Tôi xin cam đoan rằng bài luận văn “MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ VÀ ĐÒNBẨY TÀI CHÍNH, MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của riêng rôi và
Trang 1HUỲNH HOÀNG TRÚC
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ, ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH HOÀNG TRÚC
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ, ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mãsố: 8340201
̂Ŏ̃́ LUẠN VAN THAC̣ SI KINH TÊ
NGƯƠI HƯƠNG DÂN KHOA HOC:̣
PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2019
Trang 4Tôi xin cam đoan rằng bài luận văn “MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ VÀ ĐÒN
BẨY TÀI CHÍNH, MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của riêng rôi và có sự hỗ trợ
của Giảng viên hướng dẫn là PGS TS Nguyễn Thị Liên Hoa Các thông tin, dữ liệu
sử dụng trong luận văn là trung thực; các nội dung trích dẫn đều được ghi rõ nguồngốc, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa được công bố tạibất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hồ Chí Minh, năm 2019
Người thực hiện
Huỳnh Hoàng Trúc
Trang 6TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC THUẬT NGỮ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 7
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 8
1.4 PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1.5 KẾT CẤU BÀI NGHIÊN CỨU 8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 10
2.1 CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 10
2.2 XÂY DỰNG GIẢ THIẾT 16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 28
3.2 MÔ TẢ VÀ ĐỊNH NGHĨA CÁC BIẾN 33
3.3 THU THẬP DỮ LIỆU 40
3.4 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 57
5.1 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 57
5.2 HẠN CHẾ ĐỀ TÀI 58
5.3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Too big to fail “Quá lớn để sụp đổ” – Một công ty hoặc một
tổ chức có quy mô lớn và có tính kết nối vớinền kinh tế, khi công ty này sụp đổ sẽ khiếncho nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nặngnề
Systemically important financial Các tổ chức tài chính đạt đến trạng thái “toointermediary – SIFI big to fail” phải nằm trong danh sách bị kiểm
soát của chính phủ Các công ty này phảithường xuyên báo cáo tình hình tài chính vàduy trì tỷ lệ rủi ro ở mức quy định
Ngân hàng Trung ương của Mỹ
2 Stage Least of Square - 2 SLS Mô hình hồi quy hai giai đoạn
Trang 10Bảng 2.1 : Tổng quan các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa quy mô vàrủi ro của các ngân hàng
Bảng 2.2 : Tổng hợp các giả thiết
Bảng 3.1 : Tổng hợp các biến
Bảng 3.2 : Danh sách các ngân hàng thực hiện nghiên cứu
Bảng 3.3 : Thống kê mô tả các biến
Bảng 3.4 : Ma trận tương quan Pearson
Bảng 3.5 : Kết quả mô hình hồi quy 2SLS nhằm kiểm định mối quan hệ giữa quy
mô và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 3.6 : Tổng hợp kết quả các biến có mối quan hệ với hệ số Z-score
Bảng 3.7 : Kết quả mô hình hồi quy 2SLS nhằm kiểm định mối quan hệ giữa quy
mô và các thành phần cấu tạo nên Z-score của các ngân hàng thương mại Việt Nam(gồm ROA, CAR, độ lệch chuẩn của ROA)
Trang 12Các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi
ro ngân hàng, đều cho thấy mối quan hệ này là cùng chiều Tuy nhiên, các nghiêncứu này còn thiếu bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển, đại diện
là Việt Nam
Vì thế tác giả quyết định thực hiện đề tài này nhằm kiểm tra xem mối quan hệ giữaquy mô, đòn bẩy tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro cuả các ngân hàng thươngmại Việt Nam Bài nghiên cứu thực hiện dựa trên bộ dữ liệu gồm 23 ngân hàngthương mại cổ phần trong giai đoạn 2009-2017 Tác giả cũng xem xét về mối quan
hệ giữa các thành phần cấu tạo nên hệ số rủi ro Z-score (gồm ROA, độ lệch chuẩnROA và hệ số CAR) và quy mô ngân hàng, và các biến kiểm soát khác
Mô hình hồi quy hai giai đoạn 2 SLS với dữ liệu bảng được sử dụng trong bài nghiên cứu này do xuất hiện nội sinh giữa các biến Kết quả tìm thấy:
• Thứ nhất, mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro
• Thứ hai, mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô và đòn bẩy tài chính
• Thứ ba, mối quan hệ ngược chiều giữa Rủi ro ngân hàng chấp nhận và Tỷ lệ
cổ phần ban quản trị nắm giữ
Dựa trên kết quả bài nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng sẽ giúp các nhà hoạch địnhchính sách có cái nhìn chính xác hơn về ảnh hưởng của quy mô và cấu trúc vốn lênrủi ro ngân hàng chấp nhận Từ đó, đưa ra các quyết định giúp cải thiện quản trị rủi
ro ngân hàng thương mại
Từ khóa : quy mô ngân hàng, rủi ro, đòn bẩy, Too big to fail, 2 SLS
Trang 14Previous researches on the relationship between size and risk-taking of the bank ispositive corelation However, these studies lacked empirical evidence in developingcountries, represented by Vietnam.
Therefore, the author decides to examines the relationship between size, leverage,and risk-taking of 23 commercial banks in Viet Nam during the period of 2009 -2017
The author also examines the relationship between the combination of the Z-score(including ROA, standard deviation of ROA and CAR) and bank size Two-stage 2-SLS regression model with panel data is used due to endogenous variables Thisexam has three contributions:
• First, a positive correlation between bank size and bank risk-taking
• Second, a positive correlation between bank size and leverage
• Third, a negative correlation between risk-taking and holding shares ratio of management
Based on the results of this study, the author expects to help policy makers have aaccurated view of the impact of size and structured of the bank on risks Since then,making decisions to help improve the risk management
Keywords: bank size, risk, leverage, Too big to fail, 2 SLS
Trang 16CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Sự ổn định và thịnh vượng của hệ thống tài chính là bàn đạp rất quan trọng để kinh
tế tăng trưởng bền vững Đặc biệt là các ngân hàng có vai trò rất quan trọng trongviệc dẫn dắt cả nền kinh tế Vì thế nên các tổ chức tài chính và các ngân hàng lớnnày luôn nhận được những lợi ích và ưu ái đặc biệt từ các chính sách của chính phủ,ngân hàng trung ương Các tổ chức khổng lồ này hoạt động với niềm tin rằng sẽnhận được sự hỗ trợ từ chính phủ khi rủi ro xảy ra Vì những đặc quyền đó nên xuấthiện các rủi ro đạo đức kèm theo Các tổ chức “Too big too fail” đã bóp méo các ưuđãi hỗ trợ của chính phủ, những ưu đãi đặc quyền này đã khuyến khích các tổ chứcnày luôn tìm cách tối đa hoá lợi nhuận của mình trong ngắn hạn bằng cách chấpnhận rủi ro quá mức Và khi có rủi ro xảy đến, họ sẽ đi cầu cứu chính phủ với cácchính sách bảo trợ độc quyền mà chỉ họ nhận được Các gói cứu trợ của chính phủ
từ đâu, một câu trả lời rất đơn giản là từ tiền thuế của người dân
Kể từ sau khủng hoảng tài chính thế giới, thuật ngữ “Too big to fail” trở thành tâmđiểm của sự chỉ trích Thuật ngữ “Too big to fail” có nghĩa là các tổ chức tài chínhlớn như các doanh nghiệp, các ngân hàng có quy mô, khả năng kết nối lớn và có sứcảnh hưởng trong nền kinh tế buộc các chính phủ phải tăng cường hỗ trợ họ khi cócác bất ổn tài chính xảy ra dẫn đến sự sụp đổ hệ thống tài chính nhằm tránh nhữngnhững hệ luỵ nghiêm trọng cho cả nền kinh tế
Câu chuyện “Too big to fail” và cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ mở đầu vớiBear Stearns Tháng 3 năm 2008, Bear Stearns là một ngân hàng tuy nhỏ nhưng rấtnổi tiếng trong giới tài chính và là ngân hàng đầu tiên trong danh sách các tổ chứcquá lớn để sụp đổ, JP Morgan Chase đã mua lại ngân hàng này với sự hỗ trợ củaCục dự trữ liên bang Mỹ 30 tỷ USD, vì FED lo ngại rằng sự sụp đổ của BearStearns sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của dân chúng vào hệ thống tài chính của Mỹ.Cùng năm đó, một ngân hàng đầu tư khác Lehman Brothers cũng sụp đổ, tuy nhiên,thời điểm đó, Bộ trưởng Tài chính Hank Paulson không mở gói cứu trợ như đã làm
Trang 17với Bear Stearns Vào thứ hai tiếp theo khi Lehman Brothers nộp đơn xin phá sản,chỉ số Dow Jones giảm 350 điểm Hai ngày tiếp theo, thị trường tài chính rơi vàotrạng thái hoảng loạn.
Câu chuyện cứu trợ hoàn toàn dựa vào số tiền chính phủ đưa ra, các chính sách lúcnày không còn hiệu quả để giải quyết cho khủng hoảng, cuối cùng sau nhiều tínhtoán, khoản cứu trợ 700 tỷ USD được đưa ra để tái cấp vốn cho các ngân hàng lớnđang điêu đứng
Citigroup đổi 27 tỷ USD cổ phần ưu đãi với lãi suất sinh lợi 8%/năm để lấy 20 tỷUSD tiền mặt cứu trợ Các ngân hàng đầu tư Goldman Sachs và Morgan Stanleybuộc phải chuyển thành ngân hàng thương mại để có thể mượn tiền từ FED
Tiếp đó là vụ rót tiền lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ vào Fannie Mae và FreddieMac để Chính phủ đoạt quyền kiểm soát doanh nghiệp Với con số 187.5 tỷ USD,
số tiền này lớn hơn rất nhiều so với đợt bỏ ra cứu trợ trong đợt khủng hoảng tíndụng năm 1989
Fannie Mae và Freddie Mac là hai kẻ khổng lồ đóng vai trò trung tâm trong thịtrường địa ốc Mỹ Hai định chế tài chính này được chính phủ bảo trợ để thu muacác khoản vay mua nhà trả góp từ ngân hàng, các tổ chức tài chính khác rồi bán rathị trường thứ cấp Vì các khoản thế chấp này được ngầm đảm bảo bởi chính phủnên hai công ty này chấp nhận rủi ro nhiều hơn để đem lại lợi nhuận cao hơn Cuốinăm 2007, khi các ngân hàng kiểm soát hoạt động tín dụng chặt chẽ hơn, các khoảnvay trả góp của hai công ty này nắm giữ đã khoảng 90% thị trường Vì thế, chínhphủ không thể không ra tay cứu trợ, một phản ứng dây chuyền chắc chắn sẽ xảy ravới hệ thống tài chính của Mỹ nếu hai kẻ khổng lồ này khủng hoảng
Trường hợp Tập đoàn Bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIG) cũng là một ví dụ điển hình về
“Too big to fail” AIG quá lớn, nằm trong một mạng lưới quá phức tạp của hệ thốngtài chính, nên không thể để rơi vào tình trạng vỡ nợ Vì thế chính phủ phải ra tayứng cứu khẩn cấp với gói cứu trợ trị giá 182 tỷ USD, nhằm đưa AIG thoát khỏinguy cơ phá sản và tránh cho thị trường tài chính nước này một kết cục tồi tệ
Trang 18Để hạn chế những tác động xấu từ các tổ chức tài chính lớn, nhiều ý kiến cho rằngphải giảm sự kết nối giữa các tập đoàn, giảm quy mô của các tập đoàn có sức ảnhhưởng lớn đối với thị trường, khi quy mô, năng lực của các tổ chức này giảm thì sẽlàm mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp giảm, gánh nặng của nền kinh tếcũng giảm xuống.
Năm 2011, Dự luật “Too big to fail” được đề xuất bởi Hạ nghị sĩ Paul Kanjorski củaĐảng Dân chủ được đưa ra Uỷ ban tài chính của Hạ viện Mỹ Theo dự luật này,chính phủ có quyền phân tán, giải thể các công ty tài chính quá lớn, có mức liên kết
và tầm ảnh hưởng quá rộng, đến mức có thể gây hại cho nền kinh tế thậm chí cả khicác công ty này vẫn đang hoạt động tốt
Những người bỏ phiếu thuận cho rằng, chính phủ không thể sử dụng tài sản, tiền thuế của người dân để cứu trợ những “ông lớn” trong ngành tài chính – những công
ty lợi dụng sự hỗ trợ của chính phủ để kiếm lợi nhuận cao và khi đối mặt với khủng hoảng lại đi xin cầu cứu Bản thân các tổ chức tài chính này phải có trách nhiệm vớicác khoản đặt cược đầu tư của mình và phải chịu trả giá khi gặp thất bại Tuy nhiên,khi dự luật này được đưa ra, những lập luật phản đối xuất hiện
• Lập luận đầu tiên là họ cho rằng điều này vi phạm quyền được tự do sở hữu
và được phát triển của cá nhân, tổ chức
• Lập luận thứ hai, khi ràng buộc giảm quy mô, thì sẽ làm suy yếu khả năngcạnh tranh của các tổ chức tài chính trên thị trường quốc tế Và điều đó cũng dẫn đến việc đánh mất thị phần cho các đối thủ cạnh tranh khác
• Lập luận thứ ba, rất khó xác định được ngưỡng quy mô và định nghĩa chínhxác về “ông lớn” trên thị trường Thế nào gọi là lớn và quy mô tầm cỡ cần bị kiểm soát kiềm nén lại
• Lập luận thứ tư, những người phản đối dự luật đã đưa ra các ví dụ rằngkhông chỉ các doanh nghiệp có quy mô lớn, mà cả những doanh nghiệp nhỏ vẫn cótác động đáng kể đến nền kinh tế
Trang 19Dermine và Schoenmaker (2010) cho rằng việc giới hạn quy mô doanh nghiệpkhông phải là công cụ tốt nhất, dựa trên phát hiện rằng các nước có ngân hàngtương đối nhỏ phải đối mặt với chi phí cứu trợ lớn; ngoài ra, bài nghiên cứu này còncảnh báo rằng việc giới hạn quy mô có thể có các tác động không mong muốn,chẳng hạn như thiếu đa dạng rủi ro tín dụng.
Theo họ, quy mô không phải là yếu tố tác động đến việc chấp nhận rủi ro của những
tổ chức tài chính, ngân hàng lớn Việc kiểm soát quy mô và sự phát triển của cácdoanh nghiệp là hoàn toàn phi lý
Sau khủng hoảng 2008, câu chuyện về việc các tổ chức “Too big to fail” lại đưa ramột cái nhìn khác về việc quy mô ảnh hưởng đến rủi ro doanh nghiệp Cụm từ SIFIđược thay thế và các doanh nghiệp không còn muốn khuyếch đại quy mô Các tậpđoàn với quy mô lớn không còn nhận được đặc quyền từ chính phủ, và nếu đã đạt ởtrạng thái “too big” sẽ được chính phủ thêm vào danh sách SIFI, đây là danh sáchcác tổ chức tài chính có quy mô lớn mà chính phủ cần giám sát cứng rắn và chặt chẽhơn so với các tổ chức quy mô nhỏ Với quy mô lớn và sức ảnh hưởng với nền kinh
tế, khi các tổ chức tài chính đạt đến ngưỡng có thể vào SIFI, họ sẽ dừng lại xemphương án nào sẽ có lợi cho công ty
Tuỳ vào chiến lược công ty, một số sẽ vẫn tiếp tục gia tăng đầu tư khuyếch đại tàisản và doanh thu để được vào nhóm SIFI để nhận được sự cứu trợ của chính phủ khikhủng hoảng New York Community Bancorp là tập đoàn tài chính nắm giữ lượngtiền gửi tiết kiệm lớn thứ 4 tại Mỹ, thực hiện kế hoạch nhằm thu mua công ty tàichính Astoria – công ty mẹ của Astoria Bank, nhằm mục đích mở rộng mạng lướingân hàng của hãng Các công ty trong nhóm SIFI dù họ phải chịu nhiều quy địnhkiểm soát nghiêm ngặt và yêu cầu minh bạch tài chính của chính phủ hơn các công
ty khác, thường xuyên báo cáo tình hình tài chính và kiểm soát rủi ro chặt chẽnhưng đổi lại họ sẽ đảm bảo nhận được sự ưu ái của chính phủ khi nền kinh tế bịkhủng hoảng
Một số công ty khác lại có lối đi riêng tránh gia nhập vào SIFI bằng cách chia táchcác bộ phận hoạt động, thu nhỏ quy mô Họ cho rằng việc bị chính phủ kiểm soát sẽ
Trang 20cản trở sự phát triển của công ty Các dự án với lợi nhuận khổng lồ nhưng đi kèmrủi ro cao sẽ khó để vượt qua các quy định của chính phủ First Niagara Bank - vớigiá trị tài sản là 39 tỷ USD, nhưng họ không muốn trở thành một SIFI, thay vào đó
họ lại đang đàm phán để tự bán mình cho Ohio Keycorp vì họ cho rằng gia nhậpSIFI sẽ làm cản trở sự phát triển
Sau khủng hoảng 2009, không còn có thể khẳng định theo “Too big to fail” rằng cáccông ty càng lớn thì mức độ chấp nhận rủi ro càng cao, mà các công ty này chấpnhận sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ Ngược lại các công ty đang trên đà tăngtrưởng mạnh lại kiểm soát chặt chẽ quy mô để không gia nhập nhóm SIFI, để có thểđược tự do phát triển, chấp nhận các dự án rủi ro để thu về được lợi nhuận khủng,câu chuyện về quy mô lớn với mức độ chấp nhận rủi ro cao không còn đúng tại thờiđiểm hiện tại
Tại Việt Nam, những ngân hàng nhỏ lại là những ngân hàng gây ra rủi ro lan truyềntrong nền kinh tế Nhiều sự kiện từ ba ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhànước mua giá 0 đồng đã cho thấy khủng hoảng bắt đầu từ những ngân hàng nhỏ lẻgồm Ngân hàng Xây dựng (VNCB), Ngân hàng Đại Dương (OceanBank), Ngânhàng Dầu khí Toàn cầu (GPBank)
Từ thời điểm Ngân hàng xây dựng - VNCB là ngân hàng đầu tiên bị NHNN mua lạibắt buộc toàn bộ cổ phần với giá 0 đồng cho đến nay Những ngân hàng 0 đồng nàysau khi tái cấu trúc vẫn không cho thấy kết quả khả quan Cuối năm 2017, kiểm toánnhà nước cho thấy kết quả tái cơ cấu đều không mấy khả quan, tài chính của cả bangân hàng vẫn không được cải thiện, hoạt động kinh doanh tiếp tục thua lỗ lớn, việc
âm vốn chủ sở hữu ngày càng tăng
Từ ngày 15/1/2018, Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi đã chính thức có hiệu lực thihành cho phép các ngân hàng yếu kém được phép phá sản Và bảo hiểm tiền gửi tạiViệt Nam, cả gốc và lãi của một cá nhân tối đa là 75 triệu đồng, tăng từ 25 triệuđồng lên 75 triệu đồng Con số 75 triệu này là khá thấp và vô lý dù số tiền gửi củangười dân có thể trên vài trăm triệu hoặc vài tỷ đồng Khi ngân hàng thực sự phá
Trang 21sản, người dân sẽ mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng, dẫn đến việc rút tiền ào ạt, mua vàng và ngoại tệ cất vào két sắt, nguồn vốn khan hiếm càng khan hiếm hơn Tuy nhiên, các ông lớn ngân hàng và cả các ngân hàng nhỏ vẫn sẽ được ngân hàng nhà nước và chính phủ hỗ trợ để không phá sản Việc ngân hàng nhà nước cho phép
tổ chức tín dụng phá sản chỉ là biện pháp cuối cùng khi các tổ chức này không thực hiện được các phương án phục hồi, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, và chuyển giao bắt buộc
Bởi tại Việt Nam, tâm lý và trình độ người dân vẫn phụ thuộc vào hiệu ứng bầy đàn,bất cân xứng thông tin nên việc cho phép một ngân hàng được phép phá sản có thể
đe doạ đổ vỡ dây chuyền, gây mất an toàn hệ thống ngân hàng và kéo theo nhữngtác động tiêu cực đến nền kinh tế Bên cạnh đó, cứu trợ các ngân hàng hoạt độngyếu kém là một tín hiệu của ngân hàng nhà nước cho người dân an tâm gửi tiền vào
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng tìm hiểu quy mô của ngân hàng và tỷ lệ đòn bẩy
có liên hệ gì với nhau không ?
Các ngân hàng có quy mô lớn không chỉ nhận được đặc quyền của chính phủ màcòn nhận được thêm các đặc quyền trong việc huy động vốn
Ngân hàng quy mô càng lớn thì càng dễ huy động nguồn vốn từ tiền gửi công chúng
và đi vay từ các tổ chức tài chính khác, bởi quy mô càng lớn thì càng có mức độ tínnhiệm, khả năng về tài chính và nguồn lực càng cao Ngoài ra, việc quản trị rủi rocủa các ngân hàng lớn cũng tốt hơn nên điều này hàm ý rằng đòn bẩy tài chính củacác ngân hàng quy mô lớn sẽ lớn hơn các ngân hàng nhỏ
Trang 22Các ngân hàng nhỏ, quy mô được tính chủ yếu dựa trên tài sản của cổ đông, rủi rocủa các cổ đông sẽ rất lớn nếu các nhà quản trị chọn tỷ lệ đòn bẩy cao, họ sẽ dùngquyền lực của mình để đảm bảo duy trì tỷ lệ đòn bẩy thấp, mức độ chấp nhận rủi ronhỏ hoặc vừa phải.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, các ngân hàng nhỏ - khả năng quản trị rủi royếu hơn nên không thể xác định được tỷ lệ đòn bẩy thích hợp, dẫn đến tỷ lệ đòn bẩycao Các ngân hàng lớn với vốn chủ sở hữu cao, các cổ đông sẽ yêu cầu về việcquản trị rủi ro chặt chẽ để đảm bảo nguồn vốn của họ, tỷ lệ đòn bẩy thấp
Vì các cổ đông cũng ảnh hưởng đến mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận, nên bàinghiên cứu cũng sẽ đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa mức độ chấp nhận rủi ro củamột ngân hàng và số lượng cổ phần được nắm giữ bởi các giám đốc, hội đồng quảntrị
Xuất phát từ thực tiễn tại Việt Nam, tác giả quyết định thực hiện đề tài tìm hiểu Mối
quan hệ giữa quy mô và đòn bẩy tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng thương mại Việt Nam Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong khoảng thời
gian 2009-2017 với 23 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
Mục tiêu của bài nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và đònbẩy tài chính, khả năng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại ViệtNam giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2017
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng tìm hiểu về việc nắm giữ cổ phần của hội đồngquản trị và giám đốc điều hành ngân hàng, có giúp làm giảm mức độ chấp nhận rủi
ro mà ngân hàng gánh chịu
Bài nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn một quy mô thích hợp
để có thể đem lại một kết quả tốt nhất khi thực hiện việc quản trị rủi ro Thông qua
đó, các nhà quản lý sẽ nắm bắt được tình hình thực tế ở các ngân hàng thương mạihiện nay, tiến hành cải tiến và hoàn thiện quá trình quản trị rủi ro
Trang 231.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu sẽ làm rõ những câu hỏi sau:
• Có hay không mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro tại các
ngân hàng thương mại Việt Nam? Nếu có, mối tương quan giữa quy mô vàmức độ chấp nhận rủi ro là cùng chiều hay ngược chiều?
• Có hay không mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và tỷ lệ đòn bẩy tài chính
của các ngân hàng thương mại Việt Nam? Nếu có, mối tương quan giữa quy
mô và tỷ lệ đòn bẩy tài chính là cùng chiều hay ngược chiều?
• Việc các thành viên trong hội đồng quản trị nắm giữ lượng lớn cổ phần của
ngân hàng thì có tác động gì đến mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chấpnhận hay không? Giám đốc điều hành ngân hàng nếu như có nắm giữ cổphần thì có bị ảnh hưởng khi ra các quyết định hay không?
1.4 PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tác giả thực hiện bài nghiên cứu với bộ dữ liệu gồm 23 ngân hàng thương mại cổphần trong giai đoạn 2009-2017 Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy hai giaiđoạn 2 SLS với dữ liệu bảng do xuất hiện biến bị nội sinh trong mô hình
1.5 KẾT CẤU BÀI NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu gồm 5 phần và được trình bày theo kết cấu sau:
• Phần 1 : Giới thiệu : Đầu tiên tác giảgiới thiệu tổng quan vềđềtài nghiên cứu,
và trình bày lý do choṇ đềtài, muc̣ tiêu bài nghiên cứu, ý nghiã và kết cấu củanghiên cứu
• Phần 2 : Tổng quan lý thuyết : Tác giảse ̃trình bày các bài nghiên cứu trước
đây trên thếgiới Từ các bài nghiên cứu trên, tác giảxây dưng̣ các giảthuyếtcho bài nghiên cứu này
• Phần 3 : Phương pháp nghiên cứu : Phần này se ̃trình bày lần lươṭ vềmô hình
nghiên cứu, giải thích các biến trong bài và cách thu thập dữliệu nghiên cứu
Trang 24bày kết quảkiểm đinḥ.
• Phần 4 : Kết quả nghiên cứu : Phần này se ̃trình bày các kết luận vềmối quan
hệ giữa quy mô doanh nghiệp và chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thưong
̛̛maịViệt Nam, so sánh kết quảvới các bài nghiên cứu trước đây, và đưa ramột sốkiến nghi ̣cho ngân hàng Đồng thời đưa ra một sốđinḥ hướng đểpháttriển đềtài
• Phần 5 : Kết luận : Phần này se ̃tổng kết laịbài nghiên cứu, các kết quảđaṭ
đươc̣ và nêu lên những haṇ chếkhi thưc̣ hiện đềtài này
Trang 25CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đã tạo ra sự quan tâm to lớn trong việc nghiêncứu rủi ro của các tổ chức tài chính
Saunders, Stock và Travlos (1990) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu
đến mức độ chấp nhận rủi ro Bài nghiên cứu được thực hiện với 38 ngân hàng niêmyết lớn ở Mỹ từ năm 1978 – 1985 Kết quả cho thấy tương quan dương giữa tổng tàisản và rủi ro Rủi ro được đo lường bằng độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổphiếu Kết quả còn cho thấy, ban quản trị của ngân hàng thể hiện hành vi chấp nhậnrủi ro cao hơn khi ban quản trị cũng là chủ sở hữu ngân hàng
Boyd và Runkle (1993) nghiên cứu dựa trên các ngân hàng lớn được niêm yết trên
thị trường chứng khoán ở Mỹ cho thấy rằng tổng tài sản và mức độ chấp nhận rủi ro
có mối quan hệ ngược chiều Ngoài ra còn cho thấy độ lệch chuẩn ROA và tỷ lệ vốnchủ sở hữu tương quan ngược với tổng tài sản
Demsetz, Saidenberg và Strahan (1997) nghiên cứu dựa trên 134 ngân hàng lớn
niêm yết tại My từ năm 1980 – 1993 Rủi ro của ngân hàng được đại diện là rủi rođặc thù Quy mô được đo lường bằng logarit của tổng tài sản Kết quả cho thấy cómối quan hệ ngược chiều giữa quy mô và rủi ro Quy mô của ngân hàng không ảnhhưởng đến việc quản trị rủi ro Cấu trúc sở hữu vốn có tác động đáng kể đến rủi ro ởcác ngân hàng có giá trị nhượng quyền thấp
Boyd, De Nicolo và Al Jalal (2006) nghiên cứu ở các ngân hàng nhỏ hoạt động ở
khu vực phi nông thôn tìm thấy mối tương quan ngược chiều giữa tổng tài sản vàrủi ro Rủi ro được đại diện bởi Z-score và tỷ lệ vốn trên vốn chủ sở hữu
Houston và cộng sự (2010) nghiên cứu gồm 300 ngân hàng trên thế giới từ
2000-2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng tài sản có mối quan hệ tương quan cùngchiều với độ lệch chuẩn lợi nhuận hàng ngày của cổ phiếu, nghĩa là quy mô có mốitương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro Biến đại diện cho mức độ chấpnhận rủi ro là Z-score, ROA, tỷ lệ an toàn vốn CAR, độ lệch chuẩn của ROA
Trang 26Laeven và Levine (2009) đã nghiên cứu dữ liệu của 270 ngân hàng lớn nhất tại 48
quốc gia Dữ liệu được thu thập từ 10 ngân hàng công lớn nhất mỗi quốc gia từ năm
1996 đến năm 2001 Họ tìm thấy một mối tương quan dương đáng kể giữa cácquyền nắm giữ dòng tiền của các cổ đông lớn nhất trong ngân hàng và rủi ro ngânhàng gánh chịu, mà rủi ro được đo lường bởi logarit Z-score Tác giả xem xét sửdụng giá trị tổng tài sản ngân hàng để đại diện cho quy mô ngân hàng Bài nghiêncứu cũng cho thấy mối tương quan dương giữa rủi ro và quy mô ngân hàng Các tácgiả cho rằng kết quả này phụ thuộc nhiều vào cấu trúc sở hữu của các ngân hàng.Các ngân hàng được điều hành trực tiếp bởi những chủ sở hữu thì có xu hướng chấpnhận rủi ro nhiều hơn nhằm bù đắp cho các chi phí khi đứng trước các yêu cầu vềvốn cao
Sanjai Bhagat và cộng sư ̣(2017) đã nghiên cứu mẫu gồm 702 tổ chức tài chính
(599 ngân hàng thương mại, 60 ngân hàng đầu tư, 43 công ty bảo hiểm nhân thọ, từ2002-2012 Tác giả tìm thấy mối tương quan dương giữa giữa quy mô và mức độchấp nhận rủi ro Trong đó, quy mô được đo lường bằng tổng tài sản doanh nghiệp,sau đó sử dụng doanh thu để kiểm tra tính vững của mô hình Rủi ro được đo lườngbằng Z-score Rủi ro của các ngân hàng tăng cao nguyên nhân là do sự gia tăng của
tỷ lệ nợ vay Các ngân hàng thương mại có ban quản trị nắm giữ cổ phần càng lớnthì mức độ chấp nhận rủi ro càng thấp Các ngân hàng đầu tư có khả năng chấpnhận rủi ro nhiều hơn các ngân hàng thương mại
Beltratti và Stulz (2012) khai thác sự thay đổi trong hiệu suất hoạt động của 164
ngân hàng lớn (được xác định là ngân hàng có tổng tài sản lớn hơn 50 tỷ USD) trêntoàn thế giới trong giai đoạn khủng hoảng tài chính (2007-2008) Họ ghi nhận cácngân hàng nhỏ hơn với quyền sở hữu tập trung và lợi nhuận ngoài lãi càng cao thìrủi ro của ngân hàng càng cao
Cheng, Hong và Scheinkman (2010) nghiên cứu dựa trên mẫu các tổ chức tài chính
tại Mỹ, họ nghiên cứu xem có phải chế độ đãi ngộ có ảnh hưởng đến việc chấp nhậnrủi ro quá mức của công ty không Kết quả nghiên cứu cho thấy, rủi ro gánh chịu,
Trang 27được đo lường bởi beta và biến động lợi nhuận cổ phiếu, tương quan với khoản chitrả trong ngắn hạn như là các khoản thưởng.
Balachandran, Kogut, và Harnal (2010) cũng có bài nghiên cứu tương tự, việc chi
trả cổ phần như là các cổ phiếu hạn chế, các quyền chọn làm tăng khả năng kiệt quệtài chính của doanh nghiệp, trong khi việc chi trả không phải bằng cổ phần như làtiền mặt, làm giảm khả năng kiệt quệ
Bolton, Mehran và Shapiro (2010) đề xuất giải quyết việc chấp nhận rủi ro quá mức
bằng cách buộc các chế độ đãi ngộ phụ thuộc vào giá của chứng khoán và nợ
Vai trò của quản trị doanh nghiệp đối với mức độ chấp nhận rủi ro của doanhnghiệp vẫn chưa có bằng chứng cụ thể và không rõ ràng Lý thuyết tiêu chuẩn vềviệc quản trị doanh nghiệp dự đoán rằng các doanh nghiệp có quản trị tốt hơn sẽtăng giá trị doanh nghiệp bằng cách áp dụng các dự án có giá trị hiện tại thuần(NPV) Tuy nhiên, nó không loại trừ được khả năng công ty đầu tư vào dòng tiền córủi ro cao Do đó, có thể là do lợi ích cổ đông nên ban quản trị chấp nhận các dự án
có rủi ro miễn là dự án đó đem lại lợi nhuận cao hơn
Ngoài ra, lý thuyết Quyền chọn (Black and Scholes, 1973) cho thấy rằng giá trị củamột quyền chọn tăng lên với sự biến động của tài sản cơ sở Vì cổ đông của công tychủ yếu nắm giữ quyền chọn mua với tổng giá trị của công ty là tài sản cơ bản vàgiá trị nợ là giá thực hiện (giả định công ty có nợ rủi ro), theo đó dòng tiền của công
ty càng biến động nhiều thì quyền chọn mua càng có giá trị Do đó, giá trị của cổphiếu phổ thông tăng lên
Dựa trên các tranh luận của các bài nghiên cứu trên, bài nghiên cứu này mong đợi
có mối tương quan dương giữa việc quản trị rủi ro hiệu quả và việc chấp nhận rủi rocủa doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng có những tranh luận đối nghịch với các lập luậntrên
Rajan (2006) và Diamond và Rajan (2009) chỉ ra, cấu trúc đãi ngộ thì khác nhau
trong ngành tài chính, khi đó thành tích của CEO sẽ dựa trên lợi nhuận họ tạo rađược cho công ty
Trang 28Với áp lực này, các nhà quản lý được khuyến khích để chấp nhận các dự án có rủi
ro cao hơn để đạt được lợi nhuận trong ngắn hạn ngay cả khi họ không thể tối đahoá hết giá trị của doanh nghiệp trong ngắn hạn
Trong bài nghiên cứu của Diamond và Rajan (2009), “ngay cả khi các nhà quản lý
nhận ra rằng chiến lược này không thực sự tạo ra giá trị, tuy nhiên với mong muốntăng giá cổ phiếu và danh tiếng cá nhân của CEO, họ có thể khiến chiến lược nàytrở thành lựa chọn hấp dẫn nhất để thực hiện cho doanh nghiệp”
Nếu lập luận trên là chính xác, bài nghiên cứu kỳ vọng các tổ chức tài chính sẽ cócách quản trị tốt hơn để đặt ra các ưu đãi và quyền kiểm soát để tránh các xung độtlợi ích có hại cho các cổ đông Theo hướng này, bài nghiên cứu thấy có mối quan hệngược chiều giữa việc quản trị doanh nghiệp hiệu quả và việc chấp nhận rủi ro.Bởi vì hai lập luận đối kháng này, tác động của việc quản trị doanh nghiệp đối vớiviệc chấp nhận rủi ro phải có một kết quả thực nghiệm để chứng minh
Trang 29Bảng 2.1 : Tổng quan các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa quy mô và rủi ro của các ngân hàng
Công ty năm giữ Tỷ lệ vốn chủ sởngân hàng có tài hữu trên tài sảnsản trên 1 tỷ đô la
CRSP> 30
có dữ liệu trên 3 Tỷ lệ vốn trên
thôn
Trang 30Laeven and 1996-2001 BankScope & Z-score Log của tổng tài - Quyền về dòng
10 ngân hàng cônglớn nhất của mỗiquốc gia
ROA
Tỷ lệ nắm giữ củaCEONguồn : Tác giả tổng hợp từ bải nghiên cứu trước
Trang 312.2 XÂY DỰNG GIẢ THIẾT
2.2.1 Mối quan hệ giữa quy mô Ngân hàng và mức độ chấp nhận rủi ro
➢ Lập luận giả thiết H1a
Trong bài nghiên cứu của Sanjai Bhagat & Bolton (2015), các nhà quản lý ngân
hàng biết rằng, việc quy mô của ngân hàng tăng lên và đạt đến trạng thái “Too big
to fail” thì ngân hàng sẽ được nhiều ưu đãi hơn từ chính phủ và ngân hàng nhànước Bởi khi đã đạt đến trạng thái quy mô lớn ảnh hưởng đến nền kinh tế, một khicác ngân hàng này sụp đổ, cả hệ thống tài chính và toàn bộ nền kinh tế cũng bị ảnhhưởng theo Chính vì những đặc quyền vượt trội nên các ngân hàng càng có độnglực để tăng mạnh quy mô để tiếp tục theo đuổi các dự án có rủi ro cao và lợi nhuậncực lớn mà vẫn có biện pháp cứu trợ từ chính phủ khi khủng hoảng xảy ra Các ngânhàng thực hiện các chính sách để kích thích tăng mạnh quy mô của mình, chấp nhậncác dự án có rủi ro cao, dù có những dự án đem lại dòng tiền âm (NPV<0) Cácngân hàng thường xuyên chấp nhận các dự án có lợi nhuận khổng lồ nhưng kèmtheo rủi ro cao sẽ cố gắng tăng quy mô của mình
Khi một ngân hàng chấp nhận một dư ̣án có quá nhiều rủi ro, ngân hàng đó buộclòng phải tăng nguồn vốn chủsởhữu đểđảm bảo tính an toàn cho ngân hàng –“Giảthuyết điều chinh̉” Vì khi một ngân hàng có nguồn vốn chủ sở hữu lớn, điều đó cảmgiác se ̃taọ ra một vòng tròn bảo trơ ̣đảm bảo an toàn cho ngân hàng
Chính vì những lý luận trên, tác giả đưa ra giả thiết H1:
H1a : Có mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô ngân hàng và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận.
