31 2.4 Đặc điểm kinh doanh của ngành bảo hiểm phi nhân thọ tác động đến các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ... TÓM T ẮT Tiêu đề: “Các nhân tố ảnh hưởng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THÀNH ĐẠT
TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
TP Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2020
Trang 2
LÊ THÀNH ĐẠT
TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: K ế Toán (Hướng nghiên cứu)
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sĩ với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính h ữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân th ọ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” là do tôi thực hiện nghiên cứu riêng dưới
sự hướng dẫn của Thầy PGS.TS Nguyễn Việt
Những kết quả nêu ra trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Các vấn đề được tham khảo và tổng hợp từ những nghiên cứu khác đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan của mình
Lê Thành Đạt
Trang 4M ỤC LỤC
TRANG PH Ụ BÌA
L ỜI CAM ĐOAN
M ỤC LỤC
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH M ỤC CÁC HÌNH
TÓM T ẮT
ABSTRACT
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa thực tiễn đề tài 3
6 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1 T ỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
1.1 Các nghiên cứu công bố nước ngoài 5
1.2 Các nghiên cứu công bố trong nước 8
1.3 Nhận xét các công trình nghiên cứu 13
1.3.1 Nhận xét các công trình nghiên cứu nước ngoài 13
1.3.2 Nhận xét các công trình nghiên cứu trong nước 13
1.4 Khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 14
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 16
Trang 52.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 16
2.1.1 Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ 16
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ 18
2.1.3 Báo cáo COSO (2013) 20
2.1.4 Lợi ích và hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ 22
2.2 Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ 24
2.2.1 Khái niệm tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ 24
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ 25
2.3 Các lý thuyết nền có liên quan 30
2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm 30
2.3.2 Lý thuyết thông tin hữu ích 31
2.4 Đặc điểm kinh doanh của ngành bảo hiểm phi nhân thọ tác động đến các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2 Quy trình nghiên cứu 37
3.3 Thiết kế nghiên cứu 39
3.3.1 Thiết lập mô hình và xây dựng giả thuyết nghiên cứu 39
3.3.2 Xây dựng thang đo 40
3.3.3 Kích thước mẫu và tiến trình thu thập dữ liệu 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 45
Trang 6CHƯƠNG 4 K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
4.1 Giới thiệu tổng quan về các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh 46
4.2 Kết quả nghiên cứu 47
4.2.1 Thống kê mô tả 47
4.2.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha 49
4.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) 52
4.2.4 Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính bội 57
4.2.5 Kiểm định các giả định hồi quy 61
4.2.6 Bàn luận kết quả nghiên cứu 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 66
CHƯƠNG 5 K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
5.1 Kết luận 67
5.1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong các DN BHPNT trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh 67
5.1.2 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong các DN BHPNT trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh 68
5.2 Kiến nghị 69
5.2.1 Kiến nghị đối với hoạt động đánh giá rủi ro 70
5.2.2 Kiến nghị đối với hoạt động kiểm soát 71
5.2.3 Kiến nghị đối với thông tin và truyền thông 72
5.2.4 Kiến nghị đối với môi trường kiểm soát 73
5.2.5 Kiến nghị đối với hoạt động giám sát 74
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 75
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 75
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
PH Ụ LỤC
Trang 8DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AAA : Hiệp hội kết toán Hoa Kỳ
AICPA : Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
BCTC : Báo cáo tài chính
BHPNT : Bảo hiểm phi nhân thọ
CAP : Ủy ban thủ tục kiểm toán
CoBit : Các mục tiêu kiểm soát trong cộng nghệ thông tin và các
lĩnh vực có liên quan
COSO
: Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission (Ủy ban các tổ chức tài trợ cho Ủy ban Treadway)
EFA : Phân tích nhân tố khám phá
HTKSNB : Hệ thống kiểm soát nội bộ
IFAC : Liên đoàn kế toán quốc tế
IIA : Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ
IMA : Hiệp hội kế toán viên quản trị
ISA : Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Trang 9DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU
B ảng 3.1: Số lượng khảo sát định tính 44
B ảng 3.2: Số lượng phiếu khảo sát được phát ra 45
B ảng 4.1: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của các biến độc lập 49
B ảng 4.2: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha biến phụ thuộc 52
B ảng 4.3: Kết quả kiểm định về tính thích hợp của phương pháp và dữ liệu thu thập 53
B ảng 4.4: Kết quả kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố 54
B ảng 4.5: Ma trận nhân tố xoay (Rotated Component Matrixa) 55
B ảng 4.6: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA đối với các biến phụ thuộc 56
B ảng 4.7: Bảng trọng số hồi quy 58
B ảng 4.8: Kết quả phân tích mức độ giải thích của các biến phụ thuộc của các biến độc lập 59
B ảng 4.9: Bảng kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình 59
Trang 10DANH M ỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Khung nghiên cứu (Olof Arwinge (2014)) 6
Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong các DN BHPNT tại Việt Nam 12
Hình 2.1: Các bước của quy trình đánh giá rủi ro 27
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu chi tiết 38
Hình 4.1: Phần trăm phản hồi theo vị trí công tác 47
Hình 4.2: Phần trăm phản hồi theo trình độ 47
Hình 4.3: Phần trăm phản hồi theo loại hình doanh nghiệp 48
Hình 4.4: Phần trăm phản hồi theo vốn điều lệ của doanh nghiệp 48
Trang 11TÓM T ẮT
Tiêu đề: “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát
nội bộ trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh”
Tóm t ắt:
Qua hơn 50 mươi năm phát triển ở Việt Nam, bảo hiểm phi nhân thọ đã và đang phát triển mạnh mẽ, góp phần phát triển kinh tế, xã hội Lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ đang trở nên cạnh tranh khốc liệt, tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động nhưng hệ thống kiểm soát nội bộ đang bộc lộ nhiều điểm yếu kèm, chưa có sự hữu hiệu, hiệu quả trong hoạt động Vì vậy, tác giả nghiên cứu đề tài “Các nhân tố ảnh
hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp bảo
hi ểm phi nhân thọ trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh” để xác định các nhân tố và đo
lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu thì tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (nghiên cứu định tính và định lượng) Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố
và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh được sắp xếp giảm dần mức độ ảnh hưởng là: đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, môi trường kiểm soát, giám sát Thông qua đó tác giả đưa ra các kiến nghị theo từng nhân tố tác động để cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
T ừ khóa: hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB), doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ (DN BHPNT), địa bàn Tp Hồ Chí Minh
Trang 12ABSTRACT
Title: “The research of Factors affecting the Effectiveness of Internal Control
Systems in Non-life insurance enterprises on Ho Chi Minh City”
Abstract
After more than 50 years of development in Vietnam, non-life insurance has been a strong service development sector, contributing to economic and social development The non-life insurance sector is becoming fiercely competitive, potentially risky in operation but the internal control system is showing many attached weaknesses, which have not worked effectively Therefore, the author of the research topic “Factors affecting the effectiveness of the internal control system
in non- life insurance enterprises in the city Ho Chi Minh City” to identify factors
and measure the impact of these factors on the effectiveness of internal control systems in non-life insurance enterprises in Ho Chi Minh City To solve the research problem, the author used qualitative methods combined with quantitative methods The research results show that the factors and the influence of the factors affecting the effectiveness of internal control systems in non-life insurance enterprises in the Ho Chi Minh City is arranged to gradually reduce the level of influence: risk assessment, control activities, information and communication, control environment and monitoring Through that, the author makes recommendations according to each impact factor to improve the performance of internal control systems in the non-life insurance enterprises in the Ho Chi Minh City
Keywords: internal control system, non-life insurance enterprises, Ho Chi
Minh City
Trang 13PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, bảo hiểm phi nhân thọ là một ngành dịch vụ đang phát triển rất mạnh mẽ, có vai trò cực kỳ quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế, đời sống trong xã hội Nếu bảo hiểm nhân thọ là bảo hiểm gắn liền với tuổi thọ con người thì bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm về tài sản, sức khỏe và trách nhiệm dân
sự Hoạt động này dựa trên nguyên tắc số đông cho nên có vai trò quan trọng trong việc huy động một lượng lớn vốn để tài trợ cho sản xuất, kinh doanh Bảo hiểm phi nhân thọ là hoạt động “kinh doanh trên rủi ro” Chia sẻ rủi ro của những cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm, góp phần ổn định sản xuất và đời sống Sản phẩm của bảo hiểm phi nhân thọ là sản phẩm vô hình Về bản chất bảo hiểm là một dịch vụ, nhưng dịch vụ này có đặc điểm riêng đó là lời hứa, một lời cam kết mà công ty bảo hiểm “bán” ra cho khách hàng của mình Khách hàng đóng phí để “mua” những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai của doanh nghiệp bảo hiểm Do vậy, lòng tin và chất lượng dịch vụ chính là chìa khóa thành công của ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng
Lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ đang hấp dẫn các nhà đầu tư mới cả trong và ngoài nước Nhu cầu về bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe cơ giới ngày càng gia tăng, trong khi thiếu các sản phẩm có chất lượng, nhất là sản phẩm cá nhân Sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt Theo số liệu từ Hiệp Hội Bảo Hiểm Việt Nam, thị phần của Top 5 công ty dẫn đầu như Bảo Việt, PVI, PJICO, PTI, Bảo Minh…đang có xu hướng giảm (từ 70% xuống còn 60%) vô hình chung làm tăng khả năng cạnh tranh thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khác Để tăng tính cạnh tranh trên thị trường, mở rộng quy mô kinh doanh thì các công ty BHPNT hiện tại đang tập trung nghiên cứu sản phẩm mới, hoàn thiện bộ máy quản
lý cũng như bộ máy kiểm soát nội bộ
Thực tế cho thấy, vai trò của HTKSNB trong các DN BHPNT được các nhà
quản trị hết sức quan tâm Bởi vì hiện nay vẫn còn phát sinh nhiều vụ trục lợi bảo hiểm, làm giả ấn chỉ để lừa đảo khách hàng, nhân viên kinh doanh chiếm dụng phí
Trang 14bảo hiểm của khách hàng Theo báo cáo của cục Quản lý – Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), trong giai đoạn 2007-2014, tổng số vụ trục lợi bảo hiểm bị phát hiện và
có bằng chứng cụ thể để từ chối chi trả bảo hiểm là gần 64.000 vụ, tăng trung bình 31,3%/năm; tổng số tiền trục lợi khoảng 850 tỉ đồng, trung bình gần 110 tỉ đồng/năm Ngoài ra, bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng cũng đang trong tầm ngắm của tội phạm rửa tiền Làm tiềm ẩn rất nhiều rủi ro tác động lên hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ (https://webbaohiem.net)
Đứng trước thực trạng trên, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hiểu rất
rõ hệ thống KSNB có vai trò sống còn trong hoạt động của họ Tuy nhiên, hệ thống KSNB có hoạt động tốt hay không thì tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi địa bàn kinh doanh, mỗi doanh nghiệp Vì vậy, cần thực hiện các nghiên cứu nhằm nhận diện các nhân tố và đo lường mức độ ảnh hưởng của chúng đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên một địa bàn là thực sự cần thiết
Vì lí do này mà tác giả chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu
c ủa hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn TP HCM”
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát mà nghiên cứu hướng đến là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu sẽ tập trung vào hai mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn TP HCM
Thứ hai là đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hữu hiệu của HTKSNB trong các DN BHPNT trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
Để giải quyết hai mục tiêu trên, nghiên cứu sẽ tập trung giải quyết hai câu
hỏi:
Trang 15- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn TP.HCM?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các DN BHPNT trên đại bản TP.HCM như thế nào?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB tại các DN BHPNT trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Khảo sát thực nghiệm trong luận văn được thực hiện tại các
DN BHPNT trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
- Về thời gian: Khoảng thời gian để thưc hiện khảo sát là từ tháng 06/2019 đến tháng 10/2019
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng, cụ thể:
