1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiếp cận ý định khởi nghiệp bằng mô hình thái độ khởi nghiệp và vai trò điều tiết của nguồn vốn nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam

280 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 280
Dung lượng 5,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, mặc dùbiến "thiên hướng hành động" trong mô hình các sự kiện khởi nghiệp EEM được biếtđến như là biến giải thích tại sao một người có năng lực và hoài bão trở thành mộtngười khở

Trang 1

TRẦN QUANG LONG

TIẾP CẬN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP BẰNG MÔ HÌNH THÁI ĐỘ KHỞI NGHIỆP VÀ VAI TRÒ ĐIỀU TIẾT CỦA NGUỒN VỐN:

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN HÀ MINH QUÂN

TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ kinh tế “Tiếp cận ý định khởi nghiệp bằng mô hình thái độ và xem xét tác động của giáo dục và nguồn vốn: Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

TRẦN QUANG LONG

Trang 4

Luận án này đã không thể được hoàn thành nếu thiếu sự cổ vũ, hướng dẫn và

hỗ trợ của nhiều cá nhân và tổ chức

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các Thầy Cô Trường Đại HọcKinh Tế TP Hồ Chí Minh, đặc biệt là các Thầy Cô Khoa Quản trị kinh doanh, đãtận tình giảng dạy hướng dẫn tôi hoàn thành các học phần trong chương trình đàotạo tiến sĩ của nhà trường Qua đó đã giúp tôi có được những kiến thức, những kinhnghiệm cần thiết để thực hiện luận án này

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS NguyễnĐình Thọ, PGS TS Trần Hà Minh Quân, người Thầy hướng dẫn khoa học của tôi.Trong suốt năm năm qua, Thầy đã tận tình dìu dắt, chỉ bảo, hướng dẫn tôi thực hiệnluận án Những nhận xét, đánh giá của Thầy, đặc biệt là những gợi ý về hướng giảiquyết vấn đề trong suốt tiến trình nghiên cứu, thực sự là những bài học vô cùng quýgiá đối với tôi không chỉ cho việc thực hiện luận án này mà cả trong công việc vàcuộc sống hiện tại của mình

Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình của tôi Trong suốt nhữngnăm qua, gia đình luôn là nguồn cổ vũ và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luậnán

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 4 năm 2019

Trang 5

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục hình vẽ

Tóm tắt

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Giới thiệu: 1

1.2 Sự cần thiết của nghiên cứu 1

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khởi nghiệp 1

1.2.2 Tính cấp thiết của nghiên cứu 8

1.3 Mục tiêu của nghiên cứu 12

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

1.5 Phương pháp nghiên cứu 13

1.6 Đóng góp của luận án 13

1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu 14

1.8 Cấu trúc luận án 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 15

2.1 Giới thiệu chương 2 15

2.2 Lý thuyết về khởi nghiệp 15

2.2.1 Các quan điểm về khởi nghiệp 15

2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu về khởi nghiệp 17

2.3 Lý thuyết về ý định khởi nghiệp (Entrepreneurial intention – EI) 22

2.3.1 Khái niệm về ý định khởi nghiệp 22

2.3.2 Các mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp 24

2.4 Các thành phần của mô hình thái độ về khởi nghiệp 29

2.4.1 Tự trọng (Self_esteem_SE) 29

2.4.2 Sáng tạo (Innovation_INN) 30

2.4.3 Thành tích (Achievement_ACH) 31

2.4.4 Kiểm soát bản thân (Personal Control_PC) 32

2.5 Lý thuyết về giáo dục khởi nghiệp 33

2.5.1 Khái niệm về giáo dục khởi nghiệp 33

2.5.2 Tổng quan các nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp 33

2.6 Lý thuyết về nguồn vốn khởi nghiệp 35

2.6.1 Các loại hình nguồn vốn khởi nghiệp 35

2.6.2 Các nghiên cứu về nguồn vốn khởi nghiệp 38

Trang 6

2.7.5 Mối quan hệ giữa giáo dục với thái độ và ý định khởi nghiệp 44

2.7.6 Vai trò của nguồn vốn đến khởi nghiệp 49

2.8 Mô hình nghiên cứu đề xuất 52

2.9 Tóm tắt chương 2 54

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 55

3.1 Giới thiệu chương 3 55

3.2 Qui trình nghiên cứu 55

3.2.1 Giới thiệu chương trình nghiên cứu 55

3.2.2 Các bước trong qui trình nghiên cứu 56

3.3 Thang đo lường các khái niệm nghiên cứu 58

3.3.1 Thang đo thái độ về khởi nghiệp 59

3.3.2 Thang đo ý định khởi nghiệp (EI) 63

3.4 Nghiên cứu sơ bộ 64

3.4.1 Nghiên cứu định tính 64

3.4.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 66

3.5 Nghiên cứu chính thức 75

3.5.1 Mẫu nghiên cứu 75

3.5.2 Đối tượng và phương pháp khảo sát 76

3.6 Phương pháp nghiên cứu: 77

3.6.1 Phương pháp phân tích EFA 77

3.6.2 Phương pháp hồi qui bội 78

3.6.3 Phương pháp ANOVA một chiều và hậu ANOVA 79

3.7 Tóm tắt chương 3 79

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 80

4.1 Giới thiệu chương 4 80

4.2 Kết quả thống kê mô tả 80

4.2.1 Giới tính 80

4.2.2 Độ tuổi 80

4.2.3 Thống kê theo vị trí địa lý 81

4.2.4 Thống kê theo trình độ học vấn 82

4.3 Phân tích đánh giá thang đo 82

4.3.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 82

4.3.2 Kiểm định thang đo bằng phương pháp EFA 90

4.4 Mô hình nghiên cứu chính thức 95

4.5 Kiểm định mô hình nghiên cứu 98

4.5.1 Kiểm định giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5: mối quan hệ giữa thái độ về khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp 98

4.5.2 Kiểm định giả thuyết H6: Phương pháp giáo dục tác động đến thái độ về việc khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp 102

4.5.3 Kiểm định giả thuyết H7: thời lượng đào tạo tác động đến thái độ về khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp 105

Trang 7

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT HÀM Ý QUẢN TRỊ 121

5.1 Giới thiệu chương 5 121

5.2 Kết quả chính và những đóng góp của nghiên cứu 122

5.4 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo 137

Trang 8

Phụ lục 2: NGHIÊN CỨU ÐỊNH TÍNH KHÁM PHÁ KHÁI NIỆM EAO VÀ EIPhụ lục 3: ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP

Phụ lục 4: BẢNG CÂU HỎI NGUYÊN MẪU CỦA P ROBINSON

Phụ lục 5: BẢNG CÂU HỎI BAN ĐẦU THẢO LUẬN NHÓM

Phụ lục 6: BẢNG CÂU HỎI NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC

Phụ lục 7: CÁC NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MÔ HÌNH EAO

Phụ lục 8: KẾT QUẢ MỘT SỐ PHÂN TÍCH

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG

BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Trang 9

TPB: Theory Planned Behavior

EEM: Entreprenuership Event Model

EI: Entreprenuerial Intention

EB: entrepreneurial behaviour

DNKN: Doanh nghiệp khởi nghiệp

SE: Self-esteem (Sự tự trọng)

ACH: Achievement (Thành tích)

INN: Innovation (Sáng tạo)

PC: Personal control (Kiểm soát bản thân)

COG: Cognation (Nhận thức, niềm tin / suy nghĩ)AFF: Affection (Cảm xúc)

Conative or BEH: Behaviour (Ý chí hành vi)

