1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC LỚP BỒI DƯỠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH

28 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 149 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau thời gian hơn 3 tháng học lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính khóa V, do Học Viện tổ chức tại Văn phòng đại diện ở tỉnh Thừa thiên Huế. Được các đồng chí Giảng viên Học Viện tận tình truyền đạt các chuyên đề về quản lý hành chính nhà nước ngạch chuyên viên chính, tạo điều kiện cho chúng tôi được tiếp cận với nhiều kiến thức, thông tin mới và một số kinh nghiệm hoạt động thực tế trong quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ở nhiều địa phương rất bổ ích, với những kiến thức mới được học và kinh nghiệm đã tích lũy được trong quá trình công tác lâu nay, trong thời gian công tác tới chắc chắn sẽ gặp thuận hơn và đạt hiệu quả hơn. Với tình cảm chân thành của học viên đối với thầy, cô giáo. Cho phép em được chân thành cảm ơn các đồng chí Giảng viên, cảm ơn các đồng chí cán bộ, công chức Học Viện hành chính, cảm ơn Thầy: PGS. TS Hoàng Văn Chức, trưởng Khoa đào tạo, bồi dưỡng Công chức-Tại chức, đã trực tiếp hướng dẫn thực hiện viết tình huống. Xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ, giảng viên, công chức Văn phòng đại diện của Học Viện hành chính tại Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập tại Văn Phòng. Trong quá trình học tập tuy bản thân đã nổ lực cố gắng nhưng chất lượng bài viết chắc chắn sẽ chưa được cao và còn thiếu sót. Kính được quý thầy, cô rộng lượng châm chước, chiếu cố cho em. Cuối cùng xin kính chúc quý Thầy, Cô giáo, các đồng chí cán bộ, giảng viên, công chức Học Viện hành chính dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, gặp nhiều thuận lợi, thành công trong công việc và cuộc sống. Kính chúc Học Viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Văn phòng đại diện của Học viện tại Thừa Thiên Huế ngày càng vững mạnh, không ngừng phát triển! Một lần nữa xin kính chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Xin gửi lời chào trân trọng và cảm ơn chân thành! Mục lục 1- Lời nói đầu……………………….……………………………………trang 6 2- TÀI LIỆU THAM KHẢO………..…...………………………………trang 5 3- NỘI DUNG TÌNH HUỐNG………….………….……………………trang 8 4- Hoàn cảnh ra đời của tình huống…….…………………………..........trang 8 5- Mô tả tình huống…………………….………………………………...trang 9 6- PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG………..…………………………….....trang 11 7- Mục tiêu phân tích tình huống…….……………………………….....trang 11 8- Cở sở lý luận……………………..………………………………...…trang 12 10- Phân tích diễn biến tình huống…………………………………...…trang 15 11- Nguyên nhân xảy ra tình huống…………………………………..…trang 18 12- Hậu qủa của tình huống……………………………………………..trang 21 13- XỬ LÝ TÌNH HUỐNG………..……………………………………trang 21 14- Mục tiêu xử lý tình huống………………………………………..…trang 21 15- Xây dựng giải pháp xử lý tình huống……………………………….trang 22 16- Lựa chọn giải pháp xử lý……………………………………………trang 23 17- KIẾN NGHỊ………….………..……………………………………trang 25 18- Kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước………………………………trang 25 19- Kiến nghị đối với cơ quan chức năng………………………………trang 26 20- Kết luận………………………………………………...trang 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO - Sắc lệnh số 64-SL, ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt. - Sắc lệnh số 138B-SL ngày 18/12/1949 về thành lập Ban thanh tra Chính Phủ. - Hiến Pháp năm 1959 sửa đổi bổ sung năm 1980; 1992; 2001. - Nghị quyết số 228NQ/UBTVQH10 quy định về trách nhiệm tiếp công dân của đại biểu Quốc hội; - Nghị quyết số 695/2008/NQ-UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 370/2003/NQ-UBTVQH11 về việc thành lập Ban Dân nguyện đã quy định thẩm quyền, trách nhiệm của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong công tác tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. - Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004 và năm 2005. - Luật đất đai 1988 được sửa đổi, bổ sung năm 1993, năm 1998, năm 2001, năm 2003. - Luật thanh tra 2004. - Các Nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện các luật, các nghị định của Chính Phủ có liên quan đến đất đai, khiếu nại tố cáo, liên quan tiếp công dân... - Tài liệu bồi dưỡng về quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính. Do học Viện Hành chính biên soạn. GHI CHÚ CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG BÀI VIẾT - HĐND là Hội đồng nhân dân. - ĐB QH là Đại biểu Quốc Hội. - UBND là Uỷ ban nhân dân. - TAND là Tòa án nhân dân. - TANDTC là Tòa án nhân dân tối cao. - VKSND là Viện kiểm sát nhân dân. LỜI NÓI ĐẦU Trong sự nghiệp đổi mới, Đất nước chuyển mình, tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm, ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật, nhưng thực tiễn các hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường có nhiều vấn đề mới nảy sinh, một số chính sách, pháp luật được ban hành nhưng chưa hoàn chỉnh và chưa theo kịp diễn biến của quá trình đổi mới, một số quyết định hành chính của các cấp các ngành thiếu chuẩn xác. Nhất là những năm gần đây nền kinh tế đất nước phát triển, tốc độ đô thị hoá được đẩy mạnh, pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực còn những bất cập, nhất là pháp luật điều chỉnh chính sách đất đai, khi Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc trả lại những giá trị vốn có của đất đai cho nên tình trạng khiếu nại, tố cáo nói chung, có liên quan đến đất đai nói riêng tăng nhanh cả về số lượng, cũng như phức tạp về tính chất. Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi nhận và Luật khiếu nại - tố cáo quy định cụ thể hơn. Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được pháp luật quy định là cơ sở pháp lý cần thiết để công dân thực hiện tốt quyền làm chủ và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước đồng thời cũng qua đó phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Giải quyết khiếu nại, tố cáo là nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Việc giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo góp phần ổn định tình hình chính trị xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhưng trong giải quyết khiếu nại, tố cáo còn thiếu phương pháp, biện pháp để cải tiến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và những vướng mắc tại cơ sở như hiện nay là lý do khiếu nại, tố cáo tiếp tục diễn ra. Mặt khác, nếu không được quan tâm đúng mức, giải quyết dứt điểm thì khiếu kiện kéo dài, phức tạp dễ bị kẻ xấu thể lợi dụng để kích động, lôi kéo quần chúng, tập hợp đông người nguy cơ thành “điểm nóng” về khiếu nại, tố cáo. Qua thời gian được học bồi dưỡng 28 chuyên đề quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính, với chức năng, nhiệm vụ của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện là giám sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo cũng thấy rằng tình trạng khiếu nại, tố cáo gia tăng, đặc biệt là các vụ, việc khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai kéo dài, còn vướng mắc nhiều vấn đề chưa giải quyết được, cho