Phương pháp định tính: dựa trên các nghiên cứu trước đã công bố, cùng các lý thuyết về HTKSNB của COSO (2013) và tham khảo ý kiến chuyên gia để xây dựng, hoàn chỉnh mô hình và bảng câu hỏi khảo sát
Phương pháp định lượng: Thiết kế thang đo của các nhân tố của HTKSNB, đánh giá giá trị và độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích khám phá EFA, đánh giá và kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy, phân tích hồi quy tuyến tính bội để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các DN BHPNT trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
5 Ý nghĩa thực tiễn đề tài
Kết quả của luận văn nghiên cứu đã xác định được các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của những nhân tố đó tới tính hữu hiệu của HTKSNB trong các DN BHPNT trên địa bản TP Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, các nhà quản lý trong lĩnh vực kinh
Trang 16doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, bảo hiểm nói chung có thể nhận diện những yếu kém, đồng thời có kế hoạch nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB theo đặc điểm của doanh nghiệp mình Giúp phát huy hết vai trò của hệ thống KSNB trong các DN BHPNT
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài Phần mở đầu và kết luận chung, luận văn nghiên cứu gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 17Tác giả Olof Arwinge (2014) với đề tài: “Kiểm soát nội bộ trong ngành tài chính – Nghiên cứu công ty bảo hiểm” đã xây dựng một khung nghiên cứu để nghiên cứu HTKSNB của Công ty bảo hiểm ở Thụy Điển là Folksam Nghiên cứu của tác giả là kiểm tra làm thế nào và tại sao môi trường và các yếu tố đặc thù của Công ty lại ảnh hưởng đến thiết kế, sử dụng và kết quả đầu ra của HTKSNB Tức là tác giả tập trung nghiên cứu các nhân tố trong doanh nghiệp tác động như thế nào đến việc thiết kế, sử dụng HTKSNB
Trang 18Trường hợp
Thi ết kế và sử dụng
K ết quả đầu ra
Hình 1.1: Khung nghiên c ứu (Olof Arwinge (2014))
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi chiến lược công ty không thành công, công ty gặp phải khủng hoảng lớn trong năm 1990 Công ty đã thay đổi các nhà quản lý đã góp phần thay đổi thái độ trong quản trị rủi ro Việc xây dựng HTKSNB giảm rủi ro nội bộ, đề phòng rủi ro bên ngoài càng được nhìn nhận đúng đắn vai trò của nó từ những nhà quản trị mới Qua đó cho thấy việc thay đổi nhận thức của nhà quản trị
về quản trị rủi ro là hết sức cần thiết để hướng công ty đi theo đúng chiến lược đề
ra Từ đó, tác giả kết luận rằng có hai nhân tố ảnh hưởng tới việc thiết kế và sử dụng HTKSNB trong doanh nghiệp đó là đánh giá rủi ro và bộ máy lãnh đạo Việc thiết
kế, sử dụng HTKSNB không được rập khuôn như lý thuyết mà phải tích hợp với đánh giá rủi ro, chiến lược công ty, bối cảnh bên ngoài…
Stephen Amponsah, Kofi Osei Adu và Anthony Amissah (2015) với đề tài:
“Đánh giá HTKSNB một số doanh nghiệp bảo hiểm ở Ghana” đã sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) để đánh giá HTKSNB một số Công ty bảo hiểm ở Ghana Dữ liệu được thu thập từ các kiểm toán viên nội bộ trong ngành bảo
Tính không chắc
Chiến lược
Thiết kế và sử dụng
Kết quả của HTKSNB
Trang 19hiểm ở Ghana, có 91 câu hỏi được khảo sát thành công Tác giả đã thống kê sự khác biệt của HTKSNB giữa các công ty bảo hiểm thông qua các biến phụ thuộc: hoạt động kiểm soát, giám sát, thông tin và truyền thông, môi trường kiểm soát và đánh giá rủi ro Dựa trên kết quả của nghiên cứu, tác giả đã kết luận rằng các công ty bảo hiểm phi nhân thọ có HTKSNB hiệu quả hơn các công ty bảo hiểm nhân thọ và các công ty khác (môi giới bảo hiểm, tái bảo hiểm) Nghiên cứu cũng tiết lộ rằng các công ty bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ cũng như các công ty môi giới thực hiện các biện pháp giám sát đầy đủ hơn các công ty môi giới, tái bảo hiểm Do đó, Ủy ban bảo hiểm quốc gia cần quan tâm nhiều đến môi giới tái bảo hiểm, tái bảo hiểm trong việc đảm bảo thực hiện các biện pháp kiểm soát nội bộ
Nghiên cứu của các tác giả Siyanbola Trimisiu Tunji, Oyebamiji Taofeek Adewale, Ibrahim John (2016) với đề tài: “Vai trò của HTKSNB hiệu quả với kinh doanh bảo hiểm” đã chọn ngẫu nhiên năm công ty bảo hiểm trong sáu mươi công ty
bảo hiểm đang hoạt động ở bang Adamawa tại nước Nigeria để nghiên cứu xem tác động của HTKSNB đến hiệu quả hoạt động của các Công ty bảo hiểm Tác giả đã thiết kế bảng khảo sát với thang đo liker 5 cấp độ từ không đồng ý tới hoàn toàn đồng ý Khảo sát 50 nhân viên cũng như 50 khách hàng của mỗi công ty trong năm công ty được chọn Nghiên cứu đưa ra một số kết luận về HTKSNB như sau: HTKSNB có tác động trực tiếp tới hiệu suất của Công ty bảo hiểm, sự tồn tại của HTKSNB đã làm giảm sự xuất hiện của các hành vi gian lận trong Công ty bảo hiểm ở bang Adamawa, nhân viên KSNB không được chi trả thù lao đúng với năng lực, làm giảm hiệu quả trong công việc, bộ máy quản lý không cam kết đảm bảo giám sát hiệu quả HTKSNB trong ngành
Từ kết quả của nghiên cứu thì tác giả đã đưa ra một số kiến nghị như sau:
- Một hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập tốt là bắt buộc đối với tất cả các công ty trong ngành bảo hiểm
- Tất cả các luật và quy định phải được thực thi nghiêm ngặt và có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của vi phạm
Trang 20- Nâng cao năng lực trình độ của nhân viên đơn vị kiểm soát nội bộ, luân chuyển công việc giữa các nhân viên
- Nâng cao nhận thức của nhà quản trị về vai trò của HTKSNB, khuyến khích họ trao đổi kinh nghiệm với những nhà lãnh đạo khác trong ngành Đồng thời trao quyền cho các nhà quản lý, nhân viên của đơn vị kiểm soát nội bộ thực thi trách nhiệm của mình
Nghiên cứu của tác giả Ritah Ndunge Kilemi (2018) với đề tài: “Các nhân tố tác động đến gian lận bồi thường ở các công ty bảo hiểm tại Nairobi, Kenya” đã nghiên cứu ba nhân tố tác động tới gian lận bồi thường là động lực nhân viên, dịch
vụ bồi thường và kiểm soát nội bộ Tác giả đã khảo sát bằng bảng câu hỏi đối với
136 mẫu là các nhân viên làm việc tại 35 công ty bảo hiểm tại Nairobi, Kenya Sau đó dùng thống kê mô tả để xem xét mức độ ảnh hưởng của ba nhân tố đó tới gian lận bồi thường Kết quả cho thấy, kiểm soát nội bộ trong các công ty bảo hiểm ở Nairobi có nhiều sơ hở để nhân viên dễ dàng gian lận trong quá trình bồi thường
Từ đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ như phát triển một số cơ sở dữ liệu để hỗ trợ phát hiện thông tin bất thường ở giai đoạn yêu cầu bồi thường như xác minh thông tin được cung cấp bởi người yêu cầu bồi thường; nâng cao năng lực của nhân viên phòng IT; cải tiến hệ thống thông tin để hỗ trợ phát hiện gian lận
1.2 Các nghiên cứu công bố trong nước
Nghiên cứu của tác giả Vũ Phan Bảo Uyên (2011) về: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí Việt Nam” Tác giả nghiên cứu phản ánh và đánh giá thực trạng hoạt động KSNB của Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVI) nhằm kiểm soát rủi ro, nhận biết những hạn chế và nghiên cứu những hạn chế của HTKSNB tại PVI Tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng để hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu tại Tổng Công ty CP bảo hiểm dầu khí Việt Nam Từ đó, nghiên cứu đã tìm ra được những hạn chế trong HTKSNB tại PVI như: chưa có các quy trình cụ thể mô tả HTKSNB, các công ty thành viên hầu như không tổ chức đào tạo nhân
Trang 21viên về HTKSNB, thiếu sự giám sát của chặt chẽ lẫn nhau của các nhân viên cùng phòng ban, tạo điều kiện gian lận trong chính nhân viên của Công ty…Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những yếu kém trên như chính sách nhân sự và đào tạo nhân viên của PVI vẫn còn nhiều khiếm khuyết; Ban giám sát vẫn còn lơ là trong nhiệm
vụ, thiếu sự sát sao; ban lãnh đạo cao cấp tại Tổng Công ty CP bảo hiểm dầu khí và các công ty thành viên vẫn còn chưa được đào tạo chuyên sâu về KSNB Từ đó, tác giả đưa ra một số các kiến nghị nhằm mục đích hoàn thiện HTKSNB như: sử dụng phần mềm PAIS để thực hiện các hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm cũng như kế toán, bồi thường…, đào tạo nhân viên về KSNB, tuyển dụng thêm IT phụ trách mỗi đơn vị thành viên để đảm bảo hệ thống phần mềm PAIS hoạt động liên tục, thành lập phòng kiểm tra hợp đồng Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế của đề tài: dữ liệu khảo sát nhỏ, những đánh giá về HTKSNB của tác giả vẫn còn nhiều ý kiến chủ quan, chưa lượng hóa để đánh giá mức độ tác động
của các nhân tố tới tính hữu hiệu của HTKSNB tại đơn vị PVI
Tác giả Dương Thị Nhi (2013) với bài báo: “Kiểm soát nội bộ bảo hiểm, những vấn đề gốc rễ” được đăng trong báo Đầu tư chứng khoán số ra ngày 07/02/2013 Theo kết quả khảo sát của Ernt & Young Việt Nam thì hoạt động kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp bảo hiểm rất yếu kém (theo Đầu tư chứng khoán số
ra ngày 01/02/2013) Tác giả đã khảo sát thực tế về kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam Từ đó, tác giả nêu ra các nhược điểm và đề xuất giải pháp để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng Năm 2007, nhà nước ban hành nghị định 45/2007/NĐ-CP để quy định chi tiết về kiểm tra, KSNB tại các doanh nghiệp bảo hiểm Năm 2012 ban hành thông tư 124/2012/TT-BTC “hướng dẫn chi tiết về hoạt động kiểm tra, KSNB trong DNBH” Theo đó thì doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng và ban hành các quy trình nghiệp vụ và tổ chức kiểm tra, KSNB Các quy định đưa ra nhìn chung là rất chi tiết, chụ thể nhưng khi thực hiện thực tế lại chưa được đáp ứng Các DNBH hiện nay đang triển khai HTKSNB chưa đồng bộ và quy chuẩn Việc cập nhật rủi ro và hoàn thiện HTKSNB chưa được thực hiện thường xuyên Các hướng cải thiện được tác giả đưa ra để giải quyết các vấn đề còn tồn
Trang 22đọng Nhìn chung, tác giải dựa trên năm nhân tố cơ bản của HTKSNB để nêu ra các giải pháp nhằm nâng cao tính hữu hiệu của HTKSNB Các giải pháp đựa nếu ra là: xây dựng môi trường kiểm soát hiệu quả, nâng cao tư duy các cấp lãnh đạo về chính HTKSNB, mỗi cá nhân trong doanh nghiệp phải có ý thức tự kiểm soát mình, đồng thời kiểm soát những người/bộ phận khác; truyền thông của doanh nghiệp phải làm tốt nhiệm vụ để đánh bật những phản ứng tiêu cực, e ngại trong việc thay đổi của nhân viên trong doanh nghiệp; xây dựng các hoạt động kiểm soát dựa trên nguyên tắc ba tầng kiểm soát; tại mỗi bộ phận của doanh nghiệp cần cần nâng cao vai trò của hoạt động đánh giá rủi ro, xác định cơ chế kiểm soát cho từng phần hành, phòng ban, nhân viên từ những rủi ro tiềm tàng
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2016) với đề tài: “Hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam” đã nêu bật lên đặc điểm của HTKSNB trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam Tác giả sử dụng nghiên cứu định tính để khảo sát thực trạng các nghiên cứu
về kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp bảo hiểm trong và ngoài nước Bên cạnh đó tác giả còn khảo sát 15/30 DN BH phi nhân thọ trong đó có 11 DNBH trong nước, 4 DNBH có vốn nước ngoài Tác giả đã nêu bật được thực trạng đặc điểm HTKSNB trong các DN BHPNT ở Việt Nam Từ đó, tác giả đã nếu ra những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các DN BHPNT
ở Việt Nam Ưu điểm của nghiên cứu này là tác giả đã tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng HTKSNB trong các DN BHPNT ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu từ đó rút ra bài học cho việc xây dựng HTKSNB cho các DN BHPNT tại Việt Nam Tuy nhiên, nhược điểm của nghiên cứu này là chưa lượng hóa bằng nghiên cứu định lượng để phân tích mức độ tác động của các nhân tố tác động tới tính hữu hiệu của HTKSNB trong các DN BHPNT tại Việt Nam
Tác giả TS Nguyễn Quang Hiện, ThS Phạm Huyền Trang (2017) trong
“Hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ” được đăng trên Tạp chí tài chính Nghiên cứu đã nêu được thực trạng phát triển của bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 Nhưng đó cũng tạo
Trang 23nên nhiều áp lực cạnh tranh, yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam phát triển bền vững, cải tiến hệ thống quản trị và công nghê tiên tiến Bài báo cũng tóm tắt được thực trạng quản trị rủi ro trong DN bảo hiểm phi nhân thọ Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tại doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ như chủ động xây dựng; triển khai quản trị rủi ro, xây dựng các mục tiêu, chiến lược rủi ro; phát huy tốt vai trò công tác định phí; đào tạo và phát triển nhân
sự đáp ứng được yêu cầu quản trị rủi ro; xây dựng hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản trị DNBH và phát triển kinh doanh
Tác giả Trương Khánh Phương, (2019) dựa vào 5 yếu tố cơ bản cấu thành của HTKSNB theo COSO (2013) Ngoài ra, tác giả còn tìm tòi, phỏng vấn các chuyên gia trong ngành bảo hiểm phi nhân thọ bằng bảng câu hỏi định tính để phát hiện thêm nhân tố mới tác động tới tính hữu hiệu của HTKSNB trong các Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam Điểm mới mà tác giả đã tìm ra đó là công nghệ thông tin trong đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát n ội tại các Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam” Như vậy nội
dung nghiên cứu của đề tài là các nhân tố: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, giám sát Bên cạnh đó, tác giả thực hiện nghiên cứu định tính để tìm ra nhân tố mới đó là công nghệ thông tin
Trang 24Hình 1.2: Mô hình nghiên c ứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu
c ủa HTKSNB trong các DN BHPNT tại Việt Nam
(Nguồn: Tác giả Trương Khánh Phương (2019)) Tác giả dựa vào mô hình nghiên cứu trên, kết hợp nghiên cứu định lượng, thu
thập số liệu thông qua khảo sát các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn
Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh và Bình Dương Tác giả đã đo lường được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong các doanh nghiệp bảo
hiểm PNT tại Việt Nam Có thể sắp xếp mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp của các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong các DNBH PNT tại Việt Nam như sau: đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, công nghệ thông tin, môi trường kiểm soát và giám sát
Thông qua đó, tác giả cũng đã đề xuất nhiều chính sách cũng như định hướng nhằm tăng tính hữu hiệu cho HTKSNB trong các DN BHPNT như xem trọng quy tắc đạo đức trong kinh doanh để tạo dựng môi trường kiểm soát trong sách, xây
Trang 25dụng các tiêu chuẩn đánh giá rủi ro, rà soát lại các quy trình một cách thường xuyên
và định kỳ, đầu tư vào công nghệ thông tin Bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn hạn chế đó là nghiên cứu của tác giả lấy mẫu tập trung ở Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương, khảo sát cũng thực hiện năm 2018 Điều đó làm mất đi tính tổng quát và tính cấp thiết của đề tài
1.3 Nhận xét các công trình nghiên cứu
1.3.1 Nhận xét các công trình nghiên cứu nước ngoài
Các công trình nghiên cứu nước ngoài đã nêu bật được vai trò của HTKSNB trong các công ty cũng như các công ty bảo hiểm Nhưng ít các nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu các nhân tố cũng như mức độ ảnh hưởng của chúng tới tính hữu hiệu của HTKSNB trong các công ty bảo hiểm cũng như bảo hiểm phi nhân thọ Ngoài ra, môi trường hoạt động của các nước khác nhau nên ảnh hưởng đến HTKSNB cũng khác nhau Do đó, khi phân tích tính hữu hiệu của HTKSNB trong các nước đang phát triển như Việt Nam cụ thể là Tp Hồ Chí Minh thì vẫn có thể thay đổi, cần kiểm định lại cho phù hợp với môi trường phân tích
1.3.2 Nhận xét các công trình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước đã nêu được thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam từ đó đề ra giải pháp hoàn thiện Tuy nhiên đa số các nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để nêu lên thực trạng của HTKSNB trong các DN BHPNT Rất ít các nghiên cứu sử dụng mô hình và khảo sát số liệu để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới tính hữu hiệu của HTKSNB trong các DN BHPNT
1.4 Khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu
Từ những nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy yêu cầu cấp thiết phải nâng cao tính hữu hiệu của HTKSNB trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam nói chung cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh nói riêng Ở Việt Nam thì đã có các nghiên
cứu hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng có rất ít các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngành bảo hiểm cũng như bảo hiểm phi nhân thọ Mà đặc biệt Tp Hồ
Trang 26Chí Minh hiện nay là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước, tập trung gần như đầy
đủ các văn phòng kinh doanh, chi nhánh, tổng công ty của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có mặt trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam Nhưng lại chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của của nhân tố đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong các DN BHPNT trên địa bàn Tp
Hồ Chí Minh Tác giả Trương Khánh Phương (2019) đã tiến hành nghiên cứu với
đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội tại các Doanh nghi ệp kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam” tuy nhiên vẫn còn hạn chế như
phạm vi nghiên cứu rộng nhưng thực hiện khảo sát chỉ tập trung ở Hà Nội, Bình Dương và Tp Hồ Chí Minh Chính điều này làm mất đi tính tổng quát cũng như mức độ đại diện của mẫu Bên cạnh đó, với mong muốn tìm hiểu sâu và tập trung hơn vấn đề này tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn Tp HCM, một thành phố năng động, có mặt đầy đủ 31/31 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường Việt Nam
Trên cơ sở kế thừa kết quả đạt được, từ những nghiên cứu trước cũng như những vấn đề tồn tại, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu về HTKSNB ở khía cạnh
“Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB trong các doanh nghiệp
b ảo hiểm phi nhân thọ” Tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu trên địa bàn Tp Hồ Chí
Minh, trong đó tác giả sẽ kiểm định lại các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB là năm thành phần chính theo COSO (2013): môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nội dung chính của chương này giúp lượt khảo lại các nghiên cứu trong và ngoài nước về HTKSNB cũng như HTKSNB trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Từ đó, cho người đọc nắm được bức tranh toàn cảnh của sự cần thiết của HTKSNB trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
Trang 27Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu trước, tác giả đã xác định được khe hổng nghiên cứu, từ đó đưa ra tính cấp thiết của đề tài và hướng nghiên cứu để làm nền tảng trình bày các chương tiếp theo của luận văn
Trang 28CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.1 Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ
Một số quan điểm về hệ thống kiểm soát nội bộ như:
Theo từ điển tiếng Việt: “Kiểm soát là một phương tiện nhằm giảm thiểu những yếu tố gây tác động xấu tới một đối tượng nào đó” (từ điển tiếng Việt, 2000, trang 3)
Theo quan điểm của liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC): “Kiểm soát nội bộ là một hệ thống gồm các chính sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn vị, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả của các hoạt động”
Theo quan điểm của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) năm 1936: “KSNB là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”
Theo chuẩn mực kiểm toán số 35 của Việt Nam: “Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn
vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan.”
Theo điều 39 luật kế toán số 88/2015/QH13 có hiệu lực 01/01/2017 lại cho rằng: “KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các
cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”
Theo COSO (2013): “Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi
Hội đồng quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung
Trang 29cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, sự tin cậy của BCTC, sự tuân thủ của các luật lệ và quy định” Trong khái niệm của tổ chức COSO (2013) nhấn mạnh đến 4 nội dung quan trọng:
- KSNB là một quá trình: KSNB không chỉ là một tình huống, sự kiện riêng
lẻ mà nó là sự kết hợp một chuỗi các hoạt động, hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị
- KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: trong khái niệm có nêu rất
rõ KSNB do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì…Do đó KSNB trong đơn vị bị ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố con người Trong đó, Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát thông qua những chính sách, thủ tục, biểu mẫu…
