1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa kết hợp đông tây của tập đoàn công nghiệp viễn thông quân đội viettel trong đầu tư ra nước ngoài

114 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng những thành công của mình, Viettel đã được công nhận là doanh nghiệp đi đầu trong hành trình đưa thương hiệu Việt ra thế giới, và điều đó cũng có nghĩa văn hoá doanh nghiệp của Viet

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NÔNG THỊ MINH HIẾN

VĂN HOÁ KẾT HỢP ĐÔNG TÂY CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP – VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI VIETTEL TRONG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NÔNG THỊ MINH HIẾN

VĂN HOÁ KẾT HỢP ĐÔNG TÂY CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP – VIỄN THÔNG

QUÂN ĐỘI VIETTEL TRONG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy giáo PGS.TS ĐỖ MINH CƯƠNG – Đại học Kinh tế

- Đại học Quốc gia Hà nội, kết quả nghiên cứu chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng quy chế và quy định hiện hành, ngoài ra một số nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu phân tích trong Luận văn của tôi là trung thực Luận văn không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào

Hà Nội, Ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Nông Thị Minh Hiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Cuộc sống dường như thử thách tác giả, trong giai đoạn làm luận văn thạc sĩ cũng là giai đoạn mà công việc của tác giả tại công ty nhiều áp lực nhất, một đồng nghiệp nghỉ sinh và tác giả phải kiêm nhiệm luôn cả phần việc của cô ấy, ngày nào cũng như ngày nào về đến nhà cũng gần 9:00pm tối Tuy nhiên, thầy giáo PGS.TS

Đỗ Minh Cương lại rất cảm thông với tác giả về điều đó, dù thời gian trễ, nhưng thầy vẫn nhiệt tình chat, trao đổi qua điện thoại, email để hướng dẫn, chỉ bảo, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách tốt nhất

Ngoài ra, để có đủ các kiến thức chuyên môn định hướng trong quá trình làm luận văn, tác xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô, các GS, PGS, TS đã giảng dạy trong quá trình học thạc sĩ, cảm ơn các Quý thầy cô trong Hội đồng bảo

vệ đề cương, Quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã có những góp ý chân thành, quý báu về các thiếu sót, hạn chế của bài luận văn, giúp em hoàn thiện hơn luận văn và qua đó tích luỹ thêm nhiều tri thức mới

Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến sự đóng góp rất lớn của các đồng nghiệp Viettel Peru - Công ty nước ngoài trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội đã tham gia khảo sát, cung cấp một cách nhìn khách quan và sát thực nhất về các vấn đề văn hoá doanh nghiệp Viettel khi đầu tư ra nước ngoài, đây

là yếu tố rất quan trọng để tác giả hoàn thành luận văn

Và cuối cùng, một người đàn ông đặc biệt đã luôn bên cạnh truyền động lực cho tác giả, đó là "ông xã", cảm ơn anh và cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả có thể chuyên tâm vào việc nghiên cứu nội dung của bài Luận văn

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp của luận văn vào VHDN Tập đoàn Viettel 4

5 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP 6

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 6

1.1.2 Nghiên cứu nước ngoài 10

1.2 Cơ sở lý luận về văn hoá doanh nghiệp 15

1.2.1 Các quan niệm và định nghĩa về văn hoá doanh nghiệp 15

1.2.2 Các cấp độ của văn hoá doanh nghiệp 16

1.2.3 Văn hóa Đông Tây và sự ảnh hưởng của văn hóa trong doanh nghiệp 19

1.2.4 Vai trò của văn hoá kết hợp Đông Tây trong hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng 28

1.2.5 Yếu tố kết hợp văn hóa đóng vai trò quan trọng trong phát triển doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài 32

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 38

CHƯƠNG 2:PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39

2.1 Phương pháp nghiên cứu 39

2.2 Thiết kế quá trình nghiên cứu 39

2.2.1 Xác định vấn đề, đối tượng và mục đích nghiên cứu 40

Trang 6

2.2.2 Xác định số lượng mẫu nghiên cứu 40

2.2.3 Xây dựng thang đo và thiết kế bảng hỏi 41

2.2.4 Thu thập dữ liệu 42

2.2.5 Phân tích số liệu 43

2.2.6 Kết luận về kết quả nghiên cứu 43

CHƯƠNG 3 :THỰC TRẠNG VĂN HOÁ KẾT HỢP ĐÔNG - TÂY CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP - VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI VIETTEL 44

3.1 Tổng quan về Tập đoàn Viettel 44

3.2 Văn hóa doanh nghiệp Tập đoàn Viettel 48

3.2.1 Các giá trị hữu hình của văn hóa Viettel 48

3.2.2 Những giá trị được tuyên bố của Viettel 55

3.2.3 Các quan niệm chung và ngầm định nền tảng 64

3.3 Văn hóa kết hợp Đông - Tây của Viettel 65

3.3.1 Văn hóa kết hợp Đông - Tây của Viettel trong đầu tư ra nước ngoài 67

3.3.2 Khảo sát về cảm nhận, đánh giá của nhân viên về văn hoá doanh nghiệp của Viettel khi đầu tư tại Peru (Nam Mỹ) 71

3.4 Đánh giá chung về thực trạng văn hóa kết hợp Đông-Tây của Viettel 82

3.4.1 Những thành tựu mà VHDN đã mang lại cho Tập đoàn: 82

3.4.2 Một số vấn đề tồn tại của mô hình VHDN 83

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 85

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO VIỆC ÁP DỤNG VĂN HÓA KẾT HỢP ĐÔNG TÂY CỦA VIETTEL TRONG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI 86

4.1 Quan điểm, định hướng phát triển Văn hóa doanh nghiệp của Viettel trong điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh tại thị trường nước ngoài 86

4.2 Một số giải pháp để phát triển văn hóa kết hợp Đông Tây tại các thị trường nước ngoài của Viettel đầu tư 89

4.2.1 Hiểu được văn hoá dân tộc là chiếm được thi trường 89

4.2.2 Tham gia hoạt động xã hội 90

4.2.3 Tinh thần chấp nhận gian khổ, quyết tâm vượt khó khăn 91

4.2.4 Mạnh dạn giao quyền cho người bản địa tại thị trường nước ngoài Viettel đầu tư 91

Trang 7

4.2.5 Hoàn thiện hệ thống văn bản và đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục về văn hoá doanh nghiệp 92 4.2.6 Chuyên nghiệp hóa trong việc xây dựng các cấu trúc hữu hình của VHDN Viettel tại nước ngoài 93

KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT

1 CBCNV Cán bộ công nhân viên

3 HĐQT Hội đồng quản trị

5 VHDN Văn hóa doanh nghiệp

6 VHKD Văn hóa kinh doanh

7 VIETTEL Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 1.1 Các đặc trƣng của hai loại hình văn hóa 25

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

4 Hình 3.1 Năm 2017 Viettel chính thức khai trương mạng

7 Hình 3.4 Sau 14 năm đầu tư nước ngoài Viettel đã có 10 thị

trường viễn thông tại 10 nước trên 3 châu lục 47

8 Hình 3.5 Logo của Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông

9 Hình 3.6 Cấu trúc độc đáo của Trụ sở chính Viettel được

lấy cảm hứng từ chính logo của tập đoàn 50

10 Hình 3.7 Các cuộc họp của Viettel đều diễn ra với thái độ

11 Hình 3.8 Ấn phẩm số Viettel Family – Cổng thông tin nội

12 Hình3.9

Mỗi cá nhân có thể tạo không gian làm việc riêng mang phong cách cá nhân tại vị trí làm việc của mình

59

Trang 11

20 Hình 4.1 Hành trình 14 năm đầu tư nước ngoài của Viettel 86

21 Hình 4.2 Hiểu được, kết hợp được với văn hóa dân tộc là

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi một doanh nghiệp là một tập hợp những con người khác nhau về trình độ chuyên môn, trình độ học vấn, quan hệ xã hội, khả năng nhận thức, vùng miền địa lý, văn hóa tư tưởng,… chính sự khác nhau này tạo ra một môi trường làm việc đa dạng và phức tạp Trong đó, những doanh nghiệp đầu tư ra quốc tế, những Tập đoàn đa quốc gia thường phải đối mặt với vấn đề này do sự bất đồng về ngôn ngữ, bất đồng về văn hoá với nước sở tại Vậy làm thế nào để doanh nghiệp có thể kết nối được người lao động tại các đất nước khác nhau? Làm thể nào để những người lao động này không có cảm giác mình đang làm việc cho một ông chủ đến từ một quốc gia khác? Làm thế nào

để doanh nghiệp có thể tập hợp và phát huy mọi nguồn lực con người trong tổ chức, nhằm góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp? Dù ở bất cứ quốc gia nào, những giá trị, niềm tin mà mọi người làm việc trong doanh nghiệp cùng công nhận

và tin tưởng chính là văn hóa doanh nghiệp

Có thể nói, bên cạnh nguồn vốn và chiến lược phát triển kinh doanh của mỗi một doanh nghiệp, sự khác biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác hay đối với đối thủ cạnh tranh, đó chính là văn hóa doanh nghiệp Sự khác biệt đó được thể hiện ở những tài sản vô hình như: sự trung thành của nhân viên, bầu không khí của doanh nghiệp như một gia đình, sự tin tưởng của nhân viên vào các quyết định

và chính sách của doanh nghiệp, tinh thần đồng đội trong công việc Thiếu vốn doanh nghiệp có thể đi vay, thiếu nhân lực có thể bổ sung thông qua con đường tuyển dụng, thiếu thị trường có thể từng bước mở rộng thêm, các đối thủ cạnh tranh

có thể bắt chước và đi mua tất cả mọi bí quyết, công nghệ nhưng không thể bắt chước hay đi mua được sự cống hiến, lòng tận tụy và trung thành của từng nhân viên trong doanh nghiệp Đó chính là sự khác biệt, là nét đặc trưng mà chỉ có văn hóa doanh nghiệp mới có thể làm được, và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp có thể phát triển thành công và bền vững

