Quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể chia ra làm 5 thời kỳ: Thời kỳ từ năm 1959 đến năm 1975 Tháng 2 năm 1959, Xí nghiệp Dệt kim Cự Doanh được thành lập dựa trên cơ sở
Trang 1PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG
Ở CÔNG TY DỆT KIM THĂNG LONG
I Đặc điểm của Công ty Dệt kim Thăng Long
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Dệt kim Thăng Long là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội
Trụ sở Công ty: 46 Hàng Quạt – Hoàn Kiếm – Hà Nội.
Quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể chia ra làm 5 thời kỳ:
Thời kỳ từ năm 1959 đến năm 1975
Tháng 2 năm 1959, Xí nghiệp Dệt kim Cự Doanh được thành lập dựa trên cơ sở công tư hợp doanh giữa Nhà nước với xưởng dệt Cự Doanh ở phố Hàng Quạt – Hà Nội của nhà tư sản Trịnh Văn Căn.
Từ khi thành lập cho đến năm 1975, sản phẩm chủ yếu của xí nghiệp là
áo may ô và áo lót nam phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và trang bị cho quân đội với sản lượng từ 1 - 2 triệu chiếc / năm.
Thời kỳ từ năm 1976 đến tháng 6 năm 1982
Năm 1976, xí nghiệp bắt đầu tham gia sản xuất hàng xuất khẩu trong khuôn khổ Nghị định thư với các nước XHCN như Liên Xô Hungary, Tiệp … Sản lượng hàng năm 3 – 4 triệu chiếc, trong đó 60% là sản phẩm xuất khẩu, còn lại là tiêu dùng nội địa và cung cấp cho quốc phòng.
Tuy nhiên thời gian này các doanh nghiệp không được phép xuất nhập khẩu trực tiếp Do đó, toàn bộ việc xuất khẩu của xí nghiệp lúc đó phải uỷ thác qua Tổng công ty Xuất nhập khẩu hàng dệt Việt Nam (TEXTIMEX).
Thời kỳ từ tháng 7 năm 1982 đến tháng 11 năm 1986
Xí nghiệp ngày càng phát triển sản xuất nhưng lại hạn chế vì mặt bằng sản xuất chật hẹp Đứng trước tình hình đó, tháng 7 năm 1982, UBND thành
Trang 2phố Hà Nội đã quyết định sát nhập Xí nghiệp Dệt kim Cự Doanh với Xí nghiệp may mặc Hà Nội và đổi tên thành Công ty Dệt kim Thăng Long như hiện nay
Trong thời kỳ này, sản lượng hàng năm của Công ty Dệt kim Thăng Long luôn duy trì ở mức 8 – 9 triệu chiếc, trong đó xuất khẩu sang Tiệp 6 triệu Liên Xô 1,5 triệu, còn lại là tiêu dùng nội địa.
Thời kỳ từ tháng 12 năm 1986 đến cuối năm 1991.
Khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước công ty đã gặp phải nhiều khó khăn như: nguyên vật liệu khan hiếm phải nhâp ngoại, máy móc thiết bị đã cũ, cơ
sở hạ tầng xuống cấp.Mặt khác, giữa năm 1991, Liên Xô và hệ thống các nước XHCN tan rã, công ty mất đi thị trường truyền thống Do đó, hoạt động của công ty đòi hỏi phải có sự thay đổi, công ty phải làm chủ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Thời kỳ từ năm 1992 đến nay
Thời kỳ này công ty dần thích nghi với đòi hỏi mới của thị trường Năm
1992, công ty được cấp giấy phép xuất khẩu trực tiếp Sản lượng hàng năm trên dưới 2 triệu chiếc Giờ đây, công ty đã mạnh dạn vững bước trên con đường kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với những thử thách và thắng lợi mới.
Trang 31.2 Bộ máy quản lý của Công ty
Sơ đồ 1: Bộ máy quản lý của công ty
Phân xưởng Phân xưởng Phân xưởng
Dệt Tẩy , Nhuộm Cắt , May
Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính.
Liên hệ trực tuyến
Liên hệ chức năng
Trang 4Dựa vào sơ đồ trên ta thấy cơ cấu tổ chức của công ty Dệt kim Thăng Long là cơ cấu trực tuyến – chức năng Theo kiểu này, Giám đốc được sự giúp sức của hai phó Giám đốc và các phòng chức năng Tuy nhiên quyền quyết định thuộc về Giám đốc Các phòng chức năng có trách nhiệm tham mưu cho toàn bộ hệ thống trực tuyến, nhưng không có quyền ra mệnh lệnh cho các phân xưởng Còn các phân xưởng là các đơn vị sản xuất cơ bản trong công ty, mỗi phân xưởng có từng nhiệm vụ riêng.
* Ban giám đốc
Ban giám dốc gồm Giám đốc và hai phó giám đốc: PGĐ kỹ thuật sản xuất và PGĐ đời sống hành chính:
Giám đốc có nhiệm vụ quản lý toàn diện, chịu trách nhiệm về mọi mặt
hoạt động sản xuất, kỹ thuật, kinh doanh và đời sống của doanh nghiệp Ngoài ra, Giám đốc trực tiếp chỉ đạo phòng Kế hoạch–Vật tư và phòng Tài chính–Kế toán.
Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất chỉ huy sản xuất và kỹ thuật, có
trách nhiệm tổ chức và chỉ huy quá trình sản xuất hàng ngày từ khâu chuẩn
bị sản xuất đến bố trí, điều khiển lao động … Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất chỉ đạo phòng Kỹ thuật – KCS và trực tiếp chỉ huy các phân xưởng.
Phó giám đốc đời sống hành chính có trách nhiệm thực hiện các mối
quan hệ pháp lý trong và ngoài Công ty, phụ trách các hoạt động hành chính
và phúc lợi của Công ty Phó giám đốc đời sống hành chính chỉ đạo các phòng Tổ chức – Hành chính và phòng Bảo vệ – Dịch vụ.
* Các phòng chức năng
Phòng Kỹ thuật – KCS: Phòng có nhiệm vụ quản lý kỹ thuật và chất
lượng sản phẩm Ngoài ra, phòng còn quản lý việc sử dụng điện, nước, thiết bị.
Trang 5Phòng Kế hoạch – Vật tư: Phòng thực hiện công tác kế hoạch, công
tac XNK, công tác quản lý và cung ứng vật tư, nguyên phụ liệu, công tác kinh doanh thương mại.
Phòng Tài chính – Kế toán: Phòng có nhiệm vụ hạch toán các khoản
chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, tính giá thành sản phẩm…Theo dõi các khoản thu– chi tài chính, lập báo cáo tài chính gửi Giám đốc, theo dõi quyết toán các hợp đồng kinh tế với khách hàng.
Phòng Tổ chức – Hành chính: Phòng có nhiệm vụ tổ chức lao động
tiền lương: tuyển chọn lao động, xây dựng quy chế trả lương, thực hiện quan hệ lao động … Ngoài ra, phòng còn thực hiện công tác hành chính quản trị như nhận chỉ thị giấm đốc chuyển thành các văn bản quy định đến các phòng và các phân xưởng, lưu trữ tài liệu …
Phòng Bảo vệ – Dịch vụ: Phòng có nhiệm vụ bảo vệ tài sản của công
ty, bảo đảm an ninh trật tự trong công ty, … , vận chuyển và bốc dỡ, phục vụ kho tàng, chăm sóc y tế …
* Các phân xưởng sản xuất:
Phân xưởng dệt: tiếp nhận sợi để tiến hành sản xuất từ sợi ra các loại
vải mộc rồi giao cho phân xưởng tẩy nhuộm.
Phân xưởng tẩy nhuộm: tiến hành nấu, tẩy nhuộm và xử lý định hình
vải mộc rồi giao cho phân xưởng cắt, may Từ năm 2000, phân xưởng tẩy nhuộm không còn hoạt động do gây ô nhiễm môi trường.
Phân xưởng cắt, may: có nhiệm vụ cắt và may vải đã nhuộm thành
các sản phẩm, sau đó là và đóng gói theo đúng yêu cầu về chất lượng, kích
cỡ, thời gian giao hàng theo hợp đồng.
Trang 61.3 Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty
Công ty Dệt kim Thăng Long có chức năng chính là sản xuất kinh doanh các sản phẩm dệt kim vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, vừa xuất khẩu ra nước ngoài.
Sản phẩm của Công ty sản xuất ra chủ yếu xuất khẩu ra nước ngoài theo những đơn đặt hàng Cũng có khi Công ty nhận may gia công, mẫu mã
và nguyên phụ liệu Công ty nhận của khách hàng mang về chỉ việc hoàn thành khâu cuối cùng tạo ra thành phẩm giao lại cho khách hàng Còn hàng nội địa của Công ty cũng có nhiều loại với chất lượng, mẫu mã, màu sắc, kích cỡ như hàng xuất khẩu Tuy nhiên, khối lượng sản phẩm tiêu thụ ở trong nước còn khiêm tốn.
Trong những năm gần đây, Công ty đã tiến hành chuyên môn và đa dạng hoá sản phẩm Bên cạnh những sản phẩm truyền thống như áo T–
Trang 7Shirt, Polo–Shirt…Công ty đã dần dần đưa vào sản xuất một số loại quần áo thể thao, áo jacket, các loại hàng dệt kim cao cấp …
Các sản phẩm chủ yếu của Công ty:
+ Áo T – Shirt, Polo – Shirt, quần dài, quần áo lót là những mặt hàng xuất khẩu của Công ty.
+ Áo jacket không phải là mặt hàng được sản xuất thường xuyên và mặt hàng này chủ yếu là nhận gia công.
+ Quần áo thể thao là mặt hàng mới trong Công ty, được sản xuất theo đơn đặt hàng, nó không phải là mặt hàng chủ yếu.
+ Ngoài ra, Công ty còn sản xuất theo đơn đặt hàng trong nước, có khi là nhận gia công một số mặt hàng như: quần áo bơi, quần áo mưa, màn các loại
1.4 Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
của Công ty Dệt kim Thăng Long
Sợi Guồng đảo sợi Dệt vải
Kho vải mộc Mạng sợi Kiểm tra vải dệt
Trang 8Tẩy bằng hoá chất Giặt sạch Vắt ly tâm
Kiểm tra vải Cán nguội Sấy khô
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất kịp thời cùng với việc nâng cao NSLĐ, chất lượng sản phẩm thì máy móc đóng vai trò quan trọng trong dây chuyền sản xuất của Công ty Dệt kim Thăng Long Do đó, công ty đã chú trọng đầu tư máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ để phục vụ cho sản xuất Tuy nhiên, do nguồn vốn công ty có hạn, nên trước mắt công ty chỉ nên đầu tư vào những công đoạn làm ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm Ngoài ra, phải tăng cường bảo dưỡng máy móc thiết bị
Trang 9Hiện nay trong Công ty số lượng máy móc hiện có đều là những máy trung bình và khá hiện đai tương đối phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Biểu 1: Một số máy móc thiết bị chủ yếu của Công ty
3 Máy khâu các loại Đức 40 1984
4 Máy sấy ( 6579 & 6568 ) Đức 20 1987
5 Máy tẩy – nhuộm – kiềm Đức 25 1989
14 Máy đảo sợi Tiệp 5 2000
Nguồn: Số liệu phòng Kỹ thuật – KCS
1.5 Cơ cấu và đặc điểm của đội ngũ lao động
Lực lượng lao động của Công ty được xem xét theo quy mô và cơ cấu, thông qua đó chất lượng lao động được phản ánh.
Trang 10Biểu 2: Số lượng và cơ cấu CBCNV trong Công ty
15,5
4 6,8 4,7
Nguồn: Số liệu phòng Tổ chức – Hành chính.
Theo số liệu năm 2002 thì số lượng CBCNV của Công ty là 425 người, trong đó cán bộ quản lý là 66 người (15,5%), còn công nhân trực tiếp sản xuất là 359 người (84,5%) Thực tế công nhân trực tiếp sản xuất là 341 người (359 – 18) bởi vì 18 công nhân tẩy nhuộm tạm thời làm công việc khác do phân xưởng Tẩy, nhuộm tạm ngừng hoạt động.
Biểu 3: Tuổi và giới tính của CBCNV trong Công ty
Trang 11Nguồn: Số liệu phòng Tổ chức – Hành chính
Do đặc điểm về sản phẩm của Công ty là hàng may mặc, sản phẩm sản xuất nhìn chung không đòi hỏi mức độ nặng nhọc cao mà chủ yếu đòi hỏi tính cần cù và khéo léo Do vậy lao động nữ của công ty chiếm tỷ lệ cao Trong số 425 CBCNV của Công ty thì số lao động nữ là 343 người (81%), số lao động nam là 82 người (19%) Số lao động nữ cao nên hàng năm số ngày nghỉ thai sản, nghỉ con ốm … tương đối nhiều Điều này làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình lao động, gây khó khăn cho việc bố trí lao động.
Lực lượng lao động trong Công ty là lao động trẻ Điều này có ưu điểm
là công nhân có sức khoẻ để đảm nhận công việc, có sự nhanh nhẹn, sáng tạo trong công việc … Nhưng lao động trẻ cũng đồng nghĩa với sự hạn chế về kinh nghiệm làm việc, đòi hỏi chi phí đào tạo cao và họ cũng hay rời bỏ Công
ty …
Biểu 4: Trình độ của cán bộ quản lý
ĐH –
CĐ TC Sơ cấp Tổn g % Cán bộ kỹ thuật 11 5 1 17 25,7 Cán bộ quản lý kinh tế 18 10 1 29 44 Cán bộ quản lý hành
Trang 12Qua bảng trên ta thấy trong bộ phận cán bộ quản lý của Công ty thì tỉ lệ
số cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế và cán bộ quản lý hành chính phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Số người có trình độ ĐH – CĐ là 31 người (47%), 18 người có trình độ trung cấp (27,3%), còn lại là trình độ sơ cấp chiếm 17 người ( 25,7%) Hơn nữa họ lại là những người có thâm niên công tác lâu năm Vì thế họ có đủ kinh nghiệm và năng lực giúp Công ty đứng vững và không ngừng phát triển.
Biểu 5: Số lượng và bậc thợ của công nhân sản xuất
Cấp bậc công việc BQ cao hơn cấp bậc công nhân BQ 0,185 (4 – 3,815)
Về mặt lý thuyết thì có sự phù hợp giữa tính chất phức tạp của công việc và trình độ lành nghề cuả công nhân Tức là nếu cấp bậc công việc BQ cao hơn cấp bậc công nhân BQ thì sẽ khuyến khích công nhân nâng cao trình độ lành nghề, tăng NSLĐ
Tuy vậy, sự phù hợp giữa cấp bậc công việc và cấp bậc công nhân như trên chỉ mang tính chất tương đối Có 148 công nhân cắt may bậc 2 nhưng thực tế hoàn thành công việc bậc 4 mà vẫn bảo đảm chất lượng sản phẩm
Trang 13và mọi yêu cầu về kỹ thuật Trong khi có 15 công nhân dệt và 150 công nhân cắt may phải làm các công việc đòi hỏi trình độ lành nghề thấp hơn bản thân trình độ hiện có của họ Có nghĩa là bố trí lao động theo trình độ lành nghề của Công ty được đảm bảo trong nghề Cắt may còn nghề Dệt bị lãng phí sức lao động (xem biểu 6).
Biểu 6: Sự phù hợp giữa CBCV với CBCN
Cấp bậc Công việc BQ
Cấp bậc công nhân BQ
So sánh (CBCVBQ–CBCNBQ)
00 875.3 16 607.5 35 856.62 5 1.174.0 00 Giá trị SXCN Tr.đ 5.045 7.260 10.19
4 10.453 11.669 Tổng nộp ngân
Trang 14Tốc độ tăng trưởng sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 1998 –
2002 được thể hiện qua tốc độ phát triển định gốc và tốc độ phát triển liên hoàn.
Tổng doanh thu có xu hướng tăng Giá trị SXCN cũng tăng qua các năm
và tốc độ tăng dần đều qua các năm nhưng tốc độ tăng không đều.
Tổng nộp ngân sách năm 2002 giảm Thu nhập DN có xu hướng tăng Tốc
Trang 15mạnh so với các năm độ tăng mạnh từ năm 1999–2000 Năm
2002 tốc độ tăng giảm
Giá trị KNXK năm 1999 tăng mạnh, Thu nhập bình quân lao động đi năm 2000 giảm Từ năm 2000, giá trị làm có xu hướng tăng, với tốc độ KNXK tăng với tốc độ tăng dần tăng nhanh dần.
Biểu 10: Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2002
n vị KH 2002 TH 2002
So sánh % với KH
So sánh % với cùng kỳ Tổng doanh thu Tr.
đ 14.500 16.745 115,5 124, 1 Giá trị kim ngạch XK US
D 1.100.0 00 1.174.0 00 106,7 137, 1 Giá trị SXCN Tr.
đ 12.00 0 11.66 9 97,2 111, 6 Tổng nộp ngân sách Tr.
đ 70,85 50,85 71,8 22,5 Thu nhập doanh
nghiệp Tr. đ 220 230 104,5 115, 6 Thu nhập BQLĐ đi
làm Ng. đ 600 671 111,8 115, 3
Nguồn: Số liệu phòng Tài chính – Kế toán Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2002 nhìn chung khá tốt Các chỉ tiêu (trừ tổng nộp ngân sách) đều tăng so với cùng kỳ
+ Doanh thu vượt cao so với dự kiến và tăng so với cùng kỳ.
+ Trong năm 2002 lần đầu giá trị kim ngạch XK đạt trên 1 tr USD , vượt kế hoạch và tăng so với cùng kỳ.
+ Giá trị SXCN tuy chưa đạt so với kế hoạch có nguyên nhân từ lực lượng lao động (chuyển việc và nghỉ nhiều) nhưng vẫn đạt cao hơn so với cùng kỳ.
Trang 16+ Tổng nộp ngân sách chưa đạt so với kế hoạch và so với cùng kỳ là do số
nợ ngân sách của nhiều năm cộng dồn còn cao …
+ Thu nhập doanh nghiệp vượt kế hoạch và tăng so với cùng kỳ.
+ Thu nhập của CBCNV tuy chưa cao nhưng khá hơn so với các năm trước tạo động lực mới cho người lao động yên tâm gắn bó hơn với doanh nghiệp Năm 2003, Công ty Dệt kim Thăng Long tiếp tục đẩy mạnh công tác triển khai dự án đầu tư xây dựng di chuyển và mở rộng sản xuất Đồng thời, tập trung lao động thực hiện tốt các chỉ tiêu kế hoạch tăng 15 – 18 % so với cùng kỳ.
Biểu 11: Một số chỉ tiêu công ty phấn đấu thực hiện trong năm 2003
2 Thực trạng trả lương ở Công ty Dệt kim Thăng Long
2.1 Công tác xác định quỹ lương của Công ty
Tổng quỹ tiền lương chung năm kế hoạch bao gồm tổng quỹ tiền lương tính theo đơn giá và quỹ tiền lương bổ xung.
* Tổng quỹ tiền lương tính theo đơn giá
Tổng quỹ tiền lương tính theo đơn giá được xác định như sau:
Bước1: Phòng Kỹ thuật-KCS xây dựng định mức lao động tổng hợp cho
Trang 17CN sx: số công nhân sản xuất
- Mức lao động quản lý và phục vụ được xác định như sau:
Bước 2: Dựa vào tiền lương bình quân của CBCNV để xác định đơn giá
tính trên đơn vị thời gian, từ đó xác định đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm.
Xác định tiền lương bình quân của CBCNV
Mức lương tối thiểu của doanh nghiệp
Khung dưới của tiền lương tối thiểu mà Công ty áp dụng năm 2002 là 210.000đ (mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định) Khung trên của tiền lương tối thiểu được tính theo công thức:
Trong đó:
Trang 18TL minđc : tiền lương tối thiểu điều chỉnh tối đa doanh nghiệp được phép áp dụng.
TL min : mức lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định.
K đc : hệ số điều chỉnh tăng thêm của doanh nghiệp.
210.000đ x (1 + 0,22) = 256.200đ
Hệ số lương cấp bậc công việc bình quân
Hệ số lương cấp bậc bình quân của lao động quản lý và phục vụ là: 2,73
Hệ số lương cấp bậc bình quân của công nhân sản xuất: 2,01 (A.12 nII–Bậc 4/6)
Hệ số lương cấp bậc công việc bình quân của Công ty:
( 359 x 2,01 ) + ( 66 x 2,73 )
= 2,12
425
Trang 19Hệ số các khoản phụ cấp bình quân được tính trong đơn giá tiền lương Căn cứ vào các văn bản quy định và hướng dẫn của Bộ Lao động thương binh xã hội xác định đối tượng và mức phụ cấp được tính trong thang lương, bảng lương ban hành kèm theo nghị định 25/CP và 26/CP, doanh nghiệp áp dụng các phụ cấp sau :
Phụ cấp Bí thư Đảng uỷ (1 người) hệ số 0,5
Phụ cấp Chủ tịch Công đoàn (1 người) hệ số 0,5
Phụ cấp chức vụ lãnh đạo với Trưởng phòng, Quản đốc (10 người) hệ số 0,3
Phụ cấp chức vụ lãnh đạo Phó phòng, phó Quản đốc (6 người) hệ số 0,2 Phụ cấp trách nhiệm tổ trưởng (18 người) hệ số 0,1
Phụ cấp làm đêm (áp dụng với 6 nhân viên bảo vệ) hệ số 2,12 x 35%
Hệ số phụ cấp bình quân được tính cho năm 2002 là:
0,5 x 1 + 0,5 x 1 + 0,3 x 10 + 0,2 x 6 + 0,1 x 18 + 2,12 x 35% x 6
= 0,03 425
Mức tiền lương bình quân của cán bộ công nhân viên
256.200đ x ( 2,12 + 0,03 ) = 550.830đ
Xác định đơn giá tiền lương theo đơn vị thời gian (ĐGTG)
Tiền lương bình quân ngày = 550.830 : 26 = 21.186 đồng/ngày
Tiền lương bình quân giờ = 21.186 : 8 = 2648 đồng/ngày
Tiền lương bình quân phút = 2648 : 60 = 44,137 đồng/phút
Tiền lương bình quân giây = 44,137 : 60 = 0,74 đồng/giây
Xác định dơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm (ĐGSP)
ĐG SP = T SP x ĐG TG
Bước 3: Tổng quỹ tiền lương tính theo đơn giá bằng tổng sản lượng kế
hoạch của mỗi loại sản phẩm nhân vơí đơn giá của sản phẩm đó.
Biểu 12: Tổng hợp định mức lao động và đơn giá tiền lương
Trang 20phẩm v
ị động lao (ph/sp)
tiền lương (đ/sp)
lượng KH năm 2002
LĐ cần (ng ười)
tiền lương (Tr.đ/nă m)
á i
mưa - 147,70 6.519,0 4 90.000 92,3 0 586,71 Vải dệt
3
Nguồn: Số liệu phòng Tài chính – Kế toán
* Tổng quỹ tiền lương bổ sung Quỹ tiền lương bổ sung trả cho thời
gian không tham gia sản xuất của CBCNV trong Công ty nhưng vẫn được hưởng lương theo chế độ quy định mà khi xây dựng định mức lao động không tính đến, bao gồm lương trả cho những ngày nghỉ lễ, Tết, nghỉ phép năm, nghỉ theo chế độ nữ…
Biểu 13: Quỹ lương bổ sung
Các khoản trả
Theo chế độ Thời gian Số người được
hưởng
Tiền lương bình quân được hưởng
Tổng
Số tiền (Tr.đ)
210.000 26
58,36
Trang 21210.000 26
210.000 26
Nguồn: Số liệu phòng Tài chính – Kế toán
Biểu 14: Tổng quỹ lương kế hoạch nám 2002
T
T Chỉ tiêu tính đơn giá tiền lương Đ.v ị
tín h
Kế hoạch năm 2001
Thực hiện năm 2001
Kế hoạch năm 2002
đ - - -
ph /c -
50.00 0
780.00 0
11.30 0
8.562 135 200,8 5
67,49 81,81
19.600 820.00 0
13.235 9.568 199 200,85
67,49 81,81 20,76 143,1 8
30.00 0
880.00 0
14.50 0
11.31 2
220 70,85
61,38 74,42