Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng theo các tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel II tại một số Ngân hàng Thương mại trên thế giới và một số Ngân hàng TMCP được chọn thí điểm tại Việt Nam trướ
Trang 1PHẠM MINH QUÂN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƯỚC BASEL II TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN VIỆT NAM THƯƠNG TÍN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, Năm 2020
Trang 2PHẠM MINH QUÂN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƯỚC BASEL II TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN VIỆT NAM THƯƠNG TÍN
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng (hướng ứng dụng)
Trang 3Trường Đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn Thạc sĩ
Kinh tế với đề tài “QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƯỚC BASEL II
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THƯƠNG TÍN” (sau
đây gọi tắt là Luận văn)
Tôi xin cam đoan tất cả những nội dung được trình bày trong Luận văn dưới đây
là công trình thực hiện của cá nhân tôi với sự hỗ trợ của Người hướng dẫn khoa học làPGS.TS Hồ Viết Tiến Trong luận văn có sử dụng một số ý kiến, quan điểm khoa họccủa một số tác giả và những thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xácđồng thời các số liệu, thông tin dẫn chiếu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày … tháng … năm 2020
Tác giả
Phạm Minh Quân
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Tổng quan các nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 7
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
1.5 Phương pháp nghiên cứu 8
1.6 Đóng góp của luận văn 9
1.7 Kết cấu luận văn 9
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƯỚC BASEL 11
2.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại 11
Trang 52.2.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến Ngân hàng Thương mại 14
2.3 Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng Thương mại 14
2.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 14
2.3.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng: 15
2.4 Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng Thương mại theo Hiệp ước Basel 18
2.4.1 Giới thiệu sơ lược về sự ra đời của Hiệp ước Basel 18
2.4.2 Hiệp ước Basel I 19
2.4.3 Hiệp ước Basel II 22
2.4.4 Những điểm mới của Basel II và các phương thức tiếp cận về vốn của Basel II: 26
2.5 Hiệu quả của việc vận dụng Hiệp ước Basel II vào công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại 31
2.6 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng theo các tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel II tại một số Ngân hàng Thương mại trên thế giới và một số Ngân hàng TMCP được chọn thí điểm tại Việt Nam trước đó (Vietcombank; VIB;…) 32
Tóm tắt chương 2 43
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƯỚC BASEL II TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN THEO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 44
Trang 63.3 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam
Thương Tín theo Hiệp ước Basel II 51 3.4 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụngtại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín theo Hiệp ước Basel II 68 Tóm tắt chương 3 77 CHƯƠNG 4: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƯỚC BASEL II TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN 78 4.1 Những định hướng quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II: 78 4.2 Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín 79 4.3 Kiến nghị 88 KẾT LUẬN 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu Tiếng Việt
Tài liệu Tiếng Anh
Trang 7ACB Ngân hàng Thương mại cổ phần Á
Châu
Supervision
gia
Assessment Process
Quân Đội Việt Nam
Hàng Hải Việt Nam
Phương Đông
Trang 8RRTD Rủi ro tín dụng
Techcombank Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ
Thương Việt Nam
Quốc tế Việt Nam
Việt Nam Thương Tín
Việt Nam Thịnh Vượng
Trang 9Bảng 2.2: Trọng số rủi ro cho tài sản phụ thuộc vào kết quả xếp hạng tín dụng từ các tổ
chức chuyên nghiệp đối với quốc gia, ngân hàng và doanh nghiệp 27
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế của Vietbank trong năm giai đoạn 2017-2019 47
Bảng 3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2017 đến năm 2019 49
Bảng 3.3: Phân tích chất lượng nợ cho vay theo nhóm nợ từ năm 2017-2019 51
Bảng 3.4: Chỉ số an toàn hoạt động giai đoạn 2017- 2019 52
Bảng 3.5: Thống kê tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu của các loại hình TCTD tại Việt Nam thời gian từ 2017 đến 2019. 60
Bảng 3.6: Qui trình thực hiện chương trình tính toán vốn cho rủi ro thị trường và tài sản có rủi ro tín dụng 62
Bảng 3.7: Phân loại nhóm nợ theo điểm xếp hạng tín dụng nội bộ 68
Trang 10Sơ đồ 3.1: Mô hình ba vòng bảo vệ theo theo tiêu chuẩn Basel 64Hình 2.1 Ba trụ cột của Basel II 23Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ an toàn vốn (CAR) theo yêu cầu của Thông tư 36 và thực tế tạiVietbank. 53Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ an toàn vốn (CAR) theo yêu cầu của Thông tư 41 và thực tế tạiVietbank 69
Trang 11Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã cho thấy cái nhìn tổng quát về cơ sở lí thuyếtliên quan đến rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng theo các tiêu chuẩn của Hiệpước Basel II và ý nghĩa của nó khi tính toán tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu trong kiểm soátrủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II.
Phương pháp định tính được sử dụng chủ yếu trong luận văn, qua đó, tác giả thựchiện phân tích dữ liệu thứ cấp từ các nguồn dữ liệu của Vietbank như báo cáo tài chínhcủa Vietbank qua các năm, các báo cáo nội bộ liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng,thống kê, so sánh đối chiếu với dữ liệu của một số ngân hàng khác và toàn ngành ngânhàng để làm rõ sự cần thiết; đồng thời chỉ ra được những khó khăn, thách thức trongtiến trình áp dụng Basel II cụ thể là thực hiện theo Thông tư 41 của Ngân hàng NhàNước
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ an toàn vốn theo Hiệp ước Basel II tại Ngânhàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín (Vietbank) được tính toán theophương pháp chuẩn bước đầu đã đạt tiêu chuẩn đề ra theo qui định trong Thông tư 41,với tỉ lệ an toàn vốn tương đối cao Tuy nhiên để duy trì và tiếp tục phát triển đượcvững chắc với các tiêu chuẩn cao hơn của Basel II là tính toán theo phương pháp nângcao hay xa hơn nữa là Basel III thì Vietbank cần phải vượt qua được những điểm hạnchế của mình và phát huy các điểm mạnh đang có trong kiểm soát rủi ro đặc biệt là rủi
ro tín dụng Đồng thời, tác giả cũng đã nêu ra một số phương pháp giải quyết và đềxuất kiến nghị đối với công tác xây dựng hệ thống quản trị rủi ro để hướng tới sự pháttriển vững chắc, lành mạnh, an toàn của Vietbank trước sự hội nhập quốc tế
Từ khóa: Hiệp ước Basel II, rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng, tỉ lệ an toàn vốn.
Trang 12In this dissertation, the author indicates an overview of the theoretical basisrelated to risk, credit risk, managing credit risk under the orientation of Basel IIstandards and the importance in reckoning the capital adequacy ratio in controllingcredit risk based on Basel II.
The thesis mainly uses qualitative method, the author analyzes secondary datafrom Vietbank's financial statements over the years, internal reports related to creditrisk management and make statistics, compare the figures of some other banks and thewhole banking industry to clarify the essential, proclaiming the difficulties andchallenges of the roadmap in applicating the Basel II, specially, according to Circular
41 of the State Bank of Vietnam
The results of the study show that the capital adequacy ratio based on the Basel
II in Vietbank, which is calculated by the standard method reached the criteria set bythe State Bank of Vietnam in Circular 41, with a relatively high ratio However, inorder to maintain and develop with the higher standards of Basel II which is calculated
by the advanced approach or further in the furture is Basel III, Vietbank needs toovercome its limitations and promote the strengths in risk management, especiallycredit risk Accordingly, the author has also raised a number of solutions andrecommendations in building and establishment of risk management system, to headtoward the healthy and safe development of Vietbank in the international integration
Keywords: Basel II, credit risk, credit risk management, capital adequacy ratio.
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành hướng phát triển tất yếu và đang được diễn ra mộtcách mạnh mẽ về chất lượng và quy mô trên mọi lĩnh vực Trong xu thế phát triển vàhội nhập này, sự thống nhất các chuẩn mực và các đòi hỏi chung như một lẽ tất yếu- dù
là trong khuôn khổ quan hệ song phương hay trong quan hệ đa phương giữa các lĩnhvực khác nhau cũng như giữa các nước khác nhau Và trong xu thế toàn cầu này nổi bậthơn hết chính là sự thống nhất các chuẩn mực ở lĩnh vực Tài chính- Ngân hàng Theo
đó, những Ngân hàng Thương mại, Thương mại cổ phần sẽ có cơ hội va chạm cọ xátvới tiêu chuẩn quốc tế tại sân chơi rộng lớn này nhưng đồng thời cũng sẽ phải đứngtrước nhiều rủi ro hơn Điều này, yêu cầu mỗi một Ngân hàng trong hệ thống Ngânhàng Việt Nam phải tự mình nhận thức và có sự chuẩn bị sẵn sàng để nắm bắt thời cơ
và quản trị rủi ro một cách hiệu quả nhất để biến những nhân tố này thành công cụ tạo
ra giá trị và có tác động tích cực đến chiến lược kinh doanh khi tham gia hội nhập.Hòa cùng dòng chảy này, tiêu biểu chính là sự chuyển mình của những Ngân hàngThương mại về khía cạnh hoạt động tín dụng; bởi đây là nghiệp vụ kinh doanh mangđến nguồn lợi nhuận cao nhất và cũng là lĩnh vực tiềm ẩn những rủi ro lớn nhất tácđộng đến tình hình tài chính, lợi nhuận, uy tín và hình ảnh của Ngân hàng Chính vìthế, hoạt động tín dụng ở mỗi Ngân hàng đòi hỏi phải tuân thủ chặt chẽ các cam kết vàcác tiêu chuẩn theo tiến trình hội nhập để không bị thụt lùi trong bối cảnh nền kinh tếkhông ngừng phát triển ngày nay Và để tham gia vào quá trình quốc tế hóa, có đủnăng lực cạnh tranh này thì đòi hỏi hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam hội tụ đủcác tiêu chuẩn quốc tế làm cơ sở đánh giá, so sánh và phân hạng giữa tổ chức tín dụngViệt Nam và nước ngoài
Trang 14Một trong các hiệp ước quốc tế về quản trị rủi ro được các chuyên gia và nhàquản trị Ngân hàng đặc biệt chú trọng đến chính là Hiệp ước quốc tế về tỷ lệ an toànvốn- gọi là Hiệp ước Basel Hiệp ước này đang được hầu hết các tổ chức tín dụng trênthế giới vận dụng để làm cơ sở đánh giá và giám sát trong hệ thống Tài chính- Ngânhàng của từng quốc gia Ra đời từ năm 1988, Hiệp ước Basel, đánh dấu sự khởi đầucủa các tiêu chuẩn quốc tế cho các quy định của ngân hàng Sau nhiều năm, các quiđịnh này đã có quá trình phát triển đáng kể cụ thể là đến năm 1999, hội đồng Basel đãsoạn thảo những điều luật mới và được biết đến là Basel II qua nhiều lần sửa đổi vàđược công bố vào tháng 06/2004 Theo đó, Basel II đưa ra các tiêu chuẩn về vốn; vềviệc rà soát và giám sát; về sự minh bạch thông tin trong hoạt động Ngân hàng.
Công tác triển khai áp dụng Hiệp ước Basel II vào quản trị và kiểm soát rủi ro tạicác Ngân hàng Thương mại Việt Nam còn gặp phải nhiều khó khăn vướng mắc theonhư lộ trình Basel II được qui định tại văn bản 1601/NHNN-TTGSNH ngày17/03/2014 về việc lựa chọn 10 NH trong nước cho việc triển khai thí điểm thực hiệnBasel II và sau đó là tiến tới áp dụng Basel II chung cho hệ thống toàn hàng được Ngânhàng Nhà nước chỉ đạo thực hiện trước đó Trên thực tế thì ngành Ngân hàng đã cónhiều tiến bộ đáng kể trong việc thực thi, tuy nhiên, các Ngân hàng sớm hay muộncũng sẽ phải tuân thủ thực hiện các qui định của Basel để xây dựng một hệ thống quảntrị rủi ro hoàn chỉnh, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và hội nhập
Theo chiến lược phát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam thì đến năm 2020 cácngân hàng thương mại (NHTM) cơ bản phải có mức vốn tự có theo chuẩn mực Basel
II Đến 2025, tất cả NHTM áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, triển khaithí điểm Basel II theo phương pháp nâng cao Và kết quả đạt được kể từ khi triển khai
là đến hết quý II/2019, đã có 9 Ngân hàng được NHNN công nhận đáp ứng chuẩn này
là Vietcombank, VIB, OCB, ACB, MB, TPBank, VPBank, Techcombank, MSB
Trang 15Cũng trong khuôn khổ triển khai thực hiện này thì Ngân hàng Thương mại cổphần Việt Nam Thương Tín (Vietbank) cũng đã chủ động phân tích và có những chuẩn
bị cho việc xây dựng tiến trình phục vụ cho việc quản trị rủi ro dựa trên tiêu chuẩn củaBasel II Tuy nhiên, với qui mô nhỏ so với các Ngân hàng trong hệ thống NHTM ViệtNam thì công tác triển khai này vẫn còn nhiều hạn chế, rủi ro tín dụng vẫn tương đốicao làm tác động trực tiếp lợi nhuận và sự phát triển của Ngân hàng Tuy nhiên vìnhững lợi ích mà Hiệp ước Basel II mang lại cho chính Ngân hàng, quốc gia và nềnkinh tế nên việc quản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề cấp thiết vàcũng là mục tiêu chiến lược hàng đầu đối với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tíntrong bối cảnh hiện nay
Xuất phát từ thực tế về yêu cầu ứng dụng Hiệp ước Basel II trong hoạt động quảntrị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nhà nước theo Thông tư 41 cũng như từ những hiệuquả đạt được, những hạn chế cần khắc phục trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại
Vietbank, tác giả đã lựa chọn đề tài “QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP
ƯỚC BASEL II TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THƯƠNG TÍN” để thực hiện luận văn của mình.