- KSNB đảm bảo tính hợp lý cho nhà quản lý: KSNB chỉ đảm bảo tính hợp lý
chứ không đảm bảo tính tuyệt đối trong việc thực hiện các mục tiêu của nhà quản lý Vì KSNB không thể ngăn chặn việc sai sót của con người, sự thông đồng, sự yếu kèm, lạm quyền của nhà quản trị không bao giờ xảy ra Mà KSNB chỉ có thể ngăn chặn, phát hiện sớm khi những rủi ro đó xảy ra Các mục tiêu của hệ thống KSNB:
- Mục tiêu tuân thủ: KSNB của đơn vị đảm bảo các hoạt động của đơn vị tuân thủ pháp luật, quy định của nhà nước; yêu cầu quản lý; chính sách và quy trình nghiệp vụ của đơn vị
- Mục tiêu hoạt động: phải sử dụng hiệu quả các tài sản và nguồn lực của đơn
vị để hạn chế rủi ro; đảm bảo sự phối hợp, làm việc của toàn bộ nhân viên
để đạt được mục tiêu của đơn vị; tránh thất thoát, lãng phí
- Mục tiêu báo cáo: việc lập báo cáo tài chính và phi tài chính phải trung thực, hợp lý, đáng tin cậy phục vụ mục đích sử dụng của các bên cần đọc báo cáo Báo cáo phải được lập trên các chuẩn mực, chính sách về kế toán,
quản lý đã được xác định rõ ràng
Trang 302.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ 2.1.2.1 Giai đoạn sơ khai
Năm 1929, thuật ngữ “Kiểm soát nội bộ” được đề cập lần đầu tiên bởi Cục dự trữ liên ban Hoa Kỳ Theo đó “KSNB là công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của Kiểm toán viên”
Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã đưa ra định nghĩa về KSNB: “KSNB là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”
2.1.2.2 Giai đoạn hình thành
Năm 1949, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA đã thực hiện nghiên cứu về KSNB với đề tài: “KSNB, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”
Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP) ban hành báo cáo thủ tục kiểm toán số 29 (SAP 29) “Phạm vi xem xét KSNB của KTV”, lần đầu tiên phân biệt KSNB về kế toán và KSNB về quản lý
Năm 1962, CAP ban hành SAP 33, trong đó giới hạn nghiên cứu KSNB về kế toán, nhưng không bị buộc đánh giá KSNB về quản lý
Năm 1972, CAP ban hành SAP 54, “Tìm hiểu và đánh giá KSNB” trong đó giới hạn nghiên cứu KSNB về kế toán, đưa ra bốn thủ tục kiểm soát kế toán: phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn, hạn chế tiếp cận tài sản và kiểm kê”
Năm 1973, CAP ban hành chuẩn mực kiểm toán SAS 1 Trong đó kiểm soát quản lý, không chỉ giới hạn ở kế hoạch tổ chức và các thủ tục, mà còn bao gồm quá trình ra quyết định cho phép thực hiện nghiệp vụ của nhà quản lý Kiểm soát kế toán bao gồm các thủ tục và cách thức tổ chức ghi nhận vào sổ sách để bảo vệ tài sản, số liệu mang tính đáng tin cậy
Trang 312.1.2.3 Giai đoạn phát triển
Giai đoạn năm 1970 – 1980, nền kinh tế Hoa Kỳ và các nước phát triển mạnh
mẽ, cùng với vụ bê bối lớn nhất nước Mỹ năm 1972, bê bối Watergate Năm 1977, Luật phòng chống hối lộ nước ngoài ra đời
Năm 1979, SEC bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác
kế toán của các đơn vị Nhưng khi đó vẫn chưa có các tiêu chuẩn đánh giá tính hữu hiệu của HTKSNB
Năm 1985, một ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên báo cáo tài chính là COSO (Committee of Sponsoring Organization) đã bảo trợ cho 05 tổ chức nghề nghiệp kế toán – kiểm toán: Hiệp hội kế toán công chứng Hoa
Kỳ (AICPA), Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) Năm 1992, Báo cáo COSO được ban hành Theo đó, KSNB bao gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Báo cáo COSO (1992) là tài liệu đầu tiên trên thế giới tìm hiểu và định nghĩa về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống Nó cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính chính trị, trong đó KSNB không chỉ còn là 1 vấn đề liên quan đến BCTC
mà còn được mở rộng ra các phương diện hoạt động và tuân thủ COSO đã chính thức đổi KSNB kế toán bằng KSNB
2.1.2.4 Giai đoạn hiện đại (từ 1992 đến nay)
Trên nền tảng báo cáo COSO (1992), các tổ chức nghề nghiệp trên thế giới liên tục phát triển COSO (1992) để ứng dụng nó vào nhiều lĩnh vực khác nhau cũng như thay đổi để phù hợp với điều kiện nền kinh tế lúc đó:
- COSO phát triển trong CNTT như năm 1996, ISACA đã ban hành CoBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trường tin học, bao gồm nhiều lĩnh vực hoạch định tổ chức, mua và triển khai, phân phối, hỗ trợ và giám sát
- COSO phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể-Báo cáo Basel (1998), Báo cáo giám sát ngân hàng
Trang 32- Trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, dựa trên nần tảng COSO ban hành các chuẩn mực SAS 78 (1995), SAS 94 (2001), ISA 315, ISA 265…
- COSO phát triển về phía quản trị - ERM (2004), hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp
- COSO phát triển cho doanh nghiệp nhỏ: năm 2006, COSO triển khai nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính – Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ”
- Năm 2008, COSO ban hành Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB – cũng
là một tiêu chuẩn để đánh giá tính hữu hiệu của HTKSNB
- Gần đây nhất là năm 2013, COSO đã cập nhật khuôn mẫu hệ thống KSNB nhằm hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và giảm thiểu giản lận
2.1.3 Báo cáo COSO (2013)
2.1.3.1 Mục tiêu của báo cáo COSO (2013)
Theo COSO thì KSNB là một quá trình do hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân viên trong đơn vị chi phối, nó được tạo ra để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
- Đảm bảo tính hiệu quả của các hoạt động
- Đảm bảo sự tuân thủ các quy định của đơn vị và luật pháp
- Đảm bảo báo cáo tài chính trung thực, hợp lý
2.1.3.2 Các thành phần cấu thành HTKSNB theo COSO (2013)
Từ năm 1992 đến 2013, theo COSO thì hệ thống kiểm soát nội bộ vẫn bao gồm 5 thành phần: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Nhưng đã có những điểm thay đổi cơ bản tập trung vào 7 điểm chính như sau:
- Ngăn ngừa, phát hiện và giảm thiểu các gian lận
- Ứng dụng sự phát triển của KHCN
- Đáp ứng các nhu cầu, quy định, chuẩn mực
- Thay đổi các mô hình kinh doanh phù hợp với sự biến động của thế giới
- Hướng đến sự toàn cầu hóa thị trường và hoạt động kinh doanh
Trang 33- Tăng cường các chiến lược cạnh tranh
- Tiếp cận theo hướng quản trị kinh doanh ở tầm vĩ mô và trách nhiệm giải trình trước xã hội
Dựa vào 7 khía cạnh chính trên, COSO (2013) đã nêu ra 17 nguyên tắc theo kết cấu bởi 5 thành phần chính cấu thành HTKSNB là:
Môi trường kiểm soát:
Nguyên t ắc thứ 1: Đơn vị thể hiện sự cam kết về tính chính trực, giá trị đạo
đức
Nguyên t ắc thứ 2: Hội đồng quản trị chứng minh phải độc lập với nhà quản
lý, thực thi việc giám sát sự phát triển và hoạt động của KSNB
Nguyên t ắc thứ 3: Nhà quản lý cần thiết lập cơ cấu tổ chức, quy trình báo cáo,
phân chia trách nhiệm và quyền hạn nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị nhưng phải đặt dưới sự giám sát của HĐQT
Nguyên t ắc thứ 4: Đơn vị thể hiện sự cam kết về việc sử dụng nhân viên có
