NGÔ MINH DUY TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDI VÀ PHÂN CẤP TÀI KHÓA ĐẾN XUNG ĐỘT VỀ ĐẤT ĐAI – THỰC NGHIỆM DỮ LIỆU BẢNG TẠI 19 TỈNH VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 1NGÔ MINH DUY
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ PHÂN CẤP TÀI KHÓA ĐẾN XUNG ĐỘT VỀ ĐẤT ĐAI – THỰC NGHIỆM DỮ LIỆU BẢNG TẠI 19
TỈNH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2NGÔ MINH DUY
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ PHÂN CẤP TÀI KHÓA ĐẾN XUNG ĐỘT VỀ ĐẤT ĐAI – THỰC NGHIỆM DỮ LIỆU BẢNG TẠI 19
TỈNH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số:8340201 Hướng đào tạo: hướng ứng dụng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DIỆP GIA LUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 3được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học và tận tâm của PGS.TS.Diệp Gia Luật.Các số liệu, thống kê được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
HỌC VIÊN
Ngô Minh Duy.
Trang 4CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN CẤP TÀI KHÓA, VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ XUNG ĐỘT ĐẤT ĐAI
1.1 Cơ sở lý thuyết về FDI, phân cấp tài khóa và xung đột đất đai 4
1.1.1 Lý thuyết về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
1.2 Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ phân cấp tài khóa, FDI xung đột 12 đất đai
1.2.2 Mối quan hệ phân cấp tài khóa và xung đột đất đai 13
1.2.4 Mối quan hệ phân cấp tài khóa, FDI và xung đột đất đai 17
1.3 Lược khảo các nghiên cứu trước 19
TÌNH HÌNH PHÂN CẤP TÀI KHÓA, NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ XUNG ĐỘT ĐẤT ĐAI TẠI VIỆT NAM,
GIAI ĐOẠN TỪ 2012-2016 2.1 Thực trạng nguồn FDI tại Việt Nam 26
2.2 Thực trạng phân cấp tài khóa tại Việt Nam 29
2.2.4 Về trách nhiệm giải trình tài khóa của chính quyền địa phương 31
2.3 Thực trạng về xung đột đất đai tại Việt Nam 32
2.3.2 Chính sách và pháp luật về khiếu nại tố cáo, tiếp công dân ở nước ta 34
Trang 5KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TÁC ĐỘNG NGUỒN
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI, PHÂN CẤP TÀI KHÓA
VỚI XUNG ĐỘT ĐẤT ĐAI
4.1.1 Kiểm định các biến trong mô hình nghiên cứu 44
Trang 6WTO (World Trade Organization) Tổ chức thương mại thế giới.
OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
MNE: các công ty vừa và nhỏ
GDP (Gross Domestic Product): tổng sản phẩm nội địa
EU: Liên minh châu âu
XDCB : Xây dựng cơ bản
NSTW: Ngân sách Trung ương
NSĐP: Ngân sách địa phương
NSNN: Ngân sách nhà nước
HĐND: Hội đồng nhân dân
Trang 72.1 Thống kê về số dự án và vốn FDI đăng ký từ năm 26
2010 – 2017
2.2 Thống kê về số dự án, vốn FDI còn hiệu lực theo đối 27
tác đầu tư đến ngày 31/12/2017
2.3 Thống kê về số dự án, vốn FDI còn hiệu lực theo địa 27
phương đến ngày 31/12/2017
2.4 Bảng tổng hợp Tỉ lệ khiếu nại lĩnh vực đất đai nhà ở 35
các cơ quan chính phủ
2.5 Bảng tổng hợp số đơn khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất 35
đai nhà ở các cơ quan chính phủ năm 2016-2017
3.1 Mô tả các biến và kỳ vọng dấu trong mô hình 40
3.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 424.1 Ma trận tương quan các biến trong mô hình 45
4.7 Kết quả hồi quy FEM và REM khi có độ trễ 50
Trang 8cực như tốc độ tăng trưởng cao, nguồn nhân lực được cải thiện, tỷ lệ thất nghiệpthấp… Tuy nhiên, song hành cùng việc tăng trưởng kinh tế cao đó là việc gia tăngcác bất ổn xã hội đặc biệt là xung đột liên quan đến đất đai.Nhiều ý kiến cho rằng,việc thu hồi đất với giá thấp để thành lập các khu công nghiệp, khu chế xuất đápứng nhu cầu về cơ sở vật chất nhằm thu hút dòng vốn FDI đã làm mức độ đô thị hóatại nhiều địa phương gia tăng nhanh chóng Cộng hưởng với việc chạy đua chínhsách ưu đãi dành cho nhóm các doanh nghiệp FDI đã thúc đẩy các tranh chấp, xungđột về đất đai ngày càng một gia tăng giữa người dân với chính quyền địa phương,hay thậm chí các tranh chấp dân sự về đất đai cũng gia tăng Do đó, trong tình hìnhmới, địa phương công tác là địa phương có tiến trình đô thị hóa nhanh, thu hút FDInhiều trong thời gian tới, cho nên cần thiết phải thực hiện nghiên cứu để có giảipháp quản lý tốt, nhằm mục đích phải triển kinh tế địa phương bền vững, nhưngcũng ổn định đời sống người dân, an ninh trật tự, công bằng xã hội.
Bài Luận sử dụng dữ liệu Bảng tại 19 tỉnh bao gồm các tỉnh Đông Nam Bộ,Tây Nam Bộ và tỉnh Bình Thuận để xem xét tác động của FDI và phân cấp tài khóađến xung đột đất đai tại 19 tỉnh phía Nam, và từ đó đưa ra các khuyến nghị chínhsách giải quyết xung đột này
Với các kết quả thu được từ sử dụng mô hình ước OLS, FEM và mô hình GMM
để kiểm định, Bài luận đã chỉ ra được một mối liên hệ gián tiếp của FDI và phân cấp tàikhóa đến xung đột đất đai tại 19 tỉnh Trên cơ sở đó, tác giả bước đầu đưa ra cáckhuyến nghị chính sách về việc gia tăng việc giám sát, nhất là của HĐND và việc giảitrình, đây là yếu tố bắt buộc khi chúng ta gia tăng sự phân cấp cho chính quyền cấpdưới Bên cạnh đó, bài luận cũng đề nghị nên gia tăng không gia tự chủ của chínhquyền địa phương về bảng giá đất trên cơ sở giám sát của người dân Đồng thời thayđổi cách tinh tiền thuế trong một giao dịch về đất đai nên được tính theo bảng giá đấtcấp tỉnh.Từ khóa: Xung đột đất đai, phân cấp tài khóa, FDI
Từ khóa: Xung đột đất đai, Phân cấp tài khóa, FDI.
Trang 9aspects such as high growth rate, improved human resources, low unemployment rate However, along with the high economic growth is the increase in social unrest,especially conflicts related to land Many people said that the acquisition of land atlow prices to establish industrial parks and export processing zones to meet thedemand for facilities to attract FDI has increased rapidly the level of urbanization inmany localities Resonance with the rush of preferential policies for FDI enterpriseshas led to an increasing number of conflicts, land conflicts between people and localauthorities, or even civil disputes Therefore, in the new situation, the workinglocalities are localities with rapid urbanization process, attracting a lot of FDI in thecoming time, so it is necessary to conduct research to have a good managementsolution, in order to The goal is to develop the local economy sustainably, but also
to stabilize the lives of the people, security, social order and justice
The essay uses Table data in 19 provinces including Southeast, Southwest andBinh Thuan to examine the impact of FDI and fiscal decentralization on landconflicts in 19 southern provinces, and thereby making these policyrecommendations for conflict resolution
With the results obtained using the OLS, FEM and GMM estimation models fortesting, the paper pointed out an indirect linkage of FDI and fiscal decentralization
to land conflicts in 19 provinces On that basis, the author initially made policyrecommendations on increased oversight, especially of the People's Council andaccountability, which is a must when we increase decentralization to the subordinategovernment In addition, the essay also recommends increasing the autonomy oflocal authorities on land price lists based on people's supervision Also change theway tax money is calculated in a land transaction should be calculated according tothe provincial land price list
Key words: Land conflicts, fiscal decentralization, FDI
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Từ nhiều thập kỷ trước, nhà kinh tế học Paul Samuelson đã đưa ra lý thuyết
“vòng lẫn quẩn của sự chậm phát triển và cú huých từ bên ngoài” và để phá vỡ vònglẫn quẩn này, nhất là tại các nước đang phát triển, thì phải có sự đầu tư từ nướcngoài Một trong các dòng vốn nước ngoài đã và đang khẳng định vai trò của mình
đó là dòng vốn FDI Đặc biệt hơn đây còn là một luồng vốn tương đối ổn định, doFDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, triển vọng tăng trưởng và không tạo
ra nợ cho chính phủ Bên cạnh đó, FDI còn giúp khuếch tán công nghệ tại nước tiếpnhận; giúp phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm; giúp mở rộng thị trường, thúcđẩy xuất khẩu và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tại Việt Nam, sau 30 năm đón nhận dòng vốn FDI (1988 – 2018), đã ghinhận nhiều mặt tích cực như tốc độ tăng trưởng cao, nguồn nhân lực được cảithiện, tỷ lệ thất nghiệp thấp… Tuy nhiên, song hành cùng việc tăng trưởng kinh
tế cao đó là việc gia tăng các bất ổn xã hội đặc biệt là xung đột liên quan đến đấtđai Cụ thể, theo thống kê, tổng số vụ việc khiếu nại các cơ quan hành chính nhànước đã tiếp nhận và giải quyết trong các năm từ 2004 đến 2012 là:528.401/612.115 vụ việc đạt 86%, trong số đó, hằng năm, khiếu nại hành chínhliên quan đến đất đai luôn chiếm khoảng 70%
Nhiều ý kiến cho rằng, việc thu hồi đất với giá thấp để thành lập các khu côngnghiệp, khu chế xuất đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất nhằm thu hút dòng vốnFDI đã làm mức độ đô thị hóa tại nhiều địa phương gia tăng nhanh chóng Cộnghưởng với việc chạy đua chính sách ưu đãi dành cho nhóm các doanh nghiệpFDI đã thúc đẩy các tranh chấp, xung đột về đất đai ngày càng một gia tăng giữangười dân với chính quyền địa phương, hay thậm chí các tranh chấp dân sự vềđất đai cũng gia tăng
Tiếp cận vấn đề này từ các nghiên cứu cho thấy mối liên kết giữa FDI và tăngtrưởng là nhân quả và FDI thúc đẩy tăng trưởng thông qua thị trường tài chính (L
Trang 11Alfaro, A Chanda, S Kalemli-Ozcan, 2004) Borensztein và cộng sự (1998) chỉ rarằng FDI có thể được coi là một trong những phương tiện truyền tải chính tiên tiếncông nghệ đến các nước đang phát triển… Tuy nhiên, Cao và các cộng sự, (2010)chỉ ra rằng chính phủ có xu hướng đưa ra giá đất thấp để thu hút nguồn vốn FDI.
Do đó, trong tình hình mới, địa phương công tác là địa phương có tiến trình
đô thị hóa nhanh, thu hút FDI nhiều trong thời gian tới, cho nên cần thiết phảithực hiện nghiên cứu để có giải pháp quản lý tốt, nhằm mục đích phải triển kinh
tế địa phương bền vững, nhưng cũng ổn định đời sống người dân, an ninh trật tự,công bằng xã hội
2 Mục đích nghiên cứu:
Mục tiêu chung là tìm ra có hay không mối quan hệ tác động của FDI và phâncấp tài khóa đến xung đột đất đai tại các địa phương ở Việt Nam, và khuyến nghịchính sách giải quyết xung đột này
Để trả lời được câu hỏi trên đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ các vấn đề sau:
- FDI, phân cấp tài khóa tác động như thế nào đến xung đột đất đai?
- Việc cạnh tranh giữa các tỉnh do phân cấp tài khóa có làm gia tăng xung độtđất đai hay không?
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu này xem xét tác động của FDI và phân cấp tài khóa đến xung độtđất đai tại 19 tỉnh phía Nam, bao gồm các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ vàtỉnh Bình Thuận do có sự đồng nhất về khu vực kinh tế và là các tỉnh có nguồnvốn FDI đầu tư chiếm tỷ trọng đáng kể và đây là các địa phương này thuộc khuvực quản lý của cơ quan thanh tra chính phủ khu vực III
4 Phương pháp nghiên cứu:
Ở bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và
sử dụng mô hình ước OLS, REM,FEM và mô hình GMM để kiểm định
Trang 125 Ý nghĩa nghiên cứu:
Bài luận đã chỉ ra được một mối liên hệ gián tiếp của FDI và phân cấp tàikhóa đến xung đột đất đai tại 19 tỉnh Trên cơ sở đó, tác giả bước đầu đưa ra cáckhuyến nghị chính sách về việc gia tăng việc giám sát, nhất là của HĐND vàviệc giải trình, đây là yếu tố bắt buộc khi chúng ta gia tăng sự phân cấp chochính quyền cấp dưới Bên cạnh đó, bài luận cũng đề nghị nên gia tăng khônggia tự chủ của chính quyền địa phương về bảng giá đất trên cơ sở giám sát củangười dân Đồng thời thay đổi cách tiến tiền thuế trong một giao dịch về đất đainên được tính theo bảng giá đất cấp tỉnh, việc này sẽ tạo động lực cho chínhquyền địa phương đưa ra bảng giá đất sát với thị trường và giúp người dân sẽtrung thực hơn trong việc ký kết hợp đồng giao dịch về quyền sử dụng đất
6 Kết cấu luận văn
Bài luận văn gồm 5 chương:
Chương 1 sẽ giới thiệu về cơ sở lý thuyết, các mối quan hệ của các thành tố
và lươt khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây về vấn đề xung độtđất đai
Chương 2 sẽ nêu lên tình hình phân cấp tài khóa, nguồn vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài và xung đột đất đai tại việt nam
Chương 3 sẽ giới thiệu về mô hình nghiên cứu và dữ liệu của bài nghiên cứu.Chương 4 sẽ nêu ra kết quả và luận giải kết quả của mô hình
Chương 5 từ kết quả thu được của mô hình, luận văn nêu lên khuyến nghị và các mặt còn hạn chế, hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 13CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN CẤP TÀI KHÓA, VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ XUNG
ĐỘT ĐẤT ĐAI 1.1 Cơ sở lý thuyết về FDI, phân cấp tài khóa và xung đột đất đai
1.1.1 Lý thuyết về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1.1.1 Khái niệm về FDI
Theo tổ chức thương mại thế giới WTO định nghĩa FDI (Foreign DirectInvestmen) vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùngvới quyền quản lý tài sản đó Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD):Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệkinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việcquản lý doanh nghiệp Có các mục đầu tư như:
+ Thành lập hoặc mở rộng một Doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư
+ Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có
+ Tham gia vào một doanh nghiệp mới
+ Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm)
Tuy nhiên, định nghĩa được nhiều sử dụng nhiều nhất là của Quỹ tiền tệ quốc
tế IMF(1997): FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được nhữnglợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tếkhác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lýthực sự doanh nghiệp
Để có một cái nhìn khái quát về FDI, chúng ta có thể lược khảo một vài định nghĩacủa các nhà nghiên cứu như:
Khái niệm ban đầu về đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được coi là sự pháttriển từ lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế và ban đầu bắt nguồn từ kinh tếhọc Việc giải thích FDI bắt nguồn từ lý thuyết về lợi thế so sánh của Ricardo
Trang 14Năm 1933, Heckscher-Ohlin đã đưa ra lý thuyết được coi là trụ cột cho sựphát triển của khái niệm chuyển động vốn quốc tế cho thương mại quốc tế do sự đadạng của tài nguyên nguồn lực giữa các quốc gia Và nó dựa trên lý thuyết về lợi thế
so sánh của David Ricardo, bằng cách dự đoán các mô hình thương mại và sản xuấtdựa trên yếu tố nguồn lực của một khu vực giao dịch Mô hình về cơ bản nói rằngcác quốc gia sẽ xuất khẩu các sản phẩm sử dụng các yếu tố sản xuất mà quốc giamình lợi thế nên có chi phí thấp và nhập khẩu các hàng hóa mà nếu quốc gia phải tựsản xuất thì phải sử dụng các yếu tố khan hiếm hơn nên sẽ có giá cao hơn
MacDougall (1960), Kemp (1964) nhận thấy luồng vốn đầu tư sẽ chuyểndịch từ nước có lãi xuất thấp (chi phí vốn thấp) sang nước có lãi xuất cao cho đếnkhi đạt trạng thái cân bằng Một vài nhà nghiên cứu tiêu biểu cũng cố cho lý thuyếtnày như của Jasay (1960), Aliber (1970)
Lý thuyết này được các nhà kinh tế thừa nhận vào năm 1950, tuy nhiên, sau
đó lý thuyết trở nên thiếu ổn định khi tỷ suất đầu tư của Mỹ giảm đi đến mức thấphơn tỷ suất trong nước, nhưng dòng vốn FDI từ Mỹ đến các nước khác vẫn tăng liêntục Mô hình trên không giải thích được hiện tượng vì sao một số nước đồng thời códòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra
Khái niệm thứ hai về FDI đó là lý thuyết thị trường độc quyền của StephenHerbert Hymer (nghiên cứu năm 1960, xuất bản năm 1976) và Kindleberger (1969), họtin rằng phải có sự không hoàn hảo trong thị trường hàng hóa hoặc các yếu tố sản xuất
để xuất hiện dòng vốn FDI Hymer (1976) chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia phải đốimặt với nhiều hạn chế vì họ là “người nước ngoài” Chúng bao gồm chi phí thu thậpthông tin do sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ; chi phí đối xử ít thuận lợi hơn củachính phủ các nước sở tại Do đó, các công ty đa quốc gia sẽ có được phải
có lợi thế cạnh tranh (ví dụ: lợi thế của nước sở tại, sản phẩm sáng tạo, kỹ năngquản lý, bằng sáng chế, v.v.) để bù đắp những nhược điểm này
Ở Việt Nam, luật đầu tư năm 2005 định nghĩa FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.Nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp
Trang 15khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật nhà nước Vậy có thểhiểu, FDI theo Luật đầu tư năm 2005 là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn đầu tưvào Việt Nam bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư
và tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của luật nhà nước
1.1.1.2 Vai trò của FDI
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò quantrọng trong nền kinh tế Việt Nam Trước hết, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọngvào tổng đầu tư xã hội và góp phần cải thiện cán cân thanh toán trong giai đoạn vừaqua Các nghiên cứu gần đây của Freeman (2000), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2003),Nguyễn Mại (2004) đều rút ra nhận định chung rằng khu vực có vốn đầu tư nướcngoài đã đóng góp quan trọng vào GDP với tỷ trọng ngày càng tăng Khu vực nàygóp phần tăng cường năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh
tế, khai thông thị trường sản phẩm (đặc biệt là trong gia tăng kim ngạch xuất khẩuhàng hoá), đóng góp cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận laođộng Bên cạnh đó, FDI có vai trò trong chuyển giao công nghệ và các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong nước phải
tự đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất Các dự án FDI cũng có tác độngtích cực tới việc nâng cao năng lực quản lý và trình độ của người lao động làm việctrong các dự án FDI, tạo ra kênh truyền tác động tràn tích cực hữu hiệu
FDI tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau Theo cáchtiếp cận hẹp, tác động đối với tăng trưởng của FDI thường được thông qua kênh đầu tư
và gián tiếp thông qua các tác động tràn Theo cách tiếp cận rộng, FDI gây áp lực buộcnước sở tại phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà trước hết là cải thiện môitrường đầu tư, qua đó làm giảm chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư nước ngoài, tănghiệu suất của vốn và rốt cuộc là tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Một số ý kiếncòn cho rằng FDI có thể làm tăng đầu tư trong nước thông qua tăng đầu tư của cácdoanh nghiệp trong nước, đặc biệt là những doanh nghiệp trong nước cung cấp nguyênliệu cho doanh nghiệp FDI hoặc tiêu thụ sản phẩm từ các doanh nghiệp
Trang 16FDI Đồng thời, các chính sách cải thiện cơ sở hạ tầng của chính phủ nhằm thu hútnhiều vốn FDI hơn cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước hình thành và pháttriển Tiêu biểu như, nghiên cứu của Kokko (1994) chỉ ra mối quan hệ tương quanthuận giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Mê-hi-cô Tác động tích cực của FDI tới tăngtrưởng cũng được kiểm định trong nghiên cứu của Kumar và Pradhan (2002) sử dụng
số liệu hỗn hợp cho 107 nước đang phát triển trong thời kỳ 1980-1999 L Alfaro, AChanda, S Kalemli-Ozcan,(2004) cung cấp bằng chứng rằng liên kết giữa FDI và tăngtrưởng là nhân quả và FDI thúc đẩy tăng trưởng thông qua thị trường tài chính.(Borensztein và cộng sự, 1998) chỉ ra rằng FDI có thể được coi là một trong nhữngphương tiện truyền tải chính tiên tiến công nghệ đến các nước đang phát triển
Trái lại cũng có một số ý kiến lo ngại về tác động tiêu cực của FDI, như việcthu hồi đất với giá thấp để thành lập các khu công nghiệp, khu chế xuất đáp ứng nhucầu về cơ sở vật chất nhằm thu hút dòng vốn FDI đã làm mức độ đô thị hóa tạinhiều địa phương gia tăng nhanh chóng Cộng hưởng với việc chạy đua chính sách
ưu đãi dành cho nhóm các doanh nghiệp FDI đã thúc đẩy các tranh chấp, xung đột
về đất đai ngày càng một gia tăng giữa người dân với chính quyền địa phương, haythậm chí các tranh chấp dân sự về đất đai cũng gia tăng Cao và các cộng sự (2010)
chỉ ra rằng chính phủ có xu hướng đưa ra giá đất thấp để thu hút nguồn vốn FDI.Bên cạnh đó, sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn FDI có thể gây cạnh tranhkhốc liệt với các doanh nghiệp trong nước mà phần thua thiệt thường là các doanhnghiệp trong nước Các doanh nghiệp trong nước bị mất thị trường, mất lao động có kỹnăng và vì vậy có thể dẫn đến phá sản Ngoài ra, vốn FDI có thể làm cho đầu tư trongnước bị thu hẹp do nhiều doanh nghiệp bị mất cơ hội đầu tư họăc đầu tư không hiệuquả do trình độ công nghệ thấp kém, vốn ít Điều này xảy ra khi xuất hiện tác động lấn
át đầu tư của doanh nghiệp FDI Như trong nghiên cứu của Mencinger (2003) về vai tròcủa FDI tới tăng trưởng của 8 nước chuyển đổi ở Đông Âu sử dụng số liệu hỗn hợp chothời kỳ 1994-2001 lại chỉ ra rằng FDI làm giảm khả năng bắt kịp về tăng trưởng củacác nước này với EU Nguyên nhân có thể là do quy mô nhỏ của các nền kinh tế này vàFDI quá tập trung vào thương mại và tài chính nên đã làm
Trang 17giảm tác động tràn về năng suất trong các ngành kinh tế nói chung FDI cũng khôngnhất thiết tăng áp lực cạnh tranh do các đối thủ cạnh tranh của nước nhận đầu tư hầuhết là mới và nhỏ, do vậy dễ bị đẩy ra khỏi cuộc chơi.
1.1.2 Lý thuyết về phân cấp tài khóa.
Sau thời kỳ đổi mới (1986), Việt Nam đã đẩy mạnh việc phân cấp quản lý kinh
tế bao trùm nhiều lĩnh vực: quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển; ngân sáchnhà nước; đất đai, tài nguyên; doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụcông; và tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức Chính phủ kỳ vọng rằng chính sách phâncấp sẽ giúp phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, thực hiện các nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn Vậy phân cấp là gì?
Phân cấp được hiểu là một quá trình chuyển giao trách nhiệm và quyền hạn từchính quyền trung ương cho chính quyền địa phương hay khu vực tư nhân (WorldBank, 2001) Tùy thuộc vào các chức năng cụ thể được chuyển từ các cơ quan chínhquyền trung ương, có ba loại phân cấp chính: Phân cấp hành chính chuyển trách nhiệm
về thủ tục hành chính; phân cấp chính trị đại biểu quyền bầu cử và lập pháp cho chínhquyền địa phương; phân cấp tài chính chuyển cả nguồn lực và trách nhiệm tài trợ chocác dịch vụ của chính phủ cho chính quyền địa phương Ở một số quốc gia đang tiếnhành chuyển đổi hệ thống kinh tế như Việt Nam, phân cấp còn bao hàm sự chuyển giaoquyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các doanh nghiệp nhà nước
và cho thị trường Các hình thức phân cấp này có đặc điểm chung là đều bắt đầu với sựminh định lại vai trò của nhà nước, để trên cơ sở đó tiến hành phân định quyền hạn vàtrách nhiệm giữa các cấp chính quyền, giữa nhà nước với thị trường, và giữa khu vựcnhà nước với khu vực tư nhân và khu vực dân sự
Phân cấp tài khóa liên quan đến sự phân phối nguồn lực công giữa chính quyềntrung ương và chính quyền địa phương trong đó nhấn mạnh hai vấn đề cơ bản là sựphân chia nguồn thu và nhiệm vụ chi (Davey, 2003) Theo Hanai và Huyen (2004),phân cấp tài khóa có thể định nghĩa là sự phân công trách nhiệm và quyền hạn, cũngnhư lợi ích, giữa các cấp khác nhau của chính quyền về quản lý và thực hiện ngân
Trang 18sách Có thể nói phân cấp ngân sách là trọng tâm của mọi biện pháp phân cấp Mỗiđơn vị phân cấp chỉ có thể độc lập thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp khi họ có
đủ các nguồn lực cần thiết và có quyền đưa ra các quyết định chi tiêu Bốn nội dungtrọng tâm của phân cấp ngân sách bao gồm
(i) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chi tiêu;
(ii) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm thu ngân sách;
(iii) chuyển giao ngân sách từ trung ương cho địa phương và điều tiết ngân sách từ địa phương về trung ương;
(iv) quy định về khả năng đi vay và phát hành nợ của chính quyền địa phương.Nghiên cứu của Mello và Barenstein (2001) sử dụng dữ liệu bảng của 78 quốcgia từ năm 1980 đến năm 1992 đã cho thấy sự phân cấp tài khóa và quản trị công cótác động tích cực đến tăng trường kinh tế Bằng chứng thực nghiệm về tác động tíchcực của phân cấp tài khóa cũng được tìm thấy tại Pasikan trong hai giai đoạn 1971-
2005 và 1972-2009 (Malik và cộng sự, 2005).Với bộ dữ liệu của 28 tỉnh tại TrungQuốc trong giai đoạn từ 1970 đến 1993, Lin và Liu (2000) cũng tìm thấy kết quảtương tự
Các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ việc phân cấp tài khóa đềucho rằng nhờ ở gần dân hơn so với chính quyền trung ương, chính quyền địaphương có thông tin tốt hơn về nhu cầu và ý muốn của người dân, đồng thời thấuhiểu hơn những điều kiện đặc thù của địa phương Vì vậy, chính quyền địa phương
có thể đáp ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn trước các yêu cầu của người dân so vớichính quyền trung ương (Ebel & Yilmaz, 2002) Ngược lại, vì người dân ở gầnchính quyền địa phương nên tiếng nói của họ sẽ có tác động trực tiếp đến chínhquyền địa phương trong quá trình sử dụng ngân sách nhà nước, nâng cao tính minhbạch và trách nhiệm giải trình (Dabla, 2006) Hơn nữa, việc thúc đẩy phân cấp tàikhóa không những thúc đẩy cải thiện hiệu quả Pareto mà còn giảm sự bất bình đẳng
về kinh tế giữa các địa phương (Ezcurra & Pasucal, 2008)
Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc phân cấp tài khóa cũng có những điểm rủi rođáng phải lưu ý, đặc biệt là khi phân cấp tài khóa quá mạnh mẽ (Morgan, 2002)
Trang 19Trước hết, đó là việc gia tăng bất bình đẳng về tài chính giữa các địa phương do việcthu thuế không tương xứng với quy mô chi tiêu của địa phương Hai là, việc gia tăngphân cấp có thể tăng rủi ro trong quản lý nguồn lực địa phương (ADB, 2004) Nghiêncứu của Roden (2002) cho rằng phân cấp tài khóa là tiêu cực, đặc biệt là ở các quốc giađang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi Ông lập luận rằng các vấn đềthường đi kèm với phân cấp là thâm hụt ngân sách, tham nhũng, tác động của các nhómlợi ích, gia tăng bất bình đẳng và cuối cùng là nền kinh tế giảm tăng trưởng Mello(2000) khẳng định thất bại của việc phân cấp tài khóa là do thành kiến về thâm hụt tàikhóa và quản trị công yếu kém, không đáp ứng các yêu cầu cơ bản của chính sách phitập trung hóa Nghiên cứu tại Nigeria của Philip và Isah (2012) cũng cho thấy phân cấpnguồn thu và nhiệm vụ chi có tác động tiêu cực đến tăng trưởng.
Đối với nền kinh tế Việt Nam, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì quátrình phân cấp chi ngân sách đã xuất hiện những hạn chế như: quá trình phân cấp trànlan, thiếu quy hoạch và phân tán dẫn đến chi tiêu quá nhiều gây thâm hụt ngân sách;chất lượng quy hoạch kém dẫn tới kém hiệu quả trong đầu tư công, tính minh bạch vàtrách nhiệm giải trình thấp (Vũ Thành Tự Anh, 2012) Chính điều này đã dẫn đến xuấthiện hiện tượng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân, làm giảm tăng trưởng kinh tế trongnhững năm gần đây (Tô Trung Thành và Nguyễn Chí Dũng, 2011)
1.1.3 Lý thuyết về xung đột đất đai
Đất đai đang ngày trở nên khan hiếm do sự gia tăng dân số và do nhu cầu sửdụng đất của mỗi cá nhân đang ngày càng gia tăng Thật vậy, đất đai là thứ mà Bogale
và các cộng sự gọi là tài nguyên cơ bản nhất (Bogale và các cộng sự, 2006) Xung độtđất đai xảy ra là do sự mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng đất hiện tại với quan điểm vềviệc sử dụng và quản lý quỹ đất trong tương lai của các cơ quan quản lý (O’Neill
& Walsh, 2000) Cốt lõi của nhiều xung đột thực tế là do đất đai cũng như xã hội luônthay đổi liên tục Những thay đổi sử dụng đất được thúc đẩy bởi các đổi mới xã hội, thểchế và công nghệ là những nguồn xung đột quan trọng nhất (Brown & Raymond, 2014;Ianos và cộng sự, 2012; Torre và cộng sự, 2006) Mối quan tâm ngày càng tăng về môitrường, phát triển bền vững và sự phát triển đô thị cũng như mối quan tâm về
Trang 20điều kiện môi trường sống của con người đã dẫn đến nhiều mối quan tâm hơn vềxung đột sử dụng đất (Haase và cộng sự, 2014; Torre và cộng sự, 2014).
Xung đột sử dụng đất được định nghĩa là các tình huống trong đó các bênliên quan của các thành phần có lợi ích không tương thích liên quan đến việc sửdụng một thửa đất nhất định (Von der Dunk và cộng sự, 2011) Thường xảy ra xungđột khi các cá nhân tham gia vào việc phản đối dự án khỏi bị hiện thực hóa, nhưngcũng có khi mọi người trở nên tích cực vì họ đánh giá lại các tác động có lợi/hại của
dự án (Joerin và cộng sự, 2010) Do đó, hầu hết các tranh chấp sử dụng đất phátsinh từ lợi ích cá nhân Bên cạnh đó, xung đột cũng có thể nảy sinh về những ýtưởng sự phát triển trong tương lai của một khu vực
Tuy nhiên, nếu xét theo một khía cạnh khác, xung đột đất đai không phảihoàn toàn là tiêu cực Xung đột có thể là chất xúc tác cho những cải tiến trong quảntrị đất đai và đổi mới trong tư duy quản lý, cũng như giúp phát hiện hoặc thậm chí
là ngăn chặn thói quen quan liêu (Forester, 2013; Griggs và cộng sự, 2014)
Hầu hết các nước phát triển đều được trang bị khung pháp lý điều chỉnhquyền sở hữu, sử dụng đất và tìm cách phối hợp sử dụng theo cách giảm thiểu khảnăng xảy ra xung đột (Hersperger và cộng sự., 2014) Hơn nữa, có nhiều nghiên cứu
về các kỹ thuật để quản lý các bất đồng về tài nguyên và môi trường, bao gồm xungđột sử dụng đất (Brody và cộng sự, 2004) Đàm phán xung đột, còn được gọi là hòagiải hoặc giải quyết, được khái niệm hóa như các phương pháp và quy trình liênquan đến việc tạo điều kiện kết thúc hòa bình của xung đột thường bằng cách thamgia đàm phán tập thể
Tại Việt Nam, xung đột đất đai gia tăng nhanh chóng từ năm 1994, khi Nhànước bắt đầu thực hiện chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cácchính sách khuyến khích đầu tư trong nước và đầu tư từ nước ngoài Từng bước,chính sách đất đai ngày càng cởi mở hơn để thu hút đầu tư nhất là đầu tư trực tiếp từnước ngoài (FDI) Từ năm 1994 đến năm 2004, Nhà nước vẫn sử dụng chính sách
“Nhà nước thu hồi đất“ để giao cho mọi loại đầu tư được Nhà nước phê duyệt Đócũng là nguồn căn của xung đột đất đai
Trang 21Từ năm 2004 đến nay, khi Luật Đất đai 2003, 2013 được ban hành thì cơ chếNhà nước thu hồi đất được được hạn chế phạm vi áp dụng chỉ cho những dự án vìlợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và các dự án có ý nghĩakinh tế lớn Tuy nhiên, trên thực tế các chủ đầu tư vẫn có nhiều cách để “lách luật“với sự ủng hộ của chính quyền địa phương, có thể vì mục tiêu kêu gọi đầu tư chođịa phương và cũng có thể liên quan đến nham nhũng.
Hệ quả của chính sách mở rộng đầu tư công nghiệp hóa, đô thị hóa đã làmcho nền kinh tế Việt Nam có tỷ lệ tăng trưởng tương đối cao, cả công nghiệp và dịch
vụ đều tăng trưởng khá tốt Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo sự gia tăng vấn đềtham nhũng trong quản lý địa phương và khiếu kiện tập thể của những người mấtđất Tiêu biểu là việc thu hồi đất sai thẩm quyền, không đúng chủ trương tại Khu đôthị Thủ Thiêm, Tp Hồ Chí Minh khiến người dân khiếu kiện suốt 20 năm và chínhquyền Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang tìm cách khắc phục
1.2 Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ phân cấp tài khóa, FDI xung đột đất đai 1.2.1 Mối quan hệ phân cấp tài khóa và FDI
Theo lý thuyết, việc phân cấp, nhất là phân cấp tài khóa sẽ mở ra không gian
để chính quyền địa phương có thể phát huy thế mạnh của mình Chính quyền địaphương sẽ tận dụng tốt hơn lợi thế so sánh của địa phường mình để thu hút dòngvốn FDI như cơ sở hạ tầng, quy hoạch, tính liên kết vùng…Trong nghiên cứu củamình nhóm tác giả Diệp Gia Luật, Bùi Duy Tùng (2016) đã tìm thấy bằng chứngcho thấy phân cấp tài khóa có tác động tích cực và ảnh hưởng đáng kể đến thu hútdòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khi kiểm tra mối quan hệ của phân cấp tàikhóa và tăng trưởng kinh tế của 62 tỉnh thành Việt Nam từ năm 2005 đến 2016
Tuy nhiên, Cao và các cộng sự (2010) chỉ ra rằng chính phủ có xu hướng đưa ragiá đất thấp để thu hút nguồn vốn FDI, điều này lại trở thành con dao hai lưỡi khi tạo ramột cuộc đua về ưu đãi, nhất là ưu đãi về đất đai ở Việt Nam Nguyên nhân là do phâncấp ở Việt Nam không cân đối trên ít nhất hai khía cạnh Thứ nhất là các nội dung khácnhau của phân cấp không song hành với nhau, và do vậy không những không tạo ra tácdụng cộng hưởng mà còn hạn chế hiệu quả của phân cấp Chẳng hạn
Trang 22như phân cấp về quản lý đất đai (đặc biệt là liên quan đến chuyển đổi mục đích sửdụng đất) và quản lý FDI Trong một chừng mực nào đó, phân cấp tài khóa đã diễn
ra khá mạnh mẽ, song lại không được đi kèm với phân cấp chính trị Điều này cónghĩa là không gian tự quyết của địa phương được mở rộng, nhưng cơ chế để buộcchính quyền địa phương hành động thực sự vì lợi ích của người dân địa phươngkhông được cải thiện một cách tương ứng Kết quả là không gian tự chủ rộng rãihơn này có thể bị lạm dụng, thậm chí đi ngược lại lợi ích của một bộ phận dânchúng địa phương Tiêu biểu đó là phong trào “xé rào” trong ưu đãi đầu tư FDI của
32 tỉnh - thành phố trong giai đoạn 2001-2005 trong bối cảnh phân cấp quản lý FDIđang tiếp tục được đẩy mạnh (Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng(2007)) Cụ thể là các tỉnh này đã đưa ra những ưu đãi trái hoặc vượt quá khuôn khổchính quyền trung ương quy định cho các nhà đầu tư, đặc biệt là trong các khu côngnghiệp Trước tình hình này, chính phủ đã ra lệnh chấm dứt ngay lập tức các ưu đãiđầu tư trái quy định mà 32 tỉnh đang áp dụng Nhiều bộ, trong đó có Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại, Bộ Tài nguyên Môi trường,
và Văn phòng Chính phủ đã tham gia vào việc ban hành Quyết định này Quyết địnhcủa Thủ tướng cũng đã yêu cầu UBND của tất cả 64 tỉnh thành phải báo cáo về tất
cả các vi phạm trong các quy định về ưu đãi đầu tư 32 tỉnh xé rào ngoài ra cònđược yêu cầu phải báo cáo về các biện pháp mà họ đã thực hiện để khắc phục những
vi phạm đã mắc phải Mặc dù hạn nộp báo cáo là ngày 01/03/ 2006, nhưng cho đếnngày 2/8/2006, vẫn còn 22 tỉnh chưa nộp Trong số 42 tỉnh đã nộp báo cáo, một sốtỉnh báo cáo một cách chiếu lệ về những biện pháp khắc phục mà không hề đưa ramột danh sách các vi phạm như chính quyền trung ương đã yêu cầu Ví dụ này chothấy mức độ tuân thủ của chính quyền địa phương đối với quyết định của chínhquyền trung ương (còn gọi là trách nhiệm giải trình lên trên) là rất hạn chế
1.2.2 Mối quan hệ phân cấp tài khóa và xung đột đất đai
Việc phân cấp tài khóa sẽ tác động đến xung đột đất đai ở thái cực:
- Tác động tích tích cực:
Trang 23Việc phân cấp tài khóa, trong cả phân cấp thu và phân cấp chi ngân sách, đều
có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế địa phương (Diệp Gia Luật, NguyễnĐào Anh (2019)
Về phân cấp chi, việc gia tăng phân cấp tài khóa cho địa phương sẽ giúpchính quyền địa phương sử dụng nguồn lực tốt hơn do ở gần dân hơn, hiểu đượcnhu cầu của người dân hơn chính quyền trung ương Do đó, chính quyền địaphương có thể đáp ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn trước các yêu cầu của người dân
so với chính quyền trung ương (Ebel & Yilmaz, 2002) Ngược lại, vì người dân ởgần chính quyền địa phương nên tiếng nói của họ sẽ có tác động trực tiếp đến chínhquyền địa phương trong quá trình sử dụng ngân sách nhà nước, nâng cao tính minhbạch và trách nhiệm giải trình (Dabla, 2006) từ đó giúp hạn chế các xung đột xã hộisảy ra, trong đó có xung đột về đất đai
Về phân cấp thu, phân cấp tài chính khuyến khích chính quyền địa phươngđầu tư vào cơ sở hạ tầng để gia tăng cơ sở thuế, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Ngoài ra, phân cấp tài khóa đang khuyến khích chính quyền cấp tỉnh tại Việt Namkhai thác tốt hơn về tìm lực của mình Một trong số đó là nguồn thu từ đất đai Điềunày sẽ bắt buộc chính quyền phải nâng cao việc quản trị, nhất là quản trị về đấtcông Điển hình là việc yêu cầu các đơn vị sự nghiệp của TP Hồ Chí Minh phải thựchiện đấu giá khi sử dụng đất công cho mục đích liên doanh – liên kết Từ đó, giúpchống thất thu cho ngân sách và chính quyền địa phương sẽ có đủ nguồn lực để thựchiện các chính sách đầu tư, an sinh xã hội góp phần cải thiện đời sống của ngườidân và giảm được các xung đột phát sinh
- Về mặt tiêu cực:
+ Thứ nhất, Việc phân cấp tài chính cũng làm tăng áp lực lên chính quyền địa
phương để tăng doanh thu Với doanh thu thuế không đủ, họ sẽ phụ thuộc nhiều hơnvào tài chính đất đai để trang trải chi tiêu (Nitikin, Shen, Zou, 2012) Áp lực tăng thunhập và khuyến khích thu hút vốn từ đó dẫn đến việc gia tăng thu hồi đất và cuối cùng
có thể dẫn đến xung đột với người bị thu hồi đất (Cao 2008) Một phương pháp đangđược chính quyền địa phương áp dụng đó là thu hồi đất từ nông dân và xây dựng
Trang 24các khu công nghiệp, khu chế xuất cho các nhà đầu tư thuê lại với giá thấp Điềunày sẽ giúp thu hút được các nhà đầu tư, do lợi thế về chi phí, đặc biệt là các nhàđầu tư nước ngoài Trong nhiều trường hợp, chi phí thu hồi và chuẩn bị đất ở cáckhu công nghiệp có thể cao hơn nhiều so với doanh thu cho thuê dẫn đến giá đền bùcho nông dân chỉ có thể được giữ ở mức thấp để cân bằng ngân sách.
+ Thứ hai, Việc phân cấp nhưng không đi kèm với yêu cầu giải trình sẽ dẫn
đến vấn nạn tham nhũng Roden (2002) lập luận rằng các vấn đề thường đi kèm vớiphân cấp là thâm hụt ngân sách, tham nhũng, tác động của các nhóm lợi ích, gia tăngbất bình đẳng và cuối cùng là nền kinh tế giảm tăng trưởng Do đó, để phân cấp mộtcách hiệu quả và công bằng thì phân cấp phải được thực hiện cùng với các điều kiện vềminh bạch thông tin, tiếng nói, trách nhiệm giải trình, nguồn lực, và quy mô Và để đolường về tính minh bạch, trách nhiệm giải trình chúng ta có thể sử dụng Chỉ số hiệu quảquản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) như một công cụ để đánh giá khá tốt Chỉ
số PAPI được đo lường ở Việt Nam từ năm 2010 và nó đã cho thấy mức độ minh bạch
về thông tin rất thấp Chẳng hạn như trong cả hai năm 2010 và 2011, có tới khoảng mộtphần ba số người được phỏng vấn chưa từng nghe đến khẩu hiệu “dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra”, mặc dù khẩu hiệu này đã được nói đi nói lại nhiều lần từ Đạihội Đảng VI năm 1986 đến nay Với tính giải trình không cao, lúc này, các quyết sáchcủa chính quyền sở tại sẽ không vì lợi ích của toàn xã hội nữa Chính điều này sẽ gây ra
sự nghi ngờ của người dân đối với các quyết định của chính quyền địa phương nhất làcác quyết định về thu hồi đất Ngoài ra, việc phân cấp cho chính quyền thực hiện việcthu hồi đất với diện tích lớn để xây dựng các khu công nghiệp, nhưng lại xây dựngphương án bồi thường, phương án tái định cư cho người dân không hợp lý cũng gây ramâu thuẫn của người dân với chính quyền địa phương Với giá đền bù quá thấp nhưhiện nay, người bị thu hồi đất - nhất là đất nông nghiệp
- không đủ khả năng để tái đầu tư, dẫn đến không đảm bảo được sinh kế, buộc lòng
họ phải đáu tranh và dẫn đến khiếu nại kéo dài
+ Thứ ba, việc phân cấp tài khóa giúp thúc đẩy phát triển kinh tế cũng có mặt
không tốt, đó là vấn đề đô thị hóa quá nhanh Khi việc đô thị hóa nhanh sẽ thúc đẩy
Trang 25nhu cầu về nhà ở Giá của bất động sản ngày một gia tăng cũng là một trong nhữngnguyên nhân xảy ra xung đột về đất đai.
1.2.3 Mối quan hệ FDI và xung đột đất đai
Thực tiễn đã cho thấy, nguồn vốn FDI đi nào nước ta chủ yếu tập trung tạilĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo và Hoạt động Kinh doanh bất động sản(chiếm 76%), cụ thể, chỉ riêng trong năm 2017 tổng số vốn FDI đăng ký đầu tư vàolĩnh vực bất động sản là 8,253 tỷ USD chiếm 23% trên tổng số vốn FDI đăng ký, vàlũy kế các dự án còn hiệu lực đến năm 2017 thì lĩnh vực Bất động sản cũng chiếm
đến 17% với 53,2 tỷ USD.(bảng 1.1)
Bảng 1.1 Tổng vốn FDI đăng ký năm 2017 và lũy kế đến năm 2017
Đvt: Triệu đô la
Tổng vốn Tổng vốn đăng đăng ký lũy Lĩnh Vực ký năm 2017 kế đến năm
2017
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước 1.817,4 20.820,9nóng, hơi nước và điều hoà không khí
Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác 299,8 2.338,5thải, nước thải
Bán buôn và bán lẻ; sử chữa ô tô, mô tô, xe 1.727,6 6.200,0máy và xe có động cơ khác
Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 34,3 1.487,8
Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 997,0 3.096,3
Trang 26Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 1.138,6 2.781,6
(nguồn Tổng cục thống kê)
Về mặt lý thuyết, FDI cũng có tác động đến vấn đề xung đột đất đai ở hai khíacạnh:
- Các dự án FDI cũng có tác động tích cực tới việc nâng cao năng lực quản
lý và trình độ của người lao động, tạo ra kênh truyền tác động tràn tích cực hữu hiệucải thiện năng lực của bộ máy chính quyền Ngoài ra, FDI còn giúp cải thiện vấn đềdân chủ, do đó, gia tăng tính minh bạch thông tin Từ đó, giúp giảm thiểu các vấn đềtranh chấp, khiếu nại, nhất là ở lĩnh vực đất đai
- Nguồn vốn FDI là một nguồn vốn bổ sung quan trọng và tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau như đã phân tích ở Chương 1
- Tuy nhiên, đi kèm với tăng trưởng kinh tế là sự đô thị hóa và gia tăng nhucầu về nhà ở Dẫn đến giá của các tài sản này gia tăng nhanh chóng, từ đó, sẽ xảy ra các xung đột về quyền sở hữu các loại tài sản này
- Ngoài ra các dự án FDI còn làm tăng nhu cầu sở hữu nhà ở, bất động sản
ở hai lý do Thứ nhất, các dự án FDI làm gia tăng tốc độ đô thị hóa, tập trung dân cư,dẫn đến nhu cầu về nhà ở gia tăng nóng tại các khu vực xung quanh dự án Thứ hai,
là do FDI giúp tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình tích lũy tài sản và bất độngsản được xem là một kênh đầu tư an toàn và lợi nhuận tốt Ở chiều ngược lại, nguồntài nguyên về đất đai thì gần như không hoặc rất ít có sự gia tăng Một điều tất yếu,khi nhu cầu gia tăng và nguồn cung hạn hẹp thì giá của các tài sản này đã gia tăngchóng mặt, kéo theo các vấn đề về tranh chấp, xung đột trong xã hội cũng gia tăngtheo(Trương Thanh Cảnh, Trần Nguyễn Cẩm Lai, Nguyễn Hoàng Tuấn (2015)
1.2.4 Mối quan hệ phân cấp tài khóa, FDI và xung đột đất đai
Từ các phân tích trên có thể thấy, FDI và phân cấp tài khóa vừa có tác độngtích cực cũng như tiêu cực đến vấn đề xung đột đất
- Cả FDI và phân cấp tài chính về mặt lý thuyết điều cho thấy rằng sẽ giúptăng trưởng kinh tế (Kumar và Pradhan (2002); Mello và Barenstein (2001); Diệp Gia
Trang 27Luật, Nguyễn Đào Anh (2019) Diệp Gia Luật, Bùi Duy Tùng (2016) đã tìm thấybằng chứng cho thấy phân cấp tài khóa có tác động tích cực và ảnh hưởng đáng kểđến thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Phân cấp tài chính mạnh hơn, sẽtạo động lực để chính quyền địa phương cải thiện môi trường đầu tư, quản trị quỹđất công và tận dụng ưu thế của mình để thu hút được các nhà đầu tư Trong đó,việc thu hút được các dự án FDI sẽ là một nguồn lực bổ sung rất quan trọng, giúptăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống xã hội (Freeman (2000), Bộ Kế hoạch và Đầu
tư (2003), Nguyễn Mại (2004) Ngoài ra, để thu hút được các dự án lớn (đã phần làcác dự án FDI) đòi hỏi chính quyền phải cải thiện cơ sở hạ tầng của địa phương.Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng sẽ mang lại lợi ích cho cả người dân và doanh nghiệpbản địa, dẫn đến giảm thiểu các xung đột trong xã hội
- Tuy nhiên, khi chính sách phân cấp tài khóa cho địa phương được gia tăng.Điều này đã buộc địa phương phải có biện pháp gia tăng nguồn thu, và việc thu hútđược nguồn vốn FDI được xem như “cây đũa thần” để giải quyết bài toán tạo nguồnthu này Và để các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn địa phương mình, chính quyềnđịa phương đã cố gắn đưa ra các ưu đãi quá mức và dành những khu đất đẹp, lợi thếcho họ, như là một lợi thế cạnh tranh Cao và các cộng sự (2010) chỉ ra rằng chínhphủ có xu hướng đưa ra giá đất thấp để thu hút nguồn vốn FDI Để làm được điều
đó, chính quyền địa phương đã sử dụng quyền điều chỉnh quy hoạch đất, theohướng gia tăng tỉ lệ đất phi nông nghiệp giảm tỷ lệ đất nông nghiệp, cụ thể tính đếnngày 31/12/2010 tại Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đất nông lâmnghiệp là 4.794,8 nghìn Ha thì đến ngày 31/12/2017 đã giảm 60,6 nghìn Ha xuốngcòn 4.734,2 nghìn Ha Việc điều chỉnh này không phải lúc nào cũng có kết quả tốt,nhất là đối với các địa phương gặp các vấn đề về tham nhũng; tính công khai minhbạch không cao sẽ dẫn đến sự vụ lợi trong công tác quy hoạch, bồi thường Hệ quả
đó là gây ra bức xúc, khiếu nại của người bị thu hồi đất
- Ngoài ra, cả FDI và phân cấp tài khóa đều có một mẫu số chung là làm giatốc quá trình đô thị hóa Nhu cầu về nhà ở gia tăng dẫn đến giá cả của tài sản này
Trang 28cũng gia tăng nhanh chóng đã như là một chất xúc tác làm bùng nổ các tranh chấpliên quan đến quyền sở hữu của các tài sản này.
Có thể nói, sự tác động của nguồn vốn FDI và phân cấp tài khóa đến xungđột đất đai không chỉ là tác động riêng lẻ, mà nói còn là một tác động kép Cả ở tácđộng tích cực lẫn tiêu cực
1.3 Lược khảo các nghiên cứu trước
1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
1.3.1.1 Guangzhong Cao, Changchun Feng, Ran Tao (2008)
Trong bài viết này, nhóm tác giả xem xét vấn đề tài chính đất đai của địaphương, trong bối cảnh mở rộng đô thị nhanh chóng của Trung Quốc Mục đíchnghiên cứu của nhóm tác giả là: Tại sao chính quyền địa phương ở Trung Quốc rấtnhiệt tình trong việc mở rộng không gian đô thị? Làm thế nào có thể hợp lý hóa cáchoạt động phát triển đất đai địa phương như vậy dưới nền tảng thể chế hiện có củaTrung Quốc? Những hành động nào đã được Chính phủ Trung ương thực hiện đểkiềm chế sự điên cuồng phát triển khu công nghiệp cục bộ của địa phương? Nhữnghành động này có đủ để giải quyết các vấn đề không, và nếu không, có thể thực hiệnnhững bước nào nữa?
Tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh thực nghiệm giữa số liệu từ năm 2000đến 2005 với khoản thời gian từ năm 1995 đến 1999, về tỷ lệ đô thị hóa chính thức (tỷ
lệ dân số đô thị trong tổng dân số), diện tích xây dựng và việc sử dụng đất, hệ thốngcho thuê công cộng của Trung Quốc Kết quả đã chỉ ra rằng, mức độ đô thị hóa đã tăng
từ 29,0 lên 43,0% (NBS, 2006) Đô thị hóa nhanh chóng đã được đi kèm với mở rộng
đô thị lớn Trong thập kỷ qua, mỗi năm khoảng 150000 ha đất trồng trọt được chuyểnđổi cho mục đích phát triển đô thị Từ năm 1998 đến năm 2005, diện tích xây dựng củacác thành phố Trung Quốc đã tăng từ 214000 lên 325000 km2, mức tăng đáng kinhngạc là hơn 50% Mở rộng đô thị tăng tốc ở nhiều khu vực Ví dụ, ở tỉnh ven biển khanhiếm đất Chiết Giang, khu đô thị mới được xây dựng cao tới 126,4 km2 mỗi năm từnăm 2000 đến 2004 cao gấp 3,4 lần mức trung bình hàng năm từ
Trang 29năm 1995 đến 1999 Việc mở rộng đô thị nhanh chóng đã dẫn đến rất nhiều đất canhtác được sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp và hàng triệu nông dân bị phế truất.Đến cuối năm 2003, đã có 3837 khu công nghiệp được xây dựng bởi nhiều cấpchính quyền địa phương trên cả nước, và con số này đã nhảy vọt lên mức 6015 đángkinh ngạc vào cuối năm 2006 Mỗi năm, khoảng 2,5 đến 3 triệu nông dân bị mất đi
do mở rộng đô thị
Nhóm tác giả đã kết luận rằng việc thu hồi đất với chi phí thấp là nguyênnhân cơ bản của những biến dạng liên quan đến đất đai đã xảy ra trong quá trình đôthị hóa của Trung Quốc Theo đó, trao cho nông dân quyền đàm phán trực tiếp vớingười sử dụng đất trong quá trình mở rộng đô thị, kết hợp với cải cách thuế đất phốihợp để củng cố cơ sở thuế địa phương là chìa khóa để Trung Quốc đạt được cả hiệuquả sử dụng đất và mở rộng đô thị
1.3.1.1 R Tan, F Qu, N Heerink, E Mettepenningen (2011)
Trong nghiên cứu về chuyển đổi đất từ nông thôn sang thành thị ở TrungQuốc, nhóm tác giả nhận thấy, hệ thống hiện tại chuyển đổi đất nông nghiệp sang sửdụng đất đô thị ở Trung Quốc có thể được mô tả như một hệ thống kết hợp kiểmsoát của chính phủ với chuyển nhượng dựa trên thị trường Với lập luận rằng cấutrúc quản trị hỗn hợp này gây ra sự chuyển đổi quá mức đất nông nghiệp từ nôngthôn sang thành thị
Sử dụng một bộ dữ liệu với thông tin chi tiết về việc mua lại đất nông nghiệp
và giao dịch đất đô thị ở thành phố Yingtan ở tỉnh Giang Tây, kết quả của cho thấy
tỷ lệ chuyển đổi quá mức 33,5% tổng diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi tạithành phố này từ năm 1999 đến 2003
Phúc lợi của chủ sở hữu đất nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi việc chuyển đổi giảm1,38 tỷ RMB, trong khi tổn thất phúc lợi xã hội ròng tương đương hơn 270 triệu RMBtrong cùng thời kỳ Chính quyền địa phương đã thu được 380 triệu RMB doanh thubằng cách bán lại đất nông nghiệp thành đất đô thị thông qua các cơ chế vận
Trang 30chuyển cạnh tranh từ năm 2002 đến 2005, trong khi lĩnh vực sản xuất thu đượckhoảng 280 triệu RMB từ việc mua quyền sử dụng đất với giá tương đối thấp.
Tác giả kết luận rằng chính sách tăng cường chuyển nhượng đất đô thị hiệnnay thông qua các cơ chế cạnh tranh không giải quyết được hai nguyên nhân cơ bảncủa chuyển đổi quá mức và bảo vệ đất nông nghiệp sẽ được phục vụ tốt hơn bằngcách thay thế cấu trúc thị trường đất nông thôn hiện tại thành đất cạnh tranh bằngđất cạnh tranh thị trường
1.3.1.2 Nghiên cứu của Yan Wu, Nico Heerink (2016)
Tranh chấp đất đai là một rủi ro quan trọng đối với sự ổn định xã hội ở TrungQuốc kể từ đầu thế kỷ Do đó, nhóm tác giả điều tra các tác động của đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI) và phân cấp tài chính đối với xung đột quyền tài phán về đất đai
Thông qua việc sử dụng của 30 tỉnh về việc sử dụng đất bất hợp pháp tronggiai đoạn 1999 - 2010 như là một đại diện cho cường độ của xung đột đất đai đểđiều tra các tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và phân cấp tài chính đốivới xung đột quyền tài phán
Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng FDI nói riêng và toàn cầu hóa nói chung
là những con dao hai lưỡi đối với nền kinh tế Trung Quốc FDI có thể ảnh hưởngtích cực đến tăng trưởng kinh tế chung nhưng cũng có thể có tác động tiêu cực khi
có những nhóm có quyền chính trị và tài sản (đất của nông dân trong trường hợpcủa chúng ta) không được bảo vệ tốt Sự xấu đi của phúc lợi (tương đối) của họmang theo hạt giống của sự phản kháng, cách mạng và xung đột quân sự Những tácđộng tiêu cực như vậy cũng được báo cáo trong nghiên cứu gần đây ở các nền kinh
tế đang phát triển khác ở Đông Á, Mỹ Latinh và Châu Phi (Goldberg & Pavcnik,2007) Một nghiên cứu thú vị của Bezemer và Jong-A-Pin (2013) cho thấy toàn cầuhóa làm gia tăng bạo lực sắc tộc ở các nền kinh tế do các nhóm thiểu số thống trị
Phát hiện của nhóm tác giả cho thấy căng thẳng xã hội đối với đất đai ở TrungQuốc cũng là một trong những tác dụng phụ của toàn cầu hóa và sự thống trị của chínhphủ đối với nền kinh tế địa phương Để quản lý lợi ích của sự bùng nổ giá trị
Trang 31đất ở Trung Quốc, các thỏa thuận tài chính có thể được cải thiện hơn nữa bằng cáchphân loại lại các nguồn thu và trách nhiệm chi tiêu của chính quyền địa phương đểhạn chế khuyến khích tham gia vào tài chính đất đai Các quy tắc trưng dụng đất cóthể cần được tăng cường để bảo vệ hiệu quả quyền sử dụng đất của nông dân (vàcác tổ chức tập thể của họ) và cho phép nông dân được hưởng lợi từ giá trị gia tăngđược tạo ra bằng cách lắp ráp và phát triển đất.
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước.
1.3.2.1 Nghiên cứu của Phan Tân (2007)
Thông qua bài nghiên cứu “Một số loại hình xung đột về đất đai ở nông thôn
Hà Tây", tác giả muốn tìm hiểu các chủ thể của xung đột đất là những ai? và mụcđích tham gia xung đột của các chủ thể này là gì?
Sau khi phân tích dữ liệu về các chủ thể chủ động xung đột đất đai và các chủthể tham gia xung đột ở tỉnh Hà Tây từ năm 1995 – 2005, cũng như xem xét mức độ,hình thức, quy mô số người, nhóm xã hội tham gia Tác giả đã kết luận rằng: xung đột
xã hội về đất đai ở Hà Tây ở thời kỳ đổi mới có nhiều hình thức loại hình, từ cấp độ cánhân (xung đột giữa cá nhân với cá nhân về quyền sử dụng đất) đến cấp nhóm (xungđột giữa các thôn với nhau, các làng với nhau) và đặc biệt là loại hình xung đột giữangười dân và các tổ chức kinh tế; người dân và chính quyền địa phương
Thực tế, ở Hà Tây qua nghiên cứu còn cho thấy xung đột thể hiện đa dạngdưới nhiều loại hình như xung đột liên quan đến lợi ích, sự phân chia lợi ích khôngcông bằng qua quá trình chuyển đổi hợp tác xã, thực hiện chính sách đền bù giải tỏamặt bằng và xung đột để xác định quyền sở hữu và không sở hữu, quyền sử dụng vàkhông sử dụng đất đai hưởng lợi từ đất Có những xung đột được gắn với việckhẳng định hệ giá trị văn hóa, danh dự, tôn giáo, dân tộc
Xung đột đất đai còn được biểu hiện từ những xung đột đơn giản( xung độttrong nội bộ nhóm nhỏ quần chúng) đến xung đột phức tạp có thủ lĩnh cầm đầu lôi kéo,
có đặt ra vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc Và mức độ diễn ra các xung đột
Trang 32cũng đa dạng từ những mâu thuẫn nhỏ đến những đụng độ sâu sát lớn gây thiệt hại
về con người, tài sản, để lại di chứng nặng nề về vật chất và tinh thần
1.3.2.2 Nghiên cứu của Trương Thanh Cảnh, Trần Nguyễn Cẩm Lai, Nguyễn
Hoàng Tuấn (2015)
Trong bài nghiên cứu về “Đánh giá xung đột phát sinh trong sử dụng tàinguyên đất từ quá trình đô thị hóa tại Thành phố Đà Nẵng", nhóm tác giả tiến hànhđiều tra , thu thập số liệu và khảo sát trên ba nhóm đối tượng chính: người dân địaphương, cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và các công ty, doanh nghiệp thựchiện dự án bất động sản liên quan đến vấn đề sử dụng đất tại 2 quận Sơn Trà vàCẩm Lệ (đại diện cho đặc trưng đô thị hóa) từ năm 2000 đến năm 2010 Thông quaviệc phỏng vấn đối với người dân, phát phiếu khảo sát tại các cơ quan quản lý vềđất đai và công ty, doanh nghiệp hoạt động bất động sản để nhận diện các vấn đềxung đột và mức độ xung đột
Từ kết quả thu được, nhóm đã chỉ ra có 7 nhóm xung đột chính Trong đó,nhóm các xung đột giữa lợi ích người dân với thực hiện quản lý của chính quyền địaphương là do hạn chế, vi phạm trong công tác quản lý đất đai, quy hoạch sử dụngđất, giải toả đền bù, vấn nạn tham nhũng; hệ thống Luật, chính sách phức tạp, thiếu
rõ ràng, đồng bộ Còn nhóm Xung đột giữa các hình thức sử dụng đất theo các mụcđích khác nhau là do hậu quả của chính sách phát triển đô thị, hạn chế trong côngtác quy hoạch không gian đô thị và do sự gia tăng dân số Cả 2 nhóm xung đột nàyđược nhóm tác giả chi ra rằng có mức độ xung đột cao, phạm vi rộng
1.3.2.3 Nghiên cứu của Đặng Hùng Võ (2012)
Trong nghiên cứu về Phân cấp quyền của Nhà nước đối với quản lý đất đai,quản lý đất đai và việc giám sát – đánh giá sự cần thiết ở Việt Nam của Đặng Hùng Võ– Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Sau khi phân tích, so sánh sự thayđổi trong quy định của Luật Đất đai 2003 với Luật Đất đai 1993, đã chỉ ra rằng phápluật hiện hành về quản lý giá đất được phân thành 2 cấp: Chính phủ quy định khung giáđất; UBND cấp tỉnh quy định bảng giá đất Từ đó dẫn đến các bất cập
Trang 33chủ yếu gồm 3 điểm: một là pháp luật chưa quy định về trình tự, thủ tục về việcquyết định giá đất phù hợp thị trường; hai là giá đất do Nhà nước quy định thấp hơngiá thị trường rất nhiều; ba là cơ quan quyết định về đất đai lại quyết định luôn vềgiá đất làm tăng nguy cơ tham nhũng trong quản lý đất đai.
Đặc biệt, cơ chế phân cấp cho chính quyền cấp tỉnh vừa ban hành quyết địnhthu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và lại vừa ban hành quyết định về giá đất để tínhgiá trị tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà nhà đầu tư phải nộp cũng như tính giá trịbồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất luôn chứa đựng một nguy cơtham nhũng rất cao và là nguyên nhân dẫn tới tình trạng khiếu kiện của người bị thuhồi đất ngày càng nhiều, giải quyết rất khó khăn
1.4 Kết luận chương 1
Tóm lại trong phần này chủ yếu trình bày cơ sở lý thuyết về FDI, phân cấptài khóa và xung đột đất đai Các mối quan hệ giữa FDI – Phân cấp tài khóa, FDI –xung đột đất đai, Phân cấp tài khóa – xung đột đất đai
Từ đó, bài nghiên cứu đưa ra 3 giả thuyết:
Thứ nhất, FDI khi được đầu vào một địa phương sẽ giúp tăng trưởng kinh tế,nâng cao vốn con người, gia tăng dân chủ và cải thiện bộ máy chính quyền Từ đây,các dịch vụ công được đáp ứng tốt hơn và việc khiếu nại tố cáo sẽ có xu hướnggiảm đi Tuy nhiên, FDI cũng làm gia tăng sự đô thị hóa và tích lũy xã hội dẫn đếnnhu cầu và giá cả đất đai gia tăng từ đó gây ra các xung đột về đất đai
Thứ hai, việc phân cấp tài khóa mạnh cho chính quyền địa phương sẽ giúpchính quyền sở tại có đủ không gian để thực hiện các chính sách thu hút FDI giúptăng trưởng kinh tế - xã hội từ đó đáp ứng được các nhu cầu và giảm đi khiếu nạicủa người dân Tuy nhiên, việc gia tăng phân cấp không đi kèm với gia tăng kiểmsoát và việc phân cấp còn nhiều bất cập đã dẫn đến tham nhũng, lợi dụng quá mứcquyền hạn (đưa ra ưu đãi thu hút đầu tư) từ đó dẫn đến xung đột đất đai
Trang 34Thứ ba, để thu hút được nguồn vốn FDI chính quyền địa phương buộc phảiđầu tư vào các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng; và để có được quỹ đất chính quyềnđịa phương phải thực hiện việc thu hồi đất từ người dân Từ đây, các khiếu nại vềcông tác bồi thường sẽ phát sinh Tuy nhiên, nếu chính quyền địa phương thực hiệntốt các vấn đề này, cộng hưởng với các lợi ích mà dự án FDI đem lại sẽ giúp cảithiện kinh tế - xã hội, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của người dân, chính điều này sẽgiúp giảm đi các việc khiếu nại.
Trang 35CHƯƠNG 2:
TÌNH HÌNH PHÂN CẤP TÀI KHÓA, NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ XUNG ĐỘT ĐẤT ĐAI TẠI VIỆT NAM, GIAI
ĐOẠN TỪ 2012-2016
2.1.Thực trạng nguồn FDI tại Việt Nam
2.1.1.Đánh giá về nguồn vốn FDI
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2017 đã có 2741 dự án FDI đượccấp phép mới, với số vốn đăng ký đạt hơn 37,1 tỷ USD, tăng 5% về số dự án vàtăng 38% về vốn đăng ký so với năm 2016 Số dự án được cấp mới hằng năm đãtăng từ 1237 dự án năm 2010 lên 2741 dự án năm 2017 và chỉ duy nhất năm 2011 là
số dự án có hiện tượng giảm
Lũy kế đến ngày 31/12/2017, số dự án FDI còn hiệu lực là 27.454 dự án vớitổng số vốn là 340,85 tỷ USD Tính đến ngày 31/12/2017, tất cả các tỉnh thành đều
có dự án FDI, đứng đầu là TP Hồ Chí Minh với 8.123 dự án với tổng vốn đăng ký
là 62,63 tỷ USD, thấp nhất là tỉnh Điện Biên, Lai Châu với 1 dự án Trong số 71quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam đếnngày 31/12/2017, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 62,6 tỷ, chiếm 18,37% tổngvốn lũy kế; tiếp đến là Nhật Bản chiếm 17%,
Bảng 2.1 Thống kê về số dự án và vốn FDI đăng ký từ năm 2010 - 2017
Nă Số dự án Tổng vốn đăng ký (Triệu đô la