1.2 Tổng quan các nghiên cứu
1.2.1 Tình hình các nghiên cứu nước ngoài:
Trên thế giới hiện nay có khá nhiều các nghiên cứu, sách và những luận văn, luận
án liên quan về vấn đề quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II khá sâu sắc, toàndiện, có những minh chứng thuyết phục và đồng thời chỉ ra những khe hở trong nghiêncứu từ đó đúc kết ra kinh nghiệm cho việc áp dụng thực tiễn như:
Một là công trình nghiên cứu “The Basel capital accords in developing countries:
challenges for development finance” của tác giả Ricardo Gottschalk cùng các cộng sựđược xuất bản năm 2010 Qua quyển sách này, tác giả đã cho thấy được những tác
Trang 16động có thể có của Hiệp ước Basel đối với những nền kinh tế đang phát triển Cụ thể
nó bao gồm các khía cạnh như tác động của Basel trong hoạt động tín dụng của Ngânhàng tại các nước đang phát triển; tác động của những chuẩn mực Basel trong việc cấptín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và những người có thu nhập thấp Đồng thời, quyểnsách này được nghiên cứu thực địa tại các nước đang phát triển trong việc thực thiBasel II vì vậy nó sẽ mang lại cái nhìn tổng quát hơn và những phân tích, đánh giáchính xác những thuận lợi và khó khăn khi ứng dụng Basel II để đảm bảo nền tài chínhđược phát triển vững chắc
Hai là công trình nghiên cứu “Basel II and Developing countries: Sailing through
the sea of standards” được viết bởi tác giả Andrew Powell vào năm 2004 Bài nghiêncứu này mặc dù chủ đích chính không viết cho các quốc gia đang phát triển về công tác
áp dụng Basel II trong việc thực thi các công cụ và phương pháp đo lường rủi ro tíndụng; tuy nhiên nó lại chỉ ra 5 tiêu chuẩn có thể thay thế và các công cụ điều hướnggiúp các nước bao gồm cả những nước có nền kinh tế đang phát triển có thể áp dụngđược với phương pháp đánh giá nội bộ tiên tiến hơn Hơn nữa, bài viết cũng đề xuấtviệc đánh giá xếp hạng tập trung dựa vào phương pháp đo lường giao dịch
Ba là công trình nghiên cứu “Implementation of Basel II: Issues, Challenges and
Implications for Developing Countries” của nhóm tác giả Seema Siddiqua Hai, SafiaQamar Minhaj và Roohi Ahmed vào năm 2007 Bài viết cho cái nhìn tổng quan vềthách thức và ý nghĩa của việc triển khai Basel II đối với các quốc gia đang phát triển.Mục tiêu chính của bài viết là xác định các vấn đề mà các nhà quản trị phải đối mặt khithực hiện Basel II Đồng thời cho thấy sự cân bằng giữa quy định, giám sát và kỷ luậtthị trường một cách hợp lý trong quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Bài viết cònnhấn mạnh sự cần thiết của các giám sát viên hoạt động quốc tế để phát triển và tăngcường hợp tác liên quan đến các qui trình triển khai Basel II nhằm giảm gánh nặng chongành và làm cho việc kinh doanh của Ngân hàng có hiệu quả hơn
Trang 17Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác có liên quan đến quản trị rủi ro tín dụngtheo Basel II như: “Credit risk Measurement Under Basel II: An overview andImplementation Issues for Developing Countries”; “Managing credit risk: BeyondBasel II”; … Các bài nghiên cứu này cho thấy cái nhìn tổng quan và chỉ ra được cáckhó khăn khi thực hiện áp dụng Basel II trên cơ sở đưa ra các bằng chứng thực tế trongtừng bài nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu được dẫn chiếu trên đây hầu hết đã thảo luận đến việcvận dụng Basel II vào quản lí rủi ro, phân tích ưu, nhược điểm và lợi ích khi vận dụngBasel II Bên cạnh những điểm sáng mà các nghiên cứu đề cập thì các nghiên cứu nàycũng có hạn chế là chưa làm nổi bật được các điều kiện cần có để có thể áp dụng cáctrụ cột của Basel Đồng thời, chưa nhấn mạnh được tính hệ thống và tính toàn diện củakhung quản trị rủi ro để từ đó giải thích tại sao hệ thống ngân hàng của các nước khôngnằm trong khối thành viên Basel nhưng vẫn tự nguyện thực hiện Hiệp ước này
1.2.2 Tình hình các nghiên cứu trong nước:
Luận án Tiến sĩ “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương ViệtNam” của tác giả Nguyễn Đức Tú (2012); luận án này đã hệ thống lại và nêu rõ luậnđiểm về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng dựa trên Hiệp ước Basel II trong bốicảnh nền kinh tế hội nhập với thế giới và đối diện với áp lực, sức ép cạnh tranh tronghoạt động của ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, dựa vào sự phân tích, đánh giá vàchỉ ra những điểm yếu, cần sửa đổi và hướng sửa đổi cụ thể trong quá trình quản líRRTD hướng tới mục tiêu chuẩn mực theo Basel II
Luận án Tiến sĩ “Áp dụng Hiệp ước vốn Basel II: Kinh nghiệm Quốc tế và Hàm ýcho Việt Nam” của Trần Việt Dung (2016); luận án đã nêu lên tính toàn diện và linhhoạt của khung quản trị rủi ro theo Basel II; nêu lên những thách thức mà hệ thốngNgân hàng Việt Nam mắc phải trong quá trình áp dụng Basel II Từ đó, bài viết cũng
Trang 18đề xuất các giải pháp để các Ngân hàng Việt Nam có thể tuân thủ các qui tắc trong cáctrụ cột ở Hiệp ước Basel II.
Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia- “Áp dụng Basel II trong quản trị rủi ro củacác Ngân hàng Thương mại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và lộ trình thực hiện” củaTrường Đại học Kinh tế quốc dân và Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt ngày14/12/2017; Hội thảo đã đưa ra một số nghiên cứu mới nhất về mô hình quản trị rủi rotheo Basel II và nêu bật tình trạng, thể chế, chính sách và những tồn tại vướng mắc của
lộ trình ứng dụng Basel II đối với các NHTM Việt Nam Hội thảo cũng đã nhận địnhrằng, hệ thống NHTM phải chủ động nhận thức và chuẩn bị góp phần vào công táctriển khai quản trị ngân hàng theo Basel II, bởi đây là bước đi cần thiết để đảm bảo duytrì mức vốn đủ để làm giảm bớt đi những gánh nặng và thiệt hại có thể xảy ra do cácbất ổn trong mục đích sử dụng vốn đã được giải ngân, từ lãi suất thị trường, từ thay đổicủa tỷ giá hay những bất ổn trong quá trình vận hành của ngân hàng là quy định bắtbuộc đối với mỗi ngân hàng và cả hệ thống
Bài nghiên cứu “Những vấn đề quan tâm để triển khai Basel II trong quản trị rủi
ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” của tác giả Tô Ngọc Hưng vàPhạm Quỳnh Trang (2018) trên tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 197- Tháng10/2018; bài viết nhận định các hạn chế trong trình độ quản trị thiếu chuyên nghiệp,thiếu minh bạch thông tin trong việc quản trị rủi ro tín dụng từ đó dẫn đến phát sinh nợxấu khi thực thi chuẩn hóa qui định của Basel II Đồng thời nêu lên những giải pháp,vấn đề cần giải quyết nhằm thúc đẩy việc thực hiện quản trị RRTD tại các Ngân hàngThương Mại Việt Nam
Bên cạnh đó còn có các công trình tiêu biểu khác như bài viết “Ứng dụng Hiệpước Basel II trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Sacombank Đồng Nai” năm
2012 của tác giả Nguyễn Quang Luật, trên cơ sở nghiên cứu định tính và định lượngvới mục đích kiểm tra và nhận định lại các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng
Trang 19của Basel II và đưa ra các đề xuất để nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Bàibáo “Ứng dụng xếp hạng tín nhiệm nội bộ theo yêu cầu Basel trong quản trị rủi ro tíndụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” của tác giả Trầm Thị Xuân Hươngđăng trên Tạp chí phát triển kinh tế năm 2009 Bài báo dựa trên các phương pháp tiêuchuẩn và phương pháp xếp hạng nội bộ (IRB) để phân loại khách hàng và dự báo nguy
cơ vỡ nợ Theo đó, làm cơ sở cho các Ngân hàng thương mại xây dựng cho mìnhkhung xếp hạng tín dụng nội bộ và thiết lập chính sách quản trị rủi ro tín dụng theo tiêuchuẩn Basel
Các công trình nghiên cứu trong nước nêu trên mặc dù xét trên hệ thống ngânhàng Việt Nam gắn với các tiêu chuẩn Basel II, tuy nhiên hầu hết chưa đi sâu vào cụthể cho trụ cột 2 và 3 theo tiêu chuẩn Basel II Việc chỉ xem xét trụ cột 1 này của cácnghiên cứu mà không đặt cạnh trụ cột 2 và 3 sẽ có sự đánh giá không toàn diện và làmgiảm đi tính thực tiễn Đồng thời, các nghiên cứu chưa xây dựng hoặc có xây dựngnhưng chưa hoàn thiện các điều kiện áp dụng Basel II nên nội dung chưa bám sát theođiều kiện này Nguyên nhân chính dẫn đến kết quả này là do các nghiên cứu được thựchiện khá lâu và tại thời điểm đó Việt Nam chưa ban hành các qui định cho việc triểnkhai cụ thể áp dụng Basel II Dựa trên những hạn chế cũng như ưu điểm của các nghiêncứu trên sẽ góp phần định hướng cho mục tiêu nghiên cứu của tác giả được trình bàydưới đây
1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
Trang 20dựa trên tình hình thực tế của Vietbank để nêu lên giải pháp nhằm quản trị rủi ro tíndụng một cách hiệu quả hơn.
Nêu những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao công tác quản trịRRTD tại Vietbank
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ướcBasel II trong hoạt động của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các dữ liệu về những rủi ro tín dụng và quản trị rủi rotín dụng tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín trong giai đoạn từ năm 2017 đếnnăm 2019 và đưa ra giải pháp đến năm 2020 theo lộ trình thực hiện Basel II của Ngânhàng Nhà Nước Việt Nam
1.5 Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các
phương pháp sau:
Trang 21Phương pháp phân tích định tính được sử dụng xuyên suốt trong luận văn: Căn
cứ vào số liệu báo cáo tài chính và các báo cáo nội bộ của Ngân hàng TMCP Việt NamThương Tín, tác giả phân tích và xử lí số liệu đã tổng hợp được để đưa ra nhận định vềtình trạng thực tế công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng
Phương pháp thống kê và so sánh: Các bảng số liệu thống kê về kết quả hoạtđộng, chất lượng tín dụng, nguồn vốn, nợ xấu, nợ quá hạn, trích lập dự phòng rủi rocủa Vietbank qua các năm làm cơ sở để so sánh, phân tích
Phương pháp phân tích- tổng hợp: dựa trên những thông tin thu thập được, tácgiả thực hiện phân tích những nội dung theo chuẩn mực của Basel II từ đó tổng hợp lại
và đề xuất một số giải pháp thích hợp với thực trạng của Ngân hàng
1.6 Đóng góp của luận văn:
Trên cơ sở cho thấy cái nhìn tổng thể khung lí thuyết, các tiêu chuẩn cơ bản củaBasel II, về điều kiện triển khai áp dụng, về mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn… đồngthời nhận định được tầm quan trọng của nó trong công tác quản trị rủi ro tín dụng củaNgân hàng Luận văn đã nêu lên tình hình thực tế về rủi ro tín dụng và việc quản trị rủi
ro tín dụng theo chuẩn Basel II tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín hiện nay;bên cạnh việc tìm hiểu các bài học kinh nghiệm tại một số ngân hàng trong và ngoàinước Từ đó phân tích những ưu điểm, nhược điểm và đưa ra giải pháp giúp công tácquản trị rủi ro tín dụng tại Vietbank được hoàn thiện trước tiên là theo chiến lược pháttriển ngành Ngân hàng của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam và sau đó là tiêu chuẩnquốc tế
1.7 Kết cấu luận văn:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel
Trang 22Chương 3: Thực trạng hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ướcBasel II tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín theo chiến lược phát triển củaNHNN.
Chương 4: Những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng theoHiệp ước Basel II tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 23CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
THEO HIỆP ƯỚC BASEL.
2.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại:
Tín dụng là hoạt động kinh doanh cơ bản của Ngân hàng, theo đó, Ngân hàng sẽthỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng cácnghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, và các dịch vụ khác…vàđược thực hiện thông qua các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ Lợi nhuận từhoạt động tín dụng luôn chiếm tỉ trọng cao và chủ yếu trong thu nhập của các Ngânhàng Tuy nhiên, lợi nhuận cao dĩ nhiên luôn đi kèm với nhiều rủi ro buộc phải đối mặtxuất phát từ những nguyên nhân khác nhau Chính vì vậy, vấn đề hạn chế rủi ro xảy raluôn được các Ngân hàng đặt lên hàng đầu để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinhdoanh cũng như lợi nhuận của mình Vì vậy để Ngân hàng tồn tại và phát triển trongmôi trường cạnh tranh thì hệ thống Ngân hàng luôn phải tìm cách không chỉ mở rộngchiến lược và phương thức kinh doanh mà còn phải đi đôi với nâng cao quản trị rủi ro
Việc cấp tín dụng của ngân hàng góp phần tạo điều kiện cho lực lượng sản xuấttrong xã hội phát triển, dựa vào vốn vay của Ngân hàng mà các cá nhân/doanh nghiệp
có thể bổ sung vốn kinh doanh thiếu hụt tạm thời cho việc mở rộng sản xuất và phục vụnhu cầu đời sống Bên cạnh đó, trong quá trình toàn cầu hóa, giao thương quốc tế đượctăng cường thì tín dụng cũng là một phần thiết yếu giúp cho việc liên kết và giao dịchthanh toán quốc tế được thuận lợi và phát triển Đồng thời hoạt động tín dụng cũnggiúp cho việc điều hòa nguồn vốn góp phần làm ổn định thị trường tiền tệ, phát triểncân đối các ngành trong kinh tế quốc dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thông qua tíndụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho việc sử dụng vốn
có hiệu quả, tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồngđều trong các ngành Từ đó, góp phần ổn định nền kinh tế và sự phát triển của thịtrường tài chính tiền tệ
Trang 242.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng Thương mại.
Theo Joel Bessis trong cuốn “Quản trị rủi ro trong Ngân hàng” tái bản lần thứ 4năm 2015 thì khái niệm về rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng làrủi ro quan trọng nhất trong Ngân hàng, đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ.Theo các qui định, RRTD chia thành một vài thành phần rủi ro tín dụng như: rủi ro vỡ
nợ, rủi ro giảm uy tín, rủi ro nguy cơ, tức là sự bất trắc về giá trị trong tương lai củakhoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết”
Quan điểm của Hennie Van Greuning- Sonja Brajovic Bratanovic (2009) thì rủi
ro tín dụng được hiểu là nguy cơ mà người được cấp tín dụng (người đi vay) không thểchi trả tiền lãi, vốn gốc theo thời gian được qui định trong hợp đồng tín dụng đã kí kết.Tổn thất này nếu xảy ra sẽ gây tác động tiêu cực đến dòng lưu chuyển tiền tệ và ảnhhưởng tới thanh khoản của ngân hàng
Và theo Thomas P.Fitch (2012) thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người
đi vay không trả được nợ vay theo điều khoản đã kí trên hợp đồng dẫn đến vi phạmnghĩa vụ trả nợ Bên cạnh rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những vấn đề chủyếu trong công tác cấp tín dụng của ngân hàng
Theo Ủy ban Basel (2004) thì định nghĩa “RRTD là khả năng mà khách hàngvay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điềukhoản đã thỏa thuận”
Tại Việt Nam, theo Khoản 1- Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày21/01/2013 “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dựphòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tíndụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” cùng với Thông tư số 09/2014/TT-NHNNngày 18/03/2014 về việc sửa đổi bổ sung TT 02/2013/TT-NHNN có giải thích từ ngữnhư sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối
Trang 25với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng khôngthực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mìnhtheo cam kết”.
Như vậy, từ các quan điểm trên, tác giả cho rằng rủi ro tín dụng của Ngân hàng
là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng mà khi đó bên được cấp tín dụngkhông thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ bao gồm gốc và lãivay theo đúng cam kết như trên hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng Điều này dẫn đếntổn thất và thiệt hại ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng vì hoạt động tín dụngđược xem là quan trọng nhất, là thước đo đối với việc đánh giá sự thành công và hiệuquả của một Ngân hàng, chính vì thế quản trị rủi ro tín dụng luôn là sự ưu tiên củaNgân hàng
Về phương diện những nhân tố cấu thành rủi ro tín dụng thì theo nhà kinh tế họcBessis trong cuốn “Risk Management in Banking- Quản trị rủi ro trong Ngân hàng” –sách dịch của Nhà xuất bản Lao động năm 2012 thì đó là rủi ro được cấu thành bởi cácthành tố như sau: rủi ro vỡ nợ, sự giảm uy tín, rủi ro đối tác, rủi ro hồi phục, rủi rotương quan và tập trung, rủi ro chênh lệch và rủi ro quốc gia Tùy theo từng cấp độ củanhững yếu tố trên sẽ thể hiện mức độ tổn thất tín dụng cao hay thấp và ảnh hưởng của
nó đến tình hình tín dụng chung của ngân hàng
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, có cả chủ quan cũng nhưkhách quan Nguyên nhân khách quan bao gồm các lí do liên quan đến môi trườngchính trị, chính sách vĩ mô của Nhà nước, môi trường hoạt động kinh doanh, nguyênnhân thông tin bất cân xứng hoặc từ những khách hàng vay Trong đó, nguyên nhânchủ quan có thể xuất phát từ nội bộ như chính sách cho vay thiếu minh bạch, trình độ
và đạo đức cán bộ quản lí, sự lỏng lẻo trong kiểm soát sau vay…
Trang 262.2.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến Ngân hàng Thương mại.
Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế: Việc kinh doanh của NHTM
có mối liên kết chặt chẽ đến nhiều ngành nghề khác trong nền kinh tế nên nó mang tính
xã hội hóa cao Chính vì vậy, khi phát sinh rủi ro tín dụng, nặng nề nhất có thể sẽ làmcho một ngân hàng bị sụp đổ và gây ảnh hưởng tiêu cực đến các ngành/ bộ liên quantrong xã hội Nhưng sự sụp đổ này, chịu ảnh hưởng đầu tiên ngoài TCTD sụp đổ rachính là những ngân hàng khác, bởi chúng có liên hệ tương quan với nhau trong hoạtđộng nên một ngân hàng sụp đổ có thể dẫn đến sự phá sản của các ngân hàng còn lại-hiệu ứng kéo theo (hiệu ứng domino) Không những thế, hậu quả khác còn là sự mất điniềm tin của người dân vào hệ thống tài chính bao gồm cả sự thực thi chính sách tiền tệcủa Chính phủ
Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến Ngân hàng: Trước tiên là giảm lợi nhuận Thứ hai là giảm khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng Thứ ba là nguy cơ phá
sản và sụp đổ ngân hàng
2.3 Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng Thương mại.
2.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Căn cứ vào những tác động của rủi ro tín dụng đến việc kinh doanh của ngânhàng cũng như nền kinh tế, tùy khẩu vị rủi ro mà mỗi ngân hàng xây dựng và có nhữngchiến lược và chính sách quản trị tương thích để hoàn thành mục tiêu kinh doanh Quảntrị RRTD giúp tăng cường hiệu quả trong công tác cấp tín dụng của ngân hàng cũngnhư lợi nhuận từ việc kinh doanh của nó Chính vì vậy, quản trị RRTD là vấn đề rấtquan trọng trong quản trị ngân hàng thương mại
Theo giáo trình “Ngân hàng thương mại” của Học viện Ngân hàng, chủ biênPhan Thị Thu Hà (năm 2013) thì “Quản trị RRTD là quá trình xây dựng, thực thi cácchính sách và biện pháp quản lí tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và
Trang 27phát triển bền vững, tìm ra nguyên nhân và xử lí các tình huống xảy ra RRTD, tăngcường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm nợ quá hạn, nợ xấu trong kinhdoanh tín dụng, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh NHTM”.
Và “Hiệu quả quản trị RRTD là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi
ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt lõi cho của sự thành công của ngân hàngtrong dài hạn” (Theo Basel I Committee on Banking Supervision, 2000)
Như vậy, theo tác giả, có thể diễn giải khái niệm quản trị RRTD là việc ngânhàng lên kế hoạch, triển khai thực thi và đẩy mạnh giám sát các hoạt động cấp tíndụng, với mục đích đạt được lợi nhuận tối đa nhưng đi cùng với một mức rủi ro màngân hàng có thể chấp nhận được Quản trị RRTD tốt chính là một lợi thế cạnh tranh
và là một công cụ tạo ra giá trị, góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh hiệu quảhơn
2.3.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng:
Điều tiên quyết trong quản trị RRTD là phải hình thành và thiết lập được mộtquy trình quản trị RRTD Quy trình quản trị RRTD có bốn bước cơ bản như sau và mỗibước có sự tương quan lẫn nhau, là các mắc xích không thể tách rời nhau, kết quả củabước trước sẽ là cơ sở cho bước sau
Bước 1: Nhận diện RRTD
Bước 2: Đo lường RRTD bằng các mô hình
Bước 3: Kiểm soát RRTD
Bước 4: Xử lí/ ứng phó RRTD
Trang 28Sơ đồ 2.1: Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Trang 29Bước 3: Kiểm soát RRTD.
Kiểm soát RRTD là việc dùng các biện pháp nghiệp vụ, công cụ và kĩ thuật,tầm nhìn chiến lược để ngăn chặn hoặc làm giảm những thiệt hại, những tác độngkhông mong muốn xảy ra đối với ngân hàng bằng cách kiểm soát tần suất và mức độcủa rủi ro, tổn thất hoặc lợi ích
Bước 4: Xử lí/ ứng phó RRTD.
Xử lý RRTD là việc dùng các công cụ, kỹ thuật để bù đắp lại những chi phíphát sinh khi xảy ra rủi ro và thiệt hại từ hoạt động tín dụng Các biện pháp thườngđược ngân hàng đưa ra để xử lí và ứng phó với RRTD như: cấp thêm vốn, gia hạn, cơcấu lại nợ, xử lí tài sản đảm bảo, xóa nợ và chuyển nợ thành vốn cổ phần
2.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc quản trị rủi ro tín dụng và tầm quan trọng
của Quản trị rủi ro tín dụng đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại
Nhân tố khách quan bao gồm: Thứ nhất là môi trường pháp lí và sự ổn định của
nền kinh tế; sự ổn định kinh tế làm cho tín dụng tăng trưởng và người đi vay có thểphát triển hoạt động kinh doanh của mình, gia tăng lợi nhuận Song song đó là hệ thốngpháp luật cùng với các văn bản qui phạm pháp luật trong nền kinh tế thị trường dưới sựđiều tiết của của Nhà nước tạo thành hàng rào pháp lí cho môi trường kinh doanh bìnhđẳng và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên Môi trường này ảnh hưởng một phần đếnhiệu quả của quản trị RRTD, vì vậy, cần có các chủ trương, chính sách được ban hành
cụ thể, đúng thời điểm và đồng bộ sẽ làm cho công tác quản trị rủi ro được tốt hơn
Thứ hai là nhân tố liên quan đến người đi vay: RRTD bắt nguồn từ phía khách hàng
vay được chia làm hai loại đối tượng, một là không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng
tín dụng đã cam kết và hai là không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết như trênhợp đồng tín dụng Theo đó, khách hàng vay vốn gian lận, cố tình làm sai, làm giả hồ
sơ tài liệu để thực hiện vay vốn Chính vì vậy, việc nhận định và thẩm định khách hàngcần
Trang 30phải sát sao cùng với việc quán triệt tư tưởng đạo đức tín dụng khi làm nghề của nhânviên là điều cốt lõi trong việc quản trị RRTD này.
Nhân tố chủ quan thuộc về ngân hàng gồm: Nhân tố thứ nhất là trình độ điều
hành của ban lãnh đạo và năng lực, kinh nghiệm của nhân viên làm công tác quản trị.Ban lãnh đạo cần có trách nhiệm đảm bảo công tác quản trị RRTD được diễn ra mộtcách đúng đắn và phải có biện pháp ứng phó thích hợp Đồng thời, đào tạo các nhânviên làm công tác quản trị phải có hiểu biết chuyên môn nghiệp vụ, am hiểu lĩnh vựccho vay và các kiến thức về kinh tế, pháp luật,…Hơn nữa, tính kỉ luật và phẩm chấtđạo đức cùng với kinh nghiệm của người làm công tác quản trị cũng góp phần đảm bảo
chất lượng của việc quản trị RRTD Nhân tố thứ hai là cơ sở vật chất của ngân hàng
như hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu, trang thiết bị kĩ thuật công nghệ Để tiến hànhcông tác quản trị, ngân hàng phải thực hiện thu thập các tài liệu và thông tin cần thiết
và tiến hành xử lí các thông tin đó theo các tiêu chuẩn được đưa ra một cách hợp lí,khoa học để từ đó cho ra kết quả đánh giá toàn diện nhất
Tầm quan trọng của Quản trị rủi ro tín dụng đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại: Quản trị RRTD tốt không những giúp chi phí vận hành ngân hàng giảm đi
mà còn giúp tăng thêm thu nhập, đảm bảo quá trình thu hồi vốn vay một cách an toànnhất; tạo niềm tin và chữ tín cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư Đồng thời, tạo tiền
đề để mở rộng thị phần, tăng vị thế, hình ảnh cho ngân hàng và cũng là cơ sở để cơquan kiểm tra giám sát hoạt động cho vay, chất lượng tín dụng của các Ngân hàngthương mại như Ngân hàng Nhà nước có thể dễ dàng kiểm tra một cách minh bạch Từ
đó, giúp cơ quan giám sát đưa ra những chính sách thích hợp với sự phát triển của nềnkinh tế nói chung và chính ngân hàng nói riêng
2.4 Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng Thương mại theo Hiệp ước Basel.
2.4.1 Giới thiệu sơ lược về sự ra đời của Hiệp ước Basel
Trang 31Ủy ban Basel được thành lập năm 1974 tại thành phố Basel- Thụy Sĩ với mụctiêu ban đầu là ngăn chặn sự phá sản của các NHTM và thị trường tài chính ở nhữngnước thành viên (G10) Đến nay Ủy ban có 27 thành viên với mục tiêu hoạt động của
Ủy ban Basel là tăng cường việc giám sát hoạt động ngân hàng trên thế giới và làmgiảm khoảng cách giám sát toàn cầu Để tiến tới được mục đích này, Ủy ban ban hànhrất nhiều qui định và xây dựng qui trình chỉ dẫn trong phạm vi cần thiết, bên cạnh đó,
Ủy ban Basel cũng sẵn sàng cho những lời khuyên đối với các cơ quan thực thi việcgiám sát ngân hàng ở các quốc gia Trên thực tế, Ủy ban Basel không phải chịu bất cứmột sự kiểm soát nào và những kết luận của nó không mang tính bắt buộc phải thựcthi Thay vào đó, Ủy ban này chỉ thiết lập và công khai những tiêu chuẩn đã đượcnghiên cứu, tổng hợp, tạo điều kiện để các nước thành viên tiếp cận và áp dụng các tiêuchuẩn chung mà không can thiệp sâu vào các kỹ thuật giám sát của họ
2.4.2 Hiệp ước Basel I:
Năm 1988, Ủy ban đã công bố một hệ thống đo lường vốn được gọi là Hiệp ướcvốn Basel (The Basel Capital Accord) hay Basel I Theo đó, hệ thống đã đặt ra mộtkhung đo lường rủi ro tín dụng với yêu cầu vốn tối thiểu là 8% Mức vốn tối thiểu này
là một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó, mức vốn nàycũng được hiểu là mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó Mụcđích của Basel I đưa ra nhằm cũng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng Nộidung cơ bản của Hiệp ước Basel I như sau:
Tiêu chuẩn 1- Tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro (Tỷ số Cooke): Tỷ lệ này được phát triển
bởi Uỷ ban giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision – BCBS),
Tỷ số Cooke xem xét rủi ro tín dụng trên cả bảng cân đối kế toán và ngoại bảng Tỷ lệnày dựa trên tài sản có rủi ro của ngân hàng (risk-weighted assets), theo đó, các ngânhàng phải tính toán được tỷ lệ vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt ítnhất là 8% để bù đắp cho tổn thất, đây là giải pháp bắt buộc nhằm dự phòng bảo đảm
Trang 32rằng các ngân hàng có năng lực khắc phục rủi ro mà không tác động đến ích lợi của người gửi tiền Hệ số CAR được tính như sau:
Tổng vốn
Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = Tài sản có rủi ro (RWA)
Trong đó, tài sản quy đổi theo mức độ rủi ro được tính như sau:
RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán)+ Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)
Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức tương ứng với từng trọng số theo bảng sau:
Bảng 2.1 Tỷ trọng rủi ro những khoản mục trên bảng cân đối kế toán.
(%)
Tiền mặt; vàng thỏi; các quốc gia OECD (Tổ chức hợp tác
chấp nhà ở đảm bảo
Ngân hàng OECD và các tổ chức thuộc khu vực OECD
hay chính quyền địa phương
Tất cả tài sản còn lại như trái phiếu doanh nghiệp và nợ ở
OECD
Trang 33Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có hệ số CAR >10%, ngân hàng có mức vốn thích hợp khi hệ số CAR > 8%, thiếu vốn khi hệ số CAR
< 8%, thiếu vốn rõ rệt khi hệ số CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi hệ số CAR <2%
Những tổn thất từ rủi ro tín dụng có thể được phân thành ba loại:
1 Những khoản mục trên bảng cân đối kế toán (không bao gồm các hợp đồng phái sinh)
2 Những khoản mục ngoại bảng (không bao gồm các hợp đồngphái sinh)
3 Những hợp đồng phái sinh trên thị trường OTC
Tiêu chuẩn 2- Yêu cầu vốn cơ bản của Ngân hàng Vốn có 2 thành phần
(đây là một bước thành công của Basel I khi đã đưa ra được định nghĩa chung mang
tính quốc tế về vốn của ngân hàng) gồm Vốn cấp 1: Bao gồm các khoản mục như vốn
chủ sở hữu và cổ phiếu ưu đãi không tích lũy vĩnh viễn (Lợi thế thương mại được trừ
vào vốn chủ sở hữu) Vốn cấp 2: Đôi khi còn được gọi là vốn bổ sung, gồm các công
cụ như cổ phiếu ưu đãi tích lũy vĩnh viễn, các loại trái phiếu có thời gian đáo hạn là 99năm và các khoản nợ thứ cấp với kì hạn ban đầu tối thiểu là 5 năm Trong đó, vốn chủ
sở hữu là loại vốn quan trọng nhất vì nó hấp thụ thua lỗ Nếu vốn chủ sở hữu lớn hơnthua lỗ, ngân hàng có thể tiếp tục hoạt động Nếu vốn chủ sở hữu nhỏ hơn phần thua lỗ,ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán Trong trường hợp sau, vốn cấp 2 sẽ được ápdụng Bởi vì, nó hỗ trợ người gửi tiền, bằng cách mang lại một mức đệm cho họ Nếumột ngân hàng bị “tổn thương” sau khi vốn cấp 1 của nó đã được sử dụng hết, phầnthua lỗ sẽ được xử lý bằng vốn cấp 2 Hiệp ước yêu cầu ít nhất 50% số vốn cần thiết(đó là, 4% trên tài sản có rủi ro) phải là vốn cấp 1 Hơn nữa, Hiệp ước còn yêu cầu 2%tài sản có rủi ro là cổ phiếu phổ thông (Lưu ý rằng Ủy ban Basel đã cập nhật định
Trang 34nghĩa công cụ tài chính có đủ điều kiện là vốn cấp 1 và định nghĩa cổ phiếu phổ thông
ở Basel III)
2.4.3 Hiệp ước Basel II:
Hiệp ước Basel năm 1988 được cải tiến những yêu cầu về cách xác định nguồnvốn, nhưng nó lại có điểm yếu đáng kể Dưới Hiệp ước Basel I, tất cả khoản vay bởimột ngân hàng cho một doanh nghiệp có rủi ro lên tới 100% và yêu cầu số lượng vốntương đương Một khoản vay cho một doanh nghiệp có xếp hạng tín dụng AAA đượctiến hành tương tự như cách làm với một doanh nghiệp có xếp hạng tín dụng B Vàđiều này được minh họa rõ hơn tại Bảng 2.2 dưới đây
Trong tháng 06 năm 1999, hội đồng Basel đã soạn thảo những điều luật mới vàđược biết đến là Basel II Chúng được sửa đổi vào tháng 01 năm 2001 và tháng 04 năm
2003 Một số các nghiên cứu tác động định lượng (QISs) được thực hiện trước khi đưa
ra các quy tắc mới để thử nghiệm chúng bằng việc tính toán số lượng vốn bắt buộc nếunhững điều luật này được công bố Một bảng tổng hợp những quy tắc được đồng ý bởitất cả thành viên của hội đồng Basel và được công bố vào tháng 06/2004 và bảng nàyđược cập nhật vào tháng 11/2005 Việc thực hiện áp dụng các quy tắc này bắt đầu vàonăm 2007 sau khi một tác động định lượng (QIS) được thêm vào
Hiệp ước Basel II gồm những yêu cầu vốn áp dụng tại những ngân hàng hoạtđộng quốc tế Tại Mỹ, có nhiều ngân hàng nhỏ trong khu vực và các quan chức Mỹ đãquyết định không áp dụng Basel II (Những ngân hàng này áp dụng những quy tắc trongBasel IA, và những điểm này tương tự với Basel I) Tại Châu Âu, tất cả các ngân hàng,
từ lớn đến nhỏ, đều áp dụng Basel II Hơn thế nữa, Liên minh Châu Âu đã yêu cầunhững quy tắc của Basel II được áp dụng cho những công ty bảo hiểm tương tự nhưvới các ngân hàng
Trang 35Theo đó, Basel II được xây dựng dựa trên ba trụ cột (pillar): (1) Yêu cầu vốn tốithiểu (Minimum Capital Requirements); (2) Rà soát giám sát (Supervisory Review);(3) Kỷ luật thị trường (Market Discipline).
Hình 2.1 Ba trụ cột của Basel II
Nguồn: Vietnambiz
Trụ cột 1: Yêu cầu vốn tối thiểu (Minimum Capital Requirements)
Yêu cầu chung từ Basel I là ngân hàng nắm giữ vốn tối thiểu bằng 8% tài sản có rủi ro (RWA) tiếp tục được giữ nguyên
Trang 36Yêu cầu về vốn đối với một rủi ro cụ thể được tính trực tiếp thay vìcách thức liên quan đến RWA, chúng được nhân với 12.5 để chuyển đổi thành RWAtương đương (RWA-equivalent) Kết quả là hệ số CAR
(Tổng vốn (giống Basel I))
=
(RWA rủi ro tín dụng + (K rủi ro hoạt động*12.5) + (Rủi ro thị trường *12.5)) ≥8%
Tổng vốn: được xác định tương tự như Basel I
Tài sản có rủi ro (RWA): Ngoài rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường đã được quiđịnh tại Basel I, ở Basel II bổ sung thêm một loại rủi ro nữa là rủi ro hoạt động Đồngthời, cách tính RWA trong Basel II cũng phức tạp hơn so với Basel I và chính vì vậy nó
có khả năng đánh giá đúng hơn mức an toàn vốn
RWA Basel I= Tài sản * Hệ số rủi ro ( Không đề cập đến xếp hạng tíndụng)
RWA RRTD theo phương pháp chuẩn Basel II= Tài sản * Hệ số rủi ro(Có đề cập đến xếp hạng tín dụng)
RWA Basel II= Vốn yêu cầu tối thiểu đối với từng rủi ro (K)*12.5Hay công thức tính CAR trên được viết theo cách khác là:
Tổng vốn = 8% x (RWA RRTD + RWA RR thị trường + RWA RR hoạt động)
Trong đó:
Vốn tối thiểu yêu cầu cho rủi ro tín dụng trong sổ ngân hàng được tínhtoán theo cách mới, phản ánh rủi ro tín dụng của các khách hàng thông qua 3 phươngpháp tiếp cận (Chuẩn hóa, IRB và IRB nâng cao)
Trang 37Yêu cầu vốn cho rủi ro thị trường vẫn được giữ nguyên không đổi sovới Điều chỉnh Hiệp ước 1996.
Có một yêu cầu mới về vốn cho rủi ro hoạt động (operational risk).Đây là yêu cầu vốn phòng ngừa cho rủi ro mất mát xảy ra khi quy trình hoạt động củanhà băng chệch khỏi quỹ đạo hoặc có một sự kiện không lường trước được như thiêntai, sự cố,…
Trụ cột 2: Rà soát giám sát (Supervisory Review).
Các kiểm soát viên được yêu cầu đảm bảo rằng ngân hàng phải đápứng được việc thiết lập một quy trình để duy trì được vốn tối thiểu bao gồm cả việc sửdụng phương pháp định lượng và định tính trên khía cạnh của cách thức quản lý rủi rotrong một ngân hàng Các ngân hàng dự kiến sẽ duy trì vốn tối thiểu lớn hơn để đảmbảo được các biến động vốn và những hạn chế trong việc huy động vốn trong khoảngthời gian ngắn Ở các nước khác nhau, bộ nguyên tắc được phép tùy chỉnh một phầntrong cách áp dụng nhưng nhất quán chung trong việc áp dụng các quy tắc được yêucầu
Trụ cột 2 chú trọng nhiều hơn về can thiệp sớm khi có vấn đề phátsinh Giám sát viên được yêu cầu phải làm việc nhiều hơn là nhiệm vụ chỉ đảm bảomức vốn tối thiếu theo qui định của Basel II Một phần vai trò của họ là khuyến khíchcác ngân hàng sử dụng công cụ quản trị rủi ro sao cho hiệu quả mang lại ở mức tốt nhất
và đo lường những kỹ thuật này một cách chính xác nhất Họ nên ước lượng những rủi
ro không được đảm bảo bởi trụ cột 1 (Ví dụ rủi ro tập trung) và chủ động tham gia thảoluận với các ngân hàng khi nhận ra thiếu hụt
Trụ cột 3: Kỷ luật thị trường (Market Discipline).
Trang 38Kỷ luật thị trường đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải công bố nhiềuthông tin về cách thức họ phân bổ vốn và rủi ro Basel II nêu ra một danh sách cácthông tin cơ bản bắt buộc ngân hàng/ tổ chức tín dụng phải công bố, đó không chỉ làcác thông tin về vốn như cơ cấu vốn, mức độ đủ vốn mà còn là các thông tin liên quanđến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với các rủi ro như tín dụng, thị trường, vận hành
và quy trình xem xét, ứng phó của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này Ý tưởng ởđây là các ngân hàng sẽ phải chịu thêm áp lực cho việc đưa ra quyết định quản trị rủi rotrong khi các cổ đông hiện tại và tiềm năng có nhiều thông tin hơn về những quyết địnhđó
2.4.4 Những điểm mới của Basel II và các phương thức tiếp cận về vốn của Basel II:
Điểm mới ở trụ cột 1- Yêu cầu vốn tối thiểu: Bao gồm các điểm mới yêu cầu vốn
tối thiểu cho rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động:
Yêu cầu vốn tối thiểu cho rủi ro tín dụng: Yêu cầu này trong Sổ ngân hàng được
tính toán theo cách mới, phản ánh rủi ro tín dụng của các khách hàng Ở Basel II quyđịnh 3 cách tiếp cận đối với rủi ro tín dụng, bao gồm: Cách tiếp cận chuẩn hóa (TheStandardized Approach); Cách tiếp cận đánh giá nội bộ cơ bản – Tiếp cận IRB cơ bản(The Foundation Internal Ratings Based (IRB) Approach) và Cách tiếp cận đánh giánội bộ nâng cao – Tiếp cận IRB nâng cao (The Advanced IRB Approach)
Thứ nhất : Cách tiếp cận chuẩn hóa (The Standardized Approach): Cách tiếp
cận chuẩn hóa tương tự như Basel I ngoại trừ việc tính toán tỷ trọng rủi ro đượccải tiến nhiều Ngân hàng tính toán trọng số rủi ro cho tài sản phụ thuộc vào kếtquả xếp hạng tín dụng từ các tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp Một số quy tắcmới như:
Trang 39Bảng 2.2: Trọng số rủi ro cho tài sản phụ thuộc vào kết quả xếp hạng tín dụng từ các tổ chức chuyên nghiệp đối với quốc gia, ngân hàng và doanh nghiệp
Nguồn: Risk Management And Financial Institutions- John C.Hull (4 th edition) So
sánh bảng 2.1 với bảng 2.2, ta thấy rằng trong khối OECD thì trọng số rủi ro của ngân
hàng hay quốc gia không còn được xem là quan trọng theo Basel IInữa Mà trọng số rủi ro tín dụng ở đây xem xét một quốc gia dao động từ 0-150% vàtrọng số rủi ro tín dụng với một ngân hàng hoặc công ty là 20-150% tùy thuộc vào kếtquả từ việc xếp hạng tín dụng Trong bảng 2.1, các ngân hàng trong khối OECD đãđược ngầm giả định là có rủi ro tín dụng và rủi ro này thấp hơn so với tổ chức/ công ty.Một ngân hàng thuộc khối OECD có trọng số rủi ro là 20% trong khi doanh nghiệp là100% Đồng thời, cũng quan sát thấy được từ bảng 2.2 là một quốc gia, doanh nghiệphoặc ngân hàng muốn vay tiền thì có thể kết quả sẽ tốt hơn nếu nó không có xếp hạng(credit rating) nào hơn là có một xếp hạng xấu, vì theo Basel II thì rủi ro tín dụng đượccăn cứ dựa vào kết quả xếp hạng tín dụng; đây cũng được xem là hạn chế của Basel II.Bên cạnh đó, những điểm mới của Basel II này còn có những điều chỉnh cho các tài sảnđảm bảo, bao gồm: cách thứ nhất là phương pháp tiếp cận đơn giản và tương tự vớiphương pháp trong Basel I; cách thứ hai là phương pháp tiếp cận toàn diện để tính vốncho RRTD đối tác trong sổ sách thương mại
Thứ hai: Cách tiếp cận đánh giá nội bộ cơ bản – Tiếp cận IRB cơ bản (The Foundation Internal Ratings Based (IRB) Approach)
Trang 40Basel II đánh dấu sự ra đời của phương pháp dựa trên đánh giá nội bộIRB, theo đó, những nhà quản lý đưa ra các yêu cầu về vốn căn cứ trên giá trị chịu rủi
ro VaR, yêu cầu về vốn được tính bằng cách sử dụng chuỗi thời gian kéo dài một nămvới độ tin cậy là 99,9% Họ nhận ra rằng tổn thất dự kiến thường được trang trải bằngcách giống cách mà một tổ chức tài chính định giá sản phẩm của nó Do đó, lượng vốnyêu cầu bằng (=) giá trị chịu rủi ro VaR trừ (-) đi mức lỗ dự kiến
Tiếp cận IRB được các nhà quản lí căn cứ vào yêu cầu về vốn dựa trêngiá trị chịu rủi ro VaR được tính bằng cách sử dụng mô hình thời gian - một nhân tốCopula Gauss để đánh giá khả năng không trả được nợ Hơn nữa, còn có 3 thành phầnrủi ro đối với từng hạng mục tài sản và ứng dụng của các thành phần này vào công tácquản trị rủi ro tín dụng, như sau:
PD- Probability of Default: Xác suất khách hàng sẽ vỡ nợ trong
vòng 1 năm (số thập phân)
EAD- Exposure at Default: Dư nợ của khách hàng tại thời điểm vỡ
nợ (bằng dollar)
LGD- Loss Given Default: Tổn thất khi khách hàng vỡ nợ hoặc tỷ
lệ tài sản có bị mất nếu khách hàng vỡ nợ (số thập phân)
Ngân hàng có thể xây dựng mô hình để tự xếp hạng tín dụng cho cáctài sản nợ của họ, dựa trên xác suất mất vốn của tài sản và độ phụ thuộc của ngân hàngtới các tài sản đó Và theo đó, các ngân hàng cần phải phân loại các tài sản có thuộcdanh mục kinh doanh của mình thành các nhóm tài sản có theo đặc tính rủi ro cơ bảnnhư: (a) cho vay công ty, (b) cho vay các cơ quan nhà nước, (c) cho vay liên hàng; (d)cho vay bán lẻ (e) vốn chủ sở hữu để có những tính toán tài sản rủi ro cho phù hợp vớitừng loại tài sản
Thứ ba: Cách tiếp cận đánh giá nội bộ nâng cao – Tiếp cận IRB nâng cao (The Advanced IRB Approach)