năng lực thông qua tuyển dụng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu của đơn vị
Nguyên t ắc thứ 5: Các cá nhân phải chịu trách nhiệm báo cáo về nhiệm vụ,
quyền hạn của họ trong việc đáp ứng các mục tiêu của đơn vị
Đánh giá rủi ro:
Nguyên t ắc thứ 6: Đơn vị phải thiết lập mục tiêu rõ ràng, đầy đủ để xác định
và đánh giá các rủi ro có thể phát sinh ảnh hưởng đến đạt được mục tiêu của đơn vị
Nguyên t ắc thứ 7: Đơn vị phải nhận diện các rủi ro có thể phát sinh có thể ảnh
hưởng đạt được mục tiêu của đơn vị, tiến hành phân tích các rủi ro để quản lý
Nguyên t ắc thứ 8: Đơn vị cần xem xét các loại gian lận tiềm tàng khi đánh giá
rủi ro đối với việc đạt được mục tiêu của đơn vị
Nguyên t ắc thứ 9: Đơn vị cần xác định, đánh giá những thay đổi của môi
trường ảnh hưởng đến KSNB
Trang 34 Hoạt động kiểm soát:
Nguyên t ắc thứ 10: Đơn vị phải lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát
để góp phần hạn chế các rủi ro giúp đạt mục tiêu trong giới hạn chấp nhận được
Nguyên t ắc thứ 11: Đơn vị lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát
chung với công nghệ hiện đại để hỗ trợ cho việc đạt được các mục tiêu
Nguyên t ắc thứ 12: Đơn vị tổ chức triển khai hoạt động kiểm soát thông qua
nội dung các chính sách đã được thiết lập và triển khai chính sách thành các hành động cụ thể
Thông tin và truyền thông:
Nguyên t ắc thứ 13: Đơn vị thu thập, truyền đạt và sử dụng thông tin thích hợp,
có chất lượng để hỗ trợ những bộ phận khác của KSNB
Nguyên t ắc thứ 14: Đơn vị cần truyền đạt trong nội bộ những thông tin cần
thiết, bao gồm cả mục tiêu và trách nhiệm đối với KSNB, nhằm hỗ trợ cho chức năng kiểm soát
Nguyên t ắc thứ 15: Đơn vị cần truyền đạt cho các đối tượng bên ngoài đơn vị
về các vấn đề ảnh hưởng đến KSNB
Giám sát:
Nguyên t ắc thứ 16: Đơn vị phải lựa chọn, triển khai và thực hiện việc đánh giá
liên tục hoặc định kỳ để biết chắc rằng liệu những thành phần nào của KSNB có hiện hữu và đang hoạt động
Nguyên t ắc thứ 17: Đơn vị phải đánh giá và thông báo những yếu kém của
KSNB một cách kịp thời cho các đối tượng có trách nhiệm bao gồm nhà quản lý và HĐQT để có những biện pháp khắc phục
2.1.4 Lợi ích và hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.4.1 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ
Ngay từ khi ra đời, trong định nghĩa của Kiểm soát nội bộ đã nói lên lợi ích của kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ là công cụ nhằm bảo vệ tiền và các tài sản khác Nhưng đến hiện tại, những lợi ích mang lại của hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 35không còn đơn giản như vậy Một hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ mang lại cho tổ chức những lợi ích sau:
- Đảm bảo các số liệu của kế toán và báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
- Giảm bớt rủi ro gian lận hoặc trộm cắp đối với doanh nghiệp
- Đảm bảo mọi thành viên đều tuân thủ những quy định trong hoạt động của
tổ chức cũng như các quy định pháp luật
- Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng hợp lý nguồn lực và đạt được hiệu quả hoạt động
- Bảo vệ lợi ích, gây dựng lòng tin đối với những nhà đầu tư
2.1.4.2 Hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ
Ngay trong định về về kiểm soát nội bộ của COSO (2013) đã nêu rõ rằng kiểm soát nội bộ chỉ mang lại một sự đảm bảo hợp lý Sau hơn 100 năm phát triển về kiểm soát nội bộ, các nhà nghiên cứu cũng như các tổ chức nghề nghiệp luôn muốn nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Nhưng lại không có một nghiên cứu nào để làm cho hệ thống kiểm soát nội bộ hiểu quả tuyệt đối Bởi vì, HTKSNB luôn có sự góp mặt của con người Dù ngay cả khi xây dựng một HTKSNB hoàn hảo thì nó vẫn phụ thuộc chủ yêu vào yếu tố con người Một số nguyên nhân như:
- Những hạn chế xuất phát từ bản thân nhân viên như: sự cố ý, chủ quan, đãng trí, thiếu kiến thức, hiểu biết…
- Sự thông đồng giữa các nhân viên hoặc của chính nhà lãnh đạo Khi đó sẽ xảy ra các hoạt động để qua mặt hệ thống kiểm soát nội bộ
- Lợi ích – chi phí: hầu hết các nhà quản lý sẽ không muốn bỏ ra chi phí lớn hơn lợi ích mà hệ thống kiểm soát có thể mang lại Ví dụ như nếu chi phí bỏ
ra để ngăn chặn gian lận lớn hơn cả chi phí gian lận thì có thể nhà quản lý
sẽ cân nhắc không bỏ ra chi phí để thực hiện các thủ tục kiểm soát nhằm ngăn chặn gian lận
Trang 36- Sự lạm quyền của nhà quản lý: HTKSNB là do nhà quản lý thiết lập và điều hành, vì vậy những chính sách của HTKSNB có thể không tác động tới nhà quản lý mà chỉ đối với các nhân viên cấp dưới
2.2 Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
2.2.1 Khái niệm tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ là một quá trình thì tính hữu hiệu của HTKSNB là một trạng thái của nó ở một thời điểm nhất định Một hệ thống KSNB hữu hiệu tức
là hệ thống kiểm soát nội bộ đó hoàn thành nhiệm vụ, hay mục tiêu được đặt ra Báo cáo COSO (2013) cho rằng, một hệ thống KSNB được coi là hữu hiệu khi Hội đồng quản trị và nhà quản lý đảm bảo thực hiện hợp lý 03 mục tiêu: mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và mục tiêu tuân thủ Cụ thể:
M ục tiêu hoạt động: các hoạt động được coi là hữu hiệu và hiệu quả khi các sự
kiện bên ngoài không có tác động đáng kể đến việc đạt được các mục tiêu hoặc khi các hoạt động bên ngoài có tác động đến mục tiêu thì đã có những “bức tường” bảo
vệ hoặc ứng phó với các tác động đó Các hoạt động của doanh nghiệp phải đạt được sự phù hợp giữa hiệu quả và nguồn lực doanh nghiệp
M ục tiêu báo cáo: các báo cáo phải đảm bảo sự chính xác của thông tin nhằm
phục vụ cho mục đích ra quyết định của các bên Một HTKSNB hữu hiệu sẽ làm tốt điều này
M ục tiêu tuân thủ: doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật, các
quy tắc, quy định từ bên ngoài
Ngoài ra, có thể xem xét sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ dựa trên
05 thành phần cơ bản cấu thành nên HTKSNB theo COSO (2013) đó là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Nếu mỗi thành phần làm việc hiệu quả thì cả hệ thống sẽ được đánh giá là hiệu quả Dựa vào các nghiên cứu Stephen Amponsah, Kofi Osei Adu và Anthony Amissah (2015), Trương Khánh Phương (2019) và báo cáo COSO (2013) thì tác giả cho rằng để xem xét xét tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thì HTKSNB phải đạt được 03 mục tiêu: hoạt
Trang 37động của DN BHPNT phải đạt được hiệu quả, hiệu năng; báo cáo tài chính trong các DN BHPNT phải đáng tin cậy; các DN BHPNT phải tuân thủ các quy định của pháp luật và mỗi bộ phận trong DN BHPNT phải tuân thủ các quy định bộ Đây cũng chính là 03 biến quan sát (thang đo) mà tác giả sử dụng để đánh giá tính hữu hiệu của HTKSNB trong các DN BHPNT trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội
2.2.2.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát phản ánh “sắc thái” chung của doanh nghiệp và được
