1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng mô hình DEAL đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

137 35 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đã chọn đề tài “ Ứng dụng mô hình DEA đánh giá hiệu quả hoạt độngcủa các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế.Đề tài sử dụng phương pháp ng

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DEA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ

PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DEA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số : 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 3

Tôi tên là Nguyễn Thị Kiều Trang, là học viên cao học khóa 27 – chuyên ngành

Tài chính – Ngân hàng – Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu và kết quảtrình bày trong đề tài là trung thực, chính xác, được thu thập từ nguồn đáng tin cậy và chưa từng công bố trước đây

Các số liệu, kết quả do học viên thu thập, thống kê và xử lý Các nguồn dữ liệu khácđược học viên sử dụng trong đề tài đều có ghi rõ nguồn gốc trích dẫn

Tp.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Nguyễn Thị Kiều Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI………1

1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu……… 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu……… 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu……… 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu………3

1.5 Ý nghĩa của đề tài……… 4

1.6 Kết cấu của luận văn……… 5

Kết luận chương 1……… …6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU DEA……….7

2.1 Hiệu quả hoạt động Ngân hàng thương mại……….7

2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại…… 8

2.2.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua chỉ tiêu tài chính……… 8

2.2.2 Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên………13

2.2.3 Giới thiệu tổng quát về phương pháp DEA……….14

2.2.4 Cách tiếp cận đánh giá hiệu quả theo phương pháp DEA……… 17

2.2.5 Lựa chọn biến trong mô hình DEA……… 21

2.2.6 Mô hình DEA……… 21

2.2.7 Chỉ số Malmquist ước lượng thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp………….26

Trang 5

2.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng bằng

phương pháp DEA………29

Kết luận chương 2……… 32

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM……….33

3.1 Tổng quan hệ thống NHTMCP Việt Nam ……… 33

3.1.1 Hệ thống NHTMCP Việt Nam ……… 33

3.1.2 Vốn điều lệ của các NHTMCP Việt Nam……… 34

3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam……….35

3.2.1 Hoạt động huy động vốn……… 36

3.2.2 Hoạt động cấp tín dụng………38

3.2.3 Hoạt động thanh toán và các hoạt động khác……… 42

3.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009 – 2017 bằng các chỉ số tài chính……… 44

3.3.1 Lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam……….44

3.3.2 Khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam ………45

Kết luận chương 3……… 50

CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM BẰNG MÔ HÌNH DEA……….51

4.1 Phương pháp nghiên cứu………51

4.2 Quy trình nghiên cứu……… 51

4.2.1 Chọn lựa các Ngân hàng làm mẩu……… 51

4.2.2 Chọn lựa biến đầu vào và biến đầu ra……….51

4.2.3 Mô hình DEA……… 52

4.3 Kết quả nghiên cứu……… 55

4.3.1 Hiệu quả kỹ thuật theo mô hình DEACRS và DEAVRS ……… 55

Trang 6

CHƯƠNG 5: GỢI Ý GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA

CÁC NHTMCP VIỆT NAM……… 71

5.1 Gợi ý giải pháp……… 71

5.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo……….80

Kết luận chương 5……… 82

KẾT LUẬN……… 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Từ viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt

CRS Constant returns to scale Sản lượng không đổi theo quy môDEA Data envelopment analysis Phân tích bao dữ liệu

DMU Decision making unit Đơn vị ra quyết định

DRS Decreasing returns to scale Sản lượng giảm theo quy môEffch Technical efficiency change Thay đổi hiệu quả kỹ thuật

IRS Increasing returns to scale Sản lượng tăng theo quy mô

NHTMCP Join-stock commercial bank Ngân hàng Thương mại Cổ phần

PE Pure technical efficiency Hiệu quả kỹ thuật thuần

Pech Pure technical efficiency change Thay đổi hiệu quả kỹ thuật thuầnROA Return on assets Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sảnROE Return on equity Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở

hữu

Sech Scale efficiency change Thay đổi hiệu quả quy mô

Techch Technological change Thay đổi tiến bộ công nghệ

TFP Total factor productivity Năng suất nhân tố tổng hợp

Tfpch Total factor productivity change Thay đổi năng suất nhân tố tổng hợpVRS Variable ruturns to scale Sản lượng thay đổi theo quy mô

Cty TNHH Một Thành Viên Quản

Dụng

Trang 8

Bảng 3.1 : Số lượng các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2017 33Bảng 3.2 : Vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2017 34Bảng 3.3 : Tổng phương tiện thanh toán, số lượng thẻ, máy ATM và máy POS của hệthống NHTM Việt Nam qua các năm 42Bảng 3.4 : Lợi nhuận của 15 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009-2017 44Bảng 3.5 : Chỉ số NIM của 15 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009-2017 48Bảng 4.1 : Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô trung bìnhcủa 15 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009 – 2017 55Bảng 4.2 : Hiệu quả trung bình chung của các NHTMCP giai đoạn 2009 – 2017 56

Bảng 4.3 : Số lượng các NHTMCP đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu giai đoạn 2009 – 2017

57

Bảng 4.4 : Số lượng các NHTMCP đạt hiệu quả tối ưu theo quy mô giai đoạn

2009 – 2017 59Bảng 4.5 : Thứ tự xếp hạng theo quy mô tổng tài sản bình quân và hiệu quả kỹ thuậtbình quân giai đoạn 2009 – 2017 60Bảng 4.6 : Số lượng các NHTMCP hoạt động trong điều kiện DRS, IRS và CONS 62Bảng 4.7 : Các NHTMCP Việt Nam hoạt động trong điều kiện IRS, CONS, DRS giaiđoạn 2009-2017 63Bảng 4.8 : Chỉ số Malmquist bình quân toàn bộ mẫu giai đoạn 2009 – 2017 64Bảng 4.9 : Kết quả ước lượng effch, techch, pech, sech và tfpch bình quân của 15NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009 – 2017 66

Trang 9

Đồ thị 2.1: Hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu vào 18

Đồ thị 2.2: Hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu vào ước lượng từ dữ liệu mẫu 19

Đồ thị 2.3: Hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu ra 20

Đồ thị 2.4: Hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu ra ước lượng từ dữ liệu mẫu 20

Đồ thị 2.5: Hiệu quả không đổi theo quy mô và hiệu quả thay đổi theo quy mô vàđường bao giới hạn 25Biểu đồ 3.1: Tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam qua các năm 35Biểu đồ 3.2: Tăng trưởng huy động vốn của hệ thống NHTMCP Việt Nam giai đoạn2009-2017……… 36

Biểu đồ 3.3: Tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2009

-2017 ……… 38

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn2009-

2017……… 39

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ ROA bình quân của 15 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009-2017.46

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ ROE bình quân của 15 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009-2017.46Biểu đồ 4.1: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô của 15NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009-2017 67

Trang 10

Tác giả đã chọn đề tài “ Ứng dụng mô hình DEA đánh giá hiệu quả hoạt độngcủa các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế.

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụngphương pháp bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) để đo lường hiệu quảhoạt động của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009 - 2017

Với phương pháp định tính, tác giả tổng hợp, mô tả, thống kê qua việc thu thập

dữ liệu từ các báo cáo tài chính hợp nhất của 15 NHTMCP Việt Nam, các báo cáothường niên của NHNN từ năm 2009 đến 2017 Đồng thời, xây dựng bảng biểu, biểu

đồ và đồ thị để đánh giá thực trạng về hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Namgiai đoạn 2009 - 2017

Với phương pháp định lượng, tác giả ứng dụng phương pháp phân tích bao dữliệu với mô hình DEACRS – mô hình hiệu quả không đổi theo quy mô và mô hìnhDEAVRS - mô hình hiệu quả thay đổi theo quy mô để đo lường, đánh giá hiệu quả hoạtđộng của các NHTMCP Việt Nam Đồng thời, kết hợp phân tích chỉ số Malmquist đolường năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) xác định nguồn gây phi hiệu quả hoạt độngcho các ngân hàng này Dựa trên phần phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động và kếtquả nghiên cứu đạt được, tác giả gợi ý một số giải pháp như sau: Tăng hiệu quả quy

mô, tăng hiệu quả kỹ thuật thuần, công tác quản lý và xử lý nợ, nâng cao chất lượngdịch vụ truyền thống và phát triển mở rộng sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại.Các giải pháp này giúp ban điều hành ngân hàng cải thiện, nâng cao chất lượnghoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động của cácNHTMCP Việt Nam góp phần thực hiện mục tiêu phát triển của ngành ngân hàng nóiriêng và mục tiêu ổn định nền kinh tế vĩ mô nói chung

Tuy nhiên, đề tài cũng còn một số hạn chế nhất định, đây là cơ sở tiền đề cho cácnghiên cứu tiếp sau

Trang 11

master thesis.

The thesis uses qualitative and quantitative research methods, using DataEnvelopment Analysis (DEA) to measure the performance of Vietnamese commercialbanks in the period of 2009 - 2017

With the qualitative method, the author synthesizes, describes, and statisticsthrough the collection of data from the consolidated financial statements of 15Vietnamese commercial banks, the annual reports of the State Bank from 2009 to

2017 Dong time, build tables, charts and graphs to assess the status of operationalefficiency of Vietnamese commercial banks in the period of 2009 - 2017

With the quantitative method, the author applied the data analysis method withDEACRS model - a constant model of scale efficiency and DEAVRS model - effectivemodel changes according to scale to measure and measure price performance ofVietnamese commercial banks At the same time, the combination of Malmquist indexfactor analysis (TFP) combines the non-performance source for these banks Based onthe analysis of the status of performance and research results achieved, the authorsuggests some solutions as follows: Increase scale efficiency, increase technicalefficiency, management and handling debt, improve traditional service quality anddevelop modern banking service products

These solutions help the bank's executive board improve and improve the quality

of operations, improve the competitiveness and improve the operational efficiency ofVietnam's commercial banks, contributing to the implementation of the developmentobjectives of the banking industry in particular and the goal of stabilizing the macroeconomy in general

However, the thesis also has some certain limitations, this is the premise forfurther studies

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Hội nhập kinh tế quốc tế được coi là xu hướng phát triển của ngành ngân hàngViệt Nam hiện nay Quá trình hội nhập tạo ra nhiều cơ hội cho hệ thống ngân hànghoạt động vững mạnh và hiệu quả, giúp các ngân hàng trong nước có cơ hội tiếp cậnvới các nguồn vốn, công nghệ, trình độ quản lý và kinh nghiệm của các ngân hàngthương mại lớn trên thị trường quốc tế

Trong những năm gần đây, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh

tế khu vực và thế giới Việt Nam đã chính thức tham gia Cộng đồng kinh tế ASIAN(AEC) vào cuối năm 2015, cùng với đó là Hiệp định Thương mại tự do FTA, và mớiđây chính thức ký kết Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) ngày04/02/2016 Quá trình mở cửa tạo nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra nhiềuthách thức cho hệ thống ngân hàng Việt Nam Hội nhập làm tăng số lượng các ngânhàng nước ngoài, đồng thời tăng tỷ lệ sở hữu của nước ngoài trong các NHTM ViệtNam (Nghị định 60/2015/NH-CP với mức trần tỷ lệ sở hữu nước ngoài cho phép là30%) Điều này gây sức ép cạnh tranh lên các ngân hàng nội địa

Thực hiện Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng trong những năm gần đây đã tạonhiều thay đổi về số lượng ngân hàng cũng như quy mô hoạt động, tạo nhiều điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.Tuy nhiên,hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn tồn đọng nhiều khókhăn với năng lực tài chính còn yếu, chất lượng tài sản kém và cơ cấu danh mục tàisản chưa hợp lý, chất lượng nguồn nhân lực không cao, cạnh tranh gay gắt với cácngân hàng nước ngoài trong việc áp dụng hệ thống công nghệ hiện đại và trình độ nănglực chuyên môn, cũng như cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ thanh toán vàdịch vụ ngân hàng khác

Đóng vai trò quan trọng là kênh truyền dẫn vốn cho nền kinh tế, sự an toàn, ổnđịnh, vững chắc của hệ thống ngân hàng quyết định đến sự ổn định hệ thống tài chính

Trang 13

và giúp ổn định kinh tế vĩ mô Trước sức ép cạnh tranh của quá trình hội nhập hiệnnay, để có thể đứng vững đòi hỏi các ngân hàng cần nâng cao hiệu quả hoạt động, khảnăng cạnh tranh, giảm chi phí, tìm kiếm cơ hội kinh doanh và phát triển, nâng caonăng lực quản trị theo thông lệ quốc tế, nổ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ,ngân hàng giữ vai trò chủ lực trên thị trường tài chính, bắt kịp sự phát triển nhanhchóng của lĩnh vực tài chính các nước trong khu vực.

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong hệ thống ngân hàngViệt Nam sẽ có ý nghĩ đối với ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề cònvướng mắc, sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện hữu, tăng cường năng lực cạnh tranh

và đưa ra các quyết định chính sách nhằm mang lại lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng vàgiúp các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc hỗ trợ tạo điều kiện để các ngân hàng

hoạt động tốt hơn Đó là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu “Ứng dụng mô hình DEA

đánh giá hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt

Nam”.

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụng phươngpháp bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) để đo lường hiệu quả hoạt độngcủa các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009 - 2017 Đồng thời kết hợp phân tích chỉ

số đo lường thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp – Malmquist để tìm ra các yếu tố tácđộng dẫn đến phi hiệu quả hoạt động Dựa trên phần phân tích thực trạng hiệu quả hoạtđộng và kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả gợi ý một số giải pháp giúp ban điềuhành ngân hàng cải thiện, nâng cao chất lượng hoạt động, nâng cao năng lực cạnhtranh, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển của ngành ngân hàng nói riêng và mụctiêu ổn định nền kinh tế vĩ mô nói chung

- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý luận về hiệu quả hoạtđộng Ngân hàng, nghiên cứu phương pháp phân tích bao dữ liệu (Data EnvelopmentAnalysis – DEA) và chỉ số đo lường thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp Malmquist

Trang 14

- Mục tiêu tiếp theo là phân tích sơ lược thực trạng hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam với nguồn số liệu được thu thập đến cuối năm 2017 Ứngdụng mô hình DEA đánh giá hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng nghiên cứu.

- Một số đề xuất các giải pháp góp phần cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạtđộng của các NHTMCP Việt Nam

Câu hỏi nghiên cứu:

Câu 1: Thực trạng hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam hiện naynhư thế nào ?

Câu 2: Hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam như thế nào theo môhình DEA?

Câu 3: Từ kết quả mô hình các giải pháp nào góp phần cải thiện và nâng caohiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu: là hiệu quả hoạt động của NHTMCP Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: dựa vào nguồn dữ liệu được thu thập từ các báo cáo

tài chính hợp nhất của 15 NHTMCP Việt Nam giai đoạn từ 2009 đến 2017

Mẫu nghiên cứu gồm 15 NHTMCP Việt Nam là: Ngân hàng TMCP An Bình,Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Bản Việt, Ngân hàng TMCP Xuất NhậpKhẩu, Ngân hàng TMCP Kiên Long, Ngân hàng TMCP Quân Đội, Ngân hàng TMCPNam Á, Ngân hàng TMCP Quốc Dân, Ngân hàng TMCP Phương Đông, Ngân hàngTMCP Đông Nam Á, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương, Ngân hàng TMCP Kỹthương, Ngân hàng TMCP Việt Á, Ngân hàng TMCP Quốc Tế và Ngân hàng TMCPViệt Nam Thịnh Vượng Lý do chọn 15 Ngân hàng trên làm mẩu nghiên cứu: số liệucông khai dễ dàng thu thập được từ các báo cáo tài chính hợp nhất

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp định lượng

Trang 15

Với phương pháp định tính, tác giả tổng hợp, mô tả, thống kê qua việc thu thập

dữ liệu từ các báo cáo tài chính hợp nhất của 15 NHTMCP Việt Nam, các báo cáothường niên của NHNN từ năm 2009 đến 2017 Đồng thời, xây dựng bảng biểu, biểu

đồ và đồ thị để đánh giá thực trạng về hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Namgiai đoạn 2009 - 2017

Với phương pháp định lượng, tác giả ứng dụng phương pháp phân tích bao dữliệu với mô hình DEACRS – mô hình hiệu quả không đổi theo quy mô và mô hìnhDEAVRS - mô hình hiệu quả thay đổi theo quy mô để đo lường, đánh giá hiệu quả hoạtđộng của các NHTMCP Việt Nam Đồng thời, kết hợp phân tích chỉ số Malmquist đolường năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) xác định nguồn gây phi hiệu quả hoạt độngcho các ngân hàng này

Làm rõ cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động và phương pháp bao dữ liệu DEA.Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam, đồng thời

sử dụng phương pháp bao dữ liệu DEA đo lường hiệu quả hoạt động của cácNHTMCP Việt Nam với dữ liệu từ năm 2009 đến 2017 Đề tài bổ sung vào kết quảthực tiễn việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam Kết quảnghiên cứu có thể được dùng để xếp hạng các ngân hàng, hoặc kết hợp với nhữngnghiên cứu cùng chủ đề sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để đưa ranhận xét tổng quát về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần ViệtNam Đồng thời, đề tài kết hợp phân tích chỉ số đo lường thay đổi năng suất nhân tốtổng hợp Malmquist để xác định yếu tố gây phi hiệu quả hoạt động của các ngân hàngnày

Dựa trên kết quả nghiên cứu, gợi ý một số giải pháp góp phần nâng cao hiệuquả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hệ thống NHTMCP Việt Nam hiệnnay, giúp phát triển ngành ngân hàng cũng như ổn định nền kinh tế Việt Nam, đồngthời chỉ ra những hạn chế và đưa ra hướng nghiên cứu mới tiếp theo

Trang 16

1.6 Kết cấu luận văn

Đề tài bao gồm 05 chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của NHTM và phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA

Chương 3: Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam.Chương 4: Ứng dụng mô hình DEA đánh giá hiệu quả hoạt động của các

NHTMCP Việt Nam

Chương 5: Gợi ý giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam

Trang 17

Kết luận chương 1

Chương 1 giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu “Ứng dụng mô hình DEA đánhgiá hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” Đề tài kếthợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, mẫu là 15 NHTMCP Việt Namgiai đoạn 2009 -2017

Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là ứng dụng mô hình DEA đánh giá hiệuquả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam, Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứuđịnh tính và định lượng, sử dụng phương pháp bao dữ liệu (Data EnvelopmentAnalysis - DEA) để đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam giaiđoạn 2009 - 2017 Đồng thời kết hợp phân tích chỉ số đo lường thay đổi năng suấtnhân tố tổng hợp – Malmquist để tìm ra các yếu tố tác động dẫn đến phi hiệu quả hoạtđộng

Từ kết quả nghiên cứu, gợi ý một số giải pháp phù hợp cho nhà quản trị ngânhàng nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động cho các NHTMCP Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN

TÍCH BAO DỮ LIỆU DEA

2.1 Hiệu quả hoạt động Ngân hàng thương mại

Hiệu quả là thuật ngữ được dùng trong nhiều lĩnh vực Trong kinh tế học, hiệuquả là thuật ngữ chỉ việc sử dụng các nguồn lực để tối đa hóa sản xuất hàng hóa vàdịch vụ Theo Từ điển kinh tế học của Nguyễn Văn Ngọc ( 2012 ), “ Hiệu quả là mốiquan hệ giữa đầu vào nhân tố khan hiếm và số lượng hàng hóa và dịch vụ ” và “kháiniệm hiệu quả còn được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá xem thị trường phân bổnguồn lực tốt đến mức nào ”

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo lường tổng quát bằng tỷ lệ đầu ra trênđầu vào Các yếu tố đầu vào như là vốn, kỹ thuật, lao động …và các yếu tố đầu ra nhưsản phẩm, lợi nhuận…

Ngân hàng là TCTC trung gian quan trọng trong việc huy động vốn và cung ứngvốn cho nền kinh tế Kết quả hoạt động của ngân hàng được xem là hiệu quả hoạtđộng, là lợi nhuận mà ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định

Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), hiệu quả hoạt động của NHTM được hiểu “ Làkhả năng biến đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra, hay khả năng sinh lời ;hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác

Là xác suất hoạt động an toàn của các ngân hàng ”

Sandrine Kablan (2010 ), hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả với nổ lực tối thiểuhóa nguồn lực đầu vào Nó đo lường mức độ một đơn vị sản xuất đạt gần đường biêngiới hạn khả năng sản xuất, trong đó đường biên giới hạn khả năng sản xuất là tập hợpcác điểm tối ưu kết hợp đầu vào để sản xuất đầu ra

Theo Farrell (1957), hiệu quả bao gồm hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật.Hiệu quả phân bổ là việc doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất ra đầu

ra ở mức chi phí thấp nhất Hiệu quả kỹ thuật phản ánh khả năng doanh nghiệp đạt

Trang 19

được đầu ra tối đa từ đầu vào cho trước (định hướng đầu ra) hoặc việc doanh nghiệp sửdụng đầu vào tối thiểu để đạt được đầu ra cho trước (định hướng đầu vào).

Việc đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng giúp cải thiện hiệu quả quản lýbằng cách xác định những yếu tố được đo lường với mức độ hiệu quả cao và thấp(Berger và Humphrey, 1997)

Quan điểm đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng tùy thuộc vào mỗi nhà nghiêncứu và nguồn số liệu thu thập được Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả tiếp cận hiệuquả hoạt động của ngân hàng theo quan điểm thể hiện khả năng sử dụng các đầu vàonhư lao động, kỹ thuật, vốn để sản xuất đầu ra như thu nhập, lợi nhuận

2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM

Theo Berger và Humphrey (1997), có 02 phương pháp chính đánh giá hiệu quảhoạt động bao gồm phương pháp kế toán chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu tài chính vàphương pháp phân tích hiệu quả biên

2.2.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua chỉ tiêu tài chính

Đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua các chỉ tiêu tài chính làphương pháp truyền thống và đã được thực hiện nghiên cứu khá nhiều trên thế giới.Nghiên cứu của Seiford, L.M và J Zhu (1999), hiệu quả hoạt động của ngânhàng được đánh giá bằng cách sử dụng các chỉ tiêu tài chính, kế toán, đánh giá mốiquan hệ giữa nhiều yếu tố liên quan như tài sản, doanh thu, lợi nhuận, giá trị thịtrường, số lượng nhân viên, đầu tư và sự hài lòng của khách hàng Bikker và Haaf(2002) chỉ ra nên tập trung phân tích hiệu quả chi phí Williams, J., & Gardener, E P

M (2003) cho rằng phương pháp tốt nhất để phân tích hiệu quả hoạt động của ngânhàng là trình bày rõ ràng trên báo cáo thường niên và báo cáo thu nhập ngân hàng,trong đó các biến được thiết lập rõ ràng để trình bày, so sánh các kết quả Maudos, J.(2006) lại chỉ ra vốn vay là chỉ tiêu chính để đo lường hiệu quả ngân hàng Chất lượngvốn vay ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của bất kỳ ngân hàng nào Theo nghiêncứu của Berger và Hannan (2008) lập luận rằng thanh khoản là chỉ tiêu rất quan trọng

Trang 20

thể hiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đánh giá bất kỳ kế hoạch tài chính nàocũng phải bao gồm dữ liệu về thanh khoản.

Nghiên cứu gần đây của Adam, M (2014) phân chia các tỷ số tài chính thành 03nhóm chính phản ánh khả năng sinh lợi, nhóm phản ánh khả năng thanh khoản vànhóm phản ánh chất lượng tài sản

Tổng kết từ nhiều nghiên cứu, nhìn chung, các chỉ tiêu tài chính để đánh giá,phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng có thể được chia thành 3 nhóm chính phùhợp với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam, đó là:

- Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi

- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh

- Nhóm chỉ tiêu đo lường rủi ro trong quá trình hoạt động của ngân hàng

*Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi:

Khả năng sinh lời được đo lường bằng các chỉ tiêu chính sau: ROA- tỷ lệ lợinhuận trên tổng tài sản, ROE - tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, NIM - tỷ lệ thunhập lãi cận biên, NNIM - tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên

Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản ROA được tính theo công thức sau:

ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản bình quân

ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng, phản ánhhiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời ROA chothấy khả năng quản lý để đạt được tiền gửi với mức chi phí hợp lý (Ahmed, 2009).ROA được dùng để xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chínhcủa ngân hàng Tỷ lệ ROA cao cho thấy ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, điều độnglinh hoạt trong danh mục tài sản có Tỷ lệ ROA thấp phản ánh ngân hàng có danh mụctài sản chưa hợp lý, cho vay không hiệu quả, chi phí hoạt động cao

Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE được tính bằng công thức sau:

ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân

Tổng vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại và các quỹ dự trữ

Trang 21

ROE cũng là chỉ số quan trọng đánh giá lợi nhuận và khả năng tăng trưởng củamột ngân hàng ROE cũng được dùng để phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh, thểhiện hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu.

Tỷ số này đo lường lợi nhuận đạt được trên mỗi đồng vốn mà chủ sở hữu đầu tưvào ngân hàng ROE cao là mục tiêu mong muốn của các cổ đông Tỷ lệ ROE càngcao chứng tỏ ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, khả năng thu hồi vốncủa cổ đông cao ROE thấp làm giảm khả năng thu hút vốn cho việc mở rộng quy mô,hạn chế tăng trưởng ngân hàng

Các chỉ tiêu ROA, ROE được các nhà quản trị, các nhà đầu tư tính toán để phântích hiệu quả hoạt động của ngân hàng, chúng thể hiện khả năng thu hồi vốn đầu tư của

cổ đông

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM và Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên NNIM đượctính bằng công thức sau:

NIM = ( Thu nhập lãi thuần / Tổng tài sản có sinh lời bình quân

NNIM = (Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi) / Tổng tài sản có sinh lời bình quân

Tỷ lệ NIM và NNIM là thước đo quan trọng để đánh giá khả năng hoạt động kinhdoanh của ngân hàng, cho thấy năng lực quản trị, điều hành của ngân hàng

Tỷ lệ NIM xác định bằng tổng thu nhập từ lãi trừ đi chi phí trả lãi trên tổng tàisản có sinh lời bình quân Trong đó, tổng tài sản có sinh lời được xác định theo cáckhoản mục tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các TCTD, chứng khoán kinh doanh, chovay khách hàng, cho vay các TCTD khác, chứng khoán đầu tư Tỷ lệ NIM phản ánhmức chênh lệch lãi suất giữa huy động và cho vay của ngân hàng, phản ánh khả năngsinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát tài sản có sinh lời và tìm kiếm cácnguồn vốn với chi phí thấp

Ngoài nguồn thu từ lãi, ngân hàng còn tập trung vào các khoản thu chi ngoài lãi.Tỷ lệ NNIM thu nhập ngoài lãi cận biên phản ánh mức chênh lệch giữa nguồn thungoài lãi (từ phí dịch vụ và các khoản thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và giaodịch vàng, thu từ hoạt động mua chứng khoán kinh doanh mua bán chứng khoán đầu

Trang 22

tư và thu từ hoạt động khác ) với các khoản chi phí ngoài lãi ( như tiền lương, chi bảohành, sữa chữa ) Hiện nay, các NHTM đều tập trung phát triển các sản phẩm, dịch

vụ ngân hàng nhằm tăng thu nhập ngoài lãi

* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh:

- Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn:

Tốc độ tăng trưởng vốn huy động (%) = (Tổng vốn huy động kỳ này – Tổng vốn huy động kỳ trước) / Tổng vốn huy động kỳ trước x 100%

Chỉ tiêu này thể hiện khả năng mở rộng quy mô vốn huy động của ngân hàng quacác năm và khả năng kiểm soát nguồn vốn huy động Chỉ tiêu này còn thể hiện khảnăng cạnh tranh giữa các ngân hàng trong hoạt động huy động vốn, để so sánh tốc độtăng trưởng giữa các ngân hàng hoặc tốc độ tăng trưởng vốn bình quân của hệ thống.Tốc độ tăng trưởng ổn định tạo sự chủ động cho ngân hàng trong việc lập kế hoạchphát triển lâu dài và tạo dựng niềm tin cho khách hàng

Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu về cơ cấu nguồn vốn huy động cũng được tính toán

Cơ cấu nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản, chi phí hoạt động của ngânhàng Thông qua việc xác định cơ cấu vốn có thể xác định được mặt mạnh, mặt yếucủa ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh

- Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng:

Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%) = ( Dư nợ năm nay – Dư nợ năm trước ) / Dư

nợ năm trước x 100%

Chỉ tiêu này dùng để đánh giá sự tăng trưởng tín dụng của ngân hàng qua cácnăm, đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và tình hình thực hiện kế hoạchtăng trưởng tín dụng của ngân hàng

Tỷ lệ cho vay = Tổng cho vay / Tổng vốn huy động : chỉ tiêu này thể hiện hiệu

quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng, chỉ tiêu này cũng đánh giá khả năng thanhkhoản và khả năng quản lý của ngân hàng Nếu tỷ lệ cho vay quá cao, các ngân hàng

sẽ gặp bất lợi trong trường hợp có bất kỳ thay đổi đột ngột nào trong việc huy động, cóthể dẫn đến việc giảm thu nhập do nắm giữ vốn không hiệu quả

*Nhóm chỉ tiêu đo lường rủi ro hoạt động:

Trang 23

Các nhà quản trị rất chú trọng nhóm chỉ tiêu này, bởi bên cạnh việc gia tăng lợinhuận đòi hỏi ngân hàng phải kiểm soát chặt chẽ những rủi ro hoạt động để tạo ra tính

ổn định cho ngân hàng Một số chỉ tiêu đánh giá rủi ro hoạt động như sau:

Dự trữ thanh khoản / Tổng tài sản : chỉ tiêu này thể hiện tỷ trọng tài sản thanh

khoản trên tổng tài sản của ngân hàng, phản ánh rủi ro thanh khoản

Thanh khoản chỉ ra khả năng của ngân hàng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trongmột thời kỳ, vì vậy để hướng đến mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận thì cần chấp nhận mứcrủi ro có thể kiểm soát được

Tỷ lệ an toàn vốn = Vốn tự có / Tổng tài sản có rủi ro của ngân hàng = ( Vốn cấp 1 + vốn cấp 2 ) / Tổng tài sản có rủi ro của ngân hàng

Tỷ lệ an toàn vốn thể hiện năng lực tài chính của ngân hàng Tỷ lệ an toàn vốncủa ngành ngân hàng được quy định khác nhau ở các nước trên thế giới Hiện nay ởViệt Nam tỷ lệ này là 9%

Tỷ lệ cho vay = Tổng dự nợ tín dụng / Tổng tài sản có : chỉ tiêu này thể hiện tỷ

trọng tín dụng trong tổng tài sản có Tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng đối mặt với rủi

ro tín dụng và rủi ro thanh khoản nếu nhu cầu rút tiền của công chúng tăng và chấtlượng tín dụng giảm

Tỷ lệ nợ xấu (%) = ( Nợ xấu / Tổng dự nợ tín dụng ) x 100%: chỉ tiêu này để

phán ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng, thể hiện khả năng quản lý tín dụng tronghoạt động cho vay, thu hồi nợ Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất lượng tín dụngkém

Tỷ lệ giữa tài sản có nhạy cảm với lãi suất với tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất : chỉ tiêu này phản ánh tính nhạy cảm với lãi suất trong hoạt động của ngân hàng.

Nếu ngân hàng có quy mô tài sản nhạy cảm với lãi suất lớn hơn nguồn vốn nhạy cảmvới lãi suất trong một thời kỳ nhất định thì ngân hàng đối mặt với khó khăn, thua lỗnếu lãi suất thị trường giảm; và nếu ngân hàng có quy mô tài sản nhạy cảm với lãi suấtnhỏ hơn nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất thì ngân hàng gặp bất lợi trong trường hợplãi suất thị trường tăng

Trang 24

Tổng vốn chủ sỡ hữu / tổng tài sản : đây là chỉ tiêu đòn bẩy tài chính của ngân

hàng, thể hiện bao nhiêu đồng tài sản được tạo ra trên một đồng vốn chủ sở hữu vàngân hàng phải dựa vào nguồn vốn vay nợ là bao nhiêu

Như vậy, đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng theo phương pháp truyềnthống thông qua các chỉ tiêu tài chính liên quan đến nhiều yếu tố hơn là chỉ tập trungphân tích vào chỉ tiêu riêng biệt nào Tuy nhiên, các chỉ tiêu này có nhược điểm là chỉphản ánh mối quan hệ giữa một số biến số cụ thể mà không đưa ra được đánh giá toàndiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng Để thực hiện việc đánh giá một cách tổng quátđòi hỏi phải xây dựng, tính toán bộ chỉ tiêu gồm rất nhiều biến số gây mất thời gian vàkhá phức tạp đối với các nhà quản trị ngân hàng, các nhà đầu tư, đòi hỏi nguồn số liệuđầy đủ, tổng hợp cũng như kỹ năng và kinh nghiệm phân tích, đánh giá

2.2.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên

Phương pháp phân tích hiệu quả biên bao gồm phương pháp phi tham số vàphương pháp tham số Cả hai hướng tiếp cận phi tham số và tham số đều được sử dụngrộng rãi trong nhiều nghiên cứu đo lường hiệu quả hoạt động Mỗi cách tiếp cận khácnhau chủ yếu ở hình dáng đường biên và các giả định phân phối đối với sai số

Phương pháp tham số yêu cầu phải đưa ra một hàm sản xuất cụ thể, áp dụng môhình hồi quy với khoảng tin cậy và độ lệch nhất định (Nguyen, 2012) Phương phápnày vì yêu cầu phải đưa ra dạng hàm cụ thể nên nếu xác định dạng hàm sai thì kết quảđánh giá hiệu quả hoạt động có thể không chính xác Đồng thời đối với phương pháptiếp cận tham số, giả định sẽ không có tính vững trong trường hợp cỡ mẫu nhỏ

So với phương pháp tiếp cận tham số, phương pháp phi tham số không đòi hỏiphải đưa ra dạng hàm cụ thể cho đường biên hiệu quả, đồng thời có thể kết hợp nhiềuyếu tố đầu vào, đầu ra trong mô hình Tuy nhiên, vì không tính toán đến sai số nên đếnkết quả đo lường sẽ bị ảnh hưởng trong trường hợp dữ liệu có tồn tại sai số

Không có kết luận phương pháp nào được xem là tốt nhất, mỗi phương pháp đều

có ưu nhược riêng, việc xem xét cẩn thận bộ dữ liệu được sử dụng cũng như phân tíchcác đặc điểm nội tại của ngành sẽ thực hiện phù hợp cho từng phương pháp Việc sử

Trang 25

dụng phương pháp nào là dựa trên quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu và số liệu thuthập được (Berger và Humphrey, 1997; Zamorano, 2004 )

Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở trong nước sử dụng phương pháp bao

dữ liệu DEA để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng, so sánh và xếp hạng các ngânhàng Đồng thời, kết hợp với chỉ số Malmquist đo lường năng suất nhân tố tổng hợp đểxác định yếu tố gây phi hiệu quả hoạt động Cũng đã có nhiều nghiên cứu sử dụngđồng thời cả hai hướng tiếp cận phi tham số và tham số để đo lường và đánh giá hiệuquả hoạt động của ngân hàng

Việc sử dụng các chỉ số tài chính truyền thống trong việc đo lường và đánh giáhiệu quả hoạt động của ngân hàng sẽ không đầy đủ và toàn diện vì hoạt động của ngânhàng có sự tham gia của nhiều yếu tố đầu vào và đầu ra DEA được xem là cách tiếpcận phù hợp Một cách đơn giản, DEA dùng để tính toán và ước lượng hiệu quả củacác ngân hàng trong việc sử dụng các nguồn lực đầu vào để tạo ra các kết quả đầu ra,để có thể so sánh hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng với nhau, khi đó đường biênhiệu quả được xây dựng Phương pháp này giúp đánh giá được hiệu quả tương đối củacác ngân hàng, xác định được các ngân hàng hoạt động hiệu qủa, các ngân hàng hoạtđộng không hiệu quả trong mẫu nghiên cứu, đồng thời xác định được nguồn gây phihiệu quả hoạt động

Trong đề tài nghiên cứu này, do giới hạn về số liệu thu thập, tác giả hướng đếncách tiếp cận phi tham số, sử dụng mô hình phân tích bao dữ liệu DEA, đồng thời phântích chỉ số Malmquist đo lường năng suất nhân tố tổng hợp để đánh giá hiệu quả hoạtđộng của các NHTMCP giai đoạn 2009 - 2017 một cách bao quát, khắc phục đượcnhững hạn chế trong việc phân tích hàng loạt các chỉ số tài chính Phương pháp nàyđưa ra đánh giá tổng quát về hiệu quả hoạt động ngân hàng dựa trên việc thu thập sốliệu các biến đầu vào, đầu ra đưa vào mô hình DEA

2.2.3 Giới thiệu tổng quát về phương pháp DEA

DEA là phương pháp toán học cho sự phát triển đường biên sản xuất và đo lườnghiệu quả hoạt động của các đơn vị nghiên cứu đối với đường biên này ( Charnes et al.,

Trang 26

1978 ) DEA được hình thành từ đường biên tuyến tính kết hợp các tập hợp quan sátthực tiễn tốt nhất, tạo nên một mặt lồi khả năng sản xuất Như vậy, DEA không đòi hỏiphải có dạng hàm cơ bản Việc đo lường hiệu quả như vậy dựa trên cơ sở phương phápphân tích giới hạn, các đơn vị ra quyết định DMU có hiệu quả cao nhất sẽ tạo thànhđường giới hạn khả năng sản xuất, các DMU khác trong mẫu sẽ được so sánh vớiđường giới hạn này để xem xét hoạt động có hiệu quả hay không.

Theo Appa và Williams (2002), phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA đượcthiết lập dùng để so sánh hiệu quả hoạt động của các DMUs tương tự nhau trên nhiềulĩnh vực khác nhau như trường học, cửa hàng, bệnh viện, các tổ chức kinh tế…Cácđơn vị nghiên cứu độc lập này được gọi là các đơn vị ra quyết định (DMUs – DecisionMaking Units) Các đơn vị ra quyết định sử dụng một số đầu vào để sản xuất ra cácđầu ra khác nhau

DEA sử dụng thuật ngữ đơn vị ra quyết định (Decision Making Unit – DMU) đểthể hiện các đơn vị được đánh giá khả năng chuyển đổi các yếu tố đầu vào đưa ra cácyếu tố đầu ra, hay nói cách khác đó là tỷ số đầu ra trên đầu vào để đo lường hiệu quảcủa các đơn vị ra quyết định DMU Trên thực tế, có nhiều DMU khác nhau, khi đó mỗiDMU sẽ có các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra khác nhau Để kết quả đo lườnghiệu quả có ý nghĩa, các đơn vị trong cùng mẫu nghiên cứu phải đồng nhất về bộ dữliệu đầu vào và đầu ra Các DMU đạt hiệu quả cao nhất sẽ tạo ra đường biên giới hạnkhả năng sản xuất, các DMU khác trong mẫu sẽ được so sánh với đường biên này đểxác định mức độ hiệu quả

Theo Thagunna và Poudel (2013), DEA không cần một tham số nhất định chocác biến đầu vào và biến đầu ra, do đó có thể xử lý kết hợp nhiều biến đầu vào, đầu ratrong việc đo lường hiệu quả, vì vậy đây được gọi là phương pháp phi tham số

DEA là phương pháp phân tích phi tham số, không yêu cầu phải xác định dạnghàm khi xây dựng đường biên hiệu quả, và không phải đưa ra bất cứ giả thuyết nào về

sự phân phối phi hiệu quả Đường giới hạn biên hiệu quả được tạo thành dựa trên mẫugồm các đơn vị ra quyết định được lựa chọn nên cỡ mẫu nhỏ và chuyên sâu

Trang 27

Kết luận từ nghiên cứu của Favero và Papi (1995), Resti (1997) đã chỉ ra ưu điểmcủa phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA là có thể xử lý mô hình với sự kết hợpnhiều yếu tố đầu vào và đầu ra, không đòi hỏi giả thuyết liên quan đến các yếu tố đầuvào và đầu ra và loại bỏ được giá trị ngoại lai Các đơn vị ra quyết định là tương đốitương đồng với nhau ở một mức độ nhất định Việc lựa chọn biến đầu vào và đầu ratheo nhiều hướng tiếp cận, tùy thuộc vào đặc trưng riêng của từng ngành nghề, dịch vụcủa các DMU.

Hiệu quả kỹ thuật được tách thành hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô,tạo điều kiện thuận lợi trong việc phân tích kết quả nghiên cứu (Thagunna và Poudel,2013)

Kết quả đo lường để đánh giá từng DMU, và có thể so sánh từng DMU với nhautheo nhiều chỉ tiêu được đo lường: hiệu quả kỹ thuật toàn bộ, hiệu quả kỹ thuật thuầnhay hiệu quả quy mô Bên cạnh đó, kết quả đo lường được từ mô hình DEA có thể xácđịnh được mức phi hiệu quả hoạt động, từ đó xác định được nguyên nhân và có biệnpháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cho từng đơn vị.Phương pháp bao dữ liệu DEA xuất phát từ ý tưởng ban đầu của Farell (1957)nhằm ước lượng hiệu quả kỹ thuật với đường biên sản xuất đối với các đơn vị ra quyếtđịnh DMUs, dựa trên một độ đo kỹ thuật để chỉ ra khả năng một DMU đạt được đầu ralớn nhất từ một tập hợp đầu vào cho trước Tuy nhiên không thể xác định được hàmsản xuất hiệu quả trên thực tế nên Farell đưa ra ước lượng hàm từ tập dữ liệu bao gồmmẫu quan sát Các đơn vị DMU nằm trên đường biên được đánh giá là hiệu quả, cácđơn vị DMU không nằm trên đường biên sẽ được so sánh với các DMU tương đồngtrên đường biên để ước tính điểm hiệu quả

Điểm hiệu quả DEA là điểm hiệu quả tương đối giữa các DMU với nhau, mộtđơn vị đạt hiệu quả tuyệt đối (EF = 1) nằm trên đường giới hạn hiệu quả, tuy nhiêntrên thực tế không có nghĩa sẽ đạt hiệu quả tốt nhất mà chỉ tốt hơn các đơn vị kháctrong phạm vi mẫu nghiên cứu

Sau đó, Charnes, Cooper và Rhodes (1978) phát triển ý tưởng của Farell thành

mô hình bao dữ liệu DEA với giả thiết đưa ra là tối thiểu hóa đầu vào trong điều kiện

Trang 28

hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS) (Điều kiện CRS có nghĩa là khi tăng các yếu

tố đầu vào thì kết quả hiệu quả cũng không thay đổi) Năm 1984, Banker, Charnes vàCooper đã phát triển mô hình phân tích bao dữ liệu DEA với điều kiện hiệu quả thayđổi theo quy mô (VRS) (Điều kiện VRS là khi tăng các yếu tố đầu vào thì đầu ra tănglên một tỷ lệ nhỏ hơn hoặc lớn hơn tỷ lệ gia tăng đầu vào )

Như vậy bên cạnh những ưu điểm thì DEA vẫn còn những hạn chế cần xem xéttrong việc lựa chọn sử dụng Trước hết, vì DEA là mô hình đo lường hiệu quả hoạtđộng phi tham số nên khó có thể kiểm tra giả thuyết thống kê và cần thực hiện cácnghiên cứu bổ sung, đồng thời là phương pháp phân tích phi tham số nên không cómức ý nghĩa hay độ tin cậy Việc không tính toán mức sai số sẽ ảnh hưởng phần nàođến kết quả đo lường khi dữ liệu có sai số ngẫu nhiên

Zuzana Irsova ( 2009 ) chỉ ra một số thiếu sót trong phương pháp DEA là phươngpháp này không tính đến sai số ngẫu nhiên, kết quả nghiên cứu phụ thuộc vào việcchọn lựa biến đầu vào, đầu ra, đồng thời phụ thuộc vào số lượng các DMUs đượcchọn, với cỡ mẫu nhỏ có thể đưa ra tỷ lệ hiệu quả đạt được cao và ngược lại, với cỡmẫu lớn, có thể làm giảm mức độ hiệu quả trung bình được ước lượng tương đối sovới các DMUs hoạt động tốt nhất

Theo Thagunna và Poudel (2013), DEA không tính toán sai số ngẫu nhiên, đồngthời thử nghiệm giả thuyết khó vì đây là phương pháp phi tham số

Việc đánh giá và so sánh hiệu quả của các DMU được thực hiện trong một tổngthể nghiên cứu, vì vậy các DMU nằm trên đường biên hiệu quả sẽ tốt hơn các đơn vịkhác trong cùng mẫu khảo sát, tuy nhiên trên thực tế không có nghĩa là đơn vị đạt hiệuquả tuyệt đối Đồng thời, việc lựa chọn biến đầu vào và đầu ra khác nhau cũng dẫn đếnkết quả nghiên cứu thay đổi (Tran và Bhaiyat, 2016)

2.2.4 Cách tiếp cận đánh giá hiệu quả theo phương pháp DEA

Có hai cách tiếp cận chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của các DMUs theophương pháp phân tích bao dữ liệu DEA là cách tiếp cận đầu vào và cách tiếp cận đầura

Trang 29

Cách tiếp cận đầu vào hướng đến mục tiêu các đơn vị ra quyết định DMU cầngiảm tối thiểu bao nhiêu lượng đầu vào để đạt được trạng thái tối ưu với điều kiện sảnlượng đầu ra cho trước Cách tiếp cận đầu ra các đơn vị ra quyết định DMU cần tối đahóa đầu ra là bao nhiêu để đạt trạng thái tối ưu với điều kiện lượng đầu vào cố địnhcho trước (Cooper et al.,1978)

Cách tiếp cận đầu vào (Input – orientated measures)

Farell (1957) minh họa ý tưởng của ông về hiệu quả kỹ thuật bằng một ví dụ gồmcác doanh nghiệp sử dụng 2 yếu tố đầu vào x1 và x2 để sản xuất ra một yếu tố đầu ra yvới điều kiện CRS- sản lượng không đổi theo quy mô Các doanh nghiệp đạt hiệu quảhoàn toàn nằm trên đường đẳng lượng SS’ trong đồ thị:

Đồ thị 2.1 : Hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu vào

Đồ thị trên giả thiết đầu ra y xác định, SS’ là đường đẳng lượng thể hiện mức kếthợp tối thiểu của đầu vào x1 và x2 vì vậy được gọi là định hướng đầu vào

Theo hình, điểm Q nằm trên đường SS’ nên được coi là điểm hiệu quả, trong khitại điểm P sẽ không đạt hiệu quả Khi đó, phi hiệu quả chính là khoảng cách QP, đây làlượng đầu vào có thể giảm xuống mà không làm giảm đầu ra để doanh nghiệp đạtđược trạng thái tối ưu Mức không hiệu quả này được đo bằng tỷ số QP/OP

Hiệu quả kỹ thuật được xác định bằng tỷ số:

OQ

QP

=1-OP

Trang 30

TE nhận giá trị từ 0 ->1 TE = 1 tức là doanh nghiệp đạt hiệu quả hoàn toàn, khi

đó QP = 0, hay doanh nghiệp không tồn tại mức phi hiệu quả

Đường đẳng lượng SS’ theo cách đo lường này được xác định dựa trên điều kiệnCRS Tuy nhiên thực tế không thể xác định được hàm sản xuất của một doanh nghiệpđạt hiệu quả hoàn toàn nên khó có thể xác định được đường đẳng lượng SS’ như đồthị

Từ đó, Farell (1957) đưa ra ý tưởng sử dụng một đường đẳng lượng lồi tuyến tínhtừng khúc phi tham số, các điểm quan sát hiệu quả không nằm bên trái hay bên dưới

nó, và đường đẳng lượng này được ước lượng từ dữ liệu mẫu cho sẵn

Đồ thị 2.2 : Hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu vào ước lượng từ dữ liệu

mẫu

Vì đường SS’ được ước lượng từ mẫu quan sát cho trước nên các DMU nằm trênđường SS’ đạt hiệu quả là hiệu quả tương đối hoàn toàn so với các DMU khác trongcùng mẫu nghiên cứu

Các doanh nghiệp A, B, C nằm trên đường đẳng lượng lồi SS’ đạt hiệu quả tươngđối hoàn toàn Tại P doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả tương đối hoàn toàn

Cách tiếp cận đầu ra (Output – orientated measures)

Đo lường hiệu quả theo cách tiếp cận đầu ra ngược lại với cách tiếp cận đầu vào,được mô tả bằng ví dụ gồm hai đầu ra và một đầu vào, điều kiện sản lượng không đổitheo quy mô CRS, theo đồ thị sau:

Trang 31

Đồ thị 2.3 : Hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu ra

Đồ thị giữ nguyên đầu vào x mà có thể đạt được mức sản lượng đầu ra cao nhấtnên gọi là định hướng đầu ra

Hiệu quả kỹ thuật dựa trên đường giới hạn khả năng sản xuất ZZ’ Các điểm nằmdưới đường ZZ’ đại diện cho các DMU không đạt hiệu quả hoàn toàn

Điểm A là điểm không hiệu quả vì nằm dưới đường giới hạn khả năng sản xuất.Khoảng cách AB là phi hiệu quả, đó chính là tỷ lệ đầu ra có thể tăng thêm mà khôngyêu cầu thêm lượng đầu vào Khi đó TE = OA/OB

Để ước lượng hiệu quả kỹ thuật từ dữ liệu mẫu cho trước, ta có đồ thị sau:

Đồ thị 2.4 : Hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu ra ước lượng từ dữ liệu mẫu

Trang 32

2.2.5 Lựa chọn biến trong mô hình DEA

Đánh giá hiệu quả hoạt động theo phương pháp DEA có rất nhiều biến đầu vào

và biến đầu ra được sử dụng tùy thuộc vào đặc trưng ngành nghề hoạt động của cácDMU Không giống những ngành sản xuất khác, đối với ngành ngân hàng để xác địnhcác chỉ tiêu đại diện biến đầu vào và đầu ra không đơn giản vì trong quá trình hoạtđộng, NHTM sử dụng cả tiền gởi và các tài sản khác

Theo Berger và Humphrey (1997) xác định có sự khó khăn trong việc chọn biếnđể đưa vào mô hình phân tích hiệu quả hoạt động và không có phương pháp nào đượcxem là hoàn hảo trong việc lựa chọn biến Có hai hướng tiếp cận chính để xác địnhbiến đầu vào và đầu ra là hướng tiếp cận sản xuất và hướng tiếp cận trung gian

Theo hướng tiếp cận sản xuất xem xét ngân hàng là đơn vị sử dụng vốn và laođộng để cung cấp sản phẩm tiền gởi và cho vay đến khách hàng Cách tiếp cận này tậptrung xem xét hiệu quả chi phí

Theo hướng tiếp cận trung gian xem xét ngân hàng là các đơn vị trung gian tàichính huy động nguồn vốn từ tiền gửi và nhiều nguồn khác nhau sau đó phân bổ nguồnvốn cho nền kinh tế dưới hoạt động cho vay Hướng tiếp cận này tập trung đánh giáhoạt động sinh lời của ngân hàng, chủ yếu để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngânhàng Đầu vào của ngân hàng bao gồm các chỉ tiêu như tiền gửi, lao động, kỹ thuật,;đầu ra như tiền cho vay, các khoản thu nhập khác từ hoạt động dịch vụ

Nhận thấy đối với hai hướng tiếp cận trên, thì tiền gửi được xem là đầu ra trongcách tiếp cận sản xuất, nhưng được xem là đầu vào trong cách tiếp cận trung gian.Nguyễn Việt Hùng (2008) có năm cách để xác định các biến đầu vào và đầu ra,

đó là cách tiếp cận sản xuất, cách tiếp cận trung gian, cách tiếp cận tài sản, cách tiếpcận giá trị gia tăng và cách tiếp cận chi phí sử dụng Trong đó chỉ ra đối với cách tiếpcận tài sản khác biệt với cách tiếp cận trung gian là xem tài sản nợ là đầu vào và tài sản

có là đầu ra, đối với cách tiếp cận giá trị gia tăng và cách tiếp cận chi phí sử dụng tiềngửi là đầu ra

Trang 33

Eken và Kale (2011) kết luận có 03 hướng tiếp cận để chọn biến đầu vào và đầu

ra cho mô hình DEA là hướng tiếp cận sản xuất, hướng tiếp cận trung gian và hướngtiếp cận lợi nhuận Trong đó theo hướng tiếp cận sản xuất xem xét ngân hàng sử dụngvốn và lao động sản xuất các loại hình dịch vụ ngân hàng, cách tiếp cận này chủ yếuphù hợp cho các chi nhánh địa phương hoặc chi nhánh ngân hàng; đối với hướng tiếpcận lợi nhuận thì biến đầu ra được lựa chọn theo định hướng lợi nhuận như thu nhập từlãi và các khoản tương tự, thu nhập ngoài lãi và các khoản tương tự

Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn hướng tiếp cận trung gian vì 2 lý do Thứnhất, dựa trên quan điểm ngân hàng đóng vài trò là tổ chức trung gian tài chính nhậntiền gửi sau đó phân phối nguồn vốn cho nền kinh tế Thứ hai, tham khảo từ nghiêncứu của Berger và Humphrey (1997), hướng tiếp cận sản xuất chỉ phù hợp hơn trongviệc ước lượng hiệu quả của các chi nhánh ngân hàng

2.2.6 Mô hình DEA

Trong kinh tế học, một doanh nghiệp đạt hiệu quả nếu tối đa hóa đầu ra trongviệc sử dụng các đầu vào cho trước (Ngô, 2010) Hiệu quả của việc sử dụng một đầu

ra y và một đầu vào x được đo lường theo công thức cơ bản sau:

output là biến đầu ra như : số lượng, doanh thu, lợi nhuận…

input là biến đầu vào như : tiền lương, chi phí…

Farell (1957) mở rộng công thức tính hiệu quả trong trường hợp doanh nghiệp sửdụng nhiều yếu tố đầu vào và nhiều yếu tố đầu ra Giả sử doanh nghiệp có k yếu tố đầuvào và sản xuất ra m kết quả đầu ra, khi đó hiệu quả được xác định:

Trang 34

Trong đó, u là trọng số của biến đầu ra y, v là trọng số của biến đầu vào x Trongtrường hợp này các trọng số um và vk giúp cho các DMU đạt hiệu quả cao nhất.

Nếu mẫu quan sát gồm n doanh nghiệp khác nhau, khi đó hiệu quả của doanhnghiệp thứ i (1 ≤ i ≤ n) được xác định như sau:

TEi = ∑umymi = u1y1i + u2y2i + umymi

∑vkxki v1x1i + v2x2i + … + vkxki

Tính toán hệ số hiệu quả cho từng doanh nghiệp theo công thức trên, các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao nhất (TE = 1) sẽ hình thành đường bao dữ liệu, các doanh nghiệp còn lại không đạt hiệu quả hoàn toàn (TE < 1) không nằm trên đường bao dữ liệu.

Vì trọng số um và vk giúp các DMU tiến gần đường biên giới hạn khả năng sảnxuất nhất nên việc tính toán hiệu quả TE của một DMU nào đó sẽ được tính toán thànhMaxu,v TE

Để tối đa hóa hiệu quả của doanh nghiệp thứ io, ta giải bài toán:

∑u

m y mio Max u,v TE io với TE io = ∑vkxkio

Điều kiện : TEio ≤ 1 , 1 ≤ i ≤ n

0 ≤ um,vk ≤ 1

Bài toán trên sẽ tồn tại vô số nghiệm nên Charnes và Cooper đưa vào ràng buộc:

∑vkxkio = 1 Khi đó, bài toán sẽ là:

Maxu,v ( ∑umymio ) ( * )

Với cùng điều kiện:

Trang 35

Với điều kiện : -yi + Yƛ ≥ 0

θxxi – Xƛ ≥ 0

ƛ ≥ 0Trong đó,

θx : mức độ hiệu quả của mỗi doanh nghiệp

ƛ : ( gồm tập hợp ƛ1, ƛ2, , ƛn ) được xem như trong số giữa các DMU với nhau

xi : đầu vào của doanh nghiệp thứ i

yi : đầu ra của doanh nghiệp thứ i

X ( gồm tập hợp x1, x2,…, xn ) : tập đầu vào của các doanh nghiệp

Y ( gồm tập hợp y1, y2, …, yn ) : tập đầu ra của các doanh nghiệp

Bài toán ( * ) được gọi là mô hình DEA trong điều kiện CRS sản lượng khôngđổi theo quy mô

Bài toán này được giải bằng cách đi tìm giá trị θx và ƛ cho từng DMU (dữ liệu vềcác biến đầu vào và đầu ra đã biết)

Giải bài toán ( *) n lần, mỗi lần cho một doanh nghiệp sẽ xác định được mức độhiệu quả Với θx = 1 là đạt hiệu quả hoàn toàn, θx < 1 là không đạt hiệu quả hoàn toàn

Mô hình trên đây được khảo sát trong trường hợp các DMU hoạt động ở quy môtối ưu Tuy nhiên, trên thực tế các DMU thường không hoạt động ở quy mô tối ưu, vìvậy điều kiện CRS không còn phù hợp, Banker, Charnes và Cooper (1984) mở rộng

mô hình DEA trong điều kiện sản lượng thay đổi theo quy mô VRS

Mô hình DEA VRS :

Mô hình DEAVRS đo lường hiệu quả kỹ thuật với điều kiện VRS sản lượng thayđổi theo quy mô, vì vậy hiệu quả có tác động của hiệu quả quy mô, kết quả đo lườnghiệu quả sẽ bao gồm hiệu quả kỹ thuật thuần PE và hiệu quả quy mô SE

Mô hình DEAVRS cũng giống như mô hình DEACRS, tuy nhiên thêm điều kiện ∑ƛi

= 1

Min θ

Điều kiện : -yi + Yƛ ≥ 0

θxxi – Xƛ ≥ 0

Trang 36

∑ƛi = 1

ƛ ≥ 0Nếu doanh nghiệp đạt hiệu quả quy mô = 1, tức hoạt động với hiệu quả quy môtối ưu thì việc tăng hay giảm quy mô sản xuất không cải thiện được hiệu quả hoạt độngcủa doanh nghiệp, trở lại như trong mô hình DEACRS

Trong mô hình DEAVRS, các doanh nghiệp không đạt hiệu quả hoàn toàn sẽ tồntại phi hiệu quả, phi hiệu quả có thể được xác định là phi hiệu quả kỹ thuật thuần vàphi hiệu quả quy mô Phi hiệu quả quy mô được xác định có thể hoạt động dưới điềukiện sản lượng tăng theo quy mô (IRS) hay sản lượng giảm theo quy mô (DRS) Điềukiện IRS có nghĩa là gia tăng đầu vào dẫn đến kết quả đầu ra tăng cao hơn tỷ lệ tăngđầu vào; điều kiện DRS có nghĩa khi tăng đầu vào dẫn đến kết quả đầu ra tăng thấphơn tỷ lệ tăng đầu vào ( Rahman và Rosman, 2013)

Để biết được doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện IRS hay DRS giải bài toán(*) với ràng buộc ∑ƛi ≤ 1

Doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện IRS cần tăng quy mô hoạt động, mởrộng thị trường để cải thiện hiệu quả Ngược lại, doanh nghiệp hoạt động trong điềukiện DRS cần thu hẹp quy mô, tập trung phát triển mảng sản phẩm dịch vụ để cải thiệnhiệu quả hoạt động Kết quả nghiên cứu từ hai mô hình DEACRS và DEAVRS cho cùngmột bộ dữ liệu, nếu kết quả nghiên cứu khác nhau của cùng một DMU chứng tỏ DMUnày tồn tại phi hiệu quả quy mô Điều này được minh họa theo đồ thị sau:

Đồ thị 2.5: Hiệu quả không đổi theo quy mô và hiệu quả thay đổi theo quy mô

Trang 37

Đường CRS là đường thẳng nối liền gốc tọa độ và DMU có hiệu quả cao nhất(TE = 1) Đường VRS tính đến sự khác biệt về quy mô có hình dáng như một đườngbao quanh các DMU kém hiệu quả khác.

Theo đồ thị, mô hình DEACRS phi hiệu quả kỹ thuật theo đầu vào tại P là khoảngcách PPc, mô hình DEAVRS phi hiệu quả là đoạn PPV Sự khách nhau về mức phi hiệuquả giữa hai mô hình là đoạn PcPv chính là hiệu quả quy mô

2.2.7 Chỉ số Malmquist ước lượng thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp

Nhà kinh tế học và thống kê học người Thụy Điển Sten Malmquist vào năm 1953đã đưa ra chỉ số Malmquist nhằm ước lượng sự thay đổi năng suất nhân tố tổng hợpTFP và ước lượng sự thay đổi của các thành phần có liên quan bao gồm: thay đổi hiệuquả kỹ thuật, thay đổi tiến bộ công nghệ, thay đổi hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quảquy mô

Coeli (1996) đã sử dụng phương pháp DEA để đo lường chỉ số Malmquist.Chỉ số thay đổi năng suất Malquist đo lường sự thay đổi của năng suất nhân tốtổng hợp qua các giai đoạn khác nhau dựa trên công thức sau:

Trong đó, thành phần thứ nhất ước lượng sự thay đổi hiệu quả giữa năm t và nămt+1 ( với điều kiện CRS)

Thành phần thứ hai ước lượng sự thay đổi công nghệ giữa năm t và t+1

Như vậy,

TFP = TE x TC

Trang 38

TE = PE x SECác thành phần trong chỉ số TFP có thể thay đổi ngược chiều Chỉ số Malquistlớn hơn 1 sẽ thể hiện năng suất tăng, nhỏ hơn 1 thể hiện năng suất giảm.

Chỉ số Malquist sử dụng dữ liệu bảng để ước lượng hiệu quả giữa các giai đoạnkhác nhau Kết quả ước lượng từ chỉ số Malquist để so sánh và đánh giá mức độ hiệuquả theo thời gian, đồng thời đánh giá các thành phần hiệu quả có liên quan và dự báo

xu hướng biến động trong tương lai

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước đây

2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới sử dụng phương pháp DEA đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng

Phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA thường được ứng dụng để phân tíchhiệu quả hoạt động của các DMUs trong nhiều lĩnh vực giáo dục, y tế, kinh tế, xâydựng…Phương pháp này đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu để đo lườnghiệu quả của các chi nhánh

Sherman và Gold (1985) đã ứng dụng lần đầu tiên phương pháp DEA để đánh giáhiệu quả hoạt động của 14 chi nhánh một ngân hàng ở Mỹ Nghiên cứu bao gồm

3 biến đầu vào là lao động, không gian làm việc và chi phí cung cấp với 01 biến đầu

ra là số lượng giao dịch Kết quả nghiên cứu cho thấy 06 chi nhánh hoạt động kémhiệu quả so với các chi nhánh khác trong mẫu quan sát

Golony và Storbeck (1999 ) đánh giá hiệu quả hoạt động của 182 chi nhánh củamột ngân hàng lớn ở Mỹ ( ngân hàng Big Bank ) trong thời gian từ quý 2 năm 1992đến quý 3 năm 1993 bằng phương pháp bao dữ liệu DEA Tác giả đánh giá hiệu quảhoạt động của các chi nhánh này theo hướng tiếp cận trung gian, xem xét ngân hàng là

tổ chức trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính Mô hình DEA định hướng đầu rađược lựa chọn bao gồm các biến đầu vào (gồm các biến đầu vào bên trong như là giờlàm việc, chi phí hoạt động và các biến đầu vào bên ngoài như là thị trường, điều kiệnkinh tế, khả năng cạnh tranh) và các biến đầu ra (đo lường ngắn hạn như là cho vay,tiền gửi và dài hạn như là sự hài lòng của khách hàng, danh tiếng của chi nhánh) Kếtquả nghiên cứu chỉ ra 92 chi nhánh ngân hàng Big Bank hoạt động hoàn toàn hiệu quả

Trang 39

trong quý 3 năm 1993 và chỉ có 5 chi nhánh hoạt động dưới 70% Các chi nhánh cótổng cho vay lớn hoạt động hiệu quả hơn các chi nhánh có tổng cho vay nhỏ.

Ngoài việc đánh giá hiệu quả hoạt động và hiệu quả dịch vụ, DEA được mở rộngđể đánh giá hiệu quả kỹ thuật của ngân hàng Một số nghiên cứu tiêu biểu như sau:Hammad (2007) đo lường hiệu quả kỹ thuật của 16 ngân hàng ở Palestine giaiđoạn 2002 – 2005 với mô hình DEA trong điều kiện CRS và VRS Tác giả lựa chọncác biến đầu vào bao gồm lao động, tài sản cố định và tiền gởi, và các biến đầu ra baogồm tín dụng (cho vay và thấu chi), thu nhập khác (chủ yếu là đầu tư cổ phiếu ) Kếtquả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật trung bình là 83,7% khác với hiệu quả kỹthuật thuần là 96,3% Và nhìn chung, các ngân hàng nội địa có hiệu quả kỹ thuật vàhiệu quả kỹ thuật thuần cao hơn so với các ngân hàng nước ngoài Nghiên cứu cũngchỉ ra các NHNN có hiệu quả trung bình cao hơn so với các NHTM

Mới đây là nghiên cứu của Mansour Al- Shamali và Nour Al- Shamali (2014)đánh giá hiệu quả hoạt động của từng khu vực ngân hàng ở Kuwait trước và sau giaiđoạn suy thoái kinh tế 2006 - 2010 sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA.Theo phương pháp nghiên cứu định tính bằng việc thống kê, mô tả dữ liệu được lấy từcuộc phỏng vấn tiến hành với ba nhà quản lý khu vực từ các ngân hàng khác ở Kuwait

và định lượng bằng mô hình DEA với số liệu các biến đầu vào và đầu ra được lấy từbáo cáo thường niên của các ngân hàng Tác giả đã so sánh kết quả của việc chạy môhình DEA với kết quả nghiên cứu định tính thu thập được thông qua các cuộc khảo sáttập trung nghiên cứu ở các chỉ tiêu: tổng lượng tiền mặt, tiền gửi, nguồn vốn, chấtlượng tài sản, quy mô để đưa ra đánh giá toàn diện về hiệu quả hoạt động của các ngânhàng ở Kuwait Kết quả nghiên cứu chỉ ra quy mô ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt độngcủa các ngân hàng ở Kuwait, các NHNN hoạt động hiệu quả hơn so với các ngân hàng

tư nhân, điều này là do các NHNN có các khoản vay lớn trong danh mục đầu tư đượckiểm soát bởi Chính phủ Nghiên cứu này tập trung vào các đặc điểm khác nhau củacác ngân hàng, từ đó đưa ra những giải pháp giúp nâng cao hiệu quả hoạt động cho cácngân hàng

Trang 40

Nghiên cứu của Tran và Bhaiyat (2016) đánh giá hiệu quả của 31 NHTMCP ViệtNam sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA giai đoạn 2011- 2014 Các biếnđầu vào được chọn là tài sản cố định, tiền gửi và chi phí nhân viên, các biến đầu ragồm cho vay, chứng khoán đầu tư và thu nhập ngoài lãi Kết quả phân tích cho thấyhiệu quả kỹ thuật trung bình của các ngân hàng TMCP Viêt Nam là 87%, các NH sửdụng lãng phí 13% nguồn lực đầu vào Hiệu quả kỹ thuật trung bình giảm năm 2012,sau đó tăng qua các năm sau Riêng đối với khối NHNN và khối ngân hàng niêm yết

có mức độ hoạt động hiệu quả cao hơn so với các NHTM và khối các ngân hàng khôngniêm yết Cơ cấu tái cấu trúc ngân hàng 2011 – 2015 đạt hiệu quả tích cực trên một sốngân hàng nghiên cứu Bên cạnh đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệuquả hoạt động cho các NHTMCP Việt Nam

2.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng bằng phương pháp DEA

Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008), tác giả nghiên cứu cách tiếp cận tham

số (SFA) để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và cách tiếp cận phitham số (DEA) để đo lường hiệu quả hoạt động cho 32 ngân hàng thương mại ở ViệtNam bao gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 4 ngân hàng liên doanh và 23 ngânhàng thương mại cổ phần giai đoạn 2001 – 2005 Bài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cậntrung gian với các biến được lựa chọn trong mô hình DEA bao gồm 2 biến đầu ra và 3biến đầu vào Các biến đầu vào là : tổng tài sản cố định ròng, tổng chi cho nhân viên,tổng vốn huy động Các biến đầu ra là : thu về lãi và các khoản tương đương, thu philãi và các khoản tương đương Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả toàn bộ bìnhquân của cả mẫu đạt 79,1%, các ngân hàng còn sử dụng lãng phí đầu vào khoảng20,9% Kết quả còn cho thấy ước lượng hiệu quả bình quân của các ngân hàng thươngmại cổ phần (23 ngân hàng) và các ngân hàng liên doanh (4 ngân hàng) là 0,741 thấphơn các ngân hàng thương mại nhà nước là 0,778 Tuy nhiên, nếu ước lượng riêng chokhối các NHTMCP thì hiệu quả bình quân lại cao hơn khối NHTMNN, thể hiện cácNHTMCP dần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu vào Hiệu quả kỹ thuật thuầnbình quân của mẫu là 0,88 nhỏ hơn so với hiệu quả quy mô bình quân 0,903, cho thấy

Ngày đăng: 10/09/2020, 14:45

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w