nghiệp: Trường hợp tỉnh Đồng Tháp.Lý do chọn đề tài: Công tác kiểm tra tuân thủ thuế là một trong những nhiệm vụ trong tâm của ngành thuế tỉnh Đồng Tháp để hạn chế thất thu thuế doanh ng
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS BÙI THỊ MAI HOÀI
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 3thủ thuế của doanh nghiệp: Trường hợp tỉnh Đồng Tháp” là công trình nghiên cứucủa chính tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Thị Mai Hoài Các số liệu và kếtquả trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào khác.
Ngày 10 tháng 07 năm 2019
Tác giả
Phạm Thị Oanh
Trang 4nghiệp: Trường hợp tỉnh Đồng Tháp.
Lý do chọn đề tài: Công tác kiểm tra tuân thủ thuế là một trong những nhiệm
vụ trong tâm của ngành thuế tỉnh Đồng Tháp để hạn chế thất thu thuế doanh nghiệp.Vấn đề: Sự tự giác thực hiện pháp luật thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnhĐồng Tháp chưa được cải thiện, một số doanh nghiệp đã được kiểm tra vẫn vi phạm
ở các lần kiểm tra sau
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng
kỹ thuật khác biệt trong khác biệt (DID) với cỡ mẫu điều tra 144 doanh nghiệp (62doanh nghiệp thuộc nhóm tham gia và 62 doanh nghiệp thuộc nhóm so sánh) vàphương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia
Kết quả nghiên cứu: Tác động của hoạt động kiểm tra thuế làm giảm số tiền
vi phạm thuế của doanh nghiệp trung bình là 40,49 triệu đồng/doanh nghiệp Tuynhiên, hoạt động kiểm tra thuế ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê, nghĩa làkhông giúp làm giảm số lần vi phạm thuế về kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp.Kết luận và khuyến nghị: Đề tài đề xuất các khuyến nghị gồm: Tuyền truyền,phổ biến luật thuế cho doanh nghiệp; Nâng cao kiến thức về thuế cho doanh nghiệp;Cải cách trong công tác kiểm tra thuế; Nâng cao nguồn nhân lực thực hiện công táckiểm tra thuế; Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm tra thuế; Tăngcường giám sát, đôn đốc xử lý sau kiểm tra thuế; Phối hợp với các cơ quan chứcnăng trong công tác kiểm tra thuế
Từ khóa: Kiểm tra thuế, tuân thủ thuế, khác biệt trong khác biệt, Đồng Tháp.
Trang 5Dong Thap province.
Reason for writing: Tax compliance inspection is one of the tasks in DongThap's tax industry to limit the loss of corporate tax
Problem: The voluntary implementation of the tax law of enterprises in DongThap province has not been improved, some businesses have been checked stillviolating the following inspection times
Methods: Using quantitative research methods with Difference in differencestechniques (DID) with sample size surveyed 144 enterprises (62 enterprises of theparticipating group and 62 enterprises of the comparison group) and in-depthinterview expert method
Results: The impact of tax inspection reduces the amount of tax violation ofenterprises by an average of 40.49 million VND / enterprise However, the effect oftax inspection is not statistically significant, which means that it does not helpreduce the number of tax violations on tax declaration and payment by enterprises.Conclusions and implications: The thesis proposes recommendationsincluding: Propagating and disseminating tax laws to enterprises; Improve taxknowledge for businesses; Reform in tax inspection; Improve human resources toimplement tax inspection; Applying information technology to tax inspection;Strengthen supervision and urge handling after tax inspection; Coordinate withfunctional agencies in tax inspection
Keywords: tax inspection, Difference in differences, Dong Thap.
Trang 6TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN 1
TÓM TẮT 2
ABSTRACT 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 9
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu thực hiện đề tài, câu hỏi chính sách cần trả lời 2
1.2.1 Mục tiêu thực hiện đề tài 2
1.2.2 Câu hỏi giải pháp cần trả lời 2
1.3 Khung phân tích, đối tượng nghiên cứu, dữ liệu và cách tiếp cận 3
1.3.1 Khung phân tích 3
1.3.2 Cách tiếp cận, đối tượng nghiên cứu và dữ liệu 3
1.4 Bố cục của luận văn 4
1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn 4
1.6 Kỳ vọng kết quả thực hiện luận văn 6
Chương 2 KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN 7
2.1 Các khái niệm 7
2.1.1 Thuế và quản lý thuế 7
2.1.2 Tuân thủ thuế 7
2.1.3 Không tuân thủ thuế 9
2.1.4 Các mức độ tuân thủ và không tuân thủ thuế 9
2.1.5 Kiểm tra thuế 10
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp 12
Trang 72.2.4 Công tác kiểm tra thuế 14
2.2.5 Kiến thức về thuế của NNT 15
2.2.6 Nhận thức về hình phạt và phạm tội 16
2.2.7 Tình trạng tài chính của NNT 16
2.2.8 Các yếu tố liên quan đến đặc điểm doanh nghiệp 17
2.3 Khung phân tích 18
2.3.1 Khung phân tích 18
2.3.2 Mô tả và định nghĩa các biến trong khung phân tích 18
2.4 Dữ liệu nghiên cứu 22
2.5 Cách tiếp cận và kỹ thuật sử dụng để thực hiện đề tài 23
Tóm tắt Chương 2 24
Chương 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA THUẾ ĐẾN TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP 25
3.1 Thực trạng công tác quản lý thuế của Cục thuế tỉnh Đồng Tháp 25
3.1.1 Công tác tổ chức trong hoạt động kiểm tra 25
3.1.2 Công tác quản lý, kiểm tra thuế doanh nghiệp giai đoạn 2015 - 2018 28
3.1.3 Công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT 31
3.1.4 Công tác quản lý và kê khai kế toán thuế 32
3.2 Tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 32
3.2.1 Số tiền thuế vi phạm, số lần vi phạm của mẫu điều tra 32
3.2.2 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm xử lý và nhóm kiểm soát 33
3.2.3 Tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 34
Tóm tắt chương 3 35
Trang 8thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 36
4.1.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân của kết quả đạt được 36
4.1.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 38
4.2 Kết luận 41
4.3 Một số khuyến nghị 41
4.3.1 Tuyền truyền, phổ biến luật thuế cho doanh nghiệp 44
4.3.2 Nâng cao kiến thức về thuế cho doanh nghiệp 44
4.3.3 Cải cách trong công tác kiểm tra thuế 42
4.3.4 Nâng cao nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm tra thuế 42
4.3.5 Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm tra thuế 45
4.3.6 Tăng cường giám sát, đôn đốc xử lý sau kiểm tra thuế 46
4.3.7 Phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra thuế 47
4.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
PHỤ LỤC 2: DÀN BÀI PHỎNG VẤN SÂU DOANH NGHIỆP
PHỤ LỤC 3: DÀN BÀI PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ THUẾ
Trang 10Bảng 2.2: Các chỉ số đặc trưng cho từng cấp độ tuân thủ thuế của DN 10
Bảng 2.3: Cơ cấu mẫu điều tra theo loại hình DN 19
Bảng 2.4: Cơ cấu mẫu điều tra theo ngành nghề kinh doanh 20
Bảng 2.5: Cơ cấu mẫu điều tra theo thời gian hoạt động 20
Bảng 2.6: Phân loại DN nhỏ và vừa ở Việt Nam 21
Bảng 2.7: Cơ cấu mẫu điều tra theo quy mô DN 21
Bảng 2.8: Cơ cấu mẫu điều tra theo tình trạng tài chính 22
Bảng 2.9: Cơ cấu mẫu điều tra theo kiến thức về thuế của DN 22
Bảng 3.1: Cơ cấu lực lượng kiểm tra thuế giai đoạn 2015 - 2018 26
Bảng 3.2: Tỷ lệ số thuế truy thu và phạt/ tổng thu NSNN 30
Bảng 3.3: Vi phạm thuế của các DN trong mẫu điều tra năm 2018 33
Bảng 3.4: Khác biệt giữa 2 nhóm tại thời điểm chưa thực hiện kiểm tra (năm 2015) 33
Bảng 3.5: Tác động của việc kiểm tra thuế đến số tiền thuế vi phạm 34
Bảng 3.6: Tác động của việc kiểm tra thuế đến số lần vi phạm 35
Trang 11Hình 2.2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép 24
Hình 3.1: Các bước kiểm tra thuế 27
Hình 3.2: Tỷ lệ nộp tờ khai thuế và tỷ lệ thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế 29
Hình 3.3: Số tiền vi phạm và tiền vi phạm đã nộp vào NSNN 29
Hình 3.4: Số tiền vi phạm và tiền vi phạm đã nộp vào NSNN bình quân của 1 DN vi phạm 30
Trang 12Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Từ năm 2003, ngành thuế Việt Nam bắt đầu thực hiện cơ chế người nộp thuế(NNT) tự khai, tự nộp thuế Theo đó, NNT tự xác định số thuế phải nộp, tự nộp thuếvào ngân sách nhà nước (NSNN) trong thời hạn luật định Đồng thời, tự chịu tráchnhiệm đối với việc kê khai, nộp thuế Cơ quan thuế không can thiệp trực tiếp vào việc
kê khai, nộp thuế của NNT trừ trường hợp phát hiện ra sai sót, vi phạm hoặc có dấuhiệu không tuân thủ thuế Đây là bước ngoặt chuyển sang quản lý thuế hiện đại, theotiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam theo hướng chặt chẽ, hiệu quả, thống nhấtchính sách quản lý thu thuế; tạo sự đồng bộ, nâng cao tính rõ ràng, minh bạch; tăngcường vai trò kiểm tra giám sát của Nhà nước, xãhôịtrong công tác quản lý thuế
Quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hòi tính tự giác tuân thủ phápluật của NNT Witte và Woodbury (1983) nhận thấy rằng “xác suất của sự trót lọttrong việc không tuân thủ là yếu tố quan trọng nhất khiến cho tình trạng không tuânthủ thuế ngày càng gia tăng Trong trường hợp phạt tiền, xem như là một người hoạtđộng kinh tế hợp lý, tối đa hoá độ thỏa dụng của họ thông qua thực hiện phép tínhnhân giữa xác suất bị phát hiện, số tiền giữ lại được nhờ trốn thuế và so sánh với sốtiền phạt tiềm năng” Như vậy, nếu NNT tuân thủ thuế kém mà cơ quan thuế khôngthể phát hiện hành vi gian lận thuế của NNT thì cơ chế tự khai, tự nộp thuế sẽ khôngphát huy hiệu quả
Đồng Tháp là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nhữngnăm qua, doanh nghiệp (DN) ở tỉnh Đồng Tháp có sự tăng trưởng nhanh về số lượng vàquy mô Tính đến hết năm 2018, tỉnh Đồng Tháp có 13.250 DN đang hoạt động Nguồnthu thuế từ khu vực DN đóng góp 39,3% trong tổng thu NSNN trên địa bàn tỉnh (Cụcthuế tỉnh Đồng Tháp, 2018) Tuy nhiên, công tác quản lý thuế DN tại tỉnh Đồng Thápđang đứng trước thách thức vừa phải thu đúng, thu đủ, hạn chế thất thoát thuế để cónguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, vừa phải thực hiện tốtcông tác cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, hỗ trợ tốt cho hoạt
Trang 13động của DN, tạo sự bình đẳng, công bằng giữa các DN.
Ngành thuế tỉnh Đồng Tháp xác định, để hạn chế thất thu thuế DN, bên cạnhcác giải pháp tuyên truyền, tư vấn thuế cho DN thì tăng cường công tác kiểm tratuân thủ thuế là một trong những nhiệm vụ trong tâm Giai đoạn 2012 - 2017, thôngqua công tác kiểm tra, ngành thuế tỉnh Đồng Tháp đã phát hiện 1.213 DN gian lậnthuế (chiếm 28,9% số DN trên địa bàn), kê khai sai để giảm bớt số thuế phải nộp,tăng số thuế được giảm, miễn, được hoàn với tổng số thuế phạt và truy thu là 939,7
tỷ đồng, bằng 3,5%/tổng thu NSNN
Theo Cục thuế tỉnh Đồng Tháp (2018), sự tự giác tuân thủ pháp luật thuế của
DN chưa được cải thiện, một số DN đã được kiểm tra vẫn vi phạm ở các lần kiểmtra sau Câu hỏi đặt ra là hoạt động kiểm tra của ngành thuế tỉnh Đồng Tháp có tạođược sự ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của NNT hay không?
Cho đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về công tác kiểm tra thuế đốivới DN, nhưng chưa có đề tài nào đánh giá mức độ ảnh hưởng của hoạt động kiểmtra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn đề tài: “Ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp: Trường hợp tỉnh Đồng Tháp” để làm luận
văn thạc sĩ
1.2 Mục tiêu thực hiện đề tài, câu hỏi chính sách cần trả lời
1.2.1 Mục tiêu thực hiện đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuếcủa DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Mục tiêu 2: Tìm hiểu nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng của hoạt động kiểmtra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Mục tiêu 3: Khuyến nghị nhằm cải thiện hoạt động kiểm tra thuế để nâng caomức độ tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
1.2.2 Câu hỏi giải pháp cần trả lời
Để đạt mục tiêu trên, luận văn tập trung trả lời các câu hỏi sau đây:
Trang 14Hoạt động kiểm tra thuế ảnh hưởng như thế nào đến tuân thủ thuế của DN trênđịa bàn tỉnh Đồng Tháp?
Nguyên nhân dẫn đến kết quả tác động đó là gì?
Giải pháp nào có thể cải thiện tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến mức
độ tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp?
1.3 Khung phân tích, đối tượng nghiên cứu, dữ liệu và cách tiếp cận
1.3.1 Khung phân tích
Tác giả sử dụng lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuếcủa DN làm khung phân tı́ch nhằm thực hiện mục tiêu của luận văn
1.3.2 Cách tiếp cận, đối tượng nghiên cứu và dữ liệu
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, tác giả sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt(DID) của phương pháp bán thí nghiệm Cụ thể, tác giả chọn 2 nhóm đối tượngnghiên cứu là những DN có điều kiện tương đồng về mọi khía cạnh, chỉ khác nhau ởchỗ một nhóm gồm những DN đã được kiểm tra thuế 2 lần, ở thời điểm năm 2015
và năm 2018 (gọi là nhóm tham gia hay còn gọi là nhóm xử lý); nhóm còn lại lànhững DN chỉ được kiểm tra thuế lần đầu vào năm 2018 mà trước đó chưa đượckiểm tra thuế (gọi là nhóm so sánh hay còn gọi là nhóm kiểm soát)
Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp gồm số liệu thống kê về hoạt động kiểm trathuế của tất cả các DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 2015 - 2018; Sốliệu thống kê về kiểm tra thuế của 144 DN (62 DN thuộc nhóm tham gia và 62 DNthuộc nhóm so sánh)
Đểtrảlời câu hỏi thứhai, tác giảsửdungg̣ kỹ thuật phỏng vấn sâu các đối tươngg̣
có liên quan đến công tác kiểm tra thuế DN (DN, cán bộ của Cục thuế tỉnh Đồng
Tháp làm công tác kiểm tra thuế DN) đểtı̀m hiểu nguyên nhân dẫn đến kết ̉quaảnhhưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh ĐồngTháp
Trên cơ sở câu trả lời của câu hỏi thứ 2, tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằmcải thiện hoạt động kiểm tra thuế để nâng cao mức độ tuân thủ thuế của DN trên địabàn tỉnh Đồng Tháp
Trang 151.4 Bố cục của luận văn
Ngoài danh mucg̣ các chữviết tắt, danh mục các bảng, hình vẽ,̀italiêụ tham khảo
và phụ lục thì luâṇ văn đươcg̣ kết cấu như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Khung phân tı́ch, dữliêụ vàcách tiếp câṇ
Chương 3: Đánh giá tác đôngg̣ của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuếcủa DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Chương 4: Nguyên nhân dẫn đến kết ̉quatác đông,g̣ kết luâṇ vàmột số khuyếnnghị
1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn
Theo hiểu biết của tác giả thì hoạt động kiểm tra thuế DN thu hút nhiều nhànghiên cứu, tuy nhiên cho đến hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu về tác độngcủa hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt (DID) của phương pháp bán thí nghiệm
Có thể kể tên một số nghiên cứu tiêu biểu sau:
Nguyễn Chí Dũng (2009) đã phân tích vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế đốivới tính tuân thủ của NNT Tác giả đã đưa ra bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra,kiểm tra thuế như: Tỷ lệ (%) số cuộc thanh tra, kiểm tra/ số DN trong vòng 1 năm;
tỷ lệ (%) độ chính xác trong phân tích hồ sơ so với kết quả thanh tra, kiểm tra
Lê Thị Phương Thảo (2009) phân tích thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế qua
ba nội dung: Đăng ký thuế; kê khai, tính thuế và nộp thuế; chấp hành kế toán chứng
từ, hóa đơn Kết quả cho thấy, để đổi mới công tác kiểm tra, thanh tra thuế cần tậptrung vào các nội dung: Xây dựng bộ tiêu chí, đánh giá, lựa chọn xếp loại DN đểxây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế cho phù hợp; phân cấp quản lý DN chocác chi cục thuế để chủ động trong công tác quản lý thuế
Ngô Thị Thu Hương (2011) đã kế thừa các nghiên cứu trước và đưa ra nhữngtiêu chí đính tính, định lượng về hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế, nêu lên được cácnhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế như: trình độ dân trí, điềukiện kinh tế xã hội, cơ chế quản lý thuế, mô hình quản lý thuế
Trang 16Võ Đức Chín (2011) đã đề xuất mô hình nghiến cứu các yếu tố tác động đếntuân thủ thuế của DN tại tỉnh Bình Dương gồm có 6 nhóm nhân tố: (1) Đặc điểm vềDN; (2) Các yếu tố về ngành kinh doanh; (3) Các yếu tố về xã hội; (4) Các yếu tốkinh tế; (5) Các yếu tố về hệ thống thuế; (6) Các yếu tố tâm lý DN Kết quả phântích số liệu khảo sát 200 DN bằng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá và hồi quy
đa biến cho thấy cả 6 nhóm nhân tố đều ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của DN Trong
đó, các yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến tuân thủ thuế là yếu tố kinh tế; hệ thống thuế
và đặc điểm DN
Phan Thị Minh Hiền (2012) trình bày lý luận hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuếvới các nội dung: khái niệm và các tiêu chí xác định hiệu quả kiểm tra, thanh tra tuế.Hiệu quả của thanh tra, kiểm tra thuế được xác định qua các tiêu chí: số thu tăng,chi phí thấp, mức độ thực thi pháp luật và công bằng xã hội
Lê Tự Cư (2012) nghiên cứu về kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại Chi CụcThuế quận Hải Châu Kết quả cho thấy, công tác kiểm soát thuế giá trị gia tăng thực
sự chưa đạt hiệu quả như yêu cầu, chưa bao quát hết các hoạt động của DN Môitrường kiểm soát thuế bị hạn chế nhiều mặt, chưa có hướng dẫn chi tiết về nghiệp
vụ, kỹ năng chuyên môn cho cán bộ thuế làm công tác kiểm tra thuế DN
Hồ Hoàng Trường (2012) sử dụng mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là côngtác thanh, kiểm tra với ba biến độc lập gồm biến mối quan hệ giữa cơ quan thuế và
DN, biến cơ quan thuế và biến DN Kết quả cho thấy công tác thanh, kiểm tra thuế
có mối quan hệ tuyến tính với ba biến độc lập trên Do đó để nâng cao chất lượngcông tác thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai, tác giả đề xuất là phải tìm cách cải thiệncác hệ số trong mô hình mà cụ thể là phải tác động vào các yếu tố Cục Thuế, DN,mối liên hệ giữa cơ quan thuế và DN
Nguyễn Diệu Thủy (2013) sử dụng số liệu thứ cấp với các phương pháp nhưphương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích dựa trên các tiêu chí như: Quy mô của DN,loại hình DN, mức độ tuân thủ nộp thuế, tình hình kê khai, nộp thuế của DN, cơ cấu tổchức của DN, hiệu quả sản xuất kinh doanh, các năm đã thực hiện thanh tra, kiểm tra
DN Kết quả cho thấy, công tác thanh tra, kiểm tra thuế đã góp phần nâng cao dần
Trang 17tính tuân thủ tự giác trong việc chấp hành các chính sách thuế của NNT tại CụcThuế tỉnh Vĩnh Phúc; tạo sự công bằng, bình đẳng giữa các DN thuộc các thànhphần kinh tế trên địa bàn tỉnh.
Mahmoud Moeinadin và cộng sự (2014) xây dựng mô hình các nhân tố ảnhhưởng đến tuân thủ thuế tại Iran gồm có 4 nhân tố: luật pháp, xã hội, cấu trúc hệthống thuế, nhóm nhân tố riêng của DN Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuậtphân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy đa biến để phân tích số liệu khảo sát
239 DN Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 nhóm nhân tố đều có tác động cùngchiều đến tuân thủ thuế của DN
Trần Hoàng Thành và Phạm Khánh Nam (2017) nghiên cứu về hành vi viphạm về thuế của các DN qua công tác thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh KiênGiang Mô hình hồi quy bội các yếu tố ảnh hưởng đến vi phạm thuế của DN gồm có
6 biến độc lập: Ngành nghề kinh doanh; Loại hình DN; Quy mô DN; Trình độ họcvấn chủ DN/Người quản lý; Thời gian hoạt động; Bị xử phạt về thuế trong quá khứ.Với kích thước mẫu là 300, kết quả cho thấy ở mức ý nghĩa 5%, vi phạm về thuếchịu ảnh hưởng bởi 3 yếu tố: Quy mô DN; Học vấn người quản lý DN; Bị xử phạt
về thuế trong quá khứ
1.6 Kỳ vọng kết quả thực hiện luận văn
Luận văn này hướng đến mục tiêu đánh giá tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Đồng thời, tı̀m hiểu nguyên nhân dẫn đến kết ̉quatác đôngg̣ đó Trên cơ sởtı̀m hiểu nguyên nhân, tác giả kỳvongg̣ se
đưa ra đươcg̣ các khuyến nghi g̣ chính sách nhằm cải thiện hoạt động kiểm tra thuế
Từđónâng cao mức độ tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Trang 18Chương 2 KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Thuế và quản lý thuế
Theo Tổng Cục thuế (2009) thì “Thuế là một bộ phận của cải xã hội được tậptrung vào NSNN, theo đó các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc mộtphần của cải của mình cho nhà nước mà không gắn bất kỳ sự ràng buộc nào về sựhoàn trả lợi ích tương quan với số thuế đã nộp nhằm trang trải các chi phí duy trì sựtồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công cộng, đem lại lợi ích chungcho cộng đồng”
Luật quản lý thuế Việt Nam (2006) định nghĩa “Quản lý thuế là quá trình thựcthi các chức năng đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, quản lý hoànthuế, giảm thuế, miễn thuế; quản lý xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin vềNNT, kiểm tra, thanh tra, cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý
vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế”
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đã chuyển đổi cơ chế quản lý thuế
là tự khai, tự nộp Đặc điểm của cơ chế này là NNT tự tính toán số tiền thuế phảinộp và tự nộp số tiền đó NNT phải tự chịu trách nhiệm về việc kê khai và nộp thuế
Cơ quan thuế có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra công việc kê khai của NNT
2.1.2 Tuân thủ thuế
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tuân thủ thuế Alm (1991) cho rằng “Tuânthủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thựchiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của tòa án”
Tuân thủ thuế là mức độ NNT chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trongluật thuế (James và Alley, 1999) Singh (2003) cho rằng “Tuân thủ thuế là hànhđộng của người nộp tờ khai thuế, công khai chính xác tất cả các khoản thu nhậpchịu thuế và thanh toán đầy đủ các khoản thuế phải nộp trong thời hạn quy định màkhông phải chờ đợi hành động từ cơ quan thuế”
Tuân thủ thuế theo quan điểm quản lý công bao gồm đăng ký, thông báo đến cơ
Trang 19quan thuế về tình trạng của NNT, nộp tờ khai thuế và tuân thủ thời hạn thanh toántheo quy định (Harris, 1989; Chow, 2004) Tuân thủ thuế yêu cầu NNT phải có kiếnthức đầy đủ về thuế, đạt mức độ trung thực nhất định, có khả năng hoàn thành tờkhai thuế, các hồ sơ thuế kịp thời, chính xác và đầy đủ (Sing và Bhupalan, 2001).
Theo McBarnet (2001) thì “Tuân thủ thuế được nhìn nhận theo 3 cách: tuân thủsẵn sàng nộp thuế mà không khiếu nại; tuân thủ có điều kiện miễn cưỡng nộp tờ khai vànộp thuế; tuân thủ có sáng tạo để giảm thiểu nghĩa vụ thuế bằng cách xác định lại thunhập và khấu trừ các khoản chi phí theo quy định của luật thuế” Như vậy, có thể hiểutuân thủ thuế là việc NNT nộp tờ khai, khai báo chính xác thu nhập, xác nhận chính xáccác khoản khấu trừ, giảm thuế và thanh toán các khoản thuế đúng hạn
Tóm lại, tuân thủ thuế là một khái niệm rộng và có thể được xem xét từ nhiềukhía cạnh khác nhau, được tóm tắt tại bảng 2.1
Bảng 2.1: Mô tả các cách tiếp cận khác nhau về tuân thủ thuế
Tuân thủ thuế Cách tiếp cận kinh tế Cách tiếp cận hành vi
Tuân thủ 100% quy định Tự nguyện, sẵn sàng hành động theoGóc độ tiếp cận về thuế so với thực tế, xét tinh thần và từng quy định của luật
trên góc độ hẹp thuế, xét trên góc độ rộng hơn.Quyết định Dựa trên sự hợp lý về lợi Dựa trên hành vi hợp tác giữa NNT
Cân nhắc lựa chọn: Mỗi cá nhân không chỉ đơn thuần(1) Lợi ích mong đợi từ
là một cá thể độc lập chỉ biết tối đa
việc trốn thuế
hoá lợi ích cá nhân Họ tương tác
Mức độ chi tiết (2) Rủi ro bị phát hiện và
theo thái độ, niềm tin, tiêu chuẩn vàmức bị phạt
vai trò khác nhau Thành công dựa(3) Tối đa hóa thu nhập và
trên sự hợp tác
của cải cá nhân
Tuân thủ thuế Hiệu quả trong việc phân Hợp lý, công bằng và phạm vi tác
phối nguồn lực động tích cực
Hình ảnh NNT Ích kỷ tính toán lợi ích và “Công dân tốt”
thiệt hại bằng tiền
Nguồn: James và Alley (2004)
Trang 202.1.3 Không tuân thủ thuế
Rất khó để phân biệt giữa hành vi “tránh thuế” tức là tận dụng những khe hởcủa pháp luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp thuế và hành vi “trốn thuế” tức
sự vi phạm pháp luật (Bird và Oliver, 1990) Boidman (1983) định nghĩa 3 hìnhthức không tuân thủ thuế: (1) Không nộp tờ khai thuế; (2) Không kê khai thu nhậptrên tờ khai thuế; và (3) Giảm thu nhập chịu thuế bằng cách khai tăng các khoảnmiễn giảm, hay khấu trừ
Theo Kasipillai và Jabbar (2003), không tuân thủ thuế là việc không sẵn lòngtuân theo luật thuế và/hoặc khai báo không chính xác, thực hiện kê khai sai cáckhoản giảm trừ, miễn giảm thuế và/hoặc không thanh toán chính xác nghĩa vụ thuế,ngoài thời gian nộp thuế đã được quy định
2.1.4 Các mức độ tuân thủ và không tuân thủ thuế
Theo Ahmed và Braithwaite (2005) thì “cấp độ hay mức độ tuân thủ thuế của DNdựa trên mức độ sẵn sàng và khả năng thực hiện những nghĩa vụ thuế của DN Đâycũng chính là các cấp độ thể hiện mối quan hệ và thái độ của DN với cơ quan thuế, haythể hiện mức độ chấp nhận hay từ chối các quy định của luật thuế, công cụ quản lý thuthuế Để đánh giá sự tuân thủ thuế của DN thì biến số về cấp độ (mức độ) tuân thủ làbiến số đầy đủ phản ánh rõ sự tuân thủ cả về tính tự nguyện, tính đầy đủ, tính kịp thời
Sự tuân thủ thuế của DN được phân theo 4 cấp độ tuân thủ như sau:
Một là, cấp độ cam kết Ở cấp độ này DN cảm thấy thoải mái với hoạt độngquản lý thuế, hợp tác với cơ quan thuế theo các kế hoạch quản lý thuế và tuân thủmột cách tích cực, thậm chí có thể thay mặt cơ quan thuế khuyến khích đối tượngkhác tuân thủ
Hai là, chấp nhận hay hoà hợp, DN chấp nhận những yêu cầu quản lý thu thuế
và tin tưởng vào cơ quan thuế
Ba là, miễn cưỡng hay kháng cự, đó là cách tiếp cận chống đối, DN có sự đốiđầu, đối nghịch với cơ quan thuế
Bốn là, từ chối, DN hoàn toàn tách khỏi sự quản lý của cơ quan thuế
DN nộp thuế ở cấp độ thứ nhất hay thứ hai nói chung là tuân thủ trong khi ở
Trang 21nhóm đối tượng thứ ba và thứ tư thể hiện sự kháng cự và thù địch đối với nghĩa vụ thuế.
Theo mô hình các cấp độ tuân thủ thuế thì đa số DN là ở cấp độ cam kết, tiếp theo là cấp độ chấp nhận, rất ít DN ở cấp độ miễn cưỡng hay từ chối Tuân thủ thuế
ở mỗi cấp độ được thể hiện qua 3 chỉ số: (1) nộp đủ; (2) đúng thời gian; (3) tự nguyện (Ahmed và Braithwaite, 2005)”
Bảng 2.2: Các chỉ số đặc trưng cho từng cấp độ tuân thủ thuế của DN
Stt Cấp độ tuân thủ Nộp đủ Đúng thời gian Tự nguyện
Nguồn: Ahmed và Braithwaite (2005)
Như vậy, cấp độ “cam kết” được thể hiện ở ba chỉ số đều tốt là nộp đủ, nộpđúng thời gian, tự nguyện Cấp độ “chấp nhận” được thể hiện ở hai chỉ số tốt là nộp
đủ, nộp đúng thời gian Cấp độ “ miễn cưỡng” chỉ thể hiện ở một chỉ số tốt là nộp
đủ Cấp độ “từ chối” thì đều không nộp
“Mô hình các cấp độ tuân thủ của Ahmed và Braithwaite (2005) chỉ đúng đốivới các nước phát triển, nơi mà DN có tinh thần và đạo đức thuế cao và ít bị cản trởbởi các tác động kinh tế đến sự tuân thủ, nên không phù hợp với các nước đang pháttriển như Việt Nam, nơi có tinh thần thuế thấp và gánh nặng về chi phí tuân thủ quálớn” (Học viện Tài chính, 2010)
2.1.5 Kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động,giao dịch phát sinh đến nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chínhthuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT nhằm bảo đảm pháp luật thuế đượcthực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế xã hội (Tổng Cục Thuế, 2008)
Kiểm tra thuế là một trong những chức năng cơ bản của cơ quan quản lý thuếnhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp phát hiện vi phạm pháp
Trang 22luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm choNNT luôn ý thức rằng có một hệ thống luôn giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúcđẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế (Tổng Cục Thuế, 2008).
Theo Tổng Cục Thuế (2008) thì kiểm tra thuế nhằm các mục tiêu sau: (1) Pháthiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng trốn thuế, gian lận thuế; (2) Pháthiện những bất hợp lý, những kẽ hở trong các văn bản pháp luật thuế để kịp thời đềxuất với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung và xác lập các căn cứ hoàn thiệnchính sách thuế cũng như cơ chế quản lý thuế; (3) Điều tra, xác minh để làm sáng tỏkhiếu nại về thuế, làm căn cứ cho việc xử lý kịp thời những khiếu nại về thuế
Nguyên tắc kiểm tra thuế (Tổng Cục Thuế, 2008): (1) Hoạt động kiểm tra thuếphải tuân thủ theo pháp luật; (2) Hoạt động kiểm tra thuế phải chính xác, khách quan,trung thực; (3) Hoạt động kiểm tra thuế phải bảo đảm dân chủ, công khai, kịp thời;
(4) Hoạt động kiểm tra thuế không làm cản trở đến hoạt động bình thường của đối tượng nộp thuế
“Để xác định được kiểm tra thuế có hiệu quả hay không thì cần phải áp dụngcác tiêu chí đánh giá hiệu quả về mặt định lượng và định tính Các tiêu chí đánh giáhiệu quả là thước đo, là chuẩn mực để đánh giá tác dụng, hiệu quả kiểm tra thuế.Hiện tại, vẫn chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm tra thuế được côngnhận” (Trần Hoàng Thành và Phạm Khánh Nam, 2017)
Tuy nhiên, có thể tham khảo hệ thống 16 tiêu chí định lượng của NguyễnXuân Thành (2010) và 04 tiêu chí định tính mà Tổng Cục thuế (2010) xây dựngtheo chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2020
Theo Nguyễn Xuân Thành (2010), “các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quảthực tế của nghiệp vụ kiểm tra thuế đã được tiến hành Đó là kết quả cụ thể của việcthực hiện nhiệm vụ được giao hoặc kết quả đem lại của các nghiệp vụ kiểm tra thuế.Các tiêu chí này thường gồm: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số đối tượng kiểm tra sovới kế hoạch năm; Số thuế truy thu bình quân một DN; Tỷ lệ số thuế truy thu trên tổng
số thu NSNN; Tỷ lệ nợ đọng sau kiểm tra; Số tiền giảm lỗ sau kiểm tra; Số thuế GTGTcòn được khấu trừ chuyển kỳ sau giảm sau kiểm tra; Số thuế được miễn giảm
Trang 23bị loại qua kiểm tra; Chi phí kiểm tra bình quân; Tỷ lệ chi phí trên số thuế truy thu;Chỉ tiêu về thời gian kiểm tra bình quân một cuộc và tỷ lệ hoàn thành kế hoạch vềthời gian kiểm tra; Tình hình vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện qua kiểm tra; Sốđơn thư khiếu nại về thuế sau kiểm tra.”
Theo Tổng Cục thuế (2010), các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của hoạtđộng kiểm tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Bao gồm:
Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật, có thể đo lường được thông qua
so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng kiểm tra thuế qua các năm, đặcbiệt là những đối tượng đã được kiểm tra
Các hành vi vi phạm được phát hiện sau kiểm tra: qua kiểm tra đã thống kênhững hành vi vi phạm chủ yếu của NNT, từ đó đúc kết kinh nghiệm để thực hiệnkiểm tra tốt hơn Xu hướng tăng, giảm các hành vi vi phạm sau kiểm tra
Tác dụng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế, tạo sự công bằng cho đốitượng nộp thuế; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho đối tượng nộp thuế Đánhgiá tiêu chí này dựa vào việc xem xét tỷ lệ đối tượng nộp thuế bị truy thu thuế và xử
lý vi phạm hành chính
Tác dụng phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan thuế và tạo lòng tincủa NNT Đánh giá lĩnh vực này dựa vào tiêu chí tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm phápluật trong kiểm tra thuế; những vụ việc vi phạm được phát hiện xử lý
Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác kiểm tra được đánh giá theo quý,năm và được chia theo sắc thuế; hình thức kiểm tra; theo đối tượng nộp thuế và theonội dung kiểm tra
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của DN
2.2.1 Thuế suất
Ảnh hưởng của thuế suất đến hành vi tuân thủ thuế của NNT đã được xác nhậntrong nhiều nghiên cứu Gia tăng thuế suất có thể khuyến khích NNT trốn thuế nhiềuhơn (Ali và cộng sự, 2001; Torgler, 2007) trong khi việc giảm thuế suất có thể khônglàm tăng mức độ tuân thủ thuế (Trivedi và cộng sự, 2004; Kirchler, 2007) KTTzi(1980) nghiên cứu về mối quan hệ giữa các mức thuế suất với việc trốn thuế tại Hoa
Trang 24Kỳ và kết luận rằng tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa thuế suất và việc trốn thuế,nghĩa là thuế suất cao thì việc trốn thuế sẽ gia tăng.
Jamaica và cộng sự (1993) nhận thấy xác suất che giấu khi khai báo và mức độche giấu khi khai báo có liên quan đáng kể đến thuế suất Khi mức thuế suất, lợi ích
từ gian lận thuế càng lớn, vì vậy số tiền trốn thuế càng lớn Trong phạm vi một quốcgia, những NNT với thuế suất cao hơn sẽ gian lận nhiều hơn
Trong khi hầu hết nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng thuế suất tăng sẽ dẫnđến trốn thuế (Jackson và McKee, 1992; Friedland và cộng sự, 1978; Park và Hyun,2003) thì Allingham và Sandmo (1972) cho rằng “thuế suất không có ý nghĩa đáng
kể đối với việc trốn thuế Họ đã tìm hiểu mối quan hệ giữa thu nhập thực tế, thuếsuất, hình phạt và điều tra trốn thuế bằng cách sử dụng mô hình thống kê và kết luậnrằng NNT có thể chọn một trong hai cách báo cáo đầy đủ thu nhập hoặc báo cáo thunhập thấp hơn số thực tế phát sinh, bất kể thuế suất” Porcano (1988) cũng cho rằngthuế suất không tác động đến việc tuân thủ thuế của NNT
Bởi vì tác động của thuế suất đến việc tuân thủ thuế vẫn là vấn đề gây tranhcãi, McKerchar và Evans (2009) cho rằng “sự tin tưởng của NNT vào chính phủđóng vai trò quan trọng trong việc chứng thực tác động của thuế suất đến hành vituân thủ Khi niềm tin thấp, một mức thuế suất cao có thể được xem là không côngbằng và khi niềm tin cao, mức thuế suất cao như vậy có thể được xem như mộtkhoản đóng góp cho cộng đồng”
2.2.2 Tính đơn giản của việc kê khai thuế
Theo thời gian, hệ thống thuế ở nhiều quốc gia đã phát triển ngày càng trở nênphức tạp và trở thành một nguyên nhân có thể dẫn đến không tuân thủ (Jackson vàMilliron, 1986) Có quá nhiều chi tiết trong luật thuế hoặc yêu cầu tính toán quánhiều đã làm phức tạp hệ thống thuế Để tăng cường tuân thủ thuế thì những quy tắcnày cần hướng đến tính đơn giản, dễ hiểu và rõ ràng
Clotfelter (1983) và Richarson (2006) phát hiện tính phức tạp của hệ thốngthuế có liên quan đến việc không khai báo thuế hoặc trốn thuế
Tổ chức OECD (2001) cho rằng “pháp luật thuế ở nhiều nước còn chưa chính
Trang 25xác và chưa rõ ràng, và đây chính là mãnh đất màu mỡ cho các DN tích cực lợidụng để trốn hoặc tránh thuế” Điều này đặc biệt đúng ở các quốc gia đang pháttriển với công tác quản lý thuế và trách nhiệm giải trình kém, thiếu văn hóa thuế vàchế độ thuế phức tạp (Janscher, 1990).
Slemrod (1989) cho rằng “tờ khai thuế đơn giản và các quy định về thuế đơngiản sẽ tăng tính tuân thủ, đặc biệt đối với hệ thống tự khai tự nộp bởi vì khi đó,NNT không phải mất nhiều thời gian trong việc chứng thực tính chính xác của thunhập tính thuế theo quy định” Việc đơn giản hóa quản lý thuế là điều kiện thuận lợicho việc quản lý và tăng cường hiệu quả quản lý cũng như cắt giảm chi phí(Mohami, 2001; Bird, 1998)
2.2.3 Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế
Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế được hiểu ở góc độ cơ quan thuế có hoànthành tốt vai trò của mình trong việc quản lý thuế cũng như hỗ trợ NNT Về mặt lýthuyết vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề bằng cách nào đểđánh giá tác động hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế đến tuân thủ thuế của NNT.Roth và cộng sự (1989) đề nghị để tăng tuân thủ, tối đa số thu thuế và đượcNNT tôn trọng, trước hết chính phủ phải xây dựng một hệ thống thuế kinh tế và khảthi Hệ thống thuế phải ngăn chặn việc trốn thuế và không được tạo ra sự khôngtrung thực, tránh xu hướng khai thác cạn kiệt nguồn thu thuế; một mặt, hệ thốngthuế phải có mối liên kết nhất định với hệ thống thuế quốc tế
Richardson (2008) khi nghiên cứu hành vi trốn thuế ở 47 quốc gia trong đó có
Mỹ, Anh, Canada, Chile và Brazil đã kết luận rằng, cơ quan thuế có tác động đáng
kể đến thái độ tuân thủ thuế của NNT
2.2.4 Công tác kiểm tra thuế
Torgler và Schneider (2005) cho rằng “NNT nỗ lực tối thiểu hóa nghĩa vụ thuếcủa họ bằng cách hướng đến việc khai báo thấp thu nhập tính thuế và hưởng lợi từ phầntiết kiệm thuế tương ứng khi cơ quan thuế không phát hiện hành vi của họ” Torger(2007) cho rằng “NNT sẽ sẵn lòng thanh toán nhiều hơn, kể cả khoản tiền phạt nếu bịphát hiện gian lận thuế Các nhân tố về kinh tế liên quan đến tuân thủ thuế bao
Trang 26gồm: thuế suất, kiểm tra thuế, và nhận thức về chi tiêu chính phủ Kiểm tra thuế làcông việc thường xuyên và liên tục của bất kỳ cơ quan thuế nào Tác động của kiểmtra thuế đến hành vi tuân thủ thuế của NNT có thể xem xét ở các góc độ: tỷ lệ kiểmtra, năng lực cán bộ kiểm tra và vòng lập kiểm tra”.
Witte và Woodbury (1985) phát hiện mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro kiểmtra thuế và tỷ lệ tuân thủ tự nguyện Các nghiên cứu của Shanmugam (2003), Dubin(2004) đều cho rằng kiểm tra thuế có vai trò ngăn ngừa hành vi trốn thuế, nghĩa làNNT đã từng bị kiểm tra thuế bởi các cơ quan thuế thường sẽ tuân thủ thuế tốt hơn.Kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng tính tuân thủ tự nguyện.Kiểm tra thuế cũng có thể làm thay đổi hành vi tuân thủ thuế từ tiêu cực sangtích cực (Butler,1993) Tỷ lệ kiểm tra và tính triệt để của cuộc kiểm tra sẽ làm choNNT thận trọng hơn trong việc khai thuế, báo cáo đầy đủ thu nhập, các khoản giảmtrừ để xác định nghĩa số thuế phải nộp Ngược lại, NNT chưa từng bị kiểm tra thuế
có thể lập lại hành vi kê khai sai các khoản khấu trừ hoặc khai báo thấp thu nhậpthực tế NNT sẽ khai báo thuế đầy đủ nếu họ cho rằng họ sẽ bị kiểm tra thuế (RiahiBelkaoui, 2004; Richardson, 2008) Andreoni và cộng sự (1998) cho rằng “đối vớiNNT, kinh nghiệm từ những lần bị kiểm tra trước và việc tiếp tục bị quản lý từ phía
cơ quan thuế đối với hoạt động của họ có tác dụng gia tăng mức độ tuân thủ củaNNT”
Eisenhauer (2008) cũng kết luận rằng “kiểm tra thuế nói chung là cách thứcngày càng trở nên quan trọng trong việc tối thiểu hóa các hành vi không tuân thủthuế Tầm quan trọng của các chương trình kiểm tra không chỉ có ý nghĩa đối vớinhững đối tượng nộp thuế bị kiểm tra thuế mà còn tác động đến cả các đối tượngnộp thuế còn lại”
2.2.5 Kiến thức về thuế của NNT
Kiến thức có ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế đã được chứng minh trongnhiều nghiên cứu khác nhau (Mohamad Ali và cộng sự, 2007) Kiến thức, quanniệm về thuế của NNT có ảnh hưởng đến nhận thức về tính công bằng, năng lực và
sự sẵn lòng tuân thủ thuế
Trang 27Kiến thức chung về thuế có quan hệ mật thiết đến khả năng hiểu pháp luật vàcác quy định về thuế, từ đó tuân thủ thuế tốt hơn (Singh, 2003).
Theo Eriksen và Fallan (1996), “kiến thức về pháp luật thuế khá quan trọngđối với thái độ và sự ưu ái đối với thuế Họ cho rằng kiến thức tài chính có tươngquan với thái độ thuế và hành vi về thuế có thể được cải thiện bằng một sự hiểu biết
về thuế tốt hơn”
Trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế thì NNT phải có đủ kiến thức để am hiểu vềthuế Kiến thức thuế hoặc nhận thức về sự công bằng của hệ thống thuế đều có ảnhhưởng đến việc trốn thuế (Jackson và Milliron, 1986) Am hiểu chuyên sâu về thuếkết hợp với kiến thức về tài chính giúp NNT xác định được hậu quả việc làm của họnếu trốn thuế
2.2.6 Nhận thức về hình phạt và phạm tội
Nhận thức về việc phạm tội và hình phạt khi phạm tội về thuế có tác động đếntuân thủ thuế Theo Allingham và Sandmo (1972), “tuân thủ thuế sẽ tăng khi cáchình phạt có liên quan để xử lý hành vi không tuân thủ tăng Để đạt hiệu quả, hìnhphạt nên được áp dụng nhanh chóng và mạnh mẽ Ý nghĩ sợ hình phạt sẽ ngăn chặnhành vi trốn thuế Thiết lập một hệ thống hiệu quả xử lý hành vi trốn thuế là giảipháp quan trọng để đẩy mạnh tuân thủ thuế NNT sẽ có nhiều khả năng tuân thủ nếuhành vi không tuân thủ tất yếu sẽ bị phạt”
Witte và Woodbury (1985) phát hiện mối quan hệ rất chặc chẽ giữa tuân thủthuế và các biện pháp trừng phạt hình sự Grasmick và Scott (1982) nhận thấy hành
vi không tuân thủ thuế sẽ giảm đi nếu những hành vi này bị phạt
nặng 2.2.7 Tình trạng tài chính của NNT
Tình hình tài chính của NNT có ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế Khi rơi vàotrạng thái căng thẳng về tài chính, NNT sẽ phải đứng trước lựa chọn là ưu tiên chitiêu cho những nhu cầu khẩn cấp (trả lương, các khoản nợ đến hạn, ) hơn là thanhtoán tiền thuế Những NNT đối mặt với căng thẳng về tài chính sẽ có khuynh hướngtrốn thuế nhiều hơn so với những người ít gặp khó khăn về tài chính (Mohani vàSheehan, 2004)
Trang 28Palil (2010) cho rằng hành vi tuân thủ thuế của NNT bị ảnh hưởng bới căngthẳng tài chính Tuy nhiên, Vogel (1974), Warneryd và Walerud (1982) nhận thấyrằng những người không gặp căng thẳng tài chính cũng trốn thuế và điều trongnhiều trưởng hợp, mức độ trốn thuế của họ nghiêm trọng hơn so với những ngườigặp khó khăn về tài chính Vogel (1974) cho rằng tình huống này liên quan đến khíacạnh kinh tế hơn là vấn đề tài chính của bản thân NNT.
2.2.8 Các yếu tố liên quan đến đặc điểm DN
Loại hình DN: Loại hình DN có ảnh hưởng đến tuân thủ thuế Quyết định trốnthuế phụ thuộc vào loại hình DN Loại hình công ty có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn
so với DN tư nhân Quyết định không tuân thủ thuế ở loại hình công ty đòi hỏi phải
có sự đồng thuận từ các nhà quản lý và chủ sở hữu Trong khi đối với loại hình DN
tư nhân, quyết định không tuân thủ thuế dễ dàng được thực hiện bởi chủ sở hữu(Sandmo, 2005) Việc không tuân thủ thuế phụ thuộc vào ai là người được hưởnglợi, nhà quản lý hay chủ sở hữu Đối với công ty, lợi ích mà nhà quản lý được hưởngkhi không tuân thủ thuế là không rõ ràng Trong trường hợp DN tư nhân thì chủ sởhữu là người được hưởng lợi toàn bộ nên họ có động cơ cao hơn để không tuân thủthuế (Sandmo, 2005)
Do vậy, DN tư nhân có xu hướng không tuân thủ thuế cao hơn so với loại hìnhcông ty
Ngành nghề kinh doanh: Ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng đến tuân thủthuế Ngành nghề có nhiều hoạt động trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ thì càng
có cơ hội không tuân thủ thuế cao hơn (Kimura và Ando, 2005) Từ đó có thể thấy,các DN ngành sản xuất do có liên quan đến nhiều hoạt động từ giai đoạn thiết kế,sản xuất, vận chuyển, phân phối sản phẩm cho khách hàng Trong khi ngành dịch vụthì có ít hoạt động hơn Do vậy, DN ngành sản xuất có xu hướng không tuân thủthuế cao hơn ngành dịch vụ
Quy mô DN: Kích thước công ty liên quan chặt chẽ đến mức độ tuân thủ(DeLuca, và cộng sự, 2007) Theo lý thuyết lợi thế kinh tế nhờ quy mô, các DN lớn
sẽ có khả năng tham gia cao hơn vào thị trường và hoạt động tốt hơn các DN nhỏ và
Trang 29vừa Marrelli (1984) nhận thấy rằng các DN lớn trốn thuế ít hơn so với các DN nhỏ
Nguồn: Tổng hợp lý thuyết và đề xuất của tác giả (2019)
2.3.2 Mô tả và định nghĩa các biến trong khung phân tích
2.3.2.1 Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc trong khung phân tích là mức độ tuân thủ thuế của DN, được
đo lường qua:
- Số tiền thuế vi phạm (SOTHUE): bằng tổng số thuế truy thu, số tiền giảm lỗ, sốthuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau giảm sau kiểm tra, số thuế được miễn
Trang 30giảm bị loại qua kiểm tra Theo Nguyễn Xuân Thành (2010), đây là một trong những chỉ tiêu định lượng đo lường vi phạm thuế của DN.
- Số lần vi phạm (SOLAN): bằng tổng số lần chậm nộp tờ khai thuế, chậm nộpquyết toán thuế, chậm nộp thuế phải nộp Đây là những hành vi vi phạm chủ yếucủa NNT (Tổng Cục thuế, 2010)
2.3.2.2 Biến độc lập
Biến quan tâm chính: Đã được kiểm tra thuế hai lần (lần đầu vào năm 2015 vàlần hai vào năm 2018) hay không Vì mục tiêu thứ nhất của luận văn là đánh giá tácđộng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN, và tác giả sử dụng kỹthuật khác biệt trong khác biệt của phương pháp bán thí nghiệm để thực hiện đánhgiá nên sẽ tiến hành xem xét 2 nhóm DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp có điều kiệntương đồng về những yếu tố còn lại trong khung phân tích (xem hình 2.1) Chỉ khácnhau là một nhóm (62 DN) được kiểm tra thuế lần đầu vào năm 2015, kiểm tra thuếlần hai vào năm 2018; Nhóm còn lại (62 DN) thì chỉ được kiểm tra thuế lần đầu vàonăm 2018
Loại hình DN (LHDN): DN thuộc loại hình nào: công ty TNHH, công ty cổphần hay DN tư nhân DN tư nhân thường hoạt động theo hình thức gia đình, chủ
DN hoặc người thân kiêm nhiệm luôn công tác kế toán nên công tác kế toán khôngchuẩn, khả năng hiểu biết về thuế có hạn nên việc kê khai, nộp thuế có phần hạnchế Kiến thức tốt về thuế giúp tuân thủ thuế tốt hơn (Singh, 2003)
Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về loại hình DN, tác giả đã chọn mẫuvới cơ cấu như Bảng 2.3 Loại hình “Công ty”: Nhóm xử lý chiếm 52%; Nhóm sosánh chiếm 52% Loại hình “DN tư nhân”: Nhóm xử lý chiếm 48%; Nhóm so sánhchiếm 48%
Nhóm
Trang 31Nhóm kiểm soát 52% 48%
Ngành nghề kinh doanh (NGANHKD): Ngành nghề có nhiều hoạt động trongviệc cung cấp sản phẩm dịch vụ thì càng có cơ hội không tuân thủ thuế cao hơn(Kimura và Ando, 2005) Theo phân ngành kinh tế ở Việt Nam gồm: Nông nghiệp,công nghiệp - xây dựng, thương mại dịch vụ
Vi phạm thuế xảy ra đối với các DN thuộc mọi ngành nghề kinh doanh, nhưngmức độ có khác biệt giữa các ngành nghề (Cục thuế tỉnh Đồng Tháp, 2018) Bởivậy, để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về ngành nghề kinh doanh, tác giả đãchọn mẫu với cơ cấu như Bảng 2.4
Thương mại dịch vụ: Nhóm xử lý chiếm 52%; Nhóm kiểm soát chiếm 48%.Ngành nghề khác (công nghiệp - xây dựng; Nông, lâm, ngư nghiệp): Nhóm xử lý:chiếm 48%; Nhóm kiểm soát chiếm 52%
Bảng 2.4: Cơ cấu mẫu điều tra theo ngành nghề kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh Thương mại Ngành nghề
bị xử lý về thuế và số lượng hành vi vi phạm thuế cũng ít hơn Võ Đức Chín (2011)
Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về thời gian hoạt động, tác giả đã tác giả
đã chọn mẫu với cơ cấu như Bảng 2.7
Thời gian hoạt động 5-10 11-15 16-20 Trên 20
Trang 32Nhóm xử lý 39% 36% 15% 10%
Nguồn: Đề xuất của tác giả (2019)
Quy mô của DN (QUYMO): Tiêu chí phân loại DN nhỏ và vừa căn cứ theoQuy định tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ tại Bảng 2.3 Khi quy môcàng lớn, nếu xảy ra vi phạm thuế thì số tiền vi phạm sẽ rất lớn (Trần Hoàng Thành
Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về quy mô DN, tác giả đã chọn mẫu với
cơ cấu như Bảng 2.6 DN nhỏ và vừa: Nhóm xử lý chiếm 64%; Nhóm kiểm soátchiếm 64% DN lớn: Nhóm xử lý chiếm 36%; Nhóm kiểm soát chiếm 36%
Bảng 2.7: Cơ cấu mẫu điều tra theo quy mô DN
Nhóm
Nguồn: Đề xuất của tác giả (2019)
Tình trạng tài chính của DN (TAICHINH): Thuộc một trong hai trường hợp:Bình thường và bất thường Những NNT gặp với khó khăn về tài chính có khuynhhướng trốn thuế hơn so với những người ít gặp khó khăn về tài chính (Mohani và
Trang 33Sheehan, 2004) Tuy nhiên, những người không gặp khó khăn về tài chính cũng trốnthuế và đôi khi là mức độ trốn thuế của họ đôi khi nghiêm trọng hơn so với nhữngngười gặp khó khăn về tài chính (Vogel, 1974).
Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về tình trạng tài chính, tác giả đã tác giả
đã chọn mẫu với cơ cấu như Bảng 2.8
Bảng 2.8: Cơ cấu mẫu điều tra theo tình trạng tài chính
Thời gian hoạt động Bình thường Không bình thườngNhóm
Kiến thức về thuế của DN (KIENTHUC): Thuộc một trong hai trường hợp: Tốthoặc không tốt Kiến thức tốt về thuế giúp tuân thủ thuế tốt hơn (Eriksen và Fallan,1996; Singh, 2003) Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về kiến thức về thuế của
DN, tác giả đã tác giả đã chọn mẫu với cơ cấu như Bảng 2.9 Bảng
2.9: Cơ cấu mẫu điều tra theo kiến thức về thuế của DN
Nhóm
Nguồn: Đề xuất của tác giả (2019)
2.4 Dữ liệu nghiên cứu
Để đáp ứng điều kiện của kỹ thuật khác biệt trong khác biệt của phương phápbán thí nghiệm, đề tài chọn 62 DN làm Nhóm so sánh (Nhóm kiểm soát) có điềukiện tương đồng với 62 DN thuộc nhóm tham gia (Nhóm xử lý) - vui lòng xem phầnkhung phân tích ở phía trên
Thiết kế mẫu thu thập dữ liệu
Tất cả dữ liệu về nhóm xử lý và nhóm so sánh sẽ thu thập tại Cục thuế tỉnh Đồng
Tháp Cách thức thu thập dữ liệu như sau:
Trang 34(1) Bước 1: Liên hệ Cục thuế tỉnh Đồng Tháp để thông báo về mục đích và kếhoạch thu thập dữ liệu; Lập danh sách các DN thuộc nhóm bị tác động (được kiểmtra thuế lần đầu vào năm 2015 và kiểm tra thuế lần 2 vào năm 2018) và danh sáchcác DN thuộc nhóm so sánh (những DN được kiểm tra thuế lần đầu vào năm 2018).
(2) Bước 2: Tiến hành thu thập dữ liệu Dữ liệu sẽ được thu thập từ Cục thuế tỉnhĐồng Tháp, điền trực tiếp vào file đã thiết kế sẵn (file excel) gồm các thông tin về DN(Loại hình DN, ngành nghề kinh doanh, quy mô của DN, thời gian hoạt động, tìnhtrạng tài chính, kiến thức về thuế, số tiền thuế bị xử lý, số lần vi phạm nhằm mục đíchđảm bảo sự tương đồng giữa 2 nhóm như đã trình bày ở khung phân tích Đặc biệt,thông tin về số tiền thuế bị xử lý, số lần vi phạm của DN ở thời điểm năm 2018 tác giảvừa thu thập trên cơ sở số liệu từ các báo cáo của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, vừa sosánh với các biên bản kiểm tra thuế của từng DN để đảm bảo chính xác
2.5 Cách tiếp cận và kỹ thuật sử dụng để thực hiện đề tài
Với câu hỏi thứ nhất, tác giả sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt (còn gọi
là khác biệt kép) để trả lời Để áp dụng được phương pháp DID, cần phải có số liệubảng, tức là số liệu vừa phản ánh thông tin theo thời gian vừa phản ánh thông tin chéocủa đối tượng quan sát (Nguyễn Xuân Thành, 2006) Phương pháp này được thực hiệnbằng cách chia các đối tượng phân tích thành hai nhóm: Nhóm tham gia (Nhóm xử lý)
và nhóm không tham gia (nhóm so sánh) Giả thuyết tối quan trọng của phương phápDID là nếu không có kiểm tra thuế thì đầu ra của nhóm so sánh và nhóm tham gia có
xu hướng biến thiên như nhau Sự khác nhau trong biến thiên theo thời gian giữa hainhóm này là do tác động của chính sách hay chương trình mới
Hình 2.2 biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép Gọi Y là đầu racủa chính sách Gọi D là biến giả phản ánh nhóm quan sát, D = 0: Nhóm nhóm sosánh; D = 1: Nhóm tham gia Với T = 0 là khi chưa có kiểm tra thuế, T = 1 là saukhi có kiểm tra thuế Vào thời điểm trước khi có kiểm tra thuế, đầu ra của nhóm sosánh là Y00 (D = 0, T = 0) và đầu ra của nhóm tham gia là Y10 (D = 1, T = 0) Chênhlệch đầu ra giữa hai nhóm này trước khi có kiểm tra thuế là Y10-Y00
Tại thời điểm sau khi áp dụng chính sách, đầu ra của nhóm so sánh là Y01 (D =
Trang 350, T = 1) và đầu ra của nhóm tham gia là Y11 (D = 1, T = 1) Chênh lệch đầu ra giữahai nhóm này là Y11-Y01 Tác động của chính sách là (Y11-Y01) - (Y10-Y00).
Hình 2.2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép
Nguồn: Nguyễn Xuân Thành (2006)
Đối với mục tiêu 2, nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng của hoạt động kiểmtra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, tác giảsửdungg̣ kỹthuật phỏng vấn sâu các đối tươngg̣ có liên quan đến công tác kiểm tra thuế DN (DN,các cán bộ làm công tác kiểm tra thuế DN tại Cục thuế tỉnh Đồng Tháp) đểđểtı̀mhiểu nguyên nhân dẫn đến kết ̉quatác đôngg̣ đólàgı̀
Tóm tắt Chương 2
Chương 2 trình bày các khái niệm liên quan và lý thuyết về các nhân tố ảnhhưởng đến tuân thủ thuế Trên cơ sở đó thiết lập khung phân tích Chương này cũngtrình bày về dữ liệu, cách tiếp cận và kỹ thuật thực hiện đề tài
Trang 36Chương 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA THUẾ ĐẾN TUÂN THỦ THUẾ CỦA DN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
ĐỒNG THÁP
3.1 Thực trạng công tác quản lý thuế của Cục thuế tỉnh Đồng Tháp
3.1.1 Công tác tổ chức trong hoạt động kiểm tra
Hiện tại, NNT căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh của mình và tự kê khai,
tự tính số thuế phải nộp, chủ động nộp thuế vào NSNN theo thời hạn quy định củapháp luật Cơ quan thuế có trách nhiệm hỗ trợ, hướng dẫn NNT hiểu và tự giác thựchiện đầy đủ nghĩa vụ thuế; Giám sát việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT và pháthiện, xử lý kịp thời những hành vi trốn thuế thông qua công tác thanh tra, kiểm tra
về thuế Do vậy, kiểm tra thuế trở thành chức năng quan trọng trong quản lý thuếcủa Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp
Hoạt động kiểm tra thuế tại Cục thuế đã phân định rõ nhiệm vụ của cơ quanthanh tra thuế các cấp theo hướng: Kiểm tra Cục Thuế thực hiện kiểm tra NNT theođịa bàn quản lý; hướng dẫn, chỉ đạo và hỗ trợ kiểm tra Chi Cục thuế tổ chức hoạtđộng kiểm tra trên địa bàn cấp huyện Hoạt động kiểm tra đối tượng nộp thuế được
tổ chức tập trung, thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp huyện
Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp xác định công tác kiểm tra thuế là nhiệm vụ hết sứcquan trọng, không chỉ chống thất thu NSNN, ngăn chặn hành vi vi phạm thuế màcòn giáo dục ý thức chấp hành chính sách pháp luật về thuế cho người dân Vì vậy,việc tăng cường đội ngũ cán bộ thuế làm công tác kiểm tra thuế rất được Ban lãnhđạo Cục Thuế quan tâm
Hệ thống kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp gồm có 01 phòng Kiểmtra thuộc Cục Thuế và 12 đội kiểm tra thuế thuộc 12 Chi Cục Thuế huyện, thị xã,thành phố Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp xác định chất lượng cán bộ kiểm tra thuế làmột yếu tố quan trọng nhất Vì vậy, cán bộ làm công tác kiểm tra thuế được đào tạokhá bài bản về kế toán, chính sách thuế, Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại tố cáo, Luật
xử phạt vi phạm hành chính, tin học, (Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, 2018)
Trang 37Bảng 3.1 cho thấy lực lượng làm công tác kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh ĐồngTháp có sự tăng trưởng về số lượng cũng như chất lượng đào tạo Cụ thể:
Năm 2015, tổng số cán bộ làm công tác kiểm tra là 105 người, trong đó có 12người trình độ cao đẳng (chiếm tỷ lệ 11,4%), 91 người trình độ đại học (chiếm tỷ lệ86,7%) và 2 người có trình độ trên đại học (chiếm tỷ lệ 1,9%)
Bảng 3.1: Cơ cấu lực lượng kiểm tra thuế giai đoạn 2015 - 2018
Năm 2017, tổng số cán bộ làm công tác kiểm tra là 115 người, trong đó có 11người trình độ cao đẳng (chiếm tỷ lệ 9,6%), 101 người trình độ đại học (chiếm tỷ lệ87,8%) và 3 người có trình độ trên đại học (chiếm tỷ lệ 2,6%)
Năm 2018, tổng số cán bộ làm công tác kiểm tra là 120 người, trong đó có 11người trình độ cao đẳng (chiếm tỷ lệ 9,2%), 104 người trình độ đại học (chiếm tỷ lệ86,7%) và 5 người có trình độ trên đại học (chiếm tỷ lệ 4,2%)
Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp đã vận dụng các quy định tại Quyết định số460/QĐ-TCT ngày 05/05/2009; Quyết định số 74/QĐ-TCT ngày 27/01/2014 vàthực tế tại địa phương để lập kế hoạch kiểm tra với các bước cơ bản như Hình 3.1
Bước 1: Xây dựng kế hoạch kiểm tra
Kế hoạch kiểm tra thuế do Cục Thuế tỉnh Đòng Tháp xây dựng hàng năm trên
cơ sở chỉ tiêu được Tổng Cục Thuế thuế giao hàng năm Theo đó, công tác thanh tra
Trang 38phải đạt 1,65% tổng số DN và kiểm tra phải đạt 13,0% tổng số DN mà ngành thuếĐồng Tháp quản lý Kế hoạch kiểm tra được xây dựng căn cứ vào hệ thống 21 tiêuchí đánh giá mức độ rủi ro về thuế mà ngành thuế đã xây dựng, mức độ tuân thủpháp luật về thuế của NNT và dựa vào kinh nghiệm thực tiễn của cán bộ làm côngtác kiểm tra thuế Các bước kiểm tra thuế được xác định hàng năm như sau (Cụcthuế tỉnh Đồng Tháp, 2015):
Bước 1: Xây dựng kế hoạch kiểm tra
Bước 2: Phân tích chuyên sâu và làm các thủ tục kiểm tra
Bước 3: Tổ chức thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế
Bước 4: Báo cáo thực hiện kế hoạch và kết quả kiểm tra
Hình 3.1: Các bước kiểm tra thuế
Nguồn: Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp (2015)
Cơ sở sản xuất kinh doanh có dấu hiệu rủi ro về thuế: Nộp hồ sơ kê khai thuếkhông đầy đủ hoặc nộp hồ sơ kê khai thuế chậm; Kê khai sai sót, kê khai khôngtrung thực, tờ khai thuế điều chỉnh nhiều lần; Không nộp đủ số thuế phải nộp theo
kê khai và thường xuyên nộp thuế chậm; Có bất thường về kê khai thuế giữa cácquý, các năm với nhau; Cơ quan thuế nhiều lần nhắc nhở nhưng vẫn tái phạm
Cơ sở sản xuất kinh doanh bị lỗ liên tục trong nhiều năm liền hoặc có thuế giátrị gia tăng âm nhiều năm nhưng không đề nghị hoàn thuế
Cơ sở sản xuất kinh doanh có sự biến động lớn về doanh thu, lợi nhuận tănggiảm bất thường Cơ sở sản xuất kinh doanh nhiều năm chưa được kiểm tra thuế Cơ
sở sản xuất kinh doanh có doanh thu và số thuế nộp lớn hoặc những cơ sở sản xuấtkinh doanh có khiếu nại, tố cáo
Trên cơ sở đó, chấm điểm rủi ro, Cục Thuế chọn các cơ sở sản xuất kinhdoanh để kiểm tra theo các mức độ rủi ro từ cao xuống thấp