ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HỒ DUY MẠNH DẠY HỌC TRÊN LỚP KẾT HỢP VỚI ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH LÀO CAI Chuyên ngành: Lý luận và ph
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ DUY MẠNH
DẠY HỌC TRÊN LỚP KẾT HỢP VỚI ĐÀO TẠO
TRỰC TUYẾN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ DUY MẠNH
DẠY HỌC TRÊN LỚP KẾT HỢP VỚI ĐÀO TẠO
TRỰC TUYẾN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH LÀO CAI Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Địa lí
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Vũ Sơn
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công
bố trong bất kỳ một công trình của các tác giả nào khác
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Hồ Duy Mạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại Đại học Sư phạm Thái Nguyên Có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới đến trường Đại học Sư Phạm, khoa Địa lí, phòng Đào tạo Đặc
biệt người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Đỗ Vũ Sơn đã trực tiếp hướng dẫn dìu
dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển
khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực
tuyến môn Địa lí lớp 11 ở một số trường THPT tỉnh Lào Cai’’
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo, các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học địa lí cho bản thân tác giả trong những năm tháng qua
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em HS của trường THPT số 1 Bảo Thắng và trường THPT số 2 Bảo Thắng - Lào Cai đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn những đóng góp quý báu và nhiệt tình của các đồng chí
GV giảng dạy môn Địa lí thuộc các trường trường THPT số 1 Bảo Thắng và trường THPT số 2 Bảo Thắng - Lào Cai đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ cùng tác giả triển khai điều tra thu thập số liệu
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế trong kinh nghiệm nghiên cứu, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Đỗ Duy Mạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu phát triển đào tạo trực tuyến, dạy học kết hợp 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng nghiên cứu 6
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6
8 Những điểm mới và đóng góp của đề tài 9
9 Cấu trúc của luận văn 10
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KẾT HỢP DẠY HỌC TRÊN LỚP VỚI ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11 11
1.1 Đổi mới dạy học Địa lí trong các trường THPT 11
1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học 11
1.1.2 Đổi mới hình thức tổ chức dạy học 11
1.1.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá 12
1.1.4 Bồi dưỡng HS giỏi 13
1.1.5 Chú trọng đổi mới sinh hoạt chuyên môn nhằm nâng cao vai trò và phát huy hiệu quả hoạt động của tổ/nhóm chuyên môn trong trường THPT 13
1.2 Tổng quan về Đào tạo trực tuyến 13
1.2.1 Khái niệm về Đào tạo trực tuyến 13
1.2.2 Các thành phần của Đào tạo trực tuyến 15
1.2.3 Các chuẩn E-Learning 16
1.2.4 So sánh dạy học truyền thống với dạy học trực tuyến 18
Trang 61.3 Dạy học kết hợp (Blended learning) 21
1.3.1 Khái niệm dạy học kết hợp 21
1.3.2 Các phương án dạy học kết hợp 22
1.3.3 Các lý do lựa chọn dạy học kết hợp 23
1.4 Hình thức tổ chức dạy học trên lớp 24
1.4.1 Định nghĩa 24
1.4.2 Đặc điểm của hình thức tổ chức dạy học trên lớp 24
1.5 Mục tiêu, nội dung chương trình Địa lí lớp 11 24
1.5.1 Mục tiêu 24
1.5.2 Nội dung chương trình Địa lí 11 25
1.5.3 Phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT 25
1.6 Nghiên cứu thực trạng ở một số trường THPT tỉnh Lào Cai 27
1.6.1 Đội ngũ giáo viên 27
1.6.2 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 11 29
1.6.3 Cơ sở vật chất 30
1.7 Hình thức tổ chức dạy học 32
1.7.1 Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học 32
1.7.2 Phân loại hình thức tổ chức dạy học 33
1.7.3 Hình thức tổ chức dạy học có hỗ trợ của Công nghệ thông tin và truyền thông 33
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC KẾT HỢP MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11-THPT 39
2.1 Nguyên tắc xây dựng dạy học kết hợp 39
2.1.1 Nguyên tắc chung 39
2.1.2 Nguyên tắc về dạy học 39
2.1.3 Nguyên tắc xây dựng bài giảng E-learning 39
2.2 Các công cụ xây dựng và triển khai dạy học kết hợp 41
2.2.1 Phần mềm E-Learning Extensible HyperText Markup Language Editor 41
2.2.2 Hệ thống thông tin quản lý học tập trực tuyến modulear Object-Oriented Dynamic Learning Environment 44
2.2.3 Phần mềm Macromedia Captivate 47
2.3 Xây dựng khóa học học kết hợp môn Địa lí lớp 11 48
Trang 72.3.1 Tiêu chí xây dựng dạy học kết hợp 48
2.3.2 Quy trình xây dựng dạy học kết hợp 49
2.3.3 Phân tích khả năng dạy học kết trong chương trình địa lí lớp 11 52
2.4 Sử dụng khóa học dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến 61
2.4.1 Quy trình sử dụng hệ thống dạy học trực tuyến 61
2.4.2 Một số phương thức tổ chức dạy học kết hợp 66
2.4.3 Xây dựng một số giáo án dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến môn địa lí lớp 11 ở trường THPT 70
Tiểu kết chương 2 82
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 83
3.1 Mục đích thực nghiệm 83
3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 83
3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 83
3.4 Kịch bản dạy học thực nghiệm 84
3.4.1 Điều kiện dạy học 84
3.4.2 Giáo án dạy học cụ thể 84
3.4.3 Nhiệm vụ thực hiện của GV và Người học 84
3.5 Tổ chức thực nghiệm 85
3.5.1 Lựa chọn, đánh giá đối tượng thực nghiệm 85
3.5.2 Triển khai dạy học thực nghiệm 89
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 91
3.7 Khảo sát ý kiến của người dạy và người học 94
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 100
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ đầy đủ
CAS Hệ thống xây dựng nội dung bài giảng
CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Moodle Modular Object-Oriented Dynamic Learning Environment
UNESCO Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh dạy học truyền thống với dạy học trực tuyến [17] 19
Bảng 1.2 Bảng điều tra khai thác, sử dụng máy tính của giáo viên 27
Bảng 1.3 Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trường THPT Bảo Thắng 1&2 31
Bảng 2.1 Danh sách iDevice trong eXe 43
Bảng 2.2 Phân phối chương trình dạy học môn Địa lí ở trường THPT số 1 và trường THPT số 2 Bảo Thắng - Lào Cai, năm học 2016-2017 53
Bảng 2.3 Khả năng kết hợp dạy học trên lớp và dạy học trực tuyến trong chương trình Địa lí lớp 11 ở trường THPT 55
Bảng 3.1 Số lượng HS theo lớp 86
Bảng 3.2 Kiểm tra đánh giá chất lượng đầu vào tại 04 lớp 11 - trường THPT số 1 Bảo Thắng - Lào Cai 86
Bảng 3.3 Kiểm tra đánh giá chất lượng đầu vào tại 02 lớp 11 - trường THPT số 2 Bảo Thắng - Lào Cai 87
Bảng 3.4 Kế hoạch chuẩn bị dạy học thực nghiệm sư phạm 89
Bảng 3.5 Kế hoạch dạy học thực nghiệm 89
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra cuối khóa học tại trường THPT số 1 Bảo Thắng 91
Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra cuối khóa học tại trường THPT số 2 Bảo Thắng 92
Bảng 3.8 Kết quả phân loại điểm của hai lớp 93
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình sử dụng CNTT trong học tập 34
Hình 1.2 Mô tả chuẩn trong E-Learing 18
Hình 1.3 Những hình thức dạy học kết hợp 23
Hình 2.1 Giao diện sử dụng của phần mềm eXe 44
Hình 2.2 Giao diện sử dụng của phần mềm Macromedia Captivate 48
Hình 2.3 Hệ thống nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử 40
Hình 2.4 Các yếu tố tác động vào quá trình dạy học 49
Hình 2.5 Các thành phần của module dạy học 50
Hình 2.6 Sơ đồ tổ chức quá trình dạy học 51
Hình 2.7 Giao diện đăng ký tài khoản mới 61
Hình 2.8 Xác nhận tài khoản qua e-mail 62
Hình 2.9 Giao diện cập nhật hồ sơ cá nhân của NH 63
Hình 2.10 Trang chủ daotaotructuyen.org 63
Hình 2.11 Tham gia thảo luận nhóm 64
Hình 2.12 Sơ đồ hướng dẫn sử dụng hệ thống dạy học trực tuyến 65
Hình 2.13 Sơ đồ dạy học theo phương pháp hợp tác 66
Hình 2.14 Sơ đồ dạy học theo phương pháp phân hóa 68
Hình 2.15 Sơ đồ tuyến tính dạy học chương trình hoá 69
Hình 2.16 Sơ đồ dạy học tuyến tính “Tìm hiểu phép chiếu bản đồ” 70
Hình 3.1 Biểu đồ so sánh tần số xuất hiện điểm kiểm tra cuối kì 93
Trang 11Phương pháp dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến là xu hướng tất yếu trong tương lai; là phương thức giáo dục phát triển hiện đại; là giải pháp phát triển giáo dục toàn diện; đồng thời cũng là thực hiện chủ trương đường lối giáo dục của Đảng và của Ngành giáo dục trong những năm tới Việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT là vấn đề thời sự, vừa cấp bách, vừa cơ bản đối với sự nghiệp giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Yêu cầu đổi mới là cần đề cao vai trò của người học, chống lại thói quen học tập thụ động, đồng thời bồi dưỡng năng lực tự học giúp cho người học có khả năng học tập suốt đời Đứng trước yêu cầu đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet đã làm xuất hiện nhiều phương pháp dạy học mới như dạy học từ xa, dạy học trực tuyến, Mỗi phương pháp dạy học nói trên đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Vì vậy, việc đưa ra một hình thức tổ chức dạy học kết hợp giữa hình thức tổ chức dạy học truyền thống trên lớp với dạy học trực tuyến để phát huy tối ưu những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm mà các hình thức tổ chức dạy học nói trên đem lại được xem
như là một giải pháp hữu hiệu cho nhu cầu "Học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi thứ,
học mềm dẻo, học một cách mở và học suốt đời" của mọi người và trở thành một xu
thế tất yếu trong giáo dục và đào tạo hiện nay [12]
Môn Địa lí là một trong các môn khoa học được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, nhằm trang bị cho học sinh (HS) những biểu tượng, những khái niệm Địa lí
Trang 12quan trọng nhất Môn Địa lí giúp HS hiểu được thế giới khách quan đã và đang diễn
ra xung quanh chúng ta, và dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến môn Địa lí
là một việc quan trọng không thể thiếu được Để đạt được hiệu quả cao trong việc chiếm lĩnh tri thức, kiến thức từ nhân loại, người học cần thiết phải có các kĩ năng học tập như kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, sử dụng máy tính, truy cập internets, sử dụng phần mềm dạy học, đọc bản đồ nhằm chiếm lĩnh và khai thác tri thức, hơn nữa giúp HS từng bước hình thành nên các năng lực: như năng lực tư duy và năng lực hành động, năng lực sáng tạo nhằm giải quyết được các đối tượng Địa lí thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học
Lào Cai trong những năm gần đây đã có bước phát triển mạnh về kinh tế và văn hóa xã hội, cùng với sự phát triển đó thì giáo dục Lào Cai đang có sự đổi mới, sáng tạo, sở GD&ĐT Lào Cai đã khẳng định “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo; tạo bước đột phá về chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực…; phát huy vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ đối với phát triển kinh
tế, xã hội của tỉnh’’ nhằm đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực của tỉnh, đất nước và phù hợp với bốn trụ cột giáo dục của UNESCO trong thế kỷ XXI (Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để khẳng định mình)
Do vậy đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học bộ môn địa lí ở trường THPT là yếu tố quan trọng, then chốt và quyết định đến sự nghiệp giáo dục Lào Cai Trên cơ sở thực tiễn đó, việc nghiên cứu, triển khai dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến đang là xu hướng tất yếu trong thời kỳ phát triển và hội nhập giáo dục, đây là hình thức dạy học hấp dẫn, hiệu quả, tạo ra cơ hội học tập cho người học, học mọi nơi mọi lúc, học mềm dẻo, học suốt đời, tự nghiên cứu là chính
Xuất phát từ những lí do trên tác giả nghiên cứu đề tài “Dạy học trên lớp
kết hợp với đào tạo trực tuyến môn Địa lí lớp 11 ở một số trường THPT tỉnh Lào Cai’’
2 Lịch sử nghiên cứu phát triển đào tạo trực tuyến, dạy học kết hợp
2.1 Lịch sử nghiên cứu, phát triển đào tạo trực tuyến
Trên thế giới dạy học trên cơ sở CNTT&TT nhận được sự ủng hộ tích cực của Chính phủ Mỹ từ năm 1947 và các cơ sở giáo dục đào tạo: Đại học, Cao đẳng đã đưa
Trang 13ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, khoá học trực tuyến Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế, cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường Đại học, Cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình đào tạo trực tuyến, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 - 2004
Trong những năm gần đây, các quốc gia ở khu vực châu Âu đã tích cực phát triển và ứng dụng CNTT & TT trong mọi lĩnh vực Kinh tế - Xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống Giáo dục Các nước này đều đánh giá cao tiềm năng to lớn mà CNTT&TT mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục Công ty IDC ước đoán rằng, thị trường đào tạo trực tuyến của châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm Ngoài việc tích cực triển khai đào tạo trực tuyến tại mỗi nước, giữa các nước ở khu vực châu Âu có nhiều hình thức hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực đào tạo trực tuyến Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu (EuroPACE), đây
là mạng đào tạo trực tuyến của 36 trường Đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như: Đức, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với Công ty Đào tạo trực tuyến của Mỹ nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, con người, phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu Tại các quốc gia ở châu Á nhu cầu đào tạo ngày càng lớn, càng cấp bách, nền giáo dục truyền thống không thể đáp ứng được, buộc các quốc gia châu Á dần dần phải thừa nhận tiềm năng to lớn của đào tạo trực tuyến.Các quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản là nước ứng dụng đào tạo trực tuyến sớm nhất và rộng rãi nhất so với các nước khác trong khu vực Môi trường ứng dụng đào tạo trực tuyến chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp, , nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách về công chức, nhân viên có trình
độ cao [17]
Tại Việt Nam những năm 2003-2004, phương thức đào tạo trực tuyến đã được nhiều cơ quan và tổ chức Nhà nước quan tâm hơn Đặc biệt trong những năm gần đây các hội nghị, hội thảo về CNTT và giáo dục đều có đề cập đến đào tạo trực tuyến và khả năng áp dụng đào tạo trực tuyến vào công cuộc cải cách giáo dục và phát triển đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 14năm 2000, Hội nghị Giáo dục Đại học năm 2001, Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về Nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT&TT, ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về Nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT&TT, ICT/rda 9/2004, Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai đào tạo trực tuyến” do Viện Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005, , là những hội thảo khoa học về đào
tạo trực tuyến đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
Hiện nay các trường Đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai đào tạo trực tuyến như: Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện CNTT - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Bưu chính - Viễn thông, bước đầu xây dựng và ứng dụng các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã mở một cổng đào tạo trực tuyến nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin đào tạo trực tuyến trên thế giới và ở Việt Nam
Việt Nam đã gia nhập mạng Đào tạo trực tuyến châu Á (Asia E-learning
Network - AEN, địa chỉ website www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ
Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Bưu chính Viễn Thông ,Trường Đại học Bách Khoa, Ở trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên đã có các công trình nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Danh Nam với Đào tạo trực tuyến môn hình học sơ cấp, PGS.TS Đỗ Vũ Sơn với Giáo trình trực tuyến bản đồ học
Với việc kế thừa và phát huy thế mạnh các công trình đã công bố, luận văn sẽ
đi sâu nghiên cứu về cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học trên lớp kết hợp với dạy học trực tuyến nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt đối với đối tượng HS ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai Đây là hướng nghiên cứu mới chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu trước đây [17]
2.2 Lịch sử nghiên cứu, phát triển dạy học kết hợp
Dạy học kết hợp (Blended Learning - BL) hiện nay đang là một trong những
mô hình học tập được rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức giáo dục, GV, người học quan tâm Đây thực chất không phải là một khái niệm mới, mà nó là sự kết hợp những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống và sử dụng thế mạnh của chương trình
Trang 15học qua hệ thống trực tuyến (online) Với mô hình học tập kết hợp này, cả giáo viên (GV) và HS sẽ có phương pháp tiếp cận theo hướng toàn diện hơn thông qua bài giảng của GV
Học tập kết hợp xuất phát từ các quốc gia phát triển như Hoa Kì, Anh, Pháp, Singapo, Hàn Quốc, Nhật Bản,… sau khi họ khai thác mô hình học e-learning hoàn toàn thành công E-learning đã mang lại cho GV sự tiện nghi, nhanh gọn khi thể hiện các bài giảng kết hợp các đoạn văn bản, các hình ảnh, video, bảng biểu minh họa, hay các câu hỏi gợi mở, câu hỏi trắc nghiệm và tiết kiệm chi phí… tiêu biểu các công trình nghiên cứu BL trên thế giới:
Ở Việt Nam, dạy học kết hợp còn là một vấn đề mới chưa có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu: Tác giả Nguyễn Văn Hiền có đưa ra một khái niệm tương tự là "Học tập hỗn hợp" để chỉ hình thức kết hợp giữa cách học truyền thống với học tập có sự
hỗ trợ của công nghệ, học tập qua mạng; Tác giả Nguyễn Danh Nam cũng đưa ra nhận định: Sự kết hợp giữa e - learning với lớp học truyền thống trở thành một giải pháp tốt, nó tạo thành một mô hình đào tạo gọi là "Blended Learning", tác giả Nguyễn Danh Nam (2008) đã xây dựng một số mô hình dạy học kết hợp trong dạy học môn Hình học sơ cấp cho sinh viên ngành toán đại học Sư phạm; Tác giả Phạm Xuân Lam tiến hành nghiên cứu vấn đề "Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy chương Virus và bệnh truyền nhiễm sinh học 10 nâng cao sử dụng phần mềm Moodle"; PGS.TS Đỗ Vũ Sơn (2011) nghiên cứu triển khai dạy học kết hợp môn Bản đồ học cho các trường Đại học Sư phạm miền núi phía Bắc và giáo trình dạy học trực tuyến môn Địa lí (2016)
Nghiên cứu và triển khai “Dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến
môn Địa lí lớp 11 ở một số trường THPT tỉnh Lào Cai” là vấn đề hoàn toàn mới
chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất được các hình thức tổ chức dạy học kết hợp trong dạy học môn Địa lí lớp 11 nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí, triển khai hình thức tổ chức dạy học mới hiện đại cho tỉnh miền núi Lào Cai, đáp ứng hội nhập trong giáo dục ở giai đoạn mới
Trang 164 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả nhận thấy cần phải thực hiện nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề việc dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến
- Nghiên cứu xây dựng và triển khai dạy học kết hợp cho môn Địa lí lớp 11
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT, để khẳng định tính khả thi của hình thức tổ chức dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến và rút
ra kết luận
5 Đối tượng nghiên cứu
Hình thức dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến môn Địa lí lớp 11 cho HS THPT tỉnh Lào Cai
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về chuyên môn: Nghiên cứu hình thức dạy học trên lớp kết hợp với dạy học
trực tuyến môn Địa lí lớp 11 THPT (Ban cơ bản);
- Về không gian: Một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai;
- Về thời gian: Năm học 2016 - 2017;
7 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm nghiên cứu
7.1.1 Quan điểm lịch sử
Nghiên cứu phương pháp dạy học cần phải tìm hiểu, phát hiện sự hình thành, phát triển của quá trình dạy học để từ đó phát hiện ra quy luật tất yếu, quy luật khách quan của quá trình dạy học - giáo dục Dạy học kết hợp cũng phải dựa trên lịch sử
phát triển của một quá trình
7.1.2 Quan điểm hệ thống
Nghiên cứu vấn đề dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng, các thành phần, bộ phận để xem xét một cách cụ thể Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm ra quy luật phát triển từng mặt và của toàn
bộ hệ thống giáo dục
Trang 177.1.3 Quan điểm tổng hợp
Nghiên cứu dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến trong mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức, phương pháp dạy học khác, với toàn bộ các khâu của hệ thống giáo dục hiện nay một cách rõ ràng, khúc chiết, theo một hệ thống chặt chẽ có tính lôgíc cao
7.1.4 Quan điểm lãnh thổ
Quan điểm lãnh thổ là quan điểm gắn phương pháp dạy học đối với mỗi vùng miền khác nhau cần phải có những nghiên cứu, ứng dụng phương pháp dạy học khác nhau cho phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh kinh tế, địa lí, Dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến trong phạm vi lãnh thổ cụ thể là HS một số trường trung học phổ thông ở tỉnh Lào Cai có những đặc điểm riêng cần có những nghiên cứu riêng cho phù hợp
7.1.5 Quan điểm dạy học tích cực
Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế, không có phương phương pháp dạy học nào là phương pháp tối ưu, tuyệt đối Trong khi đó dạy học tích cực đòi hỏi cần kết hợp giữa lý thuyết với thực hành nhằm tăng cường liên hệ với thực
tế, thực nghiệm, động viên xúc tác, trợ giúp, hướng dẫn, cố vấn Vì vậy việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực đạt được hiệu quả còn tuỳ thuộc vào năng lực sư phạm
và khả năng vận dụng sáng tạo của GV
Dạy và học tích cực là một trong những mục tiêu chung và cũng là một tiêu chuẩn về giáo dục hiệu quả bằng sự kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp dạy học phù hợp với nội dung, trình độ nhận thức của HS, điều kiện thực tế để đạt được mục tiêu của bài học
Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc
và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, để vận dụng dạy học kết hợp một cách hiệu quả cao trong dạy học Địa lí 11
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp để minh chứng cho các nội dung được viết trong đề tài Đây là phương pháp thu thập nguồn kiến thức quí giá được
Trang 18tích lũy qua quá trình nghiên cứu mang tính lịch sử lâu dài Vì vậy, mục đích của việc thu thập và nghiên cứu tài liệu nhằm: Giúp cho tác giả nghiên cứu nắm được phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện trước đây, làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình, giúp tác giả nghiên cứu có phương pháp luận hay luận cứ chặt chẽ hơn, có thêm kiến thức rộng, sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu, tránh trùng lặp với các nghiên cứu trước đây, vì vậy đỡ mất thời gian, công sức và tài chính, giúp tác giả nghiên cứu xây dựng luận cứ (bằng chứng) để chứng minh cho đề tài dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến môn Địa lí lớp 11 ở một số trường THPT tỉnh Lào Cai, chính xác, khách quan và sinh động
7.2.2 Phương pháp phân tích hệ thống
Hệ thống là một tập hợp các yếu tố nhất định có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, ổn định và có quy luật vận động tổng hợp Trong thực tiễn mọi sự vật hiện tượng là một chỉnh thể thì bao giờ cũng là một hệ thống được cấu trúc bởi nhiều bộ phận, nhiều thành tố, các bộ phận này có vị trí độc lập, có chức năng riêng, có quy luật vận động riêng nhưng chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau theo mối quan hệ vật chất và mối quan hệ chức năng vận động theo quy luật của toàn hệ thống Như vậy phương pháp nghiên cứu hệ thống cho tác giả tri thức đầy đủ, toàn diện khách quan của dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến môn Địa lí lớp 11 ở trường THPT, hay hệ thống phải làm về mặt dữ liệu, các quy
trình thiết lập nội dung thể hiện trong giao diện phần mềm eXe, giao diện Moodle
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học có thể coi là một phương pháp khoa học phân tích và xử lý dữ liệu có được nhờ vào việc tiến hành điều tra, nghiên cứu, khảo sát các thông số về GV, HS, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến Những dữ liệu ở đây có thể là những đặc tính định tính, cũng có thể là những đặc tính định lượng nhưng sẽ góp phần làm cho đề tài nâng cao tích thực tế
7.2.4 Phương pháp sử dụng công nghệ dạy học hiện đại
Với sự phát triển và bùng nổ CNTT&TT hiện nay, không thể phủ nhận những tiện ích từ việc ứng dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học Khi thiết kế bài giảng dạy học kết hợp thì cần phát huy tối đa khả năng của các thiết bị như máy
Trang 19tính, máy chiếu, camera, loa, máy ảnh, scander sẽ tăng tính trực quan hơn Việc chèn hình ảnh, đoạn video clip, đoạn nhạc xen ngang làm cho giờ học trở nên sinh động, có khả năng cuốn hút, tạo hứng thú cho HS Đặc biệt sử dụng hệ thống Internet trong dạy học trực tuyến là ứng dụng đột phá với hiệu quả to lớn đã được chứng minh
và ngày càng được phát triển
7.2.5 Phương pháp điều tra quan sát, tổng kết kinh nghiệm
Điều tra giáo dục là phương pháp khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm khác nhau nhằm thu thập số liệu, dữ liệu, tư liệu phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến môn Địa lí lớp 11
Tổng kết kinh nghiệm chính là tổng kết sáng kiến, ý kiến của các nhà giáo, nhà khoa học, các nhà giáo dục tiên tiến, nhà nghiên cứu để rút ra vấn đề thiết thực đối với luận văn Mặt khác tác giả sử dụng nhiều phương pháp, biện pháp, cách thức để tổng kết những nguyên nhân, loại trừ những thất bại có thể xảy ra khi nghiên cứu vấn đề
7.2.6 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp để đúc rút ra những mặt ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp dạy học Từ đó, rút ra kinh nghiệm, điều chỉnh và định hướng phát triển, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến trong một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai
8 Những điểm mới và đóng góp của đề tài
- Điểm mới của đề tài:
+ Lần đầu tiên tác giả đi sâu nghiên cứu hình thức tổ chức dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến, nhằm phát huy năng lực chủ động, sáng tạo của học sinh
Trang 209 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục, luận văn bao gồm các nội dung chính:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của kết hợp giữa dạy học trên lớp với đào tạo trực tuyến môn Địa lí lớp 11
Chương 2 Xây dựng và triển khai dạy học kết hợp môn Địa lí lớp 11
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KẾT HỢP DẠY HỌC
TRÊN LỚP VỚI ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11
1.1 Đổi mới dạy học Địa lí trong các trường THPT
1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học
Việc đổi mới dạy học môn Địa lí cần tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, liên hệ thực tế địa phương, đất nước; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng và định hướng thái độ, hành vi cho HS; chú ý việc tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực của HS dựa theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn Địa lí Đồng thời cần đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, các phương pháp thực hành, dạy học theo dự án; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung từng bài học Mặt khác, việc hướng dẫn HS sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam, tập bản đồ thế giới một cách nhuần nhuyễn, giảm ghi nhớ máy móc và giúp HS tăng cường khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng bộ môn Tăng cường việc sử dụng tranh ảnh, bản đồ treo tường, hướng dẫn HS sử dụng hiệu quả sách giáo khoa Địa lí, sách tham khảo, khai
thác thông tin trên Internet,
Việc học tập ngoài lớp học như hướng dẫn tổ chức tham quan, thực tế, học tập thông qua di sản, tại các cơ sở sản xuất luôn được triển khai thường xuyên trong mỗi năm học Trong mỗi giờ học cần sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động,
dễ hiểu, tác phong thân thiện, khuyến khích, tổ chức cho HS làm việc cá nhân và theo nhóm Ngoài ra GV Địa lí luôn tích cực dự giờ thăm lớp, tham dự các buổi tập huấn, hội thảo về chuyên môn, đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, học tập kinh nghiệm giảng dạy giữa các cụm trường, tăng cường hội thảo chuyên đề cấp THPT
1.1.2 Đổi mới hình thức tổ chức dạy học
Thực hiện đa dạng hóa các hình thức học tập, chú ý các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của HS; sử dụng các hình thức dạy học trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Ngoài việc tổ chức cho HS thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, luôn coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn HS học tập ở
Trang 22nhà, ở ngoài nhà trường Tổ chức tốt và động viên HS tích cực tham gia Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho HS trung học và GV tham gia Cuộc thi dạy học tích hợp Tiếp tục thực hiện tốt việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học theo Hướng dẫn số 73/HD-BGDĐT - BVHTTDL ngày 16/01/2013 của liên Bộ GD&ĐT, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Phát huy tốt khả năng khai thác và ứng dụng CNTT của GV, hệ thống trang thiết bị vật chất được trang bị trong nhà trường và tinh thần ham học của HS Đồng thời để giảm bớt thời gian dạy học trực tiếp của GV trên lớp thì việc tổ chức dạy học theo hình thức kết hợp “Blended Learning” cần được nhân rộng hơn nữa
1.1.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra là một quá trình trong đó các tiêu chí đã được định ra từ trước, trong
đó chúng ta kiểm tra sự phù hợp của sản phẩm với các tiêu chí đã định, không quan tâm đến quyết định cần đề ra Vậy đây là một quá trình hẹp hơn đánh giá, người đánh giá phải định ra các mục tiêu và làm rõ các tiêu chí tương ứng với mục tiêu
Đánh giá có nghĩ là "Thu thập một tập hợp thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và tập hợp tiêu chí phù hợp với mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin nhằm ra một quyết định" Đánh giá không chỉ đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng Vì vậy, đánh giá được xem là khâu quan trọng trong xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học và đánh giá HS; đánh giá có 3 loại (đánh giá định hướng, đánh giá uốn nắn, đánh giá xác nhận)
Việc tổ chức kiểm tra đánh giá sẽ cung cấp cho GV những thông tin không chỉ
về trình độ chung của HS mà còn nắm được những HS có tiến bộ rõ rệt hay sút kém đột ngột, để động viên, giúp đỡ, khuyến khích kịp thời Như vậy việc tổ chức kiểm tra đánh giá HS phải chặt chẽ, nghiêm túc, đúng quy chế việc ra đề, chấm và nhận xét, đánh giá HS trong kiểm tra; đảm bảo thực chất, khách quan, trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực và sự tiến bộ của HS Hướng dẫn HS đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá năng lực bản thân Thực hiện nghiêm túc việc xây dựng ma trận đề kiểm tra cho mỗi chương và cả chương trình môn học; tăng cường câu hỏi kiểm tra theo hướng phát triển năng lực HS để bổ sung cho thư viện câu hỏi của nhà trường
Trang 23Đề kiểm tra phải lưu lại trong hồ sô tổ chuyên môn, đảm bảo xây dựng ma trận, thống
kê kết quả làm cơ sở phân tích, rút kinh nghiệm cho việc dạy - học Ma trận đề kiểm tra phải đảm bảo tỉ lệ các mức độ thông hiểu, vận dụng tối thiểu là 70% số điểm
Tăng cường xây dựng nguồn học liệu mở (thư viện học liệu) về câu hỏi, bài tập, đề thi, kế hoạch bài học, tài liệu tham khảo có chất lượng trên website của Bộ GD&ĐT (tại địa chỉ http://truonghocketnoi.edu.vn) của sở GD&ĐT các tỉnh [34]
1.1.4 Bồi dưỡng HS giỏi
Phát hiện, bồi dưỡng tạo nguồn HS giỏi môn Địa lý ngay từ học kì I năm học lớp 10 để quá trình bồi dưỡng được thường xuyên, liên tục và có hệ thống kiến thức cho HS Chú ý nâng cao kiến thức, kỹ năng cho HS, tránh bồi dưỡng cho HS theo
dạng tủ, đối phó dẫn đến chất lượng mũi nhọn không cao
1.1.5 Chú trọng đổi mới sinh hoạt chuyên môn nhằm nâng cao vai trò và phát huy hiệu quả hoạt động của tổ/nhóm chuyên môn trong trường THPT
Tổ chuyên môn luôn tập trung chỉ đạo đổi mới PPDH, kiểm tra đánh giá và tổ chức các hoạt động chuyên môn của GV Hoạt động tổ chuyên môn ngày càng đi vào chiều sâu, theo hướng tập trung trao đổi, thảo luận về các chủ đề, chuyên đề nội dung giảng dạy, rút kinh nghiệm qua trường học kết nối, nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong giảng dạy bộ môn, bồi dưỡng HSG, bồi dưỡng GV mới
1.2 Tổng quan về Đào tạo trực tuyến
1.2.1 Khái niệm về Đào tạo trực tuyến
Theo thời gian, với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhiều hình thức đào
tạo mới ra đời, với sự hỗ trợ ngày càng cao của công nghệ hiện đại Trong đó sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của CNTT&TT đã và đang mang lại nhiều lợi thế cho dạy học Các hình thức đào tạo tiên tiến ra đời như đào tạo dựa trên máy tính; đào tạo dựa trên dịch vụ World Wide Web mà đỉnh cao là hình thức học tập điện tử, thuật ngữ của
nó là “E-Learning” Sau đây là một số định nghĩa về E-Learning:
E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên CNTT&TT [Compare Infobase Inc]
E-Learning là hình thức học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của CNTT&TT khác nhau và được thể hiện ở mức độ cục bộ hay toàn cục [MASIE Center]
Trang 24E-Learning phần lớn được hiểu là một cách tiếp cận nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng học tập, thông qua việc sử dụng các thiết bị dựa trên CNTT&TT Các thiết bị có thể bao gồm máy tính cá nhân, CD-ROM, DVD, máy thu hình số và máy điện thoại di động Công nghệ truyền thông cho phép sử dụng Internet, intranet, extranet, thư điện tử, diễn đàn thảo luận và các phần mềm tương tác [12]
Vậy có thể hiểu: E-Learning là một loại hình đào tạo chính quy hay không
chính quy hướng tới thực hiện tốt mục tiêu học tập, trong đó có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy với người học cũng như cộng đồng học tập một cách thuận lợi thông qua CNTT&TT
Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học: Giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (Asynchronous) Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng một thời điểm và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: Thảo luận trực tuyến, hội thảo video, nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực tiếp,…Giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: Các khoá tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn Đặc trưng của kiểu học này là GV phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra
NH được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học
Có một số hình thức đào tạo bằng E-Learning, cụ thể như sau:
1) Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology Based Training) là hình
thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên CNTT
2) Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer Based Training): Hiểu theo
nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài
3) Đào tạo dựa trên web (WBT - Web Based Training): Là hình thức đào tạo
sử dụng công nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về
NH được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy cập thông qua trình
Trang 25duyệt web Người học có thể giao tiếp với nhau và với GV, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail, thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình
4) Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): Là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu tự học, giao tiếp giữa NH với nhau
và với GV thông qua các diễn đàn học tập, phòng chat, e-seminar,
5) Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và NH không ở cùng một chỗ, thậm chí không ở cùng một thời điểm Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web Thậm chí, trong tương lai có thể triển khai đào tạo qua hệ thống điện thoại
di động (m-learning) nhằm tận dụng ưu thế về mặt số lượng của thiết bị máy tính điện
tử này [17]
1.2.2 Các thành phần của Đào tạo trực tuyến
Đào tạo trực tuyến gồm hai thành phần chính đó là hệ thống xây dựng nội
dung bài giảng - Content Authoring System (CAS) và hệ thống quản lý học trực tuyến
- Learning Management System (LMS) Sản phẩm trung gian để kết nối hai hệ thống
này chính là các khoá học trực tuyến Trong khi CAS cung cấp các phần mềm hỗ trợ
GV tạo lập nội dung của khoá học thì LMS lại là nơi quản lý và phân phát nội dung khoá học tới NH
1.2.2.1 Hệ thống xây dựng nội dung bài giảng (CAS)
CAS là dòng sản phẩm dùng để hỗ trợ GV xây dựng nội dung bài giảng trực tuyến GV có thể xây dựng bài giảng điện tử từ các phần mềm tạo web (FrontPages, Dreamwaver) hay các phần mềm khác có chức năng xuất bản sang các file có đuôi html; các phần mềm mô phỏng (Flash, Macromedia Captivate, Simulation tools); các phần mềm soạn thảo (Microsoft Word, Excel, PowerPoint, Acrobat Reader); các phần mềm tạo câu hỏi trắc nghiệm khách quan (Hot Potatoes, CourseBuidler); các phần mềm dạy học toán học (Maple, Mathematical, COCOA, Geometry Cabri, Geometer's Skethpad, GeoSpacw, Auto Graph,…) Đặc biệt là những phần mềm chuyên dụng để
Trang 26xây dựng nội dung bài giảng trực tuyến gọi là Content Management System (CMS) Dựa trên các phần mềm này, GV có thể tạo ra cấu trúc bài giảng, soạn thảo nội dung bài giảng, xây dựng bộ câu hỏi đánh giá và nhúng multimedia vào một cách dễ dàng
mà không cần nhiều đến kỹ năng về lập trình máy tính [29]
1.2.2.2 Hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS)
Phần mềm LMS cho phép GV tạo một cổng dịch vụ Đào tạo trực tuyến (Đào tạo trực tuyến Portal) phục vụ NH ở mọi nơi, mọi lúc miễn là họ có Internet LMS cho phép thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Quản lý các khoá học trực tuyến và quản lý NH (đây là nhiệm vụ chính của LMS);
- Quản lý quá trình học tập của NH và quản lý nội dung dạy học của các khoá học;
- Quản lý NH, đảm bảo việc đăng ký, kết nạp và theo dõi quá trình tích luỹ kiến thức của NH;
- Báo cáo kết quả học tập của NH và tích hợp với hệ thống quản lý đào tạo của nhà trường;
- Tích hợp các dịch vụ cộng tác hỗ trợ trong quá trình trao đổi giữa GV với
NH, giữa NH với NH Các dịch vụ này bao gồm: giao nhiệm vụ tới NH, thảo luận khoá học, trao đổi thông điệp điện tử, e-mail, thông báo mới, lịch học;
Đôi khi có những hệ thống bao gồm cả CMS và LMS tích hợp với nhau cung cấp cho GV một hệ thống vừa có thể tạo lập và quản lý nội dung bài giảng, vừa có thể quản lý NH và phân phát nội dung học tập, hệ thống đó gọi là hệ thống quản lý nội dung học tập trực tuyến - Learning Content Management System (LCMS) [29]
1.2.3 Các chuẩn E-Learning
1.2.3.1 Định nghĩa chuẩn
ISO định nghĩa như sau: Chuẩn là các thỏa thuận trên văn bản chứa các đặc tả
kỹ thuật hoặc các tiêu chí chính xác khác được sử dụng một cách thống nhất như các luật, các chỉ dẫn, hoặc các định nghĩa của các đặc trưng, để đảm bảo rằng các vật liệu, sản phẩm, quá trình, và dịch vụ phù hợp với mục đích của chúng
Trang 27Internet là một ví dụ về chuẩn và chúng ta có thể trao đổi thông tin trên mạng này chính là nhờ chuẩn Internet bao gồm các chuẩn được công nhận bởi IEEE Các chuẩn Internet quan trọng nhất là: HTTP, HTML, FTP, SMTP, TCP/IP [29]
1.2.3.2 Chuẩn E-Learning
Trước tiên, cần xem các loại chuẩn chính và chúng hỗ trợ tính khả chuyển như thế nào trong một hệ thống học tập được nhìn nhận trên quan điểm của hai phía, phía
NH và phía người sản xuất khóa học
Người sản xuất khóa học tạo ra các module đơn lẻ hay các đối tượng học tập sau đó sẽ tích hợp lại thành một khóa thống nhất
- Các chuẩn cho phép ghép các khóa tạo bởi các công cụ khác nhau bởi các nhà sản xuất khác nhau thành các gói nội dung (packages) được gọi là các chuẩn đóng gói (packaging standards) Các chuẩn này cho phép hệ thống quản lý nhập và sử dụng được các khóa học khác nhau
- Nhóm chuẩn thứ hai cho phép các hệ thống quản lý đào tạo hiển thị từng bài học đơn lẻ Hơn nữa, có thể theo dõi được kết quả kiểm tra của NH, quá trình học tập của NH Những chuẩn như thế được gọi là chuẩn trao đổi thông tin (communication standards), chúng quy định đối tượng học tập và hệ thống quản lý trao đổi thông tin với nhau như thế nào
- Nhóm chuẩn thứ ba quy định cách mà các nhà sản xuất nội dung có thể
mô tả các khóa học và các modulee của mình để các hệ thống quản lý có thể tìm kiếm và phân loại được khi cần thiết Chúng được gọi là các chuẩn metadata (metadata standards)
- Nhóm chuẩn thứ tư nói đến chất lượng của các modulee và các khóa học Chúng được gọi là chuẩn chất lượng (quality standards), kiểm soát toàn bộ quá trình thiết kế khóa học cũng như khả năng hỗ trợ của khóa học với những người tàn tật (xem hình 1.2)
Trang 28Hình 1.1 Mô tả chuẩn trong E-Learing [17]
Các loại chuẩn trên đã cùng nhau đóng góp tạo ra các giải pháp Đào tạo trực tuyến có chi phí thấp, hiệu quả, và mang lại sự thoải mái cho mọi người tham gia [17]
1.2.4 So sánh dạy học truyền thống với dạy học trực tuyến
Từ việc phân tích các khía cạnh (xem bảng 1.1), cho thấy dạy học trực tuyến
có một số ưu điểm và nhược điểm so với dạy học truyền thống:
1) Tính linh hoạt: NH có thể học mọi lúc, mọi nơi (Just-In-Time) miễn là có
kết nối Internet hoặc các phương tiện truyền thông khác Điều này rất phù hợp đối với những người đã có công việc ổn định muốn học thêm nâng cao trình độ kiến thức
2) Tính thích ứng cá nhân: NH có thể hoàn thành khoá học nhanh hay chậm
tuỳ theo trình độ và thời gian biểu của bản thân Theo Jennifer Salopek thì một khoá học dựa vào Đào tạo trực tuyến sẽ nhanh hơn 50% so với khoá học truyền thống bởi vì NH có thể bỏ qua những nội dung mà họ đã biết và chuyển sang những nội dung họ cần được đào tạo
3) Giảm chi phí đào tạo: Chỉ với chi phí ban đầu để thiết kế các nội dung học
tập, Đào tạo trực tuyến được đánh giá có chi phí đào tạo thấp hơn nhiều so với lớp học truyền thống Các nhà giáo dục học trên thế giới đang triển khai nhiều dự án, đặc biệt là việc giảm giá thành của các phần mềm công cụ nhằm đưa chi phí cho Đào tạo trực tuyến tiến dần đến mức thấp nhất hoặc miễn phí đào tạo cho người học
4) Tài liệu học tập phong phú, luôn luôn được cập nhật: Đào tạo trực tuyến có
thể giúp NH tiếp cận với kho tàng kiến thức khổng lồ của nhân loại với sự hỗ trợ của
các máy tìm kiếm trên mạng Internet như google, yahoo Mặt khác, NH cũng có thể
Trang 29chia sẻ tài nguyên học tập của mình cho mọi người Và đặc biệt, các thông tin này thường xuyên được bổ sung, cập nhật, giúp NH có thể nắm bắt được nội dung học tập một cách nhanh chóng, chính xác
Bảng 1.1 So sánh dạy học truyền thống với dạy học trực tuyến [17]
Yếu tố Dạy học truyền thống Dạy học trực tuyến
Lớp học - Phòng học có kích thước giới hạn
- Thời gian học đồng bộ
- Không giới hạn về không gian
- Học tập mọi lúc, mọi nơi
kiến phê phán, phản đối với GV
- Thảo luận gián tiếp qua e-mail, chat, diễn đàn học tập
- Phản hồi thông tin sau hàng giờ, hàng tuần, thậm chí hàng tháng
- NH dễ dàng đưa ra ý kiến của riêng mình, kể cả phê phán
- GV phải soạn bài hoặc biên soạn
tài liệu giảng dạy, chuẩn bị
phương tiện dạy học khi lên lớp
- NH được chọn GV giỏi
- GV chuẩn bị nội dung dạy học, thiết kế, đóng gói và truyền tải nhờ CNTT&TT Tích hợp các phương tiện dạy học trong nội dung dạy học
5) Góp phần rèn luyện kỹ năng và thái độ học tập: Để học tập trong môi
trường Đào tạo trực tuyến đòi hỏi NH phải có thói quen học tập tốt, kỹ năng tự học và quản lý thời gian của riêng mình Điều này tạo cho NH kỹ năng làm việc độc lập, sáng tạo Khác với lớp học truyền thống, nhiều khi NH còn e ngại mà chưa mạnh dạn đưa ra các ý kiến phản đối, phê bình đối với các nội dung dạy học thì Đào tạo trực
Trang 30tuyến tạo ra các diễn đàn trao đổi ý kiến một cách thẳng thắn, cởi mở Đồng thời nó cũng loại bỏ sự băn khoăn của NH khi cùng một nội dung nhưng mỗi GV lại có cách tiếp cận vấn đề khác nhau Qua đó góp phần rèn luyện thái độ học tập nghiêm túc và phát triển tư duy phê phán ở NH
6) Tăng khả năng ghi nhớ ở NH: Nhờ các ưu điểm nổi bật của kĩ thuật
multimedia, Đào tạo trực tuyến tác động lên NH qua nhiều kênh thông tin như: văn bản, hình ảnh, biểu đồ, audio, video, hoạt hình, mô phỏng,…Nhiều nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng, môi trường học tập có tích hợp công nghệ truyền thông đa phương tiện làm tăng khả năng ghi nhớ ở NH Không những thế, các nội dung học tập được thiết kế, truyền tải và liên kết đến các kho dữ liệu trên mạng giúp NH xem lại một cách dễ dàng các kiến thức mà lần đầu tiên chưa nắm rõ
7) Quản lý dễ dàng việc học tập: Một số ý kiến cho rằng đào tạo trực tuyến thì
vấn đề quản lý NH là rất khó khăn vì không biết NH có thực sự tham gia khoá học không, khi kiểm tra kết quả có người khác cùng hỗ trợ làm bài không Tuy nhiên, cần tiếp cận vấn đề theo một hướng khác: Thông qua hệ thống quản lý học tập trực tuyến LMS/LCMS, nhà quản lý, GV, gia đình và những NH khác có thể dễ dàng theo dõi quá trình học tập và kết quả công khai của NH trong từng modulee Nhờ đó, nhà quản
lý và GV có thể xác định được nội dung nào NH cần được đào tạo lại hoặc đào tạo thêm nhằm giúp NH đạt được kết quả tốt nhất khi kết thúc khoá học Điều này giúp
GV dạy học phân hoá, cá biệt hoá NH rất tốt
Tuy nhiên, đào tạo trực tuyến cũng có một số nhược điểm, đó là:
- Không hiệu quả khi dạy học một số khái niệm, nội dung khó, cần có sự giải thích, giải đáp tại chỗ
- Đào tạo trực tuyến hạn chế (hoặc không thực hiện được) một số kĩ năng về thực tập, thực hành môn học
- Làm giảm khả năng truyền đạt, lòng say mê nghề từ GV đến người học
- Trong quá trình kiểm tra kiến thức môn học, GV không kiểm soát được đối tượng dự thi mà phụ thuộc hoàn toàn vào tính tự giác của người học
- Làm tăng khối lượng làm việc của GV: GV không phải lên lớp song vẫn cần
thường trực qua mạng Internet để theo dõi và hỗ trợ các nhóm/cá nhân người học
Trang 31- Xây dựng website khó khăn và đắt tiền hơn khóa học truyền thống
- Hệ thống máy chủ và đầu vào mạng phải đủ khỏe để tránh quá tải Các chi phí an ninh và bảo mật hệ thống cũng phải được tăng lên đáng kể để đảm bảo cho hệ thống vận hành an toàn và hiệu quả
- Cần một đội ngũ kỹ thuật viên web, đồ họa và đa phương tiện lành nghề
và chuyên nghiệp để hỗ trợ các GV trong việc thiết kế và thể hiện các bài giảng
- Đối với người học, ngoài những kiến thức, kĩ năng bắt buộc về CNTT để đảm bảo
có thể sử dụng và học trực tuyến, còn phải trả học phí để có quyền truy nhập bài giảng và được dự thi, các chi phí mua (hoặc thuê) máy tính, máy in và chi phí viễn thông [17]
1.3 Dạy học kết hợp (Blended learning)
1.3.1 Khái niệm dạy học kết hợp
Học kết hợp - "Blended Learning " (BL) là một thuật ngữ xuất phát từ nghĩa của từ "Blend" tức là "pha trộn" Có nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp:
1) BL: là kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấp các phương tiện truyền thông) [Bersin & Associates, 2003; Orey, 2002a, 2002b; Singh & Reed, 2001; Thomson, 2002]
2) BL: là kết hợp các phương pháp giảng dạy [Driscoll, 2002; House, 2002; Rossett, 2002]
3) BL: là kết hợp hướng dẫn trực tuyến và sự hướng dẫn đối mặt [Reay, 2001; Rooney, 2003; Sands, 2002; Ward & LaBranche, 2003; Young, 2002]
4) BL: là "Sự kết hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo như công nghệ, các hoạt động, và các loại sự kiện nhằm tạo ra một chương trình đào tạo tối ưu cho một đối tượng cụ thể" [Theo Alvarez (2005)]
5) BL: để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống và các giải pháp E - learning" [Victoria L Tinio]
Các khái niệm trên được dưa ra chủ yếu dựa trên sự kết hợp về hình thức tổ chức, nội dung và phương pháp dạy học
Từ những cách định nghĩa trên, có thể hiểu một cách đơn giản: Dạy học kết
hợp là sự phối hợp nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức dạy - học giữa các
Trang 32hình thức học khác nhau nhằm tối ưu hóa thế mạnh mỗi hình thức, đảm bảo hiệu quả giáo dục đạt được là cao nhất [31]
Trong đề tài luận văn, tác giả tập trung vào thiết kế mô hình học kết hợp giữa hình thức tổ chức dạy học truyền thống và hình thức tổ chức dạy học qua mạng Internet, nhằm đưa ra một giải pháp học hiệu quả cho dạy học môn Địa lí 11 ở một số trường THPT tỉnh Lào Cai
1.3.2 Các phương án dạy học kết hợp
Có nhiều phương án học kết hợp được đưa ra dựa trên nội dung, phương pháp tiến hành và đặc điểm của môn học Việc học kết hợp được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau
Theo một số nghiên cứu có đưa ra bốn mức độ của sự kết hợp là:
Mức độ 1: Kết hợp ở mức hoạt động (Activity lever);
Mức độ 2: Kết hợp ở mức độ khóa học (Courrse lever);
Mức độ 3: Kết hợp ở mức độ chương trình (Program lever);
Mức độ 4: Kết hợp ở mức độ thể chế (Institutional lever);
Cách phân chia này dựa chủ yếu trên nội dung học được kết hợp
Dựa vào các nghiên cứu và tình hình thực tế, tác giả đề xuất những kiểu kết hợp sau: 1) Kết hợp về mặt phương pháp giữa các phương pháp dạy học khác nhau đối với từng nội dung học và môn học cụ thể;
2) Kết hợp trong một khâu hoặc trong các khâu của quá trình dạy học;
3) Kết hợp về mặt nội dung (trong một hoạt động, trong một bài, trong một chương hay cả chương trình học) Hệ thống các hình thức học kết hợp được thể hiện trong sơ đồ (xem hình 1.3)
Đối với môn Địa lí, được coi là một khoa học liên ngành, việc nghiên cứu tri thức đòi hỏi phải trải qua quan sát, tìm tòi, nhận xét, phân tích, đánh giá và so sánh thực tế Vì vậy, việc dạy học Địa lí sẽ phát huy hiệu quả một cách toàn diện khi có sự kết hợp giữa dạy học trên lớp với dạy học qua mạng [12]
Trang 33Hình 1.2 Những hình thức dạy học kết hợp [12]
1.3.3 Các lý do lựa chọn dạy học kết hợp
Dạy học kết hợp được đánh giá là một giải pháp tốt cho giáo dục và đào tạo hiện nay Nghiên cứu của Osguthope & Graham (2003) đã chỉ ra các lý do để lựa chọn BL là: Tính phong phú của sư phạm; tiếp cận với sự hiểu biết; sự tương tác xã hội; hướng tới cá nhân; chi phí hiệu quả; dễ dàng sửa đổi
Tác giả Victoria L Tinio nhận định rằng "Không phải tất cả các chương trình học đều có thể được thực hiện tốt nhất trong môi trường trang thiết bị điện tử ; căn
cứ để lựa chọn hình thức đào tạo là đặc điểm của môn học, mục tiêu và kết quả học tập, tính cách của học viên và bối cảnh học tập để lựa chọn hình thức, phương pháp
và phương tiện giảng dạy thích hợp nhất" [8]
Như vậy, trong học kết hợp vai trò của CNTT & TT là tất yếu Song, đó không phải là hình thức tích hợp CNTT & TT đơn thuần vào quá trình dạy và học mà quan trọng là cách sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất và đem lại sự tiện lợi nhất cho cả người dạy và người học
Học kết hợp
Học kết hợp
Kết hợp trong các khâu của quá trình dạy học
Kết hợp về mặt nội dung
Kết hợp trong một khâu
Kết hợp giữa các khâu với nhau
Mức độ hoạt động
Mức độ bài học
Mức độ chương học Mức độ chương trình
Trang 341.4 Hình thức tổ chức dạy học trên lớp
1.4.1 Định nghĩa
Hình thức tổ chức dạy học trên lớp mà thời gian học tập được quy định một cách xác định và ở một địa điểm riêng biệt, GV chỉ đạo hoạt động nhân thức có tính chất tập thể ổn định, có thành phần không đổi, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh để sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho HS nắm vững tài liệu học tập một cách trực tiếp, cũng như làm phát triển năng lực nhận thức và giáo dục học tại lớp
1.4.2 Đặc điểm của hình thức tổ chức dạy học trên lớp
- Lớp học có thành phần không đổi trong mỗi giai đoạn của quá trình dạy học
- GV chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh
- HS nắm tài liệu một cách trực tiếp, trả lời theo sách giáo khoa, và vở ghi
- Giao tiếp thầy - trò nổi lên hàng đầu
1.5 Mục tiêu, nội dung chương trình Địa lí lớp 11
1.5.1 Mục tiêu
Về kiến thức: Hiểu và trình bày được các kiến thức phổ thông, cơ bản về:
- Một số đặc điểm của nền kinh tế thế giới đương đại và một số vấn đề đang
được nhân loại quan tâm
- Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới
Về kĩ năng: Củng cố và phát triển các kỹ năng:
- Nhận xét, phân tích, quan sát, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng địa lí, xây dựng biểu đồ, sử dụng và khai thác bản đồ, số liệu thống kê liên quan đến địa lí kinh tế - xã hội thế giới, khu vực và một số quốc gia tiêu biểu
- Thu thập, trình bày, báo cáo các thông tin địa lí về một số khu vực hay quốc gia tiêu biểu trên thế giới
- Vận dụng kiến thức ở mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng cấp độ thấp, vận dụng cấp độ cao nhất định để giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí đang diễn ra trên thế giới
Trang 351.5.2 Nội dung chương trình Địa lí 11
Trọng tâm của chương trình Địa lí 11 là Địa lí kinh tế - xã hội thế giới Chương trình được chia theo các đơn vị kiến thức lớn, bám sát sách giáo khoa và gồm hai nội dung lớn:
Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới giúp HS biết được khái quát đặc điểm của nền kinh tế thế giới; các vấn đề mang tính toàn cầu; một số vấn đề của châu lục
và khu vực;…
Địa lí khu vực và quốc gia giới thiệu và cung cấp kiến thức về các tổ
chức kinh tế tiêu biểu như Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các nước Đông
Nam Á (ASEAN); các nền kinh tế tiêu biểu của thế giới như Hoa Kì, Liên
Bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Ô-Xtrây-li-a
Bên cạnh việc giúp HS có cái nhìn khái quát về bức tranh kinh tế - xã hội của thế giới, đặc điểm của các nền kinh tế tiêu biểu, Địa lí 11 tiếp tục củng cố và rèn luyện cho HS các kĩ năng quan trọng như đọc bản đồ, vẽ và nhận xét biểu
đồ, phân tích hình ảnh, sơ đồ, nhận xét bảng số liệu, Ngoài ra, những nội dung của chương trình Địa lí 11 sẽ giúp HS có thái độ đúng đắn trước các hiện tượng kinh tế - xã hội của một số quốc gia, khu vực, quan tâm đến những vấn đề như dân số, môi trường,
1.5.3 Phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT
Phân phối chương trình quy định nội dung dạy học cho từng tiết học
trên cơ sở khung phân phối chương trình (chương, phần, bài học, môđun, chủ
đề, ) của Bộ, trong đó đã lược bỏ những nội dung cần điều chỉnh dạy học
theo công văn số: 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo Thời gian thực hiện kế hoạch dạy học trong năm là 37 tuần,
trong đó học kì I là 19 tuần, học kì II là 18 tuần
Trang 36Phân phối chương trình là kế hoạch dạy học chung cho tất cả các trường THPT trong toàn tỉnh Riêng các trường chuyên biệt dựa vào phân phối chương trình này để lên kế hoạch dạy cho phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ của trường và được
Sở GD&ĐT duyệt Trong quá trình thực hiện cần lưu ý những vấn đề sau:
- Hướng dẫn này dựa trên SGK của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 2011, nếu GV và HS sử dụng SGK của các năm khác thì cần đối chiếu với SGK năm 2011 để điều chỉnh, áp dụng cho phù hợp
- Trong quá trình thực hiện phân phối chương trình, nếu bị mất tiết do ảnh hưởng của thời tiết, do trường tổ chức các hoạt động giáo dục chung thì nhà trường tạo điều kiện cho GV dạy bù để đảm bảo thời điểm kết thúc học kỳ I và cuối năm theo quy định biên chế năm học của UBND tỉnh Lào Cai
- Những trường không đủ thiết bị dạy học để tổ chức thực hành cho HS theo PPCT, thì có thể chuyển sang nội dung thực hành khác phù hợp với điều kiện của trường, hoặc thay vào đó tiết ôn tập hoặc bài tập Thứ tự bài thực hành có thể thay đổi
để phù hợp với các hoạt động giáo dục tự chủ của nhà trường
- Đối với các nội dung được hướng dẫn là “không dạy” hoặc “đọc thêm”, những câu hỏi và bài tập không yêu cầu HS làm thì thực hiện như sau:
+ Dành thời lượng của các nội dung này cho các nội dung khác hoặc sử dụng để luyện tập, củng cố, hướng dẫn thực hành cho HS
+ Không ra bài tập và không kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS vào những nội dung này (trừ những nội dung đã được học ở các môn học khác thì vẫn có thể sử dụng để giải quyết các vấn đề liên quan của môn học) Tuy nhiên, GV và HS vẫn có thể tham khảo các nội dung đó để có thêm sự hiểu biết cho bản thân
- Đối với các nội dung “không bắt buộc thực hiện”: nếu trường không đủ điều kiện hoặc nội dung đó không phù hợp với tình hình của HS thì được chuyển sang các nội dung khác phù hợp hơn, các nội dung chuyển đổi phải được thông qua tổ chuyên môn và lãnh đạo trường phê duyệt
- Phân phối chương trình áp dụng trong trường hợp học 1 buổi/ngày Nếu trường học trên 6 buổi/tuần thì buổi học tăng cường sẽ thực hiện các nội dung: dạy
Trang 37học tự chọn, ôn tập, dạy các chủ đề bám sát, các chủ đề nâng cao hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục khác
- Ngoài các tiết dạy được quy định trong phân phối chương trình, GV kiêm nhiệm một số công việc khác hoặc tham gia các hoạt động giáo dục khác thì được tính quy ra tiết dạy theo thông tư 28/2009/TT-BGD-ĐT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
1.6 Nghiên cứu thực trạng ở một số trường THPT tỉnh Lào Cai
1.6.1 Đội ngũ giáo viên
Thông qua nghiên cứu thực trạng đội ngũ giáo viên trong việc sử dụng, khai thác máy tính cũng như mức độ hiểu biết về dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến ở trường THPT, được minh chứng thông qua phiếu tổng hợp ý kiến của 90 giáo viên (xem bảng 21.) cho thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
Bảng 1.2 Bảng điều tra khai thác, sử dụng máy tính của giáo viên
Khả năng sử dụng, khai thác
máy tính GV
Rất thường xuyên (%)
Thường xuyên (%)
Thỉnh thoảng (%)
Không bao giờ
Tổng cộng (%)
Sử dụng hộp thư (nhận, trả lời ) 100,00 100 Đăng nhập website 66,67 22,22 11,11 100 Khai thác nội dung website 55,56 44,44 0,00 100 Tham gia diễn đàn trên Internet 66,67 11,11 22,22 100 Tham gia bài tập trên Internet 77,78 11,11 11,11 100 Tham gia kiểm tra trắc nghiệm
Trang 38người cùng tham gia học
Làm việc độc lập trên Internet 55,56 44,44 100 Làm việc theo nhóm trên Internet 44,44 55,56 100
- Thuận lợi:
+ Thông qua phiếu khảo sát cho thấy, việc thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học trong các trường THPT trên địa bàn Tỉnh Lào Cai có nhiều thay đổi tích cực Đặc biệt là đội ngũ GV nói chung và GV môn Địa lí nói riêng đã không ngừng được bổ sung về số lượng, chất lượng Đội ngũ giáo viên thường xuyên khai thác và ứng dụng các phần mềm dạy học như: Power point, Violet, Lecturemaker, eXe để thiết kế bài giảng của mình Qua các bài giảng như vậy đã giúp HS có hứng thú, tích cực, chủ động đối với môn học Địa lí, hiểu sâu sắc hơn nội dung các bài học
+ Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, thai thác các phương tiện hiện đại của GV vào quá trình dạy học được thường xuyên, tích cực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả
+ 100 % GV thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở trường trung học phổ thông Nhìn chung đội ngũ GV nói chung và GV Địa lí tại trường các trường THPT nói riêng đều có tư tưởng lập trường chính trị vững vàng, có chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp tốt, có tâm huyết, hiểu biết về công tác giáo dục HS
- Khó khăn:
+ Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các thiết bị hiện đại của một số GV còn chưa thành thạo, nên đôi khi còn lúng túng hoặc có tâm lí “e ngại” khi đổi mới PPDH
+ Kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số GV còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo; thậm chí còn né tránh, tâm lý ngại khó khi phải soạn giáo án điện tử trên mềm Powerpoint, Lecture maker, eXe và vừa phải tốn khá nhiều thời gian, công sức để cắt, ghép, chụp phim và làm chữ nổi, làm khung…
+ Hiệu quả, mức độ ứng dụng trong nhà trường và bản thân GV chưa cao, chưa rộng rãi và chưa thể trở thành một hệ thống ứng dụng đồng bộ trong môi trường giáo dục hiện nay
Trang 39+ Khả năng am hiểu và sử dụng thành thạo các phần mền là rất khó khăn do hầu hết các phần mềm này được viết bằng tiếng Anh, cho nên một số bộ phận không nhỏ GV Địa lí lại rất hạn chế về tiếng Anh
1.6.2 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 11
1.6.2.1 Phân tích đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức
Qua nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức, tính cách của học sinh THPT nói chung và học sinh vùng núi trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng đều có
ba đặc điểm tâm lý sau:
+ Nhóm thứ nhất: Đặc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức, tính cách là: Khiêm tốn, thật thà; vị tha, khoan dung; kiên nhẫn, chịu khó; thích nghi, hòa đồng, cởi mở, vui vẻ, hoạt bát, nhận thức nhanh Nhóm này chiếm tỉ lệ trên 55% trong tổng
số HS Đây cũng là cơ sở quan trọng để tiến hành các hình thức tổ chức dạy học mới
và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực Nhờ đức tính khiêm tốn, chịu khó, ham học hỏi tìm tòi kiến thức phục vụ cho bản thân, các em HS này thường tỏ ra rất chịu khó đọc sách, nghiên cứu tài liệu cũng như luôn hoàn thành tốt công việc học tập của mình Khi gặp những bài tập khó thường không chịu khuất phục, hay bỏ qua mà các em thường tìm đến sự chia sẻ của bạn bè và tìm đến thầy cô để tìm lời giải đáp
+ Nhóm thứ 2: Có đặc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức, tính cách là, cục bộ, không hòa đồng, nhận thức chậm Nhóm này chiếm tỉ lệ không cao, giao động từ 10% đến 14% tổng số HS Các em HS này hay chểnh mảng học hành, sa đà vào games và các tiện ích khác trên Internet, trên điện thoại di động
Nhóm thứ 3: Đặc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức, tính cách là: trầm lắng, kiên định (bảo thủ); thẳng thắn; hiền lành, nhút nhát Tỉ lệ nhóm này chiếm từ 25 đến 33% tổng số HS Biểu hiện tâm lý, tính cách của những em HS này không ổn định, có thể thay đổi rất nhanh, đang thuộc nhóm tâm lý, tính cách này trở thành người có tâm
lý, tính cách thuộc nhóm kia trong thời gian ngắn Và đây cũng là đặc thù cơ bản của lứa tuổi HS phổ thông Dấu hiệu rõ nét nhất là không hoàn thiện các nội dung được giao, đặc biệt là bài tập ở nhà
1.6.2.2 Ảnh hưởng đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và trình độ nhận thức đến dạy học
kết hợp
Trang 40- Qua việc phân tích đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức HS ở một số trường THPT tỉnh Lào Cai cho thấy những thuận lợi và khó khăn của tâm lí lứa tuổi, trình độ nhận thực, có ảnh hưởng nhất định đến triển khai dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến:
* Thuận lợi: Đại bộ phận HS có đặc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức, tính
cách là ổn định, có tư duy tốt, có khả năng thích nghi cao với hình thức dạy học trên lớp kết hợp với đào tạo trực tuyến Biểu hiện rõ nét là:
Thứ nhất: Nhờ có đặc điểm tâm lí ổn định, nhận thức tốt, xác định được mục tiêu
học tập rõ ràng, các em rất hứng thú với việc học tập trực tuyến vì những ưu điểm của hình thức dạy học và quan trọng là các em tự đánh giá được nhận thức của mình
Thứ hai: Phát huy tư duy sáng tạo của mình, các em luôn hoàn thiện tốt kế
hoạch học tập do GV đặt ra, đặc biệt là những phần kiến thức khó trong bài học Ngoài ra các em biết cách chủ động tìm tòi thêm những thông tin mới cập nhật trên mạng Internet có liên quan đến vấn đề đang cần giải quyết để hoàn thiện công việc của mình
Thứ ba: Đại đa số HS ở trường THPT trên địa bàn Lào Cai có kỹ năng khai
thác và sử dụng máy tính tương đối thành thạo, nên việc hướng dẫn của GV trở nên đơn giản hơn, tiết kiệm về thời gian Tuy nhiên GV phải thiết kế tiến trình bài dạy thật khoa học về hình thức, hợp lí về nội dung đối với HS
* Khó khăn: Bên cạch những thuận lợi cơ bản nêu trên, việc tổ chức dạy học
kết hợp cho HS trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai cũng khó khăn nhất định do yếu tố tâm lí không ổn định, nhận thức còn hạn chế Cụ thể là: các em thường không tập trung cao độ vào việc học tập của mình, hay bị các yếu tố khác chi phối, hay tranh thủ thời gian vào mạng Internet để làm việc riêng (giao lưu, kết nối bạn bè thông qua facebook, chơi điện tử online ) Vì vậy một số em đạt kết quả không cao sau các bài kiểm tra
1.6.3 Cơ sở vật chất