Trên khắp thế giới có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS ở các quốc gia khác nhau như Wallace và cộng sự 1994, v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TP H ồ Chí Minh, năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
ÁP DỤNG CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Chuyên ng ành: KẾ TOÁN
M ã ngành: 8340301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TP H ồ Chí Minh, năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể
Tác giả
VÕ QUỐC PHONG
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MUC BIỂU ĐỒ
DANH MUC VIẾT TẮT
TÓM TẮT
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
1 T ính cấp thiết của đề tài: 1
2 M ục tiêu nghiên cứu: 3
3 Câu h ỏi nghiên cứu: 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
5 Phương pháp nghiên cứu: 4
6 Ý nghĩa của nghiên cứu: 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Nghiên c ứu trong nước 6
1.2 Nghiên c ứu ngoài nước 8
1.3 K ết quả nghiên cứu đã đạt được và những hạn chế: 11
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1 13
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14
2.1 Sơ lược về IFRS: 14
Trang 52.3 Sơ lược công ty đại chúng: 16
2.4 Thuy ết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991) 17
2.5 Thuy ết đại diện (Agency Theory) 18
2.6 Thuy ết dự phòng: 19
2.7 Thuy ết khuếch tán cải tiến (Diffusion of Innovation) 19
2.8 C ác nhân tố ảnh hưởng đến sẵn sàng áp dụng IFRS: 19
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Quy tr ình và phương pháp nghiên cứu 24
3.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu 36
3.3 D ữ liệu thu thập 36
3.4 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu 37
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 3 41
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Th ống kê mô tả mẫu nghiên cứu 42
4.2 K ết quả nghiên cứu thực tế 46
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 4 67
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 68
5.1 Ý nghĩa 68
5.2 Các H àm ý 68
Trang 65.4 K ết luận 75
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 5 77
Trang 7Bảng 3.1 Định Nghĩa Các Biến 30
Bảng 3.2 Biến Quy Mô Công Ty 32
Bảng 3.3 Biến Hoạt động kinh doanh quốc tế 33
Bảng 3.4 Biến Công Ty Kiểm Toán 33
Bảng 3.5 Biến Tỷ Suất Lợi Nhuận 34
Bảng 3.6 Biến Đòn Bẩy Tài Chính 34
Bảng 3.7 Biến Trình độ chuyên môn nhân viên kế toán 35
Bảng 3.8 Biến đo lượng sự vận dụng IFRS 35
Bảng 3.9 Bảng tình trạng phiếu khảo sát 36
Bảng 4.1 Thống kê giới tính 42
Bảng 4.2 Thống kế độ tuổi 42
Bảng 4.3 Thống kê chức vụ 43
Bảng 4.4 Thống kê thâm niên công tác 44
Bảng 4.5 Thống kê trình độ học vấn 45
Bảng 4.6 Thống kê về mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS 45
Bảng 4.7 Kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 46
Bảng 4.8 Kiểm định độ tin cậy của thang đo MĐSSADIFRS 47
Bảng 4.9 Bảng KMO và kiểm định Barlett 48
Bảng 4.10 Tóm tắt kết quả phân tích nhân tố 48
Bảng 4.11 Thống kê mô hình 52
Bảng 4.12 Kết quả hồi quy 52
Bảng 4.13 Bảng tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố 53
Bảng 4.14 Bảng tổng hợp kết quả các giả thuyết 58
Bảng 4.15 Giá trị trung bình của mức độ sẵn sàng 60
Trang 8Bảng 4.17 Bảng giá trị trung bình yếu tố đòn bẩy tài chính 61
Bảng 4.18 Bảng giá trị trung bình yếu tố quy mô 62
Bảng 4.19 Bảng giá trị trung bình yếu tố trình độ chuyên môn 63
Bảng 4.20 Bảng giá trị trung bình yếu tố tỷ suất lợi nhuận 64
Bảng 4.21 Bảng giá trị trung bình yếu tố công ty kiểm toán 65
Bảng 4.22 Bảng giá trị trung bình yếu tố hoạt động kinh doanh quốc tế 66
Trang 9HÌnh 4.1 Đồ thị phân tán Normail P 54 Hình 4.2 Đồ thị phân tán Scatterplot 55 Hình 4.3 Đồ thị tần số Histogram 56
Trang 10IASB (International Accounting Standards Board): Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế
HOSE: Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh
HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
IFRS (International Financial Report Standard): Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
IASC (International Accounting Standard Committee): Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế
SEM (Structual Equation Modeling): Mô hình phương trình cấu trúc
IAS (International Accounting Standard): Chuẩn mực kế toán quốc tế
CTĐC: Công ty đại chúng
CMBCTC: Chuẩn mực báo cáo tài chính
NCĐT: Nghiên cứu định tính
NCĐL: Nghiên cứu định lượng
TĐCM: Trình độ chuyên môn
ĐBTC: Đòn bẩy tài chính
MĐSSAD: Mức độ sẵn sàng áp dụng
Trang 11Tiêu đề: Nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
Việt Nam đang xây dựng lộ trình để có thể áp dụng bộ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (tên viết tắt IFRS) cho các công ty trong nước, với mục tiêu hướng đến năm 2025 sẽ chính thức áp dụng Do đó tác giả đã nghiên cứu đề tài liên quan tới các nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS Nghiên cứu tập trung xác định sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam hiện nay và khám quá các nhân tố ảnh hưởng đến việc này Tác giả dùng phương pháp thống kê, mô tả, phân tích EFA, đồng thời vận dụng nghiên cứu đính tính và định lượng để đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS ở các công ty đại chúng Nghiên cứu được tiến hành trên 223 mẫu
khảo sát tại các công ty niêm yết trên sàn HNX, HOSE và các công ty cổ phần chưa niêm yết trong phạm vi cả nước Kết quả nghiên cứu đã cho thấy được các nhân tố quy mô công ty, đòn bẩy tài chính (Debt leverage), trình độ học vấn của nhân viên trong bộ phận tài chính kế toán có tác động thuận chiều với sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng Nghiên cứu có thể giúp bộ tài chính hoàn thiện hơn lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam Các nhà nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu ra các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Từ khóa: IFRS, Vận dụng IFRS, Công ty đại chúng, Quy mô công ty
Trang 12Title: Main Factors affecting IFRS readiness preparation in public companies in Vietnam
Vietnam is conducting a roadmap to adopt the international financial
reporting standards (IFRS) to domestic companies, with a target to be officially applied by 2025 The objective of the study is to determine the IFRS adoption rate
of the public companies in Vietnam and identifying the factors affect the
preparedness of the Vietnam public companies to adopt IFRS The author used descriptive statistical methods, EFA analysis, and applied qualitative and
quantitative research to evaluate the influence of factors on the preparedness of public companies to adopt IFRS The study was conducted on 200 survey samples
at companies listed on the HNX and HOSE The study results show that the
factors as such firm size, financial leverage, and education level of accountants, etc had a positive impact on the preparedness of public companies to adopt IFRS The study could help the Ministry of Finance further improve IFRS adoption roadmap in Vietnam Future researchers may expand the scope of research into the state-owned enterprises as well as small and medium enterprises
Trang 13PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cùng với sự mở rộng hợp tác giữa các quốc gia, các vùng lãnh thổ và các khu vực khác nhau trên toàn thế giới dẫn đến yêu cầu được đặt ra là cần có một bộ CMBCTC thống nhất giữa các quốc gia, lãnh
thổ Với bộ CMBCTC thống nhất như vậy sẽ giúp các nhà đầu tư ở các quốc gia khác dễ dàng nắm được tình hình tài chính của các doanh nghiệp tiềm năng
Trong suốt giai đoạn 1973-2000, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) đã ban
hành 41 chuẩn mực kế toán quốc tế Năm 2001 Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) được thành lập để thay thế IASC ban hành tiêu chuẩn kế toán, cho tới nay IASB đã ban hành 27 IAS và 16 IFRS Theo số liệu thống kê của IASB thì
hiện tại có hơn 131 nước đã cho áp dụng IFRS dưới các hình thức khác nhau Hoà nhịp với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, bộ tài chính
cũng đã xây dựng đề án cho kế hoạch áp dụng chính thức IFRS cho các loại hình doanh nghiệp
Trên khắp thế giới có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS ở các quốc gia khác nhau như Wallace và cộng sự (1994), với nghiên cứu “ The relationship between the comprehensiveness of Corporate Annual Reports and Firm Characteristics in Spain” hay Wallace and Naser (1994), với đề tài nghiên cứu “Firm-specific determinants of the
Comprehensiveness of mandatory disclosure in Corporate Annual reports of Firm listed on the stock exchange of Hong Kong” Tiếp đến là El-Gazzar và cộng sự (1999), với đề tài nghiên cứu “An Empirical Investigation of Multinational Firms’ Compliance with International accounting Standards”, Murphy (1999) với đề tài nghiên cứu “Firm Characteristics of Swiss Companies that Utilize International Accounting Standards”, hay Tagesson và cộng sự (2003) với nghiên cứu “The relationship between attitude towards harmonization and the internationalization of
Trang 14the corporation – A study of the attitude towards the implementation of IASB standards among Swedlish listed companies”, Alsaeed (2006) với nghiên cứu ” The association between firm-specific characteristics and disclosure – The case of Saudi Arabia”, và Guerreiro (2008) với nghiên cứu ” The preparedness of companies to adopt International Financial Reporting Standards: Portuguese evidence”, Khlif and Souissi (2008) với bài ” The determinants of corporate disclosure: a eta-analysis”, Rouf (2011) với đề tài nghiên cứu ”Corporate characteristics govence attributes and the extent of voluntary disclosure in Bangladesh” hay nổi bật là Kolapo, T Funso; Ayeni, R.Kolade; Oke, M.ojo (2017) với đề tài nghiên cứu “Effects of IFRS
standards in Industry in Nigeria: A Panel model approach” Riêng tại Việt Nam thì có các nghiên cứu tiêu biểu như Đặng Ngọc Hùng (2017) với đề tài nghiên cứu
“Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam thông qua mô hình SEM”, Huỳnh Thị Thùy Dung (2017) với bài nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin được trình bày trên báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn HOSE”, Nguyễn Đăng Dung (2017) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng IFRS tại các Công ty điện máy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”, và Nguyễn Văn Dũng (2017) với
đề tài “Đánh giá mức độ vận dụng của Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại các công ty con thuộc tổng công ty xây dựng công trình giao thông 134” hay gần nhất là Nguyễn Minh Cương (2018) với đề tài “Các nhân tố tác động đến chất lượng báo
cáo tài chính tại các doan nghiệp xây lắp trên địa bàn tình Đồng Nai”, và Nguyễn Thị Kim Phụng (2018) “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán IFRS 10 & IFRS 12 tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao Dịch
Chứng Khoán Tp Hồ Chí Minh, hay Nguyễn Thị Thu Hoàn (2018) với đề tài “ Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán – Nghiên cứu chuẩn mực kế toán thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam”, Hà Xuân Thạch và cộng sự (2018) “ Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi báo cáo tài chính từ Chuẩn mực kế toán Việt Nam sang Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế”, và Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2019) ” Nhận định các nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực
quốc tế về kế toán của các quốc gia”, Dương Hoàng Ngọc Khuê và Cộng sự (2019)
Trang 15với “Nghiên cứu nhân tố tác động đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế AIS/IFRS” Sơ lược qua các đề tài ở trên, em nhận thấy hầu hết các nghiên cứu hướng đến các nhân tố của môi trường vĩ mô có thể tác động đến sự áp dụng IFRS
tại Việt Nam, hoặc tập trung nghiên cứu trong phạm vi những công ty vừa và nhỏ mà chưa có nghiên cứu nào tập trung vào nhân tố của môi trường vi mô có ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam Đây là đối tượng sẽ được thí điểm bắt buộc áp dụng IFRS từ năm 2025 Chính vì lý do đó, tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Nhân tố ảnh hưởng
đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của
c ác công ty đại chúng tại Việt Nam “
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát:
Đề tài nghiên cứu các nhân tố có ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
Mục tiêu chi tiết:
- Xác định mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam hiện nay
- Khám phá các nhân tố có thể ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu:
- Các công ty đại chúng tại Việt Nam đã sẵn sàng áp dụng IFRS chưa?
- Các nhân tố đặc tính nào của công ty có thể tác động đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam?
- Mức độ tác động của các nhân tố đặc tính đã khám phá ở nghiên cứu này
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu:
Mức độ sẵn sàng và các nhân tố đặc tính của các công ty đại chúng tại Việt Nam có ảnh hưởng đến sự áp dụng IFRS
b Phạm vi nghiên cứu:
Các công ty đại chúng trong phạm vi cả nước
c Thời gian nghiên cứu:
Em khảo sát thông qua bảng câu hỏi vào năm 2019
Kết hợp với việc thu thập báo cáo tài chính của các công ty đại chúng qua các năm 2016, 2017 và 2018
5 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả đồng thời sử dụng cả phương pháp mô tả, thống kê, phân tích và
so sánh để phục vụ nghiên cứu của mình Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Tác giả sử dụng nghiên cứu định tính để đưa ra các nhân tố có thể ảnh hưởng tới sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
- Nghiên cứu định lượng: Tác giả sử dụng nghiên cứu định lượng để đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đã xác định ở trên đến sự chuẩn bị cho việc áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
6 Ý nghĩa của nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sơ lược tình hình chuẩn bị nguồn lực cho việc áp dụng IFRS của các công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam với tỷ lệ khoảng 35% công
ty đại chúng trong phạm vi mẫu thu thập là đã hoàn thành quy trình chuyển đổi và đánh giá ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS, còn lại 65% công ty là chưa chuẩn bị cho việc áp dụng IFRS Bài nghiên cứu cũng góp phần nhận diện và đánh giá các
Trang 17nhân tố môi trường bên trong công ty có ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS, cụ thể
là các nhân tố quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, quy mô công ty kiểm toán được sử dụng, hoạt động thương mại quốc tế, đòn bẩy tài chính (debt leverage) và trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán Qua đó hỗ trợ bộ tài chính trong việc xây dựng chi tiết lộ trình thích hợp để áp dụng bắt buộc IFRS tại Việt Nam, cũng như
có những chính sách thích hợp để hỗ trợ công ty trong giai đoạn chuyển sang áp
dụng IFRS
C ấu trúc của luận văn
Luận văn có kết cấu 5 chương và được bố cục như sau:
+ Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu
+ Chương 2: Cơ sở lý thuyết
+ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
+ Chương 4: Kết quả nghiên cứu
+ Chương 5: Kết luận và hàm ý
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên c ứu trong nước
Trong nước có nhiều đề tài về IFRS cũng như những yếu tố tác động đến việc áp dụng IFRS, điển hình là tác giả Đặng Ngọc Hùng (2017) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghệp Việt Nam thông qua mô hình SEM” Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với bảng thang đo được xây dựng và được kiểm định độ tin
cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả của nghiên cứu
đã cho thấy được 3 nhân tố có tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán ở Việt Nam đó là đặc điểm của doanh nghiệp, cụ thể là quy mô doanh nghiệp, cấu trúc sở
hữu vốn, và đặc điểm hệ thống văn bản pháp luật, tổ chức tư vấn nghề nghiệp Kế đến là nghiên cứu “Đánh giá mức độ sẵn sàng vận dụng của Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại các công ty con thuộc tổng công ty xây dựng công trình giao thông 134” (2017), được thực hiện bởi Nguyễn Văn Dũng Tác giả đã chỉ
ra được sự chuẩn bị cho việc áp dụng IFRS tại các công ty con thuộc tổng công ty, tuy nhiên tác giả đưa ra được các nhân tố tác động đến sự sàn sàn áp dụng IFRS Hơn nữa, phạm vi nghiên cứu của tác giả chỉ trong phạm vi nội bộ các thành viên trực thuộc tổng công ty 134
Tiếp nối là Nguyễn Lê Vân Khánh (2018), với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự nguyện áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam” tác giả tiến hành nghiên cứu trong phạm vi các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Viêt Nam Tác giả
đã chỉ ra được các nhân tố cơ cấu vốn đầu tư, quy mô doanh nghiêp, ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng đến sự tự nguyện áp dụng IFRS của các doanh nghiệp Tuy nhiên bài nghiên cứu chưa hướng tới các nhân tố khác như trình độ nhân viên phòng tài chính kế toán, loại doanh nghiệp kiểm toán…
Trang 19Hay là Nguyễn Thị Kim Phụng (2018) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến
khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán IFRS 10 & IFRS 12 tai các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Tp Hồ Chí Minh” Tác giả đã chỉ ra được 6 nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán IFRS 10 và IFRS 12 tại các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh đó là nhu cầu cung cấp thông tin của doanh nghiệp, là nhân tố mức độ phức
tạp của chuẩn mực, và nhân tố lợi ích áp dụng, tính minh bạch, tính kỷ luật và trừng phạt trong IFRS 10 & IFRS 12 và tính bắt buộc Bài nghiên chỉ hạn chế trong pham vi của hai chuẩn mực kế toán IFRS 10 và IFRS 12 nên vẫn chưa thể tổng
quát được mức ảnh hưởng của các nhân tố đã khám phá đến sự áp dụng IFRS của các doanh nghiệp tại Việt Nam
Tiếp đến là Nguyễn Thị Thu Hoàn (2018) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán – Nghiên cứu chuẩn mực kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam” Bài nghiên cứu đã khám phá một số đặc điểm của doanh nghiệp có tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán tại Việt Nam Bài nghiên cứu chỉ nêu ra một số nhân tố vi mô có ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán, cụ thể là chuẩn mực kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam Tuy nhiên bài viết chưa làm rõ được liệu các yếu tố này có ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Hay Hà Xuân Thạch và cộng sự (2018) với đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi báo cáo tài chính từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế” Tác giả kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng với mẫu khảo sát từ 300 chuyên gia kế
toán- kiểm toán Tác giả đưa ra kết quả của năm nhân tố có ảnh hưởng đến việc chuyển đổi báo cáo tài chính theo VAS sang IFRS
Gần đây nhất là Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2019) với đề tài “Nhận định các nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán của các quốc gia” Với việc kết hợp hai phương pháp định tính và định lượng, tác giả đã đươc ra một
Trang 20số nhân tố như quy mô công ty, năng lưc nhân viên kế toán, yêu cầu bắt buộc của
bộ tài chính… có tác động đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán
Nổi bật hơn nữa là Dương Hoàng Ngọc Khuê và Nguyễn Thị Ngọc Oanh (2019) với đề tài “Nghiên cứu nhân tố tác động đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS” Tác giả cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để phục vụ cho đề tài Kết quả chỉ ra rằng các nhân tố văn hoá, pháp lý, tăng trưởng kinh tế, trình độ giáo dịch, thị trường vốn có ảnh hưởng đến sự vận dụng chuẩn mực IAS và IFRS
Hay là Lê Trần Hạnh Phương (2019) với đề tài “Các nhân tố tác động đến áp
dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) – nghiên cứu ở phạm vi các quốc gia và doanh nghiệp tại Việt Nam Tác giả đã xác định được 17 nhân tố thông qua phương pháp định tính và dùng phương pháp định lượng để xác định được 7 nhân
tố có ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS Bên cạnh các yếu tố vĩ mô, tác giả cũng chỉ ra các nhân tố vi mô có tác động đến sự áp dụng IFRS tại Việt Nam của các doanh nghiệp lớn như là đầu tư nước ngoài, chất lượng kiểm toán và sự tham gia
quản lý của người nước ngoài vào Ban lãnh đạo Tuy nhiên tác giả chưa đưa vào nghiên cứu các nhân tố vi mô khác như là đòn bẩy tài chính, hay là tỷ suất lợi nhuận của công ty…
1.2 Nghiên c ứu ngoài nước
Wallace và cộng sự (1994), với đề tài nghiên cứu “The relationship between the comprehensiveness of Corporate Annual Reports and Firm Characteristics in Spain” Các tác giả tập trung vào hai mục tiêu chính: Thứ nhất là nghiên cứu sự
khác nhau giữa thông tin được công bố trong báo cáo tài chính hàng năm và các tài khoản của công ty tại Tây Ban Nha là có hệ thống hay không và xác định các đặc tính nội tại của các công ty có tác động đến sự khác nhau trong mức độ công bố thông tin? Thứ hai là nghiên cứu các đặc tính của công ty đã được công bố trong các nghiên cứu trước đây liệu có thể tiếp tục vận dụng cho Tây Ban Nha? Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các đặc tính đã được chứng minh để phục vụ cho nghiên
cứu là tài sản, doanh thu, cơ cấu tổ chức, lợi tức, lợi nhuận, tính thanh khoản, lĩnh
Trang 21vực kinh doanh, niêm yết trên sàn chứng khoán, quy mô của công ty kiểm toán Wallace và cộng sự đưa ra kết quả là có sự khác nhau trong báo cáo tài chính của các công ty Tây Ban Nha do tác động của các nhân tố như quy mô công ty (tài sản
và doanh thu), tính thanh khoản và tình trạng niêm yết hiện tại Các tác giả chưa tìm được mối liên hệ rõ ràng giữa các các đặc tính còn lại với mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên Tuy nhiên bài nghiên cứu cũng đã
chỉ ra được một số nhân tố vi mô có ảnh hưởng đến sự áp dụng IFRS là quy mô công ty, quy mô công ty kiểm toán…Do đó em có thể vận dụng các nhân tố vi mô
đã khám quá trong nghiên cứu này để phục vụ cho bài nghiên cứu của em
Wallace và cộng sự (1995), với đề tài “Firm-specific determinants of the
Comprehensiveness of mandatory disclosure in the Corporte Annual reports of Firm listed on the stock exchange of Hong Kong” Một trong những mục tiêu nghiên cứu của các tác giả là xác định các bằng chứng về các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin toàn diện trong báo cáo tài chính thường niên Hai tác giả tiếp tục sử dụng các đặc tính của công ty đã nghiên cứu tại Tây Ban Nha để làm các biến khảo sát, đồng thời bổ sung thêm một số đặc tính mới là đòn bẩy tài chính và tỷ lệ cổ phiếu sở hữu bởi các cổ đông ở nước ngoài Với nghiên cứu này, hai tác giả đưa ra kết quả là các đặc tính như tài sản, tỷ suất lợi nhuận, loại công ty kiểm toán, lĩnh vực kinh doanh có tác động đến chỉ số công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên của công ty Các đặc tính như tình trạng niêm yết, tính thanh khoản, lợi tức, và tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông nước ngoài có tác động không rõ ràng đến mức độ công bố thông tin toàn diện trong báo cáo tài chính thường niên El-Gazzar và cộng sự (1999), với đề tài nghiên cứu “An Empirical Investigation of Multinational Firms’ Compliance with International Accounting Standards” Các tác giả đã nghiên cứu thực nghiệm việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế của các công ty đa quốc gia Qua đó các tác giả đánh giá các yếu tố tác động đến việc tuân thủ IAS, nêu ra được nguyên nhân tại sao các công ty đa quốc gia có tính tuân thủ IAS cao, đồng thời nêu ra các giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin được công bố của báo cáo tài chính ở các công ty đa quốc gia
Trang 22Murphy (1999), với đề tài nghiên cứu “Firm Characteristics of Swiss Companies that Utilize International Accounting Standards” Murphy tập trung vào các đặc điểm nội tại của các công ty ở Thuỵ Sỹ, đồng thời xác định các nhân tố nội tại nào ảnh hưởng đến sự vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại Thuỵ Sỹ Tác giả đã chỉ
ra được nhân tố có tác động mạnh mẽ và đồng hướng đến sự áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế là mức độ hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của các công ty Thuỵ
Sỹ, các nhân tố khác như quy mô công ty, quy mô công ty kiểm toán… thì ảnh hưởng không đáng kể
Tagesson và cộng sự (2003), với đề tài “The relationship between attitude towards harmonization and the internationalization of the corporation – A study of the attitude towards the implementation of IASB standards among Swedlish listed companies” Tagesson và cộng sự tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa quan điểm quốc tế hoá và quan điểm đồng hoá trong việc áp dụng bộ chuẩn mực của IASB trong các công ty niêm yết tại Thuỵ sĩ Kết quả cho thấy hầu hết các nhà quản lý tài chính đều có thái độ thận trọng đối với việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế cho các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Thuỵ Sĩ
Alsaeed (2006), với chủ đề “The association between firm-specific characteristics and disclosure – The case of Saudi Arabia” Tác giả đã nghiên cứu mức độ công khai thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty phi lợi nhuận tại Arập Xê Út và tiến hành nghiên cứu thực nghiệm các ảnh hưởng của đặc tính công ty đến phạm
vi công bố thông tin tự nguyện Tác giả đã chỉ ra rằng đặc tính có ảnh hưởng đến mức độ công khai thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty đó là quy
mô công ty Còn lại các đặc tính như đòn bẩy tài chính, sự đa dạng chủ sở hữu, tuổi
của công ty, lợi nhuận biên, tính thanh khoản, lĩnh vực kinh doanh, quy mô công ty kiểm toán… ít có ảnh hưởng đến mức độ công khai thông tin trong báo cáo tài chính thường niên của các công ty phi lợi nhuận tại Arập Xê Út
Guerreiro (2008), với nghiên cứu “The preparedness of companies to adopt
International Financial Reporting Standards: Portuguese evidence” Tác giả đã nghiên cứu sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty đại chúng tại Bồ Đào Nha
Trang 23Tác giả đã xác định được các nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS là quy mô công ty và chủ thể kiểm toán
Khlif và cộng sự (2008), với đề tài nghiên cứu “The determinants of corporate disclosure: a meta-analysis” Các tác giả đã nghiên cứu sự tác động của các nhân tố đặc tính của công ty như sự phân tán cổ đông, quy mô công ty, quy mô công ty kiểm toán, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận và hoạt động đa quốc gia, sự theo dõi của các nhà phân tích…đến sự trình bày thông tin trong báo tài chính Các tác giả đã xác định rằng quy mô công ty kiểm toán có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên của công ty Còn lại các nhân tố khác trong nghiên cứu đều không có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên của công ty
Rouf (2011), với đề tài nghiên cứu “Corporate characteristics, governance
attributes and the extent of voluntary disclosure in Bangladesh” Tác giả nghiên cứu sự liên kết giữa “các đặc tính của công ty”, “thuộc tính quản trị” và “phạm vi của công bố tự nguyện” tại Bangladesh Với phân tích tương quan Pearson, tác giả
đã đưa ra quả là cấu trúc ban lãnh đạo, quy mô ban lãnh đạo, ủy ban kiểm toán, tổng tài sản, tỷ lệ các giám đốc độc lập là có quan hệ thuận hướng đối với sự tự nguyện công bố thông tin, tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được sở hữu bởi nội bộ công ty có quan hệ nghịch hướng với sự tự nguyên công bố thông tin Tổng tài sản, tổng doanh thu đại diện cho đặc tính quy mô và đặc tính lợi nhuận đều không có mối quan hệ rõ ràng với sự tự nguyện công bố thông tin
1.3 K ết quả nghiên cứu đã đạt được và những hạn chế:
1.3.1 K ết quả nghiên cứu đã đạt được:
Đặc điểm chung các các nghiên cứu em đã nêu là tập trung vào đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố vi mô đến sự vận dụng IFRS tại mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới Hầu hết kết quả của các nghiên trước trước đây đều cho thấy được ảnh hưởng thuận chiều của các nhân tố như quy mô công ty (size), tỷ suất lợi nhuận
Trang 24trên tổng tài sản (ROA), cấu trúc sở hữu vốn, tình hình hoạt động kinh doanh quốc
tế của các doanh nghiệp, quy mô công ty kiểm toán… đến sự áp dụng IFRS
Do vậy, em có thể tiếp tục sử dụng các nhân tố vi mô này để tiếp tục nghiên cứu đến sự tác động của việc áp dụng IFRS tại Việt Nam, cụ thể là các công ty đại chúng tại Việt Nam
1.3.2 H ạn chế của của các nghiên cứu:
Mặc dù có nhiều nghiên cứu khác nhau liên quan đến mối quan hệ giữa các nhân tố đặc tính của doanh nghiệp với sự sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều thực hiện ở nước ngoài hoặc chỉ tâp trung trong phạm vi doanh nghiệp vừa và nhỏ của Viêt Nam mà vẫn chưa có nghiên cứu sự ảnh hưởng các nhân tố đặc điểm của các công ty đại chúng tại Việt Nam đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS Vì Việt Nam là một nước đang phát triển nhưng có nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa sự ảnh hưởng các các nhân tố đặc tính của CTĐC đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS sẽ ít nhiều khác với các nước khác trên thế giới
Câu hỏi được đưa ra là đến thời điểm hiện tại, các công ty cổ phần đại chúng tại
Việt Nam đã sẵn sàng như thế nào cho việc áp dụng chuẩn mức báo cáo tài chính
quốc tế? Có các yếu tố nội tại nào tác động đến sự sẵn sàng này?
Trang 25KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thông qua chương này tác giả đã đưa ra những đặc điểm tổng quát về đề tài nghiên cứu Trước tiên nhận định lý do lựa chọn đề tài, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu Đặc biệt, tác giả tổng quan các bài nghiên cứu trong và ngoài nước để nhận định các nhân tố đặc điểm của doanh nghiệp như quy mô, tỷ lệ sinh lời, đòn bẩy tài chính, quy mô công ty kiểm toán, chi phí-lợi ích…có ảnh hưởng như thế nào đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính thường niên Qua đó, tác giả nhận định được khe hở và đi đến xây dựng mục tiêu cần nghiên cứu
Trang 26CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Sơ lược về IFRS:
IFRS được soạn thảo bởi IASB viết tắt của International Accounting
Standards Board IASB được thành lập vào năm 1973 tại London với tên gọi là IASC (International Accounting Standards Committee), sau đó thì IASC được đổi tên thành IASB vào năm 2001 Sau hàng chục năm không ngừng đổi mới và hoàn thiện, IASB đã ban hành 1 bộ khái niệm khung báo cáo tài chính (Conceptual Framework for Financial reporting) và 16 bộ IFRS
Harrison và cộng sự (1999) đã có quan điểm là “IFRS tạo sự minh bạch, đồng thời, giúp nâng cao trách nhiệm giải trình bằng cách giảm bớt lỗ hổng thông tin giữa nội bộ và bên ngoài công ty Ngoài ra, IFRS giúp các DN và thị trường hoạt động hiệu quả hơn nhờ chuẩn mực có phạm vi toàn cầu và đáng tin cậy, áp dụng cho cả các nền kinh tế IFRS cũng hỗ trợ giảm thiểu chi phí về vốn và chi phí báo cáo”
Nhiệm vụ chính của IFRS là xây dựng bộ khung chuẩn quốc tế về việc lập và trình bày BCTC cho các công ty IFRS tập trung vào các hướng dẫn, diễn giải chung nhất về cách lập báo cáo tài chính hơn là thiết lập các quy tắc lập báo cáo Đây là điểm khác biệt rõ nét so với VAS của Việt Nam
Hiện IASB đã ban hành 16 IFRS như sau:
IFRS 1 (First-time adoption of International Financial Reporting Standards): áp dụng lần đầu IFRS
IFRS 2 (Share-based payments): Thông tin dựa trên cổ phiếu
IFRS 3 (Business combinations): Hợp nhất kinh doanh
IFRS 5 (Non-current assets held for sale and Discontinued operations): Tài sản dài hạn chờ để bán và hoạt động gián đoạn
Trang 27IFRS 6 (Exploration for and Evaluation of Mineral Resources): Thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản
IFRS 7 (Financial instruments: Disclosures): Công cụ tài chính: Trình bày IFRS 8 (Operation segments): Bộ phận kinh doanh
IFRS 9 (Financial instruments): Công cụ tài chính
IFRS 10 (Consolidated Financial statements): Báo cáo tài chính hợp nhất IFRS 11 (Joint Arrangements): Cam kết về sự liên kết
IFRS 12 (Disclosure of Interests in other Entities): Công bố lợi ích giữa các bên liên quan
IFRS 13 (Fair value measurement): Đo lường giá trị hợp lý
IFRS 14 (Regulatory Deferral Accounts): Các khoản hoãn lại theo luật định IFRS 15 (Revenue from Contracts with Customers): Doanh thu từ các hợp đồng với khách hàng
IFRS 16 (Lease): Thuê tài sản
IFRS 17 (Insurance contracts): Hợp đồng bảo hiểm
Hiện nay trên thế giới đã có hơn 131 quốc gia và vùng lãnh thổ đã vận dụng IFRS Và xu hướng này đa ngày càng được nhân rộng ra khắp thế giới
2.2 S ơ lược về hệ thống kế toán của Việt Nam:
Tại Việt Nam hệ thống kế toán tài chính phát triển qua các giai đoạn chính (Kế toán Việt Nam quá trình hình thành và phát triển - NXB Học Viện Tài Chính 2012):
Giai đoạn trước 1975: Do đất nước bị chia cắt làm hai miền, nên hệ thống kế toán của Việt Nam có sự khác biệt giữa hai miền Miền nam Việt Nam áp dụng hệ
thống kế toán của Mỹ và Miền Bắc sử dụng chuẩn mực kế toán của Liên Xô
Trang 28Giai đoạn 1976 đến 1990: Việt Nam áp dụng chuẩn mực kế toán của Liên
Xô trong cơ chế tập trung Trong giai đoạn này nền kinh tế nước ta là kinh tế bao cấp Do đó, kế toán trong giai đoạn này chủ yếu là công cụ phản ánh thụ động tình
hình hoàn thành kế hoạch của Nhà nước (http://voer.edu.vn)
Giai đoạn 1991 đến năm 1994: Đất nước ta có sự chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với sự xuất hiện của nền kinh tế nhiều thành phần làm cho đặc thù của nghề kế toán thay đổi Lúc này nhiều định nghĩa mới trong kế toán cũng xuất hiện như: lãi, lỗ, lợi nhuận…mà nhiều kế toán viên chế độ cũ cảm thấy khá trừu tượng
Giai đoạn từ 1995 đến nay: Giai đoạn này thì hệ thống kế toán Việt Nam được hoàn thiện nhất, bộ tài chính đã ban hành một loạt các chuẩn mực kế toán để chuẩn hoá việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh cũng như trình bày các thông tin tài chính trên báo cáo hằng năm Cụ thể là bộ tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán, còn được gọi là VAS (Vietnam accounting standards) Đặc điểm chung của VAS là tính đề cao tính tuân thủ nguyên tắc, mỗi loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được chi tiết và quy tắc hoá VAS yêu cầu các công ty phải trình bày số liệu kế toán theo đúng quy tắc đã được hướng dẫn
Hiện tại, bộ tài chính đã và đang xây dựng lộ trình thích hợp để tiến tới vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam Cụ thể là Bộ tài chính đã ban hành quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt đề án áp dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính tại Việt Nam Theo đề án thì các công ty đại chúng sẽ là đối tượng bắt buộc phải lập báo cáo tài chính theo IFRS kể từ sau năm 2025
2.3 Sơ lược công ty đại chúng:
Theo điều 25 của luật chứng khoán, một công ty được gọi là công ty đại
chúng nếu là công ty cổ phần và thoả một trong ba điều kiện dưới đây
+ Công ty đã thực hiện chào báo bán cổ phiếu ra công chúng
Trang 29+ Công ty có cổ phiểu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán
+ Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ động Việt Nam trở lên
Với đặc điểm nguồn vốn hoạt động của công ty đại chúng đến từ việc huy động vốn góp các nhà đầu tư khác nhau, nên đòi hỏi báo cáo tài chính của các công
ty đại chúng cần minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu và có tính thống nhất cao Mà đây là mục tiêu hướng tới của IASB trong việc xây dựng các bộ chuẩn mực IFRS, do đó
việc áp dụng IFRS cho các CTĐC tại Việt Nam không chỉ là phù hợp với sự hoạch định chính sách của bộ tài chính mà còn là nhu cầu cấp thiết của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư ngoại Vì IFRS được viết bằng ngôn ngữ tiếng Anh có
tính phổ biến cao nên các nhà đầu tư ngoại dễ dàng tiếp cận và nắm được các thông tin thiết yếu của báo cáo tài chính
2.4 Thuy ết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991)
Ajzen, (1991), giả định rằng: “Một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó, các xu hướng hành vi được giả
sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó”
Theo Ajzen &Fishbein, (1975) nhận định xu hướng hành vi là một hàm của ba yếu
tố: (1) “Các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành
vi thực hiện; (2) Sự ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó; (3) Cuối cùng, thuyết hành vi dự định TPB được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung theo yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ảnh việc dễ
dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi”
Trang 30Thông qua thuyết hành vi dự định ta có thể hiểu được cách mà một doanh nghiệp đối phó với một quy định mới của nhà nước Với những doanh nghiệp có những nguồn lực khác nhau thì sẽ có những phản ứng khác nhau Đó là do sự chi phối của thuyết hành vi dự định
Các công ty đại chúng tại Việt Nam sẽ bị tác động bởi thuyết hành vi dự định trong việc sẵn sàng áp dụng IFRS Dưới áp lực của hoạt động kinh doanh và thu hút nhà đầu tư ngoại quốc, thì việc trình bày một bản báo cáo tài chính theo một chuẩn mực rõ ràng và có tính quốc tế hoá cao là một yêu cầu thiết yếu
Vận dụng thuyết hành vi dự định, em có thể xác định được sự chuẩn bị trong việc
áp dụng IFRS của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam Qua đó
có thể nhận diện được nhân tố nội tại nào có tác động đến sự áp dụng IFRS ở các công ty
2.5 Thuy ết đại diện (Agency Theory)
Jensen và Meckling (1976) cho rằng: “Xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công
ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty”
Với đặc thù là nguồn vốn được huy động từ nhiều nhà đầu tư bên ngoài, do đó nhiều ban lãnh đạo của nhiều công ty đại chúng không nắm giữ nhiều cổ phần ở công ty, thay vào đó họ được thuê cho vị trí quản lí đó và hưởng lương cũng như thưởng trên phần lợi nhuận họ tạo ra cho công ty Đối với những công ty lớn, những công ty có sử dụng công cụ đòn bẩy tài chính cao hoặc những công ty có tỷ
suất lợi nhuận trên tổng tài sản càng cao thì ảnh hưởng của Thuyết đại diện càng rõ ràng
Trang 31Chính vì vậy Thuyết đại diện phù hợp cho nghiên cứu tác động của nhân tố quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, đòn bẩy tài chính (Debt leverage) đến việc áp dụng IFRS tại doanh nghiệp
2.6 Thuy ết dự phòng:
Fayol và các cộng sự (1949) cho rằng: “Có thể xác định được cấu trúc tối ưu cho tất cả các tổ chức, trong thực tế cơ cấu tổ chức có sự thay đổi đáng kể”
Và nhà lý thuyết đương đại, Chenhall (2007) cho rằng: “Không có duy nhất một
cơ cấu tổ chức tốt nhất cho các tổ chức Hiệu suất của một tổ chức phụ thuộc vào sự phù hợp với cơ cấu tổ chức của nó và các biến theo ngữ cảnh như môi trường, chiến lược, công nghệ, quy mô, văn hóa Các lý thuyết phù hợp giữa cơ cấu tổ chức và các biến theo ngữ cảnh được gọi chung là lý thuyết dự phòng”
Với đặc tính cẩn trọng, thuyết dự phòng được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu ở các lĩnh vực tài chính, kế toán Thuyết dự phòng hỗ trợ cho việc nghiên cứu các đặc tính như là quy mô công ty và loại công ty kiểm toán được sử dụng…
2.7 Thuy ết khuếch tán cải tiến (Diffusion of Innovation)
Everett Roger đã xây dựng nên thuyết khuếch tán cải tiến vào năm 1962 Theo Everett Roger thì khuếch tán là quá trình mà một sự đổi mới được truyền đạt thông qua một số kênh theo thời gian giữa các thành viên trong một hệ thống xã hôi Theo ông mỗi cá nhân đều sẽ trải qua 5 bước để chấp nhận một sản phẩm mới Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, IFRS cũng giống như các một sản phẩm mới Do đó, thuyết khuếch tán cải tiến sẽ hỗ trợ trong việc nhận diện các quy trình
mà các công ty sẽ phải trải qua trong việc tuân thủ quy định áp dụng IFRS của bộ
tài chính
2.8 C ác nhân tố ảnh hưởng đến sẵn sàng áp dụng IFRS:
Các nhà nghiên cứu đã lý thuyết hóa nhiều đặc tính của công ty có mối liên hệ đến mức độ toàn diện của thông tin được công bố trong báo cáo tài chính thường
Trang 32niên như Wallace và các cộng sự (1994), El-Gazzar và các cộng sự (1999),
Tagesson và các cộng sự (2003), Alsaeed (2006), Guerreiro (2008), Khlif and Souissi (2008), Rouf (2011) Tác giả kết hợp các nhân tố đã được khám phá trong
các nghiên cứu trước và đồng thời căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội đặc thù tại Việt Nam để đưa vào đề tài nghiên cứu của mình một số đặc tính như:
2.8.1 Quy mô công ty (SIZE):
Các công ty càng lớn thì nhu cầu huy động vốn càng lớn và càng bị giám sát chặt chẽ bởi cơ quan quản lý nhà nước nên yêu cầu thông tin trên báo cáo tài chính cần phải rõ ràng và minh bạch Các công ty càng lớn thì chi phí đại diện càng cao nên cần có báo cáo tài chính hoàn chỉnh, minh bạch và có độ chính xác cao
Hỗ trợ cho giả thuyết này là lý thuyết hành vi dự định và lý thuyết đại diện
2.8.2 Thương mại quốc tế (COMINT)
Công ty có hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế thì nhu cầu hội nhập
càng cao Các công ty càng có nhiều đối tác và nhà đầu tư chiến lược nước ngoài thì yêu cầu áp dụng IFRS càng cao IFRS giúp cải thiện thông tin tài chính của doanh nghiệp, giúp các nhà đầu tư dễ dàng so sánh để có cơ sở đưa ra quyết định chính xác (a Gordon & P Loeb, 2012)
Giả thuyết được đặt ra là công ty càng có hoạt động kinh doanh quốc tế cao thì mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS càng cao
H2: Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mức báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của công ty đại chúng tăng lên với mức độ kinh doanh quốc tế
Hỗ trợ cho giả thuyết này là Lý thuyết dự phòng và lý thuyết hành vi dự định
Trang 332.8.3 Lo ại công ty kiểm toán (AUD)
Trong thực tiễn cung cấp dịch vụ kiểm toán thì hầu hết công ty kế toán kiểm
toán quốc tế hàng đầu thế giới (Big 4) rất ủng hộ quá trình hội tụ giữa kế toán quốc gia và quốc tế Việc sử dụng chung một hệ thống chuẩn mực trong báo cáo tài
chính giữa các quốc gia sẽ giúp các công ty thuộc nhóm big 4 này tiết kiệm được chi phí trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng Các công ty kiểm toán này luôn tư vấn cho khách hàng nên áp dụng IFRS
Giả thuyết được đặt ra là nếu công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán thuộc nhóm big 4 thì mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS cao
H3: Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mức báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của công ty đại chúng được kiểm toán bởi công ty kiểm toán thuộc nhóm big 4 thì cao hơn các công ty khác
Hỗ trợ cho giả thuyết này là Lý thuyết khuếch tán cải tiến và Lý thuyết đại diện
2.8.4 T ỷ suất lợi nhuận (DEBT):
Các công ty có lợi nhuận cao thì có xu hướng thích trình bày thông tin tài chính rõ ràng và đáng tin cậy Các công ty này không chịu áp lực phải che giấu bớt
các thông tin tài chính bất lợi, vì vậy việc trình bày báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế đối với họ là dễ được chấp nhận (Guerreiro, 2008) Do đó giả thuyết được đặt ra là các công ty có xu hướng sẵn sàng áp dụng IFRS khi có có tỷ suất lợi nhuận càng cao
H4: Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mức báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của công ty đại chúng tăng cùng với tỷ lệ lợi nhuận
Hỗ trợ cho giả thuyết này là lý thuyêt đại diện và lý thuyết hành vi dự định
2.8 5 Đòn bẩy tài chính (ROA)
Nhu cầu công bố thông tin tài chính minh bạch, chính xác ngày càng cao khi các công ty có tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu càng cao (Alsaeed, 2006) Do đó dưới áp lực của chủ nợ, các công ty đại chúng có tỷ lệ nợ cao có xu hướng áp dụng IFRS nhiều hơn
Trang 34Giả thuyết đặt ra là các công ty càng sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính thì có xu hướng sẵn sàng áp dụng IFRS hơn
H5: Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mức báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của công ty đại chúng liên quan đến đòn bẩy tài chính
Hỗ trợ cho giả thuyết này là lý thuyết đại diện và lý thuyết dự phòng
2.8 6 Năng lực chuyên môn của người làm kế toán (EDU)
Bản thân IFRS rất phức tạp và không dễ hiểu, nên để áp dụng tốt IFRS thì yêu cầu người làm công tác kế toán phải có trình độ chuyên môn cao và thường xuyên được tham gia các buổi tập huấn ngắn hạn để nâng cao trình độ chuyên môn Do đó, các công ty có nhân viên kế toán với năng lực chuyên môn tốt thì mức độ sẵn sàng áp IFRS cao hơn
H6: Mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mức báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của công ty đại chúng có liên quan đến năng lực của người làm kế toán
Hỗ trợ cho giả thuyết này là lý thuyết khuếch tán cải tiến và lý thuyết hành vi dự định
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Thông qua chương 2, Tác giả đã giới thiệu sơ lược về IFRS và hệ thống kế
toán của Việt Nam, cũng như đặc điểm của công ty đại chúng Tác giả cũng đã trình bày các lý thuyết nền hỗ trợ cho nghiên cứu như thuyết hành vi dự định, thuyết đại diện, thuyết dự phòng và đưa ra các nhân tố có thể ảnh hưởng đến mức
sẵn sàng áp dụng IFRS Có 6 giả thuyết được đưa ra để tạo mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương 3
Trang 36CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy tr ình và phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Quy tr ình nghiên cứu
Tác giả thực hiện quy trình nghiên cứu như sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu nghiên cứu mà đề tài hướng tới
Bước 2: Đưa ra lý thuyết nền và sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty đại
chúng Việt Nam
B ước 3: Từ cơ sở lý thuyết và căn cứ thực tiễn tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu
sơ bộ, thông qua hai giai đoạn chính:
+ Giai đoạn 1: áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua thảo luận
nhóm nhằm điều chỉnh thang đo của các biến cần quan sát trong mô hình
+ Giai đoạn 2: áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, ở giai đoạn này tác
giả tiến hành chọn mẫu, khảo sát chính thức với bảng câu hỏi với n = 223 Thu thập
dữ liệu sau khi phỏng vấn, tác giả về sàng lọc và loại bỏ các phiếu khảo sát không đạt yêu cầu sau đó mã hóa, nhập liệu và chạy dữ liệu bằng spss 20.0 để phân tích thông tin
Bước 4: Sau khi mã hóa, làm sạch dữ liệu, tác giả tiến hành phân tích các bước như
sau:
- Phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo: dùng phương pháp kiểm định độ tin cậy cronbach’s alpha để loại các biến không phù hợp (nếu hệ số tương quan biến - tổng “ corrected – total correlation” nhỏ hơn 0.3 và thang đo có thể chấp nhận được
về mặt độ tin cậy nếu hệ số cronback’s alpha lớn hơn 0.6)
- Dùng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các biến thành phần trong mô hình
+ Factor loading > 0.5
+ 0.5 < kmo < 1
Trang 37+ Kiểm định bartlett n có sig < 0.5
+ Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích (total variance
explained) > 50%
+ Hệ số nhân tố trích eigenvalue có giá trị > 1
Bước 5: Kiểm định các giả thuyết trong mô hình, kiểm định mô hình hồi quy đa
biến với mức ý nghĩa 5%
Bước 6: Kiểm định t-test và phân tích Anova
Sau đây là quy trình nghiên cứu của đề tài:
S ơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu
Xác định MTNC
Đưa ra các cơ sở lý luận
n=223
Trang 383.1 2 Phương pháp nghiên cứu
Để nhất quán với nội dung, mục đích và yêu cầu của đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp các dữ liệu sơ cấp từ kết quả khảo sát với bảng câu hỏi được xây dựng theo thang đo likert nhằm đánh giá và phân tích đề tài một cách khách quan và chính xác nhất
- Bên cạnh đó, nguồn số liệu từ các tạp chí chuyên ngành và các website của cơ quan nhà nước, tại các công ty đại chúng tại Việt Nam… cũng được sử dụng làm nguồn dữ liệu thứ cấp cho việc nghiên cứu và thực hiện đề tài
Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn: giai đoạn 1 là nghiên cứu định tính, giai đoạn 2 là nghiên cứu định lượng
• Nghiên cứu định tính:
- Tác giả dụng nghiên cứu định tính để khám phá những yếu tố có thể tác động đến sự sẵn sàng áp dụng IFRS của các CTĐC tại Việt Nam và xây dựng các biến quan sát của thang đo nghiên cứu
- NCĐT được thực hiện qua 2 bước:
+ Bước 1 thảo luận nhóm với 10 chuyên gia là các cán bộ, giảng viên đang công tác tại các trường đại học trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh và công ty kiểm toán có
uy tín
+ Bước 2 là tiến hành khảo sát thử tại 30 công ty đại chúng để điều chính các yếu tố trong thang đo ở bảng câu hỏi khảo sát
• Nghiên cứu định lượng:
- Tác giả thực hiện khảo sát với mẫu gồm 223 cán bộ kế toán đang làm việc ở các CTĐC tại Việt Nam thông qua bảng câu hỏi khảo sát hoàn chỉnh nhắm thu thập, phân tích dữ liệu khảo sát, ước lượng và kiểm tra mô hình Cán bộ kế toán được khảo sát là những người đảm nhiệm vị trí kế toán trưởng của các CTĐC, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán và đang chịu trách nhiệm chính về hoạt động của bộ phận kế toán trong công ty
Trang 39- Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phục vụ quá trình phân tích dữ
liệu đã thu thập Trong đó thực hiện các kỹ thuật: thống kê mô tả; phân tích nhân tố khám phá EFA; kiểm định thang đo cronbach’s alpha; phân tích hồi qui bội, kiểm định mô hình nghiên cứu; kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu; kiểm định phương sai ANOVA và kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể độc lập (independent samples t-test)
3.1.3 Mô h ình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu:
• Mô hình nghiên cứu:
Tác giả căn cứ vào mô hình nghiên cứu của Guerreiro (2008) và có thay đổi phương pháp xác định các nhân tố cho phù hợp với điều kiên thực tế, đồng thời kết hợp với các nhân tố vi mô đã được khám phá trong các nghiên cứu trước đây (Đã được trình bày trong chương 1) để đề xuất các nhân tố chủ chốt có tác động đến sự
sẵn sàng áp dụng IFRS của các công ty đại chúng tại Việt Nam theo sơ đồ sau:
(Nguồn: Guerreiro (2008) và tổng hợp của tác giả)
Nội dung các biến trong nghiên cứu:
- Biến phụ thuộc MĐSSADIFRS: Mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS
ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH (DEBT)
QUY MÔ CÔNG TY (SIZE)
LO ẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN (AUD)
T ĐCM CỦA KẾ TOÁN (EDU)
DỤNG IFRS TẠI CÁC
RS)
Trang 40Tác giả phân loại các công ty mẫu vào 4 nhóm theo các đặc tính cụ thể, MĐVDIFRS là biến phụ thuộc dùng để chỉ mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS
của các công ty trong 4 nhóm Tác giả xác định mức độ sẵn sàng của mỗi
nhóm bằng cách phân tích các phản hồi từ các câu hỏi sau:
*Chuẩn mực đang áp dụng: Chuẩn mực kế toán nào hiện tại đang sử dụng tại công ty?
+ Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)
+ Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và IFRS
*Đánh giá ảnh hưởng: Công ty đã đánh giá tác động của IFRS đối với chất lượng báo cáo tài chính?
+ Không đánh giá
+ Đang trong quá trình đánh giá
+ Đã đánh giá
*Sự chuyển đổi ban đầu: Công ty đã bắt đầu quá trình chuyển đối tới IFRS?
+ Không chuyển đổi
+ Đang trong quá trình chuyển đổi
+ Đã bắt đầu quá trình chuyển đổi
Dựa vào các câu trả lời, tác giả phân loại các công ty mẫu vào 4 nhóm như sau:
Nhóm 1 – PREP 1: Các công ty sử dụng chuẩn mực VAS, chưa bắt đầu quá trình chuyển đổi và không đánh giá tác động của IFRS
Nhóm 2- PREP 2: Các công ty sử dụng chuẩn mực VAS, đã bắt đầu quy trình chuyển đổi và bắt đầu quy trình đánh tác động của IFRS
Nhóm 3- PREP 3: Các công ty sử dụng chuản mực VAS, đã bắt đầu quy trình chuyển đổi và đã hoàn thành đánh giá tác động của IFRS
Nhóm 4 – PREP 4: Các công ty đang sử dụng song song VAS và IFRS