1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng ngôn ngữ nghê thuật trong giảng dạy môn tư tưởng HCM

128 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngôn ngữ “Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập với những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, cũng như trừu tượng hoá khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng đó” [2, tr.311]. “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạng khả năng tiềm tàng, trừu tượng hoá khỏi bất kỳ một sự áp dụng cụ thể nào của chúng. Còn lời nói là phương tiện giao tiếp ở dạng hiện thực hoá, tức là ở dạng hoạt động, gắn liền với những nội dung cụ thể. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng: cái riêng chỉ tồn tại trong chừng mực là nó liên hệ với cái chung. Cái chung chỉ có thể tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng” [3, tr.311].

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

˜˜˜ LÊ THỊ TUYẾT MAI

Sö DôNG NG¤N NG÷ NGHÖ THUËT

TRONG D¹Y HäC M¤N T¦ T¦ëNG Hå CHÝ MINH

ë TR¦êNG §¹I HäC S¦ PH¹M - §¹I HäC §µ N½NG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

˜˜˜ LÊ THỊ TUYẾT MAI

Sö DôNG NG¤N NG÷ NGHÖ THUËT

TRONG D¹Y HäC M¤N T¦ T¦ëNG Hå CHÝ MINH

ë TR¦êNG §¹I HäC S¦ PH¹M - §¹I HäC §µ N½NG

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp giảng dạy GDCT

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG VĂN KHOA

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến đội ngũ giảng viên của TrườngĐại học Sư Phạm Hà nội, và các thầy cô trong khoa Lý luận chính trị đã tận tâmgiảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho học viên trong suốt quá trình họctập và nghiên cứu ở đây Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giảng dạy trực tiếpmôn Tư tưởng Hồ Chí Minh, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã nhiệttình hợp tác, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực nghiệm sư phạm Đặc biệt, xin tỏlòng biết ơn sâu sắc đến TS Dương Văn Khoa, người đã trực tiếp hướng dẫn vàgiúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè những người đã luôn bên cạnh, ủng

hộ và động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Tuy đã cố gắng nghiêncứu, tìm hiểu, nhưng luận văn cũng không tránh khỏi những sai xót, khuyết điểm,kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè, đểluận văn có thể hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Lê Thị Tuyết Mai

Trang 5

MỤC LỤC

-Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng của con người trong thời bình 93

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

-Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng của con người trong thời bình 93

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

-Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng của con người trong thời bình 93

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 29 (2013) của Đảng về đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo, toàn bộ nền giáo dục quốc dân đang chuyển mình,thay đổi mạnh mẽ Định hướng quan trọng trong dạy học hiện nay là chuyển từ việctruyền thụ kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển toàn diện năng lực vàphẩm chất cho người học; bên cạnh việc dạy chữ, chú trọng hơn việc dạy làm người

Ngôn ngữ nghệ thuật là dạng ngôn ngữ mang đậm tính gợi hình, gợi cảm Nóđược sử dụng nhiều trong các văn bản nghệ thuật, trong khoa học hoặc trong đờisống hàng ngày Ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ có chức năng thông tin mà cònthoã mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp,lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẫm

mĩ Phong cách điển hình của ngôn ngữ nghệ thuật là tính hình tượng, truyền cảmhứng và cá thể hoá

Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa vào giảng dạy cho sinh viên trình độđại học, cao đẳng từ khoá tuyển sinh năm học 2008 - 2009 Tư tưởng Hồ Chí Minh làmột môn khoa học có hệ thống kiến thức rộng lớn và vừa mang tính cụ thể, lại vừa có

tính khái quát cao “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề

cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi” [1, tr.88].

Thực tiễn dạy và học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay cho thấy, bêncạnh số sinh viên yêu thích môn học còn không ít sinh viên học đối phó, không hàohứng với môn học, họ cảm thấy nhàm chán khi nghe giảng viên thuyết trình, chưa ýthức được vị trí của môn học đối với công việc và cuộc sống của mình Có nhiềunguyên nhân dẫn đến hiện tượng tiêu cực này, trong đó có nhiều nguyên nhân xuấtphát từ chính cách thức dạy học không phù hợp của một số giảng viên

Trang 9

Đối tượng của môn học là các sinh viên các trường cao đẳng và đại học Đó

là thế hệ trẻ năng động, tràn đầy năng lượng về trí tuệ, sức khoẻ và khát vọng về sựkhởi nghiệp SV là những người ưa khám phá, sáng tạo, hướng về những điều mới

mẻ, hiện đại Tri thức của các môn Lý luận chính trị nói chung, môn tư tưởng HồChí Minh nói riêng lại mang nặng tính chất truyền thống (là sản phẩm của thế kỉXIX, XX và được phát triển ở mức độ nào đó trong thế kỉ XXI) Vì vậy, để thíchhợp với đối tượng, việc đưa những điều mới mẻ, sáng tạo (như sử dụng ngôn ngữnghệ thuật trong giảng dạy) làm phong phú, tạo ra sự hấp dẫn hơn cho hệ tư tưởng

ấy là cần thiết

Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ởcác trường cao đẳng, đại học nói chung, Trường Đại học Sư phạm – Đại học ĐàNẵng nói riêng, góp phần thúc đẩy hơn những thế mạnh của môn học, tạo ra nhữnghình ảnh, biểu tượng gần gũi, dễ hiểu và hấp dẫn; đồng thời, hạn chế những khókhăn trong nhận thức môn học, đưa cái trừu tượng về với thực tiễn và cụ thể (sửdụng các hình ảnh để giải thức các khái niệm, thuật ngữ trừu tượng)

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn: “Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong

dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà

Nẵng” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, chuyên ngành Lý luận và

phương pháp giảng dạy giáo dục chính trị

2 Lịch sử nghiên cứu

Xoay quanh vấn đề nghiên cứu, có nhiều bài viết, công trình khoa học đã đềcập ở các góc độ khác nhau, điển hình có thể kể đến:

Luận văn: “kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong

giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường Đại học Tây Bắc” của Nguyễn Hải Minh, năm 2013” lý giải về sự cần thiết của việc kết hợp phương pháp thuyết trình với

phương pháp trực quan, nhằm tăng tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viêntrong quá trình học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Tây Bắc

Luận văn: “Phương pháp trực quan trong dạy học Đường lối cách mạng của

Đảng Cộng Sản Việt Nam ở trường đại học An Giang”, năm 2015” đề xuất những

Trang 10

nguyên tắc và hệ thống các phương pháp trực quan trong giảng dạy môn Đường lốicách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ở Trường Đại học An Giang Ưu điểm lớncủa các phương pháp này là tạo các biểu tượng, giúp sinh viên nhận thức tốt hơnnhững vấn đề thuộc về Đường lối cách mạng của Đảng.

Tạp chí văn học: “đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong vănxuôi” của tác giả Đào Thân, số 2, tr.13, năm 1994

Cuốn: “Dẫn luận ngôn ngữ học” do Nguyễn Thiện Giáp chủ biên, Nhà xuất

bản Giáo dục Việt Nam, năm 2012” đã giải thích nguồn gốc, bản chất, chức năngcủa ngôn ngữ đối với con người nói chung và người học nói riêng.v.v…

Nhìn chung, các đề tài, bài viết trên đã đi sâu nghiên cứu những phươngpháp cụ thể trong dạy học nói chung, dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đườnglối cách mạng của Đảng nói riêng như: phương pháp thuyết trình, phương pháp trựcquan Một số công trình nghiên cứu dưới góc độ lý luận ngôn ngữ văn học… tất cảđều có giá trị tham khảo tốt Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình,

chuyên luận nào nghiên cứu về “Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn

tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng” Trên cơ sở

kế thừa kết quả các nhà nghiên cứu đi trước, luận văn đi sâu tìm hiểu cơ sở khoahọc của đề tài, trên cơ sở đó sẽ đề xuất hệ thống các nguyên tắc, biện pháp sử dụngngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học

Sư phạm – Đại học Đà Nẵng hiện nay Để kiểm chứng cho tính khoa học, đúng đắncủa giả thuyết nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành thực nghiệm và đánh giá kết quảthực nghiệm sư phạm

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn việc sử dụng ngôn ngữnghệ thuật trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm –Đại học Đà Nẵng Từ đó đề xuất những nguyên tắc và biện pháp sử dụng ngôn ngữnghệ thuật nhằm đem lại hiệu quả cao trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ởcác trường cao đẳng, đại học nói chung, Trường Đại học Sư phạm – Đại học ĐàNẵng nói riêng hiện nay

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ởTrường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu cơ sở khoa học của đề tài; đề xuấtcác nguyên tắc, biện pháp (chủ yếu khai thác và sử dụng phong cách biểu tượng củangôn ngữ nghệ thuật trong quy trình dạy học: chuẩn bị bài giảng; tổ chức giảng dạy;kiểm tra đánh giá)

- Không gian nghiên cứu: Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài điều tra thực trạng dạy học môn Tư tưởng HồChí Minh trong năm học 2016 – 2017 và thực nghiệm sư phạm trong năm học 2017– 2018 ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

5 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

Luận văn luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của sử dụng ngôn ngữ nghệthuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học sư phạm – Đạihọc Đà Nẵng Từ đó khẳng định sự cần thiết của việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuậttrong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học sư phạm – Đại học ĐàNẵng nói riêng, các trường đại học trên cả nước nói chung

Luận văn đề xuất hệ thống nguyên tắc, biện pháp phù hợp trong việc sử dụngngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học

Sư phạm – Đại học Đà Nẵng hiện nay

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, nhàgiáo dục và sinh viên hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận khi triển khai đề tài nghiên cứu là chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được

sử dụng là:

Trang 12

- Kết hơp phương pháp lịch sử và phương phương lôgic

- Phương pháp quan sát: tham gia, quan sát lớp học.

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: mục đích khảo sát thực trạng sử dụng

cách nói hình ảnh trong giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường Đại học Sưphạm – Đại học Đà Nẵng

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm sư phạm: thông qua phân tích, đánh giá

sản phẩm hoạt động của sinh viên để phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu về cáckinh nghiệm sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật của sinh viên

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tiến hành thực nghiệm tại trường Đại

học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài

- Nhóm phương pháp hỗ trợ: sử dụng công thức toán học, phần mềm SPSS

để xử lý sô liệu điều tra và thực nghiệm

7 Giả thuyết khoa học

Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là phong cách biểu tượng của ngôn ngữnghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học sư phạm –Đại học Đà Nẵng giúp SV dễ dàng tiếp nhận tri thức mới, hiểu bài và thích thú, say

mê tìm tòi nghiên cứu Từ sự yêu thích đối với môn học, người học tích cực, chủđộng học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống Góp phần phát triển

ở người học những năng lực và phẩm chất cơ bản Việc làm này góp phần nâng caochất lượng dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường Đại học Sư phạm – Đại học

Đà Nẵng nói riêng và các trường đại học, cao đẳng trên cả nước nói chung

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luậnvăn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy

học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Chương 2: Nguyên tắc và biện pháp sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy

học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy

học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG NGÔN NGỮ

NGHỆ THUẬT TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1.1 Các khái niệm về ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.1.1 Ngôn ngữ

“Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếpcủa con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập vớinhững tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, cũng như trừutượng hoá khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng đó” [2, tr.311]

“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạng khả năng tiềm tàng, trừu tượnghoá khỏi bất kỳ một sự áp dụng cụ thể nào của chúng Còn lời nói là phương tiệngiao tiếp ở dạng hiện thực hoá, tức là ở dạng hoạt động, gắn liền với những nộidung cụ thể Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói là mối quan hệ giữa cái chungvới cái riêng: cái riêng chỉ tồn tại trong chừng mực là nó liên hệ với cái chung Cáichung chỉ có thể tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng” [3, tr.311]

“Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt” [7, tr.57] của loài người,quan trọng bậc nhất, thực hiện gắn kết con người với con người Ngôn ngữ cóbản chất như sau:

Thứ nhất, “ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội” [8, tr.8]

Bị tác động bởi thuyết tiến hoá của Đacuyn, theo một số người, ngôn ngữnhư một cơ thể sống, một động vật, hoặc một thực vật ngôn ngữ hoạt động theoquy luật và phát triển của tự nhiên, ngôn ngữ xuất hiện ở tất cả mọi nơi, mọi lúc vàluôn trải qua các giai đoạn: nảy sinh, trưởng thành, hưng thịnh, suy tàn và diệt vong.Nhưng quy luật phát triển của ngôn ngữ không giống quy luât phát triển của tựnhiên Ngôn ngữ luôn luôn kế thừa cái cũ, phát triển cái mới, không bao giờ bị huỷdiệt hoàn toàn, ngôn ngữ chỉ có lớn mạnh mà thôi

Trang 14

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội - lịch sử Trong tiến trình phát triển, conngười luôn có nhu cầu giao tiếp, trao đổi và nhận thức hiện thực khách quan Khilao động, hai quá trình giao tiếp và nhận thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Để cóthể hiểu nhau về các sự vật, hiện tượng nào đó, con người phải có ngôn ngữ để giaotiếp, khái quát sự vật, hiện tượng giúp đối tượng hiểu được vấn đề Ngôn ngữ đãgiúp thoả mãn nhu cầu và thống nhất các hoạt động đó của con người Nhờ ngônngữ mà đời sống con người ra đời, thay đổi, phát triển và hưng thịnh, đưa loài ngườiđến một tầm cao mới.

Một số ý kiến đồng nhất ngôn ngữ với bản năng sinh vật của con người, họcho hoạt động nói năng cũng có tính chất bản năng như các hoạt động ăn, khóc,cười, chạy, nhảy… của con người Họ thấy hầu như đứa bé nào cũng biết khóc, biếtcười, biết ăn,… rồi biết nói như nhau, trẻ con trên tất cả thế giới đều bắt đầu vớinhững âm giống nhau như pa pa, ma ma, baba…Thực ra những bản năng sinh vậtnhư ăn, khóc, cười…có thể phát triển ngoài xã hội, trong trạng thái cô độc, cònngôn ngữ không thể có được trong những điều kiện như thế Ngôn ngữ chỉ có thểsinh ra đồng thời được cải tiến trong xã hội loài người, nó không thể nằm ngoài xãhội Ví dụ: khi ta tách một đứa trẻ ra khỏi xã hội của nó, thì nó vẫn sẽ biết khóc, biếtcười, biết chạy nhảy, leo trèo, vì đây là những bản năng vốn có của con người,nhưng đứa bé này sẽ không biết nói, bởi lẻ không có ai để trao đổi thông tin, dạy nóphải nói như thế nào Đã có những trường hợp, con người bị tách khỏi xã hội loàingười và dần sống như một loài động vật, với những bản năng vốn có của mình.Trường hợp nổi tiếng của hai chị em nhà Kamala và Amala, được phát hiện trong mộtkhu rừng ở Ấn Độ do một con sói cái nuôi dưỡng vào năm 1920, khi đó thì Kamala 8tuổi, còn Amala 3 tuổi Vì bị bỏ rơi, mà hai em đã sống như động vật, không có khảnăng giao tiếp như con người bình thường, mặc dù đã được cứu thoát khỏi tình cảnh

đó, nhưng hai em mãi vẫn không nói và sinh hoạt đúng như một con người

Ngôn ngữ không phải là một hiện tượng sinh vật như mọi người vẫn nghĩ, vì

nó không mang tính di truyền, mà nó phải qua quá trình lao động giữa con ngườivới con người, con người dùng ngôn ngữ của mình để trao đổi thông tin

Trang 15

Nhằm giải thích cho bản chất tự nhiên của ngôn ngữ, có ý kiến lại đồng nhấtngôn ngữ với những đặc trưng của chủng tộc, màu da, tỉ lệ cơ thể…đều có thể ditruyền từ đời này sang đời khác Tuy nhiên, ngôn ngữ lại không thể di truyền nhưvậy Trẻ em khi được sinh ra và lớn lên trong môi trường nào thì tiếng nói, ngônngữ của chúng cũng sẽ bắt đầu từ môi trường ấy, như khi để một đứa trẻ người Anhsống trong gia đình người Việt, thì chắc chắn rằng các em sẽ nói tiếng Việt tốt hơn,

và tiếng nói đầu tiên của các em cũng sẽ là tiếng việt Như vậy, ngôn ngữ do môitrường tác động mà tạo thành, do lao động mà trở nên phong phú đa dạng hơn

Ngoài ra, có nhiều người bảo vệ quan điểm rằng đối với ngôn ngữ, đồng nhấtngôn ngữ với tiếng kêu của động vật Chẳng hạn một số động vật dùng tiếng kêucủa mình để tìm bầy đàn của chúng, chúng còn có thể biểu hiện những cảm xúc củamình gần giống như con người và chúng gần như hiểu và phạn xạ lại với những gìcon người nói Như loài chó, khi bảo chúng ngồi xuống, chúng sẽ ngồi, bảo đứng sẽđứng, bảo chạy theo nhặt đồ sẽ chạy…, thậm chí nhưng con vật như vẹt, sáo ta cóthể dạy chúng nói những câu đơn giản Tuy nhiên thì những biểu hiện trên chỉ đơnthuần là phản xạ có điều kiện hoặc không điều kiện của các loài động vật Ưu thếcủa con người đó chính là có thể khái niệm chung cho những từ ngữ được tạo thành.Như vậy, có thể khẳng định rằng ngôn ngữ của con người không thể đồng nhất vớingôn ngữ của động vật được, con người không phải hiện tượng sinh vật

Bên cạnh đó, một số nhà bác học không thừa nhận bản chất xã hội của ngônngữ, mà cho rằng ngôn ngữ là hiện tượng xã hội Mỗi người sẽ có một cách dùngngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ ấy khác nhau, nhưng nếu không có ngôn ngữ chungnhất, thì con người làm sao hình thành được ngôn ngữ cá nhân, cũng như không thểthực hiện quá trình giao tiếp giữa người với người được

Ngôn ngữ không phải là hiện tượng cá nhân, không phải là hiện tượng tựnhiên, vậy nó chỉ có thể là một hiện tượng xã hội Trong cuốn hệ tư tưởng Đức,Mác và Ăngghen đã viết: “ Ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn, ngôn ngữ cũngtồn tại cho những người khác nữa, như vậy là cũng tồn tại lần đầu tiên cho bản thântôi nữa, và, cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra là do nhu cầu, do cần thiết phải

Trang 16

giao dịch vơi người khác” [9, tr.8] Như vậy, theo quan điểm của C.Mác, bản chấtcủa ngôn ngữ biểu hiện ở: sự phục vụ cho xã hội với tư cách là phương tiện dùng đểgiao tiếp; thể hiện ý thức xã hội; sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ phải gắn với

sự tồn tại và phát triển của xã hội

Thứ hai, “ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt” [10, tr.13]

Khi khẳng định như vậy, chúng ta cần vạch rõ vị trí của ngôn ngữ giữa cáchiện tượng xã hội trong đời sống Trong các hiện tượng xã hội, chủ nghĩa của Mácphân biệt giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng chính là toàn

bộ quan hệ sản xuất của xã hội ở một giai đoạn phát triển nào đó, kiến trức thượngtầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, tôn giáo, nghệ thuật…của

xã hội và các cơ quan tươn ứng của chúng Đa số đều đồng nhất ngôn ngữ với kiếntrúc thượng tầng, chứ không ai đồng nhất ngôn ngữ với cơ sở hạ tầng

Kiến trúc thượng tầng là sản phẩm của cơ sở hạ tầng, ngôn ngữ qua giao tiếp

mà hình thành và phát triển, sự thay đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi củakiến trúc thượng tầng, tuy nhiên ngôn ngữ vẫn phát triển, nó không mất đi, khôngsụp đổ như cơ sở hạ tầng hay kiến trúc thượng tầng, mà hoàn thiện mình hơn, pháttriển ngoài những hiện tượng xã hội

Ngôn ngữ không mang tính giai cấp, bởi lẻ nó không phục vụ cho bất kỳ giaicấp nào cả, đồng thời nó ra đời và tồn tại cùng với xã hội loài người Nếu không cómột ngôn ngữ thống nhất thì khi giao tiếp, con người sẽ gặp rất nhiều trỏ ngại, khókhăn Nếu ngôn ngữ cũng phân tầng cao thấp, giai cấp, thì trong sản xuất, giai cấp

tư sản và giai cấp vô sản, mối giai cấp nói và sử dụng ngôn ngữ riêng của mình.Vậy làm sao cả hai giai cấp cùng song song tồn tại, khi không thể hiểu ý nghĩ củanhau, không tham gia sản xuất cùng nhau, không có người làm thuê, và người chủ,sản xuất sẽ không phát triển, xã hội lời người sẽ mãi dậm chân một chỗ

Ngôn ngữ có sự liên hệ trực tiếp với những hoạt động của cọn người, trênmọi lĩnh vực, từ sản xuất đến hạ tầng, từ hạ tầng đến thượng tầng Vì vậy, ngôn ngữphản ánh một cách trực tiếp và kịp thời những thay đổi của sản xuất, chứ không đợinhững thay đổi xảy ra trong hạ tầng trước đó

Trang 17

Ngôn ngữ không phải là công cụ sản xuất, vì ngôn ngữ chỉ tạo ra lời nói giúpcon người giao tiếp hàng ngày, nó không giống như công cụ tạo ra của cải vật chất,phục vụ cho con người Như vậy, ngôn ngữ không thuộc về hạ tầng, cũng như kiếntrúc thượng tầng, không là công cụ sản xuất Ngôn ngữ là phương tiện phục vụ xãhội, giúp mọi người có thể dễ dàng giao tiếp với nhau, có thể hiểu ý nghĩ của nhau

để cùng nhau giải quyết công việc, giúp con người phát triển các mặt, các vấn đềcủa đời sống con người, làm cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn

*Chức năng của ngôn ngữ

Thứ nhất, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người [12, tr.17]

Đây là điều mà không một ai có thể phủ nhận được, ngôn ngữ chính làphương tiện giúp con người giao tiếp một cách hiệu quả nhất, ngôn ngữ có thể làngôn ngữ nói bình thường, cũng có thể là phi ngôn ngữ, mọi người dùng cử chỉ rahiệu, dùng cơ thể diễn đạt, dùng hội hoạ hay âm nhạc đê diễn đạt thay cho lời nói Tuynhất tất cả những phi ngôn ngữ đều có hạn chế, vì chỉ có thể sử dụng trong trường hợpđặc biệt, cũng như số lượng chữ khá ít, và không phải ai cũng có khả năng để hiệuđược những cử chỉ, dấu hiệu của người nói Những ngôn ngữ khác ngoài ngôn ngữ nóichỉ là bổ sung sự đa dạng cho ngôn ngữ nói thông dụng mà con người sử dụng Nhờ cóngôn ngữ mà con người có thể giao tiếp, nói chuyện, tâm sự với nhau, gắn kết các dântộc trên thế giới với nhau, nhờ ngôn ngữ con người hiểu được những tâm tư tình cảmcủa người khác, đồng cảm, cùng giúp nhau trong quá trình xây dựng xã hội, chinh phụcthiên nhiên Ngôn ngữ tuy không tạo ra được của cải vật chất như công cụ xã hội,nhưng lại giúp con người nắm được tri thức, vận dụng tri thức vào quá trình mang lạicủa cải vật chất phục vụ cho cuộc sống con người

Ngôn ngữ tuy không mang tính giai cấp, nhưng lại là công cụ đắc lực đấutranh giai cấp, các giai cấp khác nhau, sử dụng ngôn ngữ để tuyên truyền, để kêugọi, giáo dục Đặc biệt trong giai đoạn cách mạng Việt Nam, Đảng và Hồ Chí Minhluôn sử dụng ngôn ngữ như một vũ khí trên mặt trận để kêu gọi, thúc dục, cũng nhưgiáo dục mọi người về tinh thần dân tộc, tình thần yêu nước sâu sắc, vừa giúp nhândân đến gần với Đảng và cách mạng hơn, vừa hiểu con đường cách mạng mà toànĐảng đang thực hiện, từ đó một lòng cùng chiến đấu

Trang 18

Thứ hai, Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy [11, tr.19]

Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có từ nào hay câu nào

mà không biểu hiện một khái niệm hay tư tưởng nào đó Và ngược lại, thì không hề

có ý nghĩ, hay tư tưởng nào tồn tại ngoài ngôn ngữ, nhờ có ngôn ngữ mà con người

có thể trình bày được tư tưởng, ý nghĩ của mình một cách dễ dàng, ngôn ngữ càngphong phú, dễ hiểu, thì ý nghĩ càng dễ bộc lộ Như vậy, ngôn ngữ chính là biểu hiệnthực tế của tư tưởng

Ngôn ngữ tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành tư tưởng Mọi ý nghĩđều có thể trở nên rõ ràng, dễ hiểu khi được ngôn ngữ thể hiện, nếu ý nghĩ, tư tưởng

đó không được thể hiện ra bằng ngôn ngữ, có nghĩa ý nghĩ, tư tưởng ấy chưa đượchiểu một cách rõ ràng, đang còn lơ mơ, hoặc chưa có ngôn ngữ nào phù hợp cho ýnghĩ, tư tưởng ấy, nên không thể diễn đạt

Đặc biệt, ngôn ngữ của con người không chỉ đơn giản tồn tại thành tiếng khigiao tiếp với nhau, mà còn tồn tại ở trên trang giấy bằng cách viết những ý nghĩ, tưtưởng ấy ra, hay tồn tại dưới dạng âm thanh trong đầu óc con người mà không thểhiện ra Nhà ngôn ngữ học Xô Viết Bôrôpxki đã chứng minh sự tồn tại của “lời nóibên trong” khi người ta im lặng suy nghĩ Khi con người ta bận suy nghĩ một điều gì

đó, quá trình hình thành ngôn ngữ bên trong cũng bắt đầu, không thể hiện rõ ràng rabên ngoài, lời nói bên trong chính là lời nói câm, không phát âm thanh, tác độngngay vào chủ thể Như vậy, ngôn ngữ và tư duy luôn thống nhất với nhau, nếukhông có ngôn ngữ thì tư duy không được thể hiện ra bên ngoài, nếu không có tưduy thì ngôn ngữ trống rỗng, hay là sẽ không thể tồn tại

1.1.1.2 Nghệ thuật

Nghệ thuật theo tiếng Anh, Pháp là “art”, tiếng Nga là “искусство” Cáchình thái đặc thù giữa ý thức xã hội và các hoạt động con người, một phương phápquan trọng để con người chiếm lĩnh các giá trị tinh thần của hiện thực, nhằm mụcđích tạo ra và nâng cấp các năng lực chiếm lĩnh và cải tạo bản thân và thế giới xungquanh theo yêu cầu của cái đẹp

Khác với hoạt động mang tính xã hội khác (như khoa học, chính trị, đạo

Trang 19

đức…), nghệ thuật thoả mãn nhu cầu có tính vạn năng của con người là cảm thụ thếgiới xung quanh dưới các hình thái đã phát triển của năng lực cảm nhận mang tínhngười Đó là năng lực cảm nhận thẩm mĩ đặc trưng, chỉ có ở con người đối với cáchiện tượng, sự thật, biến cố của thế giới khách quan với tư cách là “chỉnh thể cụ thểsống động” (C.Mác).

