Năm 1986 là năm đánh dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp chính trị của nước ta, đất nước bước vào công cuộc đổi mới. Trước bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, buộc đời sống văn học và nghệ thuật cũng thay đổi theo, từ cách nhìn nhận về xã hội cho đến cách nhìn nhận về con người. Đời sống sau đổi mới có nhiều khác biệt so với đời sống thời chiến và những tàn dư thời hậu chiến, điều này đã tạo ra một yêu cầu đối với người nghệ sĩ phải thay đổi sao cho phù hợp với đời sống hiện tại cũng như khẳng định chỗ đứng của mình trong hoàn cảnh lịch sử mới. Thơ ca Việt Nam thời chiến là những tác phẩm với những giọng điệu sử thi và cảm hứng lãng mạn, ca ngợi đất nước Việt Nam, ca ngợi con người Việt Nam anh hùng bước ra từ cuộc chiến. Nhưng sau năm 1975, khi đất nước đã hòa bình, đời sống con người cá nhân được chú ý hơn với những cái “tôi” nội tâm sâu sắc, nhưng nhang nhảng đâu đó cảm hứng sử thi vẫn tiếp tục như một quán tính, tuy rằng đã có những chuyển biến mới. Chỉ sau năm 1986, cách nhìn nhận về con người thay đổi mạnh mẽ, làm cho tư duy văn học cũng dần thay đổi, hình thức nghệ thuật và phương thức thể hiện cũng đổi mới, nhưng tìm tòi mới mẻ và táo bạo đã tạo nên hiệu ứng hai chiều từ phía độc giả dành cho các tác phẩm văn học nói chung và thơ ca đương đại nói riêng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
-
-ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN CỬ NHÂN TÀI NĂNG
NĂM HỌC 2014-2015
NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT CỦA THƠ NỮ
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Chủ nhiệm đề tài : Lê Thị Ngọc An
Hệ CNTN khóa : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Võ Văn Nhơn
TP Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Cấu trúc của đề tài
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1 Bối cảnh chung của thơ Việt Nam sau năm 1986
1.1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam sau năm 1986
1.1.2 Thơ Việt Nam sau năm 1986 – cái nhìn khái quát
1.2 Những xu hướng cách tân
1.2.1 Xu hướng trở về cái tôi cá nhân
1.2.2 Xu hướng đi sâu vào nội tâm con người với những cái tôi bản ngã
1.2.3 Xu hướng từ Hiện đại đến Hậu hiện đại
1.3 Thơ nữ Việt Nam đương đại – khái quát về tác giả và tác phẩm
1.3.1 Những thay đổi về quan niệm thế giới và con người trong thơ nữ Việt Namđương đại
1.3.2 Một số gương mặt thơ nữ Việt Nam đương đại tiêu biểu
1.3.2.1 Các nhà thơ nữ đương đại trong nước
1.3.2.2 Các nhà thơ nữ hải ngoại
Chương 2: Những cách tân của thơ nữ Việt Nam đương đại trên bình diện nội dung trữ tình và phương thức trữ tình
2.1 Tình yêu và tình dục trong thơ nữ Việt Nam đương đại
2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ nữ Việt Nam đương đại – tiếng nói “nữ quyền”
2.3 Tinh thần Hậu hiện đại trong thơ nữ Việt Nam đương đại
2.4 Tư tưởng thẩm mỹ trong thơ nữ Việt Nam đương đại
Trang 3Chương 3: Những cách tân của thơ nữ Việt Nam đương đại trên bình diện nghệ thuật
3.2.1 Ngôn ngữ đời thường
3.2.2 Ngôn ngữ giàu tính tượng trưng
3.2.3 Ngôn ngữ “thân thể”
3.3 Cấu trúc thơ
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Năm 1986 là năm đánh dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp chính trị của nước
ta, đất nước bước vào công cuộc đổi mới Trước bối cảnh lịch sử và văn hóa mới,buộc đời sống văn học và nghệ thuật cũng thay đổi theo, từ cách nhìn nhận về xã hộicho đến cách nhìn nhận về con người Đời sống sau đổi mới có nhiều khác biệt so vớiđời sống thời chiến và những tàn dư thời hậu chiến, điều này đã tạo ra một yêu cầu đốivới người nghệ sĩ phải thay đổi sao cho phù hợp với đời sống hiện tại cũng như khẳngđịnh chỗ đứng của mình trong hoàn cảnh lịch sử mới Thơ ca Việt Nam thời chiến lànhững tác phẩm với những giọng điệu sử thi và cảm hứng lãng mạn, ca ngợi đất nướcViệt Nam, ca ngợi con người Việt Nam anh hùng bước ra từ cuộc chiến Nhưng saunăm 1975, khi đất nước đã hòa bình, đời sống con người cá nhân được chú ý hơn vớinhững cái “tôi” nội tâm sâu sắc, nhưng nhang nhảng đâu đó cảm hứng sử thi vẫn tiếptục như một quán tính, tuy rằng đã có những chuyển biến mới Chỉ sau năm 1986, cáchnhìn nhận về con người thay đổi mạnh mẽ, làm cho tư duy văn học cũng dần thay đổi,hình thức nghệ thuật và phương thức thể hiện cũng đổi mới, nhưng tìm tòi mới mẻ vàtáo bạo đã tạo nên hiệu ứng hai chiều từ phía độc giả dành cho các tác phẩm văn họcnói chung và thơ ca đương đại nói riêng
Nhưng quan niệm mới về nghệ thuật đã làm cho các nhà thơ tự giác ý thức hơn
về nhiệm vụ của mình trên diễn đàn Những khát vọng cách tân và đổi mới thơ cakhông ngừng của các nhà thơ trẻ sau năm 1986 đã làm cho diễn đàn thơ ca sôi nổi hơnbao giờ hết Những nỗ lực khám phá cũng như ý thức tự “cởi trói” trong thơ ca đươngđại vận động không ngừng tạo nên sự phong phú về hình thức thể loại cũng nhưkhuynh bướng nghệ thuật Xã hội đổi mới, suy nghĩ con người cũng thay đổi, điều tạonên bản sắc cho văn học giai đoạn này chính là văn học nữ nổi trội hơn cả Những suynghĩ táo bạo, những lối viết mới đã làm cho văn học nữ nói chung và thơ ca nữ nóiriêng dẫn chiếm lĩnh văn đàn và lấy lòng bạn đọc Mở đầu cho việc cách tân nghệ
Trang 5thuật trong thơ ca phải kể đến tập thơ Người đàn bà ngồi đan (1985) của Ý Nhi, sau
đó, Lý Phương Liên và Dư Thị Hoàn cũng đã cất tiếng nói cùng với sự thức tỉnh của ÝNhi đưa con người trở về đời sống cá nhân thường nhật Rồi sau đó là thế hệ của ViThùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Thúy Hằng, Ly Hoàng Ly, Dạ Thảo Phương,Bình Nguyên Trang, Đường Hải Yến, Trương Quế Chi, Phạm Vân Anh,… Họ đều lànhững cây bút trẻ, trưởng thành trong thời kì đất nước đổi mới, mở của hội nhập vớithế giới nên việc tiếp thu những luồng văn hóa mới là điều không tránh khỏi Cũngchính vì vậy, thơ họ luôn mang những nét mới về tư tưởng và những cách tân nghệthuật tạo nên những bước đột phá mới trong thơ ca đương đại
Thơ nữ trẻ với những tác phẩm nói về cái “tôi” bản lĩnh, táo bạo cùng với tràolưu phê bình nữ quyền ngày càng mạnh mẽ thêm vào đó là sự ảnh hưởng bởi trào lưuTân hình thức và Hậu hiện đại đã tạo nên bước nhảy vọt về vị thế, tạo nên luồng giómới cho thơ ca Việt Nam Đã có không ít các nhà phê bình viết bài về thơ nữ đươngđại nhưng dường như chê bai thì ít, khen về sự mới mẻ, sâu sắc thì nhiều, đó cũngchính là một quá trình nỗ lực không ngừng để thay đổi và hoàn thiện ngòi bút của cácnhà thơ nữ trong đó có sự đóng góp của một số nhà thơ nữ Việt hải ngoại Việc nghiêncứu thơ của các nhà văn nữ hải ngoại nhằm cho thấy sự đa dạng và phong phú của thơ
ca đương đại, đồng thời cũng cho thấy được, con người Việt Nam, dù có bị ngăn cáchbởi không gian địa lý thì vẫn luôn nhớ về đất nước mẹ đẻ của mình
Trong bài viết Thơ nữ đương đại khẳng định cái… tôi, Trần Hoàng Thiên Kim
nói rằng: “Họ khẳng định bản thể bằng cách đối thoại sòng phẳng với độc giả, với
bạn văn khác giới, nỗ lực để lớp đàn anh, đàn chị công nhận cái mới của mình, hòa vào dòng chảy văn học đang ồ ạt những thử nghiệm, cách tân thơ Họ luôn sẵn sàng làm người thể nghiệm dẫn đầu trong những xu thế văn học mới và gai góc.”[III, 14]
Cũng chính vì điều này mà thơ nữ luôn phải gánh chịu những búa rìu dư luận gay gắthơn cả Thơ là cảm xúc, cũng chính vì vậy, để viết ra một tác phẩm hoàn chỉnh, tác giảnhư một người ghi lại nhật ký về cuộc hành trình đắm chìm trong mớ cảm xúc thănghoa của tâm hồn mình Các nhà thơ nữ thường bộc lộ cái tôi bản thể mạnh mẽ, điềunày, hoàn toàn không phải là sự lật đổ những định kiến để vùng dậy, mà chỉ là sự xóa
Trang 6nhòa ranh giới giữa nam quyền và nữ quyền, giúp lấy lại cân bằng vị trí của thơ nữtrên thi đàn Điều này hoàn toàn phù hợp trong hoàn cảnh lịch sử đương đại.
Trong Những khúc quành của văn học nữ Việt Nam đương đại, Đoàn Ánh Dương có nói rằng: “Gần 40 năm sau chiến tranh, gần 30 năm sau Đổi mới, văn học
nữ đã phát triển với những khúc quành: từ sự quy chiếu của diễn ngôn dân tộc qua diễn ngôn dân sự đến diễn ngôn đặt nền tảng ở nhìn nhận về tính cá thể Trong dòng chảy ấy, những sáng tác xuất phát từ ý hệ dân sự có được thành công hơn cả, bởi nó dung hợp được cả nguồn cội văn hóa, ý chí xã hội và sức mạnh giới Nhưng nó là một
ốc đảo, không trao truyền năng lượng cho giai đoạn kế tiếp, để chỉ trở thành một điểm nhấn kỳ lạ, như chính sự phát triển kỳ lạ của văn học Việt Nam đương đại”[III, 2] Vì
thơ nữ ở giai đoạn này không trao truyền năng lượng cho bất cứ giai đoạn nào tiếptheo nên việc tìm hiểu về những đặc điểm cũng như sự đổi mới về nghệ thuật của nónày đã được chú ý hơn cả Có khá nhiều bài nghiên cứu về đề tài thơ nữ đương đại,chúng tôi thực hiện đề tài “Những cách tân nghệ thuật của thơ nữ Việt Nam đươngđại” dựa trên sự tiếp thu cái hay, cái đúng của những nghiên cứu đi trước, đồng thời, sẽtìm tòi và phát hiện ra những mới mẻ để có thể hiểu được vì sao thơ nữ đương đại lại
có thể tạo nên đưuọc luồng sóng dư luận mạnh mẽ như vậy
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1 Nguyễn Thị Mai Anh, Thơ trẻ Việt Nam đương đại qua ba tác phẩm: Vi Thùy Linh,Phan Huyền Thư và Ly Hoàng Ly, Luận văn Thạc sĩ ngành Lý luận Văn học, TrườngĐại học Khoa học xã hội và Nhân văn, năm 2010
2 Khương Thị Thu Cúc (2005), Sự vận động thơ tự do từ phong trào Thơ mới đếnnay, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội
3 Lê Thị Hồng Hạnh (2004), Thơ văn xuôi và nhịp điệu trong thơ văn xuôi, Luận vănThạc sĩ Khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 74 Nguyễn Thanh Huyền, Những biểu hiện của chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ ViệtNam đương đại, Luận văn Thạc sĩ ngành Lý luận Văn học, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, năm 2012
5 Nguyễn Phong Nam (2008), Sự tương tác giữa các thể loại văn học và thể thơ vănxuôi trong thơ mới 1932-1945, Báo cáo khoa học, trường Đại Học Sư Phạm, Đại Học
Đà Nẵng
6 Nguyễn Thị Phương Thuỳ (2008), Nghiên cứu sự tự do hoá ngôn ngữ thơ tiếng Việthiện đại thế kỉ XX (trên tư liệu các tập thơ của một số tác giả), Luận án Tiến sĩ Ngônngữ học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG) Hà Nội
7 Phạm Nữ Nguyên Trà, Vần và Nhịp trong thơ Việt Nam đương đại, Khóa luậnCNTN khóa 2009 – 2013 khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xãhội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, 2013
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục tiêu
Khái quát về thơ Việt Nam đương đại và những xu hướng cách tân
Tìm hiểu về những cách tân trên bình diện nội dung và nghệ thuật của thơ nữViệt Nam đương đại
3.2 Nhiệm vụ
Giới thiệu một số gương mặt thơ nữ Việt Nam đương đại tiêu biểu
Làm rõ những cách tân trên bình diện cấu trúc thơ và ngôn ngữ thơ của thơ nữViệt Nam đương đại
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Các nhà thơ nữ Việt Nam sống và làm việc ở Việt Nam sau năm 1986 đến nay
và một số nhà thơ nữ hải ngoại
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích, đánh giá
Đọc tác phẩm thơ và phân tích, đồng thời tìm hiểu những nghiên cứu có liênquan để đánh giá những thông tin thu thập được
5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
So sánh, đối chiếu những tác giả thơ nữ đương đại cũng những tác phẩm để tìm
ra những đổi mới trong nghệ thuật thơ ca
5.3 Phương pháp phân loại, tổng hợp
Tìm những đặc điểm chung về nghệ thuật để phân loại và tổng hợp để hoànchỉnh nghiên cứu
5.4 Phương pháp phê bình xã hội học
Nhìn dưới góc độ phê bình xã hội học để chỉ ra sự ảnh hưởng của thơ nữ đươngđại trên văn đàn Việt Nam đương đại
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung: ở chương này chúng tôi sẽ khái quát về Bối cảnh
chung của thơ Việt Nam từ năm 1986 đến nay, những xu hướng cách tân của thơđương đại và giới thiệu sơ lược về thơ nữ Việt Nam đương đại, những tác giả - tácphẩm tiêu biểu nhằm làm cơ sở lý thuyết cho chương 2 và chương 3
Chương 2: Những cách tân của thơ nữ Việt Nam đương đại trên bình diện nội dung trữ tình và phương thức trữ tình: chương này là sự phân tích và tổng hợp về
đề tài thơ ca nữ Việt Nam đương đại cùng những tư tưởng thẩm mỹ để thấy rằng thơ
nữ đương đại đã có sự cách tân trên bình diện nội dung và phương thức trữ tình
Chương 3: Những cách tân của thơ nữ Việt Nam đương đại trên bình diện nghệ thuật: chương 3 là sự phân tích về sự cách tân nghệ thuật trên những bình diện: thể
thơ, ngôn ngữ thơ và cấu trúc thơ nữ Việt Nam đương đại
Trang 9Chương 1: Những vấn đề chung
1.1 Bối cảnh chung của thơ Việt Nam sau năm 1986
1.1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam sau năm 1986
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, tình hình thế giới có những bước biếnchuyển tích cực Toàn cầu hóa đã làm thay đổi mọi mặt đời sống chính trị - xã hộicũng như văn hóa, nghệ thuật của các quốc gia tham gia Việc hội nhập nền kinh tếquốc tế kèm theo đó là sự tiếp thu nhiều luồng văn hóa trên thế giới là điều tất yếu.Bên cạnh đó, việc phát triển những tiến bộ khoa học – kỹ thuật đã giúp cho đời sốngcon người được nâng cao
Ở Việt Nam vừa trải qua hai cuộc kháng chiến trường kì để bảo vệ nền độc lậpdân tộc Sau năm 1975, chiến tranh kết thúc nhưng những hệ lụy của nó vẫn còn tồnđọng kèm theo đó là hệ thống chính trị quan liêu, bao cấp đã làm cho nền kinh tế ViệtNam trì trệ Cho đến năm 1986, Đại hội lần VI (12/1986) của Đảng đã chủ trương đổimới đất nước toàn diện Nhập theo xu thế Toàn câu hóa, Việt nam cũng chịu ảnhhưởng ít nhiều từ những luồng văn hóa ngoại lai Trong đó, văn học – nghệ thuật làlĩnh vực chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất
1.1.2 Thơ Việt Nam sau năm 1986
Sau năm 1986, Việt Nam bước vào thời kì đổi mới, mở của hội nhập với cácnước trên thế giới Đời sống xã hội thay đổi kéo theo sự thay đổi của đời sống văn học
Sự hội nhập và xu hướng hiện đại hóa đã tạo cơ hội cho nhiều nhà thơ Việt Nam tìmtòi và tiếp thu những tinh hoa của thơ ca các nền văn học Thơ ca Việt Nam sau đổimới là những xu hướng cách tân mạnh mẽ kèm theo đó là những tìm tòi, đổi mới, khắcphục những lối mòn, những hạn chế về mặt ngôn ngữ Con người cá nhân bùng pháttrong thơ ca như một quy luật tất yếu Thơ ca trung đại là sản phẩm tinh thần củanhững nhà Nho bất lực trước thời cuộc, trốn tránh thực tại, chối bỏ cuộc sống nhàmchán chốn quan trường để về ở ẩn, hòa nhập với thiên nhiên Thơ ca thời kì 1930 –
1945 là thơ trữ tình làng mạn với cái tôi cá nhân khép kín Nhưng không được bao lâu
Trang 10ngự trị trên thi đàn, thơ Mới đã đi vào bế tắc Tiếp đến là thời kì 1945 – 1975, thơ cathời kì này là sản phẩm của hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Thơ ca trữ tình cáchmạng thời kì này đề cao cái ta cộng đồng với những hình tượng anh hùng cao cả, đềcao những chiến thắng lịch sử vang dội, những chiến công to lớn Sau năm 1975, đềtài chiến tranh vẫn được tiếp tục với cảm hứng sử thi bi tráng Đặc biệt, sau năm 1986,thơ ca chuyển hướng mạnh mẽ vào những chủ đề xã hội mang tính chất thế sự, đời tư.Cuộc sống con người được chú trọng nhiều hơn với những nỗi buồn, sự cô đơn, lạclõng, những góc khuất của tâm hồn và nội tâm sâu sắc đã được các thi gia khai thácđến tột cùng Tư duy nghệ thuật thay đổi đa dạng làm cho thơ ca cũng mang tính chất
đa dạng cả về thể loại lẫn cái nhìn Mỗi nhà thơ sống trong một thời đại cụ thể, họ hòanhập với thời đại của mình và sải những bước chân đi trong thời đại đó Họ đổi mới vàcách tân sao cho thơ ca một mặt thể hiện được những cảm xúc của mình, vừa thể hiệnđược hơi thở của thời đại mình đang sống, vừa thể hiện những cách tân và đổi mới.Mỗi nhà thơ sẽ có một tiếng nói riêng, một phong cách riêng, và đặt dấu ấn lên tácphẩm của mình theo một cách riêng, nhưng nếu cứ đi theo một lối mòn ngôn ngữ thìxem như đã đưa đời thơ của mình vào ngõ cụt Người nghệ sĩ khiến độc giả của mìnhnhàm chám với những sáng tạo tinh thần của mình thì đó là một thất bại lớn Vì vậy,cách tân và đổi mới cũng là một áp lực đối với các nhà thơ Việt Nam đương đại Họvừa phải tiếp thu cái hay của thơ ca thời đại trước, vừa phải tìm tòi, tiếp thu cái haycủa thơ ca thế giới, vừa phải sáng tạo sao cho đứa con tinh thần của mình không làmđộc giả nhàm chán
Các nhà thơ sau năm 1986 chú ý nhiều hơn đến việc cách tân hình thức tổ chứccủa ngôn ngữ trong thơ cũng như tính đa nghĩa, đa hình tượng của từ ngữ trong thơ.Đưa những từ ngữ đời thường vào thơ ca và xây dựng chúng thành những ký hiệu đặcbiệt mang dấu ấn cá nhân không phải là điều dễ dàng Thế nhưng, các nhà thơ ViệtNam đương đại đã làm được điều đó Những Tân hình thức, Hậu hiện đại bắt đầu nhậpcuộc, song hành với thơ ca truyền thống Điều này đã gây không ít những cuộc tranhcãi, một bên là phe bảo thủ với những tư duy nghệ thuật truyền thống, một bên lànhững cách tân nghệ thuật theo công cuộc hội nhập của thơ ca thế giới, sự đổi mới,
Trang 11cách tân hết sức táo bạo này đã phản lại tư duy truyền thống, làm cho một số thi sĩkhông thể chấp nhận được và đã lên tiếng phản đối Điều này, đã tạo nên một cuộcchiến trên thi đàn, kéo dài đến nay vẫn chưa dứt.
Thơ ca vốn là tiếng nói của đời sống nội tâm con người Người nghệ sĩ hiểu rõ
vị trí của mình và chịu trách nhiệm trước những đứa con tinh thần của mình Chất liệucủa thi ca là ngôn từ và lớp ngôn từ đó được sinh ra từ cảm xúc, thứ cảm xúc ấy bắtnguồn từ suy nghĩ, từ trái tim con người, vì vậy, thơ ca luôn là tiếng nói nhạy cảmnhất Những nhà thơ đương đại đã bắt kịp với thời cuộc, họ thản nhiên nhập vào cuộcchơi và cho ra những tác phẩm nói được những tiếng nói của thời đại Thơ ca Việt
Nam chuyển động không ngừng theo dòng chảy của thời cuộc Tập thơ Người đàn bà
ngồi đan của Ý Nhi mở đầu cho những cách tân, đổi mới của thi ca đương đại Tiếp đó
là tập thơ Lá (1988) của Văn Cao đã tạo nên sự đã nghĩa cho ngôn ngữ thơ ca, ngắn gọn mà đa nghĩa Rồi đến Nguyễn Lương Ngọc với hai tập thơ Từ trước (1990) và
Ngày sinh lại (1991); Nguyễn Quang Thiều với Sự mất ngủ của lửa (1992); Đặng
Đình Hưng với Ô mai (1993); Hoàng Hưng với Người đi tìm mặt (1994); Lê Đạt với
Bóng chữ (1994), tất cả đã tạo nên một luồng sóng dâng trào cho xu hướng cách tân
ngôn ngữ thơ ca đương đại Để rồi sau đó, một loạt các nhà thơ trẻ cũng với sự nhiệthuyết và khát vọng đổi mới đã sáng tác những tác phẩm gây được tiếng vang lớn trên
thi đàn: Nguyễn Hữu Hồng Minh với Ghi chép rời, Sóc trăng, Lỗ thủng lịch sử, Giữa
chúng ta, Mẫu tự, Bãi cát; Nguyễn Vĩnh Tiến với Ông tôi, Ba hôm nữa, Héo mòn một xâu, Phát điên, Quên bẩm sinh, Giữa mùa vang, Bàn tay múa, Những ý nghĩ trên đại
lộ tư duy; Văn Cầm Hải với Hoe chân lời, Vĩnh biệt Mặt trời, Sinh tồn, Tình yêu, Tình yêu cuả Đất, Ngôi nhà xưa Khôn cũ, Người đi chăn sóng biển, Đời chị; Nguyễn Thúy
Hằng với Tôi – Vị thần ngủ quên, Gào thét nưã đi, Beckett’s, tôi và Khuyên; Trần Ngọc Tuấn với Giác quan biển (1994), Giữa cỏ (1996), Chân chim hóa thạch, Gửi dòng
sông Đồng Nai (2004), Tập suối reo (2006); Vi Thùy Linh với Âu Cơ, Tình tự ca, Trên ngực anh, Bản đồ tình yêu, Đường ong, Thiếu phụ và Con đường; Lê Vĩnh Tài với Bù
Lỗ, Nằm vạ, Những câu thơ như gió rã rời, hãy nhìn gần hơn nữa hời nhà thơ, Thế thì chịu thua, Đố Vui, Những ngày Mưa Mưa mãi không thôi,…; Phan Huyền Thư với
Trang 12Rỗng Ngực, Cáo phó, Tạ Ơn, Van Nài, Liều, Khắc Thạch, Độ lượng, Viết, Nghĩ Lại; Ly
Hoàng Ly với Phòng Trắng, Người đàn bà và căn nhà cổ, Thuật ướp xác, Perfomance
Ham bơ gơ, Hành xác và Thử nghiệm, Khúc đêm; Nguyễn Vĩnh Nguyên với Thất Bát yêu, Phác thảo 3, Ảo, Xóa, Mặt xác,… Tất cả đều thuộc một thế hệ mới, thế hệ có
trình độ học vấn và họ sáng tạo dựa trên những gì tiếp thu trong quá trình tìm tòi, giaolưu, học hỏi quốc tế Họ khác với thế hệ cha anh đi trước ở chỗ họ lớn lên và sốngtrong thời đất nước hòa bình và hội nhập, có điều kiện học hỏi và có thể sáng tạo nghệthuật theo cách của riêng họ mà không bị ràng buộc bởi bất kì truyền thống nào Cònthế hệ cha anh đi trước là những người sống và trưởng thành trong cuộc chiến tranhcủa dân tộc, họ thảng hoặc chỉ là những người đầy tớ trung thành của thời đại, ghichép lại sự kiện lịch sử hoặc sáng tác những tác phẩm dựa trên cảm tính của riêngmình
Những tiềm năng về ngôn ngữ trong thi ca thời kì đổi mới được khai thác hếtsức tối đa, cái tôi cá nhân được bộc phát tự do Sự khai thác ấy không phải là phát hiện
ra những từ ngữ mới mẻ, mà là sự kết hợp độc đáo giữa những từ ngữ đã cũ mèm vớinhau, đặt cạnh nhau để tạo nên những hiệu ứng mới, tạo nên lớp ngữ nghĩa mới.Không phải những nhà thơ trẻ hôm nay làm mới ngôn ngữ mà họ dựa trên những chấtliệu đã có sẵn để sáng tạo, điều này, khiến cho người đọc cảm thấy mới mẻ, kích độngbởi những khoái cảm thẩm mỹ mới Đối với thơ đương đại, không phân biệt thứ ngôn
từ hoa mĩ, hàn lâm hay thô tục, khẩu ngữ mà tất cả đều có chức năng như nhau, đưanhững ngôn từ hết sức bình thường vào thơ càng làm cho người đọc cảm thấy thíchthú Lắp ghép những từ ngữ không liên quan lại với nhau một cách rời rạc để tạo thànhmột hệ thống hết sức logic là một thành công rất lớn của các nhà thơ trẻ đương đại
Nguyễn Huy Thiệp đã từng nhận xét thế này: “Nhìn vào danh sách hơn 1000
hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số chỉ là những người già nua, không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều… “vô học”, tự phát mà thành danh Trong số này có hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để viết ra những lời lẽ du dương, phù phiếm, vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này chỉ đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi đươc dấu
Trang 13ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi”[III, 29] Lời nhận xét
trên chưa chính xác, thơ Việt đương đại Việt Nam vẫn đang trên con đường chuyểnđộng không ngừng, những nhà thơ trẻ vẫn đóng góp một phần không nhỏ vào việc đổimới diện mạo của thơ ca, điều này không ai có thể phủ nhận được
Thơ ca đương đại hiện ra như một sự tra vấn không ngừng về cuộc sống Tìmtòi, thể nghiệm những hình thức mới, đi sâu vào khám phá cái tôi cá nhân ẩn giấu saunhững cái ta cộng đồng, núp mình đã lâu, cái tôi lần đầu hiện ra một cách lộ liễu nhưthể trước kia tôi núp mình bao nhiêu thì giờ là cơ hội để tôi phô bày bấy nhiêu Khôngphải tất cả tư duy nghệ thuật của mọi người nghệ sĩ đều được xã hội công nhận nhưngđiều quan trọng nhất là người nghệ sĩ phải có quan niệm riêng của bản thân mình vềđời sống, dù nhìn nhận dưới bất kì góc nhìn nào, toàn diện hay phiến diện, thì chínhđiều đó mới tạo nên một phong cách riêng Ngôn ngữ chính là chất liệu để tạo ra hìnhtượng và chính hình tượng nghệ thuật đã làm cho thơ ca có sức sống bền bỉ Ngườinghệ sĩ thật sự là người biết kết hợp những lớp ngôn từ khô khan để tạo nên hìnhtượng riêng cuả mình Nền tảng của mọi sự cách tân chính là tinh thần nhân bản, haynói khác hơn con người muốn thay đổi tư duy nghệ thuật thì trước hết phải đổi mớiquan niệm về con người Con người luôn là tâm điểm của nghệ thuật và đời sống, chonên, dù có đổi mới đến đâu thì tác phẩm nghệ thuật vẫn không được tách rời khỏinhững quan niệm và tư duy về con người
Khi Tân hình thức và Hậu hiện đại ảnh hưởng đến thơ ca Việt Nam, không chỉngười đọc khó có thể chấp nhận nó mà các nhà thơ cũng nhìn nó dưới ánh mắt của một
kẻ dị hợm, không tiếp nhận nó ngay từ giây phút đầu, thậm chí còn có tư tưởng tẩychay nó Chí có những nhà thơ trẻ của chúng ta là học hỏi và chấp nhận nó như ánhmắt của “những con nai tơ tìm thấy món mồi mới” Bởi họ không ngại tiếp thu cáimới, họ luôn tìm hiểu cái mới và giao lưu với nó thông qua con đường sáng tạo TrongGóp nhặt sỏi đá: Thử nhặt các nhầm lẫn lặp đi lặp lại trong nhìn nhận về thơ hôm nay,
Inrasara có nhận xét rằng: “Còn hôm nay thì sao? Chúng ta đón tiếp và đãi cơm các
sáng tác Tân hình thức với Hậu hiện đại chủ nghĩa như thế nào? Đó là chưa nói kẻ phiêu lưu làm mới có nhiều nhặn gì đâu Số lượng thua xa thời Thơ Mới, trong khi
Trang 14dân số Việt Nam tăng lên gấp 4 lần, số người đi học lại gấp 40 lần Mà ít người làm mới, thì nói gì tới/làm sao đủ số lượng để sàng lọc Nhưng, sao cứ đòi thơ Tân hình thức hay ngay từ buổi đầu nó chập chững ngơ ngác? Đáng lưu ý không kém: làm dở, làm thất bại, làm không tới đâu… là quyền cơ bản, quyền cuối cùng của người sáng tạo… Với văn học, nghệ thuật cũng thế: chúng rất cẩn thái độ khích lệ tương tự từ phía xã hội”[III, 13] Thật ra, chẳng có cái mới nào được nhìn nhận ngay từ đầu nếu
không muốn nói là bị tẩy chay Thơ Mới trên buổi đầu hình thành cũng khác gì, và đâuphải cái mới nào cũng hay Phải trải qua một khoảng thời gian cả hơn một thập niên,Thơ Mới mới khẳng định được vị trí của mình trên thi đàn Việt Nam Còn Tân hìnhthức và Hậu hiện đại chỉ mới chập chững bước vào thi đàn, bảo phải nhận được sựđồng tình ủng hộ là việc không thể Không nhận đươc cái nhìn tích cực, nhưng chẳngphải những nhà thơ trẻ đương đại của chúng ta đã cho những bậc đàn anh, đàn chị thayđổi cách nhìn về họ, thay đổi cả cách nhìn về Tân hình thức và Hậu hiện đại Tácphẩm của họ hoàn toàn không thuộc chủ nghĩa Tân hình thức hay Hậu hiện đại, mà chỉ
là sự ảnh hưởng, sự ảnh hưởng đó là nhờ vào nỗ lực học hỏi không ngừng của nhữngnhà thơ hôm nay
Thơ không phải là hôm qua, không phải hôm nay và càng không phải mai sau,thơ ca từ thuở khai thiên nó đã là một tiến trình Nhìn theo góc độ nhân sinh thì thơ ca
ra đời chính để xoa dịu con người Nhưng càng về sau, khi tiến bộ khoa học – kĩ thuậtdần len lỏi vào cuộc sống của con người và trở thành một phần không thể thiếu thì thơ
ca như bị đẩy lùi ra xa Thơ ca không còn là nơi để tìm quên của con người trong cảmxúc, phải chăng nó đã bị đẩy lùi ra xa, thảng hoặc nó bị con người bỏ quên ở một xóxỉnh nào đấy trong tiềm thức Trong bài Tiểu luận – Phê bình “Thơ như là một tiến
trình” của Inrasara, ông có nói rằng: “Như một tiến trình, thơ song hành cũng với thân
phận dân tộc Song hành với ngôn ngữ và cách nghĩ của dân tộc Thế nhưng, vài thập niên qua, một bộ phận lớn của cộng đồng dân tộc đang quay lưng lại với thơ, vì quan niệm về… thơ” [tr 32] Thơ và khoa học kĩ thuật thuộc hai lưỡng cực khác nhau trong
cũng một thế giới, vì vậy, việc rối loạn giữa hai lưỡng cực này trong cũng một thời đại,cùng một xã hội là chuyện không thể không xảy ra Suy cho cùng, việc lưỡng cực này
Trang 15nổi lên thì lưỡng cực kia bị chìm xuống là chuyện bình thường Thế nhưng, thơ vậnđộng không ngừng trên cùng một mặt phẳng không gian với tiến bộ khoa học – kỹthuật, nên việc lưỡng cực nào bị đẩy xuống còn cần phải nghiên cứu và xem xét lại.Trong thơ ca, ngược lại với sự vận động không ngừng nghỉ không phải là việc dừnglại, mà chính là sự sao nhãng, lãng quên Lãng quên một cách máy móc Nếu khônglãng quên thì thị hiếu người đọc cũng khó lòng chấp nhận cái mới Từ những thập niên
30, khi phong trào Thơ Mới mới ra đời, người đọc đâu dễ gì chấp nhận nó, vẫn nhữnglời bàn tán một cách tiêu cực, thâm chí là tẩy chay Thơ Mới Thế nhưng, chuyệnkhẳng định một trào lưu có tiến bộ hay không cần phải trải qua một thời gian dài, đằngđẵng 15 năm, đồng hành cung với những biến động của lịch sử dân tộc, Thơ Mới dầnkhẳng định được vị thế của mình và được xem như một cuộc Cách mạng lớn nhấttrong lịch sử thơ ca Việt Nam Tiếp đến là thơ ca cách mạng, lịch sử dân tộc biến động,các nhà thơ mới cũng cuộn theo dòng chảy đó, xem thơ ca là một mặt trận để truyềntải những nội dung tư tưởng mà toàn thể dân tộc hướng tới, rồi những chiến công lẫylừng hòa quyện vào cái ta cộng đồng, bỏ quên cái tôi cá thể ở thời kì Thơ Mới Thơ cathời kì sau 1975 vẫn còn mang hới hướng sử thi với những khúc khải hoàn khi nhìn vềquá khứ với những chiến thắng lẫy lừng, với một quá trình đấu tranh lâu dài bền bỉ củanhân dân ta Mặc dù vậy, thơ ca sau 1975 vận động không ngừng theo hướng dân chủhóa, hiện đại hóa, hướng con người đến những chuyện nhỏ nhặt bình thường đã bịlãng quên khi họ mải miết đi theo và quyện mình vào cái ta của dân tộc, cái tôi cánhân được chú trọng cũng với những ẩn khuất trong tâm hồn con người Nếu chỉ thayđổi về nội dung thơ ca thì sẽ gây nhàm chán cho độc giả Các nhà thơ thời kì sau 1975luôn tìm tòi, học hỏi và giao lưu không ngừng để có thể thay đổi tư duy nghệ thuật,xây dựng một nền thơ ca hoàn toàn mới Năm 1986 là mốc thời gian đánh dấu sự thayđổi về mọi mặt trong xã hội Việt Nam Hệ thống chính trị thay đổi, trật tự xã hội cũngthay đổi, cuốn vào dòng chảy của lịch sử, thơ ca cũng thay đổi một diện mạo hoàntoàn mới, trong đó, có sự ảnh hướng ít nhiều từ các nguồn văn hóa ngoại lai
Thơ ca Việt Nam bắt nguồn từ văn hóa dân gian, đó là ca dao, dân ca hay nhữnglời hát ru của ông, bà, cha, mẹ Mà văn hóa dân gian luôn mang một tính chất rất đặc
Trang 16trưng đó là tính truyền miệng Cũng chính vì thế mà thơ ca Việt Nam luôn chú trọngvào vần, nhịp để có thể dễ thuộc, dễ nhớ Thơ ca Trung đại tiếp thu thơ Đường luật củaTrung Hoa nên việc tuân thủ theo những quy tắc nghiêm ngặt trong sáng tác là điềukhông thể tránh khỏi Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nhà thơ nữ sáng tácthơ Nôm Đường luật đáng nể phục nhất:
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
(Thăng Long thành hoài cổ - Bà Huyện Thanh Quan)
Rồi tiếp đên là Thơ Mới xuất hiện như một sự cách tân về tư tưởng trong thơ ca,nhưng việc từ bỏ vần điệu là điều không thể Rồi đến Nguyễn Đình Thi với những nỗlực cách tân, từ bỏ vần điệu nhưng bị phản đối kịch liệt Tất nhiên, một cá thể khôngthể chiến thắng nổi một tập thể mạnh cho nên, dù cách tân đó là đúng đắn thì những tưtưởng bảo thủ đã nhấn chìm nó đi Rồi đến Thanh Tâm Tuyền với những sáng tác cáchtân, nhưng vẫn không thành công Việc từ bỏ vần điệu trong giai đoạn này như là mộtviệc làm dị hợm, không ai có thể chấp nhận được Nguyễn Quang Thiều cũng vậy,không hơn không kém các nhà thơ đi trước Inrasara đã nói rằng, thơ Nguyễn Quang
Thiều cũng không thể rời bỏ vần mà “vần ẩn tàng qua nhịp bằng trắc lên xuống trong
câu” Thế hệ cũ đánh tiếng cách tân, nhưng vì sự phản đối thậm chí vùi dập, nên dù có
nỗ lực thế nào, họ cũng không bao giờ đủ dũng cảm để theo đuổi chính kiến của riêngmình Để rồi sau đó, hàng loạt các nhà thơ trẻ cũng với những cách tân cả quan niệm
và tư duy nghệ thuật, mang đến một luồng sóng mới cho thơ ca Việt Tâm lý bảo thủcùng với những truyền thống đã làm cho người đọc khó lòng chấp nhận cái mới ngay
Trang 17từ buổi đầu xuất hiện “Tô Thùy Yên: “Thơ tự do, cũng như Thơ Mới trước kia, ra đời
vì sự thay đổi của hồn thơ, chớ không phải đơn thuần là sự thay đổi của luật thơ” Phê
bình thơ trẻ hôm nay, Nguyễn Thanh Sơn có cũng nhân định: “Cái chính là, một tinh
thần mới cho thơ, các nhà thơ trẻ lại chưa có” [tr 39] Inrasara đã nghiên cứu khá kĩ
về thơ hiện đại Việt Nam cũng như những ảnh hưởng của Tân hình thức và Hậu hiện
đại ảnh hướng đến thơ ca đương đại Việt Nam, từ đó ông có thể nhận ra rằng “tất cả
cái mới đã bị các nhà hiện đại khai thác cạn kiệt” nhưng thật ra, trong thơ ca, làm gì
có sự cạn kiệt tột cùng, thảng hoặc, chỉ là các nhà thơ không chịu thay đổi cách nhìn,thay đổi quan điểm nghệ thuật Thật ra, làm gì có sự đổi mới ngôn từ nào cho thơ cahiện đại hay Hậu hiện đại, mà chỉ là sự lắp ghép những từ ngữ đã cũ để tạo thànhnhững cái mới
1.1 Những xu hướng cách tân
Để có được một nền thơ ca phong phú, các nhà thơ phải không ngừng trau dồi,vận động để tạo nên cái mới Điều này khiến cho các nhà thơ phải luôn thử sức trênnhiều đề tài và lĩnh vực khác nhau để các sáng tác của mình luôn mang điều mới mẻđến người đọc Cũng chính vì thế đã tạo nên nhiều khuynh hướng nghệ thuật khácnhau trên thi đàn Từ sau năm 1986, khuynh hướng sử thi thời hậu chiến mờ nhạt dần,cái ta cộng đồng dần nhường chỗ cho cái tôi cá nhân với những việc nhỏ nhặt đờithường, với chiều sâu tâm linh và tinh thần dân chủ, hiện đại hóa
1.1.1 Xu hướng trở về cái tôi cá nhân
Đây là xu hướng nổi bật nhất, tạo nên luồng sóng cách tân lớn nhất cho thơ casau năm 1975 nói chung và thơ ca sau năm 1986 nói riêng Thơ ca trước 1975 là thơ
ca của dân tộc, thơ ca của niềm hân hoan, ca ngợi thì thơ ca sau 1975 là thơ ca củahoài niệm lại những gì đã qua, thơ ca của cái tôi cá nhân Sau năm 1986, niềm hoàiniệm ấy dường như không còn, các nhà thơ chỉ chăm vào sáng tác những tác phẩm với
Trang 18cái tôi thức tỉnh, cái tôi cô đơn, lạc lõng giữa thế giới rộng lớn Nói về những nỗi buồnnhân sinh, chỉ có những nỗi buồn thoáng qua, nhưng cũng có những nỗi buồn là niềmthương đau cả đời Xoáy sâu vào nội tâm con người với nhiều cung bậc khác nhau,nhiệm vụ của các nhà thơ đương đại không phải là cho độc giả thấy được nỗi buồn đósâu sắc đến nhường nào, cũng không phải làm cho người khác đồng cảm với nỗi buồn
đó mà quan trong nhất là cảm xúc của tác giả phải thật và nỗi buồn mà nhà thơ thểhiện phải giúp độc giả cảm nhận được cuộc sống hiện thực để thay đổi cách sống, thayđổi cách nhìn về cuộc sống để có mục đích sống cao đẹp hơn Trong “Thơ Việt Nam
sau 1975 – từ cái nhìn toàn cảnh”, Nguyễn Đăng Điệp đã nói rằng: “…cũng xuất hiện
không ít nỗi đau giả, những tiếng khóc vờ cảm xúc hời hợt và thói triết lý vặt trong thơ Thậm chí khiến cho không ít tác phẩm rơi vào tình trạng phản cảm…”[III, 5] Đó
là giọng điệu bắt chước nửa vời
Cái tôi trong thơ đương đại luôn là một cái tôi bi kịch Bằng việc sử dụng rấtnhiều hình ảnh ẩn dụ khác nhau, các nhà thơ đương đại đã khắc họa nên những hìnhtượng tưởng chừng như là vô tri, vô giác nhưng lại có nhũng nỗi niềm sâu xa giấu kín.Những vật vô tri vô giá ấy bộc bạch về cuộc đời mình Sự bộc bạch ấy làm cho mỗiđộc giả có cái nhìn sâu xa hơn về xã hội hiện tại cũng như tư tưởng mà tác giả muốngửi gắm thông qua những ký hiệu ấy
1.1.2 Xu hướng đi sâu vào nội tâm con người với những cái tôi bản ngã
Cùng nói về cái tôi nhưng khuynh hướng này là sự khám phá bằng chiều sâucủa khuynh hướng thứ nhất Nếu khuynh hướng đầu tiên nói về cái tôi với những mốiquan hệ trong đời sống thường nhật, cái tôi tương tác với xã hội thì khuynh hướng thứhai lại nói về cái tôi trong sự đấu tranh với chính nó Đời sống phức tạp khiến suy nghĩcon người cũng trở nên phức tạp hơn Những tác động nhiều chiều của đời sống khiếncho tâm lý con người trở nên đa dạng, không nhất quán
Các nhà thơ trẻ đã cất công tìm tòi và thể nghiệm những cái mới, trong đó, việckhai thác đời sống nội tâm của con người kết hợp với việc thay đổi tư duy nghệ thuật
Trang 19càng làm cho thơ ca đương đại nhận được nhiều phản hồi tích cực Có người khôngđồng tình với những cái mới, nhưng việc này còn quá sớm để đưa ra kết luận, hãy đểthời gian chứng mình cho độc giả thấy rằng, sự cách tân thơ đương đại là cả một quátrình đấu tranh không ngừng nghỉ của cả một thế hệ người trẻ Những hình khối, màusắc, đường nét và tất cả những gì còn sót lại trong tâm hồn con người đã được các nhàthơ vơ vét và tạo thành những bức tranh sống động Gam màu trắng đen trong thơ carất mong manh, mong manh như chính tâm hồn con người vậy Sự thức tỉnh hay cái tôihiện sinh cũng có một ranh giới mong manh, đến nỗi, tâm hồn người cứ nửa tỉnh nửa
mê, đuổi theo chính mình, xa lánh chính mình, thậm chí, tự hủy diệt chính mình Đóchính là bản ngã
1.1.3 Xu hướng từ hiện đại đến Hậu hiện đại
Như đã nói ở trên, khi đời sống xã hội thay đổi thì buộc đời sống văn nghệ cũngphải thay đổi để thích nghi với thời đại Một tác phẩm văn chương ra đời và được côngnhận chỉ khi tác phẩm đó mang hơi thở của thời đại Khi đất nước Đổi mới, tư tưởngtrong thơ ca thay đổi, các nhà thơ trẻ phải mò mẫm cho mình một con đường đi đúngđắn nhất Họ phải tìm cách kết nối giữa truyền thống và hiện đại, nhưng giữa đó làmột dấu gạch nối quá lớn khiến họ cảm thấy khó khăn Bước vào cuộc sống hiện đạivới những tư tưởng tự do, dân chủ, họ được cởi trói bởi những ràng buộc của hệ hình
xã hội bao cấp, tiếng nói của họ không còn bị tù hãm, trói buộc bởi những lễ nghitruyền thống Các nhà thơ trẻ ở giai đoạn này rời bỏ cả đề tài cuộc chiến tranh vừaqua, họ tìm cách để bứt phá, để thay đổi Trong Thơ Việt, từ hiện đại đến Hậu hiện đại,
Inrasara đã nói rằng: “Tất cả như đang dọ dẫm, tìm cách bứt phá, cả trong lối viết lẫn
cách xuất hiện Họ lách luật, tìm mọi cách để lách luật Khi lách đến không thể lách được nữa, họ bất cần”[III, 13]
Sự ra đời của internet là một bước đệm giúp thơ ca hiện đại tiếp xúc với tinhthần hậu hiện đại để rồi từ đó, một loạt sự cách tân đã ra đời Không thể phủ nhận vaitrò của các nhà thơ Việt kiều trong quá trình truyền tải tinh thần Hậu hiện đại vào Việt
Trang 20Nam Nhưng vai trò của các nhà thơ trẻ trong nước còn quan trọng hơn Bởi vì, sự vậnđộng nội lực thơ ca Việt Nam rất lớn, họ đang thật sự muốn thay đổi, bắt gặp tinh thầnmới, họ như “cá gặp nước” và đi theo con đường mình cho là hợp lí nhất Thơ ca Hậuhiện đại bóc mẽ sự thật đến tàn bạo, thậm chí, còn phản biện lại xã hội đương đại vàxóa bỏ mọi ranh giới Chính vì những điều này nên nó được cho là dị hợm, làm chođộc giả khó chấp nhận được.
1.2. Thơ nữ Việt Nam đương đại – khái quát về tác giả và tác phẩm
1.2.1 Những thay đổi về quan niệm thế giới và con người trong thơ nữ Việt Nam đương đại
“Ý Nhi với tập thơ Người đàn bà ngồi đan (1985), đã tạo một bước ngoặc để đưa thơ từ cộng đồng trong đời sống chiến tranh trở về với cá nhân trong đời sống dân sự” [III, 3] Tập thơ Người đàn bà ngồi đan như bản lề mở ra cánh cửa cách tân tư
duy nghệ thuật cho văn học nữ đương đại Cùng với đó là những khát khao đổi mới vàkhai thác chiều sâu những chuyện nhỏ nhặt đời thường, những đề tài đó vẫn được cácnhà thơ như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn ThịHồng Ngát, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Tuyết Nga, Phi Tuyết Ba tiếp tục khai thác.Lớp nhà thơ này là thế hệ đàn chị, đâu đó trong tác phẩm của họ vẫn còn những đề tài
cũ như nói về tình yêu, về thân phận, về tình mẹ con Nhìn chung tất cả những gươngmặt thơ ca thuộc thế hệ đàn chị này đều đã góp một phần không nhỏ vào công cuộc lêntiếng để bảo vệ quyền của người phụ nữ Bước vào thời kì đổi mới với những sự vachạm mới và sự thay đổi mới trong hệ hình tư tưởng Không khí hiện đại hóa, dân chủhóa đã đập tan quan niệm “trọng nam khinh nữ” vẫn con sót lại của hệ hình phongkiến Một thế hệ nhà thơ nữ trẻ lại xuất hiện và trưởng thành Đó là thế hệ của Vi ThùyLinh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Bình Nguyên Trang, Dạ Thảo Phương, NgôThanh Vân, Đường Hải Yến, Nguyễn Thúy Hằng, Trương Quế Chi, Phạm Vân Anh,Ngô Thị Hạnh, Tú Trinh, Phương Lan, Nguyệt Phạm, Trương Gia Hòa, Khương Hà,
Lê Mỹ Ý,… Họ là những cây bút trẻ, trưởng thành trong không khí đổi mới của dân
Trang 21tộc Họ có nhiều điều kiện để tiếp thu nhiều nền văn học trên thế giới Họ chọn cáchviết để định hình cho hướng đi và phong cách của chính mình Nhiều nhà thơ đãkhông ngại thử nghiệm cái mới Với tất cả sự hiểu biết của mình, họ đã tự mình dấnthân và tự mình chịu trách nhiệm trước những sự phản đối của độc giả và giới phêbình.
Hơn ai hết, họ ý thức về cái tôi cá nhân của họ Chính bản thân các nhà thơ nữ
là người đã đồng hành cùng với cuộc sống xã hội đương đại Họ hiểu vai trò của mìnhđang dần thay đổi Nếu như thời phong kiến, thân phận người phụ nữ phải chịu nhữngđịnh kiến xã hội, họ không làm chủ được tình cảm, cảm xúc của mình thì bây giờ, thờiđại đã thay đổi, nam nữ đều có quyền bình đẳng như nhau, các nhà thơ nữ khôngnhững khẳng định vị trí của mình mà họ còn tạo nên diện mạo mới cho thơ ca đươngđại Việt Nam Làm thơ là ghi lại cảm xúc của mình nhưng không phải ghi lại một cáchhời hợt và rẻ tiền mà phải làm cho những cảm xúc ấy trở nên thăng hoa và đẹp đẽ.Nhưng khi mải miết theo dòng suy nghĩ của mình, liệu có mấy ai phân biệt được giữacon tim và lý trí Điều này khiến cho không ít các nhà thơ nữ đi vào lối mòn trong vănchương Thông thường, việc giãi bày những xúc cảm mãnh liệt, những khát khao hạnhphúc và những mong ước vụn vặt đời thường thường đi vào trong tác phẩm của cácnhà thơ nữ Việc cách tân văn chương chỉ thật sự được thể hiện khi thơ nữ đương đạibắt đầu tự ý thức vai trò của mình trên thi đàn Việc thể hiện sự phá cách, bỏ qua mọirào cản để xóa bỏ lối mòn đã khiến cho không ít các nhà thơ nữ luôn không ngừng đấutranh Trước là họ đấu tranh với chính mình Việc chấp nhận cái mới, có thể nói là đốilập lại với truyền thống khiến họ trở nên lạ lẫm Sau là sự đấu tranh để đứng vững trênthi đàn trước ánh mắt dè bỉu và sự xua đuổi của tất cả độc giả và giới phê bình Họtừng bước hoàn thiện tác phẩm của mình bằng vốn tri thức mới đầy cao ngạo và tự tin
Thời đại mở cửa, thơ ca cũng mở cửa Từ nhiều góc nhìn và hướng tiếp cậnkhác nhau, những trào lưu thơ ca trên thế giới cũng đều ảnh hưởng đến thơ ca trongnước nói chung và thơ ca nữ đương đại nói riêng Tất nhiên, việc chạy theo những lốimòn cũ là cách an toàn nhất đối với các nhà thơ trẻ những muốn làm cho độc gỉa nhớđến mình thì thơ ca mình phải có những nét mới Những người trẻ là những người
Trang 22năng động nên việc chạy trước thời đại và luôn muốn mình là người mở đầu cho conđường mới trong thơ ca nên việc không ngừng trau dồi những luồng tri thức mới đãkhiến họ có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc định hình hướng đi cho chính mình Việcnhìn cuộc đời bằng lăng kính của riêng mình đã khiến cho người trẻ không cảm thấychán ngán mà ngược lại, họ thích thú với điều đó và họ thực hiện sở thích của mìnhcho bằng được Nói về thơ nữ, trong mấy năm gần đây, yếu tố sex luôn được đưa vàotác phẩm của họ Trong một bài phỏng vấn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã nói
rằng: “…Những lựa chọn về thơ sex trong những năm gần đây cũng có cái lý của nó.
Trước kia bị o ép, bức bối, thì khi đổi mới, tinh thần mở ra, ngay cả những nhà thơ tuổi không còn trẻ Nhưng lớp trẻ mạnh bạo hơn mà có người cho rằng thiếu tế nhị, quá trớn, thậm chí có người cho rằng trơ trẽn…” [III, 20] Yếu tố sex xuất hiện trong
thơ ca đương đại như một điều tất yếu Bởi trước kia, phái nữ phải chịu nhiều điềutiếng bởi những định kiến, họ không thể thoát ra khỏi hai chữ “thân phận” nên bây giờ,
tự do ngôn luận đối với họ như là một sự cởi trói Họ thoát khỏi vòng vây luân lý, họ
đi tìm chính mình và trỗi dậy bản ngã Tất nhiên, việc bị phản bác những luận điệumỡi mẻ là điều khó tránh khỏi, nhưng thời gian đã chứng mình được rằng các nhà thơ
nữ Việt Nam đương đại thật sự có tài năng Họ không hề làm thơ theo lối bắt chướcnửa vời mà đó là sự đam mê thật sự, họ theo đuổi đam mê và thực hiện nó một cáchthích thú, tài năng của họ đã được tất cả mọi người công nhận qua thời gian
Bắt nguồn từ tư duy, sự cách tân thơ ca chỉ thực hiện được khi các nhà thơ thayđổi được quan niệm của chính mình trong tư duy nghệ thuật Muốn thay đổi được tưduy nghệ thuật thì trước hết, nhà thơ phải là những người nắm vững được lớp ngôn từcủa dân tộc Không quá khó trong việc xây dựng một hình tượng thơ mới, nhưng điều
đó lại không hề dễ đối với những người sáng tác chỉ biết đi theo lối mòn Thật sự mànói, trong thơ nữ đương đại, khi đọc vào, người đọc chỉ toàn cảm thấy những hình ảnh
dị hợm, điều đó tạo nên những ấn tượng không tốt trong bước đầu khi tiếp xúc với thơcách tân Chính điều này, khiến cho độc giả ghi nhớ những hình ảnh đó, để rồi sau đó
tự ngẫm nghĩ mới thấy được cái hay, cái riêng biệt của tác giả Mỗi tác giả sẽ có nhữngcách làm cho thơ mình khác đi Nhưng thơ nữ đương đại, tự thân nó đã khác Bởi vì,
Trang 23chẳng có lớp thế hệ trẻ nào mạnh bạo hơn thế hệ nữ trẻ đương đại, họ dám sáng tác thơ
ca theo cách của riêng họ, họ biết tự chịu trách nhiệm về nội dung thơ ca của mình, họđưa đứa con tinh thần của mình lên các diễn đàn và dũng cảm hứng chịu búa rìu dưluận
Thơ ca nữ đương đại đã tạo nên một dấu ấn lạ lẫm, đánh dấu sự bứt phá trongquá trình cách tân thơ ca mà thời kì này là thời kì kiến tạo Họ đã tự phác thảo chândung của mình, lên tiếng bình quyền cho mình và làm cho mọi người trố mắt ngướcnhìn Họ hiên ngang sáng tác và tạo hình tượng, họ tạo nên một sự bứt phá và chứngminh được sự cách tân của mình đã tạo nên một diện mạo mới cho thơ ca Việt Namđương đại
1.2.2 Một số gương mặt thơ nữ Việt Nam đương đại tiêu biểu
1.2.2.1 Các nhà thơ nữ Việt Nam đương đại trong nước
ảnh hưởng những cái mới trong thơ ca là điều khó tránh khỏi Cô đã từng tâm sự: “12
năm làm thơ, sống cho thơ, tôi càng thấm thía thơ là định mệnh của tôi… Có hai lĩnh vực trường tồn qua mọi thời đại, bởi sức mạnh thiêng liêng vượt qua mọi ranh giới, khác biệt, màu da, ngôn ngữ: đó là Tình yêu và Nghệ thuật Sống cho thơ và vì thơ mà sống đẹp, tôi vẫn tiếp tục hành trình thơ, hành trình tình yêu của mình (Sống thơ, tháng 6.2007)” Vi Thùy Linh khai thác triệt để tình yêu, tình dục và cả những niềm
hoan lạc “Nếu so sánh thơ tình với Xuân Diệu, Xuân Quỳnh, Nguyên Sa, thơ tình Vi
Thùy Linh đã mới hơn nhiều Người đọc nhận thấy trong thơ VTL chất đắm say cuả Xuân Diệu, chất suy tư tỉnh táo và đằm thắm thuỷ chung cuả Xuân Quỳnh, những tinh
tế ngôn ngữ cuả Nguyên Sa, nhưng ở VTL, đúng như nhà thơ tự nhận định, thơ VTL
Trang 24được viết bằng ngôn ngữ tinh ròng, phong phú, bằng giọng tâm sự chân thành gần gũi giàu nữ tính” Thơ tình Vi Thùy Linh được ca ngợi nhiều như vậy cũng bởi tư duy
tự giác cách tân, thay đổi quan niệm nghệ thuật và dám lên tiếng vì sự thay đổi đó củamột người nữ trẻ đa tài
Ly sử dụng ngôn ngữ như một ký hiệu để nói lên tư tưởng của mình
Tập thơ nổi tiếng: Cỏ trắng (1999); Lô lô (2005)
Phan Huyền Thư
Phan Huyền Thư tên thật là Phan Thị Huyền Thư, sinh năm 1972 tại Hà Nội.Phan Huyền Thư tâm sự rằng: “Tôi không có vai “trong thơ” – phản diện với vai
“ngoài đời” – chính diện Nhưng tôi có hai con người: con người luôn tìm cách pháhoại chính mình, còn con người kia lại đi “khắc phục hậu quả” Có lúc điên rồ, có lúcyếu mềm; có lúc ngoan, lúc hư; lúc bướng bình ngang ngạnh “xịn”, lúc thùy mị nết na
“đểu”… những chưa bào giờ độc ác cả” [Phan Huyền Thư – người nối dài sự sống chochữ ]
Thơ Phan Huyền Thư là thơ của lý trí nên nó không hề dễ đọc Phan Huyền Thưluôn tìm mọi cách để tạo ra các giá trị mới cho chữ, đối với cô, việc viết ra nhữngtrang giấy với những ngôn từ cũ kĩ không khác gì việc tạo ra một “nghĩa địa chữ”
Tác phẩm tiêu biểu: Rỗng Ngực, Nằm Nghiêng, Gió, Khắc Thạch, Sương, Tạ
Ơn, Van Nài, Liều, Độ Lượng…
Trang 25Nguyễn Thúy Hằng
Nguyễn Thúy Hằng là nhà thơ có cá tính mạnh, tác phẩm của cô viết theo tinhthần Hậu Hiện đại Mọi người gọi chị là nghệ sĩ Hậu Hiện đại Nguyễn Thúy Hằng
tâm sự rằng: “tôi từ chối một cách sống và một lối viết ngăn nắp, có trình tự và tử
tế Nó đả phá những qui tắc và tiêu chuẩn mà cuộc sống đề ra: sự hợp lí, tính thực tế,
sự dễ hiểu, khuôn khổ, đạo đức, số đông, bình tĩnh, sạch sẽ Sự mất phương hướng, té, không cân bằng, mặc cảm, stress, xấu xí, thiếu thốn, đói, không hoà nhập, nói năng lảm nhảm… luôn có chỗ đứng và có lí do của nó.” “ Tôi không có chủ đích về nội dung mà làm tác phẩm dựa trên cảm hứng Khi hình dung về một tác phẩm, tôi luôn cảm thấy thích hình dáng hơn là ý nghĩa của chúng Nó khác với những người khác ở chỗ khi sáng tác họ thường bắt đầu từ ý niệm, hay chủ đích còn tôi thì bắt đầu từ sở thích một hình dáng, chất liệu nào đó Người xem có toàn quyền mở rộng trí tưởng tượng phong phú khi đứng trước tác phẩm nghệ thuật” Tác phẩm của Nguyễn Thúy
Hằng mở ra cho người đọc nhiều hướng suy nghĩ và liên tưởng, cô cho người đọcphán xét tác phẩm của mình chứ không giải thích chi li như những tác giả khác Thơvăn xuôi của Nguyễn Thúy Hằng nhận nhiều sự tranh cãi từ giới phê bình
Tác phẩm tiêu biểu: Gào thét nữa đi, Người chết trôi đẹp nhất trần gian,Beckett’s, tôi và Khuyên…
Tuyết Nga
Nhà thơ Tuyết Nga tên thật là Nguyễn Thị Tuyết Nga, sinh năm 1960 tại NghệAn
Tác phẩm tiêu biểu: Viết trước tuổi mình, Đường số phận, Ảo giác (2003)
Nhóm thơ Ngựa Trời
Trang 26Nhóm thơ Ngựa trời gồm năm nhà thơ nữ: Phạm Thị Thùy Linh (LynhBacardi); Thanh Xuân, Khương Hà, Nguyệt Phạm, Nguyễn Thị Phương Lan.
Phạm Thị Thùy Linh, biệt hiệu Lynh Bacardi, sinh năm 1981 tại Lâm Đồng.Thanh Xuân sinh năm 1979 tốt nghiệp Cử nhân Kinh tế
Khương Hà, sinh năm 1985
Nguyệt Phạm tên thật là Phạm Thì Ngọc Nguyệt, sinh năm 1982, tốt nghiệpkhoa Ngữ văn, Báo chí trường ĐH KHXH & NV Tp HCM
Phương Lan, tên thật Nguyễn Thị Phương Lan, sinh năm 1981 tại Lâm Đồng,tốt nghiệp khoa Ngữ văn Báo chí trường ĐH KHXH & NV Tp HCM
Nhóm thơ này là những nhà thơ trẻ có cùng chung sở thích sáng tác được thànhlập ngẫu nhiên trong một buổi gặp mặt nhau cafe Tác phẩm thể hiện những đặc điểmchung: cái tôi cá nhân mạnh mẽ, giọng điệu ngông cuồng của những kẻ muốn bứt phátruyền thống Thế nhưng, cuộc cách mạng nữ quyền trong thơ ca của nhóm thơ nàyvẫn còn dang dở
Tác phẩm: tập thơ Dự báo phi thời tiết nhưng đã bị cấm phát hành.
1.2.2.2 Các nhà thơ nữ Việt Nam đương đại hải ngoại
Hoàn cảnh lịch sử thay đổi kéo theo đó là đời sống của một số bộ phận ngườiViệt, từ sau năm 1975, có một bộ phận người Việt đã di cư ra nước ngoài, trong số đó,
bộ phận người Việt định cư tại Mỹ chiếm số lượng đông đảo nhất Môi trường sốngkhác nhau nên đã tạo nên những cách nhìn, suy nghĩ khác nhau giữa bộ phận ngườiViệt trong nước và hải ngoại Chính điều này đã tạo nên diện mạo mới cho văn họcViệt Nam hiện đại: sự tiếp xúc giữa nhiều luồng văn hóa trong cùng một nền văn học
Thời đại đất nước mở cửa, internet xuất hiện, việc kết nối giữa người Việt trongnước và nước ngoài là việc khá dễ dàng và ngược lại Đồng nghĩa với việc thơ ca củanhững nhà thơ trong nước được đăng trên các diễn đàn, mạng xã hội không loại trừnhững trang mạng của người Việt hải ngoại Bắt đầu có sự tương tác giữa hai luồngvăn học Việt trong và ngoài nước
Trang 27Nguyễn Thị Hoàng Bắc là nhà thơ nữ đã cắt đuôi thành công hậu tô “nữ” trongthơ đương đại Nguyễn Thị Hoàng Bắc sáng tác thơ theo kiểu Tân hình thức với một
số tác phẩm tiêu biểu: Ngọn cỏ, Nghinh hôn,…
Lê Thị Thấm Vân tên thật là Lê Thị Hoàng Mai, sinh năm 1961, vừa là nhà văn,vừa là nhà thơ Lê thị Thấm Vân cũng chủ trương sáng tác thơ theo lối Tân hình thức.Tác phẩm tiêu biểu: Đôi bờ (tập truyện ngắn, 1993), Mùa trăng (tiểu thuyết, 1995),Yelllow light (thơ, 1998), một số bài thơ Tự do: Khe hở, Bài học vỡ lòng
Còn một số nhà thơ nữ khác cùng đi trên hành trình thơ việt đương đại như:Nguyễn Thúy Quỳnh, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Ngọc Nhung,… nhưng thơ ca của họ íttác động đến thơ trong nước hơn
Tiểu kết
Trang 28Đất nước lật sang trang sử mới với sự đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực,văn học – nghệ thuật không nằm ngoài điều đó Sự đổi mới trên lĩnh vực văn học trướctiên là đổi mới về tư tưởng, quan niệm về con người Con người cá nhân được chútrọng với tất cả những vận động quanh đó: những mối quan hệ xã hội, cái tôi nội tâm
và cái tôi trong mối quan hệ với chính mình Thơ Việt đương đại cùng với những xuhướng cách tân đã nhận được khá nhiều ý kiến từ dư luận Trong bối cảnh đó, thơ củacác nhà thơ nữ với những tư tưởng thẩm mỹ mới đã vươn mình lên trước, tạo nêntiếng vang lớn trong nền thi ca đương đại
Chương 2: Những cách tân của thơ nữ Việt Nam đương đại trên bình diện nội dung trữ tình và phương thức trữ tình
Trang 29Bất kì một xu hướng cách tân nào trong thơ ca cũng sẽ thể hiện rõ trên hai bìnhdiện nội dung và nghệ thuật Đặc biệt đối với thơ ca nữ Việt Nam đương đại Việc chú
ý đến cái tôi cá nhân với những mối quan hệ đời thường hay nội tâm sâu sắc đã tạonên một sự cách tân mới trong đề tài cho thơ ca đương đại Đã đến lúc các nhà thơ nữlên tiếng cho chính cuộc đời của họ, họ buông thả mình trên những con chữ, họ đấutranh cho những mong muốn và ước mơ cháy bỏng nơi con tim, họ nói chuyện vớimọi người bằng những con chữ Để được sự công nhận và ủng hộ từ phía độc gỉa là cảmột quá trình dài họ phải vận động và cống hiến hết mình Sự ủng hộ họ chỉ là một,còn sự phản đối thì gấp mười lần như thế Bởi vì vốn dĩ, chẳng có cái mới nào du nhậpvào một xã hội quen với những gì đã là qui củ, truyền thống lại có thể được mọi ngườiủng hộ ngay từ đầu Cũng chính vì điều này mà có nhiều nhà thơ đã bỏ cuộc giữachừng, không đủ sức để theo đuổi tiếp đam mê của mình chỉ vì hai chữ “truyềnthống” Thế hệ nhà thơ trẻ hôm nay mạnh dạn cách tân, mạng dạn chấp nhận sự phảnđối và chịu trách nhiệm với những gì họ làm ra Chính vì vậy nên họ đã thành công vàxây dựng được tên tuổi của mình trên thi đàn
Trong quá trình khảo sát thơ nữ Việt Nam đương đại, chúng tôi đã tìm hiểuđược sự cách tân trên bình diện nội dung trữ tình và phương thức trữ tình gồm cónhững đề tài sau: Tình yêu và tình dục trong thơ nữ đương đại; Cái tôi trữ tình – tiếngnói “nữ quyền”; Tinh thần Hậu hiện đại trong thơ nữ đương đại và tư tưởng thẩm mỹtrong thơ nữ Việt Nam đương đại
2.1 Tình yêu và tình dục trong thơ nữ Việt Nam đương đại
Tình yêu luôn là đề tài muôn thuở trong thi ca Tình yêu của phái nữ trong thi
ca luôn dạt dào Họ viết nên những vần thơ bằng chính trái tim và cảm xúc của mình.Một khi đã bước vào tình yêu thì người phụ nữ luôn bỏ qua lý trí của mình để yêubằng con tim chân thật nhất Thơ là tiếng nói thật nhất phát ra từ con tim và do chính
bộ não sai khiến Tình yêu không chỉ đơn thuần là sự xúc động giữa hai con tim, mà
nó là cả một quá trình cho và nhận Ngày xưa, Xuân Diệu đã từng thốt lên rằng: “Yêu
Trang 30là chết ở trong lòng một ít” Tức tình yêu là sự cho đi Thế nhưng, các nhà thơ nữđương đại thì yêu bằng con tim nhưng phán đoán bằng lý trí và nhìn nhận “đối tượng”bằng lý trí trước khi quyết định yêu bằng cả con tim chân thành Cảm xúc bắt nguồn từtrong vô thức nhưng để thứ cảm xúc đó được định nghĩa nên lời thì phải dùng lý trítỉnh táo để viết ra Trong một bài phỏng vấn Vi Thùy Linh và Trịnh Lữ trên truyềnhình, hai người đã bày tỏ quan niệm của mình về tình yêu như thế này: Đối với Linhthì cô bao giờ cũng yêu bằng con tim trung thực và bốc lửa của mình, nhưng vẫn lấy lítrí để phán đoán và thẩm định đối tượng trước khi quyết định “yêu anh ta” và “tôi ghétnhất những ai cứ lờ nhờ, sống lờ nhờ, yêu lờ nhờ, không bao giờ dám hành động theotình cảm thật của mình” Còn đối với Trịnh Lữ thì “tôi thấy tim với óc tôi nó lẫn lộnvới nhau cả, không tách bạch ra được Mà hồi còn trẻ hình như tôi cũng nghĩ rằng tim
và óc là hai thứ khác nhau, tình cảm và lí trí là hai thứ khác nhau Còn bây giờ thì hìnhnhư không phải thế” Tình yêu trong thơ Vi Thùy Linh luôn là như vậy, luôn cháybỏng và dạt dào cảm xúc
Anh yêu của em
Em yêu anh cuồng điênYêu đến tan cả em
Ào tung ký ứcNgày dài hơn mùa
Em mong mỏi
Em (có lúc) như một tội đồ nông nổi
Dệt tầm gai đến bao giờ?
Mỗi ngày dài hơn một mùa
Về đi anhCài then nhưng ngón tay trầy xước của em bằng anh
(Người dệt tầm gai – 9/7/1998)
Trang 31Tình yêu của người phụ nữ luôn là sự chờ đợi, đong đếm thời gian, luôn mongmỏi đến ngày gặp lại người yêu của mình Tình yêu “cuồng điên” của Vi Thùy Linhtưởng như chẳng còn chỗ để lý trí có thể chen lấn vào Và chỉ có “đối phương” mới làchỗ lấp đầy cho nhưng trống trải nơi tình yêu cô Hay tình yêu là sự chủ động củangười nữ khi bỏ qua lòng tự trọng:
Đàn ông là lửa, đàn bà là bùi nhùiQuỷ đi đến và thổi bùng lên (M Cervantex)
Nếu anh không đến với em
Em sẽ đi tìm nơi trú ngụ của quỷ
(Liên tưởng – 9/10/1997)Hay trong một bài thơ khác, tình yêu lại được ví với biển:
Dù thế nào, em cũng muốn anh là biểnNhưng nếu biển lạnh
Em sẽ bị đánh mất
Bởi anh
Bị đánh mất khỏi anh
Em sẽ mất emKhi thuộc về người đàn ông khácĐừng để hơi thở của anh vương trên người đàn bà khác
Đó là đau đớn tột cùng (Không thanh thản – 3/9/1998)Hình ảnh “biển lạnh” làm tôi liên tưởng đến thơ Xuân Quỳnh:
Những ngày không gặp nhauBiển bạc đầu thương nhớ(Thuyền và Biển – Xuân Quỳnh)Người phụ nữ trong tình yêu thật đáng thương Trao trọn vẹn con tim cho mộtngười, nhưng nếu không được hồi đáp lại thì chỉ nhận lấy sự đau khổ Vì sao trong
Trang 32cuộc đời mỗi người, gặp rất nhiều người nhưng chỉ yêu đúng một người? Đó cũngchính là câu hỏi mà rất nhiều người đang tự vấn Bởi vì chỉ khi nào con tim nhận được
sự đồng điệu thì mới có thể kết nối và trao yêu thương cho nhau Là phận nữ thì dù íthay nhiều, luôn chịu thiệt thòi trong tình yêu Vì vậy nên, nếu không gặp đúng ngườithì sẽ chịu đựng rất nhiều sự tổn thương
Không tấm chăn nào ấm bằng Anh!
Không chiếc khăn nào như vòng tay Anh!
Em – con thuyền đầy nước
Rằm trung thu, ngày mưa, gió lạnhNhưng em muốn cùng Anh chờ trăng lênAnh chẳng đến với em
Huống hồ trăng !
Em –Chơi vơi
Trước những làn nước
(Mùa anh – 5/10/1998)Tình yêu đơn phương là tình yêu chịu nhiều tổn thương nhất Và việc ngu ngốcnhất của một người phụ nữ là luôn chờ đợi vào một người không bao giờ quay trở về.Cảm giác “chơi vơi” của Linh cũng giống như cảm giác “tương tư nâng lòng lên chơivơi” của Xuân Diệu vậy Vẫn là thuyền, vẫn là nước, nhưng qua bàn tay của Linh,hình ảnh con thuyền không còn đẹp và lãng mạn như con thuyền của Xuân Quỳnhnữa, mà con thuyền chở đầy nước mắt và lạc lõng trước những làn nước Giống nhưtâm trạng của Linh muốn gửi gắm trong chính bài thơ này vậy
Thơ nữ thường mang tính chất lãng mạn, bởi vì họ nói nhiều về tình yêu, về sựđau buồn Nếu như thơ nữ trước năm 1986 vẫn con mang đầm nét lãng mạn cổ điển thìsau năm 1986, vẫn đề tài tình yêu nhưng tình yêu được diễn tả bằng những câu chữngắn gọc, súc tích, không nhiều vần điệu
Em không nhớ đã tìm gặp anh bao lần, bất kể khi nắng còn hay tắt
Để rồi đêm nay,
Trang 33Em cay đắng quay về khi anh đẩy em bằng mắt!
(từ phía ngày nắng tắt – Vi Thùy Linh – 5/3/1999)Thật ra, đối lập với tình yêu không phải là vô tình, mà chính là sự im lặng Imlặng và thể hiện sự từ chối bằng ánh mắt quả thật đáng sợ hơn gấp nhiều lần so với từchối thẳng thừng Điều đó, có thể giết chết cả tình yêu của một con người
Anh ở đâu sót lại trong vết xước
Em cào ngực rách ra những vì sao
Vết xước đang lên da nonVảy huyết tím đen
Em cào ngựcKhông có anh trong da thịt(Điệp khúc sáng mùa đông – Phan Huyền Thư – 19/1/1999)Thể hiện tình yêu bằng những mất mát, đau khổ và quằn quại, nhưng thơ củacác nhà thơ nữ lại không hề lụy Điều này, có lẽ là một đặc điểm mới trong tư tưởngcủa thơ ca nữ đương đại Họ sống và yêu đương cuồng nhiệt, nhưng khi tình yêu tan
vỡ, họ vẫn đau khổ, nhưng cái đau khổ ấy không làm họ trở nên đáng thương hại, mà
ta chỉ thấy bộc lộ cá tính của họ Những cô gái hiện đại, mạnh dạn yêu và chấp nhậnkết quả dù tình yêu thất bại, họ vẫn không hối hận
Mở đầu tập thơ Cỏ trắng, nhà thơ Ly Hoàng Ly có viết lời tựa ngắn gọn: “Tập
thơ này được ra đời là bởi quanh tôi luôn tràn ngập tình yêu Cảm ơn tất cả…” Bởi vì
yêu thương sẽ sinh ra yêu thương, nên nếu có thất bại thì người phụ nữ vẫn luôn hivọng về một tương lai tươi sáng hơn đang chờ đợi phía trước
Thôi thì là tình đầuThôi thì là dang dởThôi thì đành là cành bàng khô
Lặng ngắtNghe nỗi đau đang thâm thẫm vào đêmThôi đành là cành bàng khô lặng ngắt
Trang 34Đợi mùa sau nảy lộcĐợi mùa sau trăng lên(Chỉ là tình yêu – Ly Hoàng Ly 7/1996-2/1998)Thế nhưng, trong một số bài thơ khác, Ly Hoàng Ly lại thể hiện sự cô độc đếnđáng sợ trong tình yêu
Em không biết đến tình yêu nồng nànRượu tình yêu có say những đêm không anhNgười phụ nữ tự trói mình
Bằng sự dửng dưng của anh
Em không biết đến mây quấn quýt trăng
Ồn ào đưa gió lên câyNgười phụ nữ tự làm lạnh mìnhBằng sự hời hợt của anh
Em không biết đến tiếng hót đắm sayĐôi chim sẻ rúc rích bên nhau
Người phụ nữ tự trầm cảmBằng giấc ngủ của anh(Trầm cảm – Ly Hoàng Ly – 2001)Những đêm đèn sáng trưng
Trong căn phòngThức
Chiếc chăn bò trước ngực
Đi ngủĐiChiếc chăn màu xám trắng
Hỡi những kẻ ngủ đêmMang tình yêu
Đi ngủ
Trang 35Thức được nữ không anhĐem tình yêu
Rọi nắngĐêm là của chúng mìnhTình yêu thắp sáng đêmĐêm là của chúng mìnhSao nỡ ngủ
Hở anh
Em đành thức một mìnhNhững đêm đèn sáng trưngChiếc chăn bò trước ngựcLạnh buốt
Đêm là của chúng mình…
(Đêm là của chúng mình – LHL – 2001)
Sự cô độc khiến người phụ nữ chỉ còn biết độc thoại với chính mình Căn phòngvẫn sáng đèn, nhưng lòng người thật sự cô đơn, lạnh lẽo đến nỗi dù đã đắp chăn nhữngvẫn nghe lạnh buốt Câu thơ “đêm là của chúng mình” bây giờ không còn là của anh
và em nữa mà là của em và sự cô đơn
Cùng tâm trạng ấy, cũng là đêm với nỗi cô đơn gặm nhấm tâm hồn người phụ
nữ, chẳng biết làm gì ngoài bầu bạn với những hạt mưa ngoài kia:
Cứ hát nữa điMưa ơi
Dù bài hát ấyTôi đã nghe nhiều lần rồi
Cứ hát nữa đi,Mưa ơi
Hương ngọc lan sẽ tỏa suốt đêm nay
Và tôi sẽ, suốt đêm nayCùng mưa
Trang 36Nghe mưa hát
…Tỏa sao trời bay lênNghe mưa hát suốt đêm(Mưa hát – LHL – 6/1994)Nỗi cô đơn là một nỗi ám ảnh đè nặng trong tâm hồn người phụ nữ Nhưng họvẫn luôn hi vọng vào ngày mai tươi đẹp, hi vọng ánh sáng của tình yêu sẽ soi rọi vàomình và khi đã bắt gặp được một tình yêu đúng nghĩa thì niềm khát khao hoan lạc thổibùng lên trong họ
Lại như con cừu non đói cỏLại như con lạc đà mới lớn, bỏng lưng nằm sấp trên sa mạcNgười đàn bà – lông – mày – đen mơ miền cực lạc
…Ngồi dưới bóng cây, tán cây như chiếc mũ rộng vànhCâu tụng niệm đứt quãng – hổn hển lời tình
Tiếng mõ – tiếng nấc
…Hôn nhau tràn tràn
Ta tu suốt đời dưới cây bồ đề - AnhChúng mình siêu thoát
(Dưới cây bồ đề - VTL – 1/5/2000)
Mơ mình vào kiếp tu hành, ngồi dưới tán cây bồ đề lại là “Anh” và những nỗithèm muốn không kìm nén được, thật sự Vi Thùy Linh làm độc gỉa không khỏi ngỡngàng khi đọc bài thơ này Dùng nơi tịnh tâm, thiêng liêng, nơi cửa Phật để nói đếntình yêu nam nữ là một điều không ai ngờ đến Vi Thùy Linh quá táo bạo khi dùngnhững hình ảnh này trong thơ mình
Hay là miêu tả lại niềm hạnh phúc khi cơ thể được hưởng thụ những đam mêtrong việc hòa vào nhục thể
Hồi hộp đến cuối đường tơ lụaTây Tạng mê ảo cuồng hoa
Trang 37Trứng nhộn nhịp thụ thai
Âu Cơ rũ váy rũ nghiệt ngãLại hứng hứng gió thốcThôi miên những cánh cửa chồi răngHoa Thùy Linh
Đàn đàn mũi tên bay từ giữa hai đùiBắn nát sự cam phận
(Âu Cơ – VTL)
Chúng mình hôn nhau giữa nhà thơ màu xámKhi mũ, áo của Cha rơi xuống
Em ôm chặt anh, không phải bằng sức lực con chiên…
Chúng mình bước nhẹ trong tiếng chuông đêm, trong âm hưởngthánh ca, trong tiếng thở
Bỏ nhà thờ và kinh và những cầu nguyệnAnh thuộc về em
Trên thân thể em, cánh tay anh thập tự(thánh ca – VTL – 23/12/1998)
Đề tài tình dục được Vi Thùy Linh khai thác một cách triệt để Những cảm giácthăng hoa trong tình yêu cũng như những phần cơ thể lộ liễu luôn được Vi Thùy Linhthể hiện trong tác phẩm của mình như một thứ chất liệu làm cho tác phẩm mang đậmyếu tố “sex” hơn
Anh hạ trời xuống Anh nâng đất lênAnh bùng vỡ thanh xuân cuồng điênTrên lưng Anh, bơi mải miết ngón ngón em dài trắngMôi em trườn đêm căng
Duỗi chân dài, em nối những ranh giới, những núi đổi sông biển,nhịp nhịp qua cầu đùi muốt
Vào lúc Anh lên em lên Anh
Trang 38Thụ tạo giấc mơ ấp ủ
Em đạt khát khao làm Mẹ(Nơi Ánh Sáng – VTL)
Dâng mình lên theo cơ thể ngụt ngànDâng từng đợt mưa say đợt cắnAnh trai tráng hệt như chưa lần nào
Em nữ tính nhiều mà sao vẫn thiếuĐóa nhưng đen nở mịn đường cỏ ấmCòn nợ mùa thu vì em trắng quáSuốt đời mải miết chạy theo tình yêu(Tình Tự Ca – VTL)
Cũng là đề tài tình dục, Lê Thị Thấm Vân đã miêu tả trần trụi những hành động
ân ái làm cho người đọc không khỏi giật mình
Giữa chăn gối drap giường nhăn nhíu
Giữa trưa không mùaGiữa hai cuống rốn của anh và em đã rã tan trong đất
Và giữa hai ta
Là mồ hôi nước mắt nước dãi tinh dịch
Em nằm ngửaThẳng hai chân lên
Trời
Em nhìn anh và anh tìm emQua khe hở giữ hai đùi em
KhépKhông kín mít như đùi gái tây gái mỹ - em cười to
Mắt lóng lánhBên kia khe hởGiữa hai đùi em
Trang 39Là cả bầu trời tự do – anh cười to
Mắt sòng sọcAnh cố vạch hai đùi em
Thò đầuKhông đượcKhông thể đượcGiữa lặng im anh vẫn nghe tiếng quát tháo của đoàn quân vô
Hình(Khe hở - Lê Thị Thấm Vân)
Yếu tố “sex” chiếm phần lớn trong các sáng tác của thơ nữ đương đại Tình dục
là một nhu cầu thiết yếu của con người và đối với người phụ nữ cũng vậy, tình yêu của
họ luôn mãnh liệt và họ khát khao có được nhu cầu thỏa mãn cơ thể Thế nhưng, điều
đó không phải là tất cả trong tác phẩm của các nhà thơ nữ đương đại Điều mà họmuốn nói chính là nhưng khát khao cháy bỏng của người phụ nữ Người phụ nữ hiệnđại dám lên tiếng vì nhu cầu của bản thân mình, họ lên tiếng vì họ và vì tất cả mọingười
Hãy vĩnh biệt cuộc sống tĩnh mịch đơn điệuChịu đựng nô lệ giới tính bằng bị động
Trang 40Hãy yêu nhau, đừng chần chừ nữaĐừng giam đời trong hèn yếu, sợ đàm tiếu điều tiếng lên án từnhững kẻ vô hồn bạc nhược
Nào cùng đi! Hãy vình biệt cuộc sống tĩnh mịch đơn điệuChịu đựng nô lệ giới tính bằng bị động
Hãy yêu nhau, đừng chần chừ nữaĐừng giam đời trong hèn yếu, sợ đàm tiếu điều tiếng lên án từnhững kẻ vô hồn bạc nhược
Nào cùng đi(Bản đồ tình yêu – VTL)Tuy say đắm trong nhục thể nhưng người phụ nữ luôn đủ tỉnh táo để nhận rarằng đâu là con đường tốt nhất cho chính mình Họ không ngần ngại yêu, cũng chẳngngần ngại vấp ngã, và càng không thể nào chịu đứng yên chịu đựng “kiếp nô lệ” theođịnh kiến xã hội từ xưa Sự vùng dậy của họ đã làm thức tỉnh cả một hệ hình xã hội,thức tỉnh cả một thế hệ ngủ mê trong những khuôn khổ chật hẹp của truyền thống
2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ nữ Việt Nam đương đại – tiếng nói “nữ quyền”
Hành trình của tuổi trẻ luôn là kết quả của sự hối thúc về những ước mơ, hoàibão Tiếng nói trong thơ họ là tiếng nói của những người trẻ, về những cái tôi bốcđồng nhưng biết tự chịu trách nhiệm trước những gì mình làm Họ nói lên tiếng nói cánhân cho toàn thể xã hội nghe Họ thể hiện mình bằng những vần thơ không giống vớilớp nhà thơ đi trước đó Họ tự nghiệm và đúc kết về mọi sự việc từ những va đập trongchính cuộc đời mình Nhiều cái tôi bản thể lên tiếng đã tạo ra những luồng sóng có sứcảnh hưởng nhiều đến dư luận xã hội Và thơ ca nữ đương đại là một trong số đó Cáitôi trữ tình với tiếng nóí nữ quyền” lên ngôi, xóa bỏ bức tường thành khổng lồ “địnhkiến” ngăn cách họ với xã hội từ trước đến giờ
Việc thể hiện cái tôi không phải là chuyện khó Nhưng cái tôi đó ra sao, như thếnào mới là điều đáng nói Việc làm mới ngôn từ trong thơ không phải là việc dễ dàng