nên tôi xin chọn tình huống “Công dân RmahZan khiếu nại tranh chấp đất đai kéo dài ai đúng, ai sai?” làm bài thu hoạch cuối khóa, là một vụ việc đã và đang xẩy ra trong thực tế tại địa phương tôi đang công tác đến nay vẫn chưa giải quyết xong, tuy là vụ việc thực tế nhưng xin phép không sử dụng tên thật của các nhân vật trong tình huống. Kính mong quý Thầy, cô giáo tạo điều kiện giúp đỡ. Bài viết gồm có 5 phần lớn. I- Nội dung tình huống. II- Phân tích tình huống. III- Xử lý tình huống. IV- Kiến nghị. V- Kết luận. I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG 1. Hoàn cảnh ra đời của tình huống: Năm 1976 sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng non sông thu về một mối, Nước nhà thống nhất đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Đảng, Nhà Nước ta có chủ trương định canh định cư, đưa một số dân cư ở đồng bằng lên vùng đồi núi xây dựng, phát triển kinh tế. Xã I, huyện C, tỉnh G là trong những địa phương được lựa chọn bố trí đưa một số hộ dân ở các tỉnh thuộc Miền trung và một số tỉnh thành trên cả nước đến định cư làm ăn sinh sống, từ đó dân số tăng dần, nhu cầu về đất nông nghiệp, đất nhà ở cũng tăng theo, dân số của huyện chủ yếu là người dân tộc thiểu số tại chổ (Jrai, Barnar ), là một huyện miền núi thuộc Tây Nguyên. Gia đình bà Lê Thị Kim C là một trong số công dân đi xây dựng vùng kinh tế mới 1976 được Nhà nước phân cho một lô đất làm nhà ở, năm 1990 gia đình bà bán ngôi nhà và vật kiến trúc trên đất cho ông Huỳnh Văn Lơ có viết giấy bán và được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận và Bà C đi nơi khác ở. Ông Lơ dỡ ngôi nhà chính đi chổ khác ở, còn lại một nền xi măng, một chuồng heo và một mái hiên sau, ông Lơ bán bán cho ông Rmah Zan. Ông Rmah Zan sử dụng vật kiến trúc đã mua và tự ý trồng cây lâu năm trên mảnh đất có vật kiến trúc đã mua. Năm 1996 gia đình bà C trở lại lô đất có vật kiến trúc đã bán cho ông Rmah Zan, bà chặt cây cối do Rmah Zan trồng để dựng nhà và xẩy ra tranh chấp. Ông Zan, bà C đều viết đơn khiếu nại giử Uỷ ban nhân dân xã để giải quyết. Uỷ ban nhân dân xã đã tổ chức hòa giải, đối thoại không thành; ông Zan giử đơn khiếu nại lên Uỷ ban nhân dân huyện và nhiều cơ quan khác. UBND huyện sau hai lần giải quyết, ra quyết định giải quyết khiếu nại nhưng hai bên không nhất trí, nên sau đó ra quyết định thu hồi quyết định quyết giải quyết 2 lần. Đến nay vụ tranh chấp đất đai giữa ông Zan và bà C này chưa có cơ quan nào giải quyết. Luật đất đai; Luật khiếu nại tố cáo được sửa đổi bổ sung nhiều lần nhưng vẫn chưa đáp ứng tình hình diễn biến của đời sống thực tế. Quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp của 2 luật này không khớp nhau. 2. Mô tả tình huống: Năm 1979 hộ gia đình Lê Thị Kim C ở Bình Trị Thiên, nay là Thừa Thiên Huế đi xây dựng vùng kinh tế mới tại thôn Phú Bình được Hợp Tác xã nông nghiệp xã giao cho một lô đất để lập nghiệp diện tích 2.240m2 , chiều dài 70m, chiều rộng 32m, sau khi được cấp đất gia đình bà C làm 01 căn nhà gỗ 3 gian, xung quanh thưng ván, mái lợp tôn kẽm, nền láng xin măng, có 01 mái hiên sau, 01 chuồng nuôi heo. Năm 1990 do điều kiện gia đình gặp khó khăn, gia đình bà Lê Thị Kim C bán căn nhà nói trên cho ông Huỳnh Văn Lơ, đi nơi khác ở ( việc mua bán có đơn xin xác nhận của UBND xã, ký ngày 24/10/1990 ). Sau khi mua xong ông Lơ tháo dỡ ngôi nhà đưa đi chổ khác, còn lại 01 chuồng heo và 01 mái hiên sau và ông Huỳnh Văn Lơ bán lại cho ông Rmah Zan chuồng heo và mái hiên sau đó, việc mua bán này không có giấy tờ, ( qua xác minh thì ông Lơ chỉ bán tài sản chứ không bán đất ), sau khi mua tài sản ông Zan đã tháo dỡ hết mái hiên sau và chuồng heo để lại lô đất trống. Đến năm 1996 bà Lê Thị Kim C trở lại lô đất phát hiện ông Zan đã trồng cây điều trên lô đất của mình, gia đình bà C chặt cây trồng trên đất để làm nhà thì ông Zan không đồng ý và khiếu nại, tranh chấp bắt đầu nẩy sinh. Cụ thể là ngày 03 tháng năm 1997; ngày 11/6/1998 và ngày 20/10/2005 bà Lê Thị Kim C gửi đơn khiếu nại về việc ông Zan chiếm dụng đất của gia đình bà, nên bà đã có đơn gửi thôn, xã chờ giải quyết. Ngày 19 tháng 6 năm 1996 Uỷ ban nhân dân xã đã mời các biên có liên quan lên đối thoại, đã phát hiện ông Zan dùng giấy tờ giả mạo để chiếm dụng lô đất của gia đình bà C, cho nên gia đình bà C tiếp tục dựng nhà trên lô đất này. Việc ông Zan dùng giấy tờ giả có kết luận của công an huyện tại báo cáo số 221/BC ngày 05 tháng 10 năm 2001, khẳng định hành vi dùng giấy tờ giả được quy định tại điểm b, khoản 1, điều 221 Bộ Luật hình sự năm 1985 và việc sử dụng giấy tờ giả để làm tài liệu khiếu nại trong việc mua bán tài sản trên đất giữa ông Zan và ông Huỳnh Văn Lơ vào thời điểm 25/6/1990 là vi phạm pháp luật và không đúng sự thật vì tại thời điểm này ông Huỳnh Văn Lơ chưa mua nhà của bà Lê Thị Kim C, do đó ông Lơ không thể có tài sản trên đất để bán cho ông Zan, vì bà C bán nhà cho ông Lơ vào ngày 24/10/1990, nhưng giấy tờ mua bán giữa ông Lơ với ông Zan ghi ngày 25/6/1990. Qua nhiều lần UBND huyện tổ chức họp tại xã, mời người thân các bên và cán bộ trong hệ thống chính trị xã, thôn và những nhân chứng còn sống chứng kiến việ mua bán đó, qua đối thoại ông Huỳnh Văn Lơ, ông Lơ và vợ ông xác nhận là chữ ký trong giấy mua bán không phải của ông, các thành phần dự họp cũng công nhận ông Lơ không bán đất của bà C cho ông Zan. Ngày 27/10/1997 UBND huyện tiếp tục tổ chức giải quyết ban hành quyết định số 303/QĐ-UB, không công nhận nội dung khiếu nại của ông Zan. Ông Zan không đồng tình với quyết định trên nên tiếp tục khiếu nại. Ngày 29/4/1998 UBND huyện ban hành quyết định giải quyết số 98/QĐ-UB, thu hồi quyết định 303/QĐ-UB, việc khiếu nại của ông Zan có những tình tiết cần phải xác minh, điều tra làm rõ thêm để giải quyết đúng pháp luật. Ông Zan tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên Tòa án về quyết định hành chính của Uỷ ban nhân dân huyện. Ngày 28/5/1998 Tòa án nhân dân tỉnh ban hành quyết định giải quyết số 01/QĐĐC-HC, đình chỉ giải quyết vụ án vì UBND huyện đã có quyết định số 98/QĐ-UB, ngày 29/4/1998 thu hồi quyết định 303/QĐ-UB của UBND huyện. Ngày 15/11/2000 Chủ tịch UBND huyện ban hành quyết định giải quyết số 463/QĐ-UB về việc không thừa nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Zan là không có cơ sở và không đúng sự thật. Do luật pháp quy định về thời hiệu xử lý việc ông Zan sử dụng giấy tờ giả đã hết ( thời gian phát hiện là năm 1997 ) nên ông Zan tiếp tục khiếu nại ra tòa án yêu cầu Tòa án hủy quyết định 643/QĐ-UB, ngày 15/11/2000; qua nhiêm cứu hồ sơ vụ kiện Tòa án hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh kết luận việc ông Zan khiếu nại việc mua bán tài sản ( mái hiên sau và chuồng heo ) là việc tranh chấp tài sản thuộc về án dân sự do Tòa án dân sự giải quyết. Ông Zan khởi kiện quyết định số 463/QĐ-UB của UBND huyện ra Tòa án hành chính tỉnh. Ngày 30/10/2003 Chủ tịch UBND huyện ban hành quyết định giải quyết số 550/QĐ-CT thu hồi quyết định số 463/QĐ-UB về việc không thừa nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Zan. Nội dung việc khiếu nại tranh chấp tài sản của ông