Từ xưa tới nay, nhắc tới doanh nghiệp Việt Nam là người ta lo lắng bởi sự

“khôn nhà, dại chợ” Hội nhập quốc tế đối với doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu

Trang 13

là sự chống đỡ, bảo vệ thị trường nội địa trước sức tấn công của hàng ngoại nhập, của các doanh nghiệp nước ngoài Chúng ta là nước xuất khẩu, nhưng chủ yếu vẫn

là xuất khẩu thô, xuất khẩu sản phẩm gia công chưa có thương hiệu, vẫn phải cam chịu gắn thương hiệu của nước ngoài Và ít doanh nghiệp nào trong nước dám vượt biển lớn, mở cơ sở, đầu tư kinh doanh ở nước ngoài cho đến khi Tập đoàn Viettel làm thành công điều đó

Hiện nay, Viettel đã phát triển ở cả 3 châu lục là Châu Á, Châu Mỹ và Châu Phi (đến thời điểm hiện tại, Viettel đã chính thức cung cấp dịch vụ tại 10 quốc gia là Lào, Campuchia, Đông Timor, Myanmar, Mozambique, Cameroon, Tanzania, Burundi, Haiti và Peru) Bằng những thành công của mình, Viettel đã được công nhận là doanh nghiệp đi đầu trong hành trình đưa thương hiệu Việt ra thế giới, và điều đó cũng có nghĩa văn hoá doanh nghiệp của Viettel đã vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, một “tiểu văn hoá” đang hội nhập với nhiều nền văn hoá lớn của nhân loại Một trong những điều tạo ra sự khác biệt hoà nhập mà không hoà tan, gắn kết được người bản sứ với các giá trị cốt lõi doanh nghiệp để làm nên thành công tại những nước Viettel đầu tư là nhờ sự vận dụng linh hoạt văn hoá Đông Tây kết hợp

Đông và Tây là hai nền văn hóa, hai cách tư duy, hai kiểu hành động lớn nhất và khác biệt của văn minh nhân loại Mỗi bên đều có những ưu điểm và có thể phát huy hiệu quả cao trong những tình huống cụ thể Vận dụng tốt sự kết hợp Đông Tây trong Văn hoá doanh nghiệp sẽ giúp cho các doanh nghiệp linh hoạt hơn nhưng vẫn giữ được bản sắc doanh nghiệp Việt, giúp doanh nghiệp phát triển, đứng vững trên con đường đầu tư và hội nhập quốc tế Từ những phân tích trên cho thấy, việc

nghiên cứu “Văn hóa kết hợp Đông Tây của Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội Viettel trong đầu tư ra nước ngoài” là một vấn đề quan trọng có

ý nghĩa thực tiễn

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá kinh doanh hay nghiên cứu về văn hoá doanh nghiệp Tuy nhiên, việc nghiên cứu “Văn hóa kết hợp Đông Tây của Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội Viettel trong đầu

tư ra nước ngoài” sẽ được xem xét dựa trên việc xây dựng, phát huy văn hoá doanh nghiệp của Viettel trên con đường đầu tư ra ngoài để trả lời những câu hỏi nghiên cứu như sau:

Trang 14

1 Với đặc thù là một doanh nghiệp nhà nước do Bộ Quốc phòng quản lý, Viettel đã thành công trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp Vậy truyền thống quân đội có tác động như thế nào đến văn hoá doanh nghiệp của Viettel? Tại sao Viettel khằng định Kết hợp Đông - Tây là một trong 8 giá trị cốt lõi của VHDN Tập đoàn? Phải chăng đó là cái bản sắc văn hoá của Viettel, tạo nên sự khác biệt với các doanh nghiệp cùng ngành khác?

2 Thực trạng văn hoá kết hợp Đông Tây của Viettel khi áp dụng tại các thị trường nước ngoài Viettel đầu tư như thế nào, nó đã phù hợp và đáp ứng được nhu cầu hội nhập chưa? Nó có phát huy được sức mạnh của Viettel tại nước ngoài hay không?

3 Để hoàn thiện và phát huy văn hoá Kết hợp Đông Tây trên con đường đầu

tư nước ngoài, Viettel cần những định hướng, giải pháp gì?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng áp dụng văn hoá kết hợp Đông Tây của Tập đoàn Viettel hiện nay từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy và phát triển văn hoá Đông Tây của Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel tại thị trường nước ngoài

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của văn hoá doanh nghiệp và vai trò

văn hoá kết hợp Đông Tây trong giai đoạn Việt Nam đang chủ động hội nhập quốc tế

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng văn hoá doanh nghiệp kết hợp Đông

Tây của Viettel tại nước ngoài để chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó

Ba là, đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao, nhằm hoàn thiện, phát triển

văn hoá doanh nghiệp của Viettel phù hợp với giai đoạn phát triển Tập đoàn Viettel toàn cầu, đa quốc gia như hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa doanh nghiệp của Viettel tập trung vào tư

tưởng - giá trị cần kết hợp Đông - Tây, trong quá trình hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước ngoài của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel

Trang 15

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Trụ sở Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội

(VIETTEL) và Công ty Viettel Peru (BITEL) – Peru một quốc gia tiêu biểu cho 10 thị trường nước ngoài mà Viettel đầu tư, ở nửa bên kia địa cầu với văn hoá Mỹ Latin khác biệt Việt Nam, có nền kinh tế phát triển hơn Việt Nam, có hệ thống pháp luật chặt chẽ, GDP bình quân đầu người cao gấp 3 lần Việt Nam, đang là thị trường

có lợi nhuận cao nhất trong 10 nước Viettel đầu tư quốc tế

Về thời gian: Từ khi Viettel xây dựng và thực hiện Văn hóa doanh nghiệp tập

trung vào giai đoạn Tập đoàn đầu tư kinh doanh tại các quốc gia bên ngoài Việt Nam

Nội dung: Trong phạm vi nghiên cứu này tác giả chỉ tập trung vào nội dung

VHDN kết hợp Đông Tây, phân tích thực trạng áp dụng tại thị trường nước ngoài, khai thác các điểm mạnh tinh hoa của từng loại văn hoá những vận dụng khi kết hợp giữ hai giá trị văn hoá Đông và Tây từ đó tìm ra những mặt hạn chế tồn tại cần khắc phục để tạo nên sự khác biệt và thành công của Tập đoàn Viettel tại nước ngoài

4 Đóng góp của luận văn vào VHDN Tập đoàn Viettel

Với những bước chân của một trong những doanh nghiệp đầu tiên dấn thân trên con đường đi ra thế giới, Tập đoàn Viettel nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc thể hiện được vai trò là doanh nghiệp đại diện cho hình ảnh Việt Nam, con người Việt Nam trong con mắt và tình cảm của bạn bè thế giới Với quan điểm đi ra nước ngoài để được học hỏi từ những Công ty hàng đầu trên thế giới, để Viettel được cạnh tranh hơn, để Viettel giỏi hơn Đi ra nước ngoài để mang câu chuyện của Viettel ở Việt Nam ra nước ngoài Đi ra nước ngoài đầu tư cùng phát triển, để thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị với các nước láng giềng, giữ gìn hòa bình, bảo vệ đất nước từ xa,… Do đó, mục đích của Luận văn nhằm nghiên cứu và phát triển văn hoá Đông – Tây kết hợp trên con đường đầu tư ra nước ngoài và hội nhập Quốc tế của Tập đoàn Viettel là một đề tài cần thiết của giai đoạn này và dự kiến một số kết quả đạt được của luận văn là:

- Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc xây dựng VHDN và vai trò của văn hoá kết hợp Đông Tây trong hội nhập quốc tế của doanh nghiệp

Trang 16

- Hai là, nhìn rõ được thực trạng văn hoá kết hợp Đông – Tây của Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội Viettel và ứng dụng tại các thị trường nước ngoài trên con đường đầu tư quốc tế của Tập đoàn Viettel

- Ba là, đề xuất được một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của VHDN Viettel tại nước ngoài, kết hợp và phát huy các giá trị văn hoá phương Đông – phương Tây tạo nên sự khác biệt và sức mạnh thành công của Tập đoàn Viettel

Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng văn hoá kết hợp Đông - Tây của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel

Chương 4: Một số giải pháp phát triển văn hoá Kết hợp Đông Tây tại các thị trường nước ngoài của Viettel

Kết luận

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN

HOÁ DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Nói về văn hóa doanh nghiệp, tác giả Franklin Covey cho rằng: Chiến lược của doanh nghiệp được ví như “Hạt mầm” còn văn hóa được xem như là “Đất” Nếu

“Đất” không tốt, không màu mỡ thì dù có cố gắng cải tạo cách mấy, “Hạt mầm” cũng không thể nảy mầm và phát triển được” Vậy văn hoá doanh nghiệp là gì? và tại sao văn hoá doanh nghiệp lại quan trọng như vậy?

Đầu tiên, văn hoá hình thành từ đâu? Trong mối quan hệ giữa con người với

tự nhiên và với xã hội, văn hoá hình thành như là một đại diện cho toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần của loài người tạo ra trong lịch sử

Vì lẽ sinh tồn loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết; vì mục đích cuộc sống, con người tiếp tục sáng tạo ra đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật và hiện thực hóa trong thực tiễn, đời sống Như vậy,

có thể hiểu văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt mà loài người đã tạo ra để sinh tồn và nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống hàng ngày

Văn hoá phương Đông với đường lối văn trị hay đức trị của Khổng tử là quan điểm cơ bản về văn hóa Tuy nhiên, điểm chung của cả văn hóa phương Đông

và văn hóa phương Tây đều là sự giáo hóa vun trồng nhân cách con người, giúp con người có cuộc sống tốt đẹp hơn

Trong doanh nghiệp văn hoá có vai trò quan trọng không chỉ trong công tác quản trị doanh nghiệp mà nó còn được xem là một giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cũng vậy họ cần bộ Gene để duy trì và phát triển từ thế hệ này và những thế hệ khác nữa sẽ chung tay xây dựng doanh nghiệp bền vững,

đó là văn hóa doanh nghiệp

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Với vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển của doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp đã được nhiều nhà khoa học và nhiều nhà học giả quan tâm nghiên

Trang 18

cứu, ở Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, đó là các luận án Tiến

sỹ, luận văn Thạc sỹ kinh tế về đề tài Văn hóa doanh nghiệp, cụ thể:

- Người đầu tiên có thể nhắc đến là Đỗ Minh Cương (2001) với tác phẩm sách: “Văn hoá kinh doanh và triết lý kinh doanh” Cuốn sách của Đỗ Minh Cương

đã trình bày khái quát về các vấn đề văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp, triết lý kinh doanh, đứng trên cả 2 phương diện cơ sở lý luận và thực tiễn ở thế giới và tại Việt Nam Công trình này là một tài liệu tham khảo, cũng như cung cấp những kiến thức bổ ích cho quá trình nghiên cứu cho bài luận văn

- Dương Thị Liễu (2006), Bài giảng: “Văn hóa kinh doanh” đã khái lược về

các lý thuyết văn hoá kinh doanh, cũng như chỉ ra các yếu tố cấu thành văn hoá kinh doanh Công trình này nội dung chủ yếu để trình bày về thực trạng văn hoá kinh doanh tại Việt Nam, kinh doanh quốc tế cũng như đưa ra các tình huống văn hoá kinh doanh rất cụ thể và hữu ích, công trình này rất hữu ích giúp cho quá trình nghiên cứu cho bài luận văn

- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phùng Xuân Nhạ (2011) với nghiên

cứu “Nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh ở Việt Nam trong tiến trình đổi

mới và hội nhập quốc tế” Công trình nghiên cứu đã thể hiện rõ các mô hình cấu trúc

phân tầng với sự rõ ràng về thang bảng các giá trị chi tiết nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Đồng thời, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt và sự tương đồng ở các nước phương Đông và phương Tây trong nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh khi so sánh giữa Việt Nam với các nước để rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Kết quả của đề tài đã giúp dự báo về xu hướng biến đổi của nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế

- Nguyễn Mạnh Quân (2007) Công trình nghiên cứu tại trường Đại học Kinh

tế Quốc dân – “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp”, tác giả nghiên cứu

về khái niệm đạo đức kinh doanh và những vấn đề đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp, Nói về các triết lý về đạo đức kinh doanh, các yếu tố cấu thành VHDN Tác giả chủ yếu tập trung vào tiêu chuẩn đánh giá đạo đức kinh doanh trong doanh

Trang 19

nghiệp, chỉ ra các bước xây dựng văn hóa doanh nghiệp và duy trì nó, nhưng tác giả mới đề cập tới một vấn đề xây dựng dựng văn hóa doanh nghiệp, công trình nghiên cứu này chưa chỉ ra cách xây dựng VHDN tốt, muốn xây dựng nền văn hóa doanh nghiệp tốt thì phải tiến hành quản trị, quản lý nó như các nguồn lực khác, chưa đưa

ra khái niệm quản trị văn hóa doanh nghiệp

- Viễn thông Việt Nam với vai trò là ấn phẩm nội bộ như: Trên ấn phẩm Khoa học công nghệ Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam, Bùi Xuân Phong có công

bố một số bài viết: "Duy trì và phát triển VHDN nhằm phát triển bền vững và hội nhập quốc tế VNPT " (3/2010); "Duy trì và phát triển VHDN nhằm phát triển VNPT bền vững và hội nhập quốc tế" (6/2010); Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel cũng có nhiều nghiên cứu, bài viết trên các ấn phẩm báo chí như: Google, Viettel và Triết lý kinh doanh “cho đi” Cung cấp dịch vụ miễn phí, đầu tư hàng tỷ đồng vào nghiên cứu và thực hiện các chương trình vì cộng đồng , “cho đi” là cách kinh doanh nghe có vẻ “ngược đời” nhưng hiệu quả và bền vững mà Google và Viettel đang áp dụng (https://dantri.com.vn/kinh-doanh/google-viettel-va-triet-ly-kinh-doanh-cho-di) và CEO, Viettel hé lộ bí quyết thành công và triết lý kinh doanh

“ đường do đi mà có” (Doanh nhân – doanh nhân)

Văn hóa doanh nghiệp là một đề tài hấp dẫn được nhiều nhà nghiên cứu khoa học các cấp và các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ quan tâm, được biệt trong ngành viễn thông như:

- Quách Thị Ngọc Hà (2015) - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường – "Văn hoá doanh nghiệp của Viettel trong giai đoạn chủ động hội nhập quốc tế" Công trình trình bày một số vấn đề chung về VHDN; phân tích, đánh giá thực trạng VHDN của Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel, công trình này nghiên cứu qua các biểu trưng trực quan và phi trực quan; đề xuất giải pháp nhằm phát triển Văn hóa doanh nghiệp Viettel trong giai đoạn chủ động hội nhập quốc tế của Tập đoàn Viettel

- Trần Thị Huyền (2013) với đề tài nghiên cứu cấp trường “Duy trì và phát

triển văn hoá doanh nghiệp Viettel để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”

- Trần Thị Thu Hà (2012) với đề tài nghiên cứu cấp trường “Văn hoá doanh

nghiệp Công ty Vinaphone”

Trang 20

- Đinh Tấn Hữu (2014) với đề tài nghiên cứu cấp trường“Phát triển văn hóa

doanh nghiệp tại VNPT tỉnh Long An” Trong bối cảnh Việt Nam chủ động tham

gia và gia nhập Tổ chức thương mại Thế Giới (hội nhập kinh tế toàn cầu), văn hóa doanh nghiệp cũng là đề tài được quan tâm tại nhiều Hội thảo trong nước với nhiều quy mô khác nhau, ví dụ: Chiến lược, Tầm nhìn, Truyền thông nội bộ, Quy trình nội

bộ, Con người,… Giữa vô vàn nhân tố, yếu tố quan trọng nhất mà chúng ta nhắc tới

ở đây chính là con người – mà cụ thể là nhà lãnh đạo doanh nghiệp Nhà lãnh đạo cần là người kiên quyết và đi đầu trong mọi hoạt động xây dựng VHDN, là trung tâm lan tỏa mạnh mẽ các giá trị chung mà doanh nghiệp luôn muốn hướng tới

Hội thảo: “Văn hóa doanh nghiệp – Giá trị lan tỏa từ nhà lãnh

đạo”-26/4/2018 Hội thảo tập trung vào các chủ đề như nhà lãnh đạo nên xây dựng văn hóa doanh nghiệp như thế nào? Nhà lãnh đạo phải làm gì để có thể kiến tạo một đội ngũ chung sức chung lòng chiến đấu cho sự phát triển và lớn mạnh của doanh nghiệp? Làm thế nào để nhà lãnh đạo trở thành người lan tỏa những giá trị của văn hóa doanh nghiệp?…

Diễn đàn “Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nhân, doanh nghiệp” lần I

năm 2018 diễn ra (11/8) tại Hà Nội Diễn đàn do báo Người Hà Nội phối hợp với Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội tổ chức Thông điệp được diễn đàn nhấn mạnh "Nếu thiếu yếu tố văn hóa, doanh nghiệp khó có thể đứng vững" Trong đó đề cập và thảo luận sâu về

“Văn hóa doanh nhân là tài sản vô hình của doanh nghiệp” và “Doanh nhân phải là sản phẩm của văn hóa!”

- Hội thảo “Văn Hóa doanh nghiệp và đạo đức kinhdoanh” tại Trung tâm

Hội nghị Quốc tế 11 Lê Hồng Phong, Hà Nội Hội thảo được chia làm phần với hai

chủ đề: Làm sao để Văn hóa doanh nghiệp không chỉ là khẩu hiệu và Đạo đức kinh

doanh củng cố và gia tăng uy tín cho thương hiệu doanh nghiệp, phần 1 của Hội

thảo các đại biểu đã được nghe các bài tham luận: Xây dựng văn hóa doanh nghiệp

tạo sức mạnh cạnh tranh doanh nghiệp Đỗ Minh Cương – Phó Viện trưởng Viện

Văn hóa Doanh nghiệp); Xây dựng văn hóa tại các doanh nghiệp Thụy Điển và

những tác động đến phát triển doanh nghiệp (Ông Johan Alvin, Bí thư Hai, Trưởng

Trang 21

ban Thương mại Đại sứ quán Thụy Điển; tọa đàm về Những bất cập của văn hóa

doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập – nguyên nhân và giải pháp Trong

phần 2 của chương trình Hội thảo là các tham luận: Thương hiệu và Văn hóa Doanh

nghiệp (Nguyễn Quốc Thịnh – Chủ tịch Hội đồng khoa học BCSI); Tương quan giữa

đạo đức kinh doanh và xây dựng thương hiệu doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay Tiếp đó là tọa đàm về Đạo đức kinh doanh củng cố và gia tăng uy tín cho thương hiệu doanh nghiệp Hội thảo được chia làm phần với hai chủ đề: Làm sao để Văn hóa doanh nghiệp không chỉ là khẩu hiệu và Đạo đức kinh doanh củng cố và gia tăng uy tín

cho thương hiệu doanh nghiệp

Như vậy, qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước cho thấy các công trình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng cả về

số lượng và nội dung đề tài nghiên cứu Các tác phẩm đã chỉ ra các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp; đề xuất các mô hình, loại hình văn hóa doanh nghiệp; nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp tới hiệu quả kinh doanh Số lượng các bài viết, nghiên cứu về sự thành công trong xây dựng và phát huy văn hóa doanh nghiệp của Viettel cũng rất phong phú đa dạng, tuy nhiên chưa có tác phẩm nào đi sâu vào việc phân tích văn hóa kết hợp Đông Tây của Viettel trong đầu tư ra nước ngoài Do đó, trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới đòi hỏi Viettel cần tạo ra sự khác biệt trong bản sắc văn hóa của mình