thể hiện thông qua quan điểm, nhận thức và hành động của Ban quản trị, Ban Giám đốc liên quan tới HTKSNB và tầm quan trọng của đơn vị Môi trường kiểm soát còn ảnh hưởng đến việc thiết kế, sử dụng và kết quả của HTKSNB trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ (Olof Arwinge, 2014) Môi trường kiểm soát bao gồm các nội dung cơ bản:
Quan điểm, cách thức điều hành của lãnh đạo, công tác kế hoạch:
Ngày trong COSO (2013) đã nếu rõ, HTKSNB là một quá trình do hội đồng quản trị, ban quản lý tạo nên Nếu như người quản lý cao nhất coi kiểm soát là quan trọng và thể hiện rõ ràng quan điểm của mình cho những thành viên khác trong tổ chức thì các nhân viên trong đơn vị sẽ phải nghiêm túc thực hiện HTKSNB đã được thiết lập
Tính trung th ực và giá trị đạo đức:
Tính trung thực và giá trị đạo đức của người quản lý thể hiện ở những hoạt động làm gương để làm giảm hoặc xóa bỏ những động cơ đang tồn tại ở nhân viên
mà có thể khiến họ sẽ thực hiện những hành vi không trung thực, phi đạo đức nhằm trục lợi cho bản thân, gây thiệt hại cho đơn vị Người lãnh đạo có vai trò quyết định
Trang 38trong việc hình thành văn hóa đông ty, nếu người lãnh đạo trung thực, luôn đề cao giá trị đạo đức thì sẽ tạo ra môi trường trong sạch cho đơn vị
Cơ cấu tổ chức bộ máy:
Một cơ cấu tổ chức tốt phải xác định rõ, đầy đủ và hợp lý về chức năng, nhiệm
vụ của các bộ phận trong bộ máy, sự phối hợp và phân chia quyền lực, trách nhiệm
rõ ràng Việc tổ chức bộ máy đơn vị phải dựa vào các nguyên tắc cơ bản của kiểm soát và quản trị rủi ro Điều đó sẽ làm cho bộ máy được tinh gọn, sử dựng hợp lý nguồn lực của tổ chức
H ệ thống chính sách, quy chế, quy trình và thủ tục kiểm soát:
Các đơn vị phải có hệ thống các quy chế, quy trình, thủ tục kiểm soát Hệ thống quy chế, quy trình, thủ tục kiểm soát về tài chính, kế toán trong đơn vị thường bao gồm: quy chế tài chính, quy chế kế toán, quy chế đầu tư; quy chế quản lý, mua sắm, sử dụng tài sản…Hệ thống quy chế là căn cứ để hướng dẫn thực hiện, đồng
thời là căn cứ pháp lý để thực hiện kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp
Chính sách v ề nguồn nhân lực và quá trình thực hiện:
Nhân tố quan trọng nhất kiểm soát nội bộ và luôn hiện điện trong mọi quy trình kiểm soát nội bộ đó là con người Mọi nhân viên trong đơn vị có năng lực, đều trong thực và xem trọng các giá trị đạo đức thì dù không có các quy trình kiểm soát nội bộ thì hoạt động của đơn vị vẫn hiệu quả Nhưng thực tế thì không thể có một tổ chức hội tụ tất cả nhân viên đều trung thực, có năng lực và làm việc hết mình vì sự phát triển của đơn vị Do vậy, doanh nghiệp phải xây dựng được chính sách thích hợp, trung thực về đánh giá, đối đãi, thăng chức và nhân sự để nâng cao tinh thần trách nhiệm, hết mình vì mục tiêu của đơn vị Đồng thời hoàn thiện chính sách đào tạo để nâng cao năng lực, đạo đức của nhân viên để xây dựng một môi trường kiểm soát hiệu quả
2.2.2.2 Đánh giá rủi ro
Theo nghiên cứu của EZ Baranoff (2004) thì quy trình đánh giá rủi ro trong
các doanh nghiệp bảo hiểm có các bước như hình 2.1:
Trang 39
Hình 2.1: Các bước của quy trình đánh giá rủi ro
(Nguồn: EZ Baranoff, 2004)
Nh ận diện rủi ro: là quá trình xác định những mối nguy có thể gây tác động
xấu tới tổ chức như có thể gây tổn hại con người, hư hỏng tài sản, hủy hoại môi trường…Điều kiện để thực hiện việc này là đơn vị phải lập mục tiêu Mục tiêu của đơn vị càng chi tiết, càng rõ ràng thì việc nhận diện rủi ro sẽ càng chi tiết và chính xác hơn Theo EZ Baranoff (2004) trong các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thì nhận diện rủi ro chính là xác định sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng
Các nhân viên trong DN BHPNT phải được trang bị đầy đủ kiến thức về nhận diện rủi ro để tư vấn đúng các rủi ro có thể xảy ra với khách hàng, giải quyết bồi thường đúng với bản chất của rủi ro Tránh trường hợp bán sản phẩm sai với mục đích phòng ngừa rủi ro của khách hàng, từ chối bồi thường hoặc bồi thường nhưng sai bản chất rủi ro, vô tình làm mất uy tín của đơn vị
Đánh giá rủi ro: đánh giá rủi ro là bước tiếp theo sau khi đã nhận diện được
các rủi ro liên quan tới mục tiêu của đơn vị Việc đánh giá rủi ro thực chất đó là dự đoán xác suất xảy ra đối với đơn vị Việc dự đoán xác suất xảy ra căn cứ rất nhiều yếu tố bên trong lẫn bên ngoài của đơn vị Song song với việc dự đoán xác suất xảy
ra thì đơn vị phải dự đoán được sự tác động của rủi ro tới doanh nghiệp như thế nào trong trường hợp xấu nhất là rủi ro đó xảy ra với doanh nghiệp Để làm được điều này đòi hỏi xây dựng một hệ thống đánh giá rủi ro hiệu quả, được thực hiện bởi những người có kiến thức và kinh nghiệm cao trong lĩnh vực đánh giá rủi ro
L ập kế hoạch ngăn chặn rủi ro và giảm thiểu rủi ro: sau khi đã xác định được
các rủi ro có xác suất cao sẽ xảy ra thì phải có kế hoạch ngăn chặn, giảm thiểu rủi
ro Điểm quan trọng trong bước này là phải xây dựng kế hoạch đồng bộ Phải xây
Nhận diên rủi ro
Rủi ro nào có thể xảy
ra?
Đánh giá rủi ro Đánh giá xác suất
xảy ra và tác động?
Lập kế hoạch Lập kế hoạch để ngăn chặn và giảm thiểu rủi ro
Trang 40dựng kế hoạch ngăn chặn rủi ro và giảm thiểu rủi ro ở tất cả các hoạt động của đơn
vị Nhưng phải tôn trọng mối quan hệ giũa lợi ích và chi phí Việc triển khai các kế hoạch ngăn chặn rủi ro phải xem xét lợi ích mang lại với chi phí phải bỏ ra để triển khai
2.2.2.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là các biện pháp, quy trình, thủ tục được thực thi nghiêm túc trong toàn tổ chức nhằm đảm bảo chỉ thị của ban lãnh đạo trong giảm thiểu rủi
ro và tạo điều kiện cho tổ chức đạt được mục tiêu đã đặt ra
Theo COSO (2013) thì các yếu tố của hoạt động kiểm soát là soát xét hoạt động của ban quản trị; xây dựng các hoạt động kiểm soát để phòng ngừa rủi ro; phân công, phân nhiệm giữa các nhân viên Sự hiểu biết chắc chắn về quá trình kinh doanh cơ bản, và sự tham gia của các nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh, là rất quan trọng cho việc tạo ra các hoạt động kiểm soát tốt những rủi
ro đang cần được giải quyết
Các y ếu tố của hoạt động kiểm soát nội bộ:
- Phân chia trách nhiệm:
Phân chia trách nhiệm làm giảm cơ hội thực hiện hành vi gian lận Nguyên tắc của hoạt động kiểm soát là mọi bộ phận hay cá nhân không được thực hiện các công việc từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc; không một nhân viên nào được thực hiện hơn một những chức năng sau: phê duyệt, ghi chép và bảo vệ tài sản
- Soát xét các hoạt động của ban lãnh đạo:
Ban kiểm soát của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải có các thủ tục, quy định để kiểm soát các hoạt động của ban lãnh đạo Hạn chế các hành
vi gian lận của ban lãnh đạo Ban lãnh đạo là những người có ảnh hưởng đến việc thiết kế, vận hành HTKSNB, vì vậy họ sẽ dễ thực hiện các hành vi gian lận nếu như có động cơ Vì vậy phải thường xuyên soát xét các hoạt động của
họ
- DN BHPNT phải xây dựng các hoạt động kiểm soát đề phòng ngừa rủi ro: