các điều ước quốc tế cho thấy là một cái điều ước quốc tế tốt sẽ bị giảm đi rất nhiều nếu nó không có một cơ chế để đảm bảo thực thi hiệu quả.Nếu như có thể chuẩn bị một hệ thống một cơ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN LUẬT CHUYÊN NGÀNH
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Điểm thành
phần CB Chấm 1 CB Chấm 2 CB coi thi Điểm kết luận BCTH
Ký và ghi rõ họ tên
Bằng số:
Bằng chữ: BTTH
Ký và ghi rõ họ tên Ký và ghi rõ họ tên
Tên học phần: Luật Thương mại Quốc tế
Họ và tên sinh viên: Trương Thị Hồng Mã sinh viên: 17D200194
Số báo danh (Theo STT trong danh sách): 37 Ngày 14 tháng 11 năm sinh 1999
Mã đề thi: 08
BÀI LÀM PHẦN 1: báo cáo thu hoạch
Với sự phát triển ngày càng nhanh chóng trong các quan hệ kinh tế quốc tế thì Tổ chức Thương mại thế giới là một diễn đàn đàm phán thương mại đa phương và tiến hành nhiệm
vụ chính là điều phối thương mại toàn cầu Để đảm bảo được kế thừa, tiếp tục phát huy thì cần có một tổ chức thiết chế độc lập có tư cách pháp nhân, có cơ cấu tổ chức cụ thể, có đầy
đủ năng lực, chức năng nhiệm vụ để quản lý tất cả các hiệp định thương mại đã được phát sinh thông qua các vòng đàm phán và giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả hơn Vì vậy, WTO là thiết chế thay thế, kế thừa và phát triển sự nghiệp của Hiệp định GATT Lịch sử của
Trang 2các điều ước quốc tế cho thấy là một cái điều ước quốc tế tốt sẽ bị giảm đi rất nhiều nếu nó không có một cơ chế để đảm bảo thực thi hiệu quả.Nếu như có thể chuẩn bị một hệ thống một cơ chế tốt, khách quan thì tất nhiên nó sẽ làm gia tăng giá trị thực tiễn của điều ước giữa các bên và cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại thế giới WTO cũng chính là được thừa nhận như vậy Sau đây, em sẽ tìm hiểu về trình tự thủ tục của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và liệu rằng có phải mọi quốc gia đều có quyền tiếp cận cơ chế giải quyết của WTO để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế hay không?
Đầu tiên, về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO gồm: giải quyết tranh chấp ở giai đoạn tham vấn, giai đoạn hội thẩm, giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm, thi hành phán
quyết và các vấn đề liên quan Xét về giai đoạn tham vấn: được quy định tại Điều 4 DSU thì
các cuộc tham vấn diễn ra bí mật và dựa trên tinh thần hợp tác giữa các bên Trước hết bên
có khiếu nại phải đưa ra tham vấn đối với bên kia, trong thời hạn 10 ngày bên được tham vấn phải trả lời và tiến hành tham vấn trong 30 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu Bên được tham vấn có nghĩa vụ đảm bảo việc xem xét và tạo cơ hội cho bên yêu cầu tham vấn
Trường hợp ngoại lệ là khi hàng hóa có nguy cơ hư hỏng hay đang đi đường thì bên tham vấn phải trả lời trong vòng 10 ngày và sau 20 ngày nếu không thể giải quyết thì bên khiếu
nại có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Tiếp theo, giai đoạn hội thẩm: khi có yêu cầu
bằng văn bản thành lập ban hội thẩm của nguyên đơn Bên khiếu nại cần nêu rõ thủ tục tham vấn đã được tiến hành nhưng chưa được giải quyết, DSB sẽ họp để xem xét yêu cầu cho việc nộp đơn thành lập Ban hội thẩm theo Điều 6 DSU Hoạt động của Ban hội thẩm và
thông qua báo cáo của Ban hội thẩm sẽ lần lượt theo căn cứ Điều 12 và Điều 16 DSU Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm: thời hạn xem xét kháng cáo không quá 60 ngày kể từ ngày
một bên tranh chấp chính thức thông báo quyết định kháng cáo của mình tới ngày cơ quan phúc thẩm chuyển báo cáo lên DSB (trường hợp có yêu cầu gia hạn có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa nhưng phải thông báo lý do cho DSB biết) Các bên không có quyền phản đối báo cáo này, DSB thông qua báo cáo của cơ quan phúc thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ khi báo cáo của SAB được chuyển đến tất cả các thành viên trừ khi DSB đồng thuận phủ quyết
Giai đoạn thứ tư là thi hành phán quyết gồm có: khuyến nghị các giải pháp, thi hành, bồi
thường và trả đũa theo quy định thỏa thuận của DSU việc thi hành khuyến nghị và phán quyết của DSB là bắt buộc để đảm bảo giải quyết tranh chấp hữu hiệu quy định tại Điều 19