1.1.2 Nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu về văn hóa tổ chức trở thành là khuynh hướng trên thế giới những năm 1980 xuất phát từ việc các doanh nghiệp phương Tây nhận ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận về tổ chức, đặc biệt khi nền kinh tế Nhật Bản gặt hái nhiều thành công vang dội, trong đó VHDN được xem là một yếu tố quan trọng góp thành công đó Các doanh nghiệp hiện nay đang dần thay đổi, bỏ đi các cơ cấu phức tạp, cơ chế kế hoạch cứng nhắc, máy móc khiến doanh nghiệp phải chịu sự suy giảm về kinh tế, và hướng đến văn hóa tổ chức giàu trí tưởng tượng để hiểu cách thức tổ chức hoạt động như thế nào trong văn hóa doanh nghiệp

Trên thế giới, nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp thường có hai cách tiếp cận

để nghiên cứu khác nhau đó là: “Cách tiếp cận vi mô” và “Cách tiếp cận vĩ mô”

Trang 22

Cách tiếp cận vi mô là cách tiếp cận từ góc độ các nhà quản lý doanh nghiệp tác

nghiệp, trong đó chú tâm vào việc tìm hiểu, khám phá tính chất quản lý của nhân tố

văn hoá trong quản lý doanh nghiệp Cách tiếp cận vĩ mô chính là tiếp cận từ góc độ

ảnh hưởng của nhân tố văn hoá đối với việc quản lý kinh doanh, trong đó cách tiếp cận này tập trung vào các khía cạnh ảnh hưởng của nhân tố văn hoá đối với các doanh nghiệp Đặc biệt các doanh nghiệp có môi trường tổ chức hay môi trường

hoạt động đa văn hóa

* Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Edgar H.Schein

Nhà khoa học và chuyên gia nổi tiếng về VHDN tại Hoa Kỳ, tác giả sử dụng phương thức đánh giá VDHN mang tính thực tiễn nhiều hơn lý thuyết của phương

pháp khung giá trị cạnh tranh

Theo Edgar H Schein, ông chia thành ba cấp độ khác nhau cho văn hóa doanh nghiệp Để có thể cảm nhận được giá trị văn hóa doanh nghiệp, Edgar H Schein dùng thuật ngữ cấp để chỉ ra mức độ cảm nhận tính hữu hình của các giá trị văn hóa đó Cách tiếp cận nền văn hóa từ hiện tượng đến bản chất giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về những bộ phận cấu thành của nền văn hóa đó, đây là cách tiếp cận độc đáo giúp chúng ta hiểu hơn về giá trị văn hóa doanh nghiệp

Cấp độ 1: Cách ứng xử và các yếu tố hữu hình Trong đó các yếu tố hữu hình

bao gồm: trang phục, giai thoại, câu chuyện và các kiến trúc nội thất,

Cấp độ 2: Các giá trị được chấp nhận gồm các yếu tố văn hóa được mong

muốn của tổ chức

Cấp độ 3: Những thói quen, ngầm định nền tảng của văn hóa doanh nghiệp

gồm niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công ty chấp nhận

Ưu điểm mô hình đơn giản và rất thực tiễn, phù hợp với doanh nghiệp nhỏ Dựa theo mô hình này nhà lãnh đạo nhận diện sâu sắc, cụ thể các yếu tố VHDN và mối liên quan giữa chúng, đồng thời nhận thấy những yếu tố cần thay đổi phù hợp với môi trường, tuy nhiên cách tiếp cận này còn hạn chế như hoạt động tổ chức thực hiện, triển

khai, kiểm tra, đánh giá VHDN chưa được tiến hành một cách thống nhất, tổng thể

Trang 23

Ưu điểm mô hình đơn giản và rất thực tiễn, phù hợp với doanh nghiệp nhỏ Dựa theo mô hình này nhà lãnh đạo nhận diện sâu sắc, cụ thể các yếu tố VHDN và mối liên quan giữa chúng, đồng thời nhận thấy những yếu tố cần thay đổi phù hợp với môi trường, tuy nhiên cách tiếp cận này còn hạn chế như hoạt động tổ chức thực hiện, triển

khai, kiểm tra, đánh giá VHDN chưa được tiến hành một cách thống nhất, tổng thể

* Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Herb Kelleher

Herb Kelleher đã đưa ra nhiều quan điểm hữu ích và thực hành thành công VHDN, ông cho rằng VHDN là tài sản không thể thay thế được, nếu doanh nghiệp thiếu vốn thì có thể đi vay, thiếu nhân viên thì có thể tuyển dụng thêm, thiếu thị trường có thể từng bước mở rộng, các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể bắt trước nhưng không thể bắt trước hay đi mua lòng tận tụy và trung thành của nhân viên Đồng thời ông đưa ra các bảy bước tuyển dụng nhân viên theo VHDN,

và mười một lời khuyên về quản lý nhân viên có liên quan đến VHDN, và mười bốn điểm cần lưu ý khi xây dựng VHDN Tác giả thừa nhận VHDN là tài sản, chưa đưa

ra các quản trị tài sản đó, chỉ tập trung vào một bước xây dựng VHDN, còn hoạt

động khác như tổ chức thực hiện, triển khai, kiểm tra chưa đề cập tới

* Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Hofstede:

Ông đưa ra năm chiều văn hóa doanh nghiệp bao gồm:

- Khoảng các quyền lực(PDI): là chỉ số đo lường sự bất bình đẳng giữa

những người không có quyền lực và người có quyền lực, quyền lực của cá nhân trong một doanh nghiệp, nền văn hóa hoặc của một quốc gia Nếu PDI cao đồng nghĩa xã hội chấp nhận sự không công bằng về quyền lực, ngược lại PDI thấp quyền lực chia sẻ, phân tán đồng đều trong tổ chức

- Chủ nghĩa cá nhân (IDV): sức mạnh của các nhân trong tổ chức, nếu IDV

cao thì cá nhân có kết nối lỏng lỏe, ít kết nối và chia sẻ với mọi người, IDV thấp các nhân gắn kết mạnh mẽ, trung thành, tôn trọng lẫn nhau

- Nam tính (MAS): đề cập gắn kết và đề cao vai trò truyền thống của nam và

nữ, MAS cao là những nơi nam giới được trông đợi là trụ cột, mạnh mẽ; phụ nữ không được giao trọng trách và công việc thuộc về giới nam, nếu MAS thấp không đảo ngược vai trò giới tính mà chỉ đơn giản làm mờ vai trò của nó

Trang 24

- Chỉ số né tránh sự không chắc chăn (UAI): chỉ mưc độ lo lắng của các

thành viên về những tình huống không chắc chắn.s, chỉ số UAI cao luôn cố gắng tránh các tình huống không rõ ràng, chắc chắn hết mức có thể; UAI thấp cho thấy

xã hội đó thích hưởng ứng sự kiện mới và các giá trị khác

- Định hướng dài hạn (LTO): đề cập đến xã hội đánh giá các giá trị xã hội

tồn tại lâu đời, không phải ngắn hạn và truyền thống như thế nào

Nhược điểm mô hình VHDN này chỉ dừng lại mức độ tiếp cận phát hiện và ghi nhận những nét khác biệt, không tìm hiểu, lý giải nguồn gốc những phát hiện đó, VHDN không bao giờ dậm chân tại chỗ, chúng thay đổi theo theo thời gian; do vậy quản trị văn hóa doanh nghiệp này cho nó phát triển đúng hướng là yêu cầu cấp thiết

* Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Cameron và Quinn:

Cameron và Quinn phân loại doanh nghiệp thành bốn kiểu văn hóa chính dựa trên các tiêu chí về văn hóa hợp tác, sáng tạo, kiểm soát và cạnh tranh:

- Văn hóa hợp tác: đó là văn hóa cởi mở, môi trường làm việc thân thiện dễ

chia sẻ, trung thành và mang tính đồng đội, lấy yếu tố con người làm trung tâm

- Văn hóa sáng tạo: nền văn hóa sáng tạo, năng động và môi trường làm việc

chủ động, thúc đẩy sự sáng tạo, chấp nhận thử thách, tập trung vào kết quả lâu dài, dẫn đầu thị trường là giá trị cốt lõi

- Văn hóa kiểm soát: nền văn hóa nghiêm túc và môi trường làm việc có tổ

chức, có ý thức kỷ luật cao, tuân thủ các nguyên tắc và quy trình, duy trì kết quả trong dài hạn, sự đảm bảo và ăn chắc mặc bền là giá trị cốt lõi

- Văn hóa cạnh tranh: Luôn hướng đến cái đích cuối cùng là kết quả, có ý

thức cao về tính cạnh tranh và cố gắng đạt mục tiêu bản thân đề ra bằng mọi giá

Tập trung đo lường kết quả, đạt vị thế dẫn đầu thị trường là quan trọng

Ưu điêm mô hình này doanh nghiệp xác định VHDN ở hiện tại, xác định loại hình VHDN mong muốn trong tương lai, đưa ra chiến lược duy trì, định hướng và thay đổi VHDN phù hợp với thực tế; nhận dạng được điểm mạnh điểm yếu phục vụ cho việc lên kế hoạch thay đổi Hạn chế của nghiên cứu là khó có VHDN nào chỉ tập trung và một loại duy nhất, mà sự dụng công cụ đánh giá VHDN OCAI bao gồm một khung văn hóa tập trung chính và một khug văn hóa phụ, dựa vadfo các qua sát sự

Trang 25

khác biệt giữa mô hình hiện tại và mô hình mong muốn để có những điều chình đạt được mô hình mong muốn Tuy nhiên nghiên cứu này làm rõ các bước đầu nhận dạng VHDN hiện tại, điểm mạnh và điểm yếu, đưa ra điều chỉnh, chưa đề cập công tác triển khai VHDN đó trên thực tế như thế nào, khi nào cần tiến hành điều chỉnh, tác giả chưa tiếp cập theo bốn bước bước để thực hiện quản trị VHDN này

* Mô hình DOCS của Dension:

Mô hình Denison được phát triển bởi Tiến sĩ Daniel Denison Nghiên cứu

của Tiến sĩ Denison tập trung vào mối liên hệ giữa văn hóa tổ chức và các biện pháp hiệu mấu chốt như lợi nhuận, tăng trưởng, chất lượng, đổi mới, sự hài lòng của khách hàng và nhân viên

"Niềm tin” và “Giả định" chính là trung tâm của mô hình DOCS Mỗi người trong chúng ta đều có niềm tin sâu sắc về tổ chức, đồng nghiệp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh và ngành công nghiệp của chúng ta Mô hình Denison và khảo sát cho phép chúng ta tiết lộ những “niềm tin và giả định” cơ bản theo những cách có thể nhận biết và đo lường được tác động đến hiệu quả tổ chức

Mô hình trả lời bốn câu hỏi chính về tổ chức của bạn: Nhiệm vụ; Khả năng thích ứng; Sự tham gia; Tính nhất quán Đây là những đặc điểm trong mô hình Denison Mỗi đặc điểm tổ chức này được chia thành ba chỉ số Các chỉ mục này mô

tả các hành vi cụ thể trong ngôn ngữ kinh doanh để làm cho kết quả có liên quan và

có thể hành động trong tổ chức của bạn

Có nhiều tổ chức đang sử dụng mô hình này, giúp tổ chức giải thích được mối liên hệ giữa các yếu tố của VHDN, sự thay đổi của VHDN để có chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Nghiên cứu chỉ ra VHDN bắt nguồn từ đâu, bao gồm những yếu tố nào, xác định các chiều của VHDN và sức ảnh hưởng của chúng đến tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh của một đơn vị, VHDN phải mang tính chất ổn định trong tầm nhìn, giá trị, sứ mệnh nhưng mang tính linh hoạt trong cấu trúc và hoạt động, tập trung vào sự thích ứng với bên ngoài cũng như trong nội

bộ Tuy nhiên nghiên cứu chưa chỉ rõ trong hoạt động như tổ chức thực hiện VHDN như thế nào, tiến hành kiểm tra việc thực hiện; coi VHDN giống như phạm trù

Trang 26

truyền trong quản lý truyền thống nhưng không đưa giải pháp tổng thể quản trị nó như nguồn nhân lực, quản trị marketing

1.2 Cơ sở lý luận về văn hoá doanh nghiệp

1.2.1 Các quan niệm và định nghĩa về văn hoá doanh nghiệp

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Văn hóa của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội gồm có những nét đặc trưng về cảm xúc, tâm hồn, vật chất và tri thức, ngoài văn học nghệ thuật, cả cách sống, truyền thống, đức tin, phương thức chung sống và hệ thống giá trị.”

Theo E Herriot: “Văn hóa là sự thiếu sót sau khi người ta đã học tất cả, là cái còn lại sau khi người ta quên đi tất cả” Bên cạnh đó, “Văn hóa còn có thể được hiểu là nguồn lực nội sinh của từng người, là kiểu sống, cách sống và là thước đó giá trị của các doanh nghiệp tổ chức, cộng đồng xã hội, các giá trị Chân - Thiện -

Mỹ chính là trung tâm của Văn hóa doanh nghiệp” (Đỗ Minh Cương, 2001)

Nếu đứng từ một góc độ khác để nhìn nhận về văn hóa, Bùi Xuân Phong (2009) cho rằng: “Văn hóa là sự bao quát tất cả cho những hoạt động về cả vật chất lẫn tinh thần mà con người trên Trái Đất đã sáng tạo ra xuyên suốt chiều dài lịch sử của mình trong mối quan hệ giữa con người với con người, với tự nhiên và với xã hội Tất cả đều được được đúc kết lại thành thước đọ về giá trị và sự chuẩn mực của

xã hội Khi nói tới văn hóa là chúng ta sẽ nói tới con người, nói tới sự hoàn thiện về con người, hoàn thiện về xã hội bởi sự phát triển, phát huy những tư duy năng lực bản chất của con người Và chúng ta có thể nói văn hóa là tất cả những gì gắn liền với đời sống, ý thức và tư duy của con người để rồi lại quay trở lại với chính nó” Như vậy có thể nói “văn hóa là sự bao quát tất cả cho những hoạt động về cả vật chất lẫn tinh thần mà con người trên Trái Đất đã sáng tạo ra xuyên suốt chiều dài lịch sử của mình trong quan hệ giữa con người với con người, với tự nhiên và xã hội Tất cả được đúc kết lại thành thước đo về giá trị và sự chuẩn mực của xã hội”

Theo Tổ chức Lao đọ ng Quốc tế (ILO): “Va n hóa doanh nghiẹ p là sự trọ n lẫn đạ c biẹ t các giá trị, các tie u chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái đọ ứng

xử và lễ nghi mà toàn bọ chúng là duy nhất đối với mọ t tổ chức đã biết”

Trang 27

Mọ t định nghĩa phổ biến và đu ợc chấp nhạ n rọ ng rãi do chuye n gia nghie n cứu các tổ chức Edgar Schein đu a ra: “Va n hóa doanh nghiẹ p là tổng hợp các quan niẹ m chung mà các thành vie n trong co ng ty học đu ợc trong quá trình giải quyết các vấn đề nọ i bọ và xử lý các vấn đề với mo i tru ờng xung quanh” (E Schein, 2010)

Theo Đỗ Minh Cu o ng (2001) “Va n hoá kinh doanh là viẹ c sử dụng các nha n

tố va n hoá vào trong hoạt đọ ng kinh doanh của chủ thể, là va n hoá mà các chủ thể tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành ne n những kiểu kinh doanh ổn định và

đạ c thù của nó”

Điểm chung của các định nghĩa tre n là “Va n hóa doanh nghiẹ p có tính ổn định và bền vững, bất chấp sự thay đổi thu ờng xuye n của các cá nha n, kể cả những ngu ời sáng lạ p và lãnh đạo doanh nghiẹ p” Nó tác đọ ng sa u sắc tớI đọ ng co hành

đọ ng của doanh nghiẹ p, tạo thành định hu ớng có tính chất chiến lu ợc cho bản tha n doanh nghiẹ p Va n hóa doanh nghiẹ p có vai trò là mọ t lực lu ợng hu ớng dẫn, là ý chí thống nhất của tất cả lãnh đạo và cán bọ nha n vie n của doanh nghiẹ p

Dựa tre n những nghie n cứu của các học giả, va n hoá doanh nghiẹ p có thể

đu ợc định nghĩa nhu sau: “Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ những nhân tố và sản phẩm văn hoá (vật thể và phi vật thể/tinh thần và vật chất) được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, biểu hiện trong hoạt động kinh doanh Tất cả những thứ đó đã tạo nên bản sắc văn hóa riêng của doanh nghiệp, bên cạnh đó có tác động, ảnh hưởng trực tiếp tới nhận thức, hành vi của các thành viên trong một doanh nghiệp”

1.2.2 Các cấp độ của văn hoá doanh nghiệp

Hình 1.1 Mô hình 3 cấp độ của văn hóa doanh nghiệp

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Trang 28

Theo Edgar H Schein, cấu trúc của một hệ thống văn hoá doanh nghiệp có thể chia thành ba cấp độ khác nhau Thuật ngữ “cấp độ” dùng để chỉ mức độ có thể cảm nhận được của các giá trị văn hoá doanh nghiệp hay nói cách khác là tính hữu hình của các giá trị văn hoá đó Đây là cách tiếp cận độc đáo, đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hoá, giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc những bộ phận cấu thành của nền văn hoá đó

Cấp độ thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp Bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một người có thể nhìn, nghe

và cảm thấy khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hoá xa lạ như:

- Kiến trúc, cách bài trí; công nghệ, sản phẩm

- Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của doanh nghiệp

- Các văn bản qui định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp

- Lễ nghi và lễ hội hàng năm

- Các biểu tượng, logo, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo của doanh nghiệp

- Ngôn ngữ, cách ăn mặc, xe cộ, chức danh, cách biểu lộ cảm xúc, hành vi ứng xử thường thấy của các thành viên và các nhóm làm việc trong doanh nghiệp

- Những câu chuyện và những huyền thoại về tổ chức

- Hình thức, mẫu mã của sản phẩm

- Thái độ và cung cách ứng xử của các thành viên doanh nghiệp

Đây là cấp độ văn hoá có thể nhận thấy ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên, nhất

là với những yếu tố vật chất như: Kiến trúc, bài trí, đồng phục… Cấp độ văn hoá này có đặc điểm chung là chịu ảnh hưởng nhiều của tính chất công việc kinh doanh của công ty, quan điểm của người lãnh đạo… Tuy nhiên, cấp độ văn hoá này dễ thay đổi và ít khi thể hiện được những giá trị thực sự trong văn hóa doanh nghiệp

Cấp độ thứ hai: Những giá trị được chia sẻ, tuyên bố (bao gồm các chiến lược, mục tiêu, triết lí của doanh nghiệp)

Doanh nghiệp nào cũng có những qui định, nguyên tắc, triết lí, chiến lược và mục tiêu riêng, là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ nhân viên và thường được công bố rộng rãi ra công chúng Đây cũng chính là những giá trị được công bố, một

bộ phận của nền văn hóa doanh nghiệp

Trang 29

“Những giá trị tuyên bố” cũng có tính hữu hình vì người ta có thể nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác Chúng thực hiện chức năng hướng dẫn cho các thành viên trong doanh nghiệp cách thức đối phó với một số tình thế cơ bản và rèn luyện cách ứng xử cho các thành viên mới trong môi trường doanh nghiệp

Cấp độ thứ ba: Những ngầm định nền tảng (những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp)

Trong bất cứ cấp độ văn hoá nào (văn hoá dân tộc, văn hoá kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp…) cũng đều có các quan niệm chung, được hình thành và tồn tại trong một thời gian dài, chúng ăn sâu vào tâm lí của hầu hết các thành viên trong nền văn hoá đó và trở thành điều mặc nhiên được công nhận

Ví dụ, cùng một vấn đề: Vai trò của người phụ nữ trong xã hội, văn hoá Á Đông nói chung và văn hoá Việt Nam nói riêng có quan niệm truyền thống: Nhiệm

vụ quan trọng nhất của phụ nữ là chăm lo cho gia đình, còn công việc ngoài xã hội

là thứ yếu Trong khi đó văn hoá phương Tây lại quan niệm: Người phụ nữ có quyền tự do cá nhân và không phải chịu sự ràng buộc quá khắt khe vào lễ giáo truyền thống

Để hình thành được các quan niệm chung, một cộng đồng văn hoá (ở bất kì cấp độ nào) phải trải qua quá trình hoạt động lâu dài, va chạm và xử lí nhiều tình huống thực tiễn Chính vì vậy, một khi đã hình thành, các quan niệm sẽ rất khó bị thay đổi Không phải vô lí mà hàng chục năm nay, bình đẳng nam - nữ vẫn đang là một mục tiêu mà nhiều quốc gia, không chỉ ở châu Á hướng tới Quan niệm “trọng nam khinh nữ” vốn đã trở thành quan niệm chung của nhiều nền văn hoá, nhiều cấp

độ văn hoá Xã hội ngày càng văn minh, con người có trình độ học vấn ngày càng cao, hầu như ai cũng được nghe và có thể nói về bình quyền, nhưng khi sinh con, nhiều ông bố bà mẹ vẫn “mong con trai hơn”; khi xét thăng chức cho nhân viên, giữa hai người một nam, một nữ thì ông chủ vẫn thích chọn người nam hơn vì “vấn

đề sức khoẻ, thời gian cho công việc…” Những hiện tượng này chính là xuất phát

từ quan niệm ẩn, đã tồn tại bao đời nay và không thể thay đổi nhanh chóng (dù là khoảng thời gian hàng chục năm)

Trang 30

Một khi trong tổ chức đã hình thành được quan niệm chung, tức là các thành viên cùng nhau chia sẻ và hành động theo đúng quan niệm chung đó, họ sẽ rất khó chấp nhận những hành vi đi ngược lại Ví dụ, cùng một vấn đề trả lương cho người lao động, các công ty Mĩ và nhiều nước châu Âu thường có chung quan niệm trả theo năng lực Chính vì vậy, một người lao động trẻ mới vào nghề có thể nhận được mức lương rất cao nếu họ thực sự có tài Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp châu Á, trong đó có Việt Nam, lại chia sẻ chung quan niệm: Trả theo thâm niên, người lao động thường được đánh giá và trả lương tăng dần theo thâm niên cống hiến cho doanh nghiệp Một người lao động trẻ rất khó có thể nhận được mức lương cao ngay từ đầu

1.2.3 Văn hóa Đông Tây và sự ảnh hưởng của văn hóa trong doanh nghiệp

1.2.3.1 Sự hình thành văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây

Về mặt địa lý cơ sở của vùng văn hóa: Phương Tây gồm: khu vực Tây – Bắc của địa cầu, từ châu Âu đến dãy Uran; Phương Đông gồm phần châu Á còn lại và châu Phi; phương Tây điển hình là khu vực Tây Âu còn phương Đông điển hình là khu vực Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á

Do văn hóa được tạo ra bởi con người và yếu tố tự nhiên nên nguồn gốc sâu

xa cho tất cả những khác biệt về văn hóa đó chính là do sự khác nhau về điều kiện

tự nhiên (khí hậu, địa lý) và xã hội (nền kinh tế- biến động lịch sử) quy định

Phương Đông với các vùng đồng bằng trù phú mênh mông và những con sống lớn kéo dài là do môi trường sống của cư dân nơi đây là khí hậu nhiệt đới nên sinh ra nóng ẩm, mưa nhiều quanh năm, thích hợp cho chăn nuôi và trồng trọt Còn Phương Tây phần lới là núi và cao nguyên mênh mông do ở đây là khí hậu ôn đới, không thích hợp cho thực vật phát triển và sinh trưởng, thuận lợi cho giao thương buôn bán

Cư dân của hai khu vực phải sinh sống bằng nghề chủ yếu là chăn nuôi và trồng trọt do điều kiện thời tiết, khí hậu và địa hình đồng bằng, đồng cỏ Chính những nghề trồng trọt bắt buộc cư dân phải sống định cư, vì khi trồng cây thì phải chăm bón chờ cho cây lớn lên để còn thu hoạch Bên cạnh đó là còn những loại cây

Trang 31

lâu năm, phải trồng đến 10-20 năm mới thu hoạch được Còn kinh tế chăn nuôi thì khác: đàn gia súc chính là tài sản của dân du mục Gia súc ăn cỏ và không bị cố định như cái cây, gia súc được nuôi theo chu kì trưởng thành đến một mức nhất định thì có thể bán Vậy nên nghề du mục là lối sống du cư - vừa đi vừa ở, nay đây mai đó, không nhất thiết phải cố định ở một nơi nào mới có thể chăn nuôi như nghề trồng trọt được

Chính những tính chất như thế đã hình thành nên hai loại hình văn hóa ứng với hai loại hình kinh tế một cách rõ ràng: Văn hóa kiểu nông nghiệp luôn mang tính chất trọng tĩnh, con người ra luôn có suy nghĩ tạo dựng một cuộc sống ổn định, lâu dài, không xáo trộn Còn văn hóa kiểu du mục thì mang tính chất trọng động, con người nơi đây luôn suy nghĩ tổ chức thế nào để có thể di chuyển một cách linh hoạt, gọn gàng, thuận tiện và nhanh chóng Từ đó, các nền văn hóa phương Đông với tính chất là nền nông nghiệp luôn mang nét văn hóa trọng tĩnh; và ngược lại là nét văn hóa trọng động cho nền văn hóa phương Tây với tính chất là gốc du mục

1.2.3.2 Các đặc trưng của văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây

* Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên: vô tình đã tạo nên hai thái

cực đối lập về văn hóa: Dân nông nghiệp của phương Đông sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, luôn ở cố định một chỗ với nhà cửa và công việc của mình nên có ý thức tôn trọng, một phần là chấp nhận, không dám ganh đua, đấu tranh với thiên nhiên Với nền văn hóa trọng tĩnh phương Đông, cư dân nơi đây luôn mong muốn

có thể sống hòa hợp với điều kiện thiên nhiên mang lại

Còn đối với dân du mục của phương Tây thì ngược lại, nếu họ cảm thấy ở nơi này không thuận lợi cho sự phát triển trong công việc, họ dễ dàng bỏ đi nơi khác để tìm kiếm sự phát triển cho bản thân Bởi vậy, người dân ở đây dễ dẫn đến tâm lý coi thường thiên nhiên; chính vì vậy sự tham vọng chinh phục và chế ngự thiên nhiên đã in sâu vào trong suy nghĩ của những người phương Tây-nơi mang nền văn hóa trọng động

Mỗi nền văn hóa ở hai nơi đều có những mặt tích cực và mặt tiêu cực riêng

Sự tôn trọng thiên nhiên khiến con người ta giữ gìn được bản sắc, môi trường sống

tự nhiên riêng biệt của từng vùng lãnh thổ, nhưng nó khiến con người ta trở nên e

Trang 32

ngại, rụt rè, không dám đấu tranh để đổi lấy quyền tự chủ cho bản thân Còn sự coi thường thiên nhiên đã khuyến khích con người ta dũng cảm nhìn nhận, đứng lên để chống lại với thiên nhiên, giúp cho khoa học phát triển, nhân loại có thể làm chủ được thiên nhiên, nhưng chính những mong muốn điều khiển thiên nhiên đó đã trực tiếp làm hủy hoại môi trường, quy luật tự nhiên của vòng quay Trái Đất

*Về mặt nhận thức: Nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây đã

hình thành nên hai kiểu tư duy trái ngược nhau: Nghề nông, tiêu biểu là nghề nông nghiệp lúa nước, người phương Đông luôn phải sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều như: Trời, đất, nắng, mưa Nghề nông nghiệp lúa nước phải phụ thuộc vào tất cả điều khiện khí hậu thiên nhiên, chứ không một hiện tượng khí hậu riêng lẻ nào Vào vụ mùa lúa nước, nếu điều kiện khí hậu khắc nghiệt, mưa nhiều quá sẽ làm ngập úng nước mất mùa màng, không mưa cũng ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng nông sản Tương tự như vậy, nếu khí hậu nắng nóng dẫn đến đất đai khô cằn hay không có nắng cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nông sản cuối vụ mùa

Tất cả những đặc trưng về mặt nhận thức đã hình thành nên lối tư duy tổng hợp Lối tư duy đó kéo theo biện chứng - sự quan tâm của người làm nông nghiệp

là tập hợp các yếu tố có mối quan hệ qua lại với nhau, chứ không phải là một tập hợp yếu tố riêng biệt nào đó Biện chứng là chú trọng đến tất cả mọi mối quan hệ giữa chúng, còn tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố - đó là nét đặc trưng về tư duy nhận thức của văn hóa Phương Đông trong nền văn hóa nông nghiệp trọng tĩnh mà điển hình là mô hình nông nghiệp lúa nước

Trái ngược với tư duy nhận thức của người phương Đông, thì nghề chăn nuôi lại tập trung vào đàn gia súc, con vật, mà không phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thiên nhiên Bắt nguồn từ chỉnh thể, con người sẽ đi theo lối tư duy phân tích để tách ra các yếu tố cấu thành; từ con vật hoàn chỉnh mổ xẻ chia ra các bộ phận Và các bộ phận riêng lẻ ấy chính là những đối tượng được tập trung quan tâm (vì mối liên hệ giữa chúng trong chỉnh thể đã là đương nhiên), cho nên phân tích kéo theo siêu hình - chú ý tới các yếu tố trừu tượng hóa chúng khỏi các mối liên hệ Phân tích và siêu hình - đó chính là đặc trưng tư duy của văn hóa trọng động mà phương Tây là điển hình

Trang 33

Nguồn gốc cho sự hình thành của KHOA HỌC và chiều dài phát triển tư duy khoa học theo nghĩa phương Tây - con đường thực nghiệm khách quan lý tính; bởi

tư duy phân tích vào siêu hình Khoa học hình thành theo con đường thực nghiệm, khách quan, lý tính Một tư tưởng sẽ được coi là khoa học khi nó: a) được biện giải, lập luận một cách chặt chẽ, lý tính; và b) kiểm tra được bằng thực nghiệm Để đạt được hai tiêu chuẩn ấy, việc nghiên cứu khoa học bao giờ cũng phải giới hạn đối tượng nghiên cứu, cô lập nó khỏi các đối tượng có liên quan (kể cả người nghiên cứu), xem xét nó như bằng cặp mắt của người khác (khách quan) Tất cả những lý lẽ đó tạo nên tính chặt chẽ

và sức thuyết phục của khoa học Tuy nhiên, do phương pháp khoa học bao giờ cũng giới hạn đối tượng cho nên cái đúng của khoa học chỉ là đúng trong phạm vi những giới hạn ấy, bởi vậy, khoa học chỉ là những cố gắng "đi gần đến chân lý bằng cách tạo ra những trừu tượng, những khái niệm, những quy luật" Tức là, khoa học có nhược điểm thì sẽ có phần sai lầm Xuất hiện một nghịch lý: chính vì luôn chứa sai lầm cho nên khoa học phát triển rất nhanh (tư tưởng trước sai nên mới có tư tưởng sau thay thế nó)

Trái lại, với hướng tư duy tổng hợp - biện chứng, sự để tâm chú ý không bị tập trung vào một thứ mà sẽ bị phân tán, việc tạo nên ngành khoa học chuyên sâu sẽ không cần có bất cứ điều kiện nào, nhưng thay vào đó sẽ là nền tảng cho việc xây dựng nên một nền ĐẠO HỌC - đó là bộ máy hệ thống những tri thức được thu bởi con đường chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm Vì tiếp cận đối tượng một cách tổng hợp nên phải xem xét nó trong sự tồn tại tự nhiên, trong sự liên hệ tự nhiên với vạn vật và con người, nên xem xét nó bằng con mắt của chính mình (chủ quan) Vì luôn đặt mình trong liên

hệ với đối tượng nghiên cứu và với tự nhiên nên phải dùng trực giác, cảm tính Vì chủ quan và cảm tính nên mỗi người tiếp nhận luôn phải kiểm tra tính xác thực của kết luận bằng kinh nghiệm của chính mình Do không có sự chứng minh hay biện luận nào nên tri thức đạo học vẫn sẽ tồn đọng những nhược điểm là khả năng thuyết phục còn thấp, nhưng thay vào đó, nó luôn thể hiện được sự diễn đạt súc tích, ngắn gọn - từ đó đã tạo

ra tính thâm thúy của Đạo Học Thêm vào đó, do được hình thành một cách tự nhiên (không bị giới hạn đối tượng) và được kiểm chứng bằng kinh nghiệm của nhiều thế hệ nên tính đúng của đạo học thường khá cao Chính vì vậy mà tư tưởng phương Đông cổ truyền hàng ngàn đời nay ít có gì thay đổi

Trang 34

* Về mặt tổ chức cộng đồng: Nguyên tắc và Các thức tổ chức cộng đồng là

hai phương diện ta có thể xem xét

Xét trên nguyên tắc tổ chức cộng đồng, đối với những người làm nông nghiệp họ luôn thích cách tổ chức theo nguyên tắc trọng nghĩa, trọng tình Khi họ sống cạnh nhau, trở thành hàng của nhau thì họ luôn cố gắng tạo ra một cuộc sống vui vẻ, hòa thuận với nhau, lấy tình nghĩa làm cơ sở cho sự chung sống gắn bó lâu dài Theo tục ngữ Việt Nam

“Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình” nhắc người ta nên tôn trong “cái tình” và đặt “cái tình” lên trên hết Với lối sống đặt “cái tình” lên trên hết, thì ta mới có thể giữa hòa khí, tình nghĩa giữa người với người và tất yếu sẽ dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ

Ngược lại với những người làm nông nghiệp, họ luôn trọng những người có tài, có võ, trọng sức mạnh và trọng nam giới Đó chính là những nét điển hình cho nguyên tắc tổ chức cộng đồng của người phương Tây

Chính bởi lối tư duy tổng hợp - biện chứng, khiến người làm nông nghiệp luôn phải suy nghĩ, cân nhắc về công việc cộng với nguyên tắc sống trọng tình đã dẫn đến cách tổ chức cộng đồng theo lối linh hoạt, sao cho thích hợp với từng thời gian, hoàn cảnh cụ thể Để làm nên một lối sống linh hoạt, một cuộc sống hòa thuận vui vẻ, người dân nơi đây đã sử dụng nguyên tắc sống trọng tình cảm Đó cũng chính

là cơ sở của tâm lý hiếu hòa trong quan hệ xã hội

Muốn sống bằng tình cảm giữa con người với con người thì trong quan hệ xã hội con người phải luôn biết tôn trọng nhau lẫn nhau và đối xử bình đẳng (dân chủ) với nhau Đấy được gọi là nền dân chủ làng mạc, nền dân chủ này đã có từ thời nền dân chủ tư sản phương Tây và quân chủ phong kiến phương Đông Người phương Đông luôn có tâm lý coi trọng tập thể, cộng động là đặc trưng quan trọng bậc nhất của văn hóa Đặc trưng đó được bắt nguồn từ cách cư xử dân chủ và lối sống trọng tình nghĩa, làm gì cũng nghĩ đến tập thể, luôn có tập thể đứng sau

Trái lại, cách thức tổ chức cộng đồng theo quy tắc của người phương Tây là

từ tư duy phân tích và siêu hình của văn hóa trọng động Trong cuộc sống du cư của người phương Tây từ xa đưa đã đòi hỏi con người phải luôn sống và hoạt động có tổ

Trang 35

chức, chấp hành kỷ luật, có tính tổ chức chặt chẽ cao, sớm dẫn đến sự hình thành một nếp sống theo pháp luật Cách thức tổ chức theo nguyên tắc liên quan đến lối sống trọng lý - đề cao lý trí Để quyền lực tuyệt đối nằm trong tay thì người cai trị phải duy trì được các nguyên tắc, cách cư xử, kỷ luật, văn hóa trong động trong tổ chức Tâm lý trọng cá nhân của văn hóa phương Tây được bắt nguồn từ chính những tư duy phân tích và cách tổ chức cộng đồng theo nguyên tắc nhất định và tư duy phân tích Cá nhân người cai trị luôn được coi trọng từ thời trung cổ trở về trước nhưng đến thời dân chủ tư sản trở lại đây, nền văn hóa phương Tây luôn coi trọng sự tự do cá nhân của mỗi con người

* Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách

linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận và mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó; trong khi đó tinh thần trọng võ, lối sống theo nguyên tắc của văn hóa trọng động dẫn đến lối ứng xử độc tôn trong tiếp nhận và cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó (ưa giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực và khi giải quyết luôn có tham vọng buộc đối phương khuất phục hoàn toàn)

Các quốc gia có văn hóa trọng động thường sử dụng những chính sách cai trị cực đoan, hà khắc, trong nền văn hóa tôn giáo cũng luôn có những chính sách độc tôn Trong mối quan hệ với các nước lân bang thì chiến tranh thường là cách được chọn để giải quyết các mâu thuẫn giữa các quốc gia Lịch sử nhân loại cho thấy rằng tất cả những cuộc chiến tranh xâm lược đều do những dân tộc thuộc loại hình văn hóa trọng động gây ra cho những dân tộc thuộc loại hình văn hóa trọng tĩnh

Các đặc trưng vừa phân tích của hai loại hình văn hóa trọng tĩnh và trọng động có thể được trình bày trong bảngdưới đây:

Trang 36

Bảng 1.1 Các đặc trưng của hai loại hình văn hóa

Tiêu chí Văn hóa phương Đông

(trọng tĩnh gốc nông nghiệp)

Văn hóa phương Tây (trọng động gốc du

mục) Đặc

Lối nhận thức tư duy

Thiên về tổng hợp và biện chứng (trọng quan hệ); Chủ quan, cảm tính và kinh nghiệp

Thiên về phân tích và siêu hình (trọng yếu tố); Khách quan, lí tính và thực nghiệm

Tổ chức

cộng đồng

Nguyên tắc tổ chức CĐ

Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ

Trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam

cá nhân

Ứng xử với môi

trường xã hội

Dung hợp và dân chủ chủ trong tiếp nhận; mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó

Chiếm đoạt và độc tôn trong tiếp nhận; cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó

1.2.3.2 Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông - phương Tây đến văn hoá doanh nghiệp

Quá trình hình thành và các đặc trưng của văn hoá phương Đông, phương Tây tác động vào nền văn hoá dân tộc của mỗi quốc gia và VHDN cũng không nằm ngoài quy luật đó, VHDN là một nền tiểu văn hoá nằm trong văn hoá dân tộc

Quan niệm của người phương Tây và người phương Đông về văn hoá có những điềm chung nhưng cũng có những điểm khác nhau Sự giống nhau giữa hai

Trang 37

quan niệm trên đƣợc thể hiện trên nền văn hoá bao gồm: các tầng, lớp luôn có những giá trị khác nhau, giá trị đó đƣợc thể hiện bằng những khả năng nhận biết riêng biệt trên các dấu hiệu khác nhau

Hình 1.2: Quan điểm đặc trưng phương Tây

Hình 1.3: Quan điểm đặc trưng phương Đông

Trang 38

Người phương Tây thường tiếp cận văn hóa theo cách riêng biệt, chính những cách tiếp cận đó đã hình thành nên ba lớp: Giá trị về nhân sinh quan, giá trị

về thế giới quan, và giá trị về niềm tin được hình nằm ở hạt nhân Tất cả những giá trị trên thường được biểu hiện ở những mơ ước, những hoài bão, những nguyên tắc

và triết lý của những hành động ở lớp trung gian Còn về các mục tiêu, hành vi thái

độ, những hành động và kết quả nhận được là biểu hiện cho những đặc trưng trực quan ở lớp ngoài cùng Để xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại các tổ chức, doanh nghiệp, công ty, những nhà quản lý họ đã khéo léo vận dụng và kết hợp những đặc điểm này để đưa vào thực tiễn tỏng việc xây dựng nền văn hóa doanh nghiệp Thuyết Đức trị của Khổng Tử đã có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của người phương Đông, thuyết Đức trị đã mang đến sự thay đổi quan tọng về đời sống lẫn suy nghĩ của con người nơi đây Thuyết Đức trị dựa trên cái gốc của Đạo Nhân với năm chữ: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, trên nền tảng đó, họ nhấn mạnh về vai trò của người và nhân cách: để làm nên sự nghiệp thành công thì trước tiên mỗi người đều phải tu thân Trong năm chữ của Đạo Nhân thì chữ “Nhân” sẽ là cái gốc rễ, luôn nằm ở vị trí trung tâm với vai trò triết lý, chi phối, điều khiển nhận thức và hành vi của con người Tiếp đến là 3 chữ “Nghĩa”, “Lễ” và “Trí” sẽ nằm ở vị trí tiếp theo với mục đích thể hiện vai trò phương châm hành động, chữ Nghĩa thể hiện hành động của cá nhân, chữ Lễ thể hiện phương pháp, kinh nghiệm, thói quen hành động và chữ Tín thể hiện phương tiện tri thức Lớp ngoài cùng sẽ là “Tín”, chữ Tín luôn thể hiện vai trò mục đích của hành vi, biểu hiện điều mình theo đuổi và những

hệ quả của chúng được đánh giá bởi những người khác Tất cả 5 chữ trên đã tạo nên một cấu trúc ba lớp để mô tả về tư tưởng của Đạo Nhân Khi đối chiếu với một công

ty, tổ chức doanh nghiệp thì: Triết lý quản lý, triết lý kinh doanh là “Nhân”; Kinh nghiệm, chuẩn mực hành vi và triết lý của từng cá nhân là “Nghĩa”; phương pháp điều hành, nguyên tắc, quy định và ra quyết định, môi trường kao động là “Lễ”; phương tiện công nghệ, điều kiện tác nghiệp là “Tín” Và chữ tín luôn là phương châm, cái mục tiêu của kinh doanh và kết quả thực hiện những mục tiêu đó Từ trước đến nay, các doanh nghiệp ở cả phương Đông và phương Tây luôn áp dụng tư

Trang 39

tưởng này vào trong quản trị doanh nghiệp hiện đại để vận dụng, vận hành và phát triển doanh nghiệp của họ

1.2.4 Vai trò của văn hoá kết hợp Đông Tây trong hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng

Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản là 3 quốc gia tiêu biểu của phương Đông

về sự phát triển vượt trội và có những tâm gương sáng đã có những thành công tiêu biểu cho nền phát triển của quốc gia Trong số những bài học có thể rút ra được từ các quốc gia nói trên có bài học về giữ gìn bản sắc ưu việt của văn hoá truyền thống, loại bỏ những yếu tố văn hoá lạc hậu, lỗi thời, hạn chế do nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu gắn liền với công xã nông thôn quy định, và tiếp thu những yếu tố văn hoá mới, tiên tiến của phương Tây

Một điển hình khác là Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người vốn hết sức Việt Nam và rất Á Đông, nhưng lại được dư luận rộng rãi của phương Tây thừa nhận như một nhân vật văn hóa của mình Người là hiện thân cho cuộc đấu tranh quyết liệt chống chủ nghĩa thực dân phương Tây, nhưng lại rất gần với văn hóa phương Tây Theo Lacouture thì Hồ Chí Minh được Paris ưa thích (cả khu thợ thuyền Paris lẫn Paris của giai cấp thống trị) Bên cạnh lối tư duy phương Đông hướng về trực giác và tổng hợp, tiền đề của sự nhạy bén chính trị, chẳng hạn lời dặn dò của Người với cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi đi Pháp “dĩ bất biến ứng vạn biến” Hồ Chí Minh học được ở phương Tây phương pháp phân tích, lý tính và khoa học Sainteny nhận xét là Hồ Chí Minh đã bổ sung vào vốn trí thức của mình “những hiểu biết chung tiếp thu được qua những chuyến đi, nhất là ở Paris, đủ để phát triển khả năng phân tích,

sự mềm dẻo và đầu óc tò mò tìm hiểu mà cuộc đời ông sẽ sử dụng rất tốt”.Còn với nước Mỹ, nhận xét của Lacouture: “Ông - tức Hồ Chí Minh – có những dấu hiệu rõ ràng về những mối liên hệ tri thức và chính trị với nhân dân Mỹ” Thượng nghị sĩ Anh Warby nói: “Sự ngưỡng mộ của Hồ Chí Minh đối với những thành tích lịch sử và hoài bão của nhân dân Mỹ bắt nguồn từ những chuyến thăm New York, Boston Ông đã có

cơ hội biết và yêu mến nhân dân Mỹ và ngưỡng mộ Lincoln”

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

long trọng trích dẫn những văn bản của hai cuộc cách mạng tư sản Pháp và Mỹ

Trang 40

Ông say sưa đọc những tác phẩm của Victor Hugo, Michelet, A.France, Shakespeare, Dickens, Leon Tolstoi Có phải vì thế mà Lacouture nhận ra trong thơ Hồ Chí Minh “hội tụ cảm xúc Á Đông và chủ nghĩa lãng mạn Pháp”

Những câu chuyện về đề tài này chắc nói mãi không cạn Những câu chuyện xoay quanh một danh nhân lịch sử đáng kính như Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người giản dị, lão thực, thích hài hước, một cách hài hước pha trộn Đông và Tây, vừa có cái hồn nhiên, láu lỉnh của nông dân, vừa có giọng châm biếm của nhà Nho, cộng thêm chất dí dỏm của dân Paris

Qua đó có thể thấy vai trò quan trọng của việc kết hợp các điểm mạnh, các tinh hoa của 2 nền văn hóa Đông Tây, một số điểm quan trọng trong việc kết hợp văn hóa Đông-Tây để tạo nên sự thành công:

Đầu tiên, mỗi quốc gia phải tạo ra được một môi trường đa văn hóa riêng trong sự phát triển về văn hóa, đời sống của quốc gia đó Tính đa văn hóa trong phát triển văn hóa quốc gia hiện nay được hiểu là tính chất đa dạng, sự giao lưu và tồn tại đan xen các dạng thức văn hóa khác nhau trong một nền văn hóa thống nhất Trong môi trường đa văn hóa

ấy cần được hiểu cả hai chiều cạnh: (1) tạo ra sự giao lưu và tính tiếp biến giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại; (2) tạo lập môi trường giao lưu giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây

Bài học của các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới cho thấy tạo lập một môi trường đa văn hóa không những không cản trở mà còn tạo động lực cho sự cho sự phát triển của quốc gia Nhật Bản là một quốc gia phát triển vào bậc nhất của châu Á Sự phát triển mang tính thần kỳ của Nhật Bản biểu hiện rõ nhất vào những năm 60 thế kỷ XX, nhưng ít ai biết được rằng để có được sự phát triển

đó người Nhật Bản đã âm thầm tạo động lực cho sự phát triển từ gần một thế kỷ trước đó, mà một trong những động lực cho sự phát triển ngay từ đầu đã được người Nhật Bản xác định là xây dựng một nền văn hóa “đa văn hóa” Một trong những câu nói cửa miệng nổi tiếng của người Nhật những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

“Con người Nhật Bản, kỹ thuật phương Tây” đã minh chứng cho điều đó Trên thế giới, không chỉ có Nhật Bản mà còn nhiều quốc gia khác như Hoa Kỳ, Canađa,

Ngày đăng: 07/09/2020, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Minh Cương, 2001. Văn hoá kinh doanh và triết lý kinh doanh. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá kinh doanh và triết lý kinh doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
2. Dương Thị Liễu (chủ biên), 2006. Bài giảng: Văn hoá kinh doanh. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng: Văn hoá kinh doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
3. Phùng Xuân Nhạ, 2011. Nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Nguyễn Mạnh Quân, 2007. Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp. Hà nội: Nhà xuất bản Đại học kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học kinh tế Quốc dân
5. Bùi Xuân Phong, 2010. Duy trì và phát triển VHDN nhằm phát triển bền vững và hội nhập quốc tế VNPT. Ấn phẩm Khoa học công nghệ Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duy trì và phát triển VHDN nhằm phát triển bền vững và hội nhập quốc tế VNPT
6. Quách Thị Ngọc Hà, 2015. Văn hoá doanh nghiệp của Viettel trong giai đoạn chủ động hội nhập quốc tế. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá doanh nghiệp của Viettel trong giai đoạn chủ động hội nhập quốc tế
7. Trần Thị Huyền, 2013. Duy trì và phát triển văn hoá doanh nghiệp Viettel để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duy trì và phát triển văn hoá doanh nghiệp Viettel để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế
8. Trần Thị Thu Hà, 2012. Văn hoá doanh nghiệp Công ty Vinaphone. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá doanh nghiệp Công ty Vinaphone
9. Đinh Tấn Hữu, 2014. Phát triển văn hóa doanh nghiệp tai VNPT tỉnh Long An. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa doanh nghiệp tai VNPT tỉnh Long An

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w