Trang 10

Bảng 3.2: Thang đo kiểm soát bản thân……… 60

Bảng 3.3: Thang đo thành tích……… 61

Bảng 3.4: Thang đo sự sáng tạo……… 62

Bảng 3.5: Thang đo ý định khởi nghiệp……… 64

Bảng 3.6: Độ tin cậy thang đo sơ bộ cảm xúc tự trọng……… 68

Bảng 3.7: Độ tin cậy thang đo sơ bộ ý chí về tự trọng……… 69

Bảng 3.8: Độ tin cậy thang đo sơ bộ nhận thức tự trọng……….69

Bảng 3.9: Độ tin cậy thang đo sơ bộ cảm xúc kiểm soát bản thân………… 70

Bảng 3.10: Độ tin cậy thang đo sơ bộ ý chí kiểm soát bản thân……… 71

Bảng 3.11: Độ tin cậy thang đo sơ bộ nhận thức về kiểm soát bản thân…… 71

Bảng 3.12: Độ tin cậy thang đo sơ bộ cảm xúc về thành tích……… 72

Bảng 3.13: Độ tin cậy thang đo sơ bộ ý chí về thành tích……… 73

Bảng 3.14: Độ tin cậy thang đo sơ bộ nhận thức về thành tích……… 73

Bảng 3.15: Độ tin cậy thang đo sơ bộ cảm xúc sáng tạo ……….74

Bảng 3.16: Độ tin cậy thang đo sơ bộ ý chí sáng tạo……… 74

Bảng 3.17: Độ tin cậy thang đo sơ bộ nhận thức sáng tạo……… 75

Bảng 3.18: Độ tin cậy thang đo sơ bộ ý định khởi nghiệp……… 77

Bảng 4.1: Thống kê mô tả theo giới tính……… 81

Bảng 4.2:Thống kê mô tả theo độ tuổi……… 82

Bảng 4.3: Thống kê theo vị trí địa lý………82

Bảng 4.4: Thống kê theo trình độ học vấn………83

Bảng 4.5: Độ tin cậy thang đo chính thức cảm xúc tự trọng……… 83

Bảng 4.6: Độ tin cậy thang đo chính thức ý chí tự trọng……… 84

Bảng 4.7: Độ tin cậy thang đo chính thức nhận thức tự trọng……… 85

Bảng 4.8: Độ tin cậy thang đo chính thức cảm xúc kiểm soát bản thân…… 86

Bảng 4.9: Độ tin cậy thang đo chính thức ý chí kiểm soát bản thân……… 86

Trang 11

Bảng 4.13: Độ tin cậy thang đo chính thức nhận thức thành tích………… 88

Bảng 4.14: Độ tin cậy thang đo chính thức cảm xúc sáng tạo……… 88

Bảng 4.15: Độ tin cậy thang đo chính thức ý chí sáng tạo……… 89

Bảng 4.16: Độ tin cậy thang đo chính thức nhận thức sáng tạo……… 89

Bảng 4.17: Độ tin cậy thang đo chính thức ý định khởi nghiệp……… 90

Bảng 4.18: So sánh nội dung giữa các thang đo……… 91

Bảng 4.19: Kết quả phân tích EFA……… 93

Bảng 4.20: Bảng trọng số hồi qui mô hình nghiên cứu……… 100

Bảng 4.21: So sánh ANOVA phương pháp giảng dạy……… 103

Bảng 4.22: Kiểm định tính đồng nhất phương sai……… 103

Bảng 4.23: Bảng so sánh Cảm xúc tự trọng và Cảm xúc sáng tạo bằng LSD 104

Bảng 4.24: So sánh ANOVA cho thời lượng đào tạo……… 106

Bảng 4.25: Kiểm định tính đồng nhất của phương sai (Leneve)…… 108

Bảng 4.26: Bảng so sánh cảm xúc sáng tạo bằng phương pháp Tamhane… 108

Bảng 4.27: Bảng so sánh Cảm xúc KSTT bản thân bằng phương pháp LSD 109

Bảng 4.28: Bảng so sánh Ý định khởi nghiệp bằng phương pháp LSD.…… 110

Bảng 4.29: So sánh ANOVA trình độ học vấn…….……… 111

Bảng 4.30: Kiểm định sự đồng nhất của phương sai (Leneve)……… 112

Bảng 4.31: Bảng so sánh giữa các nhóm bằng phương pháp LSD………… 113

Bảng 4.32: Bảng tóm tắt mô hình ……… 117

Bảng 4.33: Bảng ANOVA………117

Bảng 4.34: Bảng trọng số hồi qui: ……… 117

Bảng 4.35: Bảng so sánh trọng số hồi qui giữa các loại nguồn vốn……… 120

Bảng 5.1: Thang đo kiểm soát thành tích cá nhân………126

Trang 12

Hình 2.2: Mô hình sự kiện khởi nghiệp……… 26Hình 2.3: Mô hình thái độ về khởi nghiệp……… 28

Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu đề xuất……… 54Hình 3.1: Qui trình nghiên cứu……… 57

Hình 4.3: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh ……… 97

Trang 13

các nhà làm chính sách, các học giả nghiên cứu, các nhà kinh doanh trên thế giới.Tương tự như vậy, tại Việt Nam, một nền kinh tế mới nổi ở Đông Nam Á, cũng xuấthiện ngày càng nhiều những nghiên cứu về lĩnh vực này Nghiên cứu này sử dụngthang đo “Thái độ về khởi nghiệp” gồm bốn thành phần: Sáng tạo, Tự trọng, Thànhtích và Kiểm soát bản thân của P Robinson và cộng sự (1991) và thang đo “ý địnhkhởi nghiệp” của Linan và Chen (2009) nhằm khám phá mối quan hệ giữa thái độ

về khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp, đồng thời kiểm tra vai trò điều tiết của nguồnvốn lên mối quan hệ này Ngoài ra nghiên cứu cũng kiểm tra vai trò kiểm soát củacác yếu tố giáo dục đến thái độ và ý định về khởi nghiệp của người Việt Nam Qua

đó nhằm phát triển và kiểm định thang đo lường và xây dựng mô hình lý thuyếtcũng như đóng góp những hàm ý quan trọng cho các nhà làm chính sách

Qui trình nghiên cứu được tiến hành gồm hai bước chính: một là, nghiên cứu

sơ bộ gồm định tính và định lượng được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minhnhằm điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát của thang đo; hai là, nghiên cứu chínhthức với cở mẫu 337 để kiểm định lại thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết và cácgiả thuyết nghiên cứu

Kết quả cho thấy các thành phần thang đo “Thái độ về khởi nghiệp” có tác độngđáng kể đến ý định khởi nghiệp Tuy nhiên, có điểm khác biệt so với thang đo gốc với

sự xuất hiện của thành phần thứ năm là “kiểm soát thành tích cá nhân” Ngoài ra,nguồn vốn được tìm thấy có vai trò điều tiết đến mối quan hệ này Cuối cùng, các yếu

tố của giáo dục cũng có tác động kiểm soát đến thái độ và ý định về khởi nghiệp

Kết quả nghiên cứu này góp phần bổ sung vào lý thuyết về thái độ và ý định

về khởi nghiệp, trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam Các đóng góp về hàm ýcũng giúp các nhà quản trị hiểu rõ hơn về cơ chế hình thành cũng như những yếu tốtác động đến ý định khởi nghiệp Qua đó, họ sẽ có những chính sách hiệu quả hơntrong việc khuyến khích khởi nghiệp

Trang 14

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU

1.2 Sự cần thiết của nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khởi nghiệp

Trong lịch sử lý thuyết, có rất nhiều các nghiên cứu về khởi nghiệp như: tinh thầnkhởi nghiệp, ý định khởi nghiệp, hành vi khởi nghiệp, các yếu tố tác động đến khởinghiệp Từ đó xuất hiện các trường phái khác nhau nghiên cứu về lĩnh vực này

Ngay từ những năm đầu thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu (như RichardCantillon, 1931; Schumpeter, 1934 hay Ducker, 1985) đã cố gắng giải thích kháiniệm về tinh thần doanh nhân (entrepreneurship) và hành vi khởi nghiệp(entrepreneurial behaviour) Bằng cách tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, các nhànghiên cứu trong giai đoạn này đã đóng góp những nền tảng lý thuyết rất quan trọng

và có công rất lớn khi chỉ ra rằng khởi nghiệp có tầm quan trọng lớn đối với sứckhỏe kinh tế nói chung cũng như chỉ ra một số công cụ thực tế và các khía cạnh củakhởi nghiệp Sau đó, Dees và cộng sự (1998), Low và MacMillan hay Kruger(2000) cũng đóng góp đáng kể về khái niệm ban đầu về tinh thần khởi nghiệp

Để giải thích vì sao một người có xu hướng khởi nghiệp trong khi những ngườikhác thì không có, các nhà nghiên cứu tiếp cận từ nhiều cách khác nhau Nhiều tác giả(như Kristiansen và Indarti, 2004; Gaddam, 2008; Ramana và cộng sự, 2009; S.M.Farrington, 2012) theo trường phái nhân khẩu học cho rằng các doanh nhân có cùngmột đặc điểm như: giới tính, độ tuổi, vùng miền… Trong khi đó, trường phái đặcđiểm tính cách cá nhân (ví dụ Beugelsdijk, 2007; Jaafar và Abdul-Aziz, 2005; Aldrich

Trang 15

và Martinez, 2001; Gartner, 2001; Lee và Peterson, 2000; Lyon, Lumpkin và Dess,2000; Shane và Venkataraman, 2000; Aldrich và Kenworthy, 1999; Busenitz vàBarney, 1997; Lumpkin và Dess, 1996; Gartner, 1988, Carland và cộng sự, 1984;Cole, 1969; McClelland, 1961; McClelland và cộng sự, 1953; Knight, 1921) lại chorằng doanh nhân có cùng những đặc điểm về tính cách như sự tử tế, nhu cầu thànhtích, nhận thức năng lực, chấp nhận rủi ro, đổi mới, phong cách giải quyết vấn đề,tính chấp nhận sự mơ hồ và đề cao giá trị Vì vậy, họ nỗ lực xây dựng nên một danhmục các đặc điểm doanh nhân để dự báo hiện tượng khởi nghiệp Trường phái thứ

ba cho rằng quyết định khởi nghiệp xuất phát từ ý định của một cá nhân, do đó, phụthuộc vào thái độ của người đó về vấn đề khởi nghiệp Trường phái này tiếp cậntheo hướng tâm lý học nhằm dự báo hành vi khởi nghiệp (như Rosenberg vàHovland, 1960; Shaver, 1987; Ajzen, 1991; Shapero và Sokol, 1982; P Robinson,1991; Fayolle và DeGeorge 2006; Kolvereid 1996; Krueger và cộng sự, 2000) Cả

ba trường phái đều có nhiều đóng góp to lớn vào hệ thống khoa học về khởi nghiệp,tuy nhiên vẫn còn những tranh cãi kéo dài về việc dự báo khởi nghiệp Cho đến nay,

có rất nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình mô hình “Lý thuyết hành vi dự định” củaAjzen (1991), “ Mô hình sự kiện khởi nghiệp” của Shapero và Sokol (1982) để dựbáo ý định khởi nghiệp (và sau đó là hành vi khởi nghiệp) Cả hai mô hình này đều

có hai thế mạnh: một là, cả hai mô hình đã được kiểm chứng rất nhiều lần và kếtquả thống kê cũng hỗ trợ mạnh mẽ cho cả hai mô hình (Krueger Jr và cộng sự,2000) Hai là, cả hai có ưu điểm là các yếu tố ngoại sinh được kiểm soát trong cáckhái niệm thái độ, do đó không ảnh hưởng đến ý định (Souitaris và cộng sự, 2007;Tkachev và cộng sự, 1999)

Tuy nhiên, cả hai mô hình vẫn tồn tại một số bất cập: thứ nhất, trong mô hình

TPB, Ajzen vẫn giữ quan điểm thái độ là một cấu trúc đơn và được biểu hiện qua phảnứng tình cảm đơn lập (Fishbein và Ajzen, 1975) Theo nghĩa này, hành vi kinh doanh làmột chức năng của thái độ của một người đến giá trị, lợi ích của khởi nghiệp và chủyếu được đại diện bởi phản ứng tình cảm đơn lập (Robinson và cộng sự, 1991a;Dömötör và Hader, 2007) Ngoài ra, TPB là mô hình ban đầu được xây dựng để dự

Trang 16

đoán một hành vi nói chung trong tâm lý học và sau đó được áp dụng vào nghiên cứu

ý định khởi nghiệp, trong khi ý định khởi nghiệp là một lĩnh vực đặc thù, chỉ diễn ra

khi ý định đã được cân nhắc kỹ lưỡng, nghiêm túc Hơn nữa, trong mô hình TPB, giảđịnh rằng ba thành phần thái độ về hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soáthành vi cùng xác định ý định thực hiện một hành vi và rằng mỗi yếu tố quyết định nàycung cấp nền tảng động lực để hình thành một ý định Bagozzi (1992) lập luận rằngTPB không mô tả quá trình tạo ra động lực và cách mà các yếu tố dự báo này hoạt độngtrong sự hình thành ý định hành vi Do đó các thành phần trong mô hình TPB không

kết hợp một thành phần động lực rõ ràng Hai là, trong mô hình EEM, ban đầu Shapero

và Sokol đã không xem như một mô hình nghiên cứu ý định khi giới thiệu nó vào năm

1982, mặc dù sau đó nó đã được phát hiện và sử dụng trong nghiên cứu ý định khởinghiệp sau này (Kermit, 2008) Mục tiêu của mô hình là chỉ để cung cấp một lời giảithích cho tiến trình dẫn đến một sự kiện khởi nghiệp, đó là, thời điểm tạo ra một doanhnghiệp mới (Kollmann và Kuckertz, 2006) "Mô hình sự kiện khởi nghiệp chỉ tập trung

về vấn đề tạo ra doanh nghiệp mới và không phải về sự diễn tiến hướng tới việc thôngqua một hành vi khởi nghiệp nói chung" (Fayolle và cộng sự, 2006) Hơn nữa, mặc dùbiến "thiên hướng hành động" trong mô hình các sự kiện khởi nghiệp (EEM) được biếtđến như là biến giải thích tại sao một người có năng lực và hoài bão trở thành mộtngười khởi nghiệp, tuy nhiên, Shapero và Sokol đã không đề cập đến biến này mộtcách rõ ràng trong mô hình ban đầu của họ

Mô hình thái độ về khởi nghiệp “Entrepreneurial Attitude Orientation” (EAO) của

P Robinson và cộng sự (1991) bao gồm bốn thành phần chính gồm: nhu cầu thành tích(đề cập đến kết quả nhận thức và kết quả của tinh thần khởi nghiệp và thúc đẩy mộttrách nhiệm khởi động một doanh nghiệp mới); sáng tạo (suy nghĩ trong việc đưa ranhững ý tưởng sáng tạo mới, sản phẩm hoặc phương pháp); kiểm soát cá nhân đối vớihành vi (phản ánh nhận thức về kiểm soát và ảnh hưởng đến kết quả của các kết quả tạo

ra trong kinh doanh); và lòng tự trọng (đề cập đến khả năng tự tin và nhận thức về nănglực kinh doanh của cá nhân kết hợp với công việc kinh doanh của mình) Thế mạnh của

mô hình EAO là "có nhiều chiều hướng chi tiết hơn, làm tăng mối

Trang 17

tương quan với hành vi thực tế và giảm sự biến thiên không giải thích được" (Harris

và Gibson, 2008) Ý định hành vi khởi nghiệp là một chức năng của bốn thành phầncủa mô hình trong ba khía cạnh thái độ: cảm xúc, nhận thức và ý chí hành vi Sự kếthợp của ba chiều này thúc đẩy một người trở thành doanh nhân Mặt khác, theocách phản biện của Bagozzi (1992) “TPB không mô tả quá trình tạo ra động lực” thìnhu cầu thành tích của EAO có thể được xem là động lực để hình thành ý định hành

vi Ngoài ra, yếu tố sáng tạo trong mô hình EAO được cho là rất quan trọng và gắnliền với hành vi khởi nghiệp (Hmieleski và Corbett, 2006; Hamidi và cộng sự,2008; Bowen và cộng sự, 2010), tuy nhiên không hiện diện trong mô hình TPB vàEEM Vì thế, mô hình EAO được cho là “được thiết kế dành riêng và phù hợp hơncho nghiên cứu khởi nghiệp” (Huefner và cộng sự, 1996)

Mô hình EAO của Robinson đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu để

đo lường các quan điểm về tinh thần khởi nghiệp Robinson cho rằng “chủ đề này làmột lĩnh vực hứa hẹn tiềm năng cho các nhà nghiên cứu trong tương lai” (Robinson vàcộng sự, 1991) Trên thực tế, đã có những nghiên cứu kiểm định mô hình EAO củaRobinson trong thời gian qua: Hoa Kỳ (Gibson và cộng sự, 2008, 2011a, 2011b;Gibson và Gibson, 2010; Harris và Gibson, 2008a; Harris và cộng sự, 2011; Hatten vàRuhland, 1995; Harris và cộng sự, 2007); Hồng Kông (Koh, 1995); Malaysia (Shariff

và Saud, 2009; Ismail và cộng sự, 2013; Soomro và Shah, 2015); Singapore (Tan vàcộng sự, 1996); Uganda (Byabashaija và Katono, 2011); Carribean (Esnard-flavius,2010); Trinidad và Tobago (Esnard, 2012); và Nam Phi (Lope Pihie và Bagheri, 2010a,2010b, 2011a, 2011b) Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần được củng cố và làm rõ:một là, các nghiên cứu sử dụng mô hình EAO để dự báo ý định khởi nghiệp vẫn cònkhá hạn chế, nhất là tại những nền kinh tế mới nổi, có hệ sinh thái khởi nghiệp còn nontrẻ; hai là, đến nay chưa có bất kỳ nghiên cứu nào kiểm chứng mô hình EAO tại ViệtNam; ba là, kết quả của các nghiên cứu sử dụng mô hình EAO trước đây cũng đem lạinhững phát hiện thiếu nhất quán Chẳng hạn, Wyk và Boshoff (2004) nghiên cứu trênmột mẫu ở Nam Phi cho thấy EAO chỉ có ba thành phần thay vì bốn như mô hình gốc.Trong đó hai mục “nhận thức kiểm soát bản thân”

Trang 18

về kết quả khởi nghiệp và “nhận thức thành tích” trong khởi nghiệp được tải trêncùng các nhân tố Hơn nữa, 13 trong số 75 mục ban đầu đã được loại bỏ trongnghiên cứu của Wyk và Boshoff do không thỏa mãn, mặc dù họ đã không cung cấpchi tiết các mục này Norhazlin Ismail và cộng sự (2013) cũng đã tiến hành mộtnghiên cứu trên một mẫu gồm 2000 sinh viên sau đại học ở Malyasia cho kết quảchỉ có ba thành phần của EAO là kiểm soát bản thân, sự tự trọng và sáng tạo là cóảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mà không có sự góp mặt của nhu cầu thành tích.Trong khi đó, Wassim J Aloulou (2015) tìm thấy trong một nghiên cứu tại SaudiArabia rằng chỉ có nhu cầu thành tích và sáng tạo có mối quan hệ rõ nét đến ý địnhkhởi nghiệp Kết quả này cho thấy sự có sự thiếu nhất quán của thang đo EAO Do

đó, việc kiểm chứng lại mô hình EAO trong các bối cảnh xã hội và văn hóa khácnhau là rất cần thiết Cho đến nay, chưa có bất kỳ nghiên cứu thực nghiệm nào đượctiến hành ở Việt Nam, không chắc rằng liệu mô hình EAO có đạt độ tin cậy cầnthiết ở Việt Nam Do đó, khe hổng đầu tiên nghiên cứu này muốn làm rõ là thôngqua mô hình EAO, kiểm chứng tác động của thái độ về việc khởi nghiệp đến ý địnhkhởi nghiệp trong bối cảnh tại Việt Nam

Một luồng nghiên cứu khác tiếp cận theo hướng xem xét các yếu tố tác động đến

ý định khởi nghiệp Yếu tố môi trường kinh doanh như thuế, thất nghiệp, cạnh tranh,mức độ phát triển kinh tế (Leff, 1979) Nguồn vốn con người: kinh nghiệm (Cooper vàPark, 2008), kiến thức, kỹ năng (Kor và cộng sự, 2007), tầm nhìn, khả năng xữ lý côngviệc (Douglas và Shepherd, 2005), chấp nhận sự mơ hồ (Koh, 1996); chấp nhận rủi ro(Gurol và Atsan, 2006), gia đình (Matthews và Moser 1996), giáo dục (G Gorman, D.Hanton và W King, 1997; L Kolvereid và H Matlay, 2012; McMullan và Long,1987), nguồn vốn tài chính (Brezak Brkan, 2010; Kovačić, 2011; Maurya, 2012) TheoJack và Anderson (1998), giáo dục khởi nghiệp là cả một khoa học và một nghệ thuậtbởi lẽ khoa học liên quan đến các kiến thức cần thiết cho việc thành lập doanh nghiệpmới (khía cạnh có thể được dạy) và là nghệ thuật khi đề cập đến khía cạnh sáng tạo củacác doanh nhân (khía cạnh không thể dạy) Các nhà giáo dục khởi nghiệp nhất trí rằngcần phải có một sự thay đổi trọng tâm từ khía cạnh khoa

Trang 19

học sang giảng dạy nghệ thuật và sáng tạo của các doanh nhân (G Gorman, D.Hanton và W King, 1997; M Z Solisvick, P Westhead, L Kolvereid, và H.Matlay, 2012) Mặc dù trọng tâm của hầu hết các khóa học kinh doanh và đào tạonằm trong chiều hướng khoa học của các doanh nhân, người ta đã thừa nhận rằnggiáo dục kinh doanh sẽ giúp kích hoạt các khía cạnh nghệ thuật, sáng tạo và nhậnthức của các doanh nhân (Lee et al, 2007) Như vậy, việc xem xét tác động của yếu

tố giáo dục thông qua mô hình EAO, với sự hiện diện của thành phần sáng tạo, cóthể là phù hợp hơn Các nghiên cứu trước đây đã khai thác các khía cạnh của giáodục, có thể kể đến loại hình giáo dục (ví dụ Bridge, O'Neill và Cromie, 1998;Gorman, Hanlon và King, 1997; McMullan và Long, 1987), đến từng đối tượng cụthể (Jamieson, 1984; Linan, 2004) Tuy nhiên, đa số các nhà nghiên cứu chỉ dùng

mô hình TPB, rất ít nghiên cứu sử dụng mô hình EAO trong khi như đề cập củaRobinson: "Mô hình thái độ của khởi nghiệp, như đã được thực nghiệm và trình bàykhái niệm ở đây, có hướng đi cho các chương trình giáo dục khởi nghiệp"(Robinson, 1991) Qua tổng quan lý thuyết về giáo dục khởi nghiệp cho thấy haivấn đề: một là, các nghiên cứu thường chỉ xem xét sự khác nhau giữa những người

có tham gia và không tham gia trong chương trình đào tạo khởi nghiệp nói chung;hoặc tập trung vào xây dựng các chương trình trong những giai đoạn khác nhau màchưa quan tâm đến cấu trúc và đặc điểm của chương trình đào tạo như thời lượng vàphương pháp đào tạo và đặc điểm đối tượng tham gia Hai là, các nhà nghiên cứutrước đây vẫn chỉ sử dụng mô hình TPB và EEM để giải thích mà như lập luận ởtrên là thiếu thuyết phục Do đó, khe hổng thứ hai mà nghiên cứu này mong muốnlàm rõ là thông qua mô hình EAO, xem xét vai trò tác động của các thuộc tính củachương trình giáo dục khởi nghiệp vào thái độ về việc khởi nghiệp tại Việt Nam

Cuối cùng, một khi khởi nghiệp trở thành một hiện tượng được quan tâm ở cấpquốc gia trên toàn cầu, ngày càng có nhiều tổ chức khởi nghiệp cũng như các quỹ đầu

tư hình thành Sứ mệnh của những tổ chức này không chỉ là phát hiện, cấp vốn hay đầu

tư vào các dự án tiềm năng mà còn phải nuôi dưỡng và khuyến khích phong trào khởinghiệp Yếu tố nguồn vốn được cho là có tầm quan trọng đến việc vận hành ý

Trang 20

tưởng khởi nghiệp và phát triển của doanh nghiệp, vấn đề tài chính trong khởinghiệp vẫn chưa bao giờ bớt nóng trong các chương trình nghị sự về khuyến khíchkhởi nghiệp Các nghiên cứu trong lĩnh vực này đã nỗ lực đóng góp trong việc phânloại các nguồn vốn (Brezak Brkan, 2010, Kovačić, 2011), tìm hiểu các giai đoạnhình thành vốn tương ứng với các giai đoạn khởi nghiệp (Maurya, 2012; Marmer,Hermann và Berman, 2011) Tuy nhiên, trong hệ thống tài liệu, vẫn chưa làm rõ vaitrò tác động của từng loại hình nguồn vốn đến mối quan hệ giữa thái độ và ý định vềkhởi nghiệp Và nếu EAO được kiểm chứng là một mô hình phù hợp hơn để đánhgiá tác động của thái độ về khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp thì yếu tố nguồn vốn

có tác động đến mối quan hệ này hay không Đến nay, trong phạm vi hiểu biết củatác giả, vẫn chưa có nghiên cứu nào thông qua mô hình EAO xem xét mối quan hệnày Đây là một khe hổng thứ ba nhưng rất quan trọng và có ý nghĩa Nếu có tồn tạimối quan hệ này, kết quả nghiên cứu sẽ giúp củng cố hệ thống lý thuyết về vai tròcủa yếu tố nguồn vốn trong khởi nghiệp và là nguồn tham khảo có giá trị cho cácnhà hoạch định chính sách trong việc khuyến khích khởi nghiệp

Ở Việt Nam, hưởng ứng sự kêu gọi của Chính phủ về khuyến khích khởi nghiệp,các nghiên cứu trong lĩnh vực này cũng bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 2010.Nguyen & Phan (2014) đã áp dụng phương pháp tiếp cận về tính cách cá nhân để dựbáo ý định khởi nghiệp trên các nhóm khảo sát như doanh nhân, nhân viên và sinh

viên Nghiên cứu chỉ ra rằng các đặc điểm “nhiệt tình”, “tư duy cởi mở”, “trách

nhiệm”, “chân thành” có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nhân khởi nghiệp.

Đoàn Thị Thu Trang, Lê Hiếu Học (2018) đã sử dụng mô hình TPB của Azjen(1991) và tìm thấy kết quả là ý định khởi nghiệp chịu tác động trực tiếp của cảmnhận tính khả thi và thái độ với việc khởi nghiệp, chịu tác động gián tiếp bởi cảmnhận năng lực bản thân Hai nhân tố kỳ vọng bản thân và chuẩn mực niềm tin khôngtham gia vào việc hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên

Khi phân tích các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, Phan Anh

Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) đã sử dụng mô hình TPB (Ajzen, 1991) và đề xuất

Trang 21

thêm các nhân tố về giáo dục, nguồn vốn để xem xét ý định khởi sự doanh nghiệp củasinh viên tại Trường Đại học Cần Thơ Kết quả nghiên cứu xác định được thứ tự ảnhhưởng theo mức độ quan trọng giảm dần của các nhân tố đến ý định KNKD của sinhviên bao gồm: thái độ và tự hiệu quả, giáo dục và thời cơ khởi nghiệp, nguồn vốn,chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi Đỗ Thị Hoa Liên (2016) kết hợp môhình TPB (Ajzen, 1991) và EEM mở rộng (Shapero và Sokol, 1982) để phân tích cácnhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên và tìm thấy giáo dục, kinhnghiệm và trải nghiệm của bản thân, gia đình và bạn bè, tính cách cá nhân và nguồnvốn Tuy nhiên, những nghiên cứu này một là vẫn sử dụng mô hình TPB và EEM mànhư đã phân tích ở trên là chưa hoàn toàn phù hợp, hai là họ đã không xem xét chi tiếttác động các thuộc tính của giáo dục như: thời lượng, phương pháp, trình độ học viêncũng như các loại hình nguồn vốn khác nhau trong khởi nghiệp.

1.2.2 Tính cấp thiết của nghiên cứu

Tại Việt Nam, khởi nghiệp đang là chủ đề thu hút quan tâm rất nhiều từ cơquan chính phủ đến các quỹ đầu tư, các trường Đại học, và đặc biệt là tầng lớp thanhniên Theo báo cáo GEM 2017-2018 (Global Entreprenuership Monitor_Chỉ số khởinghiệp toàn cầu), nhận thức về cơ hội kinh doanh ở Việt Nam năm 2017 đã giảm so vớinăm 2015 nhưng vẫn cao hơn năm 2013-2014: có 46,4% người trưởng thành ở ViệtNam nhận thức có cơ hội để khởi sự kinh doanh trong năm 2017, xếp thứ 23/54 (năm

2015 là 56,8% xếp thứ 9/60) Tỷ lệ này trung bình ở các nước phát triển dựa trên nguồnlực là 41,5% Tỷ lệ người trưởng thành ở Việt Nam có ý định khởi sự kinh doanh trongvòng 3 năm tới vẫn tiếp tục tăng lên, từ mức 18,2% năm 2014, lên lên 22,3% năm 2015

và đạt 25% năm 2017, xếp thứ 19/54, tuy nhiên vẫn thấp hơn mức trung bình 30,3% ởcác nước phát triển dựa trên nguồn lực (GEM, 2017/2018)

Theo thống kê của tạp chí Echelon, Singapore – tạp chí online lớn nhất về khởinghiệp Đông Nam Á, Việt Nam hiện có khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp, tănggần gấp đôi so với số liệu cuối năm 2015 Tuy những doanh nghiệp này còn nhỏ về qui

mô vốn và nhân lực nhưng được kỳ vọng sẽ đóng góp đáng kể vai trò động lực

Trang 22

của nền kinh tế trong tương lai gần Vì vậy, các nhà khoa học và các nhà làm chínhsách rất quan tâm đến việc dự báo cũng như những yếu tố tác động đến việc hìnhthành ý định khởi nghiệp để có thể khuyến khích khởi nghiệp.

Trong khoa học, như đã trình bày ở mục 1.2.1, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng

để xác định nguyên nhân của ý định kinh doanh với hàng ngàn nghiên cứu của nhiềutrường phái được tiến hành trong những thập kỷ qua Mặc dù có những đóng góp đángghi nhận, hệ thống lý thuyết vẫn tồn tại nhiều tranh cãi không ngừng về một phươngpháp dự báo ý định khởi nghiệp phù hợp và tối ưu Trong khi hai mô hình TPB vàEEM đã được kiểm chứng ở nhiều bối cảnh khác nhau, mô hình EAO được thiết kếdành riêng cho nghiên cứu về khởi nghiệp như đã trình bày ở trên lại chưa được củng

cố mạnh mẽ Chưa có bất kỳ nghiên cứu thực nghiệm nào được tiến hành

ở Việt Nam Không chắc rằng liệu mô hình EAO có thể dùng để dự báo ý định khởinghiệp và đạt giá trị tin cậy tại Việt Nam hay không Do đó, việc kiểm chứng giá trị

mô hình thái độ về việc khởi nghiệp trong bối cảnh tại Việt Nam và xác định mốiquan hệ giữa EAO và EI là cần thiết

Ngoài ra, những nhà làm chính sách cũng đang nổ lực tìm cách khuyến khíchtinh thần khởi nghiệp Về vấn đề này, nhiệm vụ của họ không chỉ dừng lại ở côngtác dự báo mà còn phải tìm ra các yếu tố nào tác động đến thái độ của một cá nhânđến việc khởi nghiệp Trong số đó, yếu tố về giáo dục và nguồn vốn đang được xem

là những yếu tố thu hút sự quan tâm rất lớn

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia và nhà nghiên cứu, yếu tố nguồn vốn đượccho là có tầm quan trọng đến việc vận hành ý tưởng khởi nghiệp và phát triển củadoanh nghiệp Theo Vasilescu (2009), những người khởi nghiệp thường đánh mất cơhội huy động nguồn vốn tài chính khởi nghiệp là do ba nguyên nhân cơ bản: “thiếu kiếnthức về tài chính, sợ mất quyền kiểm soát và thiếu năng lực thuyết phục nhà đầu tư”.Thống kê của Marmer, M Hermann B.L và Berman R (2011) cho thấy hơn 90% cáccông ty trẻ (khởi nghiệp) thất bại phần lớn là do thiếu vốn và không biết cách triển khai

ý tưởng Con số thống kê đáng chú ý này làm tăng mối quan ngại về

Trang 23

sự quyết tâm khởi nghiệp của giới trẻ Trong hệ thống tài liệu, người viết tìm thấy hailuồng lý thuyết cơ bản về yếu tố nguồn vốn tài chính trong khởi nghiệp: một là các nhàkhoa học tập trung vào hướng phân loại các loại hình nguồn vốn trong khởi nghiệp(Brezak Brkan, 2010; Kovačić, 2011; Brown, Degryse, Hoewer, Penas, 2012); hai làhướng nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các giai đoạn hình thành nguồn vốntrong quá trình khởi nghiệp (M Klačmer Čalopa và cộng sự, 2014; Maurya, 2012;Marmer, Hermann và Berman, 2011) Theo đó, tương ứng với từng giai đoạn, doanhnghiệp sẽ có thể huy động một loại hình nguồn vốn khác nhau Vấn đề đặt ra rằng liệumột nguồn vốn tài chính dồi dào và dễ tiếp cận có làm tăng quyết tâm khởi của các cánhân hay không? Tại các quốc gia khởi nghiệp, các nhà đầu tư, tài trợ sẽ hỗ trợ doanhnghiệp khởi nghiệp (DNKN) bằng rất nhiều hình thức như cho vay, đặt hàng, mua hoặctài trợ ý tưởng, giám sát và hỗ trợ các dự án khởi nghiệp trong khi hiện nay ở nước ta

đã xuất hiện hoạt động này tuy chưa nhiều Lý do là vì một phần do sản phẩm ý tưởngcủa ta chưa đạt tầm vóc sáng tạo, mặt khác có quá ít quỹ đầu tư mạo hiểm lớn như IDGVentures VietNam, CyberAgent Ventures, DFJ Vinacapital, Sumitomo mặc dù họ đãgóp phần tạo nên tên tuổi một số doanh nghiệp trong lĩnh vực game, internet và e-commerce Thực tế để có thể thuyết phục các Quỹ này đầu tư là không dễ dàng do quytrình chọn lựa dự án của họ rất khắt khe, tuy nhiên cũng đã từng có những dự án đượctài trợ (vexere.com, vatgia, foody.vn….) Các bạn trẻ

khởi nghiệp không nên chỉ biết dựa vào nguồn vốn từ gia đình, bạn bè, người thân vìqui mô không đáng kể và sẽ thiếu tính dài hạn Điểm quan trọng khi được tài trợ bởicác Quỹ là ngoài vốn họ còn giúp DNKN định hướng sản phẩm, phát triển kế hoạchkinh doanh về lâu dài Thiếu và yếu về kế hoạch tài chính, hạn chế về nguồn vốn làmột trong những nguyên nhân thất bại chính của DNKN Việt Nam trong thời gianqua…Theo đánh giá chung của IDG Ventures VietNam cho thấy, tỷ lệ thất bại củaDNKN ở Việt Nam lên đến gần 80% trong ba năm đầu tiên tác động rất lớn đến thái độcủa người khởi nghiệp Vì thế, yếu tố nguồn vốn có tác động đến thái độ và hình thành

ý định khởi nghiệp hay không là một vấn đề cần thiết phải được kiểm chứng

Trang 24

Đến nay, vẫn chưa tìm thấy nghiên cứu nào thông qua mô hình EAO xem xét tácđộng của nguồn vốn đến mối quan hệ giữa thái độ và ý định về khởi nghiệp.

Cuối cùng, như đề cập của Robinson: "Mô hình thái độ của khởi nghiệp,như đã được thực nghiệm và trình bày khái niệm ở đây, có hướng đi cho các chươngtrình giáo dục khởi nghiệp" (Robinson, 1991) Qua tổng quan lý thuyết về giáo dụckhởi nghiệp cho thấy hai vấn đề: một là, các nghiên cứu thường chỉ xem xét sự khácnhau giữa những người có tham gia và không tham gia trong chương trình đào tạokhởi nghiệp nói chung; hoặc tập trung vào xây dựng các chương trình trong nhữnggiai đoạn khác nhau mà chưa quan tâm đến cấu trúc và đặc điểm của chương trìnhđào tạo như thời lượng và phương pháp đào tạo và đặc điểm đối tượng tham gia.Hai là, các nhà nghiên cứu trước đây vẫn chỉ sử dụng mô hình TPB và EEM để giảithích mà như lập luận ở trên là thiếu thuyết phục Hầu như có rất ít các nghiên cứu

sử dụng mô hình EAO của Robinson để xem xét liệu các thuộc tính của giáo dụckhởi nghiệp có tác động đến thái độ hay không Do đó, cần phải làm rõ vai trò tácđộng của các thuộc tính của chương trình giáo dục khởi nghiệp vào thái độ về việckhởi nghiệp tại Việt Nam

Trong một khảo sát về độ tuổi khởi nghiệp tại Việt Nam, thống kê cho thấymặc dù thanh niên vẫn tự đánh giá năng lực và kiến thức kinh doanh thấp hơn vànỗi sợ thất bại cao hơn so với tuổi trung niên, lại có xu hướng khởi nghiệp cao hơn(2,8% so với 1,2%) (Theo báo Đầu tư chứng khoán, tháng 6/2015) Điều này chothấy sự cần thiết phải hỗ trợ thêm kinh nghiệm và kỹ năng kinh doanh cho lớp trẻ,giúp họ có sự tự tin hơn và tỷ lệ khởi sự kinh doanh nhờ vậy sẽ cao hơn Theo đánhgiá của các nhà đầu tư, chất lượng chiều sâu của các dự án khởi nghiệp của các bạntrẻ ở Việt Nam chưa cao Nguyên nhân của vấn đề này một là, do họ chưa đượctrang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng về khởi nghiệp, hai là những thách thức gặpphải trong quá trình triển khai ý tưởng như: kinh phí, không có người cố vấn, chưa

có sự giao lưu giữa các khối, ngành… Do vậy, việc thiết kế và tổ chức triển khai cácchương trình giáo dục khởi nghiệp phù hợp là rất cần thiết

Trang 25

Xuất phát từ những lý do trên, người viết quyết định thực hiện nghiên cứuvới đề tài: “Tiếp cận ý định khởi nghiệp bằng mô hình thái độ về khởi nghiệp vàxem xét vai trò điều tiết của nguồn vốn: nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam”.1.3 Mục tiêu của nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này gồm bốn mục tiêu cụ thể sau:

- Thứ nhất, điều chỉnh và đánh giá thang đo các khái niệm nghiên cứu trong

mô hình EAO và ý định khởi nghiệp EI

- Thứ hai, khám phá và đo lường mối quan hệ giữa các thành phần EAO và EI trong bối cảnh tại Việt Nam

- Thứ ba, khám phá vai trò tác động của các thành phần giáo dục khởi nghiệpđến thái độ về khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp

- Thứ tư, khám phá vai trò điều tiết của nguồn vốn đến mối quan hệ giữa thái

độ về khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng khảo sát của nghiên cứu này gồm sinh viên, học viên cao học ở các

trường Đại học và học viên các chương trình đào tạo khởi nghiệp

- Phạm vi nghiên cứu về địa lý được tiến hành ở ba địa phương là TP Hà Nội,

TP Đà Nẳng và TP Hồ Chí Minh Theo số liệu thống kê về tình hình khởi nghiệp củacác địa phương từ 2007 đến 2015 cho thấy TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội và TP ĐàNẳng là ba địa phương có làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ nhất, cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Tình hình khởi nghiệp tại Việt Nam giai đoạn từ 2007-2015:

Nguồn: Dữ liệu Startup Ecosystem VietNam, IPP và Startup Commons.

Startup Funding 2015 report, Topica Founder Institute Vietnam.

Trang 26

- Thời gian tiến hành khảo sát là từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014.

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo hai bước: bước một là nghiên cứu sơ bộ vàbước hai là nghiên cứu chính thức Trong phần nghiên cứu sơ bộ, người viết ápdụng phương pháp định tính (thảo luận nhóm) nhằm điều chỉnh, bổ sung thang đo

và phương pháp định lượng để đánh giá độ tin cậy thang đo Nghiên cứu định lượng

sơ bộ được thực hiện thông qua cuộc khảo sát và thu thập ý kiến với số mẫu là 44.Kết quả thu được sẽ tiến hành xữ lý bằng phần mềm SPSS Hệ số Cronbach alphađược sử dụng để kiểm tra độ tin cậy thang đo Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ đượcthực hiện tại TP Hồ Chí Minh

Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng, thông qua cuộc khảosát phỏng vấn trực tiếp và Google docs, tại ba thành phố Hà Nội, Đà Nẳng và Hồ ChíMinh Dữ liệu thu được sẽ được phân tích bằng SPSS, thực hiện kiểm định lại thang đobằng phương pháp hệ số Cronbach alpha, kiểm định tính hội tụ và phân biệt bằng EFA

Để kiểm định mối quan hệ giữa các thành phần của thái độ về khởi nghiệp và

ý định khởi nghiệp, người viết sử dụng mô hình hồi qui Để kiểm định vai trò điềutiết của nguồn vốn đến mối quan hệ giữa thái độ và ý định về khởi nghiệp, ngườiviết sử dụng phương pháp hồi qui với biến dummy và cuối cùng dùng phương pháp

so sánh ANOVA và kiểm định hậu ANOVA để kiểm tra vai trò kiểm soát của cácyếu tố giáo dục

1.6 Đóng góp của luận án

Đóng góp của luận án được thể hiện trên hai phương diện: lý thuyết và hàm ý thực tiển:

- Về mặt lý thuyết: Một là, thang đo EAO của Robinson và cộng sự (1991), mặc

dù được thiết kế dành riêng cho nghiên cứu về thái độ khởi nghiệp, song vẫn cần đượckiểm định và phát triển ở các bối cảnh văn hóa khác nhau Nghiên cứu này sẽ đóng gópthang đo EAO đặc thù tại Việt Nam Hai là, góp phần củng cố lý thuyết về giáo dụckhởi nghiệp khi xem xét mối vai trò tác động đến thái độ và ý định khởi

Trang 27

nghiệp thông qua mô hình EAO Cuối cùng, kết quả nghiên cứu này phát hiện vai trỏ điều tiết của nguồn vốn đến mối quan hệ giữa thái độ và ý định khởi nghiệp.

- Về mặt thực tiển: Kết quả nghiên cứu đóng góp những hàm ý cụ thể cho cácnhà làm chính sách, các đơn vị đào tạo trong việc thiết kế chương trình giáo dụckhởi nghiệp, xây dựng chính sách về nguồn vốn nhằm khuyến khích làn sóng khởinghiệp tại Việt Nam

1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện sẽ góp phần vào việc bổ sung hệ thống lý thuyết

về ý định khởi nghiệp bằng cách tiếp cận thái độ về khởi nghiệp, cũng như xem xétmột số yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp trong bối cảnh của một nền kinh tếchuyển đổi – Việt Nam

Ý nghĩa thiết thực của nghiên cứu còn thể hiện ở chỗ nó sẽ giúp các nhà làmchính sách và điều hành nhận biết được động cơ khởi nghiệp, vai trò của chương trình

giáo dục và nguồn vốn khởi nghiệp, qua đó tổ chức vận hành chương trình một cáchhiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy ý định khởi nghiệp trong tầng lớp thanhniên Việt Nam

1.8 Cấu trúc luận án

Cấu trúc của luận án được chia làm 5 Chương, gồm có:

- Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

- Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

- Chương 4: Kết quả và thảo luận

- Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị

Trang 28

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Xuất phát từ định hướng nghiên cứu của đề tài, người viết tập trung tìm kiếm

và tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu về ý định khởi nghiệp cũng như những tácđộng của giáo dục và nguồn vốn Trong chương này sẽ mô tả tổng quan cơ sở lýthuyết làm nền tảng để thực hiện đề án nghiên cứu Thông qua việc hệ thống hoá cơ

sở lý thuyết về các khái niệm nghiên cứu, người viết sẽ phác thảo mô hình nghiêncứu ý định khởi nghiệp từ phương pháp tiếp cận thái độ tại Việt Nam cũng nhưđánh giá vai trò tác động của yếu tố giáo dục và nguồn vốn

2.2 Lý thuyết về khởi nghiệp

2.2.1 Các quan điểm về khởi nghiệp

Vào khoảng đầu thế kỷ 19, Richard Cantillon cho rằng một người khởinghiệp là một người "sẵn sàng mua ở một mức giá nhất định và bán lại tại một mứcgiá nào đó" (Cantillon, 1931) Trong khi Jean Baptiste Say, cho rằng người khởinghiệp là một người chuyển những nguồn lực kinh tế từ một lĩnh vực có năng suấtthấp hơn vào một lĩnh vực khác có năng suất cao hơn để đạt kết quả tốt hơn (Dees

và cộng sự trích dẫn, 1998) Schumpeter (1934), một nhà nghiên cứu kinh tế học đãchứng minh trong các nghiên cứu của mình rằng "người khởi nghiệp chính là tácnhân của sự thay đổi bên trong một nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế có thể đạtđược là nhờ những hoạt động của họ" (Swedberg, 2002) Bằng cách phân biệt sựkhác nhau giữa đổi mới và sáng chế, Schumpeter cho rằng khởi nghiệp phải baogồm việc tạo ra sự đổi mới và chỉ bằng cách đó, vai trò của người khởi nghiệp mới

có thể được thể hiện trong quá trình đổi mới Cuối cùng ông kết luận rằng lý thuyết

về tinh thần khởi nghiệp cần phải được xây dựng dựa trên "các hoạt động thực tếcủa các người khởi nghiệp" (Schumpeter, 1934) Ngoài ra, Schumpeter cũng đề xuấthai học thuyết, liên quan đến các hành vi khởi nghiệp và các động cơ của khởinghiệp tương ứng với các nghiên cứu về thực hành khởi nghiệp như sau:

Trang 29

Năm loại hành vi khởi nghiệp khởi nghiệp của Schumpeter:

• Sự ra đời của một hàng hóa mới

• Sự ra đời của một phương pháp sản xuất mới

• Phát triển một thị trường mới

• Nghiên cứu ra một nguồn cung cấp nguyên liệu mới

• Tạo ra một tổ chức mới của một ngành công nghiệp (Scherer, 1999)

• Mong muốn quyền lực và sự tự chủ

• Nhu cầu về sự thành tích

• Niềm hạnh phúc của việc sáng tạo (Swedberg, 2002)

Sau này, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khởi nghiệp đã thay đổi quanđiểm của họ vào một khía cạnh thực tế hơn Trong một nghiên cứu gần đây về khởinghiệp, Peter Drucker thêm các ý tưởng về cơ hội để định nghĩa khái niệm này.Theo Drucker, sự khác biệt giữa một người khởi nghiệp với người khác là bất cứ khinào có sự thay đổi từ thị trường, người khởi nghiệp sẽ là người có thể khai thác các

cơ hội: "người khởi nghiệp luôn tìm kiếm các thay đổi, đáp ứng với nó, và khai thác

nó như một cơ hội" (Dees và cộng sự, 1998) Như vậy, niềm tin kiểm soát của bảnthân vào việc khởi nghiệp đã được chấp nhận trong nghiên cứu, nhờ đó các nhànghiên cứu có thể hiểu rõ hơn về quá trình khởi nghiệp

Khởi nghiệp đã được Low và MacMillan (1988) định nghĩa là “việc tạo ra mộtdoanh nghiệp mới”, Bygrave (1989) tranh luận rằng “khởi nghiệp là một quá trình trởthành (doanh nghiệp/người khởi nghiệp) chứ không phải hiện trạng thực tế (kết quả)của người khởi nghiệp” Kruger và cộng sự (2000) cho rằng “các cá nhân làm kinhdoanh là có ý định và mục đích rõ ràng và việc trở thành doanh nhân là kết quả của quátrình ra quyết định” Về sau, Bruyat và Julien (2001) cho rằng khởi nghiệp là một kháiniệm có thể được định nghĩa bằng rất nhiều cách khác nhau, từ nghĩa hẹp là “bắt đầumột công việc khởi nghiệp riêng” cho đến nghĩa rộng hơn như là thái độ làm việc xemtrọng tính tự lực, tiên phong, sáng tạo và dám đương đầu rủi ro Đây có

Trang 30

thể được xem là một khái niệm đầy đủ ý nghĩa của khởi nghiệp, đặc biệt, tác giả đãđưa vào khái niệm “sáng tạo”, một đặc điểm quan trọng trong các nghiên cứu vềkhởi nghiệp đổi mới sáng tạo về sau.

2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu về khởi nghiệp

Tổng quan lý thuyết, người viết thấy có rất nhiều nhà nghiên cứu dự đoán khảnăng khởi nghiệp bằng cách sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Song nhìn chung

họ tập trung ở ba phương pháp phổ biến nhất: một là căn cứ vào thông tin nhân khẩuhọc, hai là đặc điểm tính cách cá nhân, ba là thái độ của cá nhân về khởi nghiệp

Theo Donatus A Okhomina (2010), các tác giả theo trường phái tâm lý họccho rằng tính cách cá nhân là yếu tố quan trọng để xác nhận một người sẽ trở thànhmột người khởi nghiệp hay không (ví dụ Beugelsdijk, 2007; Gartner, 2001; Lyon,Lumpkin và Dess, 2000; Shane và Venkataraman, 2000; Aldrich và Kenworthy,1999; Lumpkin và Dess, 1996; Gartner, 1988, Carland và cộng sự, 1984;McClelland, 1961; McClelland và cộng sự, 1953) Các nhà nghiên cứu đã cố gắng

để giải thích các xu hướng khởi nghiệp bằng cách đo đặc điểm tính cách haykhuynh hướng động lực của người khởi nghiệp David C McClelland, DavidAtkinson là những người tiên phong trong năm 1950 và đã có những đóng góp nhấtđịnh trong việc xây dựng một nền tảng để có thể tiếp cận gần hơn về các đặc điểmtâm lý của người khởi nghiệp Peter B Robinson và cộng sự (1991) cho rằng trongmột thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng để xác định đặc điểm có thểgiúp phân biệt các người khởi nghiệp từ những người khác (như Brockhaus, 1975;Brockhaus và Horwitz, 1986; Collins và Moore, 1970; Horaday và Aboud, 1971;Shapero, 1975) Nhiều đặc điểm đã được tìm thấy: sự tử tế, nhu cầu thành tích, nhậnthức năng lực, chấp nhận rủi ro, đổi mới, phong cách giải quyết vấn đề, tính chấpnhận sự mơ hồ và đề cao giá trị Mặc dù cách tiếp cận này đóng góp rất nhiều vàonghiên cứu, nó cũng bộ lộ một số vấn đề bất hợp lý về mặt phương pháp luận vàkhái niệm (Kilby, 1971; Klinger, 1966):

Trang 31

Thứ nhất, các phương pháp được sử dụng trong những nghiên cứu đó dựa trên

các đặc điểm tính cách không được xây dựng chuyên biệt để đo lường tinh thần khởinghiệp Thực tế, những đặc điểm này được tìm thấy trong lý thuyết tâm lý học và được

áp dụng vào việc nghiên cứu tinh thần khởi nghiệp Vì vậy, “nó dẫn đến hiện tượng làđôi khi sẽ không tương thích và thường thiếu hiệu quả” (Hornaday, 1987; Hornaday vàNunnally, 1987) Do đó, giá trị ứng dụng của nó sẽ không cao và sự tiềm năng pháttriển trong lĩnh vực này là rất thấp Gartner nói rằng "việc nghiên cứu dựa trên đặcđiểm cá nhân của người khởi nghiệp là một ngõ cụt không thể cung cấp hy vọng thúc

đẩy thêm sự hiểu biết của chúng ta" (Gartner, 1988) Thứ hai, việc xác định các khái

niệm trong cách tiếp cận này không có sự nhất quán Có rất nhiều thang đo khác nhauđược phát triển để đo lường cùng một khái niệm nào đó Hơn nữa, mối tương quan giữachúng là không cao Ví dụ, Yamauchi và Doi (1977) tìm ra 11 cấp độ khác nhau được

sử dụng để đo lường khái niệm "Nhu cầu thành tích" tải trên bốn yếu tố khác nhau Lý

do của hiện tượng này một là do các tác giả sử dụng tên thang đo giống nhau nhưngkhông liên quan rõ ràng đến các khái niệm, hai là bởi vì thực tế có một số công cụ đượcdùng đo lường nhiều khía cạnh khác nhau của một khái niệm cụ thể (ví dụ tâm điểm

kiểm soát-Locus of control của Rotter, Paulhus, 1983) Thứ ba, khởi nghiệp là một lĩnh vực năng động đòi hỏi những đặc tính cá nhân khác biệt Việc áp dụng “lý thuyết nhân

cách dùng trong việc đo lường xu hướng tâm lý chung” (Abelson, 1982; Epstein, 1984)vào một lĩnh vực cụ thể như khởi nghiệp thường làm giảm giá trị của nghiên cứu Lý do

là sử dụng công cụ để đo lường không chính xác hoặc liên quan với một khái niệm nàođó

Nói chung, phương pháp tiếp cận dựa trên đặc điểm tính cách cá nhân đểnghiên cứu khởi nghiệp đã bị một số nhà nghiên cứu cho là “không thỏa mãn và gâyhoài nghi trong việc giải thích hành vi khởi nghiệp” (Gartner, 1988; Aldrich vàZimmer, 1986, Low và Macmillan, 1988) Họ kết luận rằng “không có đặc điểmtính cách nào có thể được sử dụng để dự đoán một người sẽ trở thành một ngườikhởi nghiệp hay không”

Trang 32

2.2.2.2 Phương pháp tiếp cận dựa trên đặc điểm nhân khẩu học

Đây là một phương pháp tiếp cận khác để nghiên cứu tinh thần khởi nghiệp

Xu hướng sử dụng các biến nhân khẩu học để nghiên cứu những ý định khởi nghiệp

là rất phổ biến trong nhiều thập kỷ Các nhà nghiên cứu ủng hộ phương pháp này đã

cố gắng xây dựng và phát triển một danh mục đặc điểm người khởi nghiệp như nămsinh, giới tính, các “hình mẫu”, tuổi tác, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình và thóiquen làm việc (Gaddam, 2008) Theo Ramana, Raman và Aryasri (2009), sự khácbiệt trong điều tra biến nhân khẩu học liên quan đến người khởi nghiệp và nhữngngười không khởi nghiệp là một lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm trong nghiêncứu tinh thần khởi nghiệp Ngoài ra, Ramana và cộng sự (2009) cho rằng có quá ítnghiên cứu tập trung vào sự tồn tại ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học vào sựthành công trong khởi nghiệp Kristiansen và Indarti (2004) cũng tìm ra một sốnghiên cứu hỗ trợ cho lập luận rằng các biến nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính

và nền tảng cá nhân (giáo dục và kinh nghiệm làm việc) ảnh hưởng đến ý định khởinghiệp Tuy nhiên, phương pháp này cũng bộc lộ một số vấn đề đáng tranh cãi:

Thứ nhất, theo S.M Farrington (2012), sự khác biệt giới tính trong hoạt động

khởi nghiệp cũng được ghi nhận rất nhiều trong khoa học (như Reynolds, Bygrave vàAutio, 2004), và rằng nhiều nghiên cứu đã báo cáo rằng nam giới có sở thích khởinghiệp cao hơn nữ giới (ví dụ: Veciana, Aponte và Urbano, 2005; Zhao, Seibert vàHills, 2005; Matthews và Moser, 1995) Tuy nhiên, ông cũng phát hiện trong một sốnghiên cứu (như Ahmed, Nawaz, Ahmad, Sajukat, Usman, Rehman, và Ahmed, 2010;Drost, 2010; Kakkonen, 2010) đã báo cáo rằng giới tính không có ảnh hưởng đáng kể

về ý định để bắt đầu một doanh nghiệp riêng Ahmed và cộng sự (2010) cho rằng giớitính không dự đoán ý định khởi nghiệp Soetanto, Pribadiand Widyadana (2010) khôngtìm thấy bằng chứng rằng giới tính có ảnh hưởng đến quyết định của sinh viên khi khởinghiệp Ngoài ra, hầu hết các nghiên cứu về người khởi nghiệp dường như cho thấyrằng có rất ít khác biệt tồn tại giữa nam và nữ (Mueller, 2004)

Trang 33

Thứ hai, khi xem xét những ảnh hưởng của trình độ học vấn đến ý định khởi

nghiệp, Ahmed và cộng sự (2010) thấy rằng giai đoạn năm học của sinh viên là mộtyếu tố dự báo quan trọng về ý định khởi nghiệp giữa các sinh viên Sinh viên trongnhững năm cuối có thiên hướng khởi nghiệp cao hơn Ông cho rằng lý do là vì sinhviên ngày càng có kiến thức cao hơn và họ có nhiều tiếp xúc thực tế hơn với các lĩnhvực khởi nghiệp (Ahmed và cộng sự, 2010) Tuy nhiên, Degeorge và Fayolle (2008)báo cáo rằng, ý định khởi nghiệp của sinh viên không thay đổi theo năm Đồng nghĩavới việc năm học của nghiên cứu không ảnh hưởng đến ý định (Degeorge và Fayolle,2008) Ví dụ, Kakkonen (2010) báo cáo rằng sự phát triển của thái độ khởi nghiệpkhông có sự khác biệt giữa các nhóm nghiên cứu học thuật khác nhau cũng như giữanhững năm học khác nhau, mà là gần như giống nhau Mặc dù giáo dục đại học giúpnâng cao nhận thức và kiến thức về khởi nghiệp của sinh viên nói chung, nó không hỗtrợ và tăng cường ý định khởi nghiệp (Kakkonen, 2010) Theo Kakkonen (2010), cóbằng chứng rằng nhận thức khởi nghiệp thậm chí có thể trở nên tiêu cực hơn cùng vớiquá trình học tập của sinh viên (S.M Farrington, 2012)

Thứ ba, theo Farrington (2012) một số tác giả cho rằng yếu tố vùng miền đóng

một vai trò quan trọng trong ý định khởi nghiệp (như Stam, 2007; Rocha và Sternberg,2005; Shane, 2003) Ví dụ, Shane (2003) và Stam (2007), cũng như Rocha vàSternberg (2005) tìm thấy rằng những sinh viên học tại các khu vực đô thị có ý địnhkhởi nghiệp lớn hơn so với những người học ở các khu vực nông thôn Tương tự nhưvậy, Fuller-Love, Midmore, Thomas và Henley (2006) khẳng định rằng những sinhviên theo học tại các thành phố lớn có ý định khởi nghiệp nhiều hơn so với nhữngngười học ở các thành phố nhỏ hơn, vì họ có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với cácngười khởi nghiệp thành đạt hơn so với thành phố nhỏ Shane (2003) báo cáo rằngngười khởi nghiệp tiềm năng không đưa ra quyết định để khai thác cơ hội khởi nghiệptrong chân không, mà là bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh

Thứ tư, tồn tại bằng chứng hỗ trợ cho một mối quan hệ tích cực giữa sự hiện

diện của các “hình mẫu” (role model) trong gia đình và sự xuất hiện của người khởinghiệp (Veciana và cộng sự, 2005) Ariff và cộng sự (2010) báo cáo rằng hầu hết các

Trang 34

sinh viên trong mẫu của họ tin rằng các thành viên trong gia đình đóng một vai trò quantrọng trong việc khuyến khích họ tham gia vào các nỗ lực khởi nghiệp Soetanto vàcộng sự (2010) tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ rằng cha mẹ trở thành “hình mẫu” chocon cái của họ, rằng cha mẹ khởi nghiệp cung cấp cho con cái của họ một cơ hội đểtham gia vào khởi nghiệp Theo Shane (2003), khi cha mẹ là người khởi nghiệp, concái của họ cũng có nhiều khả năng là người khởi nghiệp Wang và Wong (2004) báocáo một mối quan hệ mật thiết giữa các gia đình có kinh nghiệm khởi nghiệp và sởthích khởi nghiệp của sinh viên Tương tự như vậy, Ahmed và cộng sự (2010) tìm thấymột mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh nghiệm khởi nghiệp của gia đình và ý định khởinghiệp, và kết luận rằng, gia đình càng có nhiều kinh nghiệm khởi nghiệp thì sinh viên

đó càng có thiên hướng về hoạt động khởi nghiệp Tuy nhiên, những phát hiện củaKakkonen (2010) cho thấy sự tồn tại của một người khởi nghiệp trong gia đình cótruyền thống hoặc thậm chí trong số những người quen biết, không có ảnh hưởng đáng

kể về ý định khởi nghiệp nhận thức của sinh viên

Do đó, mặc dù phương pháp này thừa nhận việc sử dụng các thông tin cánhân để xây dựng hồ sơ cá nhân của một người khởi nghiệp điển hình, vậy thì mộtgiả thuyết được đưa ra là liệu những người khởi nghiệp có nguồn gốc tương tự cócùng những đặc tính ổn định này hay không? "Điều này không giúp dự đoán ai sẽ làmột người khởi nghiệp hay không" (Robinson và Stimpson, 1991)

Có rất nhiều vấn đề trong cả hai phương pháp tiếp cận trên cần phải đượcgiải quyết Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ trích những phương pháp tiếp cận này có sựhạn chế về phương pháp và khái niệm và do vậy khả năng giải thích của chúng thấp(Ajzen 1991; Gartner 1989; Low và MacMillan, 1988; Santos và Linan 2007;Shapero và Sokol, 1982) Do đó, họ kêu gọi thêm nhiều nghiên cứu khác để tìm ramột phương pháp tiếp cận tốt hơn để dự đoán tinh thần khởi nghiệp

Krueger lập luận rằng “quyết định để trở thành một người khởi nghiệp có thểđược coi là tự nguyện và có ý thức” (Krueger và cộng sự, 2000) Như vậy, để hiểu

Trang 35

làm thế nào quyết định này diễn ra và những yếu tố nào tác động đến quá trình này

là cần thiết Về mặt này, ý định khởi nghiệp (entrepreneurial intention – sau nàyđược viết tắt là EI) sẽ là một yếu tố tiền đề và quyết định đối với hành vi thực hiệnkhởi nghiệp (entrepreneurial behaviour – sau này được viết tắt là EB) (Fayolle vàDeGeorge, 2006; Kolvereid, 1996) Ajzen nói rằng "ý định thực hiện một hành vinhất định sẽ phụ thuộc vào thái độ của con người đến hành vi đó" (Ajzen, 1991).Thái độ đến hành vi càng tích cực, khả năng thực hiện ý định càng cao Do đó, một

"cách tiếp cận thái độ có vẻ là thích hợp hơn so với những phương pháp tiếp cậntruyền thống khi nghiên cứu tinh thần khởi nghiệp” (Krueger và cộng sự, 2000;Robinson và cộng sự, 1991) Những nhà tiên phong trong phương pháp nghiên cứunày có thể kể đến Ajzen (1991) với mô hình TPB (Theory of Planned Behaviour),Shapero và Sokol (1982) với mô hình EEM (Entreprenuerial Event Model) và PeterRobinson và cộng sự (1991) với mô hình EAO (Entreprenuerial AttitudeOrientation) Trong một thời gian dài, rất nhiều nghiên cứu đã sử dụng mô hìnhTPB và EEM hoặc tích hợp cả hai mô hình này (Xem phụ lục 1) Dù vậy, nhiều nhàkhoa học đã chỉ ra những bất cập và khiếm khuyết của hai mô hình này và họ kêugọi những nghiên cứu mới hơn (Harris và cộng sự, 2011; Byabashaija và Katono,2011; Esnard, 2012; Ismail và cộng sự, 2013; Christopher Schlaegel và MichaelKoenig, 2013; Soomro và Shah, 2015; Wassim J Aloulou, 2015)

Mô hình EAO được xây dựng dành riêng cho nghiên cứu về khởi nghiệp,tuy nghiên vẫn chưa được kiểm chứng giá trị mô hình tại nhiều bối cảnh nghiên cứukhác nhau Vì vậy, việc kiểm định giá trị của mô hình này là rất cần thiết, đặc biệttrong bối cảnh mội nền kinh tế mới nổi như Việt Nam

2.3 Lý thuyết về ý định khởi nghiệp (Entrepreneurial intention – EI)

2.3.1 Khái niệm về ý định khởi nghiệp

Lý thuyết về ý định xuất phát từ lý thuyết nhận thức xã hội, đầu tiên được đềxuất và phát triển bởi Bandura (1986), người đã xây dựng khung lý thuyết cho sựhiểu biết, dự đoán và thay đổi hành vi con người Ý định được xem là "động lực của

Trang 36

một người để nỗ lực hành động theo một kế hoạch có ý thức hoặc một quyết định"(Conner và Armitage, 1998) Ý định khởi nghiệp thường được định nghĩa là “mongmuốn của một người trong việc tạo ra một công việc khởi nghiệp riêng” (Crant, 1996)hay “để bắt đầu một doanh nghiệp” (Krueger, Reilly, và Carsrud, 2000) Thompsonđịnh nghĩa ý định khởi nghiệp là "sự tự nhận thức (một thành phần của thái độ trong

mô hình của Allport, 1935) bởi một người có ý định tạo ra một công việc khởi nghiệpmới và có ý thức lập kế hoạch khởi nghiệp tại một thời điểm trong tương lai"(Thompson, 2009) Hay là “sự tiến triển tâm lý của một người trong việc mong muốnbắt đầu công việc khởi nghiệp hoặc tạo ra giá trị cốt lõi mới cho tổ chức của họ (R

D Remeikiene và G Startiene, 2013) Như vậy, có thể nói việc dự báo ý định khởinghiệp bằng cách nghiên cứu thái độ là hoàn toàn phù hợp Do đó, nghiên cứu này sử

dụng khái niệm về ý định khởi nghiệp của R D Remeikiene và G Startiene (2013)

Ý định khởi nghiệp có thể được đo bằng nhiều cách khác nhau (Warshaw vàDavis, 1985): Từ góc độ ý định hành vi ("Tôi có ý định thực hiện hành vi x" ) và từgóc độ tự dự đoán ("Khả năng bạn sẽ thực hiện hành vi x là bao nhiêu") Arimtage vàcộng sự (2001) thêm một hướng thứ ba, từ một quan điểm mong muốn (tôi muốn thựchiện hành vi x) Phân tích thống kê cho thấy, các câu hỏi liên quan đến ý định hành vi

có một sức mạnh dự đoán cao cho hành vi thực hiện (Armitage và cộng sự,

2001) cũng như các câu hỏi liên quan đến tự dự đoán (Sheppard, Hartwick vàWarshaw, 1988) Linan và Chen đã xây dựng một thang đo, gồm 6 mục, để đolường xu hướng của ý định khởi nghiệp, với thang Likert 7 điểm (Linan và Chen,2009) Bảng câu hỏi gốc bằng tiếng Anh được gọi là “Entrepreneurial IntentionQuestionnaire” (EIQ), đã được dịch sang tiếng Việt, sau đó được dịch ngược lạisang tiếng Anh bởi người khác để đảm bảo ngữ nghĩa Thang đo gốc đã được ứngdụng rất nhiều trong các nghiên cứu Nurdan Ozaralli (2016); Kamariah Ismail vàcộng sự (2015); Liñán and Chen (2009); Liñán (2008); Liñán, Urbano and Guerrero(2010); Liñán and Chen (2006)

Trang 37

2.3.2 Các mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp

Mô hình lý thuyết về hành vi dự định có nguồn gốc từ lý thuyết về hành động(Theory of reasoned action-TRA) được đề xuất bởi Fishbein và Ajzen trong giaiđoạn 1975-1980 (Ajzen và Fishbein, 1980; 1975) Lý thuyết này bao gồm ba thànhphần chính: 1) ý định thực hiện hành vi (behavioural intention - BI) 2) kỳ vọng xãhội (subjective norms- SN) và 3) thái độ (attitudes- A) Thái độ đối với một hành vicàng tích cực bao nhiêu và kỳ vọng xã hội đến hành vi đó lớn bao nhiêu, ý định thựchiện hành vi càng mạnh mẽ bấy nhiêu Nếu ý định cao, khả năng cá nhân đó thựchiện hành vi là rất cao

Ý định hành vi đo lường mức độ của ý định thực hiện một hành vi cụ thể Kỳvọng xã hội mô tả các áp lực từ đồng nghiệp hoặc bạn bè hoặc gia đình thực hiệnmột chuẩn mực nào đó Ví dụ, nếu cha mẹ và bạn bè một cá nhân coi việc khởinghiệp là quá mạo hiểm, thì cá nhân đó ít có khả năng để thực hiện hành vi khởinghiệp Thái độ bao gồm những kỳ vọng về những kết quả của việc thực hiện mộthành vi cụ thể TRA có thể được đơn giản hóa trong một công thức toán học:

BI=SN+AAjzen tiếp tục phát triển TRA đề xuất lý thuyết hành vi dự định (Ajzen,1991) Điểm chính là việc bổ sung thêm một yếu tố quyết định thái độ thứ ba về ýđịnh hành vi, gọi là nhận thức sự kiểm soát hành vi (Perceived behavioural control)(Ajzen, 2005) Lý thuyết này giả định rằng các hành động cụ thể đều bắt đầu bằngmột ý định có ý thức đến hành động cụ thể đó Hơn nữa, ý định là phụ thuộc vàothái độ mà bị ảnh hưởng bởi những kinh nghiệm sống trước đó, những đặc điểm cánhân và nhận thức được tích lũy từ những kinh nghiệm đó (Ajzen, 1991)

Trang 38

Lý thuyết về hành vi dự định bao gồm ba thái độ tiền đề của ý định:

Thái độ đếnhành vi

Ý

Kỳ vọng xã hội địnhHành vi hành

viCảm nhận kiểm

soát hành vi

Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành vi dự định (nguồn: Ajzen, 1991)

Thái độ đối với hành vi tương đương với khái niệm thái độ trong TRA và đềcập đến mức độ mà một người suy nghĩ tích cực về việc thực hiện một hành vi nào

đó Nó đại diện cho mức độ mong muốn và bao gồm kỳ vọng các kết quả thu được

từ hành vi này (Krueger Jr và cộng sự, 2000) Kỳ vọng xã hội liên quan đến các áplực xã hội và văn hóa dân tộc để thực hiện một hành vi cụ thể Quan trọng về mặtnày là kỳ vọng của bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, các mối quan hệ hoặc người cốvấn về những mong muốn nào đó, ví dụ, trở thành một người khởi nghiệp Nhậnthức về kiểm soát hành vi trùng lặp với khái niệm về sự tự tin(self-efficacy) củaBandura (Bandura, 1986) và là một thước đo của khả năng nhận thức của cá nhân đểthực hiện một hành vi nào đó (Krueger Jr và cộng sự, 2000)

TPB có thể được đơn giản hóa trong một công thức toán học:

BI=SN+ATB+PBC

Mô hình này giả định rằng quán tính hướng dẫn hành vi con người cho đếnkhi có một số sự kiện "thay thế" quán tính đó và giải phóng hành vi không mongmuốn trước đó Ví dụ, một sự thay thế, chẳng hạn như mất việc làm, có thể làm thayđổi nhận thức về mong muốn trở thành người tự làm chủ Shapero và Sokol (1982)phân loại các bước ngoặc thay đổi cuộc sống thành ba loại:

Trang 39

Một là, sự thay đổi tiêu cực như: bị sa thải, bị sỉ nhục, tức giận, buồn chán,đến tuổi trung niên, ly dị Hai là, giai đoạn giao thoa như tốt nghiệp trung học, đạihọc, hoàn thành nghĩa vụ quân sự hoặc mãn hạn tù/ân xá Đặc biệt loại thứ hai này

là mối quan tâm thú vị cho các chương trình giáo dục tinh thần khởi nghiệp khi màsinh viên thường không có ý tưởng rõ ràng về những gì họ muốn làm sau khi tốtnghiệp Loại thứ ba là có tính chất tích cực, cái gọi là sự tác động tích cực từ các đốitác, người cố vấn, nhà đầu tư hoặc khách hàng

Một hành vi có được thực hiện hay không phụ thuộc vào niềm tin của cánhân vào các lựa chọn và thiên hướng hành động (propensity to act) Niềm tin ở đâyxuất hiện khi có cảm nhận mong muốn (desirability) và tính khả thi (feasibility) đếnmột hành vi cụ thể Tuy nhiên, chỉ có niềm tin là không đủ để thực hiện một hành vi

cụ thể; Shapero và Sokol (1982) cho rằng điều cần thiết là có một sự kiện hội tụ,một sự kiện thay thế làm hay đổi những cảm nhận đó và xu hướng hành động theocách hướng đến việc thực hiện hành vi đó Như vậy, nếu một sự kiện thay thế kíchhoạt quá trình nhận thức và thay đổi cảm nhận về tính khả thi và mong muốn, cánhân có thể hành động nếu độ tin cậy của hành vi cụ thể là cao hơn so với các lựachọn thay thế và nếu cá nhân có một thiên hướng hành động đến hành vi đó

Cảm nhận

mong muốn

Ý định khởiThiên hướng

Trang 40

những gì được coi là hấp dẫn, đáng mong muốn hay không Trong bối cảnh nàyShapero và Sokol (1982) xác định văn hóa, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cố vấn vàkinh nghiệm làm việc trước đây là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến các giá trị cánhân và nhận thức về mong muốn Mong muốn được thừa nhận là có liên quan chặtchẽ đến "kỳ vọng xã hội" (subjective norm) trong lý thuyết hành vi dự định(Krueger Jr và cộng sự, 2000) Kinh nghiệm trong quá khứ của một người tác độngmạnh mẽ đến những gì là mong muốn và những gì là không.

Cảm nhận tính khả thi (Perception of feasibility) chỉ ra mức độ mà một người nào đó cảm thấy mình có khả năng hay không.Ví dụ, bắt đầu một công việc

khởi nghiệp Khái niệm về tính khả thi được coi là tương tự như khái niệm về sự tựtin (self-efficacy) của Bandura, thường được sử dụng như thước đo cảm nhận sựkhả thi (Krueger Jr và cộng sự, 2000)

Thiên hướng hành động (Propensity to act) là xu hướng cá nhân có khả năng

hành động theo quyết định của bản thân mình (Krueger, 1993) Về mặt khái niệm,Shapero và Sokol (1982) đã đề xuất một “tâm điểm kiểm soát” (locus of control) bêntrong như một thang đo của thiên hướng hành động Không có một sự thống nhất vềthang đo nào là tốt nhất để đo lường thiên hướng hành động Các tác giả khác đề nghịxem thiên hướng hành động như là "tư duy tích cực" (learned optimism) (Krueger Jr vàcộng sự, 2000) hoặc thiên hướng chấp nhận rủi ro hay chấp nhận sự mơ hồ/không chắcchắn (Kermit, 2008) Ba câu hỏi tổng kết ba khái niệm của mô hình sự kiện khởinghiệp có thể được thể hiện như: Ước muốn của bạn có đủ mạnh để thực hiện hành vinày? Bạn có thực sự đang làm những gì bạn nghĩ rằng bạn muốn làm? Bạn có tin tưởngvào khả năng của mình để thực hiện hành vi này?

Robinson đã xây dựng mô hình thái độ về khởi nghiệp (EntreprenuerialAttitude Orientation – EAO) gồm 4 thang đo thành phần như sau:

Ngày đăng: 09/09/2020, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w