NHĐT&PTVN là một trong những ngân hàng thương mại quốcdoanh lớn nhất Việt Nam, với 254 chi nhánh tại các thành phố lớn , với hơn 12000 cán bộ, có quan hệ với nhiều ngân hàng trong và ngo
Trang 1Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch I Ngân hàng đầu
tư phát triển Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2008 2.1 Tổng quan hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch I Ngân hàng đầu tư & phát triển Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2008.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển SGDI
Sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư & phát triển Việt Nam (NHĐT&PTVN )
có lịch sử hình thành phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển củaNHĐT&PTVN NHĐT&PTVN là một trong những ngân hàng thương mại quốcdoanh lớn nhất Việt Nam, với 254 chi nhánh tại các thành phố lớn , với hơn
12000 cán bộ, có quan hệ với nhiều ngân hàng trong và ngoài nước.NHĐT&PTVN với hơn 50 năm hình thành và phát triển đã đóng góp một phầnkhông nhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế nhà cũng như sự phát triểncủa hệ thống ngân hàng
Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam – tiền thân của Ngânhàng Đầu tư và Phát triển - được thành lập trực thuộc bộ tài chính theo quyếtđịnh 177/TTG của Thủ tướng chính phủ với quy mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi,nhánh 200 cán bộ Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng kiến thiết là thực hiện cấpphát, quản lí vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất cả các lĩnhvực kinh tế xã hội
Ngày 24/6/1981, Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam được đổi tên thànhNgân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, trực thuộc Ngân hàng nhà nước ViệtNam Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát, chovay và quản lí vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tất cả các lĩnh vực của nền kinh
tế thuộc kế hoạch nhà nước
Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tênthành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 2Đầu năm 1991, thực hiện các quyết định của Nhà Nước và Thống đốcngân hàng, NHĐT&PTVN triển khai hoạt động theo mô hình tổ chức mới Banlãnh đạo NHĐT&PTVN đã xác định: Vốn là mặt trận phía trước, tín dụng làtrung tâm với phương chậm “Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng làmục tiêu hoạt động của BIDV” đồng thời bước đầu triển khai các dịch vụ ngânhàng, mở rộng quan hệ đối ngoại và thanh toán quốc tế Song song với việc ổnđịnh tổ chức và đào tạo cán bộ, NHĐT&PTVN cũng bước đầu mở thêm một sốlượng nghiệp vụ mới như: Huy động vốn, phát hành kì phiếu bảo đảm giá trịtheo giá vàng, thanh toán quốc tế, cho vay xuất nhập khẩu, cho vay làm nhà ở…
Sở giao dịch I được thành lập theo Quyết định số 572 TCCB/ ĐT ngày26/12/1990 của Vụ Tổ chức cán bộ Ngân hàng Nhà nước về tổ chức bộ máy củaNHĐT&PTVN và Quyết Định số 76 QĐ/TCCB ngày 28/03/1991 của TổngGiám đốc NHĐT&PTVN Theo các Quyết định này, Sở giao dịch I là đơn vịtrực thuộc, thực hiện hạch toán nội bộ, có bảng cân đối tài khoản riêng, có condấu riêng và trực tiếp giao dịch với khách hàng Trụ sở đặt tại 191 Đường BàTriệu-Hai Bà Trưng- Hà nội
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Sở Giao dịch I trải qua haithời kỳ:
- Thời kỳ từ 1991 – 1995: Nhiệm vụ chính trong thời kỳ này là cấp phátvốn ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản Trong giai đoạn này ngân hàng đãthực hiện cấp phát vốn cho nhiều dự án như: Các dự án về bưu điện, đường sắt,chè, cà phê… với số tiền lên đến hàng trăm tỷ đồng Không những thế ngânhàng còn cho vay đối với các đơn vị thiết kế thi công, xây dựng…
- Thời kỳ từ 2000 đến nay: Năm 2000 các chỉ tiêu đề ra không còn nhưngmột số dự án lớn vẫn còn kéo dài trong đó có nhiều dự án mang tính bao cấp chỉthị Chỉ đến năm 2001 sở mới chính thức hạch toán độc lập
Trong những ngày đầu mới thành lập sở giao dịch chỉ có hai phòng vàmột tổ nghiệp vụ trong quá trình phát triển ngân hàng không ngừng mở rộngquy mô cũng như chất lượng hoạt động của mình đến nay ngân hàng có tới 15
Trang 3phòng nghiệp vụ với hơn 300 cán bộ, với tổng tài sản chiếm khoảng 10% tổngtài sản của hệ thống.
