Những qui tắc về thông tin trên nhãn hiệu, qui tắc giá hàng và nhữngthành phần cấu thành đã được thông qua và áp dụng không chỉ nhằm tạo điều kiện chohàng hoá lưu thông tự do, mà còn đảm
Trang 1TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ EU VÀ THỰC TRẠNG XUẤT
KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
2.1 Tình hình và quy định về nhập khẩu cà phê tại thị trường EU
2.1.1 Tình hình nhập khẩu cà phê EU
EU hiện nay có 27 nước thành viên và là thị trường nhập khẩu cà phê Việt Namlớn nhất Các công cụ, chính sách điều tiết nhập khẩu cà phê vào EU vào loại khắt khenhất thế giới, EU rất quan tâm đến vấn đề môi trường, sức khoẻ người tiêu dùng, kiểmsoát chặt chẽ và xử phạt nghiêm đối với các hàng hoá nhập khẩu không đảm bảo antoàn Mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người/năm các nước EU dao động trongkhoảng: 5,2 - 5,5kg (trong đó Phần Lan cao nhất: 11 kg, Đan Mạch và Thuỵ Điển trên8kg và thấp nhất là Anh trên 2 kg)
Anh là nơi cà phê hoà tan được tiêu dùng lớn nhất, theo báo cáo của DataMonitor, nhóm nghiên cứu thị trường, cà phê đã và đang thay thế chè, trung bình mỗinăm mỗi người dân Anh sử dụng 15 bảng cho cà phê Cũng theo báo cáo này, tốc độtăng của cà phê là 11%/ năm kể từ năm 1997, và hiện nay cà phê chiếm phần lớn nhấttrong các loại đồ uống ở Anh Hàng năm kể từ năm 1998 đến nay Anh quốc nhậpkhẩu chừng hơn 3 triệu bao Anh quốc – LIFFE công bố lượng hàng tồn kho được xácnhận là 37.893 lô, tức 189.465 tấn Tháng 07/2004, lượng hàng tồn kho được xác nhậnchỉ 33.901 lô và lên đỉnh cao tại thời điểm tháng 10/2004 với 42.464 lô (5 tấn/lô)
Pháp, Áo, Hy Lạp, nhiều người chuyển sang dùng cà phê chè Nhiều ngườichuyển sang uống cà phê chè vì lượng cà phê vối đã chế biến xuất sang Trung vàĐông Âu giảm đi
Tại Đức nhiều người lại chuyển sang dùng cà phê vối thay vì dùng cà phê chè
có vị dịu Mức tiêu thụ cà phê chè gần đây đã giảm ở một số nước Châu Âu chủ yếu
do giá bán lẻ cà phê tăng nhanh, những nước đó là: Bỉ, Luxembuorg, Đan Mạch,Pháp, Đức, Hà Lan Mức tiêu thụ của Tây Âu giảm hơn 2 triệu bao mỗi năm kể từnăm 2002
Cộng hòa Liên bang Đức - Hiệp hội Cà phê Đức (DKV) nói rằng nhập khẩu càphê vào Cộng hòa Liên bang Đức trong tháng 05/2005 là 1,401 triệu bao so với 1,505triệu bao cùng ky tháng 05/2004 Tổng lượng nhập khẩu từ tháng 01-05/2005 là 6,268
Trang 2triệu bao so vối cùng kỳ năm 2004 là 6.591 triệu bao Tổng lượng nhập của Đức năm
2004 là 15.960.567 bao, 9,9% cao hơn 2003 (14.517.288 bao)
2.1.2 Hệ thống phân phối mặt hàng cà phê trên thị trường EU
Hệ thống phân phối cà phê của Châu Âu tập trung chủ yếu vào các trung tâmthương mại, trung tâm bán lẻ, siêu thị và các công ty nhập khẩu Việc giao dịch buônbán chủ yếu thông qua trụ sở chính và văn phòng trung tâm ít thông qua trực tiếp vớicác cửa hàng địa phương
2.1.3 Các quy định của EU đối với nhập khẩu cà phê
- Bao bì và phế thải bao bì: EU ban hành Chỉ thị 94/62/EEC về đóng gói và
phế thải bao bì Chỉ thị quy định tỷ lệ kim loại nặng tối đa trong bao bì và đưa ranhững yêu cầu đối với quá trình sản xuất và thành phần của bao bì Chỉ thị này đượcnội luật hoá thành luật quốc gia của các nước thành viên EU
Hầu hết các sản phẩm mua bán trên thị trường phải được bao gói nhằm bảo vệsản phẩm hàng hoá Để bao gói sản phẩm cần có bao bì Bao bì là một bộ phận khôngthể thiếu của hàng hoá, đặc biệt là các hàng hoá xuất nhập khẩu và vấn đề xử lý phếthải bao bì sau khi sản phẩm được sử dụng đang được đặt ra một cách cấp thiết
Mỗi quốc gia có những quy định cụ thể và hệ thống riêng về bao bì và phế thảibao bì cho các sản phẩm trên thị trường, đặc biệt là sản phẩm nhập khẩu từ nước khác.Bên cạnh đó, môi trường cũng là một vấn đề đặt ra trong việc sử dụng bao bì Luậtmôi trường về tái sử dụng và tái chế vật liệu đóng gói, hay quy định về việc sử dụngbao bì có thể sử dụng lại để giảm độ độc hại đối với môi trường được đưa ra
Bao bì phải được sản xuất theo mã số lượng và chất lượng sản xuất được giớihạn đến một lượng tối thiểu để duy trì mức an toàn, vệ sinh cần thiết đối với sảnphẩm có bao bì và đối với người tiêu dùng
Bao bì sẽ được sản xuất, buôn bán theo cách thức cho phép tái sử dụng hay thuhồi, gồm có cả tái chế và hạn chế đến mức tối thiểu tác động tác động với môi trườngkhi chất phế thải bao bì bị bỏ đi
Bao bì sẽ được sản xuất theo cách có thể hạn chế tối đa sự có mặt của nguyên liệu vàcác chất độc hại do sự phát xạ, tro tàn khi đốt cháy hay chôn bao bì, chất cặn bã
- Những quy định về bảo vệ người tiêu dùng
Trang 3Điều làm các nhà xuất khẩu quan tâm là ngoài hệ thống qui định bắt buộc và tựnguyện của EU, thì các nước thành viên EU vẫn có thể áp dụng hệ thống dán nhãn tựnguyện của riêng quốc gia mình Những hệ thống này có thể được người tiêu dùngđánh giá cao, vì thế các nhà xuất khẩu cần lưu ý đến vấn đề này khi kinh doanh tại thịtrường EU Những qui tắc về thông tin trên nhãn hiệu, qui tắc giá hàng và nhữngthành phần cấu thành đã được thông qua và áp dụng không chỉ nhằm tạo điều kiện chohàng hoá lưu thông tự do, mà còn đảm bảo cung cấp thông tin một cách hiệu quả nhất,nhằm bảo vệ người tiêu dùng
Mục tiêu của nhãn hiệu CE là áp đặt một qui định chung với nhà sản xuất nhằmmục đích, chỉ cho phép các sản phẩm an toàn mới vào được thị trường EU Nhãn hiệu
CE có thể có thể được coi như một loại hộ chiếu, cho phép các nhà sãn xuất tự do lưuthông một loạt các sản phẩm được sản xuất ra như: máy móc, thiếp bị điện áp thấp, đồchơi, thiết bị an toàn cá nhân, dụng cụ y tế và những sản phẩm khác trong nội bộ thịtrường Châu Âu CE chỉ ra rằng một sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu pháp luật và thịtrường của Châu Âu về an toàn sức khoẻ môi trường và bảo vệ người tiêu dùng Chú ýrằng mác CE không phải là một sự đảm bảo về chất lượng
Chỉ thị được đưa vào luật quốc gia là: nếu một sản phẩm rơi vào bất kỳ nhómsản phẩm nào trong danh sách Chỉ thị Nhãn hiệu CE thì nó buộc phải tuân theo luậtpháp quốc gia liên quan đến việc thực hiện Chỉ thị cụ thể đó Bởi vì, các Chỉ thị đượcđặt ra cho các sản phẩm cũng như cho các rủi ro cụ thể (như điện hoặc khả năng tươngthích của điện từ), nên có thể một sản phẩm phải tuân thủ luật pháp dựa trên nhiều hơnmột chỉ thị Mỗi chỉ thị mô tả các yếu tố căn bản đối với các sản phẩm và nguy cơđược quan tâm đến Các qui cách kỹ thuật chi tiết hơn được qui định cụ thể trong cáctiêu chuẩn của Uỷ ban Châu Âu về Tiêu chuẩn hoá (CEN)
- Quy định của hải quan
Hàng hoá nhập khẩu vào EU được tự do lưu thông trên lãnh thổ 27 nướcthành viên sau khi đóng các khoản thuế nhập khẩu quy định Cho phép hàng bán thànhphẩm hoặc nguyên liệu thô được nhập để gia công và tái xuất khẩu trong EU màkhông cần phải nộp thuế hải quan và VAT đối với hàng hoá đã sử dụng Hàng hoátrong khu vực tự do (được coi là khu vực đặc biệt trên lãnh thổ hải quan EU) đượcmiễn thuế nhập khẩu, thuế VAT với quy định: nếu được lưu tại khu vực này thì được
Trang 4coi là chưa nhập khẩu vào EU; ngược lại, hàng hoá của EU lưu tại đây được coi là đãxuất khẩu Về quy tắc xuất xứ, EU áp dụng hai loại không ưu đãi và ưu đãi Các quytắc không ưu đãi về xuất xứ được đề cập trong luật thuế Hàng năm, Uỷ ban châu Âuđăng trên Công báo về biểu thuế quan hưởng theo MFN đối với tất cả danh mục hànghoá nhập khẩu vào EU.
- Những tiêu chuẩn Xã hội 8000(SA8000)
Trách nhiệm Xã hội 8000 (SA 8000) là một tiêu chuẩn quốc tế về trách nhiệm
xã hội Mục tiêu của tiêu chuẩn này là đảm bảo tính trong sạch về đạo đức của nguồncung cấp sản phẩm và dịch vụ Đây là một tiêu chuẩn có tính chất tự nguyện và có thểđược áp dụng cho bất kỳ doanh nghiệp hay tổ chức nào không kể quy mô hay ngànhnghề Tiêu chuẩn này có thể thay thế hay bổ sung cho các quy định riêng của ngànhhay doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội SA 8000 qui định tiêu chuẩn cơ bản về: laođộng, trẻ em, lao động cưỡng bức, sức khoẻ và an toàn, quyền tự do thành lập các hiệphội về đàm phán tập thể, phân biệt đối xử, các hình thức kỷ luật, giờ làm việc và chế
độ công xá Bản thân các yêu cầu trong tiêu chuẩn này dựa trên khuyến cáo của Tổchức lao động quốc tế (ILO) và các thoả thuận và hiệp định của liên hợp quốc (Nhânquyền, Quyền trẻ em)
SA 8000 được các doanh nghiệp và tổ chức lớn trên thế giới ủng hộ về một loạt vấn
đề Sự ủng hộ này và đòi hỏi từ phía người tiêu dùng về các tiêu chuẩn xã hội trênphạm vi toàn cầu có khả năng làm cho SA8000 sớm được công nhận trên phạm viquốc tế
- Quy định về bảo vệ môi trường
Tại EU, nhiều thỏa thuận mang tính tình nguyện và mang tính pháp lý về vấn
đề bảo vệ môi trường được thông qua giữa các chính phủ và các nhà sản xuất Cácthỏa thuận không chỉ áp dụng cho sản phẩm mà còn áp dụng cho bao bì của sản phẩm
Để có thể đưa hàng hoá thâm nhập vào thị trường EU, các nhà xuất khẩu của ViệtNam phải tuân thủ những quy định về môi trường Quan hệ mật thiết với các nhà nhậpkhẩu, nên yêu cầu nhà nhập khẩu chuyển các thông tin liên quan những yêu cầu vềbảo vệ môi trường.Theo đó, các nhà xuất khẩu buộc phải xem xét ảnh hưởng môitrường của sản phẩm của mình, của quá trình sản xuất và đóng gói
Trang 5Người tiêu dùng EU có ý thức cao về bảo vệ môi trường Do vậy việc tuân thủ cácquy định về sản phẩm là rất cần thiết, tuy nhiên đầu tiên là đáp ứng nhu cầu của ngườitiêu dùng EU là điều quan trọng trong thành công tại thị trường EU Chỉ thị về bao bì
và rác thải bao bì đưa ra những tiêu chuẩn tái chế rác thải nói chung Nhà sản xuất vàxuất khẩu cần giảm thiểu bao bì sản phẩm xuất khẩu sang EU
- Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm
Quy định của HACCP rất quan trọng đối với các nhà xuất khẩu ở các nướcđang phát triển bởi vì các nhà nhập khẩu thực phẩm ở các nước EU được coi là người
có trách nhiệm về mặt pháp lý Bởi vậy ngành công nghiệp thực phẩm ở Châu Âu bấtđắc dĩ phải kết hợp làm ăn với các công ty chế biến thực phẩm không có hệ thốngHACCP ở các nước đang phát triển Các công ty Châu Âu nhập khẩu các thực phẩm
đã được chế biến hay các thành phẩm thức ăn sẽ yêu cầu các nhà cung cấp phải thựchiện HACCP Các công ty có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ các tổ chức tin cậy để giúp họthực hiện một hệ thống HACCP và để trở thành công ty được cấp chứng chỉ HACCP
Hệ thống HACCP thường áp dụng đối với ngành chế biến thực phẩm.Chỉ thị về
vệ sinh thực phẩm của EU (93/43/EC có hiệu lực vào tháng 11/1996 qui định "cáccông ty thực phẩm phải xác định từng khía cạnh trong hoạt động của họ đều có liênquan tới an toàn thực phẩm và việc đảm bảo thủ tục an toàn thực phẩm phải được thiếtlập, áp dụng, duy trì và sửa đổi trên cơ sở của hệ thống HACCP
Tất cả các nhà chế biến thực phẩm của EU theo quy định pháp luật phải áp dụng hệthống HACCP hoặc là họ sẽ phải phối hợp thực hiện một hệ thống HACCP Hệ thốngHACCP có thể có hiệu lực đối với các công ty chế biến, xử lý, bao bì, vận chuyển,phân phối hay kinh doanh thực phẩm Những công ty này bắt buộc phải hiểu và phảichống lại các nguy cơ liên quan đến sản xuất thức ăn ở mọi công đoạn, từ nuôi trồng,chế biến, sản xuất, phân phối đến tiêu thụ
- Quản lý chất lượng
Cũng giống như tiêu chuẩn quản lý môi trường và tiêu chuẩn SA 8000, tiêuchuẩn quản lý chất lượng liên quan đến phương thức quản lý Tiêu chuẩn này khác vớicác tiêu chuẩn, nhãn mác liên quan tới sản phẩm hay quá trình sản xuất Tiêu chuẩnquản lý chất lượng là không bắt buộc đối với sản phẩm thâm nhập thị trường EU.Đăng ký tiêu chuẩn quản lý chất lượng là quá trình tự nguyện Tuy nhiên, tiêu chuẩn
Trang 6này chắc chắn sẽ giúp cải thiện cách nhìn nhận về doanh nghiệp trên thị trường, đặcbiệt là khi doanh nghiệp được cấp chứng chỉ theo tiêu chuẩn quản lý được quốc tếcông nhận Các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quan trọng nhất thuộc nhóm tiêu chuẩnISO 9000 Các nhà sản xuất được cấp chứng chỉ ISO 9001 hay ISO 9002 thực sự đã
sở hữu một tài sản quan trọng Đây là một đặc điểm hỗ trợ bán hàng cơ bản trong kinhdoanh ở thị trường EU vốn rất cạnh tranh Đặc điểm này cũng giúp tăng thêm lòng tinvào bạn hàng Các chương trình quản lý chất lượng, sức khoẻ, an toàn và môi trườngthường được đan xen chặt chẽ với kế hoạch quản lý tổng thể Ngày nay, hơn 200.000
tổ chức trên toàn thế giới được cấp chứng chỉ ISO 9000
2.2 Tình hình chung về thị trường cà phê trong nước thời gian qua
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam từ năm 1870, đến năm 1930 diệntích cà phê của Việt Nam đạt khoảng 5.900 ha và lên tới 13.000 ha vào năm 1975 vớisản lượng khoảng 6.000 tấn Sau năm 1975, nhờ vốn từ các Hiệp định hợp tác liênChính phủ với các nước Liên Xô cũ, CHDC Đức, Bungari, Tiệp khắc và Ba Lan nêndiện tích cà phê của Việt Nam bắt đầu tăng nhanh vào nửa cuối thập niên 80 của thế
kỷ trước, năm 1990, cả nước mới có 119.300 ha, sản lượng tương ứng là 92.000 tấn,nhưng năm 1992 bị chững lại do giá cà phê thế giới tụt xuống ở mức thấp nhất Sau đógiá cà phê lại được phục hồi và dần dần đạt đỉnh cao vào những năm 1994, 1995, lúcnày nhiều người đổ xô đi tìm đất trồng cà phê, dẫn đến sự gia tăng đột biến về diệntích và sản lượng cà phê Đến năm 2001, diện tích trồng cà phê của cả nước đã đạtđỉnh điểm với 565,3 nghìn ha Sau đó giảm dần xuống còn 510,2 nghìn ha vào năm
2003, năm 2004 diện tích này giảm còn 503.200 ha và 497,4 nghìn ha vào năm 2005.Năm 2006, cả nước còn 488,6 nghìn ha cà phê với sản lượng cà phê 912 nghìn tấn.Như vậy so với năm 1975 diện tích cà phê gấp 37,6 lần và sản lượng gấp 37,6 lần vàsản lượng gấp 139,2 lần
Hiện nay, Việt Nam chỉ đứng sau Braxin về sản lượng cà phê xuất khẩu, nhưnglại dẫn đầu về sản lượng và xuất khẩu cà phê vối, bỏ xa Inđônêxia vốn ngự trị vị trísố1 về loại cà phê này Cho tới những năm gần đây, khi Việt Nam tham gia thị trường
cà phê thế giới với tư cách là một trong những nhà sản xuất chính, giữ vị trí quantrọng của bên cung thì nhu cầu tiêu dùng cà phê thế giới đã dao động không lớn lắm,thay đổi lên hoặc xuống mỗi năm khoảng 1-2%/năm Điều này đưa ra tín hiệu rằng
Trang 7việc gia tăng sản lượng xuất khẩu rất khó khăn và nếu tiếp tục mở rộng sản xuất thìcung càng vượt cầu, tất yếu dẫn đến giá cà phê sẽ giảm.
Theo thống kê chính thức trọn năm 2004 Việt Nam xuất khẩu tổng cộng 890ngàn tấn cà phê nhân sống, trị giá khoảng 580 triệu đô la Mỹ Cà phê xuất khẩu củaViệt Nam chủ yếu là cà phê Robusta (hay còn gọi là cà phê vối) chiếm khoảng 90%tổng lượng cà phê xuất khẩu
Bảng 2.1: Các tỉnh trồng cà phê nhiều ở Việt Nam
(Theo số liệu thống kê năm 2005, nguồn Vinanet)
Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam những niên vụ vừa qua
Trang 8(Nguồn: Trung tâm thông tin Thương mại)
Hiện tại nước ta có gần 500.000 ha cà phê, trồng tập trung chủ yếu ở các tỉnhTây Nguyên và Đông Nam Bộ Niên vụ cà phê 2006 – 2007 sản lượng của Việt Namđạt 900.000 tấn Trong năm qua, trước tình hình giá cà phê được cải thiện và đang ởmức cao (hiện đang dao động trong khoảng 21.000 – 22.000 đồng/kg), sau khi từ mọikhoản chi phí thì người trồng cà phê vẫn còn lãi gần 1.000 đồng/kg Đây chính làđộng lực để người dân tiếp tục phát triển diện tích cà phê ngoài quy hoạch Theo việnKHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên thì trong niên vụ vừa qua, tính chung trên địabàn các tỉnh Tây Nguyên thì diện tích cà phê đã tăng thêm khoảng 20.000 ha Nhìnchung hoạt động sản xuất cà phê của Việt Nam hiện đang phát triển theo chiều hướngkhả quan
2.3 Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2007
2.3.1 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
Thế giới đã thực sự kinh ngạc với tốc độ phát triển nhanh vượt bậc cây cà phêcủa Việt Nam, vì so với các nước sản xuất cà phê lớn như Braxin, Côlômbia,Mêxicô…có lịch sử trồng cây cà phê hàng trăm năm, thì cây cà phê của Việt Namphát triển trên 32 năm, kể từ năm 1975 Trong thời gian ngắn, từ một nước không cótên trong danh sách các nước xuất khẩu cà phê, đến nay Việt Nam đã trở thành nướcthứ 2 trên thế giới về xuất khẩu cà phê chỉ đứng sau nước sản xuất cà phê khổng lồ làBraxin Năm 2006 thế giới sản xuất được 7.411 nghìn tấn cà phê, trong đó đứng đầu làBraxin chiếm 34,4% về sản lượng (2.551 nghìn tấn), thứ 2 là Việt Nam chiếm 11,5%(853,5 nghìn tấn) và thứ 3 là Côlômbia chiếm 9,4% (696 nghìn tấn) còn lại là 56 nướcsản xuất cà phê khác chiếm 44,7% (3310,5 nghìn tấn)
Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là 95% cà phê Robusta (cà phê vối) và 5% là càphê Arabica (cà phê chè) Nguyên nhân chủ yếu là Việt Nam có các yếu tố thuận lợi
về tài nguyên thiên nhiên đất đai, khí hậu cho việc trồng loại cà phê Robusta Bêncạnh đó quá trình trồng loại cà phê Robusta ít chi phí và kỹ thuật trồng không đòi hỏicao, cầu kỳ, phức tạp cùng với thói quen trồng cây cà phê Robusta của các hộ nôngdân từ trước
Trang 9Đối với loại cà phê Arabica lại ngược lại, loại cà phê này đòi hỏi chi phí, kỹthuật cao gây tốn kém cho các hộ trồng cà phê khi nguồn tài chính Nhà nước cung cấpcho các hộ nông dân còn thấp.
2.3.1.1 Cà phê Arabica (cà phê chè)
Đến năm 1998, cà phê Arabica của Việt nam mới bắt đầu xuất khẩu nhữngContainer đầu tiên theo những tiêu chuẩn tương tự cà phê Robusta Năm 2000, cà phêArabica Việt Nam mới được xuất khẩu theo tiêu chuẩn riêng Về sản lượng cà phêxuất khẩu ngày càng tăng, giá trị hàng hoá đã rút ngắn khoảng cách chênh lệch giá bán
cà phê cùng loại giữa Việt nam và các nước khác Đến nay cà phê chè Việt Nam đượcrất nhiều công ty trên thế giới quan tâm Với diện tích cà phê Arabica là 793,89 hanăm 2007
Cà phê Arabica được chọn giống, trồng và chăm sóc đặc biệt trong môi trườngthiên nhiên ở độ cao từ 800m đến 1.200m so với mặt nước biển Nguyên liệu đượchấp thụ những làn sương ban mai hoà lẫn không khí trong lành nhất trên vùng đất màu
mỡ của vùng cao nguyên Việt Nam
Loại cà phê này có hai loại đang trồng tại Việt Nam: Moka và Catimor
- Moka: Mùi thơm quyến rũ, ngào ngạt, vị nhẹ, nhưng sản lượng rất thấp, giá
trong nước không cao vì không xuất khẩu được, trong khi giá xuất rất cao gấp 2-3 lầnRobusta - vì trồng không đủ chi phí nên người nông dân ít trồng loại cà phê này
Catimor: Mùi thơm nồng nàn, hơi có vị chua, giá xuất gấp hai lần Robusta
-nhưng không thích hợp với khí hậu vùng đất Tây Nguyên vì trái chín trong mùa mưa
và không tập trung - nên chi phí hái rất cao - hiện nay tại Quảng Trị đang trồng thínghiệm, đại trà loại cây này và có triển vọng rất tốt
Chế biến cà phê Arabica
- Chế biến cà phê nhân theo dây chuyền khép kín, công nghệ tiên tiến nhất củaViệt Nam (dùng máy chọn màu Sortex trong khâu phân loại, loại bỏ cà phê hạt đen,nâu…)
- Chế biến cà phê nhân theo công nghệ ướt bằng dây chuyền thiết bị của Cộnghoà Liên bang Đức và Brazin Phương pháp ướt ở đây, vỏ được tách ra khỏi hạt trướckhi bị sấy khô
- Công suất chế biến 15 tấn quả tươi/giờ
Trang 10- Chế biến cà phê nhân công suất 2000 tấn nhân/năm.