và 21 DSU.Theo thỏa thuận DSU thì bồi thường mang tính chất tự nguyện và phù hợp với các hiệp định thuộc diện điều chỉnh các thỏa thuận DSU Còn trả đũa là biện pháp tạm thời chỉ được phép dùng trong trường hợp nước thành viên vi phạm đã thua kiện nhưng không thực hiện khuyến nghị, phán quyết và hai bên không thể đồng ý với nhau mức bồi thường
Các vấn đề khác gồm: tiến hành môi giới, trung gian, hòa giải quy định tại Điều 5 DSU
Các hình thức này được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, bí mật giữa các bên tại bất kỳ thời điểm nào sau khi phát sinh tranh chấp và các thủ tục này cũng có thể chấm dứt vào bất kỳ
Trang 3lúc nào Chức năng môi giới, trung gian, hoà giải do Tổng Thư ký WTO đảm nhiệm (Điều 5 DSU) Các phương thức chủ yếu dựa trên đàm phán ngoại giao này được DSU đặc biệt khuyến khích sử dụng (Điều 3.7 DSU); trọng tài có thể lựa chọn theo quy định Điều 22 hoặc
25 của DSU Trọng tài có thể được sử dụng trong các thủ tục sau: xác định thời hạn thực hiện khuyến nghị trong trường hợp bên thua không thể thực hiện ngay khuyến nghị; xác định mức độ trả đũa trong trường hợp bên thua có kiến nghị về vấn đề này; ngoài khuôn khổ
cơ chế giải quyết tranh chấp DSU
Có phải mọi quốc gia đều có quyền tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế không ? Căn cứ theo khoản 1 Điều 2 của Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới thì phạm vi của WTO là một khuôn khổ định chế chung để điều chỉnh các mối quan hệ thương mại giữa các thành viên của tổ chức về những vấn đề liên quan đến các Hiệp định và các văn bản pháp lý không tách rời gồm cả những Phụ lục của Hiệp định này Theo căn cứ trên thì quan điểm của em là chỉ có thành viên của WTO mới có quyền tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO còn những quốc gia không phải là thành viên nên chưa thể dùng cơ chế này giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO này là bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên theo đó mỗi thành viên có khiếu nại, tranh chấp với thành viên khác buộc phải đưa tranh chấp ra giải quyết bằng cơ chế này Quốc gia thành viên bị khiếu nại không có cơ hội lựa chọn nào khác là chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp theo các thủ tục của cơ chế này Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là cơ chế giải quyết giữa chính phủ với chính phủ, vì vậy chỉ các thành viên WTO mới có thể sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO với tư cách là các bên tranh chấp hoặc các bên thứ ba Do đó, bất kì ngành kinh tế hoặc cá nhân của một thành viên WTO muốn sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO để chống lại chính phủ của thành viên WTO khác thì trước hết, họ phải thuyết phục được chính phủ nước mình đệ đơn khởi kiện chống lại thành viên WTO khác
đó Điều đó cũng có nghĩa rằng, Ban thư kí WTO, các quan sát viên của WTO, các tổ
chức quốc tế khác và các chính quyền địa phương, nếu không phải là thành viên của WTO, thì không có quyền đề xuất khởi xướng các thủ tục giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là một thể thống nhất các cơ quan, nguyên tắc và quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp nhằm đạt tới mục tiêu bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các nước thành viên WTO khi có sự vi phạm các Hiệp định có liên quan của một hay nhiều thành viên khác Xét ở mức độ rộng hơn, cơ chế này nhằm cung cấp các thủ tục đa phương giải quyết tranh chấp thay thế cho các hành động đơn phương của các quốc gia thành viên vốn tồn tại nhiều nguy cơ bất công, gây trì trệ và xáo trộn sự vận hành chung của các qui tắc thương mại quốc tế Có thể nói cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO ra đời là nhằm đáp
Trang 4ứng nhu cầu khách quan khi nền thương mại toàn cầu đã phát triển sang giai đoạn mới với
xu hướng toàn cầu hóa
PHẦN 2: bài tập tình huống
1 Theo đề bài áp dụng theo Công ước Viên 1980
* Ngày 28/5/2019 công ty Y nhận được đề nghị và fax sang cho công ty X cùng ngày yêu cầu giảm giá hàng xuống còn 18 USD/chai, bổ sung điều khoản giao hàng theo CIF Hải Phòng và đồng thời yêu cầu công ty X giao hàng vào ngày 5/6/2019 Nhận được fax của Y, công ty X không trả lời
- Căn cứ khoản 1 Điều 19 thì việc Y có văn bản thông báo yêu cầu X giảm giá, bổ sung một
số điều khoản giao hàng vào 5/6 là một lời chào hàng mới
* Trường hợp 1: Công ty X vi phạm pháp luật
- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 18 thì sự im lặng của X được coi là chấp nhận chào hàng trong trường hợp hai bên đã có mối quan hệ tương hỗ hoặc tập quán thì sự im lặng của X được coi là lời chấp nhận chào hàng
- Theo Điều 23 quy định kể từ thời điểm lời chấp nhận chào hàng của X có hiệu lực thì hợp đồng giữa công ty X và Y được hình thành
- Căn cứ theo Điều 30, công ty X phải có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên
quan đến hàng hoá và chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá theo đúng quy định
của hợp đồng và của Công ước này nhưng thực tế công ty Y đã không nhận được
hàng khi đến cảng Hải Phòng
=> Khi công ty X đã không giao hàng thì gây hậu quả cả vật chất lẫn tinh thần cho
công ty Y và xâm phạm đến quan hệ thương mại giữa các bên được pháp luật bảo vệ
Vì vậy, công ty X đã vi phạm pháp luật
* Trường hợp 2: Công ty X không vi phạm pháp luật
- Căn cứ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 18 thì sự im lặng của công ty X được coi là
không chấp nhận chào hàng khi sự chấp nhận ấy không được gửi tới người chào
hàng trong thời hạn mà người này đã quy định trong chào hàng, hoặc nếu thời hạn đó
không được quy định như vậy, thì trong một thời hạn hợp lý, xét theo các tình tiết
của sự giao dịch, trong đó có xét đến tốc độ của các phương tiện liên lạc do người
chào hàng sử dụng Vì vậy, hợp đồng mới của X và Y không hình thành
- Căn cứ theo Điều 30, công ty X phải có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên
quan đến hàng hoá và chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá theo đúng quy định
của hợp đồng và của Công ước này khi thực tế ngày 5/6 công ty Y vẫn đến cảng Hải
Phòng nhưng không nhận được hàng
Trang 5=> Có thể thấy giữa công ty X và công ty Y không tồn tại hợp đồng nên hai bên
không có giàng buộc về mặt pháp lý Nên công ty X không vi phạm pháp luật
2 Công ty Y có thể áp dụng những chế tài để bảo vệ quyền lợi quyền lợi của mình là:
- Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng: Trường hợp công ty X đã không giao rượu cho
công ty Y và căn cứ theo khoản 1 Điều 47 Công ước Viên 1980 về “người mua có thể cho người bán thêm một thời hạn bổ sung hợp lý để người bán thực hiện nghĩa vụ” Vì vậy, công
ty Y có quyền yêu cầu công ty A giao hàng ngay Và công ty Y có thể cho công ty X một thời gian hợp lý để thực hiện nghĩa vụ của mình Trong thời gian gia hạn bổ sung thì công ty
X phải giao hàng cho công ty Y
- Hủy hợp đồng: Căn cứ theo khoản 1 Điều 49 Công ước Viên 1980 thì trong trường hợp
không giao hàng: nếu công ty X không giao hàng trong thời gian đã được công ty Y gia hạn thêm cho họ chiếu theo khoản 1 điều 47 hoặc nếu người bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời gian được gia hạn này Vì vậy, công ty Y có quyền hủy hợp đồng
- Chế tài bồi thường thiệt hại: Theo Điều 74 Công ước Viên 1980 thì “tiền bồi thường
thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng
Hành vi vi phạm là công ty X đã không giao hàng đúng ngày Thiệt hại Y có thể sẽ lỡ mất một khoản lợi nào đó khi mà X không giao đúng ngày Vì vậy, công ty X sẽ phải bồi thường thiệt hại cho công ty Y tuy nhiên, tiền bồi thường này không thể cao hơn số tiền tổn thất thực tế
- Chế tài phạt vi phạm: ngoài ra X cũng có thể chịu chế tài phạt vi phạm khi mà X vi phạm
nghĩa vụ của hợp đồng là giao hàng không đúng thời hạn hoặc không giao hàng Nếu X và
Y có thỏa thuận áp dụng chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng và thỏa thuận áp dụng pháp luật Việt Nam về phạt vi phạm
Căn cứ theo Điều 300 và Điều 301 Luật Thương mại 2005 thì công ty Y có thể yêu cầu công ty X trả một khoản tiền do vi phạm hợp đồng và mức phạt này không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng vi phạm