Zan không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện, chuyển toàn bộ hồ sơ đến Tòa án nhân dân huyện giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày 24/7/2004 Tòa án nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 02/QĐ-HC về việc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính mà TAND tỉnh đã thụ lý tại văn bản số 02/HCST, ngày 18/12/2003 yêu cầu hủy quyết định số 463/QĐ-UB của UBND huyện, do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa hành chính. Ông Zan kháng án đến Tòa án nhân dân tối cao. Ngày 03/02/2005 Tòa án phúc thẩm tối cao tại Đà Nẵng ban hành quyết định số 01/QĐPT, nội dung giữ nguyên quyết định sơ thẩm số 02/QĐ-HC ngày 24/7/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh, đình chỉ vụ án khởi kiện của ông Zan đối với UBND huyện. Đến nay ( tháng 9/2011) ông Zan tiếp tục giử đơn khiếu nại nhưng cấp huyện vẫn hứa với công dân sẽ điều tra để giải quyết đúng quy tình thủ tục. II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG. 1. Mục tiêu của phân tích tình huống: Căn cứ cơ sở lý luận chung, quan điểm, chủ trương, các quy định của pháp luật; kiến thức về quản lý nhà nước được tiếp thu qua khóa học với một số kinh nghiệm công tác cá nhân, trên cơ sở diễn biến tình huống vụ khiếu nại tranh chấp kéo dài của ông Rmah Zan. Qua vụ khiếu nại kéo dài và diễn biến phức tạp của công dân Rmah Zan, chúng ta cần nhìn nhận thật khách quân để rút ra những kinh nghiệm, những khiếm khuyết, yếu kém để chấm chỉnh kịp thời nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác quản lý và giải quyết khiếu nại, tố cáo, thực sự tạo sự chuyển biến tích cực; có những giải pháp tích cực để giải quyết cơ bản các vấn đề khiếu kiện nổi cộm hiện nay. Trong quản lý và tiến hành việc giải quyết khiếu nại; tố cáo nói chung, giải quyết vụ việc ông Zan và bà C nói riêng phải đạt được mục đích, yêu cầu cơ bản sau: Thứ nhất: thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo phải có quyết định giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục quy định - của pháp luật; đồng thời nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đang có hiệu lực thi hành. Thứ hai: Chính quyền các cấp, thủ trưởng các cơ quan phải coi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền là trách nhiệm của chính mình. Các khiếu nại, tố cáo phải được giải quyết dứt điểm ngay tại cơ sở. Khắc phục tình trạng khiếu nại, tố cáo tràn lan, vượt cấp. Thứ ba: Tăng cường pháp chế XHCN xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội. Thứ tư: trong quá trình giải quyết phải làm rõ được vụ khiếu nại tranh chấp kéo dài này nguyên nhân từ đâu? do ai? phải bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của công dân. 2. Cở sở lý luận: Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tiếp dân Tiếp công dân là giai đoạn đầu của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đóng vai trò quan trọng như là một khâu then chốt góp phần giải quyết có hiệu quả việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, qua đó bảo vệ lợi ích của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Với nhận thức về tầm quan trọng của công tác tiếp dân, trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về công tác này nhằm phát huy quyền dân chủ nhân dân cũng như củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước: - Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành: Sắc lệnh số 64-SL, ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, Điều 2 của Sắc lệnh này quy định một trong những nhiệm vụ của Ban thanh tra là “Tiếp nhận các đơn khiếu nại của nhân dân”. Sắc lệnh số 138B-SL ngày 18/12/1949 về thành lập Ban thanh tra Chính Phủ, trong đó điểm a, b Điều 4 quy định cơ quan này có nhiệm vụ thanh tra các vụ khiếu nại của nhân dân cùng với việc “xem xét sự thi hành chính sách, chủ trương của Chính phủ, thanh tra các uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết”. - Điều 29 Hiến Pháp năm 1959, quy định: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường. - Điều 19 Hiếp pháp 1980, quy định: “ Đất đai, tài nguyên, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, ....các tài sản khác ...” mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân. - Điều 20 Hiến pháp 1980, quy định: “ Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm; Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật.”... - Điều 73, Hiến pháp năm 1980 quy định: Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó. Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường. Nghiêm cấm việc trả thù người khiến nại, tố cáo. - Điều 74 Hiến Pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác. - Điều 18, Hiến Pháp năm 1992 và sửa dổi bổ sung năm 2001 quy đinh: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”... - Chính phủ ban hành Nghị định số 89/CP, ngày 07/8/1997 kèm theo Quy chế tổ chức tiếp công dân trong đó quy định rõ về mục đích của công tác tiếp công dân. - Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004 và năm 2005, trong đó dành hẳn một chương (Chương V) để quy định về công tác này. Trên cơ sở đó Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ban hành ngày 14/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn việc tiếp công dân, tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo. Trong đó quy định rõ về trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan nhà nước; trách nhiệm của người tiếp công dân khi tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo; quyền và nghĩa vụ của công dân khi đến khiếu nại, tố cáo… Để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân, ngay sau Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004 được ban hành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 30/2004/QH11 về công tác giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Trên cơ sở đó Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg ngày 27/10/2004 về việc chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trước đó ngày 09/10/2001 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 26/CT-TTg về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đó có việc phối hợp tham gia tiếp công dân. Để phục vụ việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội, vai trò của đại biểu Quốc hội, trong nhiều văn bản pháp luật đã quy định về công tác tiếp công dân của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Đại biểu Quốc hội. Nghị quyết số 228NQ/UBTVQH10 quy định về trách nhiệm tiếp công dân của đại biểu Quốc hội; Nghị quyết số 370/2003-NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003; Nghị quyết số 695/2008/NQ-UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 370/2003/NQ-UBTVQH11 về việc thành lập Ban Dân nguyện đã quy định thẩm quyền, trách nhiệm của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong công tác tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với vai trò là cơ quan giám sát của Quốc hội đã tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong 03 năm (2006, 2007, 2008), qua đó đã có những đánh giá về ưu và nhược điểm của công tác tiếp dân để từ đó đã đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả cho công tác tiếp dân. - Luật đất đai 1988 được sửa đổi, bổ sung năm 1993, năm 1998, năm 2001, năm 2003, có một chương được quy định về Thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai, gồm 13 điều (từ Điều 132 đến Điều 144). Sự việc xẩy ra đặt ra cho các Nhà quản lý hành chính nhà nước phải suy nghĩ về thực tế thực trạng quản lý Nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo nói riêng, nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình cải cách hành chính nhất là thẻ chế hành chính, thủ tục hành chính trong thời gian tới. 3. Phân tích diễn biến tình huống: Việc bà C sau khi ông Rmah Zan mua tài sản trên đất đã tháo dỡ tài sản, bỏ trống lô đất nhưng bà C không quản lý, sử dụng từ năm 1990 đến năm 1996. Tuy việc chuyển nhượng lô đất giữa ông Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Văn Lơ với ông Rmah Zan là không có, nhưng ông Zan có trồng cây lâu năm là cây điều là có, trong quá trình đó bà C không phản đối việc trồng cây của ông Zan, hơn nữa vào thời điểm bà C bán tài sản không thể bán được đất vì Luật đất đai năm 1988, Điều 3 Nhà nước bảo đảm cho người sử dụng đất được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên đất được giao, kể cả quyền chuyển, nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao khi không còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác sử dụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; Điều 5 Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm huỷ hoại đất đai. Do đó việc ông Rmah Zan khiếu nại tranh chấp đất đai với bà C để đòi quyền sử dụng lô đất là có thể có và có thể không có cơ sở để giải quyết, nên UBND huyện không thừa nhận đơn khiếu nại của ông Zan. Việc ngày 03/11/1997 bà C có đơn khiếu nại ông Zan chiếm dụng lô đất của bà: năm 1996 bà đến lô đất gia cư cũ để dựng nhà thì phát hiện có một số cây điều của ông Zan trồng trên đất của bà, bà C cho chặt cây và dựng nhà và viết đơn giử xã để giải quyết. Xã đã mời 3 gia đình lên để giải quyết và phát hiện ông Zan dùng giấy tờ giả mạo để chiếm lô đất do ông Zan tự viết, tự ký 2 của bên. Việc ông Zan dùng giấy tờ giả mạo của ông Zan có kết luận của công an huyện tại văn bản số 221/BC năm 2001,theo điểm b, khoản 1, điều 221 bộ luật hình sự năm 1985, dùng để làm tài liệu thể hiện mua bán để khiếu nại ông Lơ là không đúng sự thật vì thời điểm này ông Lơ chưa mua nhà của bà C, do đó ông Lơ không thể có tài sản trên đất để bán cho ông Zan ( giấy mua bán giữa bà C với ông Lơ ghi 24/10/1990; giữa ông Zan với ông Lơ ghi 25/6/1990 ). Tuy UBND huyện đã nhiều lần tổ chức cuộc họp tại xã, mời các nhân chứng sống dự họp đối chất, tại cuộc họp nhân chứng xác nhận ông Lơ không mua đất của bà C mà chỉ mua tài sản trên đất, ông Lơ cũng xác nhận là ông không ký vào giấy mua bán đất. Trong quá trình giải quyết do sự việc có nhiều vấn đề phức tạp các ngành tham mưu đã xem xét theo trình tự để UBND huyện ra quyết định giải quyết, nhưng không hiểu lý do gì? hay cán bộ tham mưu không nắm vững pháp luật, nên sau mỗi ra quyết định, ông Zan khiếu nại, lại tham mưu ra quyết định thu hồi, ông lại khiếu nại ra tòa án, sau khi có quyết định của tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao Đà Nẵng đình chỉ vụ án năm 2005, ông Zan lại nhiều lần đến phòng tiếp dân của huyện đề nghị giải quyết khiếu nại cho ông, UBND huyện giải thích, hướng dẫn ông giử đơn ra tòa án dân sự theo quy định tại khoản 5 điều 5 Nghị định 53/2005 về thi hành một số điều của luật khiếu nại tố cáo và UBND huyện đã có kết luận số 53/TB-UB, ngày 08/6/2005 kết luận của Chủ tịch UBND huyện tại buổi tiếp dân sáng thứ 7 ngày 04/6/2005 và giao cho UBND xã làm thủ tục để quản lý lô đất đang tranh chấp, UBND xã có văn bản đề nghị huyện thu hồi lô đất này giao xã làm trường học, nhưng UBND huyện chưa giải quyết chờ kết quả giải quyết của Tòa án. Từ giữa năm 2005 đến cuối 2010 ông Zan không khiếu nại lô đất nhưng ông làm đơn khiếu nại xuyên tạc, vu cáo các cấp các ngành, cán bộ công chức có trách nhiệm giải quyết khiếu nại lô đất ông đang tranh chấp với bà C gửi đến nhiều cấp nhiều ngành, ảnh hưởng uy tín, danh dự của của lãnh đạo huyện. UBND huyện đã báo cáo lên Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Đoàn ĐB QH tỉnh, Công an tỉnh đề nghị Công an tỉnh điều tra, xác minh làm rõ hành vi tố cáo sai sự thật, vu khống người khác của ông theo khoản 1, điều 122, Bộ luật hình sự, nhưng đến nay không được giải quyết, nên ông Zan tiếp tục khiếu nại, yêu sách gây nhiều bức xúc và gây phức tạp ở địa phương. Việc ông Rmah Zan có đơn khiếu nại tranh chấp đất đai với bà C đã được Uỷ ban nhân dân huyện có quyết định giải quyết 2 lần, nhưng sau đó UBND lại ra quyết định thu hồi, do không thuộc thẩm quyền giải quyết của huyện và hướng dẫn cho đương sự giử đơn ra tòa án. Tòa án nhân dân tỉnh cũng đã thụ lý vụ án khởi kiện của ông Zan đúng quy định pháp luật, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu của UBND huyện và chưa tiếp tục giải quyết lần 2 theo quy định khi công dân không đồng ý với giải quyết lần đầu, là theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân tỉnh đình chỉ vụ án là đúng quy định vì UBND huyện chưa có quyết định giải quyết lần đầu đối với khiếu nại của ông Zan. Tuy UBND huyện đã 2 lần có quyết định giải quyết nhưng đã thu lại. Qua phân tích trên cho thấy nguyên nhân của việc ông Zan khiếu nại kéo dài là do việc giải quyết của cấp xã, cấp huyện không đúng quy trình, quy định pháp luật, giải quyết quá chậm trễ, hơn nữa còn một số vướng mắc như: trong quá trình giải quyết người giải quyết không căn cứ vào sự việc khiếu nại mà căn cứ vào đối tượng khiếu nại để giải quyết, chưa quy định rõ giữa hành vi với quyết định hành chính; các quy định của luật giải quyết khiếu nại tố cáo với luật đất đai còn chồng chéo ( thời hiệu giải quyết của luật khiếu nại tố cáo chậm nhất lần đầu không quá 30 ngày, lần 2 không quá 60 ngày, còn luật đất đai 1998 không có thời hiệu giải quyết, luật đất đai năm 2003 là 45 ngày ), hơn nữa do có sự đùn đẩy, né tránh trách nhiệm hoặc do năng lực cán bộ hạn chế không tham mưu giải quyết đúng luật, kịp thời dẫn đến phải làm đi, làm lại nhiều lần, dẫn đến thời hiệu giải quyết cũng hết hạn, gây khó khăn cho việc giải quyết; làm mất lòng tin trong quần chúng nhân dân và làm mất tính nghiêm minh của pháp luật. Tạo điều kiện cho các đối tượng lowijndung dân chủ để khiếu nại, tố cáo vượt cấp. Từ những tình tiết của tình huống, để giải quyết được đòi hỏi phải có sự thao gia của cả hệ thống chính trị tập trung để giải quyết một cách có trách nhiệm và công tâm mới có thể giải quyết dứt điểm được, mới tạo lòng tin trong quần chúng nhân dân, mới giữ nghiêm kỹ cương pháp luật, mới vạch trần đối hành vi lợi dụng quyền dân chủ để xuyên tạc, khiếu nại, tố cáo sai sự thật của ông Zan, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an ninh nông thôn ở địa phương. Trong giải quyết cần phải bạch giữa việc giải quyết khiếu nại tranh chấp với tinh thần trách nhiệm của tập thể và cá nhân, cần dựa cả vào luật thời điểm ông khiếu nại và luật hiện hành.

