THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA CÔNGTY CỔ PHẦN MAY 10 SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ2.1 Khái quát chung về Công ty cổ phần may 10 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty May 1
Trang 1THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN MAY 10 SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ2.1 Khái quát chung về Công ty cổ phần may 10
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty May 10
Công ty cổ phần May 10 tiền thân là các xưởng may quân trang đặt tạichiến khu Việt Bắc Các xưởng may ra đời năm 1946 trong những ngày sụcsôi không khí toàn quốc kháng chiến Vào thời điểm đó, các xưởng may này
có nhiệm vụ sản xuất quân trang bộ đội trong công cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp, giải phóng dân tộc
Từ những xưởng may nhỏ bé, với nhà xưởng, thiết bị thô sơ, trình độquản lý lạc hậu, sản xuất theo kế hoạch nhà nước giao, đến nay May 10 đã trởthành một trong những doanh nghiệp may mặc hàng đầu Việt Nam Hiện tạiMay 10 có 14 xí nghiệp thành viên đặt tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình,Nam Định, Thanh Hoá,Quảng Bình… Với hơn 8000 lao động, nhà xưởngkhang trang, máy móc thiết bị hiện đại Cho đến ngày nay Công ty đã trải quacác giai đoạn phat triển:
* Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954) :
Sau cách mạng tháng 8/1945 do nhu cầu quần áo, mũ… phục vụ bộ độihình thành nên các tổ may Ngày 19/12/1946 sau lời kêu gọi toàn quốc khángchiến của chủ tịch Hồ Chí Minh các xưởng, các nhà máy ở thủ đô Hà Nộinhất loạt rời lên núi rừng Việt Bắc tổ chức thành hai hệ xưởng sản xuất quântrang: hệ chủ lực và hệ bán công xưởng Gọi là hệ chủ lực vì trong các xưởngnày thợ may hầu hết là bộ đội và công nhân quốc phòng Còn hệ bán côngxưởng là loại xưởng chỉ có một số ít thợ thuộc diện công nhân quốc phònglàm nòng CSE cốt cho sản xuất, còn lại là thợ thuê từ ngoài vào làm
Trang 2Trong thời gian từ năm 1947 đến năm 1949, miền Tây tỉnh Thanh Hoáthuộc liên khu IV có xưởng chủ lực Yên Sinh đóng ở Cầu Vàng, huyệnQuỳnh Côi (Thái Bình) thuộc Liên khu 3 có cơ sở kéo sợi, dệt vải, may quầnáo… Năm 1947, nghành Quân nhu Liên khu V đã tổ chức 2 xưởng may:Xưởng May tháng 8 ở Quảng Ngãi có 105 công nhân do đồng chí NguyễnDuy Triên phụ trách, một tổ sửa chữa may khâu và máy dệt do đồng chíNguyễn Đương phụ trách Năm 1948, Bình trị Thiên tổ chức 2 xưởng mayquân trang ở Đại Lược (Bắc Thừa Thiên) và Mỹ (Nam Thừa Thiên).
Trong những năm 1951 – 1952, Nha Quân nhu đã tiến hành giải thể cácbán công xưởng may ở Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình X30 – nguyên làxưởng may của Liên khu III đóng ở Cầu Vàng (Yên Định – Thanh Hoá) vàmột số cơ sở may khác được sát nhập vào xưởng may chủ lực X40 (đến năm
1956 xưởng X40 sát nhập với xưởng X10)
Tại chiến khu Việt Bắc, ba xưởng May nhỏ AK1, BK1, CK1 Sáp nhậplại thành xưởng May Hoàng Văn Thụ, sau đó ít lâu lại đổi tên thành xưởngMay 1 mang bí số là X1 Trong số công nhân may của xưởng X1 ở Việt Bắc
có một số thợ thuê ở làng Cổ Nhuế (ngoại thành Hà Nội) tình nguyện bỏ làngtheo kháng chiến Họ được Nha Quân Nhu tuyển mộ, tập hợp rồi tổ chứcthành nòng cốt của X1 Đến năm 1952, Xưởng X1 ở Việt Bắc được đổi thànhXưởng May 10 với bí số là X10 Đây chính là tiền thân của Công ty cổ phầnMay 10 ngày nay
* Giai đoạn 1954 – 1960:
Năm 1954 kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, Xưởng May 10được lệnh trở về Hà Nội để có điều kiện sản xuất tập trng hơn Đồng thời,Cục Quân nhu cũng quyết định ghép Xưởng May 40 ở Thanh Hoá vào XưởngMay 10 Với việc ghép hai đơn vị và trở về Thủ Đô, May 10 đã bước vào mộtgiai đoạn phát triển mới cao hơn Sau một thời gian tìm hiểu, xã Hội Xá thuộctỉnh Bắc Ninh cũ, nay là Phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà
Trang 3Nội được chọn làm cơ sở mới của May 10, vì nơi đây đáp ứng được 2 điềukiện cơ bản:
Thứ nhất, Hội Xá là cửa ngõ Thủ Đô, thuận tiện về giao thông (sátđường quốc lộ số 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, gần sân bay Gia Lâm) Thứ hai, Hội Xá có khu đất hoang (trước là bãi pháo của quân đội Pháp
và Nhật) rộng gần 20 ha, đủ để xây dựng xí nghiệp lớn, lại không ảnhhưởngđến sản xuất của bà con nông dân quanh vùng
Tháng 10/1955, Tổng cục hậu cần tiến hành biên chế cho Xưởng May 10
số lượng 564 cán bộ, công nhân viên Ngày 26/7/1956, Xưởng May 10 vàXưởng May 40 được hợp nhất
Cuối quý IV năm 1956, một bộ phận của May 10 được tách ra để thànhlập Xưởng May 20 chuyên may đo quần áo cán bộ trung, cao cấp của quânđội đóng ở khu vực Hà Nội Riêng Xưởng May 10 được Tổng cục hậu cầngiao nhiệm vụ may sẵn quần áo cấp phát từ cấp uý trở xuống
Đến cuối năm 1956 đầu năm 1957, quy mô Xưởng May 10 được mởrộng, máy móc được trang bị nhiều hơn với 253 chiếc máy bay, trong đó có
236 chiếc chạy bằng điện Nhiệm vụ chủ yếu của Xưởng May 10 vẫn là mayquân trang cho quân đội Yêu cầu về số lượng mặt hàng tuy có nhiều và phứctạp hơn so với thời kỳ kháng chiến, nhưng với sự cố gắng của toàn bộ cán bộcông nhân, Xưởng May 10 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, sản xuấtthêm được nhiều loại hàng quân trang đáp ứng nhu cầu của các binh chủngtrong quân đội
* Giai đoạn từ bao cấp đến làm quen với hạch toán kinh tế (1961 1964):
-Nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng miền Bắc xã hội chủnghĩa, tháng 2/1961, xưởng May 10 được chuyển về bộ Công nghiệp nhẹ
Trang 4Toàn bộ nhà Xưởng, máy móc thiết bị và 1092 cán bộ công nhân Xưởng May
10 được Tổng cục hậu cần, Cục Quân nhu bàn giao về đơn vị quản lý mới.Ngày 20/2/1961, đồng chí Trần Quí Hai (Chủ nhiệm Tổng Cục HậuCần) thay mặt Quân uỷ Trung ương Bộ Quốc phòng tặng “cờ thi đua khá nhất
” cho tập thể chiến sĩ Xưởng May 10 Từ thời điểm này, nhiệm vụ của Xínghiệp là sản xuất theo kế hoạch của Bộ Công nghiệp nhẹ giao Tuy chuyểnđổi cơ quan chủ quản, nhưng hàng năm, Xí nghiệp May 10 vẫn dành từ 90 –95% năng lực sản xuất quan trang phục vụ quan đội, 5 – 10% năng lực sảnxuất còn lại cho mặt hàng phục vụ cho xuất khẩu và dân dụng
Trong thời kỳ thuộc quân đội quản lý, May 10 sản xuất theo chế độ cungcấp, ít tính toán chi ly, thiếu thì xin thêm, thừa thì để lại, vốn hết bao nhiêucũng được, có cấp trên lo, miễn đảm bảo kế hoạch và thời gian giao hàng choquân đội Sau khi chuyển sang Bộ Công nghiệp nhẹ, chế độ bao cấp dần đượcthay thế bằng cơ chế sản xuất kinh doanh có tính toán đến hiệu quả kinh tế,phải thực hiện hạch toán lỗ, lãi rõ ràng Đây là sự chuyển đổi không hề dễdàng, vì nhiều cán bộ, công nhân May 10 đã quen với nếp sản xuất theo cơchế bao cấp trong nhiều năm liền
Như vậy là chỉ sau ba năm (từ tháng 2/1961 đến tháng 1/1964), kể từ khichuyển sang bộ Công nghiệp nhẹ quản lý, May 10 từ một đơn vị sản xuất theochế độ bao cấp, cách làm ăn vốn theo nếp cũ, đã kịp thích ứng với cơ chếquản lý mới, sản xuất đã tính đến hiệu quả kinh tế: giá thành sản phẩm phải
rẻ, chất lượng phải tốt Thời gian đầu Xí nghiệp gặp không ít khó khăn về tổchức, nhất là về mặt tư tưởng nhưng chính truyền thống xây dựng và trưởngthành trong kháng chiến của tập thể cán bộ công nhân May 10 đã giúp Xínghiệp từng bước vượt qua các kho khăn, luôn hoàn thành vượt mức chỉ tiêu
kế hoạch sản xuất Nhà Nước giao và xứng đáng là một trong những lá cờ đầunghành may mặc trong xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Trang 5* Giai đoạn 1965 – 1975 :
Năm 1965, giặc Mỹ thua đau ở chiến trường Miền Nam và đã liều lĩnhđem không quân ồ ạt đánh phá Miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện củaMiền Bắc cho Miền Nam Không quân Mỹ tập trung đánh bom vào nhữngtuyến đường giao thông huyết mạch của Miền Bắc, các cơ sở kinh tế, cơ quan
xí nghiệp hòng làm tê liệt nền kinh tế, đưa Miền Băc” trở lại thời kỳ đồ đá”.May 10 nằm trong khu vực kinh tế - quân sự quan trọng, sát quốc lộ 5 nối HàNội với Thành Phố cảng Hải Phòng, gần Tổng kho 205 của Tổng cục Hậucần, Tổng kho xăng dầu, Sân bay Gia Lâm… Khu vực này chính là mục tiêuđánh phá hang đầu của Không quân Mỹ
Thực hiện phong trào do Bộ Công nghiệp nhẹ phát động, May 10 đã cửmột bộ phận cán bộ lãnh đạo và công nhân viên lành nghề lên Hà Bắc, xâydựng Xí nghiệp May X200 tại Đáp cầu - Bắc Ninh để tăng them năng lực sảnxuất cho quốc phòng Sau này Xí nghiệp May X200 tách ra hạch toán độc lập
và nay là Công ty Cổ phần may Đáp Cầu
Ngoài việc chiến đấu bảo vệ sản xuất, May 10 hàng năm đều thực hiệnđúng nghĩa vụ quân sự đối với Tổ quốc Thời gian này, Xí nghiệp hoàn thànhtốt hai đợt tuyển quân: đợt một gồm 8 công nhân viên chức, đợt hai gồm 9cháu là con em cán bộ của Xí nghiệp
Trong trời gian 1973 – 1975, Xí nghiệp May 10 được cấp trên giaonhiệm vụ sản xuất quân trang số lượng lớn phục vụ quân giải phóng và bộ độiMiền Bắc Cả Xí nghiệp sống lại không khí tưng bừng, náo nhiệt như thờigian chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ 20 năm về trước Cả xí nghiệp hăngsay sản xuất vì tiền tuyến lớn, làm việc không biết mỏi, không quản ngàyđêm Các tổ, các phân xưởng thực hiện để động viên mình: “ Ngày không giờ,tuần không thứ” “Hễ bộ đội cần đến quân trang là May 10 có ngay.”
Trang 6* Giai đoạn từ 1975 đến 1986:
Sau khi Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, xínghiệp May 10 chuyển sang bước ngoặt mới trong nhiệm vụ sản xuất kinhdoanh Đó là chuyển từ may quân trang phục vụ quân đội sang làm hàng xuấtkhẩu Thị trường chủ yếu là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.Quy trình và tiêu chuẩn chất lượng làm hàng xuất khẩu rất phức tạp, khắt khe
Từ kiểu dáng, màu mắc, đường kim, mũi chỉ đến bao gói sản phẩm đều đượcquy định chặt chẽ trong hợp đồng và buộc Xí nghiệp phải thực hiện chuẩnxác Nhiều khó khăn mới nảy sinh: tay nghề của người lao động chưa cao,thiết bị máy móc của Xí nghiệp so với các nước có kỹ thuật tiên tiến trên thếgiới còn lạc hậu Công tác quản lý kinh doanh còn non yếu dẫn đến năng suấtthấp chất lượng sản phẩm chưa thoả mãn được thị hiếu của khách hàng
Mặt khác trong những năm này, nền kinh tế non trẻ Việt Nam bị tàn phánặng nề của chiến tranh, chế độ quan liêu bao cấp kìm hãm sự phát triển, xuấthiện nhiều tư tưởng chủ quan duy ý chí, đời sống của nhân dân lao động chưađược cải thiện… Thực tế này đã ít nhiều ảnh hưởng đến lòng tin và nhiệt tìnhlao động của công nhân, viên chức Nhằm tháo gỡ khó khăn, Đảng ủy cùngBan giám đốc Công ty đã chủ động đề ra định hướng hoạt động và cùng lúcphải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp:
Khơi dậy phong trào thi đua ái quốc mà Bác Hồ phát động
Đổi mới thiết bị và công nghệ hiện đại
Tiếp cận thị trường may mặc thế giới để tìm bạn hàng mới
Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và trình độ quản lý cho đội nhũ cán bộcông nhân
Vay vốn ngân hàng, tận dụng vốn tự có , tranh thủ sự giúp đỡ của kháchhàng để trang bị thiết bị mới
Trang 7Mở nhiều lớp đào tạo công nhân mới, bồi dưỡng tay nghề cho công nhân
cũ nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, cử cán bộ đi học tập trung hoặc tại chức
để nâng cao trình độ quản lý
Kết quả là sản lượng , chất lượng sản phẩm cứ tăng dần hàng năm Đặcbiệt, năm 1984, hai mặt hàng xuất khẩu sang Công hoà dân chủ Đức vàBungari được đặt gia công tăng gấp đôi so với năm 1983 Xí nghiệp đượcTổng Công ty Xuất nhập khẩu hàng Dệt May gửi công văn khen ngợi vì đãđảm bảo tốt các yêu cầu, quy định về tiêu chuẩn, quy cách chất lượng sảnphẩm, thời hạn giao hàng
Từ năm 1975 đến năm 1985, mỗi năm xí nghiệp May 10 đã xuất ra thịtrường các nước xã hội chủ nghĩa từ 4 đến 5 triệu áo sơ mi Mức tăng trưởngbình quân hàng năm 30%, nộp ngân sách tăng từ 10 – 15%/ năm, thu nhậpbình quân tăng từ 5 – 10%/ năm
* Giai đoạn từ 1986 đến nay :
Năm 1986 được xem là một mốc son lịch sử đôi với nền kinh tế ViệtNam Từ sự tổng kết tình hình thực tiễn, phân tích những bài học thành công
và những tồn tại của giai đoạn 1976 – 1985, những nhận thức mới về xu thế
và con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đại hội lần thứ VI củaĐảng đã đề ra đường lối đổi mới mà trước hết là sự đổi mới tư duy kinh tế
Là một doanh nghiệp Nhà nước gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triểncủa đất nước, Xí nghiệp May 10 quán triệt tinh thần đổi mới trong tư duy kinh
tế và đường hướng hoạt động sản xuất kinh doanh Chú trọng sản xuất và kinhdoanh hàng may mặc xuất khẩu, những năm 1986 – 1990 May 10 đẩy mạnhxuất khẩu vào thị trường Liên Xô và Đông Âu theo nội dung các Nghị địnhthư hàng hoá ký kết giữa Việt Nam và các nước trong hội đồng tương trợ kinh
tế SEV
Trang 8Những năm 1990 – 1991, hệ thống các nước XHCN sụp đổ trên phạm vitoàn thế giới Thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Liên Xô và Đông
Âu bị thu hẹp nhanh chóng Sản xuất ngừng trệ, thiếu nguyên phụ liệu đầuvào, người lao động không đủ việc làm… là tình trạng chung ở các đơn vị sảnxuất trong đó có May 10 Giá cả đắt đỏ, đời sống người lao động vốn đã khókhăn lại càng khó khăn hơn Thực hiện nghị định 176/HĐBT về việc sắp xếplại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh, năm 1991 Xí nghiệp May
10 đã giải quyết chế độ về nghỉ hưu, mất sức cho hơn 300 cán bộ, công nhân Trước tình hình đó, để tồn tại và phát triển, Đảng ủy và ban Giám đốc Xínghiệp đã khanửg định : “ không có con đường nào khác, Xí nghiệp May 10phải chuyển hướng xuất khẩu sang thị trường Khu vực 2 - thị trường các nước
Tư bản chủ nghĩa Đây là thị trường khó tính, yêu cầu khắt khe về chất lượngsản phẩm cũng như mẫu mã, và đặc biệt là thời gian giao hàng phải chínhxác” Để đáp ứng được những yêu cầu đó, một mặt xí nghiệp phải đổi mớitrang thiết bị tiên tiến hơn, mặt khác phải cải tiến hệ thống quản lý, tiếp tụcnâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phù hợp yêu cầu phát triển của thời
kỳ mới
Sau một thời gian nghiên cứu thị trường và củng cố bộ máy nhân sự,chất lượng sản phẩm của May 10 đã có nhiều bước chuyển biến tích cực Xínghiệp đã ký kết được hợp đồng may xuất khẩu với hai khách hàng HànQuốc, Hà Lan và họ trở thành hai bạn hàng mới của May 10 Tiếng lành đồn
xa, bắt đầu từ các đơn hàng đạt tiêu chuẩn chất lượng cho phía Hàn Quốc và
Hà Lan, May 10 có được nhiều đối tác lớn như CHLB Đức, Nhật Bản, Bỉ, ĐàiLoan, Hồng Kông… Cũng từ đây sản phẩm áo sơ mi, áo Jackét và nhiều sảnphẩm may mặc khác của May 10 được biết đến nhiều hơn trên thị trườngquốc tế
Để đáp ứng được yêu cầu của thị trường may mặc trong nước và thếgiới, tháng 11/1992, Xí nghiệp May 10 chuyển đổi hình thức tổ chức, phát
Trang 9triển thành Công ty cổ phần May 10 với tên giao dịch quốc tế la “ GRACO10”.
Năm 1992 – 1993, trong cuộc đua cạnh tranh với các đơn vị kinh doanhtrong nước, Công ty đầu tư, đổi mới trang thiết bị và dây chuyền công nghệtiên tiến hơn Thiết bị máy móc hiện đại chưa đủ mà điểm mấu chốt làphương pháp và cách thức quản lý để tăng năng suất lao động Một lần nữaMay 10 tìm cách khắc phục để đi lên bằng chính nội lực của mình Công ty đãvận dụng linh hoạt, sang tạo, đồng bộ các biện pháp:
Mạnh dạn đầu tư chiều sâu
Bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho công nhân và nghiệp vụ quản lý chocán bộ
Trang bị thêm thiết bị kỹ thuật và công nghệ mới
Chăm lo đời sống và cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân viênchức
Mở rộng thị trường quốc tế và coi trọng thị trường trong nước, đồng thờitranh thủ sự giúp đỡ của anh em bạn bè
Vừa đẩy mạnh xuất khẩu, Công ty May 10 vừa coi trọng thị trường trongnước Công ty đã mở các cửa hàng, các đại lý, các chi nhánh ở nhiều địaphương trong cả nước như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình,Thành Phố Hồ Chí Minh….để giới thiệu sản phẩm, bán hàng, dạy nghề may,chuyển giao công nghệ, luân chuyển trang thiết bị Kết quả là năm 1993 Công
ty đã bắt đầu chiếm lĩnh được thị trường trong nước và được người tiêu dùng
Trang 10may mặc cả nước, đồng thời là một trong những trung tâm đào tạo, kinh tế, kỹthuật của nghành
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Công ty May 10
* Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy của Công ty May 10
Trang 11Các tổ may
Trang 12Đứng đầu bộ máy lãnh đạo của Công ty là Tổng Giám Đốc (TGĐ) do cấptrên bổ nhiệm sau khi đã tham khảo ý kiến của Đảng bộ và phiếu tín nhiệm củacán bộ, công nhân viên trong toàn công ty Tổng giám đốc là đại diện toànquyền của công ty trong mọi hoạt động kinh doanh
* Phòng Kế Hoạch:
Hiện nay, số lượng cán bộ công nhân viên là 116 người Với chức năngnhiệm vụ: nghiên cứu, xây dựng mục tiêu và kế hoạch sản xuất kinh doanhchung của toàn công ty Quản lý các hoạt động kinh doanh quốc tế, cân đối kếhoạch và điều độ sản xuất Quản lý các kho nguyên phụ liệu, thiết bị, bao bì,thành phẩm phế liệu Quản lý các hoạt động xuất, nhập khẩu
* Phòng tài chính kế toán: Chức năng, nhiệm vụ là : nghiên cứu, quản lý,kinh doanh tài chính, tài sản Tổng hợp, phân tích kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty trên từng lĩnh vực
* Phòng kinh doanh: Chức năng nhiệm vụ: Nghiên cứu thị trường, tổ chức,quản lý các hoạt động kinh doanh trong nước
Doanh thu nội địa Năm 1998 đạt là: 20,4 tỷ đồng, Năm 2008 đạt là: 110 tỷđồng
* Phòng chất lượng QA: Chức năng nhiệm vụ: Nghiên cứu, xây dựng hệthống quản lý, quản lý chất lượng sản phẩm trong toàn Công ty và các hoạtđộng đánh giá của khách hàng
* Ban Marketing: nghiên cứu và mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.Xây dựng và phát triển thương hiệu May 10
2.1.3 Thực Trạng Sản Xuất Kinh Doanh
Trong bối cảnh May 10 cũng như các doanh nghiệp may trong nghành hầunhư phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ nhập khẩu, bị động về giá
cả Còn về đầu ra, May 10 cũng chưa có nhiều kinh nghiệm về phát triển thị
Trang 13trường và xây dựng chiến lược sản phẩm trước đó các sản phẩm may được xuấtkhẩu sang Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu với mẫu mã đơngiản, khách hàng dễ tính, có số lượng hạn chế theo hiệp định giữa các nướcthuộc khối SEV.
Bảng số 2.1: Kết quả sản xuất - kinh doanh (1959 - 2008)
T
Ước TH2008
Song song với việc bồi dưỡng đào tạo Cán bộ công nhân viên, công táctuyển chọn nhân lực cũng được công ty chú ý hơn May 10 đã ban hành quy chếtuyển dụng và ký hợp đồng lao động Hầu hết lao động được tuyển dụng tronggiai đoạn này đều tốt nghiệp phổ thông trung học và qua đào tạo nghề may từ 6tháng đến 3 năm 100% nhân viên của các phòng nghiệp vụ khi tuyển vào đều
có trình độ Cao đẳng và Đại học trở lên Kết quả là May 10 đã bổ sung thêmhàng trăm cán bộ quản lý có trình độ Đại học và Cao đẳng Hàng nghìn công
Trang 14nhân có tay nghề vững vẫn tiếp tục đượ đào tạo để nâng cao kỹ năng chuyênmôn
Năm 1995, bằng nguồn vốn và kinh nghiệm của mình cũng như được sựgiúp đỡ nhiệt tình của các đơn vị bạn, May 10 đã được Nhà Nước cho phépthành lập “ Trường Công Nhân Kỹ Thuật May và Thời Trang” Mô hình đào tạo
“Doanh nghiệp – Nhà Trường” rất có hiệu quả vì nội dung đào tạo gắn liền vớiyêu cầu thiết thực của sản xuất, học viên được tiếp cận trực tiếp với trang thiết
bị hiện đại, được thực tập phương pháp kỹ thuật ngay tại xưởng may của Công
ty và kết quả học tập cao thì được nhận vào sản xuất Trong 9 năm (1995 2004), trường công nhân Kỹ Thuật May và Thời trang của Công ty May 10 đãđào tạo được khoảng 5000 công nhân kỹ thuật may công nghiệp, tổ chức đàotạo lại và bồi dưỡng nâng bậc cho khoang 5.500 công nhân may, cơ khí, sửachữa máy, công nhân thêu, in… Đồng thời cũng kết hợp với các trường Đại HọcBách Khoa Hà Nội, Trường Mỹ thuật Công nghiệp, Trường Cao Đẳng Kinh tế
-Kỹ thuật Công nghiệp, Trương Cao Đẳng Sư phạm dạy nghề để đào tạo kỹ sư,
cử nhân trong lĩnh vực công nghệ may, quản trị doanh nghiệp và thiết kế thờitrang
Ngoài việc đào tạo tại chỗ, học tập các đơn vị trong ngành, hàng năm May
10 còn cử nhiều đoàn cán bộ đi học kinh nghiệm bạn trong và ngoài nước Điểnhình là Nhật Bản còn giúp May 10 đưa công nhân đi tu nghiệp nâng cao taynghề, tạo nền móng cho sự hợp tác lâu dài Măt khác may 10 kết hợp mờichuyên gia giỏi về đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ choCBCVN trong toàn Công ty
Cách làm này đã tạo cho may 10 một đội ngũ công nhân có tay nghề cao ởcác khâu sản xuất và quản lý kinh doanh Những khách hàng khó tính đều đánhgiá cao trình độ sản xuất và quản lý của Công ty Việc tăng cường cả về chấtlượng và số lượng lao động đã giữ vai trò quan trọng trong quản lý và vận hànhtốt doanh nghiệp