1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG Ở CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

23 251 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Công Tác Trả Lương Ở Công Ty Dệt Vải Công Nghiệp Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 43,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG Ở CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội là một doanh nghiệp duy nhất trong cả nước được giao nhiệm vụ sản xuất.. Đến nay sản phẩm của Công

Trang 1

PHÂN TÍCH CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG Ở CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG

Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội là một doanh nghiệp duy nhất trong

cả nước được giao nhiệm vụ sản xuất Các thông số kỹ thuật Công ty phải tự tìm tòi, nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng, ít có sự học hỏi trao đổi kinh nghiệm với các doanh nghiệp khác trong ngành Trong điều kiện như vậy, Công ty vừa tổ chức sản xuất, vừa hoàn thiện từng bước quy trình công nghệ, sắp xếp lao động hợp lý, đưa năng suất lao động không ngừng tăng lên.

Qua 35 năm xây dựng và trưởng thành, Công ty đã phát triển lớn mạnh

về cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ quản lý và có một đội ngũ cán bộ công nhân viên với phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn cao Đến nay sản phẩm của Công ty được đánh giá tiêu chuẩn chất lượng về các mặt như:

- Vải mành sợi được cấp dấu chất lượng cấp 1

- Vải sợi 3x3 và 3x4 được tặng Huy chương vàng trong Hội chợ triển lãm thành tựu Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam.

Trang 2

Đặc biệt Công ty đã được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Hai và một Huân chương Lao động hạng Ba.

2 Quá trình phát triển của Công ty

Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của con người, ngành Dệt may thế giới nói chung và ngành Dệt may Việt Nam nói riêng đã ra đời phát triển từ thô sơ đến hiện đại, từ thủ công đến công nghiệp, từ phân tán đến tập trung

Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội đã có hơn 34 năm xây dựng và trưởng thành, song có thể khái quát thành 3 giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Giai đoạn tiền thân của Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội

(1967-1973)

Công ty ra đời trong chiến tranh phá hoại của Mỹ leo thang đánh phá ác liệt miền Bắc nước ta Một trong các xí nghiệp thành viên của Nhà máy Liên hiệp Dệt Nam Định được lệnh tháo dỡ máy móc thiết bị sơ tán lên Hà Nội mang tên là Nhà máy Dệt chăn, trụ sở tại Vĩnh Tuy-Thanh Trì-Hà Nội Khi còn

là xí nghiệp thành viên thì nhiệm vụ là tận dụng bóng đay, sợi rối, phế liệu của

Xí nghiệp Dệt Nam Định để sản xuất chăn chiên Sau khi sơ tán lên Hà Nội do không còn phế liệu trên làm nguyên liệu cho kế hoạch sản xuất, Nhà máy phải gom thu phế liệu của các Nhà máy trong khu vực Hà Nội như: Nhà máy Dệt kim Đông Xuân, Nhà máy Dệt 8-3 để thay thế và giữ vững sản xuất.

Nhưng do quy trình công nghệ lạc hậu, máy móc thiết bị cũ kỹ (chế tạo từ thời Pháp thuộc), nguyên liệu tạp cung cấp bất thường làm cho giá thành sản phẩm cao dẫn đến tình trạng Nhà nước phải bù lỗ triền miên.

Cũng vào thời kỳ đó Trung Quốc giúp ta một dây chuyền công nghệ sản xuất vải mành lốp xe từ sợi bông, lãnh đạo Nhà máy đã đề nghị Nhà nước đầu

tư dây chuyền công nghệ đó vào Nhà máy.

Từ năm 1970 đến năm 1972 dây chuyền đã được lắp đặt và đưa vào sử dụng, sản phẩm làm ra cung cấp cho Nhà máy Cao su sao vàng thay thế cho vải mành phải nhập từ Trung Quốc.

Tháng 10-1973 Nhà máy đổi tên thành Nhà máy Dệt vải Công nghiệp Hà Nội.

Giai đoạn 2: Tăng trưởng trong cơ chế tập trung bao cấp (1974-1988)

Từ quy mô nhỏ, tiền vốn chỉ có 473.406,98 đồng, giá trị tài sản là 158.507 đồng (theo giá cố định năm 1968), cán bộ công nhân viên có 77 người Nhà

Trang 3

máy vừa đầu tư xây dựng cơ bản nhà xưởng, kho tàng, đường xá nội bộ, mua sắm thêm máy móc thiết bị, tuyển dụng thêm lao động, bổ sung thêm vốn Đến năm 1988 tổng mức vốn kinh doanh đạt trên 5 tỷ đồng, giá trị tổng tài sản đạt

10 tỷ đồng (theo thời giá cố định năm 1977).

Tổng số cán bộ công nhân vào biên chế là 1.079 người, trong đó có 986 người là công nhân sản xuất Về thiết bị, khi lắp đặt dây chuyền sản xuất vải mành ban đầu Trung Quốc chỉ cấp cho ta 2 máy dệt vải mành (là máy chuyên dùng) Trong quá trình phát triển đi lên, cán bộ công nhân viên Nhà máy đã tự chế tạo trang bị thêm 6 máy dệt vải mành nữa, đưa tổng số lên 8 máy để nâng cao năng lực sản xuất, sợi bông làm lốp xe đạp trong nước, đảm bảo cho Nhà máy phát triển sản xuất kinh doanh có lãi Cũng trong giai đoạn này, Nhà máy thực hiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế bao cấp, nhận vật tư của Nhà nước

Do đó khoa học sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đã ổn định theo xu thế năm sau cao hơn năm trước, sản phẩm các loại làm ra đều được ưa chuộng và mở rộng mạng lưới tiêu thụ tới thị trường trong cả nước, từ Bắc vào Nam Các sản phẩm chủ yếu đạt mục tiêu cao nhất như vải mành năm 1988 tiêu thụ3,808 triệu m2, vải bạt tiêu thụ đạt 1,2 m2 vải 3.024 (simily bông dùng may quân trang cho quân đội) tiêu thụ 1,4 triệu m2 dây chuyền sản xuất làm việc theo cơ chế làm việc 3 ca/1 ngày.

Giai đoạn 3: Giai đoạn chuyển đổi cơ chế thị trường (từ 1989 đến nay)

Khi cả nước trên đường chuyển đổi cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường với chính sách mở cửa của nền kinh tế, mậu dịch biên giới phát triển mạnh mẽ, thị trường trong nước xuất hiện những sản phẩm tương tự như sản phẩm của Nhà máy Một số khách hàng quen thuộc của Nhà máy như: Cục quân trang, các Xí nghiệp giầy vải, Xí nghiệp cao su, đi tìm mua sản phẩm tương tự ở thị trường mới kể cả thị trường nước ngoài Số khách hàng mới cũng quyết định thay đổi công nghệ mới để đáp ứng yêu cầu kinh doanh trong

cơ chế thị trường có sự cạnh tranh, thị trường tiêu thụ của Nhà máy bị thu hẹp một cách đáng kể Đứng trước tình trạng đó, Nhà máy phải tìm mọi cách để nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để cạnh tranh với sản phẩm cùng loại

đã xuất hiện trên thị trường Nhà máy đã thay thế nguyên liệu vải mành làm lốp xe đạp từ sợi bông (100% cotton) sang sợi pêcô (35% cotton và 65% PE) tiến hành đa dạng hoá sản phẩm, dệt thêm các loại vải dân dụng như vải phin các loại 6624, 6606, 5420 Nhà máy còn chủ động tìm kiếm khách hàng ký kết

Trang 4

các hợp đồng kinh tế, tìm biện pháp hạ giá thành sản phẩm, tất cả nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường trong giai đoạn mới.

Thực hiện cơ chế quản lý mới, với tinh thần giảm đội ngũ cán bộ công nhân, bố trí sắp xếp lao động dư thừa, Nhà máy đầu tư xây dựng thêm một phân xưởng may với công suất 50.000 sản phẩm/1 năm Số lượng lao động còn lại giải quyết theo chế độ 176/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, với tinh thần tự nguyện có sự trợ giúp của Công ty về vốn để tìm kiếm thị trường mới Với những tiến triển và kết quả đã đạt được, tháng 7-1994 Nhà máy được

Bộ Công nghiệp đổi tên thành Công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội (tên tiếng Anh là Ha Nội Industrial Canvas Textile Company) viết tắt là HAICATEX.

3 Phương hướng và chỉ tiêu sản xuất kinh doanh năm 2001

- Đầu tư mở rộng sản xuất một xí nghiệp sản xuất vải không dệt.

- Tổng doanh thu 83000 triệu tăng so với năm 2000

- Giá trị sản xuất công nghiệp 49.000 triệu tăng 113% so với năm 2000

- Tính đúng khấu hao nộp ngân sách Nhà nước

A Xí nghiệp mành

Phương hướng:

- Nâng cao chất lượng sản phẩm đạt chứng chỉ ISO 9000-2000.

- Tăng tốc đọ doanh thu mở rộng thị phần tiết kiệm chi phí an toàn sản xuất.

Trang 5

- Năng cao sản phẩm

- Mở rộng bạn hàng

- Tăng kim nghạch xuất khẩu

Chỉ tiêu:

Đạt và vượt 82.250.000 sản phẩm trong đó tỷ lệ FOB: 30%

II NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG.

a Đặc điểm về sản phẩm.

Hiện nay sản phẩm chính của công ty là vải mành vải bạt các loại vải mộc không tẩy nhuộm, sợi xe và sản phẩm may, những sản phẩm này được sử dụng rộng rãi ở nhiều nghành công nghiệp

Vải mành sợi lông,vải mành sợi pêcô dùng để sản xuất lốp xe đạp dây đai thang cao su Các sản phẩm này được khách hàng trong nghành cao sử dụng

là chủ yếu như nhà máy cao su sao vàng cao su Đà Nẵng, cao su Biên Hoà, cao

su Hải Phòng …

Vải bạt: Dùng làm ống dẩn nước, ống hút bùn băng chuyền tải loại nhỏ,

vì vậy nó cũng là nguyên liệu sản xuất cho các nghành cao su Vải bạt còn được dùng làm giày vải các loại, may găng tay, quần ảo bảo hộ lao động, võng, ba lô phục vụ cho quốc phòng.

Sợi xe: Dùng làm chỉ khâu dân dụng và chỉ khâu công nghiệp, khâu vỏ bao đựng xi măn, khâu vào bao đựng phân bón và sợi xe còn dùng làm dệt các loại vải Gabađin Đơluyn, vải bò mà khách hàng là các nhà may như xi măng Hoàng Thạch, phân lân Văn Điển, phân đạm Hà Bắc, dệt lụa Nam Định, Sợi dệt kim Hà Nội…

Nhu cầu các loại vải công nghiệp là rất lớn và rất cần thiết cho nến kinh

tế quốc dân, một phần dùng để sản xuất sản phẩm trong nội địa sản xuất, một phần dùng để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu.

Nước ta hiện nay mới chỉ có công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội là doanh nghiệp sản xuất vải mành sợi bông cottong dùng cho sản xuất lốp xe đạp Dây đai thang cao su loại tải trọng nhẹ và vừa, còn lại nhà nước vẩn phải nhập vải mành nylon để sản xuất lốp xe máy, lốp máy kéo lốp ôtô Mục tiêu của công ty

Trang 6

là chiếm lỉnh thị trường vải công nghiệp chuyên sâu sản xuất các loại vải mành, vải bạt phục vụ cho nền kinh tế quốc dân.

Từ năm 1994 đến nay, công ty đang phấn đấu chuyển hướng công nghệ sản xuất mới, sản xuất các loại vải từ nguyên liệu sợi tổng hợp.

Những đặc điểm trên nó bao quát, bao trùm và có ảnh hưởng rất lớn đến công tác tổ chức tiền lương của công ty, từ doanh thu tiêu thụ ra sao, để vốn hoạt động để tái sản xuất sức lao động, để có tiền lương trả cho công nhân, đến việc định mức kỷ thuật lao động, định mức lao động … để thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo đời sống cho dông nhân viên chức trong công ty.

b Đặc điểm về lao động.

Trong thời kỳ bao cấp tổng số lao động trong biên chế lên tới 1097công nhân, từ khi chuyển sang cơ chế thị trường đến nay, qua sắp xếp tổ chức lại cơ cấu lao động của công ty có thay đổi nhiều cho đến năm1999 còn 936 người cơ cấu ta có bảng sau:

Bảng cơ cấu lao động

Số lượng % Số lượng % Số lượng %

936 97 839 43 103 40 200 58 3

100 10,4 89,6

54 48

5,8 49,5

24 12

2,3 12,3

Do đặc điểm của công ty từ lâu không tuyển sinh công nhân nên lao động công nhân trong công ty hầu hết là tuổi trung niên, có tay nghề bậc thợ cao có tác phong công nghiệp và đều có kinh nghiệm và chấp hành kỉ luật lao động Công ty luôn tạo điều kiện nâng cao kiến thức như cho đi học thêm để củng cố

và phát huy Như vậy, ta thấy trình độ quản lý ở mức khá đây là nhân tố ảnh hưởng tốt đến chất lượng và số lượng sản phẩm trong công ty

Trang 7

c Đặc điểm về cơ cấu quản lý và tổ chức sản xuất của công ty

Về cơ cấu quản lý công ty.

Công ty Dệt vảt công nghiệp Hà Nội trực thuộc bộ công nghiệp nhẹ, nên công ty được quyền chủ động tổ chức bộ máy quản lý trong doanh nghiệp và hoạt động có hiệu quả công ty được tổ chức bộ máy quản lý trực tuyến chức năng Giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất, trực tiếp phụ trách một mặt như : phòng hành chính tổng hợp, kế hoạch dài hạn về sản xuất đầu tư, công tác tổ chức cán bộ, công tác tự vệ công ty Hiện nay công ty có 6 phòng ban và 3 phân xưởng

Phòng sản xuất kinh doanh – XNK ( gồm 20 người)

Chức năng: - Điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt

động XNK trong toàn công ty

- Tiêu thụ toàn bộ sản phẩm của công ty

- quản lý cung ứng vật tư, bảo quản dự trữ vật tư.

Nhiệm vụ: Tổng hợp xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch XNK

- Kế hoạch chiến lược

- Kế hoạch năm

- Kế hoach tác nghiệp

- Hướng dẫn kiểm tra đôn đốc các đợn vị trong công ty xây dựng các phần kế hoạch do đơn vị phụ trách thực sự phân cấp của công ty, biểu mẫu, phương pháp, các chỉ tiêu tổng hợp.

- Nắm chắc nhu cầu của khách hàng để chỉ đạo sản xuất, điều phối, điều hoà sản xuất kinh doanh, kế hoạch XNK, cân đối trong toàn công ty đảm bảo tiến độ yêu cầu của khách hàng.

- Thực hiện các nhiệm vụ cung ứng

- Tổ chức thực hiện tiêu thụ sản phẩm.

- Kiểm tra, giám sát, xác định mức độ hoàn thành kế hoạch quyết toán vật tư cấp phát và sản phẩm nhập kho đối với các phân xưởng.

- Báo cáo với cơ quan chức năng theo yêu cầu

- Tổ chức quản lý và sử dụng phương tiện vận tải có hiệu quả

Trang 8

- Cung cấp số liệu cho lãnh đạo của công ty và các phòng nghiệp

vụ khác theo yêu cầu.

Phòng tài chính kế toán (9 người)

Chức năng:

- Quản lý huy động và sử dụng các nguồn vốn của công ty đúng mục đích yêu cầu sao cho đạt hiệu quả cao nhất

- Hạch toán bằng tiền mọi hoạt động của công ty

- Giám sát, kiểm tra công tác kế toán, tài chính ở các đợn vị

- Theo dõi, giám sát các hợp đồng kinh tế, các đơn đặt hàng đã được xác định có khả năng thanh toán, theo dõi đôn đốc thu hồi công nợ.

- Thống nhất quản lý nhiệm vụ hạch toán kế toán thống kê trong toàn công ty bao gồm: Các công tác tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ, mở sổ sách nghi chép, phương pháp hạch toán, phương pháp nghi chép thống kê.

- Chủ trì công tác kiểm tra tài sản, vật tư hàng hoá, sản phẩm, tiền vốn trong toàn công ty, xử lý kịp thời các sai phạm, chế độ gây thất thoát cho công ty.

- Hướng dẫn theo dõi công tác hạch toán ở các đơn vị trực thuộc công ty,

tổ chức phân tích hoạt động kinh tế cấp công ty hàng quý, năm.

- Bảo đảm an toàn bí mật các tài liệu có liên quan về tài chính của công ty Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo thống kê theo quy định của xây dựng kế hoạch giá thành sản phẩm và quản lý giám sát giá bán sản phẩm toàn công ty.

Phòng tổ chức hành chính.( 24 người).

Trang 9

Chức năng:

- Quản lý hành chính tổng hợp.

- Tổ chức bộ máy quản lý và lao động tiền lơng.

- Bảo vệ công ty.

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho các bộ phận quản lý nhiệm vụ, thợ bậc cao trong công ty, lập kế hoạch nâng cấp bậc lương cho toàn công ty.

+ Tổ chức kí kết các hợp đồng lao động, quản lý hồ sơ nhân sự toàn công ty + Xây dựng và ban hành quy chế về quản lý và sử dụng lao động tiền lương, tiền thưởng và hướng dẫn thực hiện.

Trang 10

+ Thông tin tuyên truyền.

+ Thực hiện các nghiệp vụ lễ tân.

+ Quản lý hệ thống điện thoại – Fax.

Quản trị trang bị, quản lý các thiết bị, dụng cụ, phương tiện làm việc, quản lý nhà ở, công trình phúc lợi công cộng, vệ sinh, ngoại cảnh.

Phòng kỹ thuật đầu tư.

Chức năng:

- Quản lý kỹ thuật đầu tư.

- Xây dựng chiến lợc sản phẩm của công ty.

- Quản lý hoạt động kỹ thuật của công ty.

- Quản lý công tác đầu tư của công ty.

Nhiệm vụ:

- Tiếp nhận phân tích các thông tin khoa học kinh tế mới, xây dựng quản

lý công trình, quy phạm, tiêu chẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, định mức kỹ thuật.

- Tiến hành nghiên cứu thử sản phẩm mới.

- Tổ chức quản lý các sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong công ty.

- Xây dựng các biện pháp và kế hoạch kỹ thuật trong công ty.

- Tổ chức kiểm tra, xác định tay nghề của công nhân viên.

- Kiểm tra quản lý các định mức kỹ thuật.

- Quản lý hồ sơ kỹ thuật của công ty.

Phòng bảo vệ quân sự.( 19 người).

- Chịu trách nhiệm về tài sản của công ty.

- Công tác phòng chống cháy nổ, bảo vệ an toàn trong công ty làm công tác kiểm tra canh gác và an ninh.

Phòng dịch vụ đời sống

Chức năng:

- Nuôi dạy các cháu nhà trẻ mẫu giáo.

Trang 11

- Khám chữa bệnh.

- Tổ chức bữa ăn công nghiệp.

- Các hoạt động dịch vụ khác.

Nhiệm vụ:

- Tổ chức nuôi dạy các cháu ở lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo.

- Tổ chức tốt các bữa ăn giữa ca, bồi dưỡng độc hại cho lao động bữa ăn cho nhà trẻ mẫu giáo.

- Khám chữa bệnh cho người lao động và các cháu nhà trẻ.

- Theo dõi bệnh nghề nghiệp.

- Chỉ đạo công tác vệ sinh phòng bệnh.

- Phối hợp các tổ chức đoàn thể thực hiện công tác kế hoạch hoá gia đình,

tổ chức thực hiện các nghiệp vụ sửa chữa nhỏ và các dịch vụ khác.

- Sắp xếp sử dụng lao động hợp lý đánh giá kết quả của người lao động theo tiêu chuẩn.

+ Xác định định mức kỹ thuật, định mức lao động, phân phối nội bộ thanh toán lương cho lao động do đơn vị mình quản lý.

Ngày đăng: 18/10/2013, 07:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng cơ cấu lao động - PHÂN TÍCH CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG Ở CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Bảng c ơ cấu lao động (Trang 6)
Bảng đơn giá của mặt hàng vải 341570 - PHÂN TÍCH CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG Ở CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ng đơn giá của mặt hàng vải 341570 (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w