- Sản phẩm cà phê nhân đã đạt giải cúp vàng Festival Tây Nguyên năm 2005
- Tiêu thụ cà phê nhân: 13,85 triệu bao
- Thị trường xuất khẩu: Châu Âu và Hoa Kỳ
(Nguồn www.vicofa org.vn.)
Tại New York, giá cà phê Arabica giao ngay ngày 12/10/2007 lúc mở cửa đạttới 632,5 UScent/Lb (2.925 USD/tấn), tăng 2,7% (76 USD/tấn) so với một tuần trước
đó So với cùng kỳ năm trước (2006), giá cà phê Arabica tại New York hiện đã tăng27,4%
Để chuẩn bị cho mùa lễ hội cuối năm, các nhà rang xay Mỹ và Châu Âu đangtăng cường mua cà phê Arabica Giá cà phê Arabica tăng là nhân tố chủ yếu làm giá
cà phê Robusta giao ngay tại London tuần qua tăng 0,4%, lên 1.895 USD/tấn, mặc dùnguồn cung cà phê đang tăng lên từ Indonesia và Việt Nam
2.3.1.2 Cà phê Robusta (cà phê vối)
Gia Lai và Daklak là 02 trong 04 tỉnh Tây Nguyên, có khí hậu và thổ nhưỡnggần giống nhau rất thích hợp trồng cây cà phê Robusta
Loại cây trông này rất thích hợp với khí hậu, thổ nhưỡng tại vùng Tây Nguyên ViệtNam - nhất là vùng đất bazan (Gia lai, Đắclắc) - hằng năm đạt 90-95% tổng sản lượng
cà phê Việt Nam, mùi thơm nồng, không chua, độ cafein cao, thích hợp với khẩu vịngười Việt, nhưng quá đậm đặc với người nước ngoài Trồng cà phê Robusta phảithâm canh mới đạt được năng suất cao vì trái đậu trên cành một lần, phải tạo cành mới(cành thứ cấp 1,2,3…) để đạt được yếu tố này, người nông dân phải có vốn, một kiếnthức cơ bản Thường thì mới năm thứ hai-thời kỳ kiến thiết cơ bản-người trồng đã thuhoạch, không hãm ngọn sớm nên đến năm thứ 1 kinh doanh (năm thứ 3 của cây trồng)cây đã yếu, có hình tán dù, thiếu cành thứ cấp
Sản lượng Cà phê Robusta: Mấy năm nay sản lượng cà phê Robusta trên thế giới tăng
lên nhanh chóng, vụ 2005/06 đạt tới 44,8 triệu bao tăng tới 12,2 triệu bao so với vụtrước và chiếm tới 38% tổng sản lượng cà phê Diện tích trung bình đạt 350.000ha/năm Việc xuất khẩu nhiều cà phê Robusta thường phải đối mặt với hai khó khănlà:
Trang 11Cà phê Robusta của Việt Nam có thể bị thay thế bằng cà phê Robusta của cácnước khác mặc dù hương vị cà phê của Việt Nam đặc biệt do cà phê Robusta là loại càphê thông dụng, nhiều nước có khả năng sản xuất, cạnh đó các doanh nghiệp sản xuấtxuất khẩu cà phê Robusta không có các chiến lược giữ niềm tin với khác hàng, chấtlượng cà phê thấp do công nghệ chế biến còn thô sơ, lạc hậu.
Việt Nam xuất khẩu cà phê đơn điệu chủ yếu là loại cà phê Robusta nhân sốngđiều đó làm ảnh hưởng đến tiềm năng xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Bên cạnh đó cà phê Robusta của Việt Nam có chất lượng cao trên thị trườngthế giới, do nó có nguồn gốc từ Châu Phi nóng và ẩm, khi sang Việt Nam được trồng
ở cao nguyên khí hậu nhiệt đới, có biên độ nhiệt độ ngày và đêm cao nên chất lượngcao Tuy nhiên chúng ta còn yếu kém ở khâu trồng trọt, thu hái chế biến, vận chuyển,bảo quản nên cà phê Robusta giảm thơm ngon
2.3.2 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
Trong vòng 20 năm lại đây ngành cà phê đã có những bước phát triển nhanhchóng vượt bậc đưa sản lượng cà phê tăng lên hàng trăm lần Nguyên nhân dẫn đếnnhững thành tựu đó trước hết là nhờ chính sách đổi mới của Nhà nước phù hợp vớinguyện vọng của nông dân là làm giàu trên mảnh đất của mình dựa vào sự cần cù laođộng của bản thân mình Về nguyên nhân khách quan phải nói rằng đó là do giá càphê trên thị trường trên thế giới những năm gần đây diễn biến theo hướng có lợi chongười sản xuất, cà phê làm ra bán được giá cao hơn và thu nhập của người nông dâncũng tăng lên đáng kể Sự kích thích của giá cả cũng đã thúc đẩy cà phê ở Việt Namphát triển nhanh chóng Và mặt trái của tác dụng đó là dẫn đến sự phát triển vượt cácmục tiêu của kế hoạch, ngoài tầm kiểm soát của ngành cà phê
Những con số thống kê điều tra vào năm 2000 cho thấy diện tích cà phê cảnước đã lên đến 520.000 ha với sản lượng 900.000 tấn, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 2thế giới về sản xuất cà phê
Đây là một con số gây bất ngờ cho nhiều người kể cả trong ngành cà phê Việt nam
Nó góp một phần đáng kể vào việc cung cấp dư thừa cà phê trên thị trường đẩy giá càphê đến mức thấp nhất trong thời gian mấy chục năm qua, trong đó ngành cà phê ViệtNam chịu nhiều thiệt thòi vì sản lượng càng lớn thua lỗ càng nhiều
Trang 12Xem xét diễn biến của tình hình xuất khẩu cà phê ở Việt nam qua các vụ từ1995/96 đến 2000/01 có thể thấy sự tăng trưởng nhanh chóng về lượng xuất khẩucùng với sự giảm sút nhanh chóng về giá cả Khối lượng cà phê xuất khẩu tăng nhanh,nhưng chủ yếu là xuất cà phê dạng thô, chưa thể dùng ngay
Qua nguồn tổng hợp trung tâm thông tin Thương mại cho thấy: Năm 2001 sản lượngxuất khẩu cà phê Việt Nam đạt 931 nghìn tấn với 391 triệu USD
So với năm 2001 năm 2002 sản lượng giảm 209 nghìn tấn (tương ứng 22,44%)nhưng giá trị giảm 69 triệu USD (tương ứng 17,6%) điều này cho thấy giá cả của càphê Việt Nam tăng
Năm 2003 xuất khẩu đạt 749 nghìn tấn tăng 3,7% về sản lượng, nhưng về giátrị xuất khẩu đạt 505 triệu USD tăng rất cao 56,8% so với năm 2002
Năm 2004 xuất khẩu đạt 975 nghìn tấn tăng 30,17% về sản lượng, kim ngạchgiá trị xuất khẩu đạt 641 triệu USD tăng 26,9% so với 2003
Năm 2005 xuất khẩu cà phê đạt 855 nghìn tấn giảm 12,3%, kim ngạch xuấtkhẩu đạt 735 triệu USD tăng 14,7% so với năm 2004 điều đó cho thấy giá cả xuấtkhẩu cà phê tăng lên
Với năm 2006 sản lượng xuất khẩu đạt 912 nghìn tấn tăng 6,67% về kim ngạchxuất khẩu đạt 1.101 triệu USD tăng 49,7% so với năm 2005
Năm 2007 sản lượng xuất khẩu đạt 1.209 nghìn tấn tăng 41,65%,về kim ngạchxuất khẩu đạt 1.878 tăng 70,57% giá trị xuất khẩu Điều này được thể hiện qua bảngsau:
Bảng 2.3: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam
(nghìn tấn)
Tốc độ tăngsản lượng (%)
Kim ngạch(triệu USD)
Tăng kimngạch (%)
Trang 13(Nguồn: Trung tâm thông tin Thương mại)
Từ bảng số liệu trên ta có các biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1: Sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tốc độ tăng sản lượng (%) Tăng kim ngạch (%)
Trang 14Qua bảng số liệu trên ta thấy khối lượng xuất khẩu tăng mạnh đặc biệt trongnăm 2007 khối lượng đạt trên 1 tỷ tấn và giá cả kim ngạch xuất khẩu tăng rất nhiềunhất là trong năm 2003, 2006,2007 giá trị tăng rất nhiều so với sự gia tăng của khốilượng.
Sáu tháng đầu niên vụ 2006-2007 (từ 1-10-2006 đến 31-3-2007), xuất khẩuđược hơn 615 ngàn tấn cà phê, đạt kim ngạch 830 triệu USD, vượt tổng kim ngạchxuất khẩu cả niên vụ trước 4 triệu USD
Trong quý 1-2007, Đắc Lắc – tỉnh dẫn đầu về cà phê cả nước – đã xuất khẩuđược trên 115 ngàn tấn cà phê, đạt kim ngạch 168 triệu USD, tăng 32,4% về giá, 47%
về sản lượng và 95,6% về kim ngạch so với cùng kỳ Tiếp sau Đắc Lắc là Đắc Nôngvới lượng xuất khẩu trên 22 ngàn tấn, đạt kim ngạch 30 triệu USD; Lâm Đồng xuấtkhẩu trên 19 ngàn tấn, đạt trên 28 triệu USD Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tănglên đó là do sản lượng sản xuất tăng cùng theo đó là do giá cà phê thế giới thay đổitheo chiều hướng tăng dần bên cạnh đó là các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của ViệtNam đã chú trọng hơn trong khâu sản xuất, chế biến nhằm nâng cao chất lượng cà phêđưa cà phê Việt Nam tới các thị trường trên thế giới
2.3.3 Chất lượng cà phê xuất khẩu
Chất lượng sản phẩm là yếu tố được khách hàng quan tâm hàng đầu Rất tiếc,nhiều công ty xuất khẩu Việt Nam ít kiềm soát được chất lượng sản phẩm ngay từđầu, nhất là ngay từ khi nông dân mới thu hoạch sản phẩm, cho nên dù nhà máy chếbiến có hiện đại cách mấy mà nguyên liệu đầu vào không đạt phẩm chất thì sản phẩmsau cùng cũng khó đạt tiêu chuẩn mong muốn Tiêu chuẩn chất lượng thường dokhách hàng quy định, căn cứ trên những quy định quốc tế đối với từng mặt hàng cụthể Trong quá trình thu hoạch và chế biến cà phê Do tâm lý của nông dân “xanh nhàhơn già đồng” do đó người nông dân đã thu hoạch sạch cây cà phê khi tỉ lệ cà phê chínmới chỉ chiếm tỷ lệ từ 10% đến 20% Điều này đã làm cho cà phê Việt Nam kém chấtlượng vì cà phê xanh khi chế biến sẽ teo lại, da nhăn nheo, kích thước nhỏ, tỷ trọngnhỏ, vỏ dính chặt vào nhân rất khó đánh bóng sạch, hạt cà phê bị màu tối và những hạt
cà phê non sau khi rang thường có màu vàng và không thơm Bên cạnh đó hoạt độngthu hái cà phê không chuyên nghiệp Chủ yếu nông dân thu hái bằng tay, sau đó đượcphơi trên sân xi măng, thậm chí cả sân đất do đó cà phê Việt Nam có lẫn cả mùi cống,
Trang 15rãnh Chính điều này đã làm cho cà phê Việt Nam mất đi sức canh tranh trên thị thịtrường thế giới.
Bảng 2.4: Tiêu chuẩn về cà phê của Việt Nam
TCVN 4193:2001 Cà phê nhân - yêu cầu kỹ thuật
(Soát xét lần 3 - Thay thế TCVN 4193: 1993)TCVN 4334:2001
(ISO 3509-1985)
Cà phê và các sản phẩm của cà phê-Thuật ngữ và định nghĩa
(Soát xét lần 1-Thay thế TCVN 4334-86)TCVN 4807:2001
(ISO4150-1991)
Cà phê nhân- Phương pháp xác định cỡ hạt bằng sàng tay
(Soát xét lần 2- Thay thế TCVN 4807-89)TCVN 6928:2001
(ISO 6673-1983)
Cà phê nhân - Xác định sự hao hụt khối lượng ở 105oC
TCVN 6929:2001
(ISO 9116-1992)
Cà phê nhân-Hướng dẫn phương pháp mô tả các quy định
TCVN 4193:2005 Tiêu chuẩn về chất lượng cà phê xuất khẩu
(Nguồn: http:// www.vicofa org.vn.)
Hiện nay chúng ta vẫn xuất khẩu chủ yếu là cà phê được phân loại theo tiêuchuẩn cũ (TCVN 4193-93), với các chỉ tiêu sơ đẳng là phần trăm lượng ẩm, tỷ lệ hạt
vỡ và tạp chất Tiêu chuẩn mới (TCVN 4193:2005) đã được ICO coi là văn bản chuẩn
để phân loại cà phê lại chưa được áp dụng Về cơ bản đây là tiêu chuẩn dựa theo cáchtính lỗi trên một mẫu cà phê Cụ thể với cà phê Arabica không được quá 86 lỗi trênmột mẫu 300g; cà phê Robusta không được quá 150 lỗi trên một mẫu 300g Hai loại
cà phê này có hàm lượng ẩm không quá 12,5% và không dưới 8%
Cà phê của Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn khi áp dụng hệ thống tiêu chuẩnquốc tế của tổ chức ISO Chúng ta xuất khẩu cà phê theo tiêu chuẩn phân loại cũ.Nguyên nhân cà phê Việt Nam có chất lượng thấp là do công nghệ sơ chế của ViệtNam còn yếu và chưa đồng bộ Bên cạnh đó nông dân có thói quen thu hoạch cà phêlẫn lộn cả trái chín lẫn xanh Cà phê hái xanh khi chế biến sẽ làm hạt teo lại, da nhănnheo, kích thước nhỏ, tỉ trọng nhẹ; vỏ lụa dính chặt vào nhân rất khó đánh bóng sạch;hạt nhân bị màu tối…Vì thế, ngay cả khi công nghệ sơ chế tốt thì cà phê hạt xuất khẩuViệt Nam vẫn kém
Từ tháng 10/2005 đến tháng 3/2006, thị trường LIFE đã phải loại bỏ hơn700.000 bao cà phê kém chất lượng (cà phê dưới loại 3 và 4) thì trong đó đa phần là cà
Trang 16phê có nguồn gốc từ Việt Nam; còn trong năm 2005, cũng trên thị trường này đã loại
bỏ 1,86 triệu bao cà phê kém chất lượng thì cà phê Việt Nam chiếm tới 89%
Theo báo cáo của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, trong 6 tháng tính đến tháng3/2007, cà phê xuất khẩu có nguồn gốc Việt Nam chiếm 88% trong tổng số cà phêxuất khẩu bị thải loại của thế giới
- Cà phê Robusta của Việt Nam có chất lượng cao trên thị trường thế giới, do
nó có nguồn gốc từ Châu Phi nóng và ẩm, khi sang Việt Nam được trồng ở caonguyên khí hậu nhiệt đới, có biên độ nhiệt độ ngày và đêm cao nên chất lượng cao.Tuy nhiên chúng ta còn yếu kém ở khâu trồng trọt, thu hái chế biến, vận chuyển, bảoquản nên cà phê Robusta giảm thơm ngon
2.3.4 Giá cả cà phê xuất khẩu của Việt Nam
Sản lượng cà phê Việt Nam trong những năm vừa qua dao động xung quanhmức 800.000 tấn/năm Trong đó 90% tổng sản lượng dành cho xuất khẩu Vì thế, giá
cà phê trong nước phần lớn chịu ảnh hưởng từ giá thị trường quốc tế Trong khi đó,giá cà phê xuất khẩu nói riêng và giá các mặt hàng nông sản xuất khẩu khác nói chungcủa Việt Nam khi xuất khẩu đều có mức giá thấp hơn vài chục USD đến cả trăm USD/tấn so với các nước trong khu vực và trên thế giới Nguyên nhân chính của tình trạngnày là do chất lượng sản phẩm thấp hơn các nước khác
Sản lượng cà phê nước ta trong niên vụ 2005-2006 vào khoảng 13,5 triệu bao,tương đương với khoảng 853.500 tấn, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh trong khuvực Tây Nguyên
Trong những tháng đầu niên vụ (tháng 10, 11 và 12/2005), giá xuất khẩu cà phêbình quân của cả nước khá thấp (Bình quân tháng 10/2005 chỉ đạt 813,32 USD/tấn;tháng 11 chỉ đạt 832,89 USD/tấn và tháng 12 đạt 909,06 USD/tấn…)
Qua tình hình xuất khẩu cà phê thời gian qua, có thể thấy, những niên vụ trước, saukhi thu hoạch cà phê về, người nông dân ồ ạt bán ra, do đó nguồn cung dư thừa đãkhiến giá cà phê liên tục rớt giá và đôi khi các doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoàihoặc các nhà môi giới lợi dụng để ép giá Trong niên vụ này, khi biết được sản lượnggiảm, người nông dân đã biết giữ lại hoặc bán ra cầm chừng Giá cà phê thế giới luônđược giữ ở mức cao so với 6 năm trước Năm nay, giá xuất khẩu cà phê trong nhữngtháng sau luôn được người mua trả giá cao hơn những tháng trước đó Chính vì vậy, là
Trang 17một nước sản xuất cà phê chủ yếu để xuất khẩu (hơn 90%), về phía người trồng càphê, để giữ giá thì phải cân nhắc thật kỹ trong khâu xuất bán: phân bổ sản lượng và sốlượng cà phê bán ra đều cho tất cả các tháng trong năm nhằm duy trì mức giá ở mứccao và ổn định chứ không nên bán ồ ạt, có bao nhiêu bán bấy nhiêu, chỉ gây bất lợicho chính mình Ở tầm quốc gia, nếu người dân bán ra nhiều trong một thời điểm nào
đó thì nhà nước nên có chiến lược mua và tích trữ để điều tiết lượng cà phê xuất rađồng đều cho tất cả các tháng trong năm chứ không thể trông chờ vào doanh nghiệp,bởi đồng vốn của doanh nghiệp là vốn kinh doanh nên họ luôn tính toán để làm sao cólãi là được và thường là họ mua xong là bán miễn là có lãi
Trong 9 tháng của niên vụ cà phê 2005-2006, cả nước đã xuất khẩu được gần600.000 tấn, đạt kim ngạch gần 620 triệu USD (giá xuất khẩu bình quân đạt 1.033USD/tấn) Như vậy so với cùng kỳ niên vụ 2004-2005, cà phê xuất khẩu giảm 9,1%
về lượng nhưng tăng 32,8% về giá trị Từ cuối năm 2005 đến nay, giá cà phê xuấtkhẩu trung bình của nước ta tăng khá ổn định, giá của tháng 11/2006 đạt 1.423USD/tấn, tăng trên 7% so với tháng 10/2006 và tăng 54% so với cùng kỳ năm 2005
Dự báo giá cà phê xuất khẩu của nước ta sẽ tiếp tục tăng trong cuối năm 2006 vànhững tháng đầu năm 2007
Bước sang những tháng đầu năm 2006, giá cà phê xuất khẩu liên tục tăng cao
từ 1.169 USD/tấn vào những tháng đầu năm và đến nay trên 1.570USD/tấn, giá cà phêxuất khẩu bình quân trong 6 tháng đầu năm 2006 đạt khoảng 1.142 USD/tấn Và theoVicofa, kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước trong niên vụ 2005-2006 ước đạt khoảng750-800 triệu USD
Trong 11 tháng đầu năm 2006, kim ngạch cà phê xuất khẩu của cả nước ta đạt959,08 triệu USD với 796,86 nghìn tấn cà phê xuất khẩu, giảm 2,23% về lượng cà phêxuất khẩu nhưng lại tăng tới 45,73% về trị giá so với cùng kỳ năm 2005 Tính đến hếttháng 11/2006, kim ngạch xuất khẩu cà phê của nước ta tăng trên 30% so với tổng kimngạch xuất khẩu cà phê của cả năm 2005
Từ cuối tháng 11/2006 đến nay, giá cà phê trên thị trường thế giới liên tục tăng,đặc biệt là đối với cà phê Arabica Giá cà phê Arabica giao kỳ hạn tháng 12/2006 trênthị trường New York tăng khá cao (2.791,79 USD/tấn), tăng 9,5% so với tháng trước
và tăng 27% so với cùng kỳ năm 2005 Cũng trong thời gian này, trên thị trường
Trang 18London, giá cà phê Robusta giao kỳ hạn cũng tăng lên (1.555 USD/tấn), tăng 7,8% sovới tháng trước và tăng 50% so với cùng kỳ năm 2005.
Biểu đồ 2.3: Giá xuất khẩu cà phê trung bình (USD/tấn)
(Nguồn: http://www.gso.gov.vn)
Theo thống kê từ Viện Nghiên cứu Thương mại, hiện giá cà phê Arabica kỳhạn giao tháng 12/2006 giảm 1,3 UScent xuống còn 1,021 USD/lb (2.773 USD/tấn)đây là mức thấp nhất của hợp đồng này kể từ ngày 27/7/06 Ngoài ra, giá hợp đồng kỳhạn tháng 3/2007 còn 1,059 USD/lb, giảm 1,4 UScent, giá giao các kỳ hạn còn lạigiảm từ 1,3-1,55 Uscent/lb Trong bối cảnh cầu tiêu dùng không lớn, dự đoán giá càphê Arabica sẽ giao động trong khoảng 1,01-1,014 USD/lb
Trên thị trường cà phê kỳ hạn London (LIFFE), do chịu sức ép từ hoạt độngbán trục lợi của các quỹ hàng hoá, giá cà phê Robusta giao các kỳ hạn giảm thấp sovới ngày giao dịch trước Giá hợp đồng Benchmark tháng 9/06 giảm 16 USD xuốngcòn 1.765 USD/tấn, giá cà phê Robusta giao kỳ hạn tháng 12/2006 đạt 1.453 USD/tấn,tăng gần 2% so với cuối tháng 9, tăng trên 36% so với cùng kỳ năm 2005
Tại New York, giá cà phê Arabica giao ngay hai tháng cuối năm 2006 đã đạttrung bình 2.720 USD/ tấn, tăng 16,8% so với hai tháng đầu năm 2006 Tại thị trườngLuân Đôn giá cà phê Robusta thời gian này đã tăng 23,1% lên 1.497 USD/ tấn TạiViệt Nam giá chào bán cà phê Robusta loại 2 suốt quý IV/2006 phổ biến ở mức 1.360-1.497 USD/ tấn, FOB, tăng 17-21% so với quý I/2006
Đầu những năm 2008 giá cà phê các loại đã có xu thế tăng mạnh
2.3.5 Hình thức xuất khẩu cà phê chủ yếu của Việt Nam