SGDI phải làm tất cả các nhiệm vụ mà trung ương giao, cũng như phảihoàn thành tốt nhiệm vụ mà lãnh đạo NHĐT&PTVN giao như: bảo toàn và pháttriển nguồn vốn cũng như các nguồn lực của ngân hàng nhằm thực hiện các mụctiêu kinh doanh đề ra, thông qua việc xây dựng kế hoạch dài hạn, kế hoạch hàngnăm với hoạt động kinh doanh phù hợp với chiến lược phát triển của toàn ngành
lệ dự trữ bắt buộc tăng, NHNN kiểm soát chặt chẽ cho vay đối với đầu tưchứng khoán và tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng v.v… dường như cànglàm tăng lên những khó khăn mà hệ thống ngân hàng gặp phải Trước nhữngbiến động đó, hoạt động của SGDI NHĐT&PTVN trong thời gian qua cũngkhông tránh khỏi những khó khăn nhất định Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạoquyết liệt, chủ động, linh hoạt bằng những quyết sách mạnh mẽ, kịp thờicủa Ban lãnh đạo cùng sự nỗ lực chung của toàn bộ tập thể cán bộ nhânviên, hoạt động của SGDI đã đạt được những kết quả rất khả quan, xứngđáng là cánh chim đầu đàn trong toàn hệ thống NHĐT&PTVN
2.1.2.1 Đánh giá nguồn vốn huy động
a) Đánh giá tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của SGDI
(Đvt: triệu đồng)
Trang 42006 2007 2008 0
Von huy dong
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008 của SGDI
Tính đến hết ngày 31/12/2007, số dư huy động vốn của SGDI đạt13620.6 tỷ đồng, tăng 34.71% so với năm 2006 Nguồn vốn huy độngluôn tăng trưởng như vậy đã đảm bảo cho SGDI lúc nào cũng có nguồnvốn sẵn sàng bổ sung cho nhu cầu thanh khoản Tốc độ tăng trưởng nguồnvốn huy động của năm 2008 cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn củanăm 2007 (so với 2006) 88.9%, là do cuộc chạy đua lãi suất vào đầu năm
2008 của các ngân hàng, tỷ lệ lạm phát tăng khá cao khiến cho đôi khidẫn tới mức lãi suất thực âm Thêm vào đó không thể không kể đến sựbiến động của thị trường vàng, sự tăng cao của tỷ giá USD/VND vànhững tác động tiêu cực đến huy động vốn của các ngân hàng Đặc biệtkết thúc năm 2008 vốn huy động tăng 88.96% so với năm 2007 Nguyênnhân chủ yếu do việc huy động vốn với lãi suất khá cao trong bối cảnhlạm phát của nền kinh tế
Biểu đồ 2.2: Tốc dộ tăng trưởng vốn thành phần
(Đvt: triệu đồng)
Trang 52006 2007 2008 0
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008 của SGDI
Tiền gửi tổ chức kinh tế tăng trưởng đều đặn qua các năm , tỷ trọngtiền gửi không kỳ hạn ngày càng tăng lên Điều đó cho thấy SGDI dường như điđúng hướng trong việc phát triển hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt cho
hệ thống doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, giúp cho việc kiểmsoát lưu thông tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
Tiền gửi của dân cư biến động mạnh trong giai đoạn 2006 – 2008,giảm mạnh vào năm 2007 và lại tiếp tục tăng trong năm 2008 dù kinh tế
có nhiều khó khăn Điều đó đã cho thấy SGDI đã năng động và sáng tạotrong việc chọn giải pháp phát triển những sản phẩm và cung ứng dịch vụhuy động vốn linh hoạt, mang tính cạnh tranh cao bên cạnh những dịch vụtruyền thống như tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm “ổ trứng vàng”…và chútrọng công tác mở rộng mạng lưới trên các thi trường tiềm năng, kháchhàng tiềm năng
b) Đánh giá cơ cấu nguồn vốn huy động
Cơ cấu huy động vốn của SGDI đã có sự thay đổi theo chiều hướngtích cực thể hiện ở đối tượng tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọnglớn thay cho loại hình tiền gửi của cá nhân trong giai đoạn trước đây.Nguồn vốn huy động khác đang dần chiếm tỷ trọng tăng cao thể hiện sựnăng động của SGDI trong việc tìm kiếm nguồn vốn cho sự phát triển của
Trang 6mình Tính đến 31/12/2008 tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 26485,352
tỷ đồng, tiền gửi dân cư đạt 2355,873 tỷ đồng trong tổng nguồn vốn huy động
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động của SGDI
12.760.1 06
26.485.3 52
- TG không kỳ
hạn
1.645.39 0
2.491.02 1
2.355.87 3
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008 của SGDI
Điều đó cho thấy SGDI dường như đi đúng hướng trong việc phát triển
hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt cho hệ thống doanh nghiệp nói riêng
và nền kinh tế nói chung, giúp cho việc kiểm soát lưu thông tiền tệ của Ngânhàng Nhà nước
2.1.2.2 Đánh giá tín dụng
a) Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng
Biểu đồ 2.3: Quy mô tăng trưởng tín dụng 2006 – 2008
(Đvt: triệu đồng)
Trang 72006 2007 2008 4400000
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008 của SGDI
Trong giai đoạn 3 năm 2006 – 2008, dư nợ tín dụng của SGDI liên tụctăng Cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới, lạm phát tăng cao trong nước đã khiếnNHNN phải thực thi chính sách tiển tệ thắt chặt vào hồi đầu và giữa năm 2008.Theo chính sách đó, toàn bộ hệ thống ngân hàng phải hạn chế tốc độ tăngtrưởng tín dụng, rà soát chặt chẽ các khoản cấp tín dụng góp phần nâng cao chấtlượng tín dụng và đảm bỏa sự phát triển an toàn của toàn hệ thống Dù có sự nớilỏng vào cuối năm 2008 qua việc cắt giảm lãi suất cơ bản nhưng toàn hệ thốngngân hàng đang duy trì một mức tăng trưởng tín dụng vừa phải cho một sự pháttriển bền vững Vì vậy, dự đoán tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong năm 2008được coi là sự phát triển thành công của SGDI trong công tác tín dụng dựa trênxem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận_rủi ro
1.095.37
9
1.035.02
1 Cho vay đồng tài trợ
Trang 8Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008 của SGDI
Bảng biểu trên đã cung cấp những số liệu tuyệt đối về tín dụng thànhphần của SGDI Trong giai đoạn 2006 – 2008, cho vay ngắn hạn luôn tăngtrưởng đều đặn với tốc độ tăng trưởng bình quân là 48.76% Cho vay trung vàdài hạn thương mại tăng trưởng mạnh vào năm 2007 với tốc độ tăng trưởng là57.17%
b) Đánh giá cơ cấu tín dụng
Cơ cấu danh mục tín dụng của SGDI trong giai đoạn 2006 – 2008 đã cónhững thay đổi, những chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn
và giảm tỷ trọng cho vay trung và dài hạn Tỷ trọng cho vay trung và dài hạnchiếm 12.47% vào năm 2006, tăng lên 18.91% vào năm 2007 và giảm vào năm
2008 Sự tăng tỷ trọng vào năm 2007 được lý giải bởi sự tăng trưởng mạnh củanền kinh tế (với tốc độ tăng trưởng GDP là 8.5%) Tuy nhiên, những bất lợinăm 2008 đã khiến SGDI điều chỉnh tỷ lệ cơ cấu tín dụng Cho vay theo kếhoạch nhà nước không những không tăng từ năm 2008 mà còn giảm dần quacác năm
Tuy nhiên cũng trong giai đoạn 2006 – 2008, cùng với sự tăng trưởng vềquy mô tín dụng, sự thay đổi dần theo chiều hướng tích cực của cơ cấu tín dụngthì tỷ lệ nợ xấu của SGDI cũng có xu hướng tăng dần Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư
nọ vào năm 2006 là 0.21% đã tăng lên tới 0.27% vào năm 2007, 0.25% vào năm
2008 Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu như vậy có thể coi là chấp nhận được nếu khôngmuốn nói là khá nhỏ so với các chi nhánh cùng hệ thống và các ngân hàng khác
Để đạt được những kết quả này là nhờ vào sự nỗ lực cũng như hiệu quả của việckiểm soát chất lượng tín dụng chặt chẽ của SGDI trong suốt thời gian qua
c) Đánh giá các chỉ tiêu khác
* Thu dịch vụ ròng
Biểu đồ 2.4: Thu dịch vụ rong giai đoạn 2006-2008
(Đơn vị tính : triệu đồng)
Trang 92006 2007 2008 0
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008 của SGDI
Trong giai đoạn 2006 – 2008, thu dịch vụ ròng luôn luôn tăng trưởng vớitốc độ mạnh và đều đặn Thu dịch vụ ròng tính đến thời điểm 31/12/2008 đạt
115 tỷ đồng, tăng 49.6% so vói năm 2007 Trước thực trạng cạnh tranh gay gắtgiữa các NHTM trong cung cấp những tiện ích đến khách hàng, đạt được điềunày là do SGDI đã tập trung nguồn lực vào đầu tư phát triển hoạt động dịch
vụ như tài trợ thương mại, bảo lãnh, dịch vụ ngoại tệ…
Trang 10* Kết quả kinh doanh
Năm 2007 tổng tài sản bình quân đạt 17999 tỷ đồng tăng 27.28% so vớinăm 2006 Cùng với đó, tốc độ tăng truởng của lợi nhuận sau thuế cũng đạt mứcbình quân khá cao là 47.06% Tính đến 31/12/2007, lợi nhuận sau thuế đạt mức
321 triệu đồng, tăng 73.64% so với năm 2006
Năm 2008, mặc dù hoạt động của khối ngân hàng thương mại nhìn chunggặp nhiều khó khăn với tình hình huy động vốn giảm mạnh dẫn đến việc cácNHTM muốn thu hút đựợc vốn đã đẩy lãi suất lên cao, kéo theo lãi suất cho vaycũng tăng mạnh Đồng thời các NHTM lại phải thực hiện giới hạn tín dụng, gâyảnh hưởng đáng kể đến kết quả hoạt động, làm cho cạnh tranh trong hệ thốngcàng khắc nghiệt hơn trước Do vậy những kết quả mà SGDI đạt được là đángkhích lệ, và đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh NHĐT&PTVN chuẩn bị cổ phầnhóa thành tập đoàn tài chính ngân hàng vào năm 2009
2.2 Thực trạng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHĐT&PTVN trong thời gian gần đây.
Là một trong những ngân hàng thương mại Nhà nước hàng đầu ViệtNam, trong thời gian vừa qua, NHĐT&PTVN luôn sát cánh cùng doanh nghiệp.Ngoài mức lãi suất cho vay ưu đãi, NHĐT&PTVN còn đưa ra gói giải phápdành cho DNVVN Hơn thế, NHĐT&PTVN luôn là nhạc trưởng trong các diễnđàn xúc tiến đầu tư vào các vùng trọng điểm của đất nước không những giúpdoanh nghiệp vượt qua khó khăn, mà còn mở ra nhiều cơ hội hỗ trợ doanhnghiệp phát triển trong tương lai
DNVVN đóng một vai trò, vị trí rất quan trọng trong hệ thống kinh tếquốc dân và là một thị trường tiếm năng Theo số liệu thống kê của Bộ Kếhoạch và Đầu tư, trong tổng số gần 350.000 doanh nghiệp đang hoạt động tạiVệt Nam, có đến 95% là các DNVVN Trong bối cảnh đó, để hiện thực hoá mụctiêu trở thành ngân hàng thương mại dẫn đầu trong cung ứng tín dụng, dịch vụcho các DNVVN Trong thời gian qua, NHĐT&PTVN đã mở rộng phát triểncho vay, nhất là qua các chương trình đặc biệt tài trợ DNVVN
Trang 11Tính đến hết quý III/2008, hơn 17.000 DNVVN đang có quan hệ vớiNHĐT&PTVN với tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh 43.527 tỷ đồng, chiếm21,5% tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của toàn toàn hệ thốngNHĐT&PTVN.
Không chỉ tăng về mặt số lượng khách hàng là các DNVVN mà xét vềquy mô, dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của khối DNVVN tại NHĐT&PTVNcũng tăng 15.485 tỷ đồng (31/11/2008) tương đương 55,2% Do vậy, mức tăngtrưởng tín dụng đối với khối DNVVN luôn cao hơn mức tăng bình quân củatoàn hệ thống NHĐT&PTVN Như vậy tính đến thời điểm cuối Quý 3/2008, sốlượng DNVVN có quan hệ tín dụng tại hệ thống BIDV tăng thêm 1.368 Doanhnghiệp (tương đương tăng trưởng 12,7%) so với thời điểm cuối năm 2007 Nếuxét về quy mô quan hệ tín dụng đối với khối DNVVN: Tại thời điểm cuối Quý3/2008, dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh, L/C của khối DNVVN tại BIDV tăng6.346 tỷ đồng (tương đương tăng trưởng 17,1%) so với thời điểm cuối năm2007
Năm 2008 là một năm nền kinh tế đất nước gặp nhiêu khó khăn, trong đókhối DNVVN bị tác động mạnh, nhiều doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ
bị phá sản Với vai trò là ngân hàng chủ chốt trong khố NHTM Nhà nước,NHĐT&PTVN luôn đi tiên phong trong việc hỗ trợ chia sẻ khó khăn đối vớidoanh nghiệp như giảm lãi suất cho vay, thực hiện cơ chế linh hoạt về tài sảnbảo đảm
Trang 122.3 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại SGDI NHĐT&PTVN
2.3.1 Tín dụng trung và dài hạn đối với DNVVN tại SGDI NHĐT&PTVN
Thời gian qua, NHĐT&PTVN đã có chính sách chia sẻ khó khăn đối vớicác Doanh nghiệp như giảm lãi suất cho vay, giảm phí, thực hiện cơ chế linhhoạt về tài sản bảo đảm… Từ tháng 9/2008 đến nay, NHĐT&PTVN đã 08 lầngiảm lãi suất cho vay, riêng đối với các DNVVN mức lãi suất cho vay đã giảm
từ 21%/năm xuống còn 8%/năm (giảm 13%/năm) NHĐT&PTVN trở thành nhàbăng đầu tiên công bố điều chỉnh giảm lãi suất đồng nội tệ đầu tiên trong năm
2009 Lần giảm gần đây nhất được NHĐT&PTVN công bố vào ngày 4/12/2008.Lần này, lãi suất cho vay VND của NHĐT&PTVN tối đa là 10,5% một năm.Lãi suất cho vay ngắn hạn thời hạn đến 3 tháng là 8% một năm đối với cáckhoản vay xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu trực tiếp và khách hàng cam kếtbán lại ngoại tệ tương ứng cho NHĐT&PTVN Lãi suất cho vay ngắn hạn vớithời hạn đến 3 tháng là 9% một năm Trường hợp thời hạn vay trên 3 tháng, lãisuất áp dụng trên 9% đến tối đa 10% một năm Lãi suất cho vay trung dài hạnVND của NHĐT&PTVN từ nay bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau cộngvới phí tối thiểu là 3% một năm nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản
Như vậy, với các chính sách hỗ trợ tín dụng đối với DNVVN,NHĐT&PTVN đã:
- Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt: trên cơ sở lãi suất cơ bản từngthời kỳ, áp dụng cơ chế lãi suất ưu đãi đối với các DNVVN, đảm bảo mức lãisuất cho vay đối với các DNVVN thấp hơn từ 0,5% - 1%/năm so với mức lãisuất cho vay thông thường
- Đa dạng hoá các hình thức cấp tín dụng: Đặc biệt đối với các doanhnghiệp xuất khẩu, như chương trình hoán đổi tiền tệ chéo VND-USD, chiếtkhấu bộ chứng từ…