Trang 1

C VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNHLỚP BỒI DƯỠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH

tổ chức tại tỉnh Thừa Thiên Huế, khóa V, năm 2011



TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Công dân RmahZan khiếu nại tranh chấp

đất đai kéo dài, ai đúng, ai sai?

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH LỚP BỒI DƯỠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH

Tổ chức tại tỉnh Thừa Thiên Huế, khóa V, năm 2011

Từ ngày 19 tháng 7 đến ngày 21 tháng 10 năm 2011

TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Công dân RmahZan khiếu nại tranh chấp đất đai kéo dài, ai

Trang 3

Sau thời gian hơn 3 tháng học lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính khóa V, do Học Viện tổ chức tại Văn phòng đại diện ở tỉnh Thừa thiên Huế Được các đồng chí Giảng viên Học Viện tận tình truyền đạt các chuyên đề về quản lý hành chính nhà nước ngạch chuyên viên chính, tạo điều kiện cho chúng tôi được tiếp cận với nhiều kiến thức, thông tin mới và một số kinh nghiệm hoạt động thực tế trong quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ở nhiều địa phương rất bổ ích, với những kiến thức mới được học và kinh nghiệm đã tích lũy được trong quá trình công tác lâu nay, trong thời gian công tác tới chắc chắn sẽ gặp thuận hơn và đạt hiệu quả hơn.

Với tình cảm chân thành của học viên đối với thầy, cô giáo Cho phép em được chân thành cảm ơn các đồng chí Giảng viên, cảm ơn các đồng chí cán bộ, công chức Học Viện hành chính, cảm ơn Thầy: PGS TS Hoàng Văn Chức, trưởng Khoa đào tạo, bồi dưỡng Công chức-Tại chức,

đã trực tiếp hướng dẫn thực hiện viết tình huống.

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ, giảng viên, công chức Văn phòng đại diện của Học Viện hành chính tại Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập tại Văn Phòng.

Trong quá trình học tập tuy bản thân đã nổ lực cố gắng nhưng chất lượng bài viết chắc chắn sẽ chưa được cao và còn thiếu sót Kính được quý thầy, cô rộng lượng châm chước, chiếu cố cho em

Cuối cùng xin kính chúc quý Thầy, Cô giáo, các đồng chí cán bộ, giảng viên, công chức Học Viện hành chính dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, gặp nhiều thuận lợi, thành công trong công việc và cuộc sống Kính chúc Học Viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Văn phòng đại diện của Học viện tại Thừa Thiên Huế ngày càng vững mạnh, không ngừng phát triển!

Trang 4

Một lần nữa xin kính chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Xin gửi lời chào trân trọng và cảm ơn chân thành!

10- Phân tích diễn biến tình huống……… …trang 15

11- Nguyên nhân xảy ra tình huống……… …trang 18

12- Hậu qủa của tình

huống……… trang 21

13- XỬ LÝ TÌNH HUỐNG……… ………trang 21

14- Mục tiêu xử lý tình huống……… …trang 21

15- Xây dựng giải pháp xử lý tình

huống……….trang 22

Trang 5

16- Lựa chọn giải pháp xử lý………trang 23

17- KIẾN NGHỊ………….……… ………trang 25

18- Kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước………trang 25

19- Kiến nghị đối với cơ quan chức năng………trang 26

20- Kết luận……… trang 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Sắc lệnh số 64-SL, ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt

- Sắc lệnh số 138B-SL ngày 18/12/1949 về thành lập Ban thanh traChính Phủ

- Hiến Pháp năm 1959 sửa đổi bổ sung năm 1980; 1992; 2001

- Nghị quyết số 228NQ/UBTVQH10 quy định về trách nhiệm tiếp côngdân của đại biểu Quốc hội;

- Nghị quyết số 695/2008/NQ-UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốchội sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 370/2003/NQ-UBTVQH11 về việcthành lập Ban Dân nguyện đã quy định thẩm quyền, trách nhiệm của Uỷban Thường vụ Quốc hội trong công tác tiếp công dân đến khiếu nại, tốcáo, kiến nghị, phản ánh

- Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khiếunại, tố cáo năm 2004 và năm 2005

- Luật đất đai 1988 được sửa đổi, bổ sung năm 1993, năm 1998, năm

2001, năm 2003

- Luật thanh tra 2004

- Các Nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện các luật, các nghị địnhcủa Chính Phủ có liên quan đến đất đai, khiếu nại tố cáo, liên quan tiếpcông dân

- Tài liệu bồi dưỡng về quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính

Do học Viện Hành chính biên soạn

GHI CHÚ CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG

BÀI VIẾT

- HĐND là Hội đồng nhân dân

- ĐB QH là Đại biểu Quốc Hội

Trang 6

- UBND là Uỷ ban nhân dân.

- TAND là Tòa án nhân dân

- TANDTC là Tòa án nhân dân tối cao

- VKSND là Viện kiểm sát nhân dân

LỜI NÓI ĐẦU

Trong sự nghiệp đổi mới, Đất nước chuyển mình, tiến hành công

nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế thị

trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy Đảng và Nhà nước ta đãquan tâm, ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật, nhưng thựctiễn các hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường có nhiều vấn đề mớinảy sinh, một số chính sách, pháp luật được ban hành nhưng chưa hoànchỉnh và chưa theo kịp diễn biến của quá trình đổi mới, một số quyếtđịnh hành chính của các cấp các ngành thiếu chuẩn xác Nhất là nhữngnăm gần đây nền kinh tế đất nước phát triển, tốc độ đô thị hoá được đẩymạnh, pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực còn những bất cập, nhất làpháp luật điều chỉnh chính sách đất đai, khi Nhà nước thực hiện cơ chếquản lý mới bằng việc trả lại những giá trị vốn có của đất đai cho nêntình trạng khiếu nại, tố cáo nói chung, có liên quan đến đất đai nói riêngtăng nhanh cả về số lượng, cũng như phức tạp về tính chất

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, đượcHiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghinhận và Luật khiếu nại - tố cáo quy định cụ thể hơn Quyền khiếu nại, tốcáo của công dân được pháp luật quy định là cơ sở pháp lý cần thiết đểcông dân thực hiện tốt quyền làm chủ và giám sát hoạt động của các cơquan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước đồng thờicũng qua đó phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Giải quyết khiếu nại, tố cáo là nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quannhà nước Việc giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo góp phần ổn định tìnhhình chính trị xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển Nhưng trong giải quyếtkhiếu nại, tố cáo còn thiếu phương pháp, biện pháp để cải tiến việc giảiquyết khiếu nại, tố cáo và những vướng mắc tại cơ sở như hiện nay là lý

do khiếu nại, tố cáo tiếp tục diễn ra Mặt khác, nếu không được quan tâmđúng mức, giải quyết dứt điểm thì khiếu kiện kéo dài, phức tạp dễ bị kẻ

Trang 7

xấu thể lợi dụng để kích động, lôi kéo quần chúng, tập hợp đông ngườinguy cơ thành “điểm nóng” về khiếu nại, tố cáo.

Qua thời gian được học bồi dưỡng 28 chuyên đề quản lý nhà nướcchương trình chuyên viên chính, với chức năng, nhiệm vụ của Thườngtrực Hội đồng nhân dân cấp huyện là giám sát việc giải quyết khiếu nại

tố cáo cũng thấy rằng tình trạng khiếu nại, tố cáo gia tăng, đặc biệt là các

vụ, việc khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai kéo dài, cònvướng mắc nhiều vấn đề chưa giải quyết được, cho nên tôi xin chọn tình

huống “Công dân RmahZan khiếu nại tranh chấp đất đai kéo dài ai đúng, ai sai?” làm bài thu hoạch cuối khóa, là một vụ việc đã và đang

xẩy ra trong thực tế tại địa phương tôi đang công tác đến nay vẫn chưagiải quyết xong, tuy là vụ việc thực tế nhưng xin phép không sử dụng tênthật của các nhân vật trong tình huống Kính mong quý Thầy, cô giáo tạođiều kiện giúp đỡ

Bài viết gồm có 5 phần lớn.

I- Nội dung tình huống

II- Phân tích tình huống

III- Xử lý tình huống

IV- Kiến nghị

V- Kết luận

Trang 8

I NỘI DUNG TÌNH HUỐNG

1 Hoàn cảnh ra đời của tình huống: Năm 1976 sau khi Miền Nam hoàn

toàn giải phóng non sông thu về một mối, Nước nhà thống nhất đi lên xâydựng Chủ nghĩa xã hội Đảng, Nhà Nước ta có chủ trương định canh định

cư, đưa một số dân cư ở đồng bằng lên vùng đồi núi xây dựng, phát triểnkinh tế Xã I, huyện C, tỉnh G là trong những địa phương được lựa chọn bốtrí đưa một số hộ dân ở các tỉnh thuộc Miền trung và một số tỉnh thành trên

cả nước đến định cư làm ăn sinh sống, từ đó dân số tăng dần, nhu cầu vềđất nông nghiệp, đất nhà ở cũng tăng theo, dân số của huyện chủ yếu làngười dân tộc thiểu số tại chổ (Jrai, Barnar ), là một huyện miền núi thuộcTây Nguyên

Gia đình bà Lê Thị Kim C là một trong số công dân đi xây dựng vùng kinh

tế mới 1976 được Nhà nước phân cho một lô đất làm nhà ở, năm 1990 giađình bà bán ngôi nhà và vật kiến trúc trên đất cho ông Huỳnh Văn Lơ cóviết giấy bán và được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận và Bà C đi nơi khác ở.Ông Lơ dỡ ngôi nhà chính đi chổ khác ở, còn lại một nền xi măng, mộtchuồng heo và một mái hiên sau, ông Lơ bán bán cho ông Rmah Zan ÔngRmah Zan sử dụng vật kiến trúc đã mua và tự ý trồng cây lâu năm trênmảnh đất có vật kiến trúc đã mua Năm 1996 gia đình bà C trở lại lô đất cóvật kiến trúc đã bán cho ông Rmah Zan, bà chặt cây cối do Rmah Zan trồng

để dựng nhà và xẩy ra tranh chấp Ông Zan, bà C đều viết đơn khiếu nạigiử Uỷ ban nhân dân xã để giải quyết Uỷ ban nhân dân xã đã tổ chức hòagiải, đối thoại không thành; ông Zan giử đơn khiếu nại lên Uỷ ban nhândân huyện và nhiều cơ quan khác UBND huyện sau hai lần giải quyết, raquyết định giải quyết khiếu nại nhưng hai bên không nhất trí, nên sau đó raquyết định thu hồi quyết định quyết giải quyết 2 lần Đến nay vụ tranh chấpđất đai giữa ông Zan và bà C này chưa có cơ quan nào giải quyết

Trang 9

Luật đất đai; Luật khiếu nại tố cáo được sửa đổi bổ sung nhiều lần nhưngvẫn chưa đáp ứng tình hình diễn biến của đời sống thực tế Quy định vềgiải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp của 2 luật này không khớp nhau.

2 Mô tả tình huống:

Năm 1979 hộ gia đình Lê Thị Kim C ở Bình Trị Thiên, nay là Thừa ThiênHuế đi xây dựng vùng kinh tế mới tại thôn Phú Bình được Hợp Tác xãnông nghiệp xã giao cho một lô đất để lập nghiệp diện tích 2.240m2 , chiềudài 70m, chiều rộng 32m, sau khi được cấp đất gia đình bà C làm 01 cănnhà gỗ 3 gian, xung quanh thưng ván, mái lợp tôn kẽm, nền láng xin măng,

có 01 mái hiên sau, 01 chuồng nuôi heo Năm 1990 do điều kiện gia đìnhgặp khó khăn, gia đình bà Lê Thị Kim C bán căn nhà nói trên cho ôngHuỳnh Văn Lơ, đi nơi khác ở ( việc mua bán có đơn xin xác nhận củaUBND xã, ký ngày 24/10/1990 ) Sau khi mua xong ông Lơ tháo dỡ ngôinhà đưa đi chổ khác, còn lại 01 chuồng heo và 01 mái hiên sau và ôngHuỳnh Văn Lơ bán lại cho ông Rmah Zan chuồng heo và mái hiên sau đó,việc mua bán này không có giấy tờ, ( qua xác minh thì ông Lơ chỉ bán tàisản chứ không bán đất ), sau khi mua tài sản ông Zan đã tháo dỡ hết máihiên sau và chuồng heo để lại lô đất trống Đến năm 1996 bà Lê Thị Kim Ctrở lại lô đất phát hiện ông Zan đã trồng cây điều trên lô đất của mình, giađình bà C chặt cây trồng trên đất để làm nhà thì ông Zan không đồng ý vàkhiếu nại, tranh chấp bắt đầu nẩy sinh

