- Các doanh nghiệp tự xây dựng quỹ lương của mình dựa vào đơn giá tiền lương có điều chỉnh tuỳ thuộc vào sự biến động của thị trường.- Nếu sản phẩm do doanh nghiệp tự định giá thì đơn gi
Trang 1PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG QUỸ TIỀN LƯƠNG Ở
CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
1 Phương pháp xây dựng quỹ tiền lương ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay.
Theo quy định hiện nay Nhà nước không trực tiếp quản lý tổng quỹ lương của doanh nghiệp Doanh nghiệp có quyền tự xây dựng quỹ tiền lương Quỹ tiền lươngcủa doanh nghiệp được hình thành khác nhau qua từng thời kỳ.
Các phương pháp xây dựng quỹ tiền lương.
a Phương pháp xây dựng quỹ lương dựa vào tiền lương bình quân và số lương người làm việc.
Trong thời kỳ bao cấp( từ năm 1992 trở về trước) các doanh nghiệp xây dựng quỹ lương hàng năm dựa vào mức tiền lương bình quân một người và số người làm trong doanh nghiệp Doanh nghiệp phải kế hoạch hoá quỹ lương sau trình Nhà nước Doanh nghiệp muốn tăng hay giảm quỹ lương phải làm bản tường trình lên cấp trên và chờ cấp trên xét duyệt Đây
là mô hình quỹ tiền lương bao cấp mang nặng tính chất bình quân và khuyến khích doanh nghiệp lấy người vào biên chế vô tội vạ.
b Phương pháp xác định quỹ lương dựa vào khối lượng sản xuất kinh doanh.
Từ năm 1992 cho đến khi có quyết định217- HĐBT giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các đơn vị cơ sở, các doanh nghiệp sản xuất xây dựng quỹ tiền lương hàng năm của mình dựa vào khối lượng sản xuất kinh doanh Phương pháp xây dựng quũylương này dựa vào công thức:
Q TLKH =ĐGTL x K
Trong đó:
QTLKH: Quỹ tiền lương kế hoạch của doanh nghiệp một năm.
K: Khối lượng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong
Trang 2ĐGTL: Đơn giá tiền lương( Định mức chi phí tiền lương trên
một đơn vị khối lượng sản xuất kinh doanh) và được xác định bằng công thức:
Q CNBC + Q PVBC +Q QLBC
ĐGTL=
K Trong đó:
Q CNBC: Quỹ lương định mức của công nhân công nghệ.
Q PVBC :Quỹ lương định mức của công nhân phục vụ sản xuất.
Q QLBC : Quỹ tiền lương định mức của lao động quản lý.
K: Khối lượng sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp được tính theo giá trị: Tổng sản lượng, sản lượng hàng hoá
Phương pháp xây dựng quản lý này đã khắc phục tính chất bình quân bao cấp cũ Nó mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp trên lĩnh vực sản xuất
và tiền lương Nhưng việc định mức đơn giá tiền lương và xác định khối lượng sản xuất kinh doanh là rất khó khăn, phức tạp và Nhà nước vẫn phải can thiệp trực tiếp như: quản lý định mức, hệ thống thang bảng lương cứng
và quy định các loại phụ cấp cùng điều kiện áp dụng Nói một cách khác Nhà nước vẫn quản lý chặt chẽ đầu vào Nhưng về thực chất Nhà nước chỉ quản lý được khối lượng sản xuất kinh doanh Nhà nước chưa dùng tiền để quản lý kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
c Phương pháp tổng thu -tổng chi
Từ năm 1997 đến nay thì các doanh nghiệp thường xây dựng quỹ lương hàng năm của mình dựa vào tổng thu và tổng chi.
Phương pháp lấy tổng thu trừ tổng chi là phương pháp phổ biến nhất
mà mọi doanh nghiệp đều có thể làm được Nó được sử dụng trong mấy năm gần đâyvà được tính theo công thức:
Q TL +D = (C+V+m) - (C 1 +C 2 ) - E
Trang 3( C+ V+ m): Là tổng doanh thu của doanh nghiệp sau khi bán hàng hoá dịch vụ trên thị trường.
C 1 : Là chi phí khấu hao cơ bản.
C 2 : Là chi phí vật tư, nguyên liệu, năng lượng.
E: Các khoản nộp cho Nhà nước
Q TL +D : Quỹ tiền lương và các quỹ khác như quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợivà quỹ khen thưởng.
Thực chất của phương pháp này là Nhà nước chỉ quản lý đầu ra trên cơ sở xác định các thông số cho doanh nghiệp như tiền lương tối thiểu là 210.000 đồng /tháng (theo Thông tư số 06/ TC- TCDN ngày24/02/1997của Bộ tài chính và Nghị định số 03/ 2001/NĐ- CP-sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số28/CP ngày 28/03/1997) bỏ qua một số phụ cấp ở đầu vào như phụ cấp khuyến khích làm lương sản phẩm, tiền lương từ quỹ nộp bảo hiểm là 15% tổng quỹ lương, tháng lương coi như là một thông số.
Xây dựng tiền lương theo phương pháp này giúp doanh nghiệp như chủ động được nguồn động viên vật chất đối với người lao động, mặt khác cũng
có điều kiện để hình thành các quỹ ở doanh nghiệp( kể cả quỹ dự trữ) Nhưng phương pháp này cũng nổi lên một số nhược điểm cơ bản là Nhà nước không quản lý được thu chi của doanh nghiệp, chi phí tài sản cố định còn quá thấp so với thực tế Chưa bóc tách được lợi thế của doanh nghiệp thuộc các loại khác nhau Qúa trình thực tế hình thành quĩy lương tổng hợp lại xảy ra với quá trình đầu tiên bước vào sản xuất vì người sử dụng lao động ký hợp đồng lao động đã nêu mức chi phí tiền lương trong hợp đồng lao động.
Do đó nhiều doanh nghiệp đã hình thành quỹ tiền lương cao hơn( không phải do hiệu quả) để chia nhau ra, đã ăn vào vốn Ngược lại một
số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả lại vin vào không lãi để giảm tiền lương và thu nhập của người lao động.
d Phương pháp xây dựng quỹ lương căn cứ vào đơn giá tiền lương.
Từ cuối năm 1990 đến nay theo QĐ317/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 1/9/1990 có một số thay đổi như sau:
3
3
Trang 4- Các doanh nghiệp tự xây dựng quỹ lương của mình dựa vào đơn giá tiền lương có điều chỉnh tuỳ thuộc vào sự biến động của thị trường.
- Nếu sản phẩm do doanh nghiệp tự định giá thì đơn giá tiền lương được tính bằng tỷ lệ tiền lương, trên đơn giá bán ra một đơn vị sản phẩm( nếu sản phẩm ổn định), là tỷ lệ tiền lương trên tổng doanh thu( nếu sản phẩm không ổn định).
- Tiền lương phải là nguồn còn lại sau khi đã trừ đi các khoản nộp nghĩa vụ và trích nộp các quỹ hợp lý Quỹ tiền thưởng được không được phép lớn hơn 50% quỹ tiền lương thực tế Doanh nghiệp không được lấy bất kỳ nguồn thưởng nào klhác.
- Tiền lương, tiền thưởng của giám đốc không được lớn hơn 3 lần tiền thưởng bình quân trong doanh nghiệp.
Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp phải đăng ký với Ngân hàng.
e Phương pháp giao khoán về tiền lương của doanh nghiệp.
Giao khoán quỹ tiền lươngở các doanh nghiệp thể hiện với một chi phí tiền lương nhất định đòi hỏi người lao động phải hoàn thành một khối lượng công việc, số lượng sản phẩm với chất lượng quy định trong thời gian nhất định.
Giao khoán quỹ lương kích thích người lao động quan tâm tới kết quả sản xuất, tiết kiệm lao động sốngvà làm cho doanh nghiệp tự chủ hơn trong sản xuất.
Để có thể thực hiện công tác giao khoán quỹ lương cần phải xác định đơn giá tổng hợp.
ĐG TH =ĐG i +CF QL +CF PV
Trong đó:
ĐG TH : Đơn giá tổng hợp cho một sản phẩm cuối cùng.
Trang 5CF QL : Chi phí quản lý cho một đơn vị sản phẩm.
CF PV : Chi phí phục vụ cho một đơn vị sản phẩm.
