Kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU Từ năm 2003, ảnh hưởng từ vụ kiện chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với cátra, basa và tôm đông lạnh Việt Nam, mức thuế của các mặt hàng nà
Trang 1THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG EU.1 Hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU
Từ năm 2003, ảnh hưởng từ vụ kiện chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với cátra, basa và tôm đông lạnh Việt Nam, mức thuế của các mặt hàng này bị áp đặt
Biểu đồ 2.1 Xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU
Giá trị xuất khẩu thủy sản sang EU, 2000 - 2007
Giá trị xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng
Khối lượng xuất khẩu thủy sản sang EU, 2000 - 2007
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Năm
0% 20% 40% 60% 80%
100%
Sản lượng xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng
Nguồn: Tổng hợp Tạp chí thương mại thủy sản từ năm 2000–2007
áp đặt rất cao cộng thêm
các khoản ký quỹ lớn và
điều kiện thanh khoản
phức tạp, khiến cho các
doanh nghiệp xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam đã
chuyển hướng sang các
thị trường khác Giá trị
kim ngạch xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam sang thị
trường EU từ năm 2004 –
2007 do đó tăng mạnh,
năm 2004 tốc độ tăng lên
tới 92% so với năm 2003,
Vị trí này có thể được duy
trì trong nhiều năm tới
Trang 2Đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, EU luôn là thị trường tiêu thụ quantrọng, là nhà nhập khẩu đứng vị trí thứ nhất về giá trị và khối lượng Năm 2007, EUnhập khẩu gần 280 (nghìn tấn) thủy sản Việt Nam, trị giá khoảng 910 triệu USD, khốilượng tăng lên 27% và giá trị tăng lên 25% so với năm 2006 Thủy sản Việt Namxuất khẩu sang thị trường EU thường tập trung vào một số quốc gia như Đức, TâyBan Nha, Hà Lan, Italia, Bỉ, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang các thị trườngnày tăng dần từ năm 2001 – 2007.
Biểu đồ 2.2 Thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam trong khối EU
giai đoạn 2001 – 2007 (đơn vị: triệu USD)
Các thị trường trên có giá trị nhập khẩu thủy sản của Việt Nam tương đối đồngđều, với tốc độ tăng trưởng bình quân của năm thị trường này đạt trung bình15,6%/năm, đây là tốc độ tăng khá cao và là nơi nhập khẩu phần lớn các sản phẩm thủysản chủ lực như các da trơn, cá ngừ, tôm đông lạnh của Việt Nam
Hà Lan là một thành viên mới của EU, nhưng đây đồng thời là thị trường có tốc
độ nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, vào năm 2006 tốc độ tăng trưởng vềnhập khẩu của Hà Lan đạt 60,5% và năm 2007 là 34,4% Hà Lan từ một nước đứng thứ
5 về nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào năm 2005 thì đến năm 2007 Hà Lan đã xếp
vị trí thứ hai sau Đức Ngoài một số thị trường có tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu thủysản cao, thì thị trường Bỉ có tốc độ tăng trưởng chậm và mất dần vị trí là nhà nhập khẩuthủy sản lớn nhất của Việt Nam, trong năm 2005, Bỉ là quốc gia đứng vị trí thứ nhất vềnhập khẩu thủy sản của Việt Nam, trên thị trường Đức và Tây Ban Nha, sang năm 2006
và 2007 Bỉ chỉ xếp thứ 5 trong 5 nước và khoảng cách về kim ngạch nhập khẩu ngàycàng tăng dần Nguyên nhân là do sự khác biệt về nhu cầu tiêu dùng của từng thị trường
Trang 3và chiến lược phát triển cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, điều này sẽđược phân tích trong phần sau.
2.1.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU
Các mặt hàng xuất khẩu chính sang EU bao gồm tôm đông lạnh, các đônglạnh các loại, mực và bạch tuộc sản lượng xuất khẩu cũng như tỷ trọng của mỗi mặthàng này có sự thay đổi qua các năm, để phân tích tổng quan về sự thay đổi đó tác giảxin đưa ra biểu đồ về cơ cấu và sản lượng của mỗi mặt hàng xuất khẩu sang EU từ
2005 – 2007 như sau
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU từ 2005 – 2007 (tấn, %)
Trang 4Năm 2005
Tôm đông lạnh (13,6%)
Cá da trơn (42,2%)
Mực và bạch tuộc (11,1%)
Cá ngừ (6,6%) Mực và bạch tuộc (6,9%)
Cá da trơn (56%)
Tôm đông lạnh (7,8%) 0
Nguồn: Tổng hợp tạp chí Thương mại Thủy sản từ tháng 1/2005 – 1/2007
Mỗi quả bóng tương ứng với một trong các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sangthị trường EU, độ cao tương ứng với sản lượng xuất khẩu và độ lớn tương ứng với tỷ
Trang 5lệ phần trăm về sản lượng so với tổng kim ngạch xuất khẩu theo từng năm Dựa vàobiểu đồ trên, các nhận xét được rút ra như sau.
Thứ nhất, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng cá đông lạnh các loại
tăng lên nhanh chóng theo từng năm, trong năm 2005, tỷ trọng mặt hàng này chiếm57,6% (bao gồm cá da trơn, cá ngừ và các loại cá khác) tổng kim ngạch xuất khẩuthủy sản của Việt Nam sang EU, trong năm 2006, tỷ trọng này tăng lên 70%, và năm
2007 là 70,5% Như vậy, các mặt hàng cá đông lạnh chiếm tỷ trọng rất lớn trong xuấtkhẩu thủy sản của Việt Nam sang EU, trong năm 2007, tỷ trọng này gấp 9 lần so vớimặt hàng tôm đông lạnh, 10,3 lần so với mặt hàng mực và bạch tuộc Điều này đượcgiải thích do thị hiếu tiêu dùng các sản phẩm thủy sản, người tiêu dùng EU ưu thíchcác sản phẩm từ cá hơn và tỷ trọng nhập khẩu mặt hàng này thường cao hơn so vớicác mặt hàng khác
Thứ hai, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu từ cá tăng lên trong khi đó tỷ trọng các
mặt hàng khác giảm xuống Biểu đồ trên cho thấy, mặt hàng tôm đông lạnh chiếm tỷtrọng giảm dần, từ 13,6% trong năm 2005, xuống 9,7% năm 2006 và đến năm 2007 tỷtrọng này còn 7,8% Tương tự với mặt hàng mực và bạch tuộc, tỷ trọng năm 2005 đạt11,1%, năm 2006 là 8,7% và năm 2007 chỉ chiếm 6,9% nhưng sản lượng xuất khẩucác mặt hàng này vẫn tăng qua các năm Như vậy, tốc độ tăng về sản lượng xuất khẩu
cá đông lạnh cao hơn so với tốc độ tăng của mặt hàng tôm đông lạnh và mực đônglạnh, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm cá của EU cao hơn so với việc tiêu dùng các sảnphẩm thủy sản khác, yếu tố này sẽ ảnh hướng tới chiến lược xuất khẩu thủy sản sangthị trường EU trong giai đoạn tới (từ 2008 – 2010)
Thứ ba, trong các mặt hàng cá đông lạnh xuất khẩu sang thị trường EU, mặt
hàng cá da trơn có tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng lớn nhất, tiếp theo đó là mặt hàng
cá ngừ đại dương Cụ thể, tỷ trọng xuất khẩu cá da trơn chiếm 42,2% tổng kimngạch xuất khẩu trong năm 2005, tỷ trọng này tăng lên 56% vào năm 2006 và năm
2007 đạt 57,2% Các sản phẩm từ cá ngừ có tỷ trọng thấp hơn đạt 6% năm 2005,năm 2006 là 6,4% và năm 2007 đạt 6,6%, trong khi đó, tỷ trọng các loại cá khácgiảm dần Thực trạng trên cho thấy, các loại cá da trơn như cá tra và basa vẫn là cácsản phẩm ưu thế và đóng vai trò chủ chốt trong xuất khẩu thủy sản của Việt Namsang thị trường EU, đây là các sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế so sánh so với cácđối thủ khác Điều này hoàn toàn phù hợp khi Việt Nam có một diện tích nuôi trồngrộng lớn, trong đó, diện tích nuôi các loại cá da trơn chiếm tỷ trọng lớn trong diệntích nuôi trồng cả nước, và được tập trung chủ yếu trong khu vực đồng bằng sôngCửu Long, vùng Duyên hải miền Trung Lợi thế về sản phẩm cá da trơn của Việt
Trang 6Nam có xu hướng giảm dần do sự mở rộng sản xuất của các nước trong khu vực nhưThái Lan, Inđônêsia, Trung Quốc.
Mặt hàng cá ngừ đại dương có tốc độ tăng tương đối cao, đây là mặt hàng cógiá trị xuất khẩu lớn, do giá cả các mặt này thường cao hơn rất nhiều so với các sảnphẩm khác (điều này sẽ được phân tích tại mục 2.1.3), việc đầu tư mua mới và nângcấp các loại tàu đánh bắt xa bờ tại các vùng duyên hải miền Trung, vùng Bắc Trung
Bộ, vùng Nam Bộ đã nâng lượng tàu của cả nước lên gần 21.000 chiếc vào năm
2007, sản lượng khai thác các loài hải sản đã tăng lên trong đó có mặt hàng cá ngừ.Đây là do đó, việc phát triển các phương tiện đánh bắt có công suất lớn là hướng điđúng của thủy sản Việt Nam trong giai đoạn tới
Như vậy, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU trong giaiđoạn 2005 – 2007 tập trung vào 4 loại mặt hàng đó là: mặt hàng cá da trơn, tôm đônglạnh, mực và bạch tuộc và cá ngừ đại dương Trong đó, các mặt hàng cá da trơn vàtôm đông lạnh được xem là những mặt hàng có lợi thế của Việt Nam nhờ vào diện tíchnuôi trồng rộng lớn Các mặt hàng hải sản đang có tốc độ tăng trưởng cao ở Việt Nam,điều này sẽ giúp đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm thủy sản của Việt Nam Việc điềuchỉnh cơ cấu mặt hàng nhằm đạt hiệu quả cao nhất là vấn đề hết sức quan trọng đốivới thủy sản Việt Nam tại thị trường EU, nhằm phát huy tối đa lợi thế so sánh và phùhợp với nhu cầu tiêu dùng thủy sản của EU Dự báo về xu hướng nhập khẩu của thịtrường EU là căn cứ để xây dựng chiến lược xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trongthời gian tới
2.1.3 Giá cả các mặt hàng thủy sản tại thị trường EU
Giá cả của một số mặt hàng thủy sản tại thị trường EU bao gồm giá của mặthàng cá các loại, mực và bạch tuộc dựa vào giá cả của mỗi mặt hàng có thể thấyđược giá trị của từng mặt hàng đó trong tiêu dùng Trong cùng một đơn vị khối lượng,mặt hàng có giá cao hơn thì có giá trị kinh tế cao hơn và mức giá của một sản phẩmtăng sẽ kích thích các nhà xuất khẩu trong việc cung cấp sản phẩm đó tới người tiêudùng EU Do đó, tính cạnh tranh trong cùng một sản phẩm giữa các nhà xuất khẩutăng lên Một trong các mặt hàng được xem là có giá trị kinh tế cao đó là cá ngừ đạidương, sự biến đổi về giá bán mặt hàng này trên thị trường EU như sau
Biểu đồ 2.4 Giá bán mặt hàng cá ngừ đóng hộp tại thị trường EU
Trang 7Mặt hàng thứ hai là mặt hàng mực và bạch tuộc, đây cũng là một mặt hàng cólợi thế của Việt Nam, giá bán của mặt hàng này trên thị trường EU biến đổi như sau.
Biểu đồ 2.5 Giá bán mặt hàng mực tại thị trường EU
Nguồn: www.globefish.org
Trang 8Giá bán của mặt hàng mực ít biến động, dao động trong khoảng 12 – 14EUR/kg trong giai đoạn 2005 – 2007 Từ tháng 10/2006 đến tháng 04/2007, giámực hầu như không thay đổi, với giá khoảng 12,5 EUR/kg, tuy nhiên, sang đếntháng 05/2007 mặt hàng giá mực có xu hướng tăng lên và gần chạm vạch 14 EUR/
kg
2.2 Xu hướng nhập khẩu thuỷ sản của EU từ năm 2008 – 2010
2.2.1 Xu hướng nhập khẩu chung
Về cơ cấu mặt hàng thủy sản nhập khẩu, EU nhập khẩu nhiều các mặt hàng cáđông lạnh các loại, tôm đông lạnh chiếm thị phần thấp hơn, sau đó là các mặt hàng hảisản như mực và bạch tuộc, nhuyễn thể Sản lượng nhập khẩu cá đông lạnh tăng rấtlớn qua các năm, đặc biệt là các sản phẩm cá nước ngọt, cá ngừ, cá tuyết, cá hồi Dosản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác của các nước EU thấp hơn so với nhu cầutiêu dùng, trong thời gian tới EU vẫn có mức thâm hụt thương mại thủy sản cao Dựbáo xu hướng nhập khẩu thủy sản của EU từ nay đến 2010 đó là tăng cường nhậpkhẩu các sản phẩm cá nước ngọt, trong đó các mặt hàng hải sản như cá ngừ, mực vàbạch tuộc có tốc độ tăng trưởng cao hơn, mặt hàng tôm đông lạnh vẫn duy trì ở mứctăng cao và khá ổn định, xu hướng biến động của thị trường tôm thế giới sẽ có lợi chocác doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam tại EU Các loại nhuyễn thể sẽ có nhu cầutiêu thụ cao tại các thị trường như Pháp, Anh, Đức
Hiện nay, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU vẫntập trung vào các sản phẩm thủy sản nước ngọt, đặc biệt là mặt hàng cá da trơn vàtôm đông lạnh, đây là những mặt hàng mà thị trường EU có nhu cầu lớn, tuy nhiên,việc xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn do sức cạnh tranh của các nướctrong khu vực ASEAN và Trung Quốc Việc dự báo nhu cầu tiêu dùng thủy sản của
EU trong thời gian tới có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh cơ cấumặt hàng, sao cho phát huy được những thế mạnh của thủy sản Việt Nam và hạn chế
sự cạnh tranh từ các đối thủ Trong phần này những mặt hàng được dự báo là nhữngmặt hàng mà Việt Nam đang xuất khẩu sang thị trường EU
2.2.2 Xu hướng nhập khẩu cá ngừ đông lạnh
Cá ngừ là mặt hàng có tốc độ nhập khẩu khá cao ở thị trường EU, các nướcnhập khẩu cá ngừ lớn nhất trong khối EU là Anh, Đức, Pháp, Italia và Tây Ban Nha.Trong đó, 3 quốc gia Anh, Đức, Pháp đều có xu hướng tăng trưởng trong hai năm
2005 và 2006, đạt mức trung bình 7,5%/năm
Biểu đồ 2.6 Xu hướng nhập khẩu mặt hàng cá ngừ của các quốc gia EU
(Đơn vị:1000 tấn)
Trang 9Anh Đức Italia France Tây Ban Nha
Nguồn: www.globefish.org/EU legislation
Tổng mức sản lượng cá ngừ nhập khẩu của các nước này năm 2006 đạt437,8 (nghìn tấn) tăng 5,6 (nghìn tấn) so với năm 2005, Pháp là nước có tốc độtăng nhập khẩu cá ngừ lớn nhất trong cả khối, năm 2006 nhập khẩu cá ngừ củaPháp đạt 111,4 (nghìn tấn) tăng 4,5% trở thành nhà nhập khẩu lớn thứ hai sauAnh
Các nước xuất khẩu lớn nhất mặt hàng này sang thị trường EU bao gồmSeychelles, Ecuador, Thái Lan, Philippin Tổng thị phần của các nước này chiếm gần40% tổng kim ngạch nhập khẩu của thị trường EU Các nước khác chiếm thị phầnnhư sau
Biểu đồ 2.7 Thị phần xuất khẩu cá ngừ của các quốc gia vào thị trường EU
Seychelles Cote d'lvoire Thái lan Indonesia Philippin
Nguồn: www.globefish.org/EU legislation
Thị phần mặt hàng cá ngừ của Seychelles đứng vị trí thứ nhất chiếm 13,8%,thứ hai là Thái Lan 10,1% và thứ ba là Ecuador với 9,3% về thị phần Thị phần củaViệt Nam chỉ chiếm 3,2% đứng trước Inđônêsia (chiếm 1,6%) và đứng sau Thái Lan
Trang 10và Philippin (chiếm 7,7%), như vậy, trong khu vực ASEAN mặt hàng cá ngừ củaViệt Nam chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ Thái Lan và Philippin.
Dự báo1 trong thời gian tới từ năm 2008 – 2010 kim ngạch nhập khẩu mặthàng cá ngừ của các nước trên tăng lên 505,8 (nghìn tấn) vào năm 2008; 530,2 (nghìntấn) vào năm 2009 và 555,7 (nghìn tấn) vào năm 2010 Dự báo tốc độ tăng trưởngnhập khẩu trung bình của các quốc gia nhập khẩu cá ngừ lớn nhất EU vào khoảng 5%/năm Đây là mặt hàng có tiềm năng lớn đối với ngành khai thác thủy sản của ViệtNam, việc đẩy mạnh khai thác và xuất khẩu cá ngừ sang thị trường EU từ nay đến
2010 sẽ là một chiến lược tăng cường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thịtrường EU Kết quả dự báo được dùng để xây dựng cơ cấu xuất khẩu thủy sản củaViệt Nam
2.2.3 Xu hướng nhập khẩu tôm đông lạnh
Các nước và khu vực nhập khẩu tôm lớn nhất trên thế giới là EU, Hoa Kỳ,Nhật Bản, giai đoạn 2004 – 2007 xu hướng nhập khẩu tôm của quốc gia này có sựthay đổi đáng kể Nhập khẩu tôm của Nhật Bản trong 9 tháng đầu năm 2007 có xuhướng giảm xuống với mức giảm 10% so với cùng kỳ năm 2006 Thị trường Hoa Kỳ
là thị trường nhập khẩu tôm lớn thứ hai thế giới, với tốc độ tăng trưởng nhập khẩunăm 2006 đạt 12%, sang năm 2007, nhập khẩu tôm của Hoa Kỳ giảm nhẹ so vớicùng kỳ năm 2006 với mức giảm là 2% Như vậy, xu hướng nhập khẩu tôm của haithị trường lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ và Nhật Bản đều giảm trong năm 2007 Tuynhiên, thị trường EU vẫn là nhà nhập khẩu tôm với mức tăng trưởng ổn định nhấtqua các năm, trong 9 tháng đầu năm 2007, nhập khẩu tôm của EU tăng 4% so vớicùng kỳ năm 2006, tổng sản lượng nhập khẩu tôm đông lạnh hàng năm của EU lớngấp đôi Hoa Kỳ và gấp 3 lần so với Nhật Bản
Tốc độ tăng nhập khẩu của thị trường EU và các thị trường khác trên thế giớiđược cho bởi biểu đồ sau đây
Biểu đồ 2.8 Nhập khẩu tôm của các nước trong EU và thế giới
1 Tác giả sử dụng phần mềm thống kê SPSS để dự báo sản lượng nhập khẩu mặt hàng cá ngừ của 5 nước nhập khẩu cá ngừ lớn nhất EU, dựa trên chuỗi số liệu từ năm 2000 – 2006 Việc tính toán được trình bày cụ thể trong phần phụ lục 1.
Trang 11Nguồn: http://www.globefish.org/index.php?id=4404
Tổng sản lượng nhập khẩu tôm của EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản có xu hướnggiảm nhẹ trong 2 năm 2006 – 2007, với mức nhập khẩu năm 2007 đạt 1,181 triệu tấngiảm hơn 8,5 (nghìn tấn) so với năm 2006 (với sản lượng nhập khẩu 1,190 triệu tấn).Tổng sản lượng nhập khẩu của 3 thị trường lớn này giảm xuống, trong khi tốc độ tăngtrưởng nhập khẩu của Nhật Bản và Hoa Kỳ đều giảm, điều này đồng nghĩa với việc,thị trường nhập khẩu tôm thế giới đã có xu hướng chuyển biến từ việc giảm nhập khẩutôm của Nhật Bản, Hoa Kỳ và tăng nhập khẩu của EU
Các nước nhập khẩu tôm lớn nhất của EU là Tây Ban Nha, Pháp, Italia, Anh,Đức, với tốc độ tăng trưởng 9 tháng năm 2007 trung bình đạt 11%, trong đó, Đức làquốc gia có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu tôm lớn nhất đạt 31%, xu hướng tiêu dùngcác sản phẩm từ tôm của quốc gia này tăng mạnh trong thời gian qua do nguồn cungcấp ổn định và dồi dào của các quốc gia Châu Á và Brazil
Sản lượng xuất khẩu tôm đông lạnh của Việt Nam sang thị trường EU tronggiai đoạn 2005 – 2007 tăng lên nhanh chóng, năm 2005 xuất khẩu tôm sang EU đạt17.721 (tấn), sang năm 2006 tăng lên 21.265 (tấn) và năm 2007 đạt 21.633 (tấn)2 , tốc
độ tăng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn này trung bình đạt 41%/năm
Các quốc gia nhập khẩu tôm lớn nhất EU giai đoạn 2004 – 2007 gồm
Biểu đồ 2.9 Xu hướng nhập khẩu tôm của một số nước EU
Nguồn: http://www.globefish.org/index.php?id=4404
2 Số liệu xuất khẩu tôm sang thị trường EU từ năm 2005 – 2007 được lấy từ Tạp chí Thương mại Thủy sản số tháng 1/2008, trang 23
Trang 12Dựa vào các biều đồ trên có thể thấy, các quốc gia nhập khẩu tôm lớn nhất EUđều có xu hướng tăng nhập khẩu mặt hàng này trong giai đoạn 2004 – 2007 Trong đó,tốc độ tăng sản lượng nhập khẩu tôm từ tháng 1 – 9 của Đức cao nhất, đạt trên 34%vào thời điểm năm 2007, đây là một thị trường trẻ và rất khởi sắc, mặc dù có tốc độtăng cao nhưng thị trường Đức vẫn xếp vị trí thứ 3 về nhập khẩu tôm của EU sau Pháp
và Anh Quốc gia nhập khẩu tôm lớn nhất trong EU là Pháp, với sản lượng nhập khẩu
9 tháng đầu năm 2007 đạt 75.000 tấn gấp 2 lần Anh và 2,3 lần Đức Tuy nhiên, xuấtkhẩu sang thị trường Pháp vẫn còn rất hạn chế đối với tôm đông lạnh Việt Nam, ViệtNam chỉ tập trung xuất khẩu mặt hàng này vào các thị trường như Đức, Bỉ, Anh (cókim ngạch xuất khẩu cho trong bảng sau), nguyên nhân do tôm đông lạnh của ViệtNam chịu sự cạnh tranh rất lớn từ phía các đối thủ trong khu vực, đặc biệt là TrungQuốc và Thái Lan
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu tôm đông lạnh của Việt Nam sang
một số quốc gia EU trong năm 2006
Thị trường Kim ngạch xuất khẩu năm 2006
Khối lượng (tấn) Giá trị (triệu USD)
Nguồn: Tạp chí Thương mại Thủy sản số tháng 1/2007
2.2.4 Xu hướng nhập khẩu mực và bạch tuộc
Theo số liệu thống kê của Tạp chí Thương mại Thủy sản số tháng 1/2007,xuất khẩu mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh của Việt Nam sang thị trưởng EUtrong năm 2006 đạt 18.976 (tấn), giá trị kim ngạch đạt 50,3 triệu USD, trong đó,xuất khẩu sang thị trường Italia 12.721 (tấn), đạt 31,7 triệu USD; thị trường Tây BanNha là 2.591 (tấn), đạt 6,2 triệu USD Đây là hai thị trường nhập khẩu mực và bạchtuộc đông lạnh lớn nhất trong khối EU, chiếm 80,7% sản lượng xuất khẩu của ViệtNam sang thị trường EU Do đó, sự biến động về nhu cầu nhập khẩu mặt hàng nàycủa Tây Ban Nha và Italia sẽ tác động lớn tới xuất khẩu của Việt Nam trong giaiđoạn tới Việc dự báo xu hướng nhập khẩu sẽ được chia ra thành hai mặt hàng làmực và bạch tuộc cho hai thị trường lớn nhất là Tây Ban Nha và Italia, phương pháp
dự báo được trình bày chi tiết trong phụ lục 2
Hai quốc gia nhập khẩu mặt hàng mực và bạch tuộc lớn nhất trong EU là TâyBan Nha và Italia, xu hướng nhập khẩu mặt hàng mực của hai quốc gia này tăngnhanh chóng qua các năm, trong đó, Tây Ban Nha là nước có kim ngạch nhập khẩulớn nhất đạt 181,2 (nghìn tấn) vào năm 2006, gấp 2 lần Italia (đạt 97,7 nghìn tấn)
Trang 13Xu hướng tăng
Biểu đồ 2.10 Xu hướng nhập khẩu mực của Tây Ban Nha, Italia và xuất khẩu của
Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006 (đơn vị: nghìn tấn)
Bảng 2.2 Dự báo nhu cầu nhập khẩu mặt hàng mực đông lạnh của
Tây Ban Nha và Italia giai đoạn 2008 – 2010 (đơn vị: nghìn tấn)
Đối với mặt hàng bạch tuộc, hai quốc gia này vẫn là những nước nhập khẩulớn nhất của EU, tổng sản lượng nhập khẩu của Tây Ban Nha và Italia năm 2006 đạt91,5 (nghìn tấn), có thể thấy con số này là nhỏ hơn rất nhiều so với sản lượng nhậpkhẩu của mặt hàng mực đông lạnh Xu hướng nhập khẩu mặt hàng này có nhiều biếnđộng trong giai đoạn 1998 – 2006 như sau
Biểu đồ 2.11 Xu hướng nhập khẩu bạch tuộc của Tây Ban Nha, Italia và xuất
khẩu của Việt Nam giai đoạn 1998 – 2006 (đơn vị: nghìn tấn)
Trang 145,6 5,4
4 3,5
2,5 2,8
dù sản lượng nhập khẩu bạch tuộc của hai nước Tây Ban Nha và Italia có xu hướnggiảm mạnh trong giai đoạn 1999 – 2001 và giai đoạn 2002 – 2004, đồng thời tăng nhẹ
từ 2004 – 2006, xuất khẩu mặt hàng bạch tuộc đông lạnh của Việt Nam tiếp tục tăngtại hai thị trường này, điều này cho thấy mặt hàng này của Việt Nam có sức cạnh tranh
và duy trì được vị trí tương đối ổn định
Dựa trên số liệu sản lượng nhập khẩu mặt hàng bạch tuộc của Tây Ban Nha vàItalia giai đoạn 1998 – 2006, tác giả dự báo sản lượng nhập khẩu của hai quốc gia này
từ 2008 – 2010 Kết quả dự báo như sau
Bảng 2.3 Dự báo sản lượng nhập khẩu bạch tuộc đông lạnh của hai
thị trường Tây Ban Nha và Italia giai đoạn 2008 – 2010 (đơn vị: nghìn tấn)
Tổng sản lượng
Trang 15Sản lượng nhập khẩu bạch tuộc của hai thị trường sẽ tăng lên 106,17 (nghìntấn) vào năm 2010, trong đó thị phần nhập khẩu của Tây Ban Nha vẫn chiếm đa số,tốc độ tăng sản lượng nhập khẩu được dự báo cho hai thị trường này giai đoạn 2008 –
2010 là 3,6%/năm Trong năm 2006, Italia là nước nhập khẩu bạch tuộc đông lạnh củaViệt Nam lớn nhất trong khối EU, đạt 5,6 (nghìn tấn), chiếm 11% về thị phần và ViệtNam xếp vị trí thứ 7 trong số các nước xuất khẩu mặt hàng này sang Italia, đứng sauIndonesia (xếp vị trí thứ 5) Đối với thị trường Tây Ban Nha, năm 2006 Việt Nam xuấtkhẩu 1,9 (nghìn tấn), chiếm 4,7% về thị phần nhập khẩu bạch tuộc của Tây Ban Nha
và đứng vị trí thứ 4 trong số các nước cung cấp bạch tuộc cho thị trường này Với kếtquả dự báo nhập khẩu bạch tuộc của hai quốc gia này sẽ tăng chậm từ nay đến 2010,sản lượng xuất khẩu bạch tuộc của Việt Nam sang Tây Ban Nha và Italia trong giaiđoạn tới ít biến động và đạt mức sản lượng vào năm 2010 dưới 10 (nghìn tấn)
Tính chung cho hai mặt hàng mực và bạch tuộc đông lạnh, dự báo trong giaiđoạn 2008 – 2010, sản lượng nhập khẩu của Tây Ban Nha và Italia đạt 444,9 (nghìntấn) trong năm nay, 500,5 (nghìn tấn) trong năm 2009 và đạt 556,4 (nghìn tấn) vàonăm 2010 Tốc độ tăng nhập khẩu mặt hàng mực và bạch tuộc của hai thị trường này
sẽ đạt 11,8%/năm Trong đó, mặt hàng mực đông lạnh chiếm tỷ trọng lớn nhất, vớitốc độ tăng nhập khẩu mực đông lạnh rất cao (đạt 21%/năm) đây sẽ là mặt hàngmang lại nhiều triển vọng cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam trongthời gian tới
2.3 Chương trình kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam
2.3.1 Hệ thống phân cấp kiểm soát
Hiện nay, để đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn laođộng và bảo vệ môi trường của các thị trường trên thế giới, trong đó thị trường EUđược xem là thị trường có những quy định khắt khe nhất, cục Quản lý Chất lượng, Antoàn vệ sinh và Thú y Thuỷ sản trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn(trước đây thuộc Bộ Thuỷ sản) Việt Nam đã phân cấp quản lý bằng cách thành lập cácTrung tâm Chất lượng và Thú y Thuỷ sản tại các vùng nuôi trồng và chế biến thuỷ sảntrên toàn quốc, xây dựng chương trình kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong thuỷsản nuôi và triển khai tại các vùng nuôi trồng thuỷ sản thương phẩm trong cả nước từtháng 9/1999
Bảng 2.4 Các Trung tâm chất lượng Thú y Thuỷ sản và phạm vi quản lý
ST
T Trung tâm Chất lượng và Thú y Thuỷ sản Phạm vi quản lý
Trang 16NAFIQAVED và các Trung tâm CL&TYTS vùng, các Trung tâm CLTYTS vùng
Thông báo kết quả kiểm soát Thông báo kết quả phân tích
Phòng kiểm nghiệm được uỷ quyền
Thông báo tình hình nuôi và
Thông báo kết quả kiểm soát
và chế độ giám sát khi phát hiện có vi phạm
Đại lý cung cấp nguyên liệu
Lấy mẫu, thông báo và thực hiện giám sát
Lấy mẫu kiểm soát theo kế hoạch HACCP
1 Trung tâm Chất lượng và Thú y Thuỷ sản vùng 1
Đồng bằng sôngHồng, Đông Bắc,Tây Bắc và BắcTrung Bộ
2 Trung tâm Chất lượng và Thú y Thuỷ sản vùng 2 Duyên hải Nam
Trung Bộ
3 Trung tâm Chất lượng và Thú y Thuỷ sản vùng 3 Tây Nguyên
4 Trung tâm Chất lượng và Thú y Thuỷ sản vùng 4 TP Hồ Chí Minh
5 Trung tâm Chất lượng và Thú y Thuỷ sản vùng 5 Tỉnh Cà Mau
6 Trung tâm Chất lượng và Thú y Thuỷ sản vùng 6 Tỉnh Cần Thơ
Nguồn: http://www.nafiqaved.gov.vn
Sự phân cấp trong quản lý chất lượng nuôi trồng thuỷ sản thành 6 Trung tâmChất lượng và Thú y Thuỷ sản đặt tại 6 vùng là một bước đi ban đầu trong chươngtrình kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong động vật và sản phẩm động vật thuỷsản nuôi Chương trình được xem như là nhiệm vụ hàng năm và Cục Quản lý CL,ATVS & TYTS đã xây dựng nên một hệ thống kiểm soát đồng bộ từ Trung ương đếnđịa phương nhằm kiểm soát chặt chẽ dư lượng hoá chất độc hại trong thuỷ sản nuôi
Hệ thống phân cấp kiểm soát này được thể hiện trong sơ đồ sau
Sơ đồ 2.1 Tổ chức thực hiện kiểm soát dư lượng các hoá chất
độc hại