Cụ thể là ngày 03 tháng năm 1997; ngày 11/6/1998 và ngày 20/10/2005 bà

Lê Thị Kim C gửi đơn khiếu nại về việc ông Zan chiếm dụng đất của giađình bà, nên bà đã có đơn gửi thôn, xã chờ giải quyết Ngày 19 tháng 6năm 1996 Uỷ ban nhân dân xã đã mời các biên có liên quan lên đối thoại,

đã phát hiện ông Zan dùng giấy tờ giả mạo để chiếm dụng lô đất của giađình bà C, cho nên gia đình bà C tiếp tục dựng nhà trên lô đất này Việcông Zan dùng giấy tờ giả có kết luận của công an huyện tại báo cáo số 221/

BC ngày 05 tháng 10 năm 2001, khẳng định hành vi dùng giấy tờ giả đượcquy định tại điểm b, khoản 1, điều 221 Bộ Luật hình sự năm 1985 và việc

sử dụng giấy tờ giả để làm tài liệu khiếu nại trong việc mua bán tài sản trênđất giữa ông Zan và ông Huỳnh Văn Lơ vào thời điểm 25/6/1990 là viphạm pháp luật và không đúng sự thật vì tại thời điểm này ông Huỳnh Văn

Lơ chưa mua nhà của bà Lê Thị Kim C, do đó ông Lơ không thể có tài sảntrên đất để bán cho ông Zan, vì bà C bán nhà cho ông Lơ vào ngày24/10/1990, nhưng giấy tờ mua bán giữa ông Lơ với ông Zan ghi ngày25/6/1990

Trang 10

Qua nhiều lần UBND huyện tổ chức họp tại xã, mời người thân các bên vàcán bộ trong hệ thống chính trị xã, thôn và những nhân chứng còn sốngchứng kiến việ mua bán đó, qua đối thoại ông Huỳnh Văn Lơ, ông Lơ và

vợ ông xác nhận là chữ ký trong giấy mua bán không phải của ông, cácthành phần dự họp cũng công nhận ông Lơ không bán đất của bà C cho ôngZan

Ngày 27/10/1997 UBND huyện tiếp tục tổ chức giải quyết ban hành quyếtđịnh số 303/QĐ-UB, không công nhận nội dung khiếu nại của ông Zan.Ông Zan không đồng tình với quyết định trên nên tiếp tục khiếu nại

Ngày 29/4/1998 UBND huyện ban hành quyết định giải quyết số

98/QĐ-UB, thu hồi quyết định 303/QĐ-98/QĐ-UB, việc khiếu nại của ông Zan có nhữngtình tiết cần phải xác minh, điều tra làm rõ thêm để giải quyết đúng phápluật Ông Zan tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên Tòa án về quyết định hànhchính của Uỷ ban nhân dân huyện

Ngày 28/5/1998 Tòa án nhân dân tỉnh ban hành quyết định giải quyết số01/QĐĐC-HC, đình chỉ giải quyết vụ án vì UBND huyện đã có quyết định

số 98/QĐ-UB, ngày 29/4/1998 thu hồi quyết định 303/QĐ-UB của UBNDhuyện

Ngày 15/11/2000 Chủ tịch UBND huyện ban hành quyết định giải quyết số463/QĐ-UB về việc không thừa nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Zan

là không có cơ sở và không đúng sự thật Do luật pháp quy định về thờihiệu xử lý việc ông Zan sử dụng giấy tờ giả đã hết ( thời gian phát hiện lànăm 1997 ) nên ông Zan tiếp tục khiếu nại ra tòa án yêu cầu Tòa án hủyquyết định 643/QĐ-UB, ngày 15/11/2000; qua nhiêm cứu hồ sơ vụ kiệnTòa án hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh kết luận việc ông Zan khiếu nạiviệc mua bán tài sản ( mái hiên sau và chuồng heo ) là việc tranh chấp tàisản thuộc về án dân sự do Tòa án dân sự giải quyết Ông Zan khởi kiệnquyết định số 463/QĐ-UB của UBND huyện ra Tòa án hành chính tỉnh.Ngày 30/10/2003 Chủ tịch UBND huyện ban hành quyết định giải quyết số550/QĐ-CT thu hồi quyết định số 463/QĐ-UB về việc không thừa nhận nộidung đơn khiếu nại của ông Zan Nội dung việc khiếu nại tranh chấp tài sảncủa ông Zan không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện, chuyểntoàn bộ hồ sơ đến Tòa án nhân dân huyện giải quyết theo quy định củapháp luật

Ngày 24/7/2004 Tòa án nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 02/QĐ-HC

về việc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính mà TAND tỉnh đã thụ lý tạivăn bản số 02/HCST, ngày 18/12/2003 yêu cầu hủy quyết định số 463/QĐ-

Trang 11

UB của UBND huyện, do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa hànhchính Ông Zan kháng án đến Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 03/02/2005 Tòa án phúc thẩm tối cao tại Đà Nẵng ban hành quyếtđịnh số 01/QĐPT, nội dung giữ nguyên quyết định sơ thẩm số 02/QĐ-HCngày 24/7/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh, đình chỉ vụ án khởi kiện của ôngZan đối với UBND huyện

Đến nay ( tháng 9/2011) ông Zan tiếp tục giử đơn khiếu nại nhưng cấphuyện vẫn hứa với công dân sẽ điều tra để giải quyết đúng quy tình thủ tục

II PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG.

1 Mục tiêu của phân tích tình huống:

Căn cứ cơ sở lý luận chung, quan điểm, chủ trương, các quy định của phápluật; kiến thức về quản lý nhà nước được tiếp thu qua khóa học với một sốkinh nghiệm công tác cá nhân, trên cơ sở diễn biến tình huống vụ khiếu nạitranh chấp kéo dài của ông Rmah Zan

Qua vụ khiếu nại kéo dài và diễn biến phức tạp của công dân Rmah Zan,chúng ta cần nhìn nhận thật khách quân để rút ra những kinh nghiệm,những khiếm khuyết, yếu kém để chấm chỉnh kịp thời nhằm nâng cao chấtlượng hiệu quả công tác quản lý và giải quyết khiếu nại, tố cáo, thực sự tạo

sự chuyển biến tích cực; có những giải pháp tích cực để giải quyết cơ bảncác vấn đề khiếu kiện nổi cộm hiện nay Trong quản lý và tiến hành việcgiải quyết khiếu nại; tố cáo nói chung, giải quyết vụ việc ông Zan và bà Cnói riêng phải đạt được mục đích, yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất: thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; giảiquyết khiếu nại, tố cáo phải có quyết định giải quyết theo đúng trình tự, thủtục quy định - của pháp luật; đồng thời nghiêm chỉnh chấp hành quyết địnhđang có hiệu lực thi hành

Thứ hai: Chính quyền các cấp, thủ trưởng các cơ quan phải coi việc giảiquyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền là trách nhiệm của chính mình.Các khiếu nại, tố cáo phải được giải quyết dứt điểm ngay tại cơ sở Khắcphục tình trạng khiếu nại, tố cáo tràn lan, vượt cấp

Thứ ba: Tăng cường pháp chế XHCN xây dựng và củng cố Nhà nước phápquyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Thực hiện nghiêm chỉnhchủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần giữvững ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội

Thứ tư: trong quá trình giải quyết phải làm rõ được vụ khiếu nại tranh chấpkéo dài này nguyên nhân từ đâu? do ai? phải bảo vệ quyền lợi của Nhànước, quyền lợi hợp pháp của công dân

Trang 12

2 Cở sở lý luận:

Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tiếpdân Tiếp công dân là giai đoạn đầu của công tác giải quyết khiếu nại, tốcáo, đóng vai trò quan trọng như là một khâu then chốt góp phần giải quyết

có hiệu quả việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, qua đó bảo vệlợi ích của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Với nhận thức về tầm quan trọng của công tác tiếp dân, trong nhiều nămqua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về công tácnày nhằm phát huy quyền dân chủ nhân dân cũng như củng cố mối quan hệgiữa nhân dân với Đảng và Nhà nước:

- Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành: Sắc lệnh số 64-SL, ngày 23/11/1945thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, Điều 2 của Sắc lệnh này quy định mộttrong những nhiệm vụ của Ban thanh tra là “Tiếp nhận các đơn khiếu nạicủa nhân dân” Sắc lệnh số 138B-SL ngày 18/12/1949 về thành lập Banthanh tra Chính Phủ, trong đó điểm a, b Điều 4 quy định cơ quan này cónhiệm vụ thanh tra các vụ khiếu nại của nhân dân cùng với việc “xem xét

sự thi hành chính sách, chủ trương của Chính phủ, thanh tra các uỷ viên Uỷban kháng chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết”

- Điều 29 Hiến Pháp năm 1959, quy định: Công dân nước Việt Nam dânchủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nướcnào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước Nhữngviệc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bịthiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyềnđược bồi thường

- Điều 19 Hiếp pháp 1980, quy định: “ Đất đai, tài nguyên, rừng núi, sông

hồ, hầm mỏ, các tài sản khác ” mà pháp luật quy định là của Nhà nước

- đều thuộc sở hữu toàn dân

- Điều 20 Hiến pháp 1980, quy định: “ Nhà nước thống nhất quản lý đấtđai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý vàtiết kiệm; Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sửdụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật.”

- Điều 73, Hiến pháp năm 1980 quy định: Công dân có quyền khiếu nại và

tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái phápluật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặccủa bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó Các điềukhiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Mọihành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp

Trang 13

thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồithường Nghiêm cấm việc trả thù người khiến nại, tố cáo.

- Điều 74 Hiến Pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: Côngdân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổchức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếunại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thờihạn pháp luật quy định Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời

xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vậtchất và phục hồi danh dự Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáohoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại ngườikhác

- Điều 18, Hiến Pháp năm 1992 và sửa dổi bổ sung năm 2001 quy đinh:

“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật,bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất chocác tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”

- Chính phủ ban hành Nghị định số 89/CP, ngày 07/8/1997 kèm theo Quychế tổ chức tiếp công dân trong đó quy định rõ về mục đích của công táctiếp công dân

- Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại,

tố cáo năm 2004 và năm 2005, trong đó dành hẳn một chương (Chương V)

để quy định về công tác này Trên cơ sở đó Nghị định số 136/2006/NĐ-CPban hành ngày 14/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn việc tiếp côngdân, tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đếnkhiếu nại, tố cáo Trong đó quy định rõ về trách nhiệm của Thủ trưởng các

cơ quan nhà nước; trách nhiệm của người tiếp công dân khi tiếp nhận cáckhiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo;quyền và nghĩa vụ của công dân khi đến khiếu nại, tố cáo…

Để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trongcông tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân, ngay sau Luật Khiếunại, tố cáo năm 2004 được ban hành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số30/2004/QH11 về công tác giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý hànhchính nhà nước Trên cơ sở đó Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số36/2004/CT-TTg ngày 27/10/2004 về việc chấn chỉnh và tăng cường tráchnhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyếtkhiếu nại, tố cáo Trước đó ngày 09/10/2001 Thủ tướng Chính phủ ban

Trang 14

hành Chỉ thị số 26/CT-TTg về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấptham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đó có việc phối hợp tham giatiếp công dân.

Để phục vụ việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội, vai trò của đạibiểu Quốc hội, trong nhiều văn bản pháp luật đã quy định về công tác tiếpcông dân của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Đại biểu Quốc hội Nghị quyết

số 228NQ/UBTVQH10 quy định về trách nhiệm tiếp công dân của đại biểuQuốc hội; Nghị quyết số 370/2003-NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003; Nghịquyết số 695/2008/NQ-UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sửađổi, bổ sung Nghị quyết số 370/2003/NQ-UBTVQH11 về việc thành lậpBan Dân nguyện đã quy định thẩm quyền, trách nhiệm của Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội trong công tác tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,phản ánh Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với vai trò là cơ quan giám sát củaQuốc hội đã tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáotrong 03 năm (2006, 2007, 2008), qua đó đã có những đánh giá về ưu vànhược điểm của công tác tiếp dân để từ đó đã đưa ra những kiến nghị giảipháp nhằm tăng cường hiệu quả cho công tác tiếp dân

- Luật đất đai 1988 được sửa đổi, bổ sung năm 1993, năm 1998, năm 2001,năm 2003, có một chương được quy định về Thanh tra, giải quyết tranhchấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai, gồm 13 điều(từ Điều 132 đến Điều 144)

Sự việc xẩy ra đặt ra cho các Nhà quản lý hành chính nhà nước phải suynghĩ về thực tế thực trạng quản lý Nhà nước nói chung và quản lý nhà nước

về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo nói riêng, nhằm góp phầnđẩy nhanh quá trình cải cách hành chính nhất là thẻ chế hành chính, thủ tụchành chính trong thời gian tới

3 Phân tích diễn biến tình huống:

Việc bà C sau khi ông Rmah Zan mua tài sản trên đất đã tháo dỡ tài sản, bỏtrống lô đất nhưng bà C không quản lý, sử dụng từ năm 1990 đến năm

1996 Tuy việc chuyển nhượng lô đất giữa ông Lê Thị Kim C và ôngHuỳnh Văn Lơ với ông Rmah Zan là không có, nhưng ông Zan có trồngcây lâu năm là cây điều là có, trong quá trình đó bà C không phản đối việctrồng cây của ông Zan, hơn nữa vào thời điểm bà C bán tài sản không thểbán được đất vì Luật đất đai năm 1988, Điều 3 Nhà nước bảo đảm chongười sử dụng đất được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên đất đượcgiao, kể cả quyền chuyển, nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tưtrên đất được giao khi không còn sử dụng đất và đất đó được giao cho

Ngày đăng: 10/09/2020, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w