Ngoài ra trong đơn giá có tính thêm tỷ lệ thưởng trong đơn giá, hệ số trượt giá.
Từ đó tính ra được quỹ tiền lương của đơn vị là:
Sau đó đơn vị tiến hành chia lương cho người lao động
2 Phương pháp quản lý quỹ lương trong các doanh nghiệp hiện nay.
Để đánh giá hiệu quả của công tác quản lý quỹ tiền lương của các doanh nghiệp hiện nay, chủ yếu người ta căn cứ vào việc áp dụng các hình thức chia lương phù hợp sao cho khuyến khích người lao động Mặt khác doanh nghiệp phải tạo nguồn tiền lương hợp lý, tăng thu nhập cho người lao độngmà không vi phạm các chế độ chính sách, bảo toàn vốn và phát triển doanh nghiệp.
Quy trình chia lương: Với tổng quỹ lương có thể sử dụng, doanh nghiệp tiến hành chia lương cho từng người.
- Trước hết là tính tiền lương bình quân toàn doanh nghiệp trong một năm (cụ thể hoá cho từng người).
- Chia tổng quỹ tiền lương ra làm hai khu vực : Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp, xác định tiền lương bình quân từng người ở khu vực trong một năm.
- Chia lương trong khu vực gián tiếp ( tính theo dồng /người/tháng).
- Chia lương trong khu vực trực tiếp( tính theo đồng/người/ tháng) Cuối cùng là so sánh mức thu nhập tiền lương giữa lao động trực tiếp và lao động gián tiếp thời kỳ trước và sau, đảm bảo tốc độ tăng tiền lương bình
5
5
Trang 6quân của cán bộ khoa học kỹ thuật phải lớn hơn tốc độ tăng tiền lương của công nhân sản xuất, thời kỳ sau phải cao hơn thời kỳ trước, tốc độ tăng năng suất lao động phải lớn hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân( thu nhập bình quân) của toàn doanh nghiệp.
Tóm lại, quá trình chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế tự chủ kinh doanh , hoạt động của các doanh nghiệp cần phải tiến hành đổi mới thực sự các phương pháp quản lý kinh tế Nhà nước không bao cấp cho các doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải tự thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi và phải đảm bảo có lãi vì Nhà nước không bù lỗ Các doanh nghiệp phải tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ, quan tâm đến thị hiếu khách hàng, phải tìm nguồn cung ứng nguyên vật liệu, tăng năng suất lao động để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường Tiền lương là một phần quan trọng trong giá thành sản phẩm và dịch vụ nên yêu cầu đặt ra là phải sử dụng quỹ tiền lương có hiệu quả Tiền lương của người lao động không giảm đi nhưng tăng lên phải hợp lý so với mức tăng của năng suất lao động, không ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Do vậy các doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện công tác xây dựng và quả lý quỹ lương.
Các phương pháp xây dựng và sử dụng quỹ tiền lương đều có những ưu nhược điểm nhất định song phụ thuộc vào từng loại hình kinh doanh, đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mà áp dụng cụ thể Đối với doanh nghiệp thương mại dịch vụ thì sử dụng chủ yếu hình thức giao khoán quỹ tiền lương theo đơn giá khoán sản phẩm, phân phối lương theo hình thức lương thời gian và sản phẩm tập thể
Mục tiêu cuối cùng của công tác tiền lương là đảm bảo tiền lương phản ánh đúng kết quả lao động, kết quả kinh doanh, đảm bảo tính công bằng hợp lý, đảm bảo tốc độ tăng của tiền lương bình quân của doanh nghiệp chậm hơn tốc độ tăng năng suất lao động Để đảm bảo các yêu cầu tiền lương của mỗi người sẽ tăng lên do quỹ tiền lương của họ cũng tăng lên Mặt khác bên cạnh những doanh nghiệp làm tốt công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương còn có không ít các doanh nghiệp làm chưa tốt bởi
Trang 7tiền lương của nhà nước vẫn còn trong giai đoạn điều chỉnh đổi mới, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa mang tính ổn định, trình
độ và kinh nghiệm của cán bộ làm công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương còn thấp chưa coi trọng đúng mức lợi ích kinh tế của người lao động
Vì vậy, không ngừng hoàn thiện công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương
là một tất yếu khách quan đối với mỗi doanh nghiệp.
PHẦN II:
7
7
Trang 8ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ QUỸ TIỀN LƯƠNG Ở TRUNG TÂM QUẢN LÝ BAY DÂN DỤNG
VIỆT NAM.
I QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM.
Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam mới chính thức trở thành doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích chuyên ngành quản lý, điều hành bay
từ năm 1998 Nhưng là đơn vị đảm nhận chức năng điều hành bay một trong ba hoạt động cơ bản của ngành hàng không (Vận tải-Sân bay- Điều hành bay) Trung tâm đã ra đời và phát triển gắn liền với lịch sử hơn 40 năm của ngành hàng không dân dụng Việt Nam.
Ngành hàng không dân dụng Việt Nam ra đời khi Cục hàng không dân dụng Việt Nam được thành lập theo quyết định 666/TTg (ngày 15/01/1956) của Thủ tướng nước Việt nam dân chủ cộng hoà (Nay là nước CHXHCNVN) Cục HKDDVN lúc đó trực thuộc Thủ tướng Chính phủ nhưng tạm thời đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và quân uỷ Trung ương Mặc dù thiếu thốn về người, trang thiết bị nhưng để thực hiện nhiệm vụ Cục HKDDVN đã nhanh chóng tổ chức được một số bộ phận công tác chủ yếu trong đó có Quản lý bay Sau đó cùng với sự phát triển của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam bộ phận quản lý bay được nâng cấp thành Cục quản lý bay trực thuộc Cục HKDDVN.
Theo quyết định số 1888-QĐ-TCB-LĐ (Ngày 15/10/1990) Cục quản lý bay được đổi tên thành công ty QLBDDVN trực thuộc Tổng công ty Hàng không Việt Nam.
Trung tâm quản lý bay DDVN được chính thức thành lập từ ngày 20/04/1993 theo quyết định của Bộ trưởng Bộ GTVT với các đặc trưng:
Trang 9- Là một đơn vị sự nghiệp có thu.
Ngày 24/01/1998 Thủ Tướng chính phủ đã ra quyết định TTg Chuyển trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam thành doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích với vốn điều lệ tại thời điểm thành lập là 517.416.000.000đ Trung tâm vẫn trực thuộc Cục HKDDVN Trụ sở chính đặt tại sân bay Gia Lâm- Huyện Gia Lâm- Hà Nội nhưng đổi tên giao dịch quốc tế thành VIET NAM AIR TRAFFIC MANAGEMENT (VATM).
15/1998/QĐ-1 Chức năng , nhiệm vụ của Trung tâm QLBDDVN
Trung tâm QLBDD Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích trực thuộc Cục HKDDVN được Cục trưởng cục HKDDVN uỷ quyền quản lý nhà nước chuyên ngành QLBDD, cung cấp dịch vụ không lưu và các dịch vụ khác có liên quan cho các hãng hàng không trong- ngoài nước Chức năng, nhiệm vụ của trung tâm QLBDDVN được quy định phù hợp với luật HKDDVN và các văn bản dưới luật có liên quan
1.1 Chức năng
Trung tâm quản lý bay DDVN có hai chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất: Quản lý, điều hành bay đối với tất cả các máy bay dân dụng trên vùng trời nước CHXHCN Việt Nam và không phận được phân công.
Thứ hai: Cung cấp dịch vụ không lưu trong vùng thông báo bay(FIRs Fly Information Regions) Hà Nội và TPHCM; cung cấp các dịch vụ thông tin quản lý và thông tin thương mại cho các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài để khai thác đường HKDD và không phận được phân công, các hoạt động HKDD
1.2 Nhiệm vụ.
Điều hành, cung cấp các dịch vụ không lưu và các dịch vụ phụ trợ khác( gọi chung là các dịch vụ điều hành bay) một cách an toàn- điều hoà- hiệu quả cho tất cả các tàu bay dân dụng hoạt động tại các Cảng hàng không sân bay toàn quốc trên vùng trời thuộc nước CHXHCN Việt Nam và trong các tư vùng thông báo bay do Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế( ICAO) giao cho Việt Nam điều hành, theo đúng các quy định, quy chế của Nhà nước, các tiêu chuẩn, khuyến cáo thực hành của ICAO
9
9
Trang 10Phối hợp, hiệp đồng với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc cung ứng các dịch vụ điều hành bay cho các tàu bay hoạt động công vụ, các hoạt động bay khác không nhằm mục đích dân dụng trong nước và quốc tế Phối hợp, hiệp đồng với các Cảng hàng không sân bay, các cơ quan đơn vị có liên quan trong và ngoài ngành HKDD để tổ chức triển khai tìm kiếm, cứu nạn tàu bay Xử lýcác tình huống can thiệp bất hợp pháp khi tàu bay dân dụng đang hoạt động theo quy định của Cục HKDD Việt Nam.
Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quốc phòng trong việc quản lý vùng trời, tuân thủ các quy định về đảm bảo an ninh, an toàn và bảo vệ vùng trời chủ quyền quốc gia Được quyền cấp giấy phép bay trong các trường hợp khẩn cấp theo quy chế cấp phép bay của Chính phủ và các quy định của Cục HKDD Việt Nam.
Đó là ba nhiệm vụ cơ bản nhất Ngoài ra Trung tâm QLBDDVN còn có các nhiệm vụ.
Quản lý, sử dụng tốt vốn, tài sản, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật mà Nhà nước giao.
Lập và tổ chức thực hiện các kế hoạch về đầu tư, phát triển ngành Quản
Xuất nhập khẩu các trang thiết bị, phương tiện thuộc chuyên ngành.
Tổ chức các hoạt động kinh doanh ngoài nhiệm vụ công ích trên cơ sở tận dụng hiệu quả các nguồn lực và không ảnh tới việc thực hiện các chỉ tiêu
kế hoạch công ích Thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường.
2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý:
Để thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ cơ bản trên Trung tâm hiện
có 5 đơn vị thành viên và 7 phòng ban giúp việc cho Tổng giám đốc (Sơ đồ 1).
Trang 11Do hoạt động của Trung tâm mang tính đặc thù là đơn vị cung cấp dịch
vụ với hàm lượng kỹ thuật cao, phạm vi hoạt động rộng nằm ở tất cả các nơi trên vùng trời của cả nước và không phận quốc tế do ICAO phân công, do vậy việc quản lý hoạt động của trung tâm là công việc rất khó khăn đòi hỏi phải có tính kỷ luật cao, bởi nó liên quan trực tiếp đến tính mạng con người
và của cải vật chất.
Bộ máy quản lý của Trung tâm được xây dựng theo mô hình trực tuyến các phòng ban có chức năng tham mưu, quản lý theo ba cấp: Cục hàng không dân dụng Việt Nam - Tổng công ty quản lý bay dân dụng Việt Nam - Công ty quản lý bay khu vực Đứng đầu ban lãnh đạo là Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước Cục hàng không dân dụng Việt Nam để chỉ đạo trực tiếp các phòng nghiệp vụ và hệ thống các khu vực, các phòng ban và các khu vực quản lý điều hành bay cung cấp thông tin phản hồi cho ban lãnh đạo Điều này được thể hiện rõ ở sơ đồ tổ chức của Tổng công ty quản lý điều hành bay dân dụng Việt Nam ( Sơ đồ 1)
* Ưu điểm:
-Tất cả các đơn vị trong Trung tâm đều chịu sự chỉ đạo của Ban giám đốc nên hoạt động kinh doanh dịch vụ trong Trung tâm điều hành bay là thống nhất.
-Ban giám đốc kiểm soát mọi hoạt động của đơn vị do đó việc đánh giá chất lượng công tác của đơn vị đều do Ban giám đốc quyết định tránh được hiện tượng bao che giữa các đơn vị.
* Nhược điểm:
Ban giám đốc quản lý tất cả các đơn vị do vậy nhiệm vụcủa Ban giám đốc quá nặng nề và nhiệm vụ của các phòng chức năng lại đơn giản Các phòng ban trực tiếp chỉ đạo các đơn vị cấp dưới khicó sự chỉ đạo của Ban giám đốc Như vậy các phòng ban không chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình và không có điều kiện để phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật
3 Đặc điểm quy trình hoạt động công nghệ ngành quản lý bay.
Quy trình hoạt động của Trung tâm QLBDDVN là tổng hợp của nhiều quá trình bộ phận với những bước công việc khác nhau (Sơ đồ 2).
11
11
Trang 12Sơ đồ 2 đã cho thấy phần nào tính chất phức tạp trong quy trình hoạt động của Trung tâm QLBDDVN Các quá trình bộ phận có những yêu cầu chuyên môn riêng, liênquan đến nhiều lĩnh vực như: Kỹ thuật, thông tin, khí tượng Nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó quá trình không lưu có thể coi như công đoạn cuối trong dây chuyền quản lý, điều hành bay của Trung tâm QLBDDVN Sơ đồ 3 mô tả dây chuyền hoạt động chính của các dịch vụ quản lý bay sẽ cho thấy điều đó
Dịch vụ không lưu được cung cấp thông qua tổ hợp Thông tin- Giám sát- Dẫn đường tập trung tại hai trung tâm kiểm soát đường dài (ACC-HCM
Và ACC-HAN) 3 Trung tâm kiểm soát tiếp cận (HAN, APPDAN , HCM) và các đài kiểm soát cất- hạ cánh tại sân (TWRs) người lao động trực tiếp thực hiện cung cấp dịch vụ này là các kiểm soát viên không lưu.
APP-Dịch vụ không báo: Là dịch vụ cung cấp các thông tin có liên quan đến các hoạt động trước và trong các chuyến bay như tình trạng đường bay, khí tượng, hệ thống phụ trợ sân bay, đặc điểm vùng chờ, vùng cấm, vùng hạ cánh, các yếu tố ảnh hưởng đến hành trình bay, các thông tin liên quan đến quản lý vận tải, thương mại hàng không
Dịch vụ này được thực hiện thông quan các m,ạng thông tin viễn thông trong và ngoài nước, thông tin lưu động- cố định, đáp ứng nhu cầu cho tất
cả các cơ quan hữu trách, các nhà quản lý tàu bay và người lái tàu bay
Dịch vụ thông tin hành không : Gồm ba loại hình đảm bảo kỹ thuật: Thông tin liên lạc (COMUMICATION): truyền dãn, xử lý các thông báo hiệp đồng đến tất cả cá đối tượng liên quan đến hoạt động không lưu như:
Trang 13gồm hệ thống thông tin hàng không cố dịnh(AFTN) Thông tin hàng không lưu động (AMC) và thông tin trực thoại không lưu (ATS-DS).
Thông tin dẫn đường (NAVIGATION): Thiết lập các đài dẫn đưòng, điểm chuyển giao báo cáo, các cửa không lộ vào ra vùng tự nhiên quốc gia, loa hạ -cất cánh tại các Cảng hàng không sân bay Dịch vụ này được thực hiện thông qua mạng kỹ thuật nằm rải rác các nước bao gồm các đài phát mốc vô tuyến, phát định hướng, định vị, cự ly, đài cất- hạ cánh
Thông tin giám sát (SURVEILLANCE) : Giúp cho kiểm soát viên không lưu thấy được máy bay trong suốt quá trình điều hành bay Dịch vụ này được thực hiện thông qua mạng rađar hàng không, truyền dẫn qua mạng vệ tinh tập trung tại các trung tâm xử lý số liệu radar và đưa đến các bàn điều hành bay, phục vụ cho kiểm soát viên không lưu trong công tác điều hành Dịch vụ khí tượng hàng không: cung cấp cho các nhà quản lý tàu bay, người lái tàu bay trước và trong quá trình hoạt động bay tất cả các loại thông tin khí tượng cần thiết để đảm bảo bay an toàn hiệu quả Dịc vụ khí tượng gồm thông tin khí tượng vùng, khu vực và tại sân bay, cảnh báo dự báo khí tượng nguy hiểm
Dịch vụ tìm kiếm- cứu nạn: mục đích là để tăng độ tin cậy an toàn giao thông hàng không thường trực xử lý mọi tình huống bất trắc trong giao lưu hàng không Dịch vụ này được thực hiện dưới hình thức tổ chức các mạng thông tin cảnh báo, khẩn nguy, cài đặt dữ liệu báo động tai nạn, lập đội cơ động trang bị đầy đủ các phương tiện và thường trực tìm kiếm cứu nạn Khách hàng mà trung tâm cung cấp các dịch vụ trên bao gồm:
Các hãng Hàng không quốc tế bay quá cảnh bay trong các vùng thông báo bay của Việt Nam
Các hãng Hàng không nội địa bay quốc tế, quốc nội.