➢ Lập luận giả thiết H1b
Khi quy mô ngân hàng càng lớn, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọngđáng kể, các cổ đông sẽ yêu cầu nhà quản trị thiết lập các danh mục để đa dạng hoárủi ro nhằm bảo toàn nguồn vốn Nhà quản trị các ngân hàng lớn có nhiều kinhnghiệm hơn trong việc quản trị rủi ro so với các ngân hàng quy mô nhỏ Lúc này,nguồn vốn chủ sở hữu được xem như là một bộ đệm hạn chế thiệt hại cho ngân
Trang 32Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Kane, 2002, rủi ro đạo đức sẽgiảm xuống nếu như quy mô ngân hàng càng lớn Bài nghiên cứu nói rằng, rủi rođạo đức liên quan đến việc trục lợi từ bảo hiểm tiền gửi Các ngân hàng sẽ chạy theolợi nhuận mà bỏ qua việc kiểm soát rủi ro
Bảo hiểm tiền gửi là công cụ được triển khai để đảm bảo người gửi tiền vào ngânhàng khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, không thể trả lãi và hoàn trả tiền gửicho người gửi khi người gửi yêu cầu rút hết số tiền trong tài khoản ra Tuy nhiên, vì
có các khoản bảo hiểm tiền gửi này, nên ngân hàng tập trung vào các dự án sinh ralợi nhuận nhiều hơn, đi kèm với rủi ro nhiều hơn, nếu có vấn đề gì xảy ra với nguồnvốn ngân hàng, đã có bảo hiểm tiền gửi bù đắp
Khi quy mô nguồn vốn lớn, ban quản trị ngân hàng có trách nhiệm nhiều hơn trongviệc tạo lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo bảo toàn nguồn vốn cho các cổ đông Các cổđông nắm vị trí chủ chốt trong các ngân hàng đã bỏ ra một lượng tiền lớn vào ngânhàng, họ sẽ có một số quyền lực nhất định để yêu cầu ban quản trị, giám đốc điềuhành tạo ra lợi nhuận nhất định nhưng vẫn đảm bảo nguồn vốn của họ
Quy mô ngân hàng càng lớn, việc quản trị rủi ro càng được đảm bảo hơn Tác giảđưa ra giả thiết H2:
H1b : Có mối quan hệ ngược chiều giữa Quy mô ngân hàng và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận.
Mặc dù thực tế, tại Việt Nam, các ngân hàng rơi vào khủng hoảng và được nhà nước cứu trợ là các ngân hàng có quy mô nhỏ, tuy nhiên, tác giả vẫn kỳ vọng kết quả bài nghiên cứu này về việc quy mô tăng thì mức độ chấp nhận rủi ro chấp nhận cũng tăng lên, phù hợp và trùng với phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới.
Trang 332.2.2 Mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và đòn bẩy tài chính
➢ Lập luận giả thiết H2a
Đòn bẩy tài chính liên quan việc xác định tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn của ngân hàng.Nhiệm vụ của các nhà quản trị là lựa chọn một tỷ lệ thích hợp để tối đa hoá lợinhuận của doanh nghiệp Tuỳ vào quy mô của ngân hàng mà các nhà quản trị lựachọn các tỷ lệ đòn bẩy khác nhau
Trong các bài nghiên cứu trước đây của Harris và Ravi (1990), Y Wiwattanakatang(1999), J J Chen, Yan Xue, (2004) cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quy môdoanh nghiệp và đòn bẩy tài chính
Các ngân hàng có quy mô lớn thì dòng tiền càng ổn định, năng lực quản trị, đa dạnghoá đầu tư và việc nhận biết thông tin bất cân xứng càng tốt hơn, vì thế khả năngphá sản cũng thấp hơn so với các ngân hàng còn lại Quy mô ngân hàng càng lớn thìkhả năng huy động được từ tiền gửi công chúng và đi vay từ các tổ chức tài chínhkhác sẽ dễ dàng hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ Điều này cho thấy, các ngânhàng lớn thì tỷ lệ nợ cao hơn
Theo quan điểm của “Lý thuyết đánh đổi” - Kraus & Litzenberger (1973), các nhàquản trị tin rằng sẽ có một cấu trúc vốn tối ưu giúp tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.Cấu trúc vốn của doanh nghiệp được xác định dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích tấmchắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính Khi doanh nghiệp tăng tỷ lệ đòn bẩy tàichính lên, vay càng nhiều thì lợi ích của tấm chắn thuế càng lớn, đồng thời chi phíkiệt quệ tài chính cũng tăng Các chủ nợ của doanh nghiệp sẽ yêu cầu một tỷ suấtsinh lợi cao hơn bù đắp rủi ro tăng lên, chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng.Theo Castanias (1983), khi lợi nhuận biên từ tấm chắn thuế cân bằng với chi phí củakiệt quệ tài chính thì dừng vay thêm nợ
Do lợi ích từ tấm chắn thuế và lợi thế về khả năng huy động vốn tốt, các doanhnghiệp lớn càng có động lực để đi vay nhiều hơn
Theo lý thuyết đánh đổi cấu trúc, quy mô doanh nghiệp và cấu trúc vốn có sự tươngquan thuận Doanh nghiệp có quy mô lớn và đa dạng hoá danh mục hoạt động có rủi
ro phá sản thấp hơn khi so sánh với các doanh nghiệp nhỏ hơn Các doanh
Trang 34nghiệp lớn sẽ có lợi thế khi hợp tác với các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp này
sẽ nhận được ưu đãi về chi phí giao dịch, lãi suất vay
Các doanh nghiệp nhỏ thường không nhận được khoản ưu đãi này do tần suất giaodịch thấp, quy mô đơn hàng nhỏ và quy mô khoản vay nhỏ
Theo bài nghiên cứu của Ozkan (2001) các doanh nghiệp có quy mô nhỏ dễ bị tổnthương trước những biến động của nền kinh tế và rủi ro phá sản cao hơn, vì thế khảnăng huy động vốn bị hạn chế
Ngoài ra, nguồn vốn dựa trên tài sản của cổ đông, các quyết định sai lầm về tàichính sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ Các cổ đông sẽ sử dụng quyềnlực của mình để đảm bảo các nhà quản lý duy trì tỷ lệ đòn bẩy thấp hoặc vừa phải
H2a : Có mối quan hệ cùng chiều giữa Quy mô ngân hàng và đòn bẩy tài chính.
Tác giả kỳ vọng về mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và đòn bẩy tài chính, trùng với kết quả của bài nghiên cứu nền tảng Sanjai Bhagat & Bolton (2015).
➢ Lập luận giả thiết H2b
Ngân hàng có quy mô lớn nghĩa là số tiền bỏ ra của các cổ đông cũng lớn hơn rấtnhiều so với các cổ đông các ngân hàng quy mô nhỏ hơn, vì thế, các cổ đông muốnnhận được sự đảm bảo để nguồn vốn họ đầu tư được sử dụng hiệu quả tối đa nhất,đồng thời phải bảo toàn nguồn vốn của họ Khi người điều hành ngân hàng – tổnggiám đốc CEO sử dụng tỷ lệ nợ vay nhiều hơn, rủi ro của các cổ đông cũng nhiềuhơn Vì thế các cổ đông sẽ sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo các CEO sẽ duytrì tỷ lệ vay thấp
Theo lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết này chỉ ra rằng có mối quan hệ ngượcchiều giữa quy mô ngân hàng và cấu trúc vốn Lý thuyết trật tự phân hạng phát triểndựa trên việc bất cân xứng thông tin tác động đến các quyết định đầu tư và tài trợcủa doanh nghiệp Các doanh nghiệp phát hành các chứng khoán thì các nhà đầu tưmới sẽ yêu cầu một mức chiết khấu cao hơn do họ cho rằng các nhà quản trị và cácnhà cổ đông hiện tại sẽ nắm giữ nhiều thông tin hơn của doanh nghiệp, bên cạnh đó
Trang 35cũng tạo ra nhiều tín hiệu cho thị trường về hiện trạng công ty Bởi vì bất cân xứngthông tin dẫn đến việc huy động vốn tốn nhiều chi phí, và tạo tín hiệu không tốt rangoài thị trường, khi có nhu cầu vốn, các nhà quản trị sẽ sử dụng nguồn tài trợ nội
bộ từ lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp, huy động bằng các khoản vay, và cuốicùng mới là phát hành cổ phần thường mới
Trong các nghiên cứu về việc xác định mức vốn tốn thiểu của ngân hàng của
Shrieves vàDahl (1992) vàcác bài nghiên cứu mởrộng đươc̣ thưc̣ hiện bởi JacquesvàNigro (1997), vàEdiz, Michael vàPerraudin (1998), đưa ra kết luận về việc điềuchỉnh tỷ lệ vốn của ngân hàng tốn rất nhiều chi phí, nên các ngân hàng sẽ giữ nhiềuvốn bằng hoặc hơn mức vốn tối thiểu ngân hàng nhà nước yêu cầu Phần vốn đượcgiữ dư ra so với quy định tối thiểu được gọi là “đệm vốn” Myers and Majluf (1984)cho rằng các thông tin về việc ngân hàng thiếu vốn sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hìnhảnh và giá trị của ngân hàng do bất cân xứng thông tin trên thị trường, do đó, cácngân hàng luôn đảm bảo việc duy trì tỷ lệ vốn dư thừa để phòng ngừa các trườnghợp bất ổn xảy ra dẫn đến thiếu vốn
Các doanh nghiệp có quy mô lớn thường sẽ có vốn nhàn rỗi và lợi nhuận giữ lại cao,
vì thế các doanh nghiệp này sẽ huy động nguồn bên trong doanh nghiệp trước khihuy động ra bên ngoài bằng hình thức đi vay hoặc phát hành cổ phiếu mới Quy môcàng lớn, tỷ đòn bẩy tài chính càng thấp
H2b : Có mối quan hệ ngược chiều giữa Quy mô ngân hàng và đòn bẩy tài
chính.
2.2.3 Mối quan hệ giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi Hội đồng quản trị, nhà điều hành CEO và mức độ chấp nhận rủi ro
Các định hướng, các quyết định cho vay và đầu tư của ngân hàng là một quyết định
vô cùng quan trọng giúp cho doanh nghiệp có thể tạo lập, duy trì và mở rộng dự ánhoạt động Tuy nhiên, đáng lý những quyết định này phải mang tính khoa học, dựatrên các dữ liệu phân tích, những báo cáo cụ thể, thì các quyết định này lại bị ảnh
Trang 36hưởng bởi tâm lý, thái độ của Tổng giám đốc – CEO, Hội đồng quản trị và các cổđông.
Trong một ngân hàng với các cơ chế đặc thù và quy mô lớn, các cổ đông – nhữngngười sở hữu ngân hàng không đủ năng lực chuyên môn, sẽ không thể nào có thểkiểm soát hết các hoạt động và quản lý hết mọi việc Vì thế, các cổ đông sẽ họp lạithành lập Hội đồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông lại bầu ra Hội đồng quản trị Hộiđồng quản trị thay mặt các cổ đông của doanh nghiệp để thuê một người để điềuhành doanh nghiệp – Tổng giám đốc CEO để giải quyết các vấn đề liên quan đếnhoạt động của ngân hàng
Theo lý thuyết, Hội đồng quản trị sẽ luôn nhìn mọi vấn đề qua lăng kính “Mong đợicủa cổ đông” và có nhiệm vụ quan trọng trong việc hoạch định chiến lược doanhnghiệp và giám sát Tổng giám đốc – CEO điều hành doanh nghiệp Thành viêntrong hội đồng quản trị và Tổng giám đốc không nhất thiết phải là cổ đông củadoanh nghiệp
Sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp làm nảy sinh các mối
lo ngại rằng, những người quản lý, điều hành sẽ theo đuổi những mục tiêu rất hấpdẫn đối với họ, song chưa chắc đã có lợi cho các cổ đông, cho doanh nghiệp Bêncạnh đó, khẩu vị rủi ro của người quản lý và điều hành cũng ảnh hưởng trực tiếpđến việc điều hành công ty Một trong những phương thức để có thể kiểm soát đượchành vi của người quản lý là thông qua kiểm soát thu nhập của họ Công ty cần phải
có một cơ chế phù hợp để đảm bảo lợi ích của chủ sở hữu và nhà điều hành luônsong hành chung với nhau Theo nghiên cứu của Scott (2006), một cơ chế thù laohợp lý cho các giám đốc phải đảm bảo được tối thiểu 3 yêu cầu sau :
• Thứ nhất, cơ chế thù lao khuyến khích nhà quản lý, điều hành làm việc với
nỗ lực cao nhất Mức thù lao của nhà quản lý, điều hành phải tỷ lệ thuận với sự nỗlực của nhà quản lý, điều hành
• Thứ hai, cơ chế thù lao phải khuyến khích nhà quản lý, điều hành tập trung vào lợi ích ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp
Trang 37• Thứ ba, kiểm soát được mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp thông qua kiểmsoát người điều hành.
Một số nghiên cứu nói rằng việc CEO được trả thù lao bằng cổ phiếu hoặc yêu cầucác nhà quản lý nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu nhất định của doanh nghiệp sẽ thực sự gắnlợi ích của nhà quản lý, điều hành với lợi ích của công ty và của cổ đông Khi tỷ lệnắm giữ cổ phần của hội đồng quản trị, của tổng giám đốc càng cao, thì họ sẽ có xuhướng đưa ra các quyết định để đảm bảo nguồn vốn bỏ ra của mình, lựa chọn các
dự án chắc chắn hơn, mức độ rủi ro chấp nhận cũng thấp hơn
Dựa trên tâm lý muốn bảo toàn nguồn vốn đã bỏ ra của chủ sở hữu, tác giả đưa racác giả thiết:
H3a: Có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi hội đồng quản trị và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận.
H4a: Có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi Tổng giám đốc CEO và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận.
➢ Lập luận giả thiết H3b và H4b
Jensen và Meckling (1976) cho rằng chi phí đại diện xuất hiện trong môi trường bấtcân xứng thông tin, do mâu thuẫn lợi ích giữa các cổ đông – người sở hữu và ngườiquản lý, điều hành – hội đồng quản trị, tổng giám đốc CEO Các nhà quản lý, điềuhành có thể có các hành động trục lợi cá nhân, lựa chọn rút lui khỏi những côngviệc khó khăn, lờ đi mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Những phí tổn này sẽ
do những người sở hữu doanh nghiệp gánh chịu
Theo nghiên cứu của Jensen (1986), một trong những biểu hiện của việc trục lợi cánhân của các nhà quản lý, điều hành là họ không muốn chi trả cổ tức, thay vào đógiữ dòng tiền lợi nhuận trong doanh nghiệp Nắm giữ dòng tiền trong doanh nghiệpnghĩa là các nhà quản lý, điều hành sẽ tìm cách chi tiêu, họ có xu hướng đầu tư vàocác dự án không sinh lợi – những dự án không đem lại lợi ích cho công ty nhưng cómối liên hệ cá nhân với nhà quản lý, điều hành
Các nhà quản lý, điều hành không ưa thích rủi ro và đưa ra các quyết định để rút luikhỏi những công việc khó khăn, lờ đi mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp và
Trang 38hoàn toàn đối lập với ước muốn của người sở hữu – những người có xu hướng chấpnhận rủi ro cao hơn với mong đợi lợi nhuận vượt trội.
Các CEO thường là các nhà quản lý, điều hành e ngại rủi ro hoặc trung lập với rủi
ro nguyên nhân là do họ thường được những khoản tiền cố định và phụ thuộc vàokết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Nếu như những quyết định của nhà quản lý, điều hành dẫn đến thất bại, thì họ sẽ làngười chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, danh tiếng của các CEO sẽ bị ảnh hưởng, sẽkhó khăn cho họ khi rời khỏi công ty và được bổ nhiệm vào các vị trí cao hơn ở cáccông ty khác hay làm giảm các lợi ích, đặc quyền đem lại thu nhập riêng cho họ khi
họ đang nắm giữ vị trí điều hành của doanh nghiệp hiện tại Còn nếu quyết địnhmạo hiểm của họ đem đến sự thành công cho dự án thì mức thu nhập tăng thêm của
họ cũng không đáng kể và không phù hợp với nỗ lực của họ Các nhà quản lý, điềuhành sẽ có xu hướng hạn chế rủi ro của mình bằng cách từ bỏ những dự án lợinhuận tiềm năng cao nhưng mức rủi ro cao, và lựa chọn dự án lợi nhuận vừa phảinhưng rủi ro ít hơn vì dựa trên cơ chế thù lao cố định và tiền thưởng dựa trên hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp, không hề có một chất kích thích để họ thay đổilựa chọn của mình
Bên cạnh đó hình thức chi trả lương thưởng của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đếntâm lý hành vi của Hội đồng quản trị và CEO
• Tiền lương cứng : Ngày nay, các CEO thường hay nhận được lương cứng
khá là cao Đó có thể xem là một ghi nhận tuyệt vời khi CEO điều hành công ty tốt
và cũng là một khoản kếch xù dù quyết định của CEO gây ra sự thua lỗ cho công ty.Việc nhận được khoản tiền mặt khá cao không phải là một động lực để CEO tậptrung vào việc điều hành và đưa ra các quyết định mang tính hiệu quả
• Tiền thưởng : Việc thưởng theo hiệu quả công việc cũng đem lại hiệu quả
nhất định giúp CEO có động lực hơn để làm việc tốt hơn Thông qua lợi nhuận, dòngtiền, giá trị thị trường của doanh nghiệp, các cổ đông có thể quan sát được nỗ lực củacác nhà quản lý, điều hành Lợi nhuận của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với mức độ nỗ lựccủa nhà quản lý, điều hành Tuy nhiên, sử dụng lợi nhuận để đánh giá
Trang 39hiệu quả công việc của các nhà quản lý, điều hành có hai nhược điểm: Thứ nhất,phương pháp hạch toán khác nhau ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả lợi nhuận củadoanh nghiệp khác nhau và do nguyên tắc thận trọng của kế toán, lợi nhuận khôngđược ghi nhận kịp thời Thứ hai, các quyết định của nhà quản lý, điều hành mangtính chiến lược và đem lại lợi nhuận trong dài hạn, và có thể không mang lại lợinhuận trong ngắn hạn Tình trạng thông tin không cân xứng khiến cho nhà đầu tưkhông thể quan sát và đo lường mức độ hiệu quả công việc của CEO, nên rất khó đểđưa ra một con số hợp lý đem đến sự hài lòng để họ nỗ lực hơn.
• Quyền chọn cổ phiếu : Các công ty trả quyền chọn cổ phiếu như là một
cách gắn lợi ích tài chính của các CEO với lợi ích của các cổ đông Giá cổ phiếuphản ánh tiềm năng của doanh nghiệp trong ngắn và dài hạn, bên cạnh đó, giá cổphiếu không ảnh hưởng bởi phương pháp kế toán áp dụng của doanh nghiệp Dựatrên việc tăng giá cổ phiếu, cả chủ sở hữu lẫn các nhà quản lý, điều hành đều mongmuốn tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Khi giá cổ phiếu tăng, CEO có thể kiếm đượcmột khoản lớn từ các quyền chọn cổ phiếu, nhưng khi giá giảm, các nhà đầu tư sẽ làngười chịu thiệt, còn các CEO sẽ không bị ảnh hưởng gì Tuy nhiên, giá trị cổ phiếuchịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nằm ngoài kiểm soát của các nhà quản lý, điều hành,như các biến động của nền kinh tế, sự không hoàn hảo của thị trường chứng khoánlàm cho cổ phiếu bị định gía thấp hơn Ngoài tác động của thị trường, các CEOcũng có thể thực hiện các thủ thuật để các cổ phiếu có lãi, các CEO sẽ tập trung vàongắn hạn mà lờ đi mục tiêu và lợi ích dài hạn của các cổ đông thông qua việc điềuchỉnh số liệu Giá trị cổ phiếu có thể bị phản ánh sai lệch trong ngắn hạn do cácthông tin bị các nhà quản lý, điều hành bóp méo do áp dụng phương pháp kế toán.Phương pháp kế toán này làm tăng kết qủa hoạt động kinh doanh năm hiện tại,nhưng làm giảm kết quả kinh doanh tương lai Điều này hầu như không giúp củng
cố liên kết giữa các CEO và cổ đông công ty
• Sở hữu cổ phần : Phương pháp này khuyến khích các nhà quản lý, điều
hành nỗ lực trong việc tăng giá trị doanh nghiệp trong dài hạn vì kết quả hoạt động
Trang 40của doanh nghiệp và sự tăng giảm của giá cổ phiếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền lợi của CEO.
Với động lực làm phải làm tăng lợi nhuận của công ty, các nhà quản lý, điều hànhphải cân nhắc và lựa chọn các dự án đem lại tỷ suất sinh lợi vượt trội Và theo lẽthông thường, một tỷ suất sinh lợi vượt trội sẽ đi theo là một mức rủi ro cao Việcnắm giữ cổ phiếu của công ty đã làm gia tăng mức độ gánh chịu rủi ro của nhà quản
lý, điều hành doanh nghiệp
Như đã trình bày ở trên, cơ chế thù lao ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi của nhà quản
lý, điều hành doanh nghiệp Nếu chỉ dựa vào lương cố định và thưởng dựa trên kếtquả lợi nhuận của doanh nghiệp, các nhà quản lý, điều hành lựa chọn các dựa ánđem lại mức lợi nhuận vừa phải với mức rủi ro ít
Nếu thay đổi cơ chế thù lao, bên cạnh mức thu nhập cố định, thì các nhà quản lý,điều hành còn nắm giữ một số lượng cổ phiếu của doanh nghiệp Với mục tiêu làmtăng giá trị cổ phiếu – tăng giá trị doanh nghiệp, các nhà quản lý, điều hành sẽ điđến các quyết định lựa chọn các dự án đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp vớirủi ro cao hơn thông thường mà họ thường chấp nhận Phương pháp này được kỳvọng tạo ra tác động tích cực lên giá trị doanh nghiệp Hiệu ứng hội tụ lợi ích chorằng: “Khi nhà quản lý, điều hành đồng thời là người sở hữu – cổ đông thì lợi ích sẽgiao thoa mạnh với nhau, tương quan dương giữa giá trị doanh nghiệp và tỷ lệ sởhữu của người điều hành”
Dựa trên lý thuyết về chi phí đại diện, thái độ đối với rủi ro của nhà quản lý, điềuhành khi thay đổi cơ chế thù lao, tác giả đưa ra các giả thiết sau:
H3b: Có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi hội đồng quản trị và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận.
H4b: Có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi Tổng giám đốc CEO và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận.