Để từ đó tìm ra được giải pháp thiết thực, hiệu quả nhất để giúp người dân thoát cảnh nghèo, không tái nghèo, có cuộc sống ổn định lâu dài, có như vậy nền kinh tế xã hội trên địa bàn xã
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & phát triển nông thôn
Thái Nguyên - Năm 2019
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & phát triển nông thôn
Giảng viên hướng dẫn : TS Bùi Thị Thanh Tâm
Thái Nguyên - Năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập tại trường và sau 3 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở
em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm Khoa Kinh Tế và PTNT; Các phòng ban cùng các thầy giáo, cô giáo đã trang
bị cho em những kiến thức cơ bản, giúp em có những kiến thức mới trong quá trình thực tập tại cơ sở cũng như ngoài xã hội
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Bùi Thị Thanh Tâm đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
tập và hoàn thành bài khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn tới cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn, người dân
xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng đã tạo điều kiện giúp đỡ để em có điều kiện được thực tập và nâng cao sự hiểu biết
Cám ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và trong thời gian thực tập
Trong thời gian thực tập khóa luận, bản thân em đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn để hoàn thiện khóa luận Tuy nhiên, với thời gian ngắn và hạn chế về kiến thức nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Vậy kính mong các thầy cô và giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý, tạo điều kiện để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Hoàng Thị Hiền
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ 7
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Mỹ Hưng giai đoạn 2015-2017 24
Bảng 4.2 Tình hình kinh tế của xã Mỹ Hưng giai đoạn 2015 - 2017 26
Bảng 4.3 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính qua 3 năm 28
Bảng 4.4 Tình hình chăn nuôi của xã qua 3 năm 2015-2017 29
Bảng 4.5 Tình hình dân số và lao động của xã Mỹ Hưng 3 năm qua 31
Bảng 4.6 Tổng hợp hộ xã Mỹ Hưng giai đoạn (2015-2017) 37
Bảng 4.7 Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, TB-Khá của xã năm 2017 39
Bảng 4.8 Hoạt động hỗ trợ chương trình 135 cho các hộ nghèo và cận nghèo giai đoạn 2015-2017 40
Bảng 4.9 Số tiền và số hộ được hỗ trợ tiền điện 3 năm 2015-2017 42
Bảng 4.10 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ được khảo sát 43
Bảng 4.11 Tình hình sử dụng đất đai bình quân của hộ được khảo sát 44
Bảng 4.12 Các khoản chi phí bình quân của hộ được khảo sát 44
Bảng: 4.13 Thu nhập bình quân của hộ được khảo sát 45
Bảng 4.14 Kết quả sản xuất của hộ 46
Bảng 4.15 Đánh giá nguyên nhân đói nghèo tại các hộ điều tra 47
Bảng 4.16 Nguyện vọng của các hộ điều tra 49
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ số lượng hộ của các nhóm hộ 38
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Thiên nhiên Quốc tế
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2.Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
1.4 Bố cục của đề tài 3
Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm về hộ nông dân 4
2.1.2 Khái niệm về nghèo và tiêu chuẩn nghèo 5
2.1.3 Các nguyên nhân của đói nghèo 8
2.1.4 Giảm nghèo bên vững 12
2.2 Cơ sở thực tiễn giảm nghèo trên thế giới và Việt Nam 15
2.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo trên thế giới 15
2.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo của một số huyện ở Việt Nam 17
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho giảm nghèo bền vững tại xã Mỹ Hưng 18
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Câu hỏi nghiên cứu 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu 20
Trang 83.3.1 Chọn địa điểm nghiên cứu 20
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 21
3.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 21
3.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 22
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đặc điểm của xã Mỹ Hưng 23
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Mỹ Hưng 23
4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của xã Mỹ Hưng 26
4.1.3 Đánh giá những thuận lợi – khó khăn của xã Mỹ Hưng 35
4.2 Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo ở xã Mỹ Hưng 36
4.2.1 Thực trạng nghèo của xã Mỹ Hưng 36
4.2.2 Khái quát một số chương trình giảm nghèo của xã 40
4.2.3 Tình hình cơ bản của các hộ khảo sát 43
4.2.4 Nguyên nhân đói nghèo của các hộ điều tra 47
4.2.5 Nguyện vọng của các hộ điều tra 49
Phần 5 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO CỦA ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐƯA RA GIẢI PHÁP 51
5.1 Kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác xóa đói giảm nghèo tại địa phương 51
5.1.1 Kết quả đạt được 51
5.1.2 Những hạn chế tồn tại trong công tác giảm nghèo 52
5.2 Giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Mỹ Hưng 52
5.2.1 Nhóm các giải pháp chung 52
5.2.2 Giải pháp cụ thể 54
5.3 Kết luận 58
5.4 Kiến nghị 60
5.4.1 Đối với chính quyền và các cấp, ban ngành đoàn thể 60
5.4.2 Đối với các hộ nghèo 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo đang là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của tất cả các nước trên thế giới, là vấn đề được các chính phủ các quốc gia, các tổ chức quốc tế quan tâm để tìm giải pháp hạn chế và tiến tới xóa nạn đói nghèo trên phạm vi toàn cầu
Xóa đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm để đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế Việt Nam là một trong những quốc gia tỷ lệ đói nghèo còn cao
vì vậy xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Đồng thời, thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong từng bước phát triển, đảm bảo công bằng xã hội, thể hiện tính ưu việt của xã hội chủ nghĩa, có ý nghĩa nhân văn, văn hóa sâu sắc
Trong suốt hơn 30 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, được thế giới ghi nhận về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo Đất nước ta từ một nước thiếu lương thực đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo và là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Tuy nhiên số người nghèo của Việt Nam vẫn còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn tồn tại chủ yếu tập chung ở khu vực nông thôn, vùng sâu vũng xa, dân tộc thiểu số (DTTS) Vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay là phải giúp họ thoát nghèo và đó cũng là những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam trong thời gian tới
Mỹ Hưng là một trong những xã nghèo nhất thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, trải qua quá trình xây dựng và phát triển, xã Mỹ Hưng đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều mặt hạn chế, kinh tế kém phát triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, bộ mặt nông thôn chưa mấy khởi sắc Tính đến tháng 1 năm 2018, số hộ nghèo trên toàn xã là 140 hộ chiếm 22.9% tổng số hộ trong xã,hộ cận nghèo chiếm 22.0% với 135 hộ cận nghèo Công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã đang từng bước được thực hiện với mục đích là giảm tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trong những năm tới
Trang 10Để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2022 và mục tiêu thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới thì vấn đề xóa đói, giảm nghèo được ưu tiên thực hiện hàng đầu Nhưng để xóa đói giảm nghèo cần phải làm như thế nào? Và bắt đầu từ đâu? Đâu là nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo? Nguyên nhân nào là nguyên nhân chính? Để từ đó tìm ra được giải pháp thiết thực, hiệu quả nhất
để giúp người dân thoát cảnh nghèo, không tái nghèo, có cuộc sống ổn định lâu dài,
có như vậy nền kinh tế xã hội trên địa bàn xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng nói riêng và đất nước ta nói chung có cơ hội phát triển bắt kịp bạn bè các tỉnh trong nước cùng thế giới
Đã có nhiều tác giả, nhà khoa học nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến xóa đói, giảm nghèo nhưng các công trình nghiên cứu chưa hoặc không nhấn mạnh, phân tích sâu vào giảm nghèo theo hướng bền vững, không nghiên cứu tổng thể về công tác giảm nghèo, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp mang tính bền vững cao và định hướng lâu dài, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng giai đoạn đến năm 2022
Xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài: “Giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân trên địa bàn xã Mỹ Hưng - huyện Phục Hòa - tỉnh Cao Bằng”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nghèo đói của các hộ nông dân xã Mỹ Hưng,
đề xuất giải pháp nhằm giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được lý luận và thực triển về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
- Đánh giá thực trạng nghèo, giảm nghèo của các hộ nông dân xã Mỹ Hưng huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng
- Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của hộ nông dân xã Mỹ Hưng huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Mỹ Hưng Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong những năm tiếp theo
Trang 111.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho sinh viên thực hành những kiến thức đã học,
áp dụng kiến thức vào thực tế, là khung chương trình mà bộ Giáo Dục và Đào Tạo đề ra
có tính chất tất yếu giúp sinh viên nâng cao kiến thức và kinh nghiệm thực tế
Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức đã học để đưa vào thực tế, kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số liệu, sự tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn
Nghiên cứu đề tài được xem như bài học thực tế đầu tiên giúp cho sinh viên làm quen khi bắt tay vào thực tế, nó là cơ hội nhưng cũng đầy thách thức mà sinh viên phải đối mặt và trải qua trước khi ra trường và bắt tay vào công việc, nghề nghiệp của mình sau này
Đây là đề tài nghiên cứu có tính chất cấp thiết và quan trọng hàng đầu trong các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của thế giới cũng như Việt Nam Bởi trong các vấn đề của xã hội thì nghèo đói được xem là gốc dễ dẫn tới nhiều những vấn đề khác của cuộc sống Nó là một mắt xích trong vòng luẩn quẩn của các vấn đề xã hội
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo tại địa phương, những nguyên nhân nghèo đói, hiệu quả của các chính sách, chương trình triển khai tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của bà con địa phương
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở tham khảo giúp chính quyền và ban ngành đoàn thể trong xã đưa ra được những biện pháp giảm nghèo có hiệu quả sát với điều kiện thực tế địa phương
1.4 Bố cục của đề tài
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5: Đánh giá công tác giảm nghèo của địa phương và đưa ra giải pháp
Trang 12và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội” Qua nguyên cứu cho thấy có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:
- Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”
- Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”[6] Đây mới chủ yếu nêu lên những khái niệm hộ tiêu biểu nhất, mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất Tuy nhiên từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau:
- Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống
- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung, có chương trình kế hoạch sản xuất kinh doanh, có vốn chung, là đơn
vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước…
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế
Trang 132.1.1.2 Hộ nông dân
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế của xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [7] Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức của cá nhân, tôi cho rằng: - “Hộ nông dân là những hộ sinh sống ở vùng nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, ngoài hoạt động nông nghiệp hộ nông dân còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ …) ở các mức độ khác nhau
2.1.2 Khái niệm về nghèo và tiêu chuẩn nghèo
2.1.2.1 Khái niệm về nghèo
Trên thế giới nghèo được quan niệm:
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về nghèo đói là: “Đói nghèo là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học” [2]
Từ khái niệm trên, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã đưa ra khái niệm nghèo như sau:
“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu
cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [2]
Liên hợp quốc đã đưa ra hai khái niệm nghèo là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau:
- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những
nhu cầu tối thiểu Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục Ngoài những nhu cầu
cơ bản trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm quyền được tham gia vào các quyết định cộng đồng
- Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức
trung bình của cộng đồng và ở một thời kỳ nhất định Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định phụ thuộc chung vào mức sống xã hội Như vậy,
Trang 14nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định
Việt Nam nghèo được quan niệm:
Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện, thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định [1]
Như vậy, nghèo ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở phương diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn mặc, giáo dục, y tế mà còn ở cả những phương diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thương, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đến bản thân
2.1.2.2 Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo
Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo trên thế giới
Tiêu chí đánh giá theo thu nhập bình quân đầu người: Năm 1997 Ngân hàng thế giới đã đưa ra chuẩn nghèo chung cho thế giới là mức thu nhập bình quân dưới
370 USD/người/năm Bên cạnh đó khi sử dụng chỉ tiêu này các quốc gia thường xác định thu nhập bình quân đầu người của quốc gia Hộ có thu nhập bình quân đầu người
ít hơn 1/2 hoặc 1/3 thu nhập bình quân đầu người của quốc gia được coi là hộ nghèo Hiện nay, tiêu chí đánh giá theo thu nhập đang được sử dụng khá phổ biến ở các nước trên thế giới vì nó có ưu điểm là dễ sử dụng Tuy nhiên, xét về tổng thể thì nếu chỉ xét về thu nhập bình quân đầu người sẽ không phản ánh đầy đủ được sự thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Do vậy, cần phải có sự tiếp cận khác toàn diện hơn, đầy đủ hơn để đánh giá sự đói nghèo
Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo của việt Nam:
Hiện nay, ở Việt Nam chủ yếu vẫn còn xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc năm Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá
Tại việt nam Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội là cơ quan được chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội,
Trang 15nghiên cứu và đề xuất Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo từng giai đoạn (xem bảng 1.1) Mức chuẩn nghèo giai đoạn 2016 -2020
áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ - TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ
tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận nghèo đa chiều giai đoạn
2016 – 2020
Bảng 2.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ
2.Giai đoạn 1195 - 1997
3 Giai đoạn 1998-2000
4 Giai đoạn 2001-2005
(Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)
Sự thay đổi từ việc lấy mức chuẩn nghèo bằng hiện vật (gạo) sang chuẩn nghèo bằng giá trị (tiền) đã cho thấy công cuộc giảm nghèo của Việt Nam có một bước tiến
Trang 16mới, thể hiện sự tiến bộ trong tiêu chuẩn đánh giá đói nghèo Mặt khác, chuẩn nghèo Việt Nam thường xuyên được nâng lên nhằm tiếp cận với chuẩn nghèo thế giới khẳng định sự quyết tâm xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước Việt Nam Gần đây, Chính phủ thường công bố thay đổi mức chuẩn nghèo 5 năm một lần và trước kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và bầu cử Quốc hội là một căn cứ quan trọng cho các định hướng
và giải pháp và giảm nghèo trong từng giai đoạn của Việt Nam Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế Việt Nam cũng đang tiếp cận đến vấn
đề nghèo đa chiều trong chuẩn nghèo của Việt Nam
2.1.3 Các nguyên nhân của đói nghèo
2.1.3.1 Các nguyên nhân đói nghèo trên thế giới và Việt nam
a Nguyên nhân đói nghèo trên thế giới
Sự thiếu hiểu biết: Sự thiếu hiểu biết ở đây được hiểu là sự thiếu thông tin và
kiến thức, việc thiếu thông tin, kiến thức ảnh hưởng lớn đến tư duy, nhận thức và cách cư xử của con người đối với các tác động bên ngoài Điều quan trọng là phải xác định những thông tin mà người nghèo đang bị thiếu hụt để có giải pháp thực hiện mục tiêu giảm nghèo
Bệnh tật: Khi trong một cộng đồng dân cư có tỉ lệ bệnh tật cao, dẫn đến sự
thiếu vắng về lao động có chất lượng cao, năng suất lao động sẽ giảm sút như vậy của cải vật chất được tạo ra sẽ ít đi, không đáp ứng được nhu cầu của xã hội bệnh tật không chỉ gây ra sự khổ cực, đau buồn, chết chóc, bệnh tật còn là nhân tố chính của
sự đói nghèo, nó làm cho người nghèo không thoát ra khỏi sự nghèo và ngày càng nghèo hơn
Sự thờ ơ: Sự thờ ơ, sự bàng quang, sự không quan tâm hoặc cảm thấy bất lực,
không muốn thay đổi dù là sửa chữa sai lầm hay cải thiện điều kiện hiện tại của bản thân con người Họ bằng lòng với cuộc sống hiện tại, không đấu tranh, không phấn đấu để thoát nghèo, ỷ lại cho cộng đồng Điều này càng thể hiện rõ khi chúng ta đã
và đang thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ cho người nghèo
Tính không thành thật: Đó là sự thiếu trung thực trong thực hiện các chương
trình giảm nghèo, khi các nguồn lực được huy động cho các chương trình dự án nhưng lại bị một người có quyền lực sử dụng cho mục đích cá nhân thì điều đó không chỉ là
Trang 17vấn đề quyền lợi mà còn là vấn đề đạo lý Ở đây chúng ta chưa bàn đến tốt hay xấu
mà chỉ muốn chỉ ra rằng sự gian lận, tính không thành thật hay nói cách khác là tệ nạn tham nhũng, lãng phí là một trong những nguyên nhân của sự đói nghèo và kìm hãm công cuộc xóa đói giảm nghèo của các quốc gia, của từng địa phương và của cả cộng đồng người nghèo
Sự phụ thuộc: Sự phụ thuộc bắt nguồn từ việc cộng đồng người nghèo chỉ được
coi như bên tiếp nhận viện trợ Tuy nhiên trong ngắn hạn, sự viện trợ có ý nghĩa rất quan trọng với sự sống còn của cộng đồng người nghèo, nhưng trong dài hạn, viện trợ đặc biệt các khoản viện trợ theo kiểu “cho không” sẽ càng làm họ phụ thuộc, ỷ lại, đến khi không còn viện trợ thì không đủ khả năng ứng phó với sự thay đổi của cuộc sống dẫn họ đến sự luẩn quẩn của sự đói nghèo [12]
Các yếu tố trên không tác động độc lập đến sự đói nghèo mà nó có sự tác động qua lại lẫn nhau tạo ra mối quan hệ đa chiều, phức tạp: bệnh tật dẫn đến sự thiếu hiểu biết và v.v , sự thiếu hiểu biết dẫn đến sự thờ ơ v.v , sự thờ ơ dẫn đến sự thiếu trung thực v.v , sự thiếu trung thực dẫn đến bệnh tật và phục thuộc, v.v
b Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
- Nguyên nhân có tính chất lịch sử đó là:
Một là: Việt nam xuất phát từ nền nông nghiệp lạc hậu, lại phải trải qua nhiều
cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, những tổn thất về con người, về vật chất tinh thần do chiến tranh để lại là trở ngại ảnh hưởng lớn đến việc phát triển kinh tế xã hội
ở Việt Nam
Hai là: Sau khi thống nhất, Nhà nước Việt Nam đã thi hành một số chính sách
kinh tế không thành công đã để lại tác động xấu đến nền kinh tế làm suy kiệt nguồn lực của Nhà nước và nhân dân
Ba là: Các ngành sản xuất ở Việt Nam xuất phát điểm là yếu kém, cụ thể: Sản
xuất nông nghiệp đơn điệu, sản xuất công nghiệp thiếu hiệu quả, nền thương nghiệp
tư nhân không phát triển, nền thương nghiệp quốc doanh không đủ sức cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho nhu cầu xã hội
Trang 18Bốn là: Một bộ phận lao động dư thừa ở nông thôn không được đào tạo, không
được khuyến khích ra thành thị lao động Thất nghiệp tăng cao trong thời gian trước đối mới [12]
- Ngyên nhân từ thực tiễn đó là:
Một là, do chính phủ thường xuyên điều chỉnh mức chuẩn nghèo cho tiếp cận
với mức chuẩn nghèo quốc tế, đối với các nước đang phát triển hiện nay ở mức là 1USD/người/ngày
Hai là, số lượng dân cư sống ở các vùng nông thôn cao 68,06% (năm 2012)
trong khi đó tổng sản phẩm quốc dân ở khu vực nông thôn rất thấp Hệ số Gini là 0,434 và hệ số chênh lệch thu nhập giữa các nhóm thu nhập là 9,35 nên sự bất bình đẳng cao
Ba là, người dân, đặc biệt là nông dân chịu rủi ro của thiên tai, dịch bênh, thất
nghiệp, giá cả tăng cao, chính sách thay đổi, hệ thống hành chính kém minh bạch, quan liêu, tham nhũng do đó nguy cơ tái nghèo cao
Bốn là, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhưng chưa nhanh và không đảm
bảo tính bền vững Liên tục sảy ra sự không ổn định nguy cơ lạm phát và giảm phát cao, tình trạng thất nghiệp có xu hướng gia tăng
Năm là, có sự chênh lệch lớ về điều kiện kinh tế xã hội giữa các vùng miền,
giữa thành thị và nông thôn và giữa các dân tộc
Sáu là, môi trường bị phá hoại ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, trong khi
đa số người nghèo lại sống nhớ vào nông nghiệp là chính Tình trạng lạm dụng sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp khá phổ biến, còn sử dụng các kỹ thuật canh tác không phù hợp với việc bảo vệ môi trường, thảm thực vật bị phá hoại, tỉ lệ che phủ rừng bị giảm do tình trạng phá rừng Những việc làm đó làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của môi trường đất, nước và tài nguyên sinh vật
Bảy là, hiện nay hiện tượng biến đổi khí hậu đang diễn ra mạnh mẽ tại đất
nước ta với một số hiện tượng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân: Hạn hán tại cáctỉnh miền Trung và Tây Nguyên, xâm nhập mặn tại các tỉnh Đông Nam bộ làm đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn
Trang 19Tám là, Đặc biệt trong thời gian gần đây nhất nước biển bị ô nhiễm dẫn đến
cá chết hàng loạt tại các tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của
bà con ngư dân các tỉnh
Chín là, hiệu năng quản lý hành chính thấp, tình trạng thất thoát vốn đầu tư
sảy ra ở nhiều nơi, các dự án phát triển hạ tầng còn nhiều bất cập, vẫn còn nhiều dự
án “quy hoạch treo”, còn tình trạng tham ô, lãng phí, gây mất lòng tin trong nhân dân
[12]
c Nguyên nhân đói nghèo của hộ nông dân
Nghiên cứu về đặc điểm của người nghèo ở nông thôn để có cách nhìn cụ thể, thực tế hơn trong việc xác định nguyên nhân đói nghèo của nông dân và nông thôn Theo “Báo cáo tổng hợp Đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam- VAS thì người ở nông thôn có một số đặc tính đó là:
(i) Về nhân khẩu: Các hộ nghèo ở nông thôn đa số là các hộ có nhiều con do
ảnh hưởng quan điểm, tập tục lạc hậu và không có thói quen thực hiện kế hoạch hóa gia đình Một số trường hợp mới tách hộ, con nhỏ không có điều kiện sinh kế
(ii) Về lao động và việc làm: Các hộ nông dân nghèo do hoàn cảnh thiếu lao
động hoặc thiếu việc làm trong khi đó sinh kế của hộ gia đình chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và coi cây lúa là sản phẩm chủ yếu, sản xuất chỉ với mục đích
tự cung tự tiêu là chủ yếu
(iii) Về tài sản: Do điều kiện thiếu tài sản, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đầu
tư chăn nuôi gia súc ít thậm trí không có chăn nuôi, đầu tư cho lâm nghiệp thấp, không tạo ra được sản phẩm hàng hóa cũng dẫn đến nghèo
(iv) Về đất đai: Đối với các hộ nghèo một số không nhỏ là nguyên nhân thiếu
đất, đất đai có chất lượng thấp dẫn đến năng suất cây trồng thấp, diện tích đất dốc nhiều khó canh tác, đất thường xuyên bị ngập úng hoặc khô hạn làm cho năng suất thấp có khi mất trắng Bên cạnh đó có thể do nguyên nhân sử dụng đất không hiệu quả, không có hiểu biết khoa học kỹ thuật hoặc không sử dụng được các công nghệ tiên tiến
(v) Về vốn con người: Ở đây chúng ta nói đến sự thiếu hiểu biết, trình độ văn
hóa thấp, nhất là trong nhóm các dân tộc thiểu số Thậm chí còn một số trường hợp
Trang 20chưa hiểu tiếng Việt, không tiếp thu được khoa học kỹ thuật, không có ý thức học hỏi
do có năng lực sản xuất kém dẫn đến nghèo
(vi) Về vốn thể chế: Các hộ nghèo ở nông thôn còn do hạn chế sự tiếp cận với
các chính sách của Nhà nước, thiếu hiểu biết về pháp luật dễ bị phải tiêu dùng những sản phẩm dịch vụ với giá cao, nhưng chỉ bán được sản phẩm giá thấp hơn so với giá thị trường, bị lợi dụng
(vii) Về chế độ gắn kết với bên ngoài: Nguyên nhân này phổ biến trong nhóm
dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, không có điều kiện tiếp cận với bên ngoài, thiếu mọi thông tin về giá cả thị trường, không có cơ hội tạo dựng sinh kế, thu nhập thấp dẫn đến nghèo
(viii) Về vốn xã hội : Nguyên nhân này thể hiện sự thiếu hiểu biết về xã hội,
lạc hậu, duy trì và tồn tại các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượi chè, ma chay, cưới hỏi,
mà túy còn sảy ra trong một bộ phận nghèo [21]
Tuy nhiên, trong thực tế nhiều vùng khác nhau, từng địa phương khác nhau, từng nhóm cộng đồng khác nhau, từng thời kỳ khác nhau sẽ có mức độ biểu hiện khác nhau về đặc tính của họ Trong đó, ở từng nơi, từng nhóm dân tộc, ở từng vùng điều kiện khác nhau họ sẽ có những đặc tính thể hiện khác nhau Ví dụ, như đối với vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn các yếu tố trên thể hiện
rõ nét hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn, dễ quan sát hơn
2.1.4 Giảm nghèo bên vững
2.1.4.1 Một số trao đổi về khái niệm giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững là một khái mới trong thời gian gần đây được đưa vào
sử dụng trên các diễn đàn, trên các hội nghị, hội thảo và các chính sách vĩ mô về công tác xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên đến nay chúng ta vẫn chưa có một khái niệm cụ
thể cho thuật ngữ này Do vậy, để tìm hiểu khái niệm về giảm nghèo bền vững chúng
ta cần phải tìm hiểu rộng hơn các nội dung về giảm nghèo và phát triển bền vững
Trước khi bàn về giảm nghèo và phát triển bền vững, cần có những trao đổi
về một số thuật ngữ hay sử dụng như: Nghèo kinh niên, thoát nghèo, tái nghèo và
thoát nghèo bền vững Hiện nay, chưa có các văn bản chính thức đưa ra khái niệm
Trang 21này Qua tham khảo các tài liệu và một số công trình nguyên cứu đã công bố, có thể khái quát các khái niệm trên như sau [1]:
Nghèo kinh niên: Một hộ được coi là nghèo kinh niên là hộ chưa bao giờ có
thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức nghèo theo chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn khác nhau
Thoát nghèo: Một hộ được coi là thoát nghèo khi hộ đang là hộ nghèo theo
chuẩn nghèo, đã có được thu nhập bình quan đầu người cao hơn mức nghèo theo tiêu chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn khác nhau Trong giai đoạn
2011 -2015 hộ thoát nghèo là những hộ đang là hộ nghèo vươn lên hộ có mức thu nhập trên 400.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và trên 500.000 đồng/người trên tháng đối với khu vực thành thị Còn đối với giai đoạn mới 2016-
2020 hộ thoát nghèo là những hộ đang là hộ nghèo vươn lên hộ có mức thu nhập trên 700.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và trên 500.000 đồng/người trên tháng đối với khu vực thành thị
Tái nghèo: Một hộ được coi là tái nghèo khi hộ đó đã thoát nghèo nhưng vì
nguyên nhân nào đó đã không đủ khả năng ứng phó với những bất lợi trong cuộc sống dẫn đến đói nghèo, tức là có mức thu nhập thấp hơn mức chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn Hiện tượng này xảy ra khá phổ biến khi có các tác động của thiên tai, rủi ro, bệnh tật hoặc do chuẩn nghèo thay đổi lên mức cao hơn
Thoát nghèo bền vững: Một hộ được coi là thoát nghèo bền vững nếu đang là
hộ nghèo đã có thu nhập ổn định và phát triển có mức thu nhập trên mức chuẩn nghèo cho từng khu vực, trong từng giai đoạn (kể cả việc tăng mức chuẩn nghèo), hộ không
bị tái nghèo và có các kỹ năng, đủ năng lực để ứng phó với những bất lợi sảy ra
Trang 222.1.4.2 Vấn đề giảm nghèo bền vững
Nhưng vẫn đề giảm nghèo bền vững nói chung và giảm nghèo bền vững ở Việt
Nam nói riêng vẫn chưa được kết luận dưới góc độ là một nhà khoa học từ khái niệm, nội dung và các yếu tố cấu thành khác
Trước khi tìm hiểu các vấn đề về giảm nghèo bền vững, chúng ta tìm những yếu tố liên quan đến nội dung này Trước hết, thuật ngữ phát triển bền vững là một
khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn
phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Thuật ngữ “phát triển bền
vững” được Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN
sử dụng lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm chiến lược bảo tồn thế giới với nội dung: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Khái niệm này được sử dụng phổ biến hơn vào năm 1987 trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và phát triển Thế giới – WCED, trong báo cáo đã nêu rõ:
“Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến những khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ tương lai” [1] Nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn
Tại Việt Nam trong “Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam” được ban hành
kèm theo quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã đưa vấn đề phát triển bền vững thành mục tiêu phát triển của Việt Nam [19]
Có thể khái quát khái niệm về phát triền bền vững là sự phát triển bền vững ba
thành phần cơ bản: Kinh tế bền vững, xã hội bền vững và môi trường bền vững
- Kinh tế bền vững: Có ý nghĩa quyết định trong phát triển bền vững đòi hỏi
sự phát triển của hệ thống kinh tế cần tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển xã hội bền vững và môi trường bền vững
- Xã hội bền vững: Đòi hỏi sự phát triển sự công bằng và xã hội phải chú trọng
phát triển con người, tạo điều kiện cho tất cả mọi người có cơ hội phát triển tiềm năng
và có điều kiện sống ngày càng tốt hơn
Trang 23- Môi trường bền vững: Phải đảm bảo sự cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ môi
trường với khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ sự phát triển xã hội và lợi ích của con người
2.2 Cơ sở thực tiễn giảm nghèo trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của một số nước
a Thái Lan
Thái Lan đã xác định được tầm quan trọng của việc chiếm hữu đất và việc việc chuyển dịch diện tích đất theo hướng có lợi và cơ hội kiếm được việc làm tăng lên, đặc biệt trong khu vực phi nông nghiệp
Thái Lan đã áp dụng chính sách giảm nghèo ở từng vùng trọng điểm thông qua chính sách đất đai, giải quyết việc làm, ưu tiên ở những vùng không có đất đai
và đạt được kết quả cao, giảm mức đói nghèo từ 595 năm 1962 xuống còn 26% năm
1986 Sau này, Thái Lan đã áp dụng mô hình gắn liền với chính sách phát triển nông thôn qua việc phát triển các xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển doanh nghiệp nhỏ,
mở rộng các trung tâm dạy nghề ở nông thôn nhằm giảm nghèo Nhờ vậy tỉ lệ đói nghèo của Thái Lan đã giảm xuống còn 23% năm 1990 [13]
b.Hàn Quốc
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng Từ đó gây ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị -xã hội Để ổn định tình hình chính trị -xã hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế -xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế -xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản:
Trang 24- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay
- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao
- Thay giống lúa mới có năng suất cao
- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các hợp tác xã sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấp nhà ở
Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dân có việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dẫn tới các thành phố lớn dể kiếm việc làm chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn
c Trung Quốc
Ngay từ khi Đại Hội Đảng XII của Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1984, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, nhung cái chính là cải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn Mục đích của nó là làm thay đổi các quan hệ chính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánh nặng về tài chính đã đè quá nặng lên những người nghèo khổ ở nông thôn trong nhiều năm qua, phục hồi ngành sản xuất nông nghiệp
Năm 1985 Đặng Tiểu Bình đã nói:" Sự nghiệp của chúng ta sẽ không có ý nghĩa gì nhiều nếu không có sự ổn định ở nông thôn…" Sau khi áp dụng một loạt các chính sách cải cách kinh tế ở khu vực nông thôn, Trung Quốc đã thu được những thành tựu đáng kể, đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong thể chế chính trị , thay đổi về căn bản về cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển đổi phương thức quản lý, thay đổi căn bản phương thức phân phối, phân phối theo lao động đóng vai trò chính, và Trung Quốc đã thực hiện thành công việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường thì sự phân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội Do chính sách mở
Trang 25cửa nền kinh tế , các thành phố lớn thì tập trung các nhà máy sản xuất công nghiệp, tuy
có phát triển một số nhà máy công nghiệp ở một số vùng nông thôn, song vùng giàu có thì ngày càng giàu có, vùng nghèo đói thì vẫn nghèo đói nhất là vùng sâu,vùng xa Để khắc phục tình trạng nghèo khổ cho khu vực nông thôn chính phủ đã đưa ra một loạt các giải pháp cơ bản nhằm xoá đói giảm nghèo cho nhân dân, trong đó có các giải pháp
về tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, xây dựng các vùng định canh, định cư, khu dân cư mới, chính sách này đã đem lại những thành công đáng kể cho nền kinh tế -xã hội Trung Quốc trong những năm qua
2.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo của một số huyện ở Việt Nam
a Kinh nghiệm của huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng
Huyện Quảng Uyên có 4.233 hộ nghèo, chiếm 43,55% (thời điểm cuối năm 2016), tỷ lệ hộ nghèo tăng so với tiêu chí giảm nghèo cũ Bộ tiêu chí đánh giá hộ nghèo mới nhằm giúp hộ nghèo tiếp cận đầy đủ hơn dịch vụ xã hội cơ bản, như: Y tế, giáo dục, văn hóa, tín dụng nhưng cũng là thách thức lớn đối với một huyện còn nhiều khó khăn như Quảng Uyên Tuy nhiên, với rất nhiều nỗ lực, năm 2017, toàn huyện đã giảm được 4,39% hộ nghèo (từ 43,55% giảm xuống còn 39,16%)
Theo ông Nông Văn Thông- phó chủ tịch UBND huyện Quảng Uyên, muốn giảm nghèo bền vững thì trước hết phải làm thay đổi nhận thức, giúp người dân có ý chí vươn lên thoát nghèo Cùng đó là phải tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo được tiếp cận các nguồn vốn, tín dụng để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, trong đó
có việc đa dạng hóa chương trình cho vay vốn; gắn vay vốn, tín dụng với việc hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo
Năm 2017, hơn 5.400 hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách khác trong huyện được Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay tín dụng ưu đãi trên 60 tỷ đồng
Giải pháp quan trọng trong công tác giảm nghèo là thực hiện tốt chính sách đào tạo, dạy nghề cho lao động, tạo việc làm mới và xuất khẩu lao động Năm 2017, toàn huyện dạy nghề cho 197 lao động nông thôn, giải quyết việc làm mới cho 273 lao động, 8 người được đi xuất khẩu lao động
Trang 26Cùng đó, hơn 31.000 người nghèo, người dân tộc thiểu số được cấp thẻ bảo hiểm y tế; gần 2.000 hộ nghèo được cấp gạo cứu đói giáp hạt và cứu đói tết, hơn 14.000 người nghèo được hỗ trợ tiền trực tiếp theo Quyết định 102/QĐ-TTg.[22]
b Xóa đói giảm nghèo tại huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng
Trung tá Lục Văn Thụ là cán bộ biên phòng tăng cường xã Quang Long (huyện
Hạ Lang) Trước kia, nơi đây còn là khu đất hoang Mất bao công sức của cán bộ chiến sĩ đồn Biên phòng Quang Long vừa vận động, vừa trực tiếp lao động cùng bà con, người dân Bản Kiểng mới biết trồng lúa nước Nơi biên giới Quang Long, đồng bào dân tộc Tày, Nùng lắm nỗi thiệt thòi, bởi giao thông cách trở, khí hậu khắc nghiệt, thiếu cơ hội học tập, tiếp thu các tiến bộ KHKT, người dân mưu sinh vất vả, đói nghèo lại còn nặng tập tục lạc hậu
Quyết tâm cùng địa phương nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, các chiến sĩ biên phòng phải kiên trì vận động, từ những việc tưởng như rất nhỏ như khi ốm thì không mời thầy cúng mà ra trạm y tế xã để được khám, cho con em đến trường đúng độ tuổi, đến tuyên truyền người dân phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa và tham gia dự án trồng mía xuất khẩu… Nói cách này không được, anh lại dùng cách khác, khi thì lý, khi thì tình, khi thì phải cả lý lẫn tình, để thuyết phục người dân Giờ đây người dân đã có nhiều tiến bộ trong nếp nghĩ, thực hiện nếp sống mới văn minh hơn
Hạ Lang đang chuyển mình trong cuộc cách mạng xóa đói giảm nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ Ông Hà Đức Nhàn, Chủ tịch UBND huyện Hạ Lang khẳng định: “Những cán bộ biên phòng tăng cường về các xã cũng chính là một trong những chủ trương, giải pháp đồng bộ của Đảng, Nhà nước nhằm thực hiện có hiệu quả công cuộc xoá đói giảm nghèo bền vững, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương” [20]
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho giảm nghèo bền vững tại xã Mỹ Hưng
- Thứ nhất, quan tâm đầu tư cho giáo dục- đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề
cho người lao động Điều này có tác dụng nâng cao chất lượng lao động, phát triển
nguồn lực, tăng năng suất lao động
- Thứ hai, phát huy hiệu quả công tác khuyến nông, khuyến lâm, tăng cường
nâng cao hiểu biết của người dân trong sản xuất nông nghiệp
Trang 27- Thứ ba, cần có chính sách cụ thể để phát triển các loại hình dịch vụ giáo dục,
y tế, văn hóa và các lĩnh vực khác
- Thứ tư, cần mở rộng hình thức hỗ trợ trực tiếp cho người dân nhằm đảm bảo
nguồn vốn hỗ trợ đến được tận tay những người nghèo, tránh thất thoát lãng phí
- Thứ năm, trong công tác giảm nghèo Nhà nước đóng vai trò quan trọng nhưng
phải coi đây là nhiệm vụ của xã hội, mà trước hết là của chính những người dân nghèo phải tự giác vươn lên
- Thứ sáu, cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục mọi người dân hiểu
rõ vấn đề, hiểu rõ trách nhiệm của mình tránh tình trạng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ cộng đồng, của Nhà nước
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ gia đình nghèo và cận nghèo trong xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
3.1.2.1 Phạm vi không gian nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu là xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
3.1.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Đề tài sử dụng nguồn thông tin số liệu thứ cấp trong thời gian 3 năm 2015-2017
- Đề tài thực hiện từ ngày 13/08/2018 đến ngày 23/12/2018
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo của các hộ nông dân xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng trong những năm qua như thế nào?
(2) Đâu là nguyên nhân dẫn đến nghèo của hộ nông dân xã Mỹ Hưng trong thời gian qua?
(3) Các chính sách và chương trình giảm nghèo của xã Mỹ Hưng đang áp dụng ở Việt Nam? Kết quả và hạn chế của các chính sách, chương trình giảm nghèo?
(4) Cần có những giải pháp chủ yếu nào nhằm giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Mỹ Hưng trong những năm tới?
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn địa điểm nghiên cứu
Qua tìm hiểu, phân tích và tham khảo ý kiến của các cán bộ quản lý, cán bộ phụ trách địa phương chúng tôi thấy để có được giải pháp làm cho việc giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn xã Mỹ Hưng thì cần đánh giá khách quan
cá điều kiện về đất đai, thủy lợi cũng như các chương trình giảm nghèo áp dụng tại địa phương các xóm
Trang 29Căn cứ theo tiêu chuẩn trên, đề tài đã tiến hành chọn 3/16 xóm để điều tra đó là: Nà Riềng, Tục Mỹ và Nà Lếch
Tôi đã chọn để điều tra trong 1 xóm là: 12 hộ nghèo và 8 hộ cận nghèo Tổng
số 20 hộ/xóm x 3 xóm = 60 hộ
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các tài liệu thứ cấp được thu từ các cơ quan, ban ngành của địa phương, các báo cáo tổng kết cuối năm của các chương trình, tài liệu thống kê của xã và một số tài liệu liên quan khác
3.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Điều tra nông hộ bằng phiều điều tra và tiến hành phỏng vấn trực tiếp
3.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
3.3.3.1 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu điều tra được cập nhận vào bảng chính của phần mềm Excel để tính
toán các chỉ tiêu, chỉ số phù hợp với nội dung nguyên cứu của đề tài
3.3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
a Phương pháp thống kê mô tả
Sử dụng các chỉ tiêu thống kê như tần suất, số bình quân, số mode, số trung
vị, độ lệch chuẩn, số lớn nhất, số nhỏ nhất để phân tích có tính mô tả, phản ánh thực trạng của việc giảm nghèo và các yếu tố liên quan đến việc giảm nghèo bền vững
b Phương pháp so sánh
Sử dụng các chỉ tiêu thống kê như số tương đối, chỉ số, dãy số thời gian để so sánh, đánh giá sự biến động của việc giảm nghèo và các yếu tố liên quan đến việc giảm nghèo bền vững
c Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân PRA
Sử dụng phương pháp này thu thập và phân tích ý kiến của người trong và ngoài cộng đồng, bằng các hoạt động quan sát, trao đổi, phỏng vấn trực tiếp nội dung liên quan đến việc giảm nghèo, các chương trình giảm nghèo, vấn đề giảm nghèo bền vững và các vấn đề khác liên quan
Trang 303.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ
+ Bình quân diện tích đất đai/hộ
+ Bình quân diện tích đất đai/nhân khẩu
+ Tỷ lệ lao động /nhân khẩu
- Chỉ tiêu phản ánh kinh tế hộ
+ Tổng thu nhập = thu từ sản xuất nông nghiệp + thu từ khoản khác
+ Chi phí sản xuất = chi phí cho trồng trọt + chi phí cho chăn nuôi
+ Thu nhập thuần = Tổng thu nhập – chi phí sản xuất
+ Bình quân thu nhập đầu người (đồng/người/tháng) = Tổng thu nhập/số khẩu*12
+ Chi tiêu bình quân đầu người (đồng/khẩu/tháng) = Tổng chi cho phục vụ đời sống, sinh hoạt…/khẩu*12
- Chỉ tiêu đánh giá công tác xóa đói giảm nghèo
+ Tỷ lệ hộ nghèo = Tổng số hộ nghèo/Tổng số hộ
+ Tỷ lệ hộ cận nghèo = Tổng số hộ cận nghèo/Tổng số hộ
Trang 31Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm của xã Mỹ Hưng
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Mỹ Hưng
Phía Tây giáp xã Tiên Thành – huyện Phục Hòa;
Phía Nam giáp xã Đức Long và Thụy Hùng của huyện Thạch An;
Phía Bắc giáp thị trấn Hòa Thuận - huyện Phục Hòa;
4.1.1.2 Địa hình ,địa mạo
Địa hình xã Mỹ Hưng kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam với độ cao trung bình so với mực nước biển 350m Phạm vi phân bố của xã khá rộng kéo dài từ xóm Nặm Tốc phía Bắc của xã đến điểm xa nhất giáp ranh giới với thị trấn Thủy Khẩu huyện Long Châu Trung Quốc ở phía Tây Nam khoảng 16km Mỹ Hưng lấy con sông Bằng Giang làm ranh giới với thị trấn Tà Lùng ở phía Bắc
Theo đặc điểm tự nhiên có thể chia địa hình địa mạo xã Mỹ Hưng thành ba kiểu địa hình chính:
Kiểu địa hình có độ dốc dưới 30 diện tích khoảng 82ha phân bố trong các thung lũng và một số khu vực được sử dụng vào mục đích nông nghiệp như trồng lúa màu…và cây công nghiệp hàng năm
4.1.1.3 Đặc điểm khí hậu – thủy văn
Xã Mỹ Hưng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh, mưa ít; mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều; có gió đông nam thổi mạnh từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm với tốc độ trung bình 20m/s
Nhiệt độ Mỹ Hưng có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 –
240C, nhiệt độ cao nhất tháng 6 là 400c, nhiệt độ thấp nhất tháng 12 là 80C
- Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 1.659 giờ
Trang 32- Lượng mưa: Tổng lượng mưa khá lớn bình quân 1.500mm/năm và tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 9, chiếm tới 70 – 80% lượng mưa cả năm Mưa tập trung theo mùa và phân bố không đều giữa các tháng trong năm đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân
- Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 80 – 85%
Nhìn chung khí hậu và thời tiết của xã Mỹ Hưng tương đối thuận lợi cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi Một số loại cây trồng có tiềm năng phát triển như lúa nước, cây màu các loại
4.1.1.4 Điều kiện đất đai và tình hình sử dụng đất
Đất đai xã Mỹ Hưng chủ yếu là đất thịt (chiếm 80%) tập trung chủ yếu tại khu vực sông Bằng Giang Đây là loại đất thích hợp cho việc phát triển các loại cây trồng
có năng suất và giá trị kinh tế như lúa nước, ngô, đỗ tương
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Mỹ Hưng giai đoạn 2015-2017
Chỉ tiêu
DT (ha)
Cơ cấu (%)
DT (ha)
Cơ cấu (%)
DT (ha)
Cơ cấu (%) Tồng diện tích tự nhiên 3920,5 100 3918,04 100 3901,04 100
3 Nhóm đất chưa sử dụng 67,8 1,75 62,04 1,56 45,59 1,18
Trang 33(Nguồn: Địa chính xã Mỹ Hưng)
Theo số liệu thống kê tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã giảm qua các năm
- Năm 2017 đất nống nghiệp (so với năm 2015) giảm 3,55(ha) do phát triển các tầng giao thông trên địa bàn xã và chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích đất
ở, đất công cộng…
- Đất chưa sử dụng năm 2017 (so với năm 2015) giảm mạnh 22,21 (ha) do chuyển qua đất nuôi trồng thủy sản, đất sản xuất kinh doanh… năm 2017 nhà nước thực hiện xây dựng tuyến đường 208 đi qua xã nên diện tích đất giảm
- Đất phi nông nghiệp năm 2017 tăng 6,74 (ha) so với năm 2015 do quá trình
đô thị hóa diễn ra nhanh hình thành các khu vui chơi, giải trí,…
4.1.1.5 Điều kiện tài nguyên khoáng sản
a Tài nguyên rừng
Xã Mỹ Hưng có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 3091.85ha trong đó đất rừng phòng hộ là 2276.59ha (chiếm 73.63%) và đất rừng sản xuất là 815.26ha (chiếm 26.37%)
Một số loại lâm sản gỗ có giá trị kinh tế, bảo tồn trên địa bàn như nghiến, dẻ Bên cạnh đó còn có các loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế như cây mây, cây dược liệu (Kim tuyến, Cút mây ), động vật hoang dã (gà rừng, rắn, chim chóc )
b Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt trên địa bàn xã gồm có hệ thống sông như sông Bằng Giang Bên cạnh đó còn có hệ thống suối, hệ thống kênh mương, ao nằm rải rác trong xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt và cung cấp nước sản xuất của nhân dân
Nguồn nước ngầm trên địa bàn xã chưa được điều tra thăm dò đánh giá cụ thể
4.1.1.6 Thực trạng nước sạch và môi trường
Trang 34- Nước sinh hoạt của nhân dân trong xã Mỹ Hưng được cung cấp thông qua
hệ thống bể chứa nước và ống dẫn từ đầu nguồn về các điểm dân cư tại các xóm Nà Thắm, Nà Bó, Nặm Tốc Còn lại một số xóm khác là do nhân dân tự đầu tư bể, ống dẫn nước từ đầu nguồn các khe về đến gia đình để sinh hoạt vì vậy nước không hợp
vệ sinh
- Các hoạt động có nguy cơ làm suy giảm môi trường (nước thải, rác thải, chặt phá rừng) đang diễn ra theo chiều hướng không tốt: Chất thải, rác thải, nước thải trong sản xuất và trong sinh hoạt được người dân xả thẳng ra môi trường, nên có khả năng gây nguy cơ cao về ô nhiễm môi trường
- Trên địa bàn xã chưa có nghĩa trang nhân dân theo quy hoạch Chủ yếu các
hộ vẫn đang tiến hành chôn cất ngay trong vườn hoặc rẫy gần nhà để thuận tiện cho việc trông coi và hương khói
4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của xã Mỹ Hưng
Số lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng
Cơ cấu (%)
Trang 35Qua bảng 4.2 ta thấy:
Có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua 3 năm gần đây Tỷ trọng nghành nông nghệp chiếm cao nhất qua các năm tuy nhiên nó có xu hướng giảm qua các năm trong khi tỷ trọng ngành CN-XD và ngành TM-DV có xu hướng ngày càng tăng
Năm 2017 tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm 0,8% so với năm 2016 và giảm 2,59% so với năm 2015 do giá bán nhiều loại sản phẩm nông nghiệp ở mức thấp trong khi giá vất tư nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao gây khó khăn trong việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, dịch bệnh trên gia súc gia cầm vẫn xảy ra Không chỉ ở chăn nuôi mà trồng trọt cũng bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh và thời tiết
Ngành CN-XD năm 2017 tăng 0,4% so với năm 2016 và tăng 0,83% so với năm 2015
Khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển thì tốc độ tăng của ngành TM-
DV sẽ cao đóng góp của một số ngành vào mức tăng trưởng là bán buôn và bán lẻ Năm 2017 GTSX ngành TM-DV tăng 0,4% so với năm 2016 và tăng 1,76% GTSX của ngành luôn được người dân chú trọng đầu tư vì đây là ngành mà thu lại được nhiều lợi nhuận khi xã hội ngày càng phát triển sự đáp ứng đầy đủ dịch vụ là là yếu quan trọng Các dịch vụ ngày càng phát triển thì đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao
4.1.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp
Thực hiện quyết định số 2399/QĐ – UBND ngày 26 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban nhân dân huyện Phục Hòa về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội năm 2017 và nghị quyết hội đồng nhân dân xã Mỹ Hưng kỳ họp thứ 3 nhiệm
kì 2016-2021 về việc phê chuẩn kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2017 Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hưng xây dựng kế hoạch và tập trung chỉ đạo các ban ngành trong
xã, giao chỉ tiêu cho các xóm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội năm 2017 Trong năm 2017 thực hiện đạt kết quả sau:
a, Trồng trọt
Chỉ đạo nhân dân chuẩn bị các giống cây trồng, phân bón sản xuất nông
nghiệp, thực hiện các biện pháp chống rét cho cây trồng Qua bảng dưới đây có thể
thấy tông diện tích sản xuất cây lương thực không có sự biến động qua 3 năm
Trang 36- Cây lương thực trên địa bàn xã chủ yếu là lúa và ngô với tổng diện tích gieo trồng là 362.73 ha Sản lượng cây lương thực năm 2017 đạt 1728,17 tấn
- Cây công nghiệp ngắn ngày: Chủ yếu là lạc, đỗ tương và mía với tổng diện tích gieo trồng là 179.84 ha Sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày năm 2017 là 10898.6 tấn
Cây mía là cây công nghiệp ngắn ngày chủ lực của xã Qua bảng ta thấy tổng diện tích cây mía qua 3 năm tăng lên, năm 2015 tổng diện tích là 150,87 ha, năm 2017
đã tăng lên 164,84 ha Năng suất đạt 660,5 tạ/ha, do được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo xã đến công tác áp dụng KHKT vào trong sản xuất, chọn giống lúa phù hợp và phân bón tốt với khí hậu và đạt được năng suất cao
Ngoài những cây trồng chính như lúa, ngô, mía… thì xã còn mở rộng trồng những loại cây như năm 2017: Sắn là 35,45 ha, giúp cho người dân tăng thêm thu nhập cải thiện cuộc sống
Ngoài việc tìm ra các giống mới tăng năng suất thì xã còn thực hiện dọn, tu sửa kênh mương thủy lợi để phục vụ tốt nước tưới tiêu cho bà con trong xã Xã đã kết hợp với công ty, xí nghiệp để đảm bảo giống, phân bón và đầu ra sản phẩm cho
bà con nông dân
Bảng 4.3 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính qua 3 năm
STT Cây
trồng
DT (ha)
NS (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
DT (ha)
NS (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
DT (ha)
NS (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 37(Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hưng)
Theo số liệu thống kê bảng 4.4 của UBND xã thì tổng đàn trâu năm 2017 có
456 con, đạt 79.72% so với năm 2016, số lượng này so với năm 2015 giảm 61 con
Số lượng đàn giảm nguyên nhân nhu cầu cày kéo của các hộ nhân dân giảm đi Tổng
số lượng đàn bò năm 2017 là 60 con so với năm 2015 tăng 2 con Tổng số đàn dê năm 2015 là 410 con đến năm 2017 tổng số đàn dê tăng lên 414 con Có được như vậy là nhờ sự hướng dẫn tận tình của cán bộ thú y về kĩ thuật chăn nuôi Tổng số đàn lợn trên xã năm 2017 là 1330 con so với năm 2015 số lượng đàn lợn giảm đi 4 con
Trang 38Ngoài ra đàn gia cầm năm 2015 có 11665 con đến năm 2017 tăng lên 2,8% so với
2015
UBND xã thường xuyên phối hợp với trạm thú ý thành phố tiêm phòng dịch bệnh và phun thuốc khử trùng đến từng xóm, dọm xóm, hướng dẫn nhân dân tổng vệ sinh chuồng trại và chữa trị bệnh cho gia súc, gia cầm theo hướng dẫn của thú y cấp trên Do thực hiện tốt các biện pháp phòng chống và chữa trị bệnh cho gia súc, gia cầm nên trong năm không có dịch bệnh xảy ra trên địa bàn
Trong những năm qua trên địa bàn xã cũng chịu ảnh hưởng một phần nhỏ của rét đậm, rét hại
c Lâm nghiệp
Với diện tích đồi núi lớn xã Mỹ Hưng đã triển khai nhiều chương trình khuyến khích bà con trong rừng phủ xanh đồi trọc và mang lại hiệu quả kinh tế cao Tổng diện tích rừng trên địa bàn xã năm năm 2017 là 3091.85 ha, trong đó rừng phòng hộ
là 2276.59 ha, rừng sản xuất là 815.26 ha
Năm 2017 UBND đã phối hợp với kiểm lâm phụ trách địa bàn thiết kế trồng rừng ttrên địa bàn xã 3,5 ha/2,5 ha KH, đạt 140% KH giao Do làm tốt công tác tuyên truyền phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn xã nên trong năm không để xảy ra vụ cháy nào
4.1.2.3 Tình hình nhân khẩu và lực lượng lao động của xã
Cùng với đất đai lao động là yếu tố đặc biệt quan trọng trong mọi quá trình sản xuất của tất cả các ngành nghề, điều càng thể hiện rõ trong sản xuất nông nghiệp nhất là khi trình độ cơ giới hóa ở nước ta còn thấp Chính vì vậy cần phải có những biện pháp tổ chức sử dụng hợp lý lao động
Hiện nay, lao động trong độ tuổi lao động của xã Mỹ Hưng là 1800 người, trong đó lao động nữ là 752 người chiếm tỉ lệ 41.8% tổng số lao động Tình hình biến động dân số giai đoạn 2015-2017 tăng không đáng kể được thể hiện qua bảng dưới đây
Trang 39Bảng 4.5 Tình hình dân số và lao động của xã Mỹ Hưng 3 năm qua
Cơ cấu (%) 2016/2015 2017/2016 BQ
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của tác giả)
Trang 40Qua bảng 4.5 về tình hình dân số và lao động của xã trong 3 năm qua cho thấy: Tổng số nhân khẩu của xã qua 3 năm tăng lên, năm 2015 tổng số nhân khẩu của xã là 2367 người, năm 2016 số lượng tăng rất thấp lên 2402 người, năm 2015 là
2367 người, tăng bình quân mỗi năm 1.5% Trong đó tổng số nhân khẩu nam và nhân khẩu nữ không có sự chênh lệch quá lớn riêng năm 2017 có 50.85% là nhân khẩu nam, 49.15% là nhân khẩu nữ
Cùng với sự tăng lên của dân số (nhân khẩu) thì số hộ của xã cũng không ngừng tăng lên điều đó khẳng định tỷ lệ sinh của xã ổn định qua các năm Số hộ năm
2015 của xã là 594, đến năm 2017 số hộ tăng lên 599 hộ trong xã, qua 3 năm đã tăng lên 5 hộ, tăng bình quan 0.1%/ năm Tỉ lệ giới tính nam làm chủ hộ chiếm tỷ lệ lớn, năm 2017 chiếm 85.15% còn lại là chủ hộ nữ chiếm 12.85%, chủ hộ là nam giới gấp khoảng 7.5 lần
Lao động tăng bắt nguồn từ việc dân số tăng Trong 3 năm qua số lượng lao động trong toàn xã tăng nhưng ở mức thấp Tỷ lệ lao động nam và nữ của xã có sự chênh lệch khá lớn, số lượng lao động nam luôn chiếm tỷ lệ cao hơn, năm 2017 số lao động nam chiếm tới 58.2%, còn lao động nữ chỉ chiếm 41.8%
Một số chỉ tiêu BQ cho thấy số nhân khẩu Bình quân/hộ qua 3 năm tăng nhẹ
cụ thể năm 2015 là 3,98 (người/hộ) đến năm 2017 đã tăng lên 4.02 (người/hộ); tỷ lệ người đạt đủ tuổi lao động của xã tăng lên năm 2015 là 2,98 (lao động/hộ) đến năm
2017 là 3.01 (lao động/hộ) Số nhân khẩu/lao động của xã tăng qua 3 năm, năm 2015
là 1,33 (người/lao động) đến 2017 số lượng đó tăng lên 1,34 (người/lao động) điều
đó có nghĩa một người lao động sẽ nuôi 1,34 người
4.1.2.4 Cơ sở hạ tầng của xã
Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới của chính phủ Xã đã tập chung chỉ đạo các tổ chức thành viên, các thôn thực hiện nhiễm vụ xây dựng nông thôn mới theo đúng kế hoạch
- Kết hợp với các phòng ban hướng dẫn cho người dân cách gieo trồng mới
Rà soát đánh giá thực trạng nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia
- Đôn đốc ban quản lý, ban phát triển nông thôn, thực hiện lồng ghép nguồn vốn, huy động mọi nguồn lực các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn xây