Với sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch trong những năm gần đây thì lượng khách đến với xã Sà Phìn huyện Đồng Văn đã tăng lên rất nhiều và để đáp ứng được nhu cầu của khách du lị
Trang 1-
VÀNG THỊ HỒNG LIÊN
Tên đề tài
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI ĐỊA BÀN
XÃ SÀ PHÌN, HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : KT - PTNT
Khóa học : 2015 – 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
VÀNG THỊ HỒNG LIÊN
Tên đề tài
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI ĐỊA BÀN
XÃ SÀ PHÌN, HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Lớp : K47 - PTNT
Khoa : KT - PTNT Khóa học : 2015 – 2019 Giảng viên hướng dẫn : ThS Đoàn Thị Mai
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói chung, các thầy cô giáo trong khoa KT&PTNT đã tận tình giảng dạy dỗ em trong thời gian qua
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến cô giáo ThS Đoàn Thị Mai, đã tận tình
giúp đỡ, trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài Trong thời gian làm việc với thầy, em không ngừng tiếp thu thêm nhiều kiến thức
bổ ích mà còn học tập được tinh thần làm việc, thái độ nghiên cứu khoa học nghiêm túc, hiệu quả, đây là nền tảng cho tương lai của em
Đồng thời em xin chân thành cảm ơn các cô, các chú, các anh, các chị tại UBND xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong việc cung cấp thông tin cũng như đóng góp ý kiến có liên quan đến việc nghiên cứu, giúp em hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã động viên, đóng góp ý kiến và là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Với thời gian và khả năng còn hạn chế, đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý chân tình từ các thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Vàng Thị Hồng Liên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
Phần 1: Mở đầu 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch và dịch vụ ngành du lịch 5
2.1.2 Vai trò của du lịch cộng đồng trong phát triển nông thôn 6
2.1.3 Về khái niệm khách du lịch: 6
2.1.4 Các điều kiện cần để phát triển du lịch cộng đồng 8
2.1.5 Các nguyên tác cơ bản để phát triển cộng đồng 8
2.1.6 Tác động của du lịch cộng đồng đến phát triển kinh tế xã hội 9
2.2 Cơ sở thực tiễn 10
2.2.1 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới 10
2.2.2 Một số mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam 13
2.2.3 Bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong việc phát triển ngành du lịch 16
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 17
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài 17
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
Trang 63.3 Nội dung nghiên cứu 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 17
3.4.2 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu 18
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Điều kiện tự nhiên- kinh tế -xã hội của xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn -
Hà Giang 20
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 22
4.2 Tiềm năng du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn 26
4.2.1 Tiềm năng về thiên nhiên 26
4.2.2 Tiềm năng về tài nguyên nhân văn 27
4.2.3 Thủ công mỹ nghệ 31
4.3 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Sà Phìn
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 31
4.3.1 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn xã Sà Phìn 31
4.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 33
4.3.3 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng của các hộ điều tra 36
4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch cộng động tại
xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 44
4.4.1 Những thuận lợi trong phát triển du lịch cộng đồng 44
4.4.2 Những khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng 45
4.5 Định hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch ở xã Sà Phìn
huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 47
4.5.1 Định hướng phát triển du lịch ở xã Sà Phìn , huyện Đồng Văn 47
4.5.2 Một số giải pháp phát triển du lịch cộng động tại xã Sà Phìn
huyện Đồng Văn 48
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu đất của xã Sà Phìn - huyện Đồng Văn
tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 – 2018 21
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2016-2018 22
Bảng 4.3 Tình hình dân số và lao động của xã Sà Phìn huyện Đồng Văn 23
Bảng 4.4 Số lượng khách du lịch đến xã Sà Phìn giai đoạn 2016-2018 32
Bảng 4.5 Một số cơ sở lưu trú tại xã Sà Phìn 33
Bảng 4.6 Tống hợp một số hộ kinh doanh tại xã Sà Phìn 35
Bảng 4.7 Thông tin chung về hộ điều tra 36
Bảng 4.8 Thời gian tham gia hoạt động du lịch của người dân trên địa bàn xã Sà Phìn 38
Bảng 4.9 Hoạt động du lịch của các hộ điều tra trên địa bàn xã Sà Phìn 39
Bảng 4.10 Doanh thu trung bình của các nhóm hộ điều tra xã Sà Phìn (TB/hộ/tháng ) 40
Bảng 4.11 Thu nhập hộ gia đình từ hoạt động du lịch cộng đồng của xã Sà Phìn (TB/hộ/tháng) 41
Bảng 4.12 Chi phí của các hộ (TB/hộ/tháng) 42
Bảng 4.13 Lợi nhuận của các hộ tham gia hoạt động du lịch (TB/hộ/tháng) 43
Bảng 4.14 Lợi ích của người dân khi tham gia hoạt động du lịch 45
Bảng 4.15 Một số khó khăn của người dân địa phương khi tham gia hoạt động du lịch cộng đồng 46
Trang 9Phần 1 : Mở đầu
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trong sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam, du lịch được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm năng to lớn góp phần quan trọng vào nền kinh tế quốc dân, những năm vừa qua du lịch Việt Nam có những tiến bộ vượt bậc đạt được những kết quả đáng ghi nhận đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho thu nhập quốc gia, đóng góp tích cực vào sự nghiệp kinh tế xã hội Đất nước ta có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng chúng ta có 54 dân tộc anh em với 54 nền văn hóa khác nhau mang nét đẹp truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc và đó chính là nguồn tài nguyên du lịch hết sức phong phú để chúng ta đẩy mạnh hoạt động phát triển du lịch
Hòa chung vào sự phát triển ngành du lịch mạnh mẽ, du lịch Hà Giang không ngừng lớn mạnh và đang từng bước tận dụng khai thác triệt để tiềm năng du lịch mà thiên nhiên ban tặng
Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam bao gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang, nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm nhưng do địa hình cao nên khí hậu
Hà Giang mang nhiều sắc thái ôn đới chính đặc điểm này đã khiến cho Hà Giang có một khí hậu trong lành mát mẻ, rất thích hợp để du khách đến thăm quan cũng như nghỉ dưỡng tại nơi đây, do đó tỉnh có tiềm năng phát triển các loại hình du lịch Hà Giang nổi tiếng với các điểm du lịch như : phố cổ Đồng Văn, dinh thự vua Mèo, cột cờ Lũng Cú, đèo Mã Pì Lèng, Núi Đôi cô tiên, các khu du lịch cộng đồng
Trên thực tế năm 2012 lượng khách du lịch đến tỉnh Hà Giang là khoảng 100.000 lượt khách nhưng đến năm 2017 đã lên tới 1 triệu lượt khách, có thể thấy Hà Giang đang từng bước khẳng định vị trí của mình trong ngành du lịch nước nhà
Trang 10Đồng Văn là huyện có nhiều địa danh du lịch hấp dẫn nhất trong 4 huyện vùng núi phía Bắc là điểm đến mang sắc thái của miền sơn cước núi rừng trùng điệp như một bức tranh thủy mặc, cao nguyên đá Đồng Văn được công nhận là công viên địa chất Toàn cầu vào năm 2010 đây là một trong những vùng núi đá vôi đặc biệt chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển vỏ Trái Đất
Nằm ở cực bắc của Tổ Quốc, xã Sà Phìn là thung lũng đã và đang chứa đựng một công trình với kiến trúc đặc sắc bậc nhất của tỉnh Hà Giang, không chỉ bị thu hút bởi nét đẹp của một thung lũng đầy sắc vàng của mùa hoa cải mà nơi đây còn đưa du khách đến thăm “ Dinh Thự Vua Mèo ” Đây chính là điểm dừng chân không thể bỏ qua đối với du khách khi bước chân đến Hà Giang
Nhìn từ trên cao “Dinh Thự Vua Mèo” nằm giữa thung lũng Sà Phìn huyện Đồng Văn, trên một khối đất nổi cao như hình mai rùa tượng trưng cho thành Kim Quy, bao quanh bởi một dải núi hình vòng cung, tạo nên địa thế phòng thủ rất tuyệt vời
Bước vào khu dinh thự ấn tượng đầu tiên là những hàng cây sa mộc cao vút, thẳng tắp hàng trăm năm tuổi, chiếc cổng đá của dinh thự hiện lên bề thế và được trạm trổ tinh tế cổng nhà cong vút uốn lượn với những cánh dơi, biểu tượng cho chữ “Phúc” Mái cổng bằng ngỗ được chạm khắc tinh xảo với nhiều hoa văn, chính vì vậy “ Dinh Thự Vua Mèo” đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn du khách trong nước và ngoài nước, mang lại nguồn kinh tế đáng kể cho xã Sà Phìn
Với sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch trong những năm gần đây thì lượng khách đến với xã Sà Phìn huyện Đồng Văn đã tăng lên rất nhiều và
để đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch các cơ sở lưu trú, khu vui chơi giải trí được xây dựng, các địa điểm du lịch được tu sửa, các hoạt động dịch vụ du lịch cũng đươc mở rộng và phát triển hơn ngành du lịch phát triển đã tạo ra việc làm tăng thu nhập cho các hộ nông dân tham gia hoạt động du lịch tại xã
Sà Phìn
Trang 11Mặc dù ngành du lịch tại xã Sà Phìn nói riêng và huyện Đồng Văn nói chung đang rất phát triển những song bên cạnh đó cũng có những tác động đáng kể đến đời sống của người dân nơi đây, vậy cụ thể những tác động đó là
gì và có những biện pháp nào hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực phát huy những ảnh hưởng tích cực tới người dân trong địa bàn xã Sà Phìn ?
Xuất phát từ những vấn đề trên cùng với sự đồng ý của ban giám hiệu trường ĐHNL Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Đoàn Thị Mai, em tiến hành thực hiện đề
tài : “Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn xã Sà Phìn, huyện
- Tìm hiểu được thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng
- Đưa ra những định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các hoạt động văn hóa , du lịch cộng đồng
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học để từ đó vận dụng vào thực tiễn, giúp bài khóa luận hoàn thành tốt hơn
Trang 12- Nâng cao được năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng của bản thân, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen với một số phương pháp nghiên cứu một đề tài khoa học cụ thể
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu và học tập trong lĩnh vực du lịch góp phần thu thập số liệu về thực tiễn sản xuất
Trang 13Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch và dịch vụ ngành du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ Do vậy nó cũng mang những đặc tính chung của dịch vụ Sản phẩm ngành du lịch chủ yếu là dịch vụ, không tồn tại dưới dạng vật thể, không lưu kho bãi, không chuyển quyền sở hữu khi sử dụng Trong những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến sự bùng nổ của hoạt động du lịch trên toàn cầu Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và kinh tế du lịch đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của kinh tế thế giới Du lịch đã trở thành một hiện tượng quen thuộc trong đời sống của con người và ngày càng phát triển phong phú
Định nghĩa tổ chức du lịch thế giới WTO đã xác định rõ : du lịch là hành động rời khỏi khu vực thường trú, đi đến một nơi khác một môi trường khác trong một thời gian ngắn để tìm hiểu khám phá vui chơi giải trí nghỉ dưỡng
Như vậy du lịch là khái niệm bao gồm nhiều nội dung, một mặt du lịch mang ý nghĩa nghỉ ngơi, giải trí vui chơi,liên quan mật thiết đến việc di chuyển chỗ ở của khách du lịch, mặt khác du lịch được nhìn nhận như là một hoạt động gắn chặt với hoạt động kinh tế, sản xuất tiêu thụ những giá trị của vùng
du lịch điều này cho ta thấy cách nhìn nhận tổng hợp toàn diện hơn về hoạt động du lịch
Du lịch cộng đồng
Là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức quản lý và làm chủ để mang lại lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường chung, thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương ( phong cảnh, văn hóa, …)
Du lịch cộng đồng dựa trên sự tò mò, mong muốn của du khách để tìm hiểu về cuộc sống hàng ngày của người dân từ các nền văn hóa khác nhau, du
Trang 14lịch cộng đồng thường liên kết với người dân từ thành thị đến các vùng nông thôn để thưởng thức cuộc sống tại đó trong một khoảng thời gian nhất định
2.1.2 Vai trò của du lịch cộng đồng trong phát triển nông thôn
- Du lịch cộng đồng góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương, đặc biệt ở các vùng sâu vùng xa nơi nghèo đói Điều này cực kỳ quan trọng vì nó làm giảm áp lực của con người lên các nguồn lực tự nhiên và cảnh quan địa phương
- Du lịch cộng đồng thúc đẩy sự công bằng trong phát triển du lịch với
sự mang lại cho toàn bộ cộng đồng những lợi ích từ việc cung cấp các dịch vụ
du lịch và cơ sở hạ tầng, bất kể họ có tham gia tích cực vào du lịch hay không, nghĩa là hệ thống các cơ sở hạ tầng được cải thiện tốt hơn, điều kiện tiếp cận tốt hơn : khả năng tiếp cận các nguồn nước sạch, viễn thông …
- Du lịch cộng đồng tạo ra việc làm, thông qua các loại hình thức dịch
vụ, các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân, hộ gia đình tham gia du lịch cộng đồng tạo ra cơ hội việc làm cho bản thân và người dân địa phương Du lịch cộng đồng có thể giúp thay đổi cơ cấu việc làm địa phương và giảm di cư từu nông thôn ra đô thị
- Du lịch cộng đồng bảo vệ và thúc đẩy di sản tự nhiên và văn hóa, góp phần phục hồi phát triển các di sản và văn hóa, truyền thống, bảo vệ cải tạo tài nguyên thiên nhiên và môi trường Du lịch cộng đồng tạo ra các cơ hội để giao lưu văn hóa, truyền thống và là cơ hội để phát triển kinh tế của các vùng khó khăn
2.1.3 Về khái niệm khách du lịch:
Luật Du Lịch Việt Nam định nghĩa ba loại khách du lịch khác nhau Khách nội địa, khách du lịch nước ngoài và khách nước ngoài đến Việt Nam Mặc dù phát triển du lịch nội địa là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch, còn khách du lịch từ trong nước ra nước ngoài thể hiện phần mất mát ngoại hối quan trọng mà du lịch thụ động có thể đem lại
- Khách du lịch nội địa là: Công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Trang 15- Khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam là: Người đến từ nước ngoài, những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch người ngoài, là công dân của một quốc gia và những người ngước ngoài đang sống trên lãnh thổ của một quốc gia đó đi du lịch trong nước
- Khách du lịch nước ngoài: Là người nước ngoài, người Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
* Các hình thức du lịch cộng đồng:
Du lịch sinh thái là :
Loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn thiên nhiên và cả giá trị văn hóa kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đẩy công tác bảo tồn, có ít tác động tiêu cưc đến môi trường và tạo các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế-
xã hội cho cộng đồng địa phương
Du lịch nông nghiệp :
Đây là một hình thức du lịch tại các khu vực như vườn cây, trang trại nông lâm kết hợp, các trang trại động vật đã được chuẩn bị sẵn phục vụ cho khách du lịch, khách du lịch có thể xem hoặc tham gia vào trải nghiệm những công việc thực tiễn bằng các dụng cụ nhà nông đã chuẩn bị sẵn mà không làm ảnh hưởng đến công việc cũng như năng xuất của chủ nhà
Du lịch bản địa :
Là một hoạt động du lịch mà nơi đồng bào dân tộc thiểu số hay người dân bản địa sẽ trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch,và nền văn hóa vốn có của họ sẽ là điểm thu hút lớn nhất của loại hình du lịch này
Trang 16Du lịch gắn với hộ gia đình (homestay):
Homestay là loại hình du lịch mà khách du lịch sẽ nghỉ, ngủ tại nhà người dân địa phương, nơi mà họ đặt chân đến nhằm giúp du khách khám phá, trải nghiệm và tìm hiểu phong tục tập quán, đời sống văn hóa của từng vùng miền tại địa phương đó
Hiểu một cách đơn giản và bao quát nhất, Homestay là loại hình du lịch dựa vào cộng đồng, tức lưu trú tại nhà dân, địa phương nơi khách đến, giúp nơi
đó quảng bá văn hóa, con người và cảnh đẹp một cách chân thật nhất
2.1.4 Các điều kiện cần để phát triển du lịch cộng đồng
- Tiện nghi và các điểm du lịch hấp dẫn của cộng đồng : phương tiện đi lại, thông tin, nơi lưu trú, dịch vụ cho khách du lịch tại vùng du lịch, nguồn nhân lực, nơi mua sắm các điểm trải nghiệm, khu vui chơi giải trí
- Tiềm năng thị trường : khách hàng là nhân tố rất quan trọng nó quyết định sự thành bại của một ngành nghề nào đó trong xã hội, du lịch cộng đồng cũng vậy du khách chính là yếu tố quyết định cho sự thành công của một chương trình phát triển du lịch cộng đồng, việc hiểu rõ được nhu cầu của du khách, du khách muốn gì, và cần gì là điều rất cần thiết mà mỗi địa phương phát triển du lịch cộng đồng cần nắm rõ.điều này giúp cho cộng đồng xác định đúng mực tiêu để từ đó có kế hoạch phát triển du lịch tại địa phương sao cho hợp lý và đáp ứng nhu cầu của du khách một cách tốt nhất
2.1.5 Các nguyên tác cơ bản để phát triển cộng đồng
Phát triển du lịch luôn hướng tới và tuân thủ theo 10 nguyên tắc :
1 Khai thác sử dụng nguồn tài nguyên du lịch hợp lý
2 Hạn chế tối đa việc sử dụng quá mức tài nguyên, giảm thiếu rác thải từ hoạt động du lịch ra môi trường
3 Phát triển du lịch phải phù hợp với phát triển kinh tế xã hội
4 Phát triển du lịch phải luôn gắn liền với bảo tồn tính đa dạng tài nguyên
và môi trường
Trang 175 Phát triển du lịch cần chú trọng việc chia sẻ lợi ích cộng đồng
6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch cộng đồng
7 Thường xuyên trao đổi giữa cộng đồng địa phương và các bên có liên quan tới du lịch cộng đồng
8 Luôn chú trọng đào tạo nguồn nhân lưc, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế thị trường
9 Tăng cường xúc tiến quảng bá du lịch một cách có trách nhiệm
10 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và thực tiễn
Muốn thực hiện phát triển du lịch cộng đồng bền vững thì phải tôn tọng những nguyên tác trên để không tổn hại đến môi trường tự nhiên môi trường kinh tế môi trường xã hội
2.1.6 Tác động của du lịch cộng đồng đến phát triển kinh tế xã hội
Du lịch cộng đồng góp phần nâng cao thu nhập cho thu nhập của địa phương đặc biệt ở các vùng sâu vùng xa nơi nghèo đói được thấy rõ hơn, điều này cực kỳ quan trọng vì nó giảm được áp lực của con người lên các nguồn tự nhiên và cảnh quan địa phương
Du lịch cộng đồng thúc đẩy sự công bằng cho phát triển ngành du lịch với việc mang lại cho toàn bộ cộng đồng những lợi ích từ việc cung cấp các dịch vụ du lịch và cơ sở hạ tầng bất kể họ có tham gia tích cực vào du lịch hay không nghĩa là giao thông, điện, điều kiện tiếp cận,các nguồn nước sạch, bưu chính viễn thông tốt hơn
Các doanh nghiệp du lịch cộng đồng tạo ra việc làm cho người dân trong địa phương, du lịch cộng đồng có thể làm thay đổi cơ cấu việc làm cho từng địa phương, và giảm di cư từ nông thôn ra thành thị
Du lịch cộng đồng bảo vệ và thúc đẩy di sản tự nhiên văn hóa du lịch cộng đồng góp phần phục hồi phát triển các giá trị văn hóa, truyền thống kể cả
Trang 18bảo vệ tài nguyên thiên nhiên môi trường, du lịch cộng đồng tạo ra các cơ hội
để giao lưu văn hóa kinh tế Việt Nam với các nước, đây là nhân tố quan trọng
đẻ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và cũng là cơ hội để phát triển kinh tế ở các vùng khó khăn
Nhật Bản là ví dụ điển hình cho sự thành công của quá trình công nghiệp hóa bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp Khởi đầu quá trình công nghiệp hóa, Nhật Bản dựa vào phát triển nông nghiệp để tạo đà cho phát triển công nghiệp, mức đóng góp của nông nghiệp trong suốt thời kỳ đầu công nghiệp hóa là rất cao (những năm 1870, thuế nông nghiệp chiếm đến 35% sản lượng lúa của nông dân) Kinh tế nông thôn trong thời kỳ này là nguồn thu chính của ngân sách Tuy mức điều tiết từ nông nghiệp để phục vụ cho công nghiệp hóa là cao nhưng nó lại không vượt quá khả năng tái sản xuất của nông nghiệp Sỡ dĩ có được điều này là vì nước Nhật đã chăm lo rất tốt cho công nghiệp ngay từ thời kỳ đầu, họ „nuôi‟ để mà „vắt‟ và không ngừng đầu tư trở lại cho công nghiệp Bài học rất đáng được để ý từ kinh nghiệm của Nhật Bản
là chính sách phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn (không chỉ các ngành công nghiệp chế biến mà cả các ngành cơ khí), coi trọng công nghệ thu hút nhiều lao động làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi,góp phần tăng thu nhập của nông dân (1950 thu nhập phi nông nghiệp đóng góp 29% và 1990 là 85% tổng thu nhập của nông dân) Ðiều này có thể thực hiện được là bởi vì chính phủ Nhật đã quan tâm đến kết cấu hạ tầng, năng lượng và thông tin liên lạc trên khắp lãnh thổ ngay từ đầu Ngoài ra, chính phủ
Trang 19Nhật còn luôn kiên trì giữa giá nông sản ổn định có lợi cho nông dân, ngay cả khi nông sản hàng hóa dư thừa
Ở Đài Loan
Sự hợp lý ở đây thể hiện ở việc Ðài Loan tiến hành chuyển tài nguyên ra khỏi nông thôn nhưng vẫn đảm bảo được sự tái sản xuất mở rộng của nông nghiệp Thành công lớn của Ðài Loan trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa chính là không tạo ra áp lực việc làm đối với lĩnh vực công nghiệp
và liên tục tiến bộ trong nỗ lực tạo ra sự cân bằng trong thu nhập (Ðài Loan và một số nước Châu Âu có thu nhập cân bằng nhất trên thế giới) Mặc dù phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp cao và lao động nông nghiệp chiếm phần lớn trong lực lượng lao động nhưng trong giai đoạn đầu phát triển công nghiệp tại Ðài Loan đã không xảy ra hiện tượng lao động đổ xô ra thành thị Không những thế, dù bị điều tiết mạnh để phục vụ cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp còn đóng góp lớn cho sự phát triển của công nghiệp thông qua sự phát triển của các ngành chế biến nông sản xuất khẩu, vấn đề phân hóa giàu nghèo trong giai đoạn này cũng được giải quyết Và thị trường nông thôn Ðài Loan trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa (từ 1956 đến 1966, thị trường trong nước đóng góp 60% tăng trưởng của lĩnh vực công nghiệp chế tạo) Thành công của Ðài Loan có được là nhờ chính sách không ngừng nâng cao thu nhập của người dân nông thôn và tạo sự liên kết hay phối hợp hợp lý giữa nông nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa thông qua việc phi tập trung hóa công nghiệp hóa đưa công nghiệp về phát triển tại nông thôn (giúp thực hiện thành công “ly nông bất ly hương”), nhờ đó mà phát triển được thị trường trong nước làm cơ
sở để phát triển tiềm lực của quốc gia Ðể làm được điều này, Ðài Loan phải có được sự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực tại nông thôn (“hơn 2/3 dân số nông nghiệp tại Ðài Loan có bằng cấp giáo dục chính thức”, Ở Hàn Quốc Mô hình làng mới Saemaul Undong được chính phủ Hàn Quốc phát
Trang 20động xây dựng và đầu thập niên 70 của thế kỷ trước là giải pháp của Hàn Quốc nhằm mục đích xóa đi hố “phân cách” kinh tế giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị Sự phân cách kinh tế này chính là kết quả của sự nóng lòng đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, dốc toàn lực vào việc phát triển các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu, phát triển thành thị, bỏ quên sự cần thiết của việc phát triển nông thôn và chăm lo cho việc phát triển của người dân sống trong khu vực này Thực chất của việc phát triển mô hình làng mới là làm cho thu nhập của người nông dân (chiếm phần đông dân số vào thời điểm đó) được cải thiện và kích thích, xây dựng năng lực tự phát triển của khối dân cư nông thôn Ðây cũng chính là yếu tố làm cho Ðài Loan có được sự phát triển
ổn định trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa đất nước
hệ thống chống ô nhiễm cho các mỏ thiếc và biến khu vực này thành một khu vực của cây xanh với hệ thống xử lý ô nhiễm tối tân.Các hãng lữ hành cũng có các chương trình hướng vào du lịch, các chương trình du lịch với số lượng khách hạn chế cũng được mở ra Thành công lớn nhất của Thái Lan theo đánh
Trang 21giá tại hội nghị du lịch Ðông Nam Á là: “Ðã gắn được hệ thống sinh thái với các nguồn lợi kinh tế mà không làm phá hủy tài nguyên” Các cơ quan du lịch
và các cơ quan chức năng đã và đang cố gắng quảng cáo, tuyên truyền để tạo
ra Thái Lan xanh hơn nữa trong con mắt du khách nước ngoài
2.2.2 Một số mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam
Đóng góp của du lịch vào phát triển kinh tế của một số địa phương
Thành phố Lào Cai
Lào Cai có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch với vị trí địa
lý, địa hình núi cao, đa dạng sinh thái, văn hóa Điểm nổi bật ở Lào Cai là thị trấn Sa Pa – nơi được ban tặng nhiều phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, cuốn hút du khách Được mệnh danh là “Thị trấn trong mây”, nơi đây có khí hậu quanh năm mát mẻ, vào mùa hè, thời tiết ở thị trấn một ngày có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, cùng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, những bản làng ẩn hiện trong sương, trăm hoa khoe sắc Tất cả đã tạo nên một thị trấn bình yên, hài hòa, tươi đẹp nhưng vẫn không kém phần sôi động với những phiên chợ vào cuối tuần Sa Pa là địa điểm thu hút du khách nhất đến với Lào Cai
- Với những sự đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng cùng sự chung tay kết nối giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng, lượng khách du lịch đến với Lào Cai ngày càng tăng trong những năm gần đây Năm 2012, Lào Cai đón được khoảng 948.610 lượt khách, trong đó, khách nội địa đạt 573.080 lượt; khách quốc tế đạt 375.530 lượt ; Tổng thu từ khách du lịch ước đạt hơn 1.844 tỷ đồng Đến năm 2015, lượng khách du lịch đến Lào Cai đạt đã trên 2 triệu lượt, trong đó khách quốc tế đạt trên 600.000 lượt, khách nội địa trên 1,3 triệu lượt ; Tổng thu từ khách du lịch đạt trên 4.500 tỷ đồng Có thể thấy, từ năm 2012 đến 2015, lượng khách đến Lào Cai đã đạt hơn gấp đôi, tổng thu từ khách du lịch tăng gần 2,5 lần Bên cạnh phát triển du lịch Sa Pa, tỉnh đã thu hút tập đoàn Sun Group đầu tư xây dựng hệ thống cáp treo Fansipan Điều này
sẽ giúp du khách tiết kiệm thời gian đi lại và chinh phục nóc nhà Đông Dương
Trang 22một cách thuận lợi hơn Việc đầu tư xây dựng cáp treo Fansipan đã thu hút thêm nhiều du khách có mong muốn, ước mơ được chạm tay đến “Nóc nhà Đông Dương”
du lịch giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến năm 2020
- Nằm ở độ cao 1.050m so với mặt nước biển, khí hậu ôn hòa mát mẻ, Mộc Châu là điểm du lịch sinh thái lý tưởng Tại đây, du khách sẽ được trải nghiệm, thưởng ngoạn đồi chè trái tim, đồi chè vân tay, hội thi hái chè, ngày hội hái quả, hội thi “Hoa hậu bò sữa”, thăm các bản du lịch cộng đồng, nhà nghỉ container, leo núi khám phá “Ngũ động bản Ôn”, dịch vụ nhà hàng đặc sản cá hồi trên núi tiểu khu Vườn Đào; thăm di tích cách mạng động Mộc Hương, bia Tây Tiến, thác Dải Yếm, hồ rừng thông bản Áng gắn với lễ hội Hết Chá, Công ty hoa Cao Nguyên, Khu du lịch Happy land, cửa khẩu quốc tế Lóng Sập; chinh phục đỉnh Pha Luông hùng vĩ
Trang 23- Theo đó, tỉnh ta phấn đấu tốc độ tăng trưởng du lịch bình quân đạt 20%/năm Khách du lịch đến Sơn La đạt trên 2 triệu lượt khách mới (khách quốc tế 97 nghìn người); tổng thu từ du lịch đạt 1.900 tỷ đồng; GDP du lịch chiếm 2,38% GDP toàn tỉnh; tạo việc làm từ lĩnh vực phát triển du lịch cho 18.500 người
Hình 2.2 Điểm nhà nghỉ du lịch cộng đồng (HomeStay)
tại bản Bó, phường Chiềng An, Sơn La
Trang 242.2.3 Bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong việc phát triển ngành du lịch
Ngành du lịch Việt Nam đang đứng trước một tương lai đầy hứa hẹn Đó
là dấu hiệu đáng mừng, tuy nhiên cũng còn phải đương đầu với không ít thách thức và khó khăn phía trước, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ Mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt, phức tạp hơn và không chỉ giới hạn ở phạm vi cấp quốc gia mà còn lan tỏa trên toàn khu vực Để có thể phát triển du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, có sức hấp dẫn và cạnh tranh cao, bên cạnh nỗ lực của riêng bản thân ngành du lịch, rất cần có sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ nhiều hơn nữa từ tất cả các cấp, các ngành Trong đó cần phải có đột phá ngay từ khâu nhận thức về du lịch, mọi quyết định phát triển du lịch cần phải nâng lên thành quyết tâm và ý chí chính trị cấp quốc gia Du lịch Việt Nam đã bước ra khỏi giai đoạn phát triển ban đầu
và đang tiến vào giai đoạn chuyển tiếp trước khi bứt phá Toàn ngành du lịch, trực tiếp đối với các cấp quản lý nhà nước về du lịch, từ trung ương tới địa phương, cần phải chủ động nghiên cứu, bám sát diễn biến của thị trường, nhạy bén hơn nữa với những biến động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và quốc tế Nghiên cứu đề xuất áp dụng các công nghệ hiện đại vào công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, đặc biệt về tài khoản vệ tinh du lịch, qua
đó sẽ giúp công tác dự báo xu hướng thị trường và đánh giá chính xác hơn về hiệu quả và vai trò đóng góp của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân Đồng thời, đề xuất các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, các kế hoạch, quy hoạch du lịch phù hợp và khả thi, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp Với những định hướng cơ bản trên, nếu vận dụng và thực thi tốt, chắc chắn sẽ tạo cơ sở vững chắc để thúc đẩy ngành du lịch phát triển theo hướng chất lượng, bền vững, đạt mục tiêu đề ra
Trang 25
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình hoạt động du lịch tại địa bàn xã Sà Phìn huyện Đồng Văn
Những kết quả đạt được của hoạt động du lịch cộng đồng và giải phát phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu những tác động của hoạt động du lịch cộng đồng đến đời sống người dân tại xã Sà Phìn huyện Đồng Văn – tỉnh
Hà Giang
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu tại :xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn – Tỉnh Hà Giang
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 20/2 – 20/5/2019
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá tiềm năng du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn – huyện Đồng Văn
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Để có được đầy đủ thông tin số liệu phục vụ cho việc phân tích đánh giá đáp ứng yêu cầu của mục đích nghiên cứu đề tài tiến hành từng bước và sử dụng nhiều phương pháp thu thập khác nhau
Trang 26* Thu thập thông tin số liệu thứ cấp
Là số liệu, tài liệu thu thập được trên sách báo, báo cáo có liên quan đến các vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của ngành dịch vụ Ngoài
ra, thu thập số liệu thứ cấp tại phòng Nông nghiệp & PTNT, phòng Tài nguyên
và môi trường, phòng thống kê và các phòng ban khác ở xã Sà Phìn huyện Đồng Văn
*Thu thập thông tin sơ cấp
* Sà Phìn là một xã thuộc huyện Đồng Văn cách Tp Hà Giang 100km về
phía Bắc, là nơi sinh sống lâu đời của dân tộc Hmông Hiện nay trên địa bàn xã
có tất cả 11 thôn và các thôn đều có sự phát triển kinh tế khá đồng đều, tham gia sản xuất nông nghiệp là chính Bên cạnh đó xã Sà Phìn còn có các hoạt động liên quan đến phát triển du lịch cộng đồng như : các loại hình du lịch làng nghề, các hình thức dịch vụ du lịch ( ăn uống, nghỉ ngơi,…)
* chọn mẫu điều tra
- Tại xã Sà Phìn có 80 hộ tham gia hoạt động du lịch nên trong đề tại em chọn 80 hộ để tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi đã được lập trước , gồm những nội dung sau :
+ Thông tin cơ bản về hộ gồm : Họ và tên , giới tính , trình độ học vấn + Điều tra các thông tin về hoạt động du lịch của hộ
Tại 3 thôn đã chọn, lựa chọn số mẫu tại mỗi thôn cụ thể như sau :
1 Thôn Thành Ma Tủng : 27 hộ
2 Thôn Sà Phìn A : 27 hộ
3 Thôn Sà Phìn B : 26 hộ
3.4.2 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu
- Số liệu, thông tin thứ cấp: Được phân tích, tổng hợp sao cho phù hợp với mục tiêu của đề tài Trong quá trình xử lý số liệu, chọn lọc và loại bỏ những tài liệu kém giá trị trên cơ sở tôn trọng tài liệu gốc
- Số liệu sơ cấp: Được xử lý trên bảng tính Excel
Trang 27- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu : sử dụng phương pháp này
để tổng hợp các số liệu và thu thập được sau đó xử lý biểu diễn số liệu trên các bảng biểu, phân tích đánh giá tình hình thực tiễn
- Phương pháp đối chiếu so sánh : phương pháp này xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu đánh giá một cách khách quan những nội dung cần nghiên cứu
- Phương pháp thống kê mô tả : phương pháp này mô tả toàn bộ thực trạng về du lịch đối với đời sống người dân trên địa bàn nghiên cứu thông qua các số liệu đó đưa ra giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả các hoạt động du lịch trong phát triển kinh tế hộ
Trang 28Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên- kinh tế -xã hội của xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn -
Hà Giang
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Sà Phìn là một xã biên giới cách trung tâm huyện 15 km
Phía Bắc giáp Trung Quốc
Phía Nam giáp xã Tả Phìn và xã Sính Lủng
Phía Đông giáp với xã Lũng Táo và xã Thài Phìn Tủng
Phía Tây giáp với xã Sủng Là và xã Sảng Tủng
Xã cách thành phố Hà Giang khoảng 145 km, là xã biên giới có 11 xóm với 3.189 dân, gần như tất cả là người dân tộc H'mông Trung tâm của xã là thung lũng Xả Phìn Xã nổi tiếng với di tích nhà Vương và cao nguyên đá
4.1.1.2 Địa hình
Diện tích tự nhiên là 44,666ha, trong đó 11.837ha là đất sản xuất nông nghiệp Diện tích núi đá chiến 73,49% Địa hình phức tạp, có nhiều núi cao, vực sâu chia cắt Nhiều ngọn núi cao như Lũng Táo 1.911m Độ cao trung bình 1.200m so với mực nước biển Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông địa hình núi đá hiểm trở, bị chia cắt bởi những dãy núi đá cao tạo nên nhiều thung lũng sau do vậy đường xã đi lại hết sức khó khăn thời tiết khí hậu khắc nghiệt
4.1.1.3 Tài nguyên
Tài nguyên nước:
- Nước mặt: Tài nguyên nước mặt của xã rất khan hiếm, chỉ có các suối nhỏ chảy vào mùa mưa và một số hồ ao khác
- Nước ngầm: Hiện nay huyện đang có một số giếng khoan nước ngầm ở
độ sâu trên 200m với lưu lượng 0,1 đến 0,3 lít/s và một số nguồn nước ngầm nhưng không đủ cung cấp cho cho sinh hoạt của nhân dân
Trang 29Bảng 4.1 : Diện tích và cơ cấu đất của xã Sà Phìn - huyện Đồng Văn
tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 – 2018
Chỉ tiêu
DT ( ha)
CC (%)
DT (ha)
CC (%)
DT (ha)
CC (%) Tổng diện tích đất
tự nhiên 1.534,77 100.00 1.534,77 100.00 1.534,77 100.00 Đất sản xuất NN 506,3 33.00 500,0 32,58 482.1 31,41
Đất sông suối 105,50 6,87 100.24 6,53 90,06 5,87 Đất sử dụng cho
Đất chưa sử dụng 60,8 3,96 51,57 3,36 25,3 1,65
(Nguồn : Báo cáo KT-XH xã Sà Phìn)
Qua bảng trên ta thấy tổng diện tích (DT) đất tự nhiên của xã Sà Phìn là 1.534,77ha, diện tích đất của các loại đất biến động qua các năm
Đất sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp giảm qua các năm nhưng vẫn chiếm lần lượt là 33,00% năm 2016 giảm còn 32,58% năm 2017 và từ 45,63% năm 2016 giảm còn 43,6% năm 2017
Diên tích đất dành cho du lịch còn thấp nhưng đã tăng qua các năm đến năm 2018 đã tăng lên 1,31% đất du lịch chủ yếu được sử dụng vào các hoạt động xây dựng khu lưu trú, cơ sở hạ tầng và điểm bán hàng lưu niệm cần có phương hướng đầu tư và phát triển du lịch trên địa bàn xã Sà Phìn đây sẽ là một trong những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch cộng đồng
Trang 304.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Về thương mại dịch vụ
Sự phát triển kinh tế của xã Sà Phìn huyện Đồng Văn được thể hiện qua bảng 4.2
Bảng 4.2 : Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu phát triển
kinh tế giai đoạn 2016-2018
(Nguồn : Văn phòng thống kê xã Sà Phìn)
Qua bảng ta thấy tổng giá trị gia tăng của ngành sản xuất tăng qua các
năm lần lượt là 591 triệu đồng, 661 triệu đồng, và 796 triệu đồng, tổng giá trị
gia tăng của ngành Nông lâm nghiệp chiếm tỉ trọng cao, chiếm 342 triệu đồng
ở năm 2018
Cơ cấu giá trị gia tăng cũng có sự chuyển biến tích cực qua các năm Cc
ngành dịch vụ tăng lên từ 30,96% năm 2016 đến 31.91% năm 2018 nguyên
nhân chủ yếu là chương trình nông thôn mới đã và đang được thực hiện trên
địa bàn
Do sự chuyển biến tích cực của cơ cấu kinh tế tốc độ tăng trưởng kinh tế
có dấu hiệu tăng lên từ 10,3% năm 2016 đến 12,8% năm 2018 thu nhập bình
quân đầu người/ năm có sự chuyển biến tích cực năm 2018 đạt 31 triệu đồng
/người / năm
Trang 31 Dân số, lao động
Năm 2018 dân số toàn xã là 3.189 người với số hộ 656 hộ,bình quân 3-4 người trên một hộ, tỉ lệ dân số tăng tự nhiên là 1,2%, Cơ cấu dân tộc xã Sà Phìn đồng nhất một dân tộc Mông với 8 dòng họ sinh sống trên 11 thôn bản sống đùm bọc giúp đỡ nhau trong sản xuất cũng như bảo vệ tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã Tình hình dân số và lao động của xã được thể hiện qua bảng sau :
Bảng 4.3 : Tình hình dân số và lao động của xã Sà Phìn huyện Đồng Văn
khác Người 20 1.26 38 2,21 25 1,38 190 125 157,5 Lao động
TM-DV Người 100 6.30 134 7,77 149 8,27 134 149 141,5
(Nguồn : báo cáo KT-XH xã Sà Phìn, Đồng Văn )
Trang 32Hiện nay tổng số dân của xã Sà Phìn có 3189 người, số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn nhất (87,05% năm 2018) tương đương với đó số lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp chiếm 90,56% tổng số lao động toàn xã năm 2018 Sà Phìn là một xã thuần nông, dân cư trong xã sản xuất nông nghiệp là chính
Lao động trong ngành dịch vụ tăng lần lượt 6,30% năm 2016, 7,77% năm
2017 và 8,27% năm 2018 nguyên nhân là do các hoạt động du lịch, đặc biệt là
du lịch cộng đồng ngày càng phát triển, làm tốt công tác quảng bá hình ảnh địa phương và các chính sách thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn giúp người dân nâng cao được khả năng, kinh nghiệm trong hoạt động du lịch,
từ đó tăng thu nhập cải thiện cuộc sống
Về y tế
-Trạm y tế đã nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, thức hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch song bên cạnh đó công tác tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được thực hiện nên không có hiện tượng người dân bị ngộ độc thực phẩm trên địa bàn công tác tuyên truyền về dân số kế hoạch hóa gia đình được 22 buổi / năm thu hút 716 lượt người tham gia
Về công tác, văn hóa, thể thao, tuyên truyền
Trước tết UBND chỉ đạo tốt công tác xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động, văn nghệ, thể dục thể thao trong dịp tết nguyên đán Mậu tuất năm 2018
Trang 33và chào mừng ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam 03/02/1930 - 03/2/2018, Tổ chức Lễ hội Gầu Tào vào ngày 04 Tết, thu hút khoảng 4500 người tham gia
- Tổ chức các hoạt động nhân dịp kỷ niệm 59 năm ngày truyền thống Bộ đội biên phòng ngày 03/03/1959, ngày 03/03/2018 và kỷ niệm 29 năm ngày biên phòng toàn dân 03/03/1989 và ngày 03/03/2018 Làm tốt công tác tuyển chọn các vận động viên, nghệ nhân tham gia Lễ hội khèn mông huyện Đồng Văn lần thứ V năm 2018 theo đúng kế hoạch của huyện Phối hợp với trung tâm văn hóa huyện Đồng Văn tổ chức các hoạt động văn nghệ tuyên truyền về bảo tồn công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn được 01 lần trên 11 thôn bản thu hút 1658 lượt người nghe
Hoạt động của trang thông tin điện tử của xã được duy trì thường xuyên, trong 6 tháng đã tổ chức đăng được 20 bài với các nội dung về bảo tồn Nhà truyền thống dân tộc mông, trưởng thôn gương mẫu trong công tác phát triển kinh tế, tổ chức giao lưu bóng truyền chào mừng các ngày lẽ, ngày hội lớn của nhà nước, của tỉnh, huyện, đưa tin các hội nghị lớn liên quan đến công tác phát triển kinh tế xã hội của xã phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở các thôn được người dân tích cực hưởng ứng, các đề án : chống tảo hôn,cải tạo tập tục lạc hậu trong ma chay tiếp tục được triển khai
Về cơ sở hạ tầng
- Về giao thông được sự quan tâm hỗ trợ của trung ương cũng như đầu tư của tỉnh những năm gần đây mạng lưới giao thông trên địa bàn xã đã được tăng cường đầu tư nâng cấp và xây dựng mới đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đi lại và giao lưu kinh tế hàng hóa của người dân.Tổng đường giao thông trên địa bàn xã là 100km trong đó đường liên xã là 80km và đường liên thôn là 20km
sự phát triển giao thông của xã trong những năm qua đã tạo ra bộ mặt kinh tế -
xã hội có nhiều thay đổi đặc biệt kinh doanh dịch vụ, giải phóng mặt bằng trong xây dựng giao thông cũng rất thuận tiện
Trang 34Tuy nhiên hệ thống thoát nước mưa trong xã vẫn chưa được hoàn chỉnh phần lớn là thoát nước tự thấm hoặc thoát nước vào các ao hồ xung quanh, đa phần số đường trong xã đều có rãnh thoát nước
Về thủy lợi
Mặc dù là một xã có thế mạnh về ngành du lịch nhưng xã Sà Phìn đến nay vẫn chưa xây dựng được công trình thủy lợi và trạm bơm cũng như hồ chứa nước tại xã, người dân vẫn còn sử dụng nước mưa và nước giếng để sinh hoạt điều này dẫn đến rất nhiều khó khăn trong quá trình tưới tiêu, hoạt động sinh hoạt, chăn nuôi gia súc, gia cầm của người dân trong địa bàn xã
Chợ
Xã có một phiên chợ được mở vào các ngày 2.5.7 trong tuần, nhằm giúp cho người dân tại địa bàn xã giao lưu buôn bán các hàng hóa phục vụ cho cuộc sống của người dân và cũng giúp người dân tiếp cận các mặt hàng trên thị trường
4.2 Tiềm năng du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn
Xã Sà Phìn là một trong những xã của huyện Đồng Văn có tiềm năng du lịch khá lớn, với những lợi thế về tự nhiên như : cảnh quan thiên nhiên hùng
vĩ, là nơi tập trung nhiều giá trị về văn hóa, những nét đặc sắc về các dân tộc, nơi lưu giữ công trình kiến trúc cổ bậc nhất Hà Giang điều này đang mở ra cho
xã Sà Phìn những tiềm năng lớn để phát triển du lịch – dịch vụ
4.2.1 Tiềm năng về thiên nhiên
Ai đã một lần lên Hà Giang, mảnh đất địa đầu biên cương xa xôi, hẻo lánh này, chắc chắn sẽ không thể quên được vùng đất cổ xưa với bao câu chuyện huyền thoại truyền thuyết lịch sử về ông cha ta dựng nước và giữ nước nơi biên ải , nơi mà thiên nhiên vừa “cho” cái nghèo khó, vừa “tặng” lại một cảnh quan núi non, mây trời đến nao lòng
Cao nguyên đá Đồng Văn
Nói đến nơi đây là nói đến xứ sở của các loài hoa Bạc hà, hoa lê trắng muốt, hoa đào địa phương tím hang; đặc biệt là loài hoa Tam Giác Mạch, trời