Nghệ thuật phát sinh và hình thành trên cơ sở lao động, nhưng một khi rađời, nghệ thuật hình thành và hoàn thiện ở con người một năng lực cảm nhận vạnnăng mà có thể vận dụng vào mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội-khoa học,chính trị, sinh hoạt…Vì vậy, tác phẩm nghệ thuật có thể “hình thành: một côngchúng biết hiểu nghệ thuật và có năng lực hưởng thụ vẻ đẹp” (C.Mác)

Nghệ thuật thống nhất trong bản thân nó tất cả mọi hình thức hoạt động vànhận thức thể hiện mối liên hệ của cá nhân đối với thế giới và đối với chủ thể Nghệthuật giúp cho con người có năng lực tự cảm thấy mình trong sự hài hoà của thếgiới và cảm nhận được ý nghĩa của thế giới trong sự phát triển nhân cách toàn vẹncủa mình Chính cái chức năng hình thành và hoàn thiện năng lực cảm nhận vạnnăng này đã quy định các đặc trưng khác của nghệ thuật: hướng tới đối tượng trongtính toàn vẹn, sinh động; chủ thể, cá thể với toàn bộ năng lực của nhân cách và tâmhồn; hình thức hình tượng, tính chất truyền cảm, giao tiếp Các phương diện chứcnăng cụ thể như nhận thức, giáo dục, thoả mãn mĩ cảm gắn bó với nhau trong bảnchất của nghệ thuật

Đời sống xã hội là cội nguồn nội dung của nghệ thuật, quy định mối quan hệqua lại giữa nghệ thuật với các vấn đề xã hội khác như: chính trị, khoa học, triếthọc,… Khi xã hội có giai cấp, nghệ thuật có tính giai cấp, tính đảng

Trong tiến trình lịch sử phát triển khách quan của nghệ thuật, do tính đa dạngcủa các quá trình và các hiện tượng trong thực tại, do sự khác biệt của nhữngphương thức, phương tiện cũng như nhiệm vụ phản ánh thẩm mĩ và cải tạo hiệnthực, do như cầu nhiều mặt của con người, đã hình thành các loại nghệ thuật khácnhau [13, tr.199]

Trang 20

1.1.1.3 Ngôn ngữ nghệ thuật

Trước khi nói đến ngôn ngữ nghệ thuật, cần nói đến các ngôn ngữ mang tínhgợi hình, gợi cảm được sử dụng nhiều trong các văn bản nghệ thuật, trong khoa họchoặc trong đời sống hằng ngày Không chỉ được sử dụng nhiều trong các văn bảnnghệ thuật, văn viết mà ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng rộng rãi trong văn chínhluận, nhằm mục đích tăng sức thuyết phục cũng như lay động lòng người, được ngườinói hay người viết sử dụng với những từ ngữ giàu tình hình tượng và gợi cảm

Ngôn ngữ nghệ thuật không có nhiều định nghĩa, nhưng có thể xét tới nhữngđịnh nghĩa gần gũi và dễ hiểu nhất

Theo định nghĩa được trình bày trong sách giáo khoa ngữ văn lớp 10: “ngôn

ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thoã mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẫm mĩ” [14, tr.98].

Ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được sử dụng nhiều trong văn học, trongngôn ngữ học có nghĩa rộng hơn, mục đích chỉ sự bao quát các hiện tượng ngôn ngữđược dùng một cách có chuẩn mực trong các văn bản nhà nước, trên báo chí, đàiphát thanh, trong văn học hay trong khoa học

Ngôn ngữ không đơn thuần chỉ là công cụ, mà còn là chất liệu cơ bản củavăn học, được văn học sử dụng như một vũ khí sắc bén có tính cảm xúc cao, tácđộng mạnh mẽ đến đối tượng hay sự việc được nhắc đến, ngôn ngữ giúp tư duy củangười nói được, thể hiện một cách rõ ràng Tuy nhiên, nó có tác động trực tiếp vàođối tượng hay không lại do người nói sử dụng ngôn ngữ để thể hiện tưu duy đó, nhưM.Go – rơ – ki đã khẳng định “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” [4, tr.215]

Ngôn ngữ văn học xuất phát từ ngôn ngữ trong đời sống hằng ngày, nhưng

đã qua chọn lọc, sắp xếp, từ ngữ đã được mài giũa qua hoạt động lao động của cácnhà văn học, nó lại tác động ngược trở lại đối với ngôn ngữ nhân dân, làm cho ngônngữ nhân dân trở nên đa dạng hơn

Trang 21

* Phân loại

Ngôn ngữ nghệ thuật được chia làm ba loại cơ bản:

- Ngôn ngữ tự sự trong truyện, tiểu thuyết, bút ký, ký sự, phóng sự…

- Ngôn ngữ thơ trong ca dao, vè, thơ (nhiều thể loại khác nhau)…

- Ngôn ngữ sân khấu trong kịch, chèo, tuồng…

Mỗi loại ngôn ngữ trên có thể được chia làm nhiều thể khác nhau, trong cácthể loại, các phương tiện nghệ thuật đan xen lẫn nhau để giúp người đọc có thểthẩm bình, thưởng thức, giao cảm: có thể là cái hay của âm điệu, có thể là vẻ đẹpchân thực sinh động của hình ảnh, hoặc những cảm xúc chân thành gợi ra những nỗiniềm vui, buồn, yêu, thương trong cuộc sống của mình [6, tr.97]

* Chức năng

Ngôn ngữ là phương tiện đặc biệt, nó không chỉ giúp con người giao tiếp vớinhau, hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn, còn qua giao tiếp con người có thểhiểu được những tư duy, lý luận từ đó tạo ra của cải vật chất cho mình và xã hội

Trong các tác phẩm văn học, ngôn ngữ văn học được ví như là cá tính riêngcủa mỗi người, bởi mỗi tác gia sẽ có một cách biểu đạt lời văn, cách dùng từ ngữkhác nhau, nó tạo nên phong cách đặc biệt từng cá thể Mỗi nhà văn lớn bao giờcũng là tấm gương sáng về mặt hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù laođộng để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác của mình

Ngoài cung cấp thông tin, ngôn ngữ nghệ thuật còn thực hiện một chức năngquan trọng nữa là thể hiện tính thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp và khơi gợi nuôi dưỡngcảm xúc thẩm mĩ ở người nghe, người đọc Ngôn ngữ nghệ thuật xuất phát từ ngônngữ hằng ngày làm chất liệu, tuy nhiên nó khác với những loại ngôn ngữ hằng ngày

ở chỗ nó mang tính thẩm mĩ cao Phẩm chất thẩm mĩ mà nó có được nhờ vào quátrình chọn lọc, xếp đặt, trau chuốt, tinh luyện của người sử dụng tuỳ theo nhữngmục đích khác nhau Nó được sử dụng để phục vụ nhiệm vụ trung tâm là xây dựnghình tượng văn học và giao tiếp nghệ thuật Vì vậy, mà trong ngôn ngữ nghệ thuật,tính hình tượng, tính thẩm mĩ là thuộc tính bản chất nhất, cũng như xuyên thấm vàocác thuộc tính khác

Trang 22

Ví dụ:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị Vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn [15, tr.98]

(Ca dao)Ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng trong bài cao dao trên không đơn thuần chỉ đểlại thông tin cho người đọc về loài hoa sen, nơi sinh sống, cấu tạo, hương thơm vàtính chất trong sạch của cây sen; mà ngôn ngữ nghệ thuật trong bài ca dao còn cótác dụng nhấn mạnh khẳng định và nuôi dưỡng một tư tưởng, một cảm xúc thẫm mĩ

đó là: cái đẹp luôn hiện hữu và được bảo tồn dù là ở trong hoàn cảnh như thế nào

Tóm lại, ngôn ngữ nghệ thuật vừa có tác dụng cung cấp thông tin cho ngườiđọc, vừa có tác dụng thẩm mĩ, làm đẹp cho tư tưởng của người đọc, giúp người đọc

có những nhận thức đúng đắn, hình thành nên những biểu tượng, hành động đẹp đốivới cuộc sống, đồng thời giúp cho con người nhìn sự vật một cách trừu tượng hơn

1.1.1.4 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật tuy có nhiều thể loại, nhiều kiểu ngôn ngữ, phong phú

về màu sắc, biến hoá về tính sáng tạo nhưng luôn thống nhất ở ba đặc điểm cơ bảnlà: tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hoá Các đặc trưng này đã tạothành nét riêng biệt của từng tác giả gọi là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Về cơbản, ngôn ngữ nghệ thuật có các đặc trưng sau:

Ví dụ: khi tác giả sử dụng phép tu từ so sánh trong sáng tác nghệ thuật củamình, tác phẩm ta đi tới của Tố Hữu:

Trang 23

“Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp Cao như núi, dài như sông Chí ta lớn như biển Đông trước mặt” [16, tr.99]

Ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng phép so sánh đã làm nổi bật lên hình tượng củanhững người chiến sĩ dân tộc, chí lớn như biển Đông để khẳng định một điều rằngkhông ai có thể đánh bại được ý chí của những người anh hùng này

“Như một kết quả tất yếu của tính hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật cònmang tính đa nghĩa” [17, tr.99] Các từ ngữ, câu văn, hình ảnh, hoặc là toàn bộ bàiviết nghệ thuật có khả năng gợi ra rất nhiều ý nghĩa khác nhau, tuỳ theo những cảmnhận của người đọc Ví dụ hình tượng “bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương khôngđơn thuần chỉ là miêu tả về món ăn đặc biệt của dân tộc, mà còn ngụ ý về than phậntrôi nổi của người phụ nữ trong giai đoạn phong kiến, giá trị người phụ nữ khôngđược xem trọng, tuy nhiên, tác giả đã khẳng định vẻ đẹp phẩm chất bên trong cũngnhư bên ngoài của họ, dù bị chà đạp, xem thường như thế nào, thì họ vẫn luôn giữđược những phẩm chất đáng quý của bản thân

Tính đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật cũng quan hệ mật thiết với tính hàmxúc: lời ít mà ý sâu xa, rộng lớn Người viết chỉ cần dùng một vài câu, hoặc thay đổimột vài từ đã có thể gợi ra những hình tượng khác nhau, tăng sức thuyết phục chobài viết cũng như bài nói của mình [18, tr.98]

* Tính truyền cảm

Trong lời nói hằng ngày đã chưa đựng những yếu tố tình cảm, qua cách chọnngôn ngữ, từ ngữ, cách nói, hình ảnh, diễn đạt…Tính truyền cảm của ngôn ngữnghệ thuật giúp cho người đọc (nghe) hoà chung với cảm xúc của tác giả, vui, buồn,giậ, hờn, ghen, ghét…Sức mạnh của tính truyền cảm trong ngôn ngữ nghệ thuậtchính là lôi cuốn, gọi hình, gợi cảm, tạo ra sự hoá đồng về mặt tình cảm giữa ngườinói (viết) với người nghe (đọc)

Năng lực gợi cảm xúc mà ngôn ngữ nghệ thuật có được nhờ vào việc lựa

Trang 24

chọn ngôn ngữ nhằm miêu tả, bình giá đối tượng một cách khách quan và tâmtrạng chủ quan.

Trong thơ, văn xuôi xuất hiện rất nhiều ngôn ngữ nghệ thuật giàu tính truyềncảm, tuy nhiên trong thể văn chính luận, ngôn ngữ nghệ thuật rất ít được xử dụng,những khi sử dụng lại chứa đựng một lượng cảm xúc mạnh mẽ của chính tác giảmuốn gửi gắm đến người đọc, người nghe, nhằm tăng tính thuyết phục, cũng nhưtính lay động lòng người, do tính chất của thể loại chính luận rất khô khan, nên cầnmột ngôn ngữ giúp cho nó bớt khô khan, vẫn đảm bảo được những tính chất củavăn bản, vẫn mang lại hiệu quả cao [18, tr.100]

* Tính cá thể hoá

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chung cho xã hội, nó ra đời cùng với lịch

sử loài người, qua thời gian nó dần hoàn thiện và phát triển hơn, ngôn ngữ đượcxem là phương tiện quan trọng nhất trong cuộc sống loài người, nếu không có ngônngữ loài người không thể giao tiếp, hiểu những tư duy, tình cảm của nhau được Tuynhiên, ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học, khi được các nhà thơ, nhà văn sử dụngcho mục đích sáng tác của mình, thì mỗi người lại có một cá tính riêng biệt, có mộtcách sử dụng ngôn ngữ khác nhau hoàn toàn, không ai giống ai, mang lại nét đặctrưng riêng cho từng cá nhân, không dễ bắt chước hay pha trộn Như phong cáchngôn ngữ nghệ thuật của Hồ Chí Minh hoàn toàn khác biết so với các nhà thơ khác,cách Bác dùng từ không hề hoa mĩ, cầu kỳ, không khó hiểu, mạnh mẽ đanh thép,nhưng lại cũng rất gần gũi, mềm mại

Sự khác nhau về ngôn ngữ là do cách dùng từ, cách đặt câu, cách mượn hìnhảnh, nó bắt nguồn từ chính sự sáng tạo của người viết, không hề có một khuôn mẫu,hay chuẩn mực nào cả Chính cách mà các nhà văn, nhà thơ sử lý ngôn từ đã tạo ra

sự khác biệt của họ trong các nhà văn, nhà thơ khác nhau, tạo cho họ có một phongcách ngôn ngữ nghệ thuật đặc biệt, cá thể hoá

Tính cá thể hoá còn tạo ra sự khác biệt trong chính từng nhân vật, lời thoạicủa các nhân vật khác nhau hoàn toàn, tạo ra cá tính của các nhân vật khác nhau.Ngoài ra tính cá thể hoá còn thể hiện ở cách diễn đạt từng sự việc, từng hình ảnh,

Trang 25

từng tình huống trong tác phẩm Nhờ tính cá thể hoá đã tạo cho ngôn ngữ nghệthuật có tính sáng tạo, không hề trùng lặp với bất ký ngôn ngữ nào Cùng là một sựviệc, sự vật, nhưng trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, tác giả sử dụng từngữ, hình ảnh khác nhau để diễn đạt, vừa không gây nhàm chán, vừa tạo ra sự sángtạo, lôi cuốn người đọc, người nghe [21, tr.100]

Như vậy, những đặc trưng này tạo nên phong cách ngôn ngữ nghệ thuật độcđáo cho từng nhà văn, nhà thơ khác nhau Không chỉ giúp nhà văn, nhà thơ tăngtính thuyết phục, truyền cảm hứng cho người đọc, giúp người đọc sống chung vớitừng nhân vật trong chính tác phẩm, giúp bài văn luôn sinh động, mới mẻ, đầy sựsáng tạo và cảm nhận được từng quan điểm cá nhân, cách nhìn nhận sự việc củamỗi một nhà văn nhà thơ

1.1.2 Vị trí, đặc điểm dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay

Hiện nay tại các trường đại học, cao đẳng, những môn học lý luận (trong

đó có môn Tư tưởng Hồ Chí Minh) có vai trò quan trọng trong việc hình thànhthế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng cho sinh viên Môn học tưtưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ thống các môn lý luận chính trị, vì vậy nó gắn bómật thiết với các môn khoa học xã hội, khoa học chính trị như môn Nhữngnguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin và môn Đường lối cách mạng củaĐảng Cộng Sản Việt Nam

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc

về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc, dân chủnhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo vàphát triển Chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kếttinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giaicấp và giải phóng con người” [20, tr.19]

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc vềvấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc gắn vớichủ nghĩa xã hội Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ ba nguồn gốc: giá trị

Trang 26

truyền thống dân tộc, trong đó chủ nghĩa yêu nước là hạt nhân; tinh hoa văn hoánhân loại (phương Đông và phương Tây); sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủnghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Nguồn gốc này cho thấy,trong quá trình giảng dạy, GV cần chú ý đến tính lịch sử - cụ thể (thời điểm xuấthiện các luận điểm); tính toàn diện, hệ thống; tính sáng tạo…

Do tư tưởng Hồ Chí Minh ảnh hưởng lớn từ học thuyết Mác – Lênin, nênmôn học có quan hệ mật thiết với môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác– Lênin Trong quá trình giảng dạy, GV cần vận dụng kiến thức liên môn, tích hợp

để làm rõ và sâu sắc hơn nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh

Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin trởthành kim chỉ nam, nền tảng tư tưởng cho mọi hành động của Đảng, là cơ sở cho sựhoạch địch đường lối, chiến lược, sách lược cách mạng của Đảng Vì vậy, môn tưtưởng Hồ Chí Minh gắn bó mật thiết và có vị trí tiên quyết đối với môn Đường lốicách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

1.1.3 Ý nghĩa của sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay

Hồ Chí Minh là người hết sức giản dị, tư tưởng của Người về cơ bản cũnggần gũi, dễ hiểu, phù hợp với trình độ dân trí của đại đa số dân cư nước ta thời đó.Tuy vậy, do đề cập và cắt nghĩa những vấn đề thuộc về đường lối cách mạng Chonên, ở mức độ nào đó, Hồ Chí Minh vẫn phải sử dụng tới các thuật ngữ chuyênmôn, đặc thù, mang tính chính trị, triết học, ở mức độ khái quát cao Trong quá trìnhgiảng dạy, nếu GV tiếp tục sử dụng chủ yếu các thuật ngữ chuyên ngành thì khó cóthể tạo ra sự hấp dẫn, sức hút đối với sinh viên Ngôn ngữ đó vừa khó hiểu, khônghấp dẫn, SV không hiểu và khó tập trung vào bài giảng Sử dụng ngôn ngữ nghệthuật, đặc biệt là phong cách biểu tượng (cách nói ví von, hình ảnh, so sánh…) sẽgóp phần khắc phục được hạn chế trong dạy học môn này như đã nêu ở trên

Trong quá trình dạy học, giảng viên sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, kết hợp đadạng các phương pháp giảng dạy sẽ giúp GV hoàn thành mục tiêu bài học và lôicuốn SV tham gia tích cực vào quá trình lĩnh hội tri thức môn học Bằng ngôn ngữ

Trang 27

có chọn lọc, sinh động, giảng viên lồng ghép quá khứ với hiện tại, giữa lý thuyếtvới thực tiễn gây hứng thú cho SV Nhìn chung, vai trò của ngôn ngữ nghệ thuậttrong giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở góc độ sau:

Một là, sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh

giúp sinh viên phần nào hứng thứ với môn học, từ đó giúp sinh viên khái quát hệ thống,cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh Giúp sinh viên từ nghe, có thể tưởng tượng, hìnhdung và bắt đầu sắp xếp các dữ kiện lịch sử, kích thích sinh viên suy nghĩ và tìm cáchdiễn đạt bằng lời nói chính xác, rõ ràng về tư tưởng đó, hay hiểu theo cách mà sinhviên hình dung về bài học nhưng không đi lệch với tư tưởng Hồ Chí Minh

Hai là, góp phần giáo dục phẩm chất và rèn luyện đạo đức cho sinh viên Hồ

Chí Minh là tấm gương sáng về đạo đức, nhân cách và lối sống Được tiếp cận, tắmmình trong tưởng, đạo đức, nhân cách của Người, dần dần sẽ hình thành trong tưtưởng và chuyển biến thành thành hành vi chuẩn mực đạo đức của sinh viên Trongnhiều trường hợp, Hồ Chí Minh hay sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, tiêu biểu là lốinói hình ảnh qua các mẩu chuyện Vì vậy, giảng viên nên khai thác các hình ảnhnày, vận dụng vào giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh Thông qua từ ngữ giàuhình ảnh, những câu chuyện sinh động, giảng viên giúp sinh viên hình dung dễ dàngbài học, cắt nghĩa được những vấn đề trừu tượng

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay

Thứ nhất, một số giảng viên hạn chế về ngôn ngữ, nắm bắt thông tin thời sự,

kiên thức chuyên môn không sâu, do chuyển ngang, kiêm nhiệm, không được đàotạo, hoặc đào tạo chưa chuẩn (nhiều GV chuyên môn đào tạo khác, chỉ tham gia lớpbồi dưỡng học tập theo tấm gương đạo đức của Bác vài ngày, sau đó đi giảng dạy).Đặc biệt, nhiều GV chưa hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật Vì vậy, không ít giảng viênkhi lên lớp sa đà vào cách dạy học đọc chép, chiếu chép, hoặc nói chuyện “phiếm”.Giảng viên chỉ xem việc giảng dạy như là thói quen, hoặc bắt buộc, không xem haychuẩn bị tài liệu trước, chỉ lên lớp, cho sinh viên những tri thức gần như có sẵntrong giáo trình

Trang 28

Thứ hai, do chính tính chất môn học, đây là một trong những môn lý luận

có tính trừu tượng, khái quát và khô khan Không giống như các môn nghệ thuật,văn học (được phép hư cấu, dị bản…) Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi tínhchuẩn xác cao Vì vậy, khi sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, nếu không cẩn thận,chắt lọc tốt, giảng viên sẽ “tầm thường hoá” môn học, thậm chí người học sẽhiểu sai nội dung tư tưởng

Thứ ba, điều kiện cơ sở vật chất trong các cơ sở đào tạo sẽ ảnh hưởng phần

nào đến chất lượng dạy học, đặc biệt là hệ thống âm thanh, không gian phòng học.Việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đòi hỏi hệ thống âm thanh đảm bảo chất lượng;đồng thời, không gian phòng học vừa đủ Hiệu quả không tốt nếu áp dụng trong mộtphòng học trật trội, hoặc trong một hội trường quá lớn

1.2 Thực tiễn của việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn

Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng hiện nay

1.2.1 Đôi nét giới thiệu về Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng là ngôi trường khang trang vớikhuân viên trường đẹp và sạch mà tôi đã theo học 4 năm Trường với tên tiếng anhlà: the university of Danang hoặc university of education, ngôi trường ra đời theonghị định 32/CP ngày 04/04/1994 của Chính phủ, trên cơ sở tổ chức và sắp xếp lạicác đơn vị: Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam-Đà Nẵng, cơ sở Đại học Sưphạm Ngoại Ngữ Đà Nẵng, bộ môn cơ bản của trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng,

bộ môn văn hoá của trường Công nhân kỹ thuật Nguyễn Văn Trỗi Là trường thànhviên thuộc trường Đại học Đà Nẵng Trường có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng độingũ giáo viên các cấp, đào tạo các chuyên ngành cử nhân và sau đại học Đồng thời

là trung tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và triển khai công nghệ phục vụ yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội các tỉnh, thành phố miền Trung - Tây Nguyên

Trường được thành lập năm 1975 khi nước ta được thống nhất hoàn toàn haimiền nam bắc, dần dần phát triển và khẳng định chất lượng đào tạo của mình trởthành trường đại học công lập lớn trong khu vực miền trung Hiện tại, tổng số có

380 cán bộ viên chức, trong đó có 1 giáo sư, 11 phó giáo sư, 72 tiến sĩ, 197 thạc sĩ,

50 giảng viên chính, dưới sự lãnh đạo của hiệu trưởng là PGS.TS.Lưu Trang Tất cả

Trang 29

thầy cô trong trường đã tận tâm tận lực giảng dạy xây dựng ngôi trường ngày mộtvững mạnh, là một trong những ngôi trường sư phạm lớn của khu vự miền trung vàcủa cả nước về đội ngũ giảng viên, cũng như trình độ đào tạo.

Tất cả cơ sở vật chất nhằm mục đích dạy học và nghiên cứu khoa học ngàycàng khang trang và được đầu tư với trang thiết bị hiện đại Gồm một hệ thống cácgiảng đường, phòng học với tổng diện tích 10.000m2, 4 phòng multimedia với 300máy tính nối mạng, 1 phòng internet, 3 phòng sản xuất giáo trình điện tử Hệ thống

39 phòng thí nghiệm Lý, Hoá, Sinh, Địa… phòng thực hành âm nhạc với nhiều thiết

bị hiện đại Hội trường lớn có sức chứa trên 600 chỗ Thư viện tổng hợp với hàng vạnbản sách Tất cả các phòng ban, khoa, các đơn vị khoa đều có kết nối chặt chẽ nội bộvới Đại học Đà Nẵng, kết nối internet luôn phủ sóng toàn bộ khuân viên trường

Về tổ chức bộ máy, trường hiện có 12 khoa, 6 phòng chức năng, 3 trung tâm,

và 1 tổ trực thuộc Trường có hai hình thức đào tạo là hệ đào tạo chính quy và hệvừa làm vừa học Về đào tạo chính quy hiện có trên 6000 sinh viên, gần 600 họcviên sau đại học, và trên 100 lưu học sinh nước ngoài; có 29 chuyên ngành đại học,

1 chuyên ngành cao đẳng là âm nhạc, sau đại học có 10 chuyên ngành thạc sĩ và 02chuyên ngành đào tạo tiến sĩ

Trong những năm qua, trường đã đào tạo được 19.249 sinh viên cử nhân sưphạm và cử nhân khoa học có trình độ đại học, 21.883 sinh viên có trình độ caođẳng sư phạm, 23.674 giáo viên tiểu học và mầm non, 5000 cán bộ quản lý giáodục, 1.178 thạc sĩ Hiện nay, trường luôn tạo mối quan hệ nhằm đào tạo và nghiêncứu khoa hoc với nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo trong và ngoài nước: Nga, Đức,Pháp, Hà Lan, Anh, Bỉ, Canada, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và cácnước trong khu vực Asean

Trường có môi trường học rất thân thiện, đầy đủ tiện nghi, phục vụ cho quátrình dạy và học; khuân viên rộng, các sảnh lớn, mát, giúp sinh viên có thể tham giacác hoạt động, câu lạc bộ nhóm, giúp trau dồi thêm các kỹ năng tập thể và bản thân

Trong giai đoạn 2010-2020, mục tiêu của trường Đại học Sư phạm là phấnđấu trở thành cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học có uy tín, với quy mô lớn và chấtlượng hàng đầu của khu vực miền trung được công nhận Nhà trường đã đề ra nhiều

Trang 30

định hướng và giải pháp để đạt được những điều trên, trong đó có giải pháp đẩymạnh đào tạo sau đại học, gắn đào tạo sau đại học với nghiên cứu khoa học, đồngthời mở thêm các ngành phù hợp xã hội.

Đội ngũ giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minhtại trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng gồm 7 giảng viên, trong đó có 2tiến sĩ và 5 thạc sĩ Tất cả giảng viên đều thuộc trường Đại học kinh tế Đà Nẵng, cácthầy cô là những người có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm, gắn bó mật thiết vớinghề cũng như là môn tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn tâm huyết và tận tình trong côngcuộc trồng người của mình Đồng thời các thầy cô luôn trao dồi, học hỏi, nghiêncứu tri thức mới cũng như phương pháp mới, nhằm tăng hiệu quả học tập cho sinhviên, cũng như hoà chúng với sự đổi mới phương pháp dạy các môn lý luận chínhtrị Song một vài thầy cô vẫn còn gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu tri thứccủa mình, do hoàn cảnh, điều kiện kinh tế chưa phù hợp để thầy cô có thời gian choviệc nghiên cứu Mặc dù vậy, nhưng đội ngũ giảng viên này đã làm rất tốt quá trìnhdạy học truyền thụ kiến thức tư tưởng Hồ Chí Minh đến sinh viên, giúp các emkhông chỉ nắm những kiến thức cơ bản, mà còn vận dụng lý thuyết và thực tiễn mộtcách linh hoạt, chủ động và sáng tạo

1.2.2 Thực trạng sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng hiện nay

Để làm rõ thực trạng dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng

Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, chúng tôi phát phiếukhảo sát cho sinh viên và giảng viên trong trường Phiếu khảo sát gồm hai phần táchbiệt nhau, một phần khảo sát giảng viên giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh, mộtphần khảo sát sinh viên các lớp tham gia học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Phiếu khảo sát dành cho giảng viên gồm 12 câu hỏi liên quan đến việc giảngdạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Phiếu khảo sát dành cho sinh viên gồm 15 câu hỏi liên quan đến môn học Tưtưởng Hồ Chí Minh mà sinh viên đã được học

Chúng tôi đưa ra 250 phiếu cho sinh viên năm ba thuộc các khoa trường Đạihọc Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Kết quả thu được có 210 phiếu hợp lệ, 40 phiếu

Trang 31

không hợp lệ Nhưng tác giả lấy 200 phiếu để xử lý số liệu Số phiếu hợp lệ sẽ được

sử dụng làm kết quả thực trạng việc trong học tập môn này Phần mềm sử dụng đểthống kê kết quả khảo sát là SPSS

Kết quả điều tra điều tra cho thấy:

* Về phía sinh viên

Bảng 1.1: Nhận thức của sinh viên trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng

về mức độ cần thiết của việc học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết

Kết quả trên cho thấy, đa số sinh viên của trường Đại học sư phạm – Đại học

Đà Nẵng có nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc học môn Tư tưởng Hồ ChíMinh Tuy nhiên sinh viên có những nhận thức khác nhau, nhiều bạn nhận thấy mônhọc rất cần thiết ở trường đại học, chiếm tỉ lệ 87/200 sinh viên năm ba lựa chọn,chiếm đông đảo nhất Có 65/200 sinh viên xem môn học ở mức độ cần thiết; một sốbạn chưa thấy đầy đủ về mức độ cần thiết của môn học, xem môn học ở mức độbình thường chiếm 40/200 sinh viên Số còn lại tuy ít nhưng đã phản ánh phần nào

sự hiểu biết của người học về môn học, sự quan trọng của môn học, cũng như hệthống tri thức mà môn học đem lại cho sinh viên, có 8/200 sinh viên cho rằng mônhọc này là không cần thiết ở trường đại học

Việc chưa thấy mức độ và ý nghĩa của môn học ảnh hưởng đến sự hứng thú,tập trung của người học với môn học, được trình bày rõ dưới đây

Bảng 1.2: Mức độ hứng thú của sinh viên trường Đại học sư phạm – Đại học Đà

Nẵng về học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Lớp

Mức độ hứng thú

Rất thích thú Thích thú Bình thường Không thích thú

Trang 32

Khoa mầm non 72 72% 8 8% 10 10% 10 10%

Biểu đồ 1.1: Mức độ hứng thú của sinh viên trường Đại học sư phạm – Đại học

Đà Nẵng về học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Như vậy, khoa ngữ văn có 75/100 sinh viên thích thú với môn học, 10/100 và5/100 sinh viên là thích thú và bình thường với môn học, 10/100 bạn cảm thấy mônhọc không tạo cho mình sự hứng thú Còn khoa mầm non, kết quả điều tra tương tựnhau, có 72/100 sinh viên rất thích thú, 8/100 sinh viên thích thú, 10/100 sinh viênbình thường và 10/100 sinh viên còn lại thì không thích thú môn học Từ kết quảtrên cho thấy, số lượng sinh viên rất thích thú môn tư tưởng Hồ Chí Minh chiếm tỉ

lệ khá cao, tuy nhiên số sinh viên không thích thú còn nhiều, số bạn chưa thấy cáihay về môn học, nên chưa tìm thấy sự say mê tìm hiểu môn học Đặt ra yêu cầu củangười giảng viên là làm sao giúp gần 100% sinh viên có thể hứng thú với môn học

Bảng 1.3: PPDH được giảng viên sử dụng trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí

Minh ở trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

STT Nội dung ngữ văn và khoa mầm Ý kiến của SV khoa

non

3 Thuyết trình kết hợp với phương tiện kỹ thuật hiện đại 11

Trang 33

5 Ý kiến khác 0

Con số trên cho thấy, PPDH truyền thống, cụ thể là thuyết trình vẫn đượcgiảng viên ưu tiên, các PPDH khác ít được giảng viên sử dụng Điều này phản ánh

sự đơn điệu về PPDH trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Bảng 1.4: Nhận xét của sinh viên về mức độ sử dụng cách nói ví von, hình ảnh

trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh của giảng viên

Lớp

Mức độ

Thường xuyên Hiếm khi Chưa bao giờ

Biểu đồ 1.2: Mức độ sử dụng cách nói ví von, hình ảnh trong dạy học

môn tư tưởng Hồ Chí Minh của giảng viên

Bảng trên cho thấy, ở lớp khoa ngữ văn có 40/100 sinh viên đánh giá mức độ

sử dụng cách nói ví von, hình ảnh trong dạy học của giảng viên là thường xuyên,

Trang 34

có 10/100 sinh viên là hiếm khi, 42/100 sinh viên chọn chưa bao giờ và 8/100 sinhviên cho rằng mình không biết về PP này Đối với khoa mầm non có 32/100 sinhviên cho rằng giảng viên sử dụng thường xuyên cách nói ví von, hình ảnh trong dạyhọc, 18/100 sinh viên đánh giá là hiếm khi, 30/100 sinh viên nhận xét là chưa baogiờ thấy giảng viên sủ dụng và 20/100 sinh viên là không hề biết về PP này.

Điều đó chứng tỏ, mức độ sử dụng cách nói ví von, hình ảnh của giảng viêntrong dạy học ít Thậm chí, có đến 50% sinh viên trả lời không biết gì về phươngpháp này và chưa bao giờ thấy giáo viên sử dụng

Bảng 1.5: Thái độ của sinh viên khi tham gia học tập môn

tư tưởng Hồ Chí Minh

STT Nội dung Sự lựa chọn của SV

2 Chú ý nghe giảng, ghi chép đầy đủ, tích cực phát

biểu xây dựng bài

21

4 Thường xuyên đọc sách, tìm kiếm tài liệu tham

khảo liên quan đến môn học

12

Chúng ta dễ dàng nhận ra, phần lớp sinh viên ở trường Đại học Sư phạm –Đại học Đà Nẵng đều chán nản, không hứng thú với các môn lý luận chính trị, đặcbiệt là môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Có tới 107/200 sinh viên tự nhận thấy mình họccòn đối phó, lơ là với môn học; còn chuyên cần, tự giác có 101/200 sinh viên; vàchưa bao giờ tìm kiếm các môn hỗ trợ cho môn học chiếm 71/200 sinh viên

Bảng 1.6: Kết quả học tập của sinh viên hai khoa ngữ văn và khoa mầm non

Trang 35

trong học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Lớp

Kết quả học tập của SV khoa ngữ văn và khoa mầm non

Xuất sắc Giỏi Khá Trung bình Yếu

Biểu đồ 1.3: Kết quả học tập của sinh viên hai khoa ngữ văn và khoa mầm non

trong học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Kết quả học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh của sinh viên hai khoa mầmnon và khoa ngữ văn chủ yếu đạt loại khá và trung bình Khoa ngữ văn có40/100 sinh viên khá, 42/100 sinh viên trung bình; Khoa mầm non chiếm 32/100sinh viên khá và 45/100 sinh viên trung bình; hơn một nửa sinh viên trong tổng

số sinh viên được khá và trung bình, số sinh viên nhận kết quả xuất sắc, giỏi khá

ít, lần lượt khoa ngữ văn có 5/100 sinh viên, 10/100 sinh viên; khoa mầm non có4/100 sinh viên, 7/100 sinh viên; cuối cũng số sinh viên được yếu tuy không phải

là con số quá lớp trong tổng số sinh viên của mỗi khoa ngữ văn và mầm non

Trang 36

nhưng nhiều hơn số sinh viên giỏi và xuất sắc, khoa ngữ văn có 8/100 sinh viên

và khoa mầm non có 12/100 sinh viên

* Về phía giảng viên trực tiếp giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Bảng 1.7: PPDH môn tư tưởng Hồ Chí Minh thầy cô thường sử dụng

STT Nội dung Sự lựa chọn của GV

Bảng 1.8: Hiểu biết của thầy cô về cách nói ví von, hình ảnh trong dạy học môn

Tư tưởng Hồ Chí Minh

Bảng 1.9: Mức độ sử dụng cách nói ví von, hình ảnh của thầy cô trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Trang 37

Bảng 1.10: Mức độ cần thiết của việc sử dụng cách nói ví von, hình ảnh trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết

Bảng trên cho thấy, có 6 giảng viên (chiếm 85,7%) trả lời việc sử dụng cáchnói ví von, hình ảnh là cần thiết và rất cần thiết, chỉ có 1/7 (14,3%) giảng viên chọnbình thường và 0/7 giảng viên cho rằng là không quan trọng

1.2.3 Sự cần thiết sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng hiện nay

Từ số liệu điều tra trên cho thấy, việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạyhọc môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵnghiện nay chưa thường xuyên và không nhiều, thậm chí một số giảng viên, sinh viêncòn chưa biết đến phương pháp này Xuất phát từ những ưu điểm, ý nghĩa của ngônngữ nghệ thuật và nhu cầu thực tiễn dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, sử dụngngôn ngữ nghệ thuật trong giảng dạy sẽ mang lại kết quả tốt hơn cách dạy truyềnthống Sử dụng cách nói ví von, hình ảnh kết hợp với các phương pháp dạy học tíchcực khác sẽ điều khiển, định hướng, quá trình nhận thức, tư duy trong học tập, giúpngười học chủ động, tích cực khi chiếm lĩnh kiến thức, trao dồi thực hành nhữngđiểm mạnh và có những ứng dụng linh hoạt trong thực tiễn

Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo

ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay Đây là môn học nằm trong hệ thống cácmôn lý luận chính trị, nên có quan hệ chặt chẽ với các khoa học xã hội nhân văn,đặc biệt với môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và mônĐường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đồng thời, môn học không chỉbao gồm hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, mà còn bao hàm cả quá trình vậnđộng, hiện thực hoá các quan điểm, lý luận trong thực tiễn cách mạng Việt Nam Sửdụng ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ góp phần giúp sinh viên hoàn thành mục tiêumôn học mà còn giúp các em nhận thức sâu sắc hơn tri thức của các môn có liên

Trang 38

quan nêu trên.

Tiểu kết chương 1

Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong môn học là một cách thức dạy học mới.Ngôn ngữ nghệ thuật chủ yếu vận dụng vào giảng dạy ngữ văn và một số lĩnh vựcnghệ thuật khác Tư tưởng Hồ Chí Minh là một học thuyết chính trị, ngôn ngữ mangtính chính xác và khái quát cao Tuy nhiên, nhiều bài nói, bài viết của Hồ Chí Minhvừa là văn kiện chính trị, lại vừa là một tác phẩm văn học Vì vậy, việc khai thác và

sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật vào học này là hoàn toàn hợp lý và phát huy nhữngđiểm mạnh và yếu của môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy, sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trongmôn học ở trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng hiện nay là cần thiết Tuynhiên, GV cần tìm hiểu sâu sắc vấn đề, sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh nghệ thuật phùhợp với nội dung bài học, không làm thay đổi tính chân thật và ý nghĩa nội hàm tưtưởng Hồ Chí Minh

Chương 2 NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG NGÔN NGỮ

NGHỆ THUẬT TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HOC ĐÀ NẴNG

Trang 39

2.1 Nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng

2.1.1 Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm thực hiện tốt mục tiêu bài học

Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minhthực chất là việc giảng viên mượn các hình ảnh bằng các biện pháp nhân hoá, tưởngtượng, ẩn dụ lồng ghép vào trong thuyết trình của mình để tăng sự hấp dẫn cho mônhọc, đồng thời giúp sinh viên liên tưởng một cách khách quan đến tri thức được đềcập Tuy nhiên cần làm rõ nội dung bài học cần đạt được nhằm góp phần giúp giảngviên có cơ sở để sử dụng cách thức và hình thức dạy phù hợp Mục tiêu bài họcchính là cái mà sinh viên cần đạt được sau mỗi bài học, cần làm rõ tránh nhầm lẫnvới mục đích giảng dạy Mục đích và mục tiêu dạy học có điểm giống nhau cơ bản

là đều đặt ra yêu cầu và hướng đến việc đạt được yêu cầu đó của chủ thể thực hiện.Song mục đích dạy học là cái dài hạn, khái quát, còn mục tiêu bài học là cái ngắnhạn, là những nhiệm vụ cần phải hoàn thành, đạt được, quy định trong từng chương,từng bài cụ thể Vì vậy, khi sinh viên nhận thức đúng điều mình cần phải làm giúp

họ lên chiến thuật chuẩn bị nội dung bài và ôn tập hợp lý nhằm đạt kết quả cao, tăng

sự tự giác của sinh viên Xác định mục tiêu dạy học vừa là yêu cầu cần thiết, vừa làyêu cầu khách quan của quy trình dạy học, không lệ thuộc vào ý muốn của giảngviên muốn hay không muốn

Giảng viên cần nắm rõ mục tiêu bài học để có thể sử dụng ngôn ngữ nghệthuật phù hợp, chủ động trong việc nghiên cứu và chọn các nội dung phù hợp, bằngcác biện pháp ví von, nhân cách hoá, ẩn dụ, giảng viên giúp bài học trở nên gần gũihơn, không nặng tính lý thuyết, cuốn hút được sinh viên vào bài giảng của mình.Bằng cách này, giảng viên sẽ chủ động trong quá trình chuẩn bị và triển khai bàigiảng, sinh viên chủ động trong việc tiếp thu tri thức

Nội dung bài là điều quan trọng của quá trình dạy học Nội dung kiến thức sẽđưa sinh viên đến mục tiêu cần đạt được của bài Nội dung bài sẽ quyết định đếncách thức làm việc của người học và người dạy, giúp sinh viên nắm được quá trình

Trang 40

hình thành và các tư tưởng của Hồ Chí Minh vận dụng vào thực tiễn Vì vậy, việcnhận thức đúng mục tiêu bài học là hoạt động cơ bản giúp giảng viên sử dụng cáchdạy phù hợp, giúp học trò của mình có kế hoạch tìm hiểu tri thức hiệu quả trong họctập môn tư tưởng Hồ Chí Minh.

Môn tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt trong dạy học, định hướngcho người học hình thành nhân cách, phẩm chất, đạo đức Sinh viên, những tri thứctương lai của đất nước đang đứng trước những khó khăn trong việc học hỏi và quansát, làm sao để có thể vừa hoà nhập, vừa tiếp nhận kiến thức mới mà không bị hoàtan bởi nền kinh tế thế giới đang ồ ạt tràn vào nước ta Thông qua việc tìm hiểu sâu

về môn tư tưởng Hồ Chí Minh, sinh viên được bồi dưỡng, củng cố những kiến thứccần thiết giúp xây dựng những quan điểm, lập trường cách mạng vững vàng, luônkiên định với mục tiêu và lý tưởng của bản thân; biết phê bình và tự phê bình nhữngquan điểm lệch lạc, bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời lấy tưtưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, là nền tảng cho mọi hành động của bản thân

và giải quyết những tình huống trong cuộc sống

Trong quá trình học tập và nghiên cứu môn tư tưởng Hồ Chí Minh, sinh viênkhông chỉ đơn thuần hiểu hệ thống quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh mà đồngthời còn học tập phẩm chất cao quý của Bác – một người tài đức vẹn toàn Học tậpnhững đức tính tốt của Bác, sau đó hình thành cho mình những đức tính đáng quý,đồng thời trong quá trình đất nước bước vào toàn cầu hoá, thì con người với nhữngphẩm chất đáng quý càng được trân trọng

2.1.2 Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh phải phù hợp với đối tượng người học

Sinh viên mang đầy đủ các đặc trưng chung của con người, là “tổng hoà cácmối quan hệ xã hội”, tuy nhiên họ cũng có những đặc điểm riêng khác biệt: đó làtuổi trẻ, tâm lý họ dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, thích tham giacác hoạt động xã hội, giao lưu, tiếp xúc kết bạn, có những tri thức mới Vì vậy, họ

dễ dàng tiếp thu với những cái mới, tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo ra những điềumới lạ Họ cũng chính là tầng lớp nhạy cảm với chính trị - xã hội, dễ bị ảnh hưởng

Ngày đăng: 07/09/2020, 23:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thomas Armstrong (2011), Đa trí tuệ trong lớp học (Mul tiple intelligences in the classroom), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa trí tuệ trong lớp học (Mul tiple intelligences inthe classroom)
Tác giả: Thomas Armstrong
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
2. Vũ Đình Bảy (chủ biên), Đặng Xuân Điều – Nguyễn Thành Minh - Vũ Văn Thục (2012), Lý luận dạy học môn giáo dục công dân ở trường Phổ Thông, Nxb đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học môn giáo dục công dân ở trường Phổ Thông
Tác giả: Vũ Đình Bảy (chủ biên), Đặng Xuân Điều – Nguyễn Thành Minh - Vũ Văn Thục
Nhà XB: Nxb đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Chỉ thị số 30/1998/CT-BGD & ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 30/1998/CT-BGD & ĐT của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1998
4. Bộ giáo dục và Đào tạo (2003), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chínhtrị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
5. Bộ giáo dục và Đào tạo (2010), Sách giáo khoa ngữ văn lớp 6, tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa ngữ văn lớp 6
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáodục Việt Nam
Năm: 2010
6. Bộ giáo dục và Đào tạo (2017), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb chính trị quốc gia Sự Thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb chínhtrị quốc gia Sự Thật
Năm: 2017
7. Lê Thị Bừng (2000), Các thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách
Tác giả: Lê Thị Bừng
Nhà XB: Nxb Đạihọc Sư phạm
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w