1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

29 620 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 75,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta hiện nay có thểhiểu DNVVN là các doanh nghiệp đạt một trong hai tiêu chí sau: + Các DNNN, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh,Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,

Trang 1

Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa

và nhỏ1.1 Khái quát doanh nghiệp vừa và nhỏ và vai trò của nó trong nền kinh tế 1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

Có rất nhiều các định nghĩa về DNVVN khác nhau của các nhà kinh tếtuỳ vào quan điểm hay điều kiện của từng quốc gia Ở nước ta hiện nay có thểhiểu DNVVN là các doanh nghiệp đạt một trong hai tiêu chí sau:

+ Các DNNN, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh,Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp tư nhân, HTX, hộ kinhdoanh cá thể có đăng kí kinh doanh có số lao động trung bình hàng năm khôngquá 300 lao động (không giới hạn vốn đăng kí)

+ Các DNNN, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh,doanh ngiệp cố vốn đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp tư nhân, HTX, hộ kinhdoanh cá thể có đăng kí kinh doanh có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng

Tiêu chí về lao động chỉ xem xét đối với những doanh nghiệp có vốnđăng kí trên 10 tỷ đồng

Cơ sở xác định vốn và lao động:

+ Lao động trung bình hàng năm là số lao động bình quân mà doanhnghiệp đăng kí với cơ quan quản lí lao động và có tham gia đóng Bảo hiểm xãhội (không bao gồm số lao động doanh nghiệp kí hợp đồng thời vụ, hợp đồngcông việc)

+ Vốn đăng kí: Đối với DNNN là vốn điều lệ được nhà nước cấp, đối vớicác doanh nghiệp còn lại là vốn ghi trên đăng kí kinh doanh, giấy phép đầu tư

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Sự phát triển của các DNVVN trong thời gian qua cho thấy DNVVNchiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong nền kinh tế với những ưu thế cơ bản như:

Trang 2

- DNVVN linh hoạt trước sự thay đổi của thị trường, có khả năng dễ dàngchuyển đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh

- Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí quản lý,nâng cao hiệu quả lao động của doanh nghiệp

- Lĩnh vực hoạt động của các DNVVN rất đa dạng và phong phú

- Khu vực DNVVN thu hút số lượng người lao động lớn trong đó có cảnhững lao động có tay nghề cao và cả lao động phổ thông tạo ra nhiều việc làm

- Vốn đầu tư ban đầu cho DNVVN không nhiều nhưng hiệu quả kinh tếcao, thu hồi vốn nhanh, hấp dẫn nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh

tế đầu tư vào

Tuy nhiên DNVVN có nhiều hạn chế:

- Về vốn tín dụng: Các DNVVN luôn trong tình trạng thiếu vốn phục vụcho hoạt động sản xuất kinh doanh Để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, cácDNVVN vay vốn chủ yếu từ các tổ chức phi tài chính với mức lãi suất khôngchính thức gấp 3 đến 5 lần lãi suất ngân hàng Một trong những nguyên nhân

mà DNVVN khó có thể vay vốn từ nhân hàng và các tổ chức tín dụng khác là

do những khó khăn về tài sản thế chấp Hơn nữa, thủ tục tín dụng của các ngânhàng và các tổ chức tín dụng chính thức thường khá phức tạp dẫn đến chi phígiao dịch cao và mất nhiều thời gian của doanh nghiệp

- Công nghệ: Phần lớn công nghệ mà DNVVN sử dụng là lạc hậu do vốnđầu tư cho các DNVVN rất thấp so với các doanh nghiệp có quy mô lớn Ngoài

ra, DNVVN được xác định với tiêu chí về vốn tương đối thấp Các DNVVNkhó có thể vay được một khoản tín dụng trung và dài hạn để nâng cấp côngnghệ Bên cạnh đó, việc nhập khẩu máy móc, thiết bị bị đánh thuế cao trongkhai các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại được miễn trừ So với cácdoanh nghiệp nhà nước, các DNVVN khó tiếp cận với thị trường công nghệmáy móc thiết bị quốc tế

- Do DNVVN là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé, vốn đầu tư chohoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn làm cho chất lượng sản xuất

Trang 3

không cao, sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ yếu do đó cũng không mở rộngđược thị trường, hàng hoá khó tiêu thụ, lợi nhuận thấp, kinh doanh gặp nhiềukhó khăn, dễ dân tới gian lận thương mại Sản phẩm, dịch vụ của các DNVVNluôn phải cạnh tranh với hàng giả, hàng nhái.

- Môi trường kinh doanh bên ngoài: Những tác động từ bên ngoài cũnggây ra không ít khó khăn cho DNVVN, trước hết là sự tác động về quản lý củaNhà nước về hoàn thiện Luật doanh nghiệp, thực thi Luật doanh nghiệp, trongcác cơ chế như cơ chế đất đai, chính sách thuế, tín dụng, chính sách thươngmại, chính sách khoa học công nghệ, lao động và việc làm còn nhiều bất cập

- Đất đai phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN cònthiếu Các DNVVN gặp nhiều khó khăn trong việc cấp quyền sử dụng đất hoặckhi thuê đất làm trụ sở hoặc nhà máy

- Khả năng tiếp cận thị trường thế giới của các DNVVN còn rất hạn chế,sản phẩm của DNVVN phải cạnh tranh với một lượng hàng ngoại nhập có giá rẻhơn Ngoài ra sản phẩm của các DNVVN có chất lượng thấp vì trình độ kỹthuật, kỹ năng quản lý kém do không được đào tạo và thiếu kinh nghiệm quản

lý hiện đại

Trong những khó khăn nêu trên, thiếu vốn là nguyên nhân căn bản vìDNVVN hạn hẹp về vốn đưa tới năng lực kinh doanh bị hạn chế và khi tực lựckinh tế yếu thì khả năng vay vốn lại càng khó khăn Bên cạnh đó môi trường thểchế, chính sách kinh tế còn chưa tạo điều kiện bảo vệ và bảo đảm cho sự pháttriển của khu vực này Trong đó cơ chế chính sách về tín dụng nhân hàng còngây nhiều khó khăn cho việc vay vốn tín dụng của các DNVVN Do vậy cácDNVVN phát triển hoàn toàn chưa có định hướng và chưa được hỗ trợ nhiều từphí Nhà nước cũng như các doanh nghiệp lớn khác

1.1.3 Vai trò DNVVN trong nền kinh tế

DNVVN đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sựphát triển kinh tế xã hội của đất nước Đặc biệt là ở Việt Nam, khi số lượng các

Trang 4

doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ ngày càng đông đảo thì vai trò đối với nềnkinh tế càng bộc lộ rõ nét, thể hiện ở các khía cạnh sau:

1.1.3.1 Các DNVVN góp phần to lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.

Công ăn việc làm cho người lao động là vấn đề cấp bách hiện nay ở ViệtNam với tốc độ tăng dân số hàng năm từ 1.8% - 2 %, tạo ra một triệu người đếntuổi lao động cộng với số thất nghiệp là 6%/năm và bán thất nghiệp do sắp xếplại doanh nghiệp nhà nước Theo dự báo năm 2010 mặc dù dân số có thể tăngchậm lại nhưng nguồn lao động nước ta vẫn tăng nhanh, đòi hỏi phải giải quyếtviệc làm hết sức khẩn trương Thực tế cho thấy toàn bộ các DNNN trong thờigian qua, năm cao nhất cũng chỉ thu hút được 1.6 triệu lao động, trong khi đóhàng năm DNVVN cũng tạo ra 50% - 80% lao động trong các ngành nghề côngnghiệp, dịch vụ Đặc biệt trong nhiều thời kỳ, khi các DNNN cơ cấu lại nhân sựthì khu vực DNVVN lại là nơi tái tạo lại công việc cho họ

1.1.3.2 DNVVN đáp ứng tích cực nhu cầu tiêu dùng xã hội ngày càng phong phú, đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được.

Hiện nay, ở nhiều nước, hoạt động sản xuất kinh doanh của cácDNVVN đã phát triển hầu khắp các lĩnh vực, rất đa dạng và phong phú.Trong cơ cấu các DNVVN thì doanh nghiệp siêu nhỏ, sản xuất kinh doanhmang tính chất cá thể, gia đình chiếm tỷ lệ khá lớn ở Pháp, doanh nghiệpsiêu nhỏ chiếm tới 80% tổng số doanh nghiệp và có gần 50% trong số nàychỉ sử dụng lao động trong gia đình, không cần thuê ngoài một nhân viênnào

Ngày nay trong thực tế tiêu dùng xã hội, có những mặt hàng mà ngườitiêu dùng chỉ có nhu cầu ít và cá biệt song chất lượng, chủng loại mẫu mã, kiểucách không ngừng thay đổi Trong trường hợp này các doanh nghiệp lớn khôngthể đáp ứng được, trái lại các DNVVN do qui mô sản xuất nhỏ, có khả năngđiều chỉnh hoạt động nên có thể đáp ứng những nhu cầu nói trên của người tiêudùng một cách nhanh chóng, thuận tiện Đặc biệt có những hàng hoá người tiêu

Trang 5

dùng có nhu cầu không thể sản xuất ở các doanh nghiệp có qui mô lớn, kỹ thuậthiện đại mà chỉ có thể sản xuất bằng lao động thủ công, phân tán đến từng cơ sởsản xuất nhỏ và hộ gia đình.

1.1.3.3 DNVVN có vai trò quan trọng trong lĩnh vực phân phối lưu thông

và trong sản xuất, chế biến hàng hoá xuất khẩu.

Trong quá trình tái sản xuất xã hội, hàng hoá từ khâu sản xuất đến khâutiêu dùng phải qua khâu trung gian Đó là khâu lưu thông do mạng lưới các cửahàng dịch vụ bán buôn và bán lẻ đảm nhận

Do lợi thế của mình các DNVVN rất thích hợp với lĩnh vực kinh doanhdịch vụ bán lẻ Vì các DNVVN chỉ cần một số vốn ban đầu nhỏ cũng có thểhoạt động được, còn nơi làm cửa hàng và kho hàng có thể sử dụng ngay nhàmình, nhân viên bán hàng thường cũng là người của gia đình Do đó chi phí lưuthông hàng hoá thấp

Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làmcho lực lượng sản xuất phát triển nhảy vọt, vượt ra khỏi biên giới quốc gia vàđẩy mạnh quá trình quốc tế hoá kinh tế thế giới

Vì vậy bất kỳ nước nào, dù ở trình độ phát triển kinh tế cao hay thấp cũngđều phải thực hiện chiến lược kinh tế mở, với nội dung cơ bản là: Tận dụng lợithế so sánh tích cực tham gia vào việc phân công lao động quốc tế, chuyên mônhoá và hợp tác hoá quốc tế, tranh thủ vốn, công nghệ và kinh nghiệm tốt củanước ngoài để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước Đặc trưng cơ bản của chiếnlược kinh tế mở là mức bảo hộ thấp, khuyến khích xuất khẩu

Việt Nam đang là một nước nghèo, kinh tế, kỹ thuật và công nghệ đang ởtrình độ thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nên việc tích cựctranh thủ các nguồn lực bên ngoài để khai thác có hiệu quả các lợi thế bên trong

là vấn đề đặc biệt quan trọng

Chính vì vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảng vàNhà nước chủ trương thực hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, coi xuấtkhẩu là trọng tâm, đồng thời ra sức sản xuất những sản phẩm trong nước sản

Trang 6

xuất có hiệu quả để thay thế nhập khẩu.

Hiện nay trong tổng kim ngạch xuất khẩu ở nước ta, các mặt hàng truyềnthống do các DNVVN kể cả kinh tế hộ gia đình sản xuất chế biến chiếm tỷtrọng đáng kể Đó là những mặt hàng nông sản, thực phẩm, hải sản, các mặthàng thủ công mỹ nghệ như: gốm sứ, mây tre, sơn mài, hàng thêu dệt, hàng maymặc

1.1.3.4 DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng.

Do quy mô vừa và nhỏ nên các DNVVN có thể đặt văn phòng làm việc,nhà xưởng, kho tàng ở khắp mọi nơi, ở cả những nơi cơ sở hạ tầng chưa pháttriển như ở vùng núi cao, hải đảo, ở vùng nông thôn rộng lớn nhằm khai tháctiềm năng và thế mạnh của từng vùng Nhất là các loại tài nguyên trên mặt đấtthuộc các ngành nông, lâm, hải sản

Để khai thác có hiệu quả lao động, tài nguyên và ngành nghề đang còn rấtlớn ở từng địa phương, từng vùng lãnh thổ, cần tập trung đẩy nhanh sự pháttriển một số ngành mà nước ta có nhiều tiềm năng như: nông nghiệp, lâmnghiệp, hải sản và công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản v.v

Trong những năm trước mắt, chúng ta còn gặp nhiều khó khăn về vốn và

kỹ thuật nên việc đầu tư khai thác các nguồn lực của đất nước, Đảng ta chủtrương: “Chú trọng quy mô nhỏ và vừa, vốn đầu tư ít, thu hồi nhanh theophương châm “lấy ngắn nuôi dài”

DNVVN do vốn ít, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém nên tỷ lệ lao động sửdụng trong các DNVVN thường lớn rất thích hợp với những ngành cần nhiềulao động thủ công như chế biến thuỷ sản đông lạnh, may mặc, da giầy, côngnghiệp chế biến

Hiện nay, DNVVN ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.Theo thống kê, đội ngũ này chiếm tới gần 95% tổng số doanh nghiệp trong cảnước, đóng góp 25% GDP và thu hút một lực lượng lao động đáng kể, tạo công

Trang 7

ăn việc làm, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần khai thácnhững tiềm năng trong dân chúng.

1.2 Tín dụng trung và dài hạn của NHTM.

1.2.1 Khái niệm về NHTM.

Trong xã hội, Ngân hàng có một vị trí quan trọng và tham gia vào hoạtđộng của nhiều thành phần kinh tế và dân cư Lịch sử hình thành Ngân hàng bắtđầu từ rất lâu Ban đầu nó được hình thành từ những thương nhân làm dịch vụgiữ tiền hộ Dựa trên tính vô danh của đồng tiền cho phép những thương nhânnày chuyển từ việc giữ tiền hộ sang việc giữ hộ tiền và thu lệ phí và huy độngvốn có trả lãi để khuyến khích người có tiền nhàn rỗi trong xã hội, rồi sử dụng

số tiền đó để kinh doanh trực tiếp cho vay lấy lãi Ngày nay Ngân hàng thươngmại được định nghĩa như sau:

NHTM là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chủyếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả

và sử dụng số tiền đó để cho vay đầu tư, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán vàcác nghiệp vụ trung gian khác nhằm thu lợi nhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khảnăng thanh khoản

NHTM giống các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động nhằm mục đíchthu lợi nhuận nhưng là tổ chức kinh doanh đặc biệt vì đối tượng kinh doanh làtiền tệ trong đó hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu được thực hiện bằngcách thu hút vốn trong xã hội để cho vay nhằm mục tiêu lợi nhuận cao nhất vàrủi ro thấp nhất

1.2.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM.

1.2.2.1 Huy động vốn

Huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản, tính chất sống còn đối vớibất kỳ một NHTM nào, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của cácNHTM Theo luật pháp cho phép, các NHTM được phép huy động vốn bằngnhiều hình thức sau đây:

* Nhận tiền gửi:

Trang 8

- Nhận tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức,

- Nhận tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân,

- Nhận tiền gửi có kỳ hạn của các cá nhân, tổ chức đoàn thể xã hội,

- Nhận tiền gửi các tổ chức tín dụng khác,

* Phát hành giấy tờ có giá:

NHTM được quyền phát hành giấy tờ có giá ( kỳ phiếu ngân hàng, trái

phiếu ngân hàng ) để huy động vón có kỳ hạn và có mục đích sử dụng

* Các hình thức huy động vốn khác:

- Vay vốn ở các NHTM khác

- Vay vốn tại NHNN

1.2.2.2 Hoạt động tín dụng.

Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ vản, có ý nghĩa lớn đối với nền kinh

tế xã hội, vì thông qua hoạt động này mà hệ thống NHTM cung cấp một lượngvốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế, nhờ khối lượng vốn này mà nền kinh tế sẽphát triển nhanh hơn, bền vững hơn

Hoạt động tín dụng NHTM gồm có :

- Cho vay ( ngắn hạn, trung hạn, dài hạn )

- Chiết khấu chứng từ có giá

- Cho thuê tài chính

- Bão lãnh ngân hàng

- Các hình thức khác

1.2.2.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.

Đây là hoạt động quan trọng và có tính chất đặc thù của NHTM, nhờ hoạtđộng này mà các giao dịch thanh toán của toàn bộ nền kinh tế được thực hiệnthông suất và thuận lợi, đồng thời qua hoạt động này mà góp phần làm giảmlượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế

Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ NHTM gồm:

- Mở tài khoản giao dịch cho khách hàng là pháp nhân, hoặc thể nhântrong và ngoài nước

Trang 9

- Cung ứng các phương tiện thanh toán cho khách hàng

- Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế

- Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác

- Thực hiện dịch vụ ngân quỹ

- Tham gia hệ thống thanh toán bù trừ trong nước và hệ thống thanh toánquốc tế khi được phép

1.2.2.4 Huy động khác.

Ngoài ba hoạt động nói trên, các NHTM còn được thực hiện các hoạtđộng khác, phù hợp với chức năng nghiệp vụ của mình đồng thời không bị luậtpháp nghiêm cấm Các hoạt động khác bao gồm:

* Góp vốn mua cổ phần:

- Góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp

- Góp vốn, mua cổ phàn vào các tổ chức tín dụng khác

* Thực hiện mu bán chứng từ có giá trên thị trường tiền tệ

* Kinh doanh ngoại hối và vàng

* Kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm

* Thực hiện các nghiệp vụ uỷ thác và đại lý

* Cung ứng dịch vụ bảo quản, cầm đồ, cho thuê tủ két sắt

* Cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ và các dịch vụ khác có liênquan

1.2.3 Tín dụng trung và dài hạn của NHTM.

1.2.3.1 Khái quát tín dụng trung và dài hạn.

Tín dụng trung và dài hạn là các khoản vay có kỳ hạn trên một năm (từ 1năm đến 3 năm được coi là tín dụng trung hạn và từ 3 năm trở lên được coi làtín dụng dài hạn) Tín dụng trung và dài hạn nhằm thoã mãn các nhu cầu về muasắm máy móc, thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất của một doanh nghiệp và mộtphần vốn lưu động tối thiểu của một doanh nghiệp

Trang 10

Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng trung và dài hạn thường xuyênphát sinh do các doanh nghiệp luôn luôn tìn cách phát triển mở rộng sản xuất,đổi mới công nghệ, đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học

Đặc biệt đối với nền kinh tế của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn xâydựng cơ bản rất lớn, trong lúc các nhà kinh doanh chưa tích luỹ được nhiều,chưa có thời gian để tích lỹ vốn, tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào cácdoanh nghiệp còn rất hạn chế Do vậy đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệpmới chủ yếu là dựa vào vốn tự có của các nhà kinh doanh và bộ phận chủ yếucàn lại phải nhờ vào sự tài trợ của hệ thống ngân hàng

Ở các nước công nghiệp phát triển cho vay trung và dài hạn cũng đượccác nhà kinh doanh vay vốn kiểm soát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp,đồng thời họ có thể điều chỉnh kỳ hạn nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn khi

họ không cần đến việc sử dụng vốn đó nữa So với việc phát hành trái phiếu dàihạn, hay cổ phiếu các doanh nghiệp luôn phải chịu sự kiểm soát của cổ đông và

họ phải đối phó với việc trả lãi trái phiếu, lãi cổ phần ưu đãi khi việc sử dụngvốn có khó khăn, hoặc không cần thiết nữa

Tín dụng trung và dài hạn ngày càng được các doanh nghiệp yêu thíchhơn vì phù hợp với điều kiện thực tế của các doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn,doanh nghiệp nhỏ Các doanh nghiệp cổ phần lớn cũng thích vay trung và dàihạn để tránh phát hành cổ phiếu, trái phiếu là những hình thức huy động vốn cóthể dẫn đến sự phân chia quyền lợi sự kiểm soát doanh nghiệp

Tín dụng trung và dài hạn sử dụng cho việc mua sắm nhà xưởng, máymóc, thiết bị của các doanh nghiệp để cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chấtlượng sản phẩm, hoặc để mở rộng sản xuất chiếm lĩnh thị trường mới Có thểnói rằng tín dụng trung và dàu hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanhnghiệp trong việc thoả mãn các cơ hội kinh doanh Khi có cơ hội kinh doanhcác doanh nghiệp cần phải mở rộng sản xuất, gia tăng lượng sản phẩm để chiếmlĩnh thị trường, khi cơ hội sản xuất không còn vốn được hoàn trả ngân hàng chovay Đó là một ưu thế của vốn trung và dài hạn Nó linh hoạt hơn các hình thức

Trang 11

huy động vốn dài hạn khác như trái phiếu cổ phiếu Hơn nữa việc vay vốn trung

và dài hạn tránh được các chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứngkhoán

Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn trung và dài hạn chođầu tư xây dựng các công trình sản xuất kinh doanh mới, hiện đại hoá các côngnghệ sản xuất, mở rộng các nghành sản xuất đang có đòi hỏi có một nhu cầurất lớn Nhu cầu vốn này được thoả mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp phát,vay nước ngoài và một phần như huy động từ dân cư Nhưng cho dù là nguồnvốn xuất phát từ đâu việc cung cấp tín dụng thông qua hệ thống các ngân hàngthương mại dưới hình thức cho vay trung và dài hạn là rất quan trọng

Hệ thống NHTM là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệmtrong nắm bắt thị trường, có kinh nghiệm thẩm định dự án, các chương trình đầu

tư do vậy việc các NHTM tài trợ vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệpvừa đảm bảo tính chất hiệu quả của quản lý vĩ mô về mặt tốc độ và cơ cấu sảnxuất, vừa đảm bảo lợi ích của các doanh nghiệp, vì ngân hàng cho vay có thểsoạn thảo giúp các doanh nghiệp các dự án đầu tư có thể tư vấn cho các nhàdoanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toánvới khách hàng, thông tin các thông tin cần thiết cho khách hàng

1.2.3.2 Các hình thức tín dụng trung và dài hạn.

a) Cho vay theo dự án đầu tư.

Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định nhằmthực hiện dự án nhất định, có thể xin vay ngân hàng Một trong những yêu cầucủa ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạchđầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án Thẩm định dự án là điều kiện đểngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả củadoanh nghiệp

Dự án được xây dựng gồm nhiều mục như phân tích thị trường nguồnnhân lực, địa điểm, công nghệ, quy trình sản xuất, phân tích tài chính trong đóphân tích tài chính là mục tiêu quan tâm hàng đầu của ngân hàng

Trang 12

Nhu cầu vay vốn đầu tư được tính dựa trên tổng hợp các chi phí về xâydựng, giải phóng mặt bằng, mua và lắp đặt các thiết bị và các tài sản lưu động

dự trữ cần thiết để bắt đầu quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

- Thời hạn của tín dụng tuần hoàn có thể bao gồm một hoặc nhiều chu kỳkinh doanh vì vậy tổng thời gian cho vay có thể là trung và dài hạn

- Trong hợp đồng tín dụng, Ngân hàng và khách hàng thống nhất các tiêuchuẩn gia hạn vốn vay cho từng chu kỳ Khi kết thúc một chu kỳ nếu kháchhàng tiếp tục thoã mãn các tiêu chuẩn thì hợp đồng tín dụng tiếp tục có hiệu lựcngay sau đó Trong trường hợp các tiêu chuẩn không được thoã mãn thì hợpđồng tín dụng sẽ bị chấm dứt

Vậy, về bản chất tín dụng tuần hoàn nhằm tạo điều kiện thuận lợi chokhách hàng khi sử dụng vốn vay của ngân hàng Hình thức tín dụng tuần hoànphù hợp với những khách hàng có uy tín và có nhu cầu vốn thường xuyên

c) Tín dụng hợp vốn.

Tín dụng hợp vốn là hình thức tài trợ trong đó các tổ chức tín dụng cùngtài trợ cho một dự án Việc đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng là quá trình chovay, bão lãnh của một nhóm tổ chức tín dụng cho một dự án

Việc đồng tài trợ do một tổ chức tín dụng làm đầu mối phối hợp với cácbên tài trợ khác để thực hiện nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng

Hình thức tín dụng hợp vốn thường áp dụng trong các trường hộp sau:

Trang 13

- Nhu cầu vay vốn hoặc bảo lãnh của chủ đầu tư để thực hiện dự án vượtqua giới hạn tối đa cho phép cho vay của một tổ chức tín dụng.

- Nhu cầu phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng

- Khả năng nguồn vốn của tổ chức tín dụng không đáp ứng được nhu cầuvốn của dự án

Các bên trong quan hệ tài trợ:

- Bên đồng tài trợ bao gồm từ hai thành viên trở lên, mỗi thành viên làmột tổ chức tín dụng Các thành viên này tham gia góp vốn cho vay, bão lãnhtrực tiêp đối với một dự án với các mức tiền nhát định do các tổ chúc tín dụng

tự thoã thuận thông qua việc ký kết hợp đông tài trợ Một tổ chức tín dụng đứng

ra điều phối các quan dệ giữa các bên đông tài trợ và bên nhận tài trợ

- Bên nhận tài trợ thường là nhà đầu tư, một pháp nhân, cá nhân có nhucầu vay vốn, được các bên đồng tài trợ chấp nhận cho vay

- Thời hạn khá đa dạng cả ngắn, trung và dài hạn

Hình thức cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng

để mua hàng trả góp hàng hoá lâu bền như xe máy, nhà cửa Phương thức chovay có thể cho vay trực tiếp đối với người mua hoặc thông qua tài trợ cho cácdoanh nghiệp bán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng để các doanh nghiệp

Trang 14

này bán hàng trả góp Ngân hàng có thể tài trợ toàn bộ hoặc một phần giá trịhàng hoá.

e) Cho thuê tài chính.

Đây là một hình thức vay tài sản thông qua một hợp đồng tín dụng thuêmua Bên cho vay lấy một hợp đồng tín dụng để mua lại tài sản cố định và giữquyền sở hữu Bên vay ký một hợp đòng thuê tài sản và trả góp giá trị tài sản cảgốc và lãi cho đến khi hết giá trị tài sản hoặc cho đến khi hết thời hạn hợp đồng

và thanh lý tài sản

Điểm thuận lợi là bên vay có tài sản để sử dụng trong sản xuaat kinhdoanh và phía ngân hàng cần giữ quyền sử hữu cho đến khi thanh lý hợp đồng.Tài sản thuê mua không nằm trong tài sản của doanh nghiệp mà nằm trong tàisản cuẩ ngân hàng cho vay

Ngân hàng thường thành lập công ty con để thực hiện nghiệp vụ này.Hai bên có thể thực hiện thuê mua trả hết hoặc thuê mua từng phần

Trong hợp đồng thuê mua người thuê được quyền chọn tài sản để thuêmua theo yêu cầu sản xuất kinh doanh của mình và chịu trách nhiệm bảo quảntài sản, bảo hiểm tài sản và nộp thuế

Việc thực hiện hợp đồng tín dụng thuê mua có thể thực hiện dưới hìnhthức hợp tác Ở đây một ngân hàng đứng ra chịu trách nhiệm ký kết hợp đồng

và hưởng lệ phí khởi xướng tài trợ và lãi thu nhập về vốn tài trợ ngân hàng chothuê sẽ vay ở nhiều ngân hàng khác và bản thân ngân hàng chỉ tài trợ một tỷ lệnhất định ( khoảng 20% ) Người cho thuê được phép khấu trừ sự giảm giá tàisản và lợi tức cho vay dài hạn với tốc độ cao vào những năm đầu của hợp đồngthuê mua và chi trả các khoản nợ vay rrong những năm cuối cùng của hợp đồng

Việc thực hiện thuê mua đòi hỏi có một sự quy định tỉ mỉ về thời hạn,ước lượng giá trị còn lại của tài sản, khả năng trích khấu hao Nên nó đòi hỏiphải có các chuyên viên nhiều kinh nghiệm ở mỗi loại lĩnh vực tài sản khácnhau

1.2.3.3 Điều kiện tín dụng trung và dài hạn.

Ngày đăng: 18/10/2013, 09:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w