Các hãng Hàng không quốc tế bay đến- bay đi các sân bay Việt Nam Với đối tượng khách hàng và đặc điểm công nghệ dịch vụ như vậy Trung tâm QLBDDVN phải có mối quan hệ hợp tác quốc tế, quan hệ đối ngoại mở rộng hiệp đồng chặt chẽ trong khu vực Các nghề, công việc có mức
độ phức tạp kỹ thuật cao do đặc điểm đa dạng của máy móc, công nghệ điền hành, mật độ bay, quy mô hoạt động phân tán yêu cầu hiệp đồng cả trong
13
13
Trang 14nước và quốc tế Để đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các chuyến bay phần lới lực lượng lao động của Trung tâm phải trực liên tục 24/24 giờ trong ngày, 365/365 ngày trong năm bất kể tần suất bay nhiều hay ít; nhiều loại hình công việc được xếp vào hạng mục công việc nặng nhọc, độc hại hoặc đặc biệt nặng nhọc độc hại Do đó trung tâm phải bố trí thời gian luân phiên hợp lý cho các ca kíp để người lao động có thể nghỉ ngơi và học tập Đồng thời để
có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực và quốc tế, đáp ứng với các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng dịch vụ cung cấp, Trung tâm phải xây dựng cho mình một đội ngũ lao động có trình độ cao thường xuyên được bồi dưỡng, huấn luyện nghiệp vụ tại chỗ cũng như đào tạo lại ở trong và ngoài nước.
5 Một số kết quả hoạt động công ích và tình hình quản lý lao động của Trung tâm QLBDDVN.
5.1 Một số kết quả hoạt động công ích của Trung tâm.
Trong những năm qua nhờ sự quan tâm của Nhà nước và sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Trung tâm QLBDDVN luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, điều hành hàng năm trên 100.000 chuyến bay quốc tế, quốc nội một cách An toàn- Điều hoà- Hiệu quả, tạo ra doanh thu hàng trăm tỉ đồng đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước (Biểu 1)
Biểu1 là kết quả tổng hợp về hoạt động công ích và nộp Ngân sách của Trung tâm trong những năm 1998-2000 Dễ thấy rằng Trung tâm đã duy trì
ổn định hoạt động quản lý, điều hành bay và có hướng tăng trưởng bền vững Cụ thể sản lượng điều hành bay năm 2000 so với năm 1998 đã tăng 108,16% khiến cho doanh thu và nộp Ngân sách cũng tăng tương ứng là 115,02% và 140,66% trong khi tổng chi phí chỉ tăng 83,83%.Tỷ lệ tăng cao của doanh thu một phần là do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ nhưng lý do chính
là do sự tăng lên của các hoạt động bay quốc tế và quá cảnh, quốc tế đến- đi
vì đó là các hoạt động bay chiếm tỷ trọng chủ yếu trong sản lượng điều hành bay của Trung tâm Phần nộp Ngân sách năm 2000 so với năm 1998 tăng cao nguyên nhân chính là do ngành Hàng không đã mở thêm nhiều chuyến bay trong nước và quốc tế và các nước trong khu vực đã đang phục hồi lại
Trang 15tâm thực hiện chế độ hạch toán kế toán mới từ năm1998 ( phần nộp Ngân sách không phải toàn bộ chênh lệch Thu -Chi như trước kia mà là phần còn lại sau khi Trung tâm đã trích các quỹ theo quy định từ chênh lệch thu -chi hoạt động công ích)
Biểu 1: Một số chỉ tiêu hoạt động của Trung tâm thời gian qua.
Nguồn :Báo cáo chỉ tiêu thực hiện của Trung tâm
Biểu2: Sản lượng điều hành bay theo quý
Trang 16Nghiên cứu chi tiết các báo cáo về sản lượng điều hành bay theo từng quý trong các năm 1995- 2000 thì thấy rằng hoạt động của Trung tâm cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của yếu tố thời vụ< biểu 2>.
Sự biến động sản lượng điều hành bay ở biểu 2 cho thấy sản lượng điều hành bay thường tăng cao vào quý I và quý IV, quý III là thời gian sản lượng xuống thấpnhất Qua tìm hiểu, phân tích tôi nhận thấy sự biến động mang tính chất thời vụ này khá ổn định và cũng là hợp lý vì thời gian sản lượng bay cao cũng là thời gian thường diễn ra các hoạt động du lịch văn hoá- xã hội sôi nổi, nhu cầu giao thông hàng không tăng mạnh, sự tăng lên của sản lượng điều hành bay là để đáp ứng nhu cầu đó Đây cũng là một điểm Trung tâm cần lưu ý để xây dựng chương trình đào tạo- huấn luyện vào những khoảng thời gian hợp lý trong năm.
Hiện nay với cơ cấu lao động như báo cáo ở (biểu 3) công tác quản lý lao động của Trung tâm không phải là không khó khăn do sự phân chia lực lượng theo đơn vị, tính chất đa dạng của các chuyên ngành và một tỉ lệ đáng
kể là lao động nữ Dù vậy Trung tâm đã quan tâm khá đầy đủ về mọi mặt đời sống cho người lao động, tuân thủ đầy đủ pháp luật của Nhà nước Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt đông, Phòng TCCB- LĐTL đã phối hợp với các phòng ban chức năng có liên quan để xây dựng định mức lao động tổng hợp cho một đơn vị sản phẩm trên cơ sở đó xác định đơn giá tiền lương, xây dựng và phân bổ quỹ lương Hàng năm Trung tâm đều có kế hoạch đào tạo huấn luyện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức thi nâng bậc cho cán bộ công nhân viên theo định kỳ Công tác tổ chức lao động cũng được chú ý, thực hiện bố trí ca kíp hợp lý Các vấn đề BHXH, BHYT, hoạt động công đoàn, chế độ bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động được thực hiện nghiêm túc theo quy định của nhà nước Mặc dù tỷ lệ nữ không cao nhưng Trung tâm vẫn quan tâm đến bộ phận này tạo điều kiện cho chi
em an tâm làm việc Trung tâm đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật cho đội ngũ KSVKL, nhân viên khai thác vận hành các thiết bị chủ yếu ( nhưng chưa phải đã chuẩn mực và khoa học)
5.2 Cơ cấu và đặc điểm lao động.
Trang 17a1- Lao động trí óc kết quả lao động là dịch vụ, phần lớn lao động của
Trung tâm là lao động trí óc làm ra các dịch vụ (không thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất do vậy kết quả lao động khó đánh giá, khó đo lường bằng các
số đo tự nhiên gây khó khăn cho công tác định mức lao động.
a2- Do tính chất liên tục của công việc 24/24 giờ 365/365 ngày và tính
liên tục của dây chuyền công nghệ nên không thể dừng máy để nghỉ, giải quyết những nhu cầu riêng của cá nhân Vì vậy, phải bố trí nhiều ca để có thời gian luân phiên nghỉ ngơi.
a3- Các nghề, công việc có mức độ phức tạp kỹ thuật do các nguyên
nhân sau:
+ Đối với quá trình không lưu, không báo: do công nghệ điều hành trách nhiệm nặng nề, mật độ bay, sự phối hợp với Không quân và các nhà điều hành khác.
+ Đối với quá trình kỹ thuật- Thông tin: do máy móc đa dạng về chủng loại, công nghệ luôn đổi mới, yêu cầu hoạt động liên tục.
+ Đối với lao động quản lý: do quy mô quản lý, đặc điểm hoạt động phân tán, quan hệ quốc tế, phối hợp với các đơn vị liên quan.
+ Ngoài ra để có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực đòi hỏi chất lượng phục vụ phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế theo khuyến cáo của ICAO.
Vì vậy, phải xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao, thường xuyên
được bồi dưỡng huấn luyện nghiệp vụ tại chỗ cũng như đào tạo lại trong và ngoài nước
a4- Điều kiện lao động: Do ảnh hưởng bởi công suất và tần suất thu
phát, trách nhiệm công việc nặng nề, nơi làm việc xa xôi gây khó khăn cho sinh hoạt và ứng cứu nên có nhiều nghề của ngành QLB thuộc loại nặng nhọc, độc hại nguy hiểm Như vậy về mặt tổ chức lao động phải tạo ra nhiều ca làm việc
để có thể giảm bớt thời gian lao động thích hợp cho việc nghỉ ngơi, huấn luyện nghiệp vụ
b: Cơ cấu lao động
* Cơ cấu theo ngành nghề.
17
17
Trang 18Tính đến ngày31/12/2000 toàn Trung tâm có 1378 lao động so với năm
1998 có 1690 lao động giảm 312 lao động chứng tỏ Trung tâm đã thực hiện tinh giảm biên chế, chọn lọc lao động có chất lượng cao nhằm đáp ứng tốt hơn cho công việc và giảm được chi phí tiền lương cho doanh nghiệp
Biểu 3 Cơ cấu lao động của Trung tâm theo nghề.
Trang 19dịch vụ kỹ thuật quản lý bay công việc không liên quan đến công tác KSKL nên không có lao động thuộc nhóm này Thay vì đó đòi hỏi một lực lượng lao động có kỹ thuật cao chiếm 75,37% trong tổng số 99 lao động của đơn vị Số lao động quản lý thuộc về khối cơ quan chiếm 66.31% trong tổng số 157 lao động quản lý Ngoài ra tại trung tâm quản lý bay miền nam, miền trung và trung tâm dịch vụ kỹ thuật quản lý bay cũng có một tỉ lệ lao động quản lý khá cao
Biểu 4 Cơ cấu lao động của trung tâm theo trình độ đào tạo
Tuỳ theo mức độ phức tạp của công việc mà Trung tâm có kế hoạch phân
bổ lao động có trình độ một cách hợp lý Đối với lao động quản lý và lao động thuộc bộ phận dịch vụ kỹ thuật quản lý bay, do tính chất của công việc quản lý và dịch vụ kỹ thuật phức tạp nên đòi hỏi người lao động quản lý và lao động kỹ thuật phải có trình độ cao Vì vậy mà tỉ lệ người có trình độ ĐH/TĐH rất lớn chiếm 51,52% trong số 99 lao động của trung tâm dịch vụ
19
19
Trang 20kỹ thuật và 58,6% trong tổng số 157 lao động khối cơ quan Số liệu thống kê cho thấy trung tâm cần tăng cường nâng cao trình độ chuyên môn cho kỹ sư
và cán bộ công nhân viên để họ có thể làm việc tốt hơn với trình độ lành nghề cao hơn Muốn vậy trung tâm cần tạo điều kiện cho họ đi học để nâng cao trình độ và trình độ lành nghề cho họ bằng cách tổ chức các lớp học ở ngay trong trung tâm hoặc gửi đi đào tạo ở trong và ngoài nước Đối với những người có trình độ đại học và trên đại học cần cho đi học hỏi thêm kinh nghiệm của những nước tiên tiến hơn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm.
* Về mặt giới tính
Nhìn chung trung tâm có số lao động nam nhiều hơn nữ tổng số nam là
1040 người chiếm 75,5% và tổng số nữ là 338 người chiếm 24,5%
Tuỳ theo tính chất và mức độ nặng nhọc độc hại của công việc mà trung tâm phân bổ tỉ lệ này đến các đơn vị một cách hợp lý Đối với lao động nữ do đặc điểm riêng về sức khoẻ tâm sinh lý không thể làm việc ở những nơi độc hại nguy hiểm nên trung tâm đã phân bổ về khối cơ quan nhiều hơn chiếm 42,68% trong tổng số 157 lao động khối cơ quan.Điều này là rất hợp lý
Ta thấy tổng số lao động nam nhiều hơn nữ điều này rất phù hợp với tính chất công việc tạo điều kiện cho nâng cao hiệu quả lao động.
Trung tâm cần phải có kế hoạch để tận dụng nguồn lực này một cách hợp lý Tuy nhiên trung tâm cũng cần phải có những chủ trương chính sách quan tâm đến chị em như điều kiện làm việc, chế độ nghỉ ngơi, khen thưởng Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến quỹ tiền lương của trung tâm
Biểu 5: Cơ cấu lao động của trung tâm theo giới tính
Trang 21Nguồn: Phòng TCCB-LĐTL
* Về mặt độ tuổi
- Về cơ cấu lao động lực lượng lao động ở trung tâm phần lớn là lao động trẻ có trình độ chuyên môn cao được hình thành tư nhiều nguồn từ Cục HKDDVN và các trường đại học thuộc khối kinh tế, kỹ thuật lao động dưới
35 tuổi chiếm chủ yếu tới 49,4%, lao động tư 35-45 tuổi chiếm 35,69%, lao động từ 45-55 tuổi chiếm 12,1%, lao động từ 55-60 tuổi chiếm 1,54%.
Cơ cấu lao động trẻ nên trung tâm có khả năng phát triển đội ngũ kỹ sư, công nhân trong tương lai tương đối tốt Khả năng nâng cao trình đọ nghiệp
vụ, cải tiến máy móc thiết bị trong trung tâm tương đối cao Vì là đội ngũ lao động trẻ nên họ dễ có khả năng tiếp cận với những cái mới của khoa học kỹ thuật Tuy vậy đội ngũ lao động trẻ còn có nhược điểm là kinh nghiệm công tác còn hạn chế do đó công ty cần tăng cường đào tạo và kiểm tra chặt chẽ
để nâng cao trình độ cho họ.
Nhìn chung với các độ tuổi trên được phân bổ đều đến các đơn vị theo biểu 6.
Biểu 6 Cơ cấu lao động của trung tâm theo độ tuổi.(năm 2000)
và gắn bó với Trung tâm nhiều hơn.
21
21
Số lần hạ cất cánh cho từng loại máy bay
Trang 22Sơ đồ 2: Dây chuyền công nghệ hoạt động chính của các dịch vụ
quản lý bay
QUY TRÌNH QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNHBAY
KỸ THUẬT- THÔNG TIN(CNS) KHÔNG BÁO KHÔNG LƯU TÌM KIẾM- CỨU NẠN
KH T Í ƯỢNG Khai thác - Vận h nh à Bảo trì - Sửa chữa Hiệp đồng thông báo bay Đường d i à Tiếp cận
Tại sân Quan trắc Báo vụ Điền đồ
Dự báo
Chỉ huy hiệp đồng quản lý không lưu quốc gia
Kiểm soát đường d i ACC à (FIC)
Kiểm soát tiếp cận APP
Kiểm soát tại sân TWR (AFIS)
Tìm kiếm cứu nạn
Ghi chú:
Quan hệ trực tiếp: FIC: Trung tâm thông báo bay
Quan hệ bổ trợ: AFIS: Dịch vụ thông báo bay tại sân
Trang 2323
Trang 24Sơ đồ 1:Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm QLBDDVN
ATECH 2 CÁC
PHÂN XƯỞN G
BAN
KỸ THUẬT VẬT T ư
CÁC BAN
NV TC
KẾ HOẠCH
NV HÀNH
CH NH Í
VĂN PHÒNG
TT KHAI THÁC DVKT ĐHB
TT KHAI THÁC
DV KTQLB
CÁC BAN NV:TC TCCB
KẾ HOẠCH
Trang 256 Đặc điểm về thị trường, khách hàng của trung tâm.
Một đặc điểm rất quan trọng và cũng là thuận lợi là nhu cầu sử dụng sản phẩm của chuyên ngành quản lý bay dân dụng là dịch vụ không lưu và các dịch vụ phụ trợ trong phạm vi toàn bộ vùng trời trách nhiệm của Việt nam ngày càng tăng, đều là một tất yếu bởi vì song song với xu hướng phát triển như vũ bão của thế giới thì nhu cầu giao lưu kinh tế, văn hoá, du lịch ngày càng tăng Việc đi lại và vận chuyển hàng hoá bằng máy bay đã thoả mãn ngày càng tốt nhu cầu đi nhanh, lịch sự, thuận tiện của khách hàng, do vậy các hãng hàng không lại có nhu cầu đến sản phẩm dịch vụ của trung tâm quản lý bay Khách hàng của trung tâm là tất cả các hãng hàng không bay đến và đi các sân bay Việt nam hoặc các hãng hàng không bay quốc tế quốc nội hay quá cảnh qua vùng trời Việt nam.
7 Đặc điểm về mặt bằng hoạt động của Trung tâm.
Phạm vi mặt bằng hoạt động của trung tâm không tập trung như các doanh nghiệp khác mà trải rộng trên toàn bộ không phận quốc gia và không vận quốc tế do (ICAO) phân công Tính chất công việc cũng khác nhau, hầu hết các vị trí công tác đều phải trực tiếp 24/24 giờ, 365/365 ngày bất kể tần suất bay nhiều hay ít Điều này khác với công việc sản xuất vật chất khác: Có hoạt động lao động nhưng chưa chắc đã có sản phẩm doanh thu
Phạm vi hoạt động của trung tâm phân tán đén cả những vùng cao, vũng
xa do vậy việc thiết lập các đài trạm ngành quản lý bay phải phát triền giao thông, điện nước, thông tin đến đó nên thhúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn đơn vị đóng.
8 Tình hình sử dụng máy móc thiết bị của trung tâm.
Đối tượng lao động của trung tâm là các trang thiết bị kỹ thuật hết sức
đa dạng về chủng loại hiện đại nhất của thế giới như các máy radar các máy
vi tính hiện đại Đặc điểm này làm cho đặc điểm lao động của trung tâm rất phức tạp và đa dạng tuy nhiên đây cũng là một trong các thuân lợi cơ bản của trung tâm, với một lực lượng lao động mành lại có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo sớm được tiếp xuc và nắm bắt cá kỹ thuật của trung tâm từ đó có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được cấp trên giao.
25
25
Trang 26II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH QUỸ TIỀN LƯƠNG Ở TRUNG TÂM QUẢN LÝ BAY DÂN DỤNG VIỆT NAM.
1 Thành phần quỹ tiền lương của trung tâm.
Tiền lương mà Trung tâm QLBDDVN trả cho người lao động là khoản thu nhập chính và chủ yếu của người lao động, được phân phối theo sản phẩm.Chế độ tiền lương của Trung tâm QLBDDVN được xây dựng cho hai
bộ phận chính đó là bộ phận lao động gián tiếp và bộ phận lao động trực tiếp theo quỹ lương sản phẩm, quỹ lương cơ bản và quỹ lương điều tiết + Nguồn hình thành quỹ lương của Trung tâm: Quỹ lương của Trung
tâm được hình thành trên cơ sở từ việc xây dựng đơn giá tiền lương và bảo
vệ đơn giá với các cơ quan chức năng Nhà nước Vì là một doanh nghiệp hoạt động công ích nên Nhà nước sẽ xác định quỹ lương và quyết định giao cho Trung tâm quản lý để Trung tâm phân phối cho người lao động Phương pháp này có nhiều hạn chế nếu các cơ quan chức năng Nhà nước lơ
là thiếu tinh thần trách nhiệm sẽ dẫn đến các hậu quả là quỹ lương không được xác định chính xác hoặc chậm trễ so với kế hoạch Có các quỹ lương sau:
Quỹ lương theo sản phẩm : Là quỹ lương để trả cho người lao động phụ thuộc vào đơn giá sản phẩm và số lượng sản phẩm sản xuất ra theo đúng quy cách chất lượng Ở chế độ lương này mối quan hệ giữa tiền lương và kết quả lao động thể hiện rõ ràng do đó kích thích ngưòi lao động nâng cao trình độ lành nghề, tiết kiệm thời gian, nâng cao năng suất.
Quỹ lương cơ bản: Là quỹ lương để trả cho người công nhân dựa vào hệ số thang bảng lương, số ngày công thực tế và tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định, ở chế độ tiền lương này phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người lao động.
Quỹ lương điều tiết : Là quỹ lương để trả cho những đối tượng điều tiết như Tổng giám đốc, phó Tổng giám đốc, Giám đốc và phó giám đốc quỹ này bằng 7% quỹ lương kế hoạch.
Việc xây dựng và quản lý quỹ lương của Trung tâm QLBDDVN nhằm mục
Trang 27công bằng trong phân phối tiền lương và tiền lương phải có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động.
Giữa xây dựng và quản lý quỹ tiền lương bao giờ cũng có khoảng cách gây ra bởi một loạt các nhân tố khách quan và chủ quan Nếu khoảng cách lớn thì xây dựng quỹ tiền lương chưa hợp lý và sử dụng quỹ tiền lương thiếu hiệu quả Để phát hiện được những bất hợp lý trong xây dựng và sử dụng quỹ tiền lương, ta xem xét tình hình sử dụng quỹ tiền lương của Trung tâm.
Biểu7:Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu của Trung tâm QLBDDVN
1,882 1,984 2,059 105,419 109,40 103,8
Nguồn: Phòng TCCB- LĐTL Qua số liệu trên cho ta thấy rõ tình hình thực hiện doanh thu và quỹ lương của Trung tâm như sau:
Doanh thu của năm 2000/1999 đạt 106,93% tăng 6,93%
NSLĐ cá nhân năm 2000/1999 đạt 105,15% tăng5,15%
Quỹ tiền lương năm 2000/1999 đạt102,0% tăng 2,0%
Tiền lương bình quân 2000/1999 đạt 103,8% tăng 3,8%.
Như vậy tình hình thực hiện quỹ lương ở Trung tâm có tốc độ tăng của quỹ lương và tiền lương bình quân lớn hơn so với tốc dộ tăng của NSLĐ điều này cho thấy Trung tâm đã thực hiện tốt các chỉ tiêu đề ra, phù hợp với các quy định của Chính phủ về việc tốc độ tăng năng suất lao động phải lớn hơn tăng tiền lương bình quân Việc tăng doanh thu, giảm chi phí, giảm
27
27
Trang 28lượng lao động tăng quỹ lương đã làm tăng thu nhập cho người lao động và phản ánh rõ những kết quả hoạt động của Trung tâm.
Cũng tương tự như vậy:
Doanh thu năm 1999/1998 đạt 101,355% tăng 1,355%
NSLĐ cá nhân năm 1999/1998 đạt 108,09% tăng 8,09%
Quỹ tiền lương năm 1999/1998 đạt 104,4% tăng 4,4%
Tiền lương bình quân năm 1999/1998 đạt 105,419% tăng 5,419%
Ta thấy năm 1999/1998 có tốc độ tăng của quỹ tiền lương và tiền lương bình quân nhỏ hơn tốc độ tăng của NSLĐ Có được điều này là do từ năm
1997 Trung tâm đi vào tự hạch toán theo chế độ tài chính kế toán mới Điều này thể hiện trong việc doanh thu của Trung tâm tăng và quỹ tiền lương tăng.
Tuy doanh thu tăng nhưng tốc độ so với tốc độ tăng của năng suất lao động còn thấp là do những nguyên nhân sau:
- Đây là ngành kinh doanh mới nên sự quản lý của Nhà nước về tổng số lãi chưa được chặt chẽ, tạo lỗ hổng trong việc tự hạch toán kinh doanh của Trung tâm.
- Ngành quản lý bay hiện nay là đơn vị độc quyền, hơn nữa lại hoạt động theo doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích với mục tiêu" Điều hoà- An toàn- Hiệu quả" chứ mục tiêu lợi nhuận không phải là hàng đầu nên không cần phải tính đến lỗ lãi Vì là độc quyền nên nếu kinh doanh không có lãi thì Trung tâm vẫn có cơ hội tăng giá cước dịch vụ lên để tăng doanh thu của đơn vị vì hoạt động kinh doanh của Trung tâm khôngcó đối thủ cạnh tranh trên không phận quốc gia Nếu giá cước tăng lên thì các hãnh hàng không cũng phải đáp ứng vì nhu cầu dịch vụ không lưu, điều hành bay của các hãng hàng không là không thể thiếu và mọi hãng tiêu dùng phải chấp nhận
ở bất kỳ giá nào.
- Hiện nay ngành quản lý bay dân dụng Việt nam đang là ngành được Cục HKDDVN nói riêng và nhà nước nói chung ưư tiên phát triển Vì sự phát triển của ngành này sữ đảm bảo An toàn- Hiệu quả- Điều hoà cho giao thông hàng không do đó kéo theo sự phát triển của ngành hàng không nói
Trang 29khẳng định vị trí của Việt nam trong quan hệ với các hãng hàng không quốc
tế Do vậy việc hạch toán trong kinh doanh dịch vụ của Trung tâm không cần xét đến các yếu tố thành lập các quỹ ngoài quỹ lương Đây cũng là một yếu tố làm cho tốc độ tăng quỹ lương của công ty so với tốc độ tăng năng suất lao động chưa hợp lý.
- Việc xây dựng định mức ở Trung tâm còn gặp nhiều khó khăn do công việc rất khó định mức Việc xây dựng các tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật công việc chưa được quy định và xác định hợp lý dẫn đến việc xây dựng tiền lương chưa hợp lý.
Qua phân tích cho thấy tình hình sử dụng quỹ tiền lương của Trung tâm chưa thật tốt mặc dù đã đảm bảo tốc độ tăng của năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân Do đó doanh nghiệp cần tăng cường đổi mới công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương một cách hợp lý.
2 Phân tích kết cấu giữa hai bộ phận tiền lương cơ bản và tiền lương biến đổi.
a Bộ phận tiền lương cơ bản:
Tiền lương cơ bản là tiền lương cấp bậc do các thang bảng lương do Nhà nước quy định Cụ thể ở Trung tâm áp dụng hệ thống thang bảng lương theo biểu 6.
Ở bộ phận tiền lương cơ bản ta thấy Trung tâm áp dụng rất nhiều thang bảng lương với các cấp bậc khác nhau Như vậy chứng tỏ Trung tâm có rất nhiều lao động với mức độ phức tạp và đa dạng khác nhau Sản phẩm của Trung tâm không phải do một bộ phận lao động nào làm ra mà do sự kết hợp của rất nhiều bộ phận, công đoạn khác nhau vì vậy mà việc xác định quỹ tiền lương cũng khó khăn hơn các đơn vị sản xuất trực tiếp
b Bộ phận tiền lương biến đổi:
Bao gồm các khoản phụ cấp, lương điều tiết và lương sản phẩm nằm bên cạnh tiền lương cơ bản.
Hiện nay Trung tâm đang áp dụng các loại phụ cấp sau:
Trang 30- Phụ cấp làm thêm giờ.
- Phụ cấp trách nhiệm.
Ngoài ra Trung tâm còn phụ cấp tiền xe đón đưa cho cán bộ CNV của Trung tâm Mỗi nhân tố hình thành nên thu nhập của người lao động ở Trung tâm chiếm tỉ lệ khác nhau.
Biểu 6: Hệ số cấp bậc công việc của Trung tâm QLBDDVN
Bộ phận lao động Bậc
- Chuyên viên cao
cấp, kế toán viên cao
- Nhân viên văn thư,
kế toán viên sơ cấp, y
1,46
1,22
1,7 1,00 1,47
3,26
3,54 2,02
1,58
1,31
1,7 1,00 1,47
3,26
3,82 2,26
1,70
1,40
1,7 1,00 1,47
4,1
4,1 2,5
1,82
1,49
2,16 1,00 1,47
4,38
4,38 2,74
1,94
1,58
2,16 1,09 1,47
4,60 2,98
2,06
1,67
2,16 1,09 1,67
4,6 3,23
2,18
1,76
2,16 1,09 1,67
4,6 3,48
2,30
1,85
2,73 1,09 1,67
4,6 3,48
2,42
1,94
2,73 1,18 1,67
3,48
2,55
2,03
2,73 1,18 1,67
3,48
2,68
2,12
2,73 1,18 1,96
2,81
2,21
2,78 1,18 1,96
2,81
2,2
2,83 1,27 1,96
Nguồn:Phòng TCCB-LĐtiền lương
Trang 31III PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH XÂY DỰNG QUỸ TIỀN LƯƠNG TẠI TRUNG TÂM QUẢN LÝ BAY DÂN DỤNG VIỆT NAM
Trung tâm QLBDDVN là một ngành kinh doanh dịch vụ dưới sự quản lý Nhà nước về chuyên ngành của Cục hàng không dân dụng Việt Nam Do vậy tình hình xây dựng quỹ tiền lương của Trung tâm là Trung tâm tự xây dựng quỹ tiền lương và trình lên Cục xem xét và quyết định.
Sau khi quỹ tiền lương kế hoạch của Trung tâm đã được duyệt thì Trung tâm bắt đầu phân bổ quỹ tiền lương đó xuống từng đơn vị thành viên phụ thuộc Tại các đơn vị thành viên mới tiến hành phân bổ cho các cá nhân tuỳ theo đặc điểm tình hình riêng của đơn vị.
1 Phân tích tình hình xây dựng quỹ tiền lương của Trung tâm
Hàng năm Trung tâm xây dựng quỹ lương kế hoạch dựa vào việc xác định doanh thu kế hoạch Như vậy quỹ tiền lương kế hoạch của Trung tâm được tính như sau:
Trang 32-Lao động tổng hợp phải được xác định dựa vào quy trình công nghệ, vào việc sử dụng hợp lý lao động và máy móc hiện có.
- Lao động tổng hợp của đơn vị sản phẩm phải bao gồm đầy đủ các chi phí lao động tính cho đơn vị sản phẩm kể cả lao động công nghệ của công nhân chính, công nhân phục vụ phụ trợ và cán bộ quản lý, không tính sót cũng không tính trùng.
- Lao động tổng hợp phải dựa trên các mức lao động chi tiết, các quy định
về số lượng nhân viên quản lý gián tiếp, các chế độ về thời gian lao động để làm ra sản phẩm.
- Mức chi phí tiền lương phải được dựa vào mức lao động tổng hợp và tiền lương cấp bậc công việc hợp lý tương ứng với thành phần của mức lao động tổng hợp, mức tiền lương cũng bao gồm chi phí tiền lương của cán bộ công nhân viên gián tiếp tính cho sản phẩm.
Khi tính mức chi phí tiền lương phải lưu ý đến thực tế thu nhập về tiền lương của người lao động trong kỳ báo cáo, tạo điều kiện để đơn vị phấn đấu nâng cao tỷ lệ hoàn thành mức trong kỳ kế hoạch.
Việc tiến hành xác định lao động tổng hợp cần thiết cho đơn vị sản phẩm teo trình tự sau:
- Chọn đơn vị sản phẩm tổng hợp.
- Xác định thành phần công việc và điều kiện tổ chức kỹ thuật cần phải có
để thực hiện quy trình tổng hợp.
- Xác định số lao động cần thiết cho năm kế hoạch.
- Tính toán các hao phí lao động thành phần và lao động tổng hợp.
Bước 1:
Chọn đơn vị sản phẩm.
+Sản phẩm chính là chuyến điều hành phân theo loại máy bay( trọng tải
hạ cất cánh, tuyến điều hành km), cụ thể.
* Chuyến điều hành tàu bay quá cảnh của các hãng hàng không quốc tế.
* Chuyến điều hành tàu bay đi - đến các sân bay Việt Nam của các hãng hàng không trong nước và quốc tế.
Bước 2:
Trang 33Xác định thành phần công việc và điều kiện tổ chức kỹ thuật cần phải có
để thực hiện quá trình tổng hợp ngành quản lý bay xác định thành phần công việc bao gồm các loại hình dịch vụ như sau:
1, Dịch vụ thiết bị phụ trợ dẫn đường tại sân bay.
H: Là tổng số máy móc thiết bị trong một khối lượng công việc cần phục
vụ trong tương lai.
P 1 : Là số máy móc mà một công nhân phục vụ trong một khối lượng công việc mà 1 công nhân phục vụ trong kỳ.
33
33
Trang 34H: Là hệ số hoàn thành mức phục vụ.
P 2 :Là số công nhân phục vụ 1 máy móc thiét bị hay một khối lượng công việc nhất định.
C: Là hệ số ca làm việc bình quân.
CN BC : Là số công nhân trong kỳ báo cáo hay hiện có.
I TB : Là chỉ số máy móc thiết bị hoặc chỉ số khối lượng, sản lượng.
Số máy móc thiết bị kỳ kế hoạch.
I TB =
Số máy móc thiết bị kỳ báo cáo
I W Là chỉ số năng suất lao động
Năng suất lao động kỳ kế hoạch
Trang 35T SP : Mức lao động tổng hợp tính cho đơn vị sản phẩm
K GTC : Là hệ số gián tiếp công nghệ.
Số ngày gián tiếp công trong năm
K GTC =
Số ngày trực tiếp sản xuất trong năm
Số ngày công gián tiếp là những ngày nghỉ ốm đau, con ốm mẹ nghỉ, nghỉ
đẻ trong tiêu chuẩn , nghỉ do tai nạn lao động , nghỉ do bệnh nghề nghiệp( không quá 180 ngày)
Những ngày đi học văn hoá, tại chức, ngoại ngữ trong nước( được tổ chức bố trí sắp xếp cử đi học)
Những ngày bị đình chỉ công tác( không quá 3 tháng)
Số ngày trực tiếp trong năm = 365 ngày - 52 chủ nhật - số ngày công
gián tiếp
35
35
Trang 36Từ các thông số trên ta xác định lần lượt T CN của từng bộ phận: Không lưu, khí tượng, thông tin tổng số lao động cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.
* Xác định mức lương tối thiểu của doanh nghiệp để xây dựng đơn giá tiền lương
Trước khi xác định tiền lương tối thiểu Trung tâm đi vào xác định cấp bậc công việc:
- Căn cứ vào kế hoạch nhà nước giao, căn cứ việc tổ chức phân công lao động hợp lý tại các vị trí công tác trong hệ thống dây chuyền trang thiết bị công nghệ mới hiện đại hóa, công nhân cán bộ kỹ thuật đòi hỏi có giá trị trí tuệ và ý thức trách nhiệm cao mới đáp ứng được yêu cầu của công việc phức tạp từ đó tạo ra sản phẩm có giá trị cao.
- Căn cứ vào tính chất phức tạp và trách nhiệm nặng nề của công việc cụ thể như quy định quản lý trực tiếp từng KSVKKL của ông Cục trưởng Cục hàng không, xử lý kỷ luật rất nghiêm ngặt dù chỉ sơ suất nhỏ cũng bị thôi việc mà những ngành nghề này không tồn tại được trong xã hội.
- Căn cứ vào các bậc thợ đã quy định tại nghị định số 26/ CP ngày 23/5/1993 của Thủ tướng Chính phủ quy định về hệ số lương cho từng loại ngành nghề.
Tuy nhiên việc xác định cấp bậc công việc và bậc thợ còn gặp nhiều khó khăn Chưa có một văn bản pháp quy nào quy định rõ cấp bậc của bậc thợ Trung tâm Việc xác định cấp bậc công việc chủ yếu do Trung tâm tự làm lấy.
+ Xác định các hệ số phụ cấp:
Căn cứ vào thông tư hướng dẫn số 15,16,17,18,23/LĐTBXH-TT ngày 2/6/1993 của Bộ Lao động hướng dẫn về cách tính các loại phụ cấp như PCTN, CV, ĐH, PC làm thêm giờ.
Từ các yếu tố trên lần lượt xác định các loại phụ cấp cụ thể, tổng hệ số
Trang 37+ Xác định lương tối thiểu điều chỉnh để tính đơn giá tiền lương.
Để xác định lương tối thiểu thì Trung tâm xác định hệ số điều chỉnh tăng thêm so với mức lương tối thiểu như sau:
K ĐC = K 1 + K 2 :
Trong đó: K ĐC là hệ số điều chỉnh tăng thêm.
K 1 là hệ số điều chỉnh theo vùng
K 2 hệ số điều chỉnh theo ngành Đối với Trung tâm thì k1 được quy định như sau:
Hệ số điều chỉnh tăng thêm =0,3 Đối với các đoqn vị đóng trên địa bàn
TL MIN Là mức lương tối thiểu chung.
K ĐC Là hệ số điều chỉnh tăng thêm.
Từ quỹ lương kế hoạch trên kết hợp với doanh thu kế hoạch để tính đơn giá tiền lương trong năm.
Trang 38- Tính quỹ thưởng an toàn hàng không được xác định trên cơ sở hoàn thành kế hoạch nộp ngân sách Nhà nước Nếu nộp ngân sách năm báo cáo lớn hơn năm trước thì quỹ thưởng chiếm 70% của 3 tháng lương thực hiện
và nếu việc nộp ngân sách Nhà nước năm báo cáo thấp hơn năm trước thì
nó chiếm 70% của 2 tháng năm thực hiện.
Căn cứ vào số lao động kế hoạch thuộc đối tượng được tính thưởng an toàn hàng không Trung tâm dự tính tổng số tiền cần thiết để lập kế hoạch quỹ lương tổng thể đến cuối năm kết toán theo số thực tế chi với nhà nước.
- Tính quỹ lương làm thêm giờ, phần này chi theo thực tế.
QLTổng thể = QL đơn giá + Quỹ thưởng ATHK + QL thêm giờ.
Cụ thể trong năm 2001 Trung tâm đã xây dựng được quỹ lương như sau:
Trang 39- Cách xây dựng quỹ lương theo đúng văn bản hiện hành cụ thể là thông tư
Đơn giá tiền lương: 5,68%
Tiền lương thực hiện: 37 tỷ đồng
Xây dựng quỹ tiền lương dựa vào nhiệm vụ được giao cụ thể trong năm 2000.
+ Tổng sản lượng :155.786 lần chuyến điều hành.
+ Doanh thu: 730 tỷ đồng
Cách xây dựng quỹ lương dựa trên số lao động định biên có nghĩa là Trung tâm đã căn cứ vào tính chất, đặc điểm hoạt động kinh doanh cơ cấu tổ chứcvà chỉ tiêu kinh tế gắn với việc hoàn thành công việc có hiệu quả nhất, căn cứ vào tình hình thực tế của Trung tâm về khối sản xuấtượng công việc phải hoàn thành và đã được giao để định ra số lao động với những tiêu chuẩn
về trình độ chuyên môn, nhằm hoàn thành và hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đã đề ra Do vậy số lao động sẽ không thừa hoặc không thiếu quá nhiều nên tránh được sự lãng phí lao động, giảm chi về quỹ lương tăng hiệu quả làm việc
- Cách xây dựng quỹ lương dựa vào tiền lương tối thiểu của Trung tâm đã tính cả hệ số điều chỉnh theo ngành và hệ số điều chỉnh theo vùng Tức là Trung tâm đã căn cứ vào quan hệ cung- cầu lao động, giá thuê công nhân và giá cả sinh hoạt để làm sao đảm bảo cho người lao động ở những vùng khác nhau thu được giá trị sức lao động ngang nhau Và khi Trung tâm tính đến
hệ số điều chỉnh theo ngành tức là Trung tâm đã căn cứ vào vai trò, vị trí ý nghĩa của ngành trong phát triển nền kinh tế và mức độ hấp dẫn của ngành trong thu hút lao động Với hệ số này đã áp dụng đúng tiêu chuẩn nhà nước quy định.
39
39
Trang 40- Việc xây dựng quỹ lương dựa vào hệ số cấp bậc và hệ số phụ cấp có một
ưu điểm rất lớn Thứ nhất là Trung tâm đã căn cứ vào tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức lao động, trình độ công nghệ, tiêu chuânr cấp bậc kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ và định mức lao động để xác định hệ số lương cấp bậc công việc bình quân của tất cả số lao động định mức Thứ hai là Trung tâm
đã xác định được hưởng theo mức thành quả lao động của mình, hưởng lương theo đúng trình độ, năng lực và sức lao động của mình đã bỏ ra, làm như vậy đã khuyến khích người lao động cán bộ CNV không ngừng học hỏi nâng cao trình độ tay nghề của mình, đồng thời những người làm công tác độc hại nguy hiểm không chán nản trong công việc và ngày càng gắn bó với Trung tâm hơn Vì vậy Trung tâm cần phải có chế độ bồi dưỡng cho những lao động làm việc trong điều kiện đó.
Việc xác định hệ số cấp bậc công việc và hệ số phụ cấp bình quân theo phương pháp bình quân gia quyền cũng làm ảnh hưởng đến lợi ích của những người có H CB và H PC cao do đó không kích thích tinh thần cho người lao động Việc xác định hệ số cấp bậc công việc này bao gồm tiêu chuẩn chức danh, chuyên môn nghiệp vụ, tiêu chuẩn bậc thợ chưa được phê duyệt, tiêu chuẩn viên chức chưa được xây dựng một số tiêu chuẩn Trung tâm đã trình lên Cục nhưng chưa được Cục phê duyệt đồng ý.