cần thiết bởi ngườiđọc, người nghe vẫn có thể hiểu được nội dung của người nói (ngườiviết) Các ví dụ (1), (2), là những câu cảm thán, câu mệnh lệnh (khẩulệnh); nếu thêm chủ ngữ vào nó sẽ làm giảm đi tính chất và mức độcảm thán, mất đi tính dứt khoát, mạnh mẽ, trang nghiêm của lời cầukhiến Còn ở ví dụ (3), người đọc chỉ có thể hiểu được nội dung, ý
Trang 35nghĩa của lời nói nhân vật khi chúng ta đặt nó trong ngữ cảnh cụ thể.
Do đó, theo chúng tôi (1), (2), là những câu đặc biệt, còn (3) là câutỉnh lược
Tóm lại, câu đặc biệt là câu chỉ có một nòng cốt, không phânbiệt đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ Câu đặc biệt được cấu tạo bởi một
từ một cụm từ hay một ngữ cố định Câu đặc biệt được chia ra làm hailoại: câu đặc biệt danh từ, câu đặc biệt vị từ Ngoài ra, trong quá trình
sử dụng vẫn tồn tại hiện tượng trung gian giữa câu đặc biệt với một sốkiếu câu khác
Về vấn đề câu đặc biệt: chúng tôi đã trình bày một cách khái quátkhái niệm, cấu tạo, phân loại câu đặc biệt Ngoài ra, chúng tôi còn chỉ
ra những hiện tượng trung gian giữa câu đặc biệt với một số kiểu câukhác Những cơ sở lý thuyết và thực tiễn trên sẽ là những tiền đề quantrọng giúp chúng tôi phân tích, so sánh, đối chiếu với kiểu câu đặc biệttrong truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Trên đây là những nội dung mang tính lý thuyết tạo tiền đề lý
Trang 36luận để chúng tôi áp dụng vào thực hiện phân loại và chỉ ra các đặcđiểm, chức năng của câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau
1975 ở những chương tiếp theo
Trang 37Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂU ĐẶC BIỆT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975
2.1 Đặc điểm cấu tạo của câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Câu đặc biệt là một cấu trúc kín tự thân, trong nó không cần vàkhông thể xác định được đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ Nó được cấutạo là một trung tâm cú pháp chính không hàm ẩn một trung tâm cúpháp thứ hai có quan hệ chủ vị với trung tâm cú pháp nói trên Xét vềcấu tạo, câu đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 được cấutạo bằng một từ, một cụm từ hay một ngữ cố định
2.1.1 Câu đặc biệt cấu tạo là một từ
Do sự chi phối của thể loại cho nên câu văn trong truyện ngắn
Việt Nam sau 1975 được cấu tạo rất ngắn, thậm chí là một từ Hìnhthức câu đặc biệt được cấu tạo bởi một từ là khá phổ biến và quenthuộc Theo khảo sát của chúng tôi chiếm 325/662 = 49.1 % câu đặcbiệt có hình thức là một từ
Xét về từ loại các thành tố chính cấu tạo nên câu đặc biệt thườnggặp là danh từ, động từ hay tính từ Ngoài ra, trong quá trình sáng tác,các nhà văn đã sử dụng những thành tố này một cách linh hoạt hơn Nó
có thể là danh từ, động từ, tính từ thậm chí có thể là số từ, tình thái từ,quan hệ từ
Trang 382.1.1.1 Câu đặc biệt có hình thức là một từ thuộc loại danh từ
Câu đặc biệt này có trung tâm cú pháp chính là danh từ Danh từ
là một trong những từ loại cơ bản của tiếng Việt Nó chiếm một số
lượng lớn và có vai trò quan trọng bậc nhất trong cấu trúc ngữ pháptiếng Việt Danh từ cấu tạo nên câu đặc biệt có thể là danh từ riêng, cóthể là danh từ chung
Danh từ riêng là lớp danh từ dùng làm tên gọi cho các sự vật,hiện tượng riêng biệt Danh từ riêng xuất hiện trong các truyện ngắn
sau 1975 chỉ tên gọi nhân vật: Sạ, Cún, Trương Chi, Nàng Sinh, ; hay tên gọi sự vật, hiện tượng: Thổ Cẩm, Thiên văn,
Danh từ chung là lớp danh từ dùng chỉ tên gọi các sự vật, hiệntượng nói chung Trong truyện ngắn sau 1975 lớp danh từ chung là lớpdanh từ phổ biến, xuất hiện ở tất cả các truyện ngắn
- Cuộc đời Thật kinh khủng mà nó không thể hiểu được
Đúng là trò phù thuỷ
[Nguyễn Thị Thu Huệ - Phù thủy]
- Ngày Nó là chợ mua bán.
Đêm Nó là chợ tá lả, chích choác, rượu chè và trai gái.
[Nguyễn Thị Thu Huệ - Của để dành]
- Đàn bà Tôi đã gặp những người ra vẻ chính chuyên cao sang
lắm nhưng thực ra ở họ gợi cho tôi cảm giác nhục dục và chiếm đoạt.
[Nguyễn Thị Thu Huệ - Sơri đắng]
Trang 39- Mưa.
Mưa miên man
[Nguyễn Huy Thiệp – Thương nhớ đồng quê]
Như vậy, câu đặc biệt có hình thức là danh từ là kiểu câu quenthuộc, chiếm một số lượng không nhỏ trong tổng số câu đặc biệt
2.1.1.2 Câu đặc biệt có hình thức là một từ thuộc loại động từ
Là câu đặc biệt có trung tâm cú pháp chính là động từ Động từ
có một số lượng từ khá lớn trong vốn từ vựng Nó có vai trò hoạt độngngữ pháp hết sức quan trọng trong cấu tạo câu tiếng Việt Động từ là từloại có khả năng tạo từ, làm tăng vốn từ, làm phong phú thêm khảnăng diễn đạt của tiếng Việt Khảo sát truyện ngắn sau 1975, chúng tôinhận thấy câu đặc biệt có hình thức là một từ thuộc loại động từ kháphổ biến, câu đặc biệt dạng này thường chỉ hành động, trạng thái của
sự vật
Ví dụ:
(1) - Cặm cụi quanh năm Vào Ra Lên Xuống Vẫn những
trình tự muôn thuở ngày ông là một cậu bé, là một hàng trai, một người đàn ông, và bây giờ là một ông lão, có mỗi một giáo án tự giải,
tự học miệt mài không bao giờ cũ đấy là trồng ghép Đào
[Nguyễn Thị Thu Huệ - Hoa nở trên trời] (2) – Thằng em chui vào gậm giường, lôi những quả ten nít vàng
ra say sưa “Nhiều chưa?” Thằng anh nhìn em Rùng mình
[Nguyễn Thị Thu Huệ - Tân cảng]
Trang 40Ví dụ (1) là những động từ chỉ hành động Các câu đặc biệt liênkết trực tiếp với nhau tạo thành một chuỗi liên tục nhằm nhấn mạnhcác hành động xảy ra liên tiếp của nhân vật Hành động lặp đi lặp lạitrở thành một “trình tự muôn thuở” của ông lão quanh năm chuyên
nghề trồng ghép đào: Vào Ra Lên Xuống.
Ở ví dụ (2) từ loại cấu tạo nên câu đặc biệt là động từ chỉ trạngthái Đó là sự sợ hãi của thằng anh khi nhìn thấy vô vàn những quả tennit mà đứa em của nó lôi ra Bởi những quả ten nit gợi cho nó về mộtthế giới cô độc, thế giới mà những người bạn của nó chỉ là những quảten nit màu vàng
2.1.1.3 Câu đặc biệt có hình thức là một từ thuộc loại tính từ
Tính từ là những từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật làm nêntrung tâm cú pháp chính của câu đặc biệt Tính từ là một từ loại cầnthiết, có tác dụng miêu tả các đơn vị ngôn ngữ và làm phong phú khảnăng diễn đạt của tiếng Việt Trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975câu đặc biệt có hình thức là một từ thuộc loại tính từ được dùng để gọitên tính chất về màu sắc, thuộc tính phẩm chất, mùi vị, hình dáng, kíchthước, … của sự vật
Ví dụ 1: Tôi nhìn mẹ Tóc rũ rượi, mặt nhăn nhúm và già sọm.
Đau khổ Tuyệt vọng Tôi nắm tay bố Bàn tay ấm nóng Đôi mắt bố
vẫn mở, chỉ có điều nó không sáng long lanh mà mờ đục đi Bố chết thật rồi
[Nguyễn Thị Thu Huệ